Khúc Xương Biết Hát

Lượt đọc: 481 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Món quà từ bụi
(dựa trên ghi chép của bác sĩ christopher jervis)

Hạn chế của những người làm ngành y chính là họ không bao giờ thoát khỏi trách nhiệm của mình. Như thương gia, luật sư hay công chức, họ sẽ ra về vào giờ giấc cố định, đội mũ lên và bước ra ngoài công sở một cách thoải mái, cùng với khoảng thời gian nhàn rỗi trước mắt mà không bị điều gì làm cho gián đoạn. Nhưng làm một bác sĩ thì không được như thế. Dù đang làm việc hay vui chơi, dù đang thức hay ngủ, thì vị bác sĩ lúc nào cũng trong trạng thái là người phục vụ của nhân dân. Họ luôn sẵn sàng để hành nghề bất cứ khi nào bạn bè thân thiết hay kể cả người lạ cần tới sự giúp đỡ.

Khi đồng ý đi cùng vợ đến buổi khiêu vũ của các quý cô độc thân ở Raynesford, ít nhất tôi đã tưởng tượng rằng trong buổi tối hôm đó mình sẽ không phải làm nhiệm vụ của một bác sĩ. Với niềm tin chắc chắn ấy, tôi đã kết thúc điệu nhảy thứ tám mà không có gì gián đoạn. Thành thực mà nói, tôi cũng chẳng nuối tiếc gì nếu như buổi khiêu vũ phải tạm hoãn. Bạn nhảy cuối cùng của tôi là một cô gái trẻ dùng tiếng lóng đến mức nói năng gần như không rõ ràng. Thật khó trao đổi ý kiến với nhau bằng thứ tiếng Anh “bồi” và cuộc hội thoại chỉ rặt những từ “toạc” hay “thối” nghe rất thiếu tế nhị. Thực sự lúc đó tôi đã cảm thấy buồn chán vô cùng, đến nỗi phải thầm nghĩ về những lợi ích của một chiếc sandwich để cứu vãn bản thân khỏi cuộc trò chuyện tẻ nhạt đó. Lúc tôi dự định kéo bạn nhảy của mình đến phòng giải khát thì bỗng cảm thấy có ai đó đang giật lấy tay áo. Khi tôi quay lại thì bắt gặp gương mặt lo lắng và đầy sợ hãi vợ mình.

“Cô Halliwell đang tìm anh đấy.” Vợ tôi nói. “Một quý cô đang bị bệnh. Anh đến và thăm khám xem thế nào được không?” Vợ tôi vừa túm lấy cánh tay, vừa áy náy đưa tôi ra chỗ bãi cỏ.

“Đây là chuyện bí mật nhé.” Vợ tôi tiếp tục. “Người đang bệnh là quý bà Chater, góa phụ người Mỹ giàu có. Edith Halliwell và Thiếu tá Podbury đã tìm thấy bà ấy nằm một mình trong bụi cây và không thể kể lại chuyện gì đã xảy ra. Edith đáng thương hẳn đang cuống lắm. Cô ấy không biết phải làm gì cả.”

“Ý em là sao?” Tôi mới định thắc mắc nhưng đã thấy cô Halliwell chạy tới từ phía mái vòm phủ đầy dây thường xuân.

“Ôi, xin hãy nhanh lên thưa bác sĩ Jervis.” Cô ấy kêu lên. “Đã có một chuyện rất sốc xảy ra. Juliet đã kể với anh chưa?”

Chẳng kịp chờ đợi câu trả lời, cô ấy đã lao qua cổng vòm và tiến lên trước dẫn lối cho chúng tôi dọc theo một con đường hẹp. Dáng vẻ vội vàng của cô trông khá kỳ quặc, đó là kiểu chạy từng bước ngắn khó nhọc do bàn chân bẹt, một điều thường bắt gặp ở phụ nữ trưởng thành. Bấy giờ, chúng tôi đang đi xuống một dãy những bậc thang thô sơ dẫn đến chỗ ghế ngồi. Con đường dừng lại ở đó tạo thành một nền đất hẹp nằm trên một sườn dốc với bờ cao ở phía bên phải và dốc xuống ở bên trái. Phía dưới phần trũng xuống, một người đàn ông đang trong tay chiếc đèn hình như lấy từ trên cây xuống, đầu và vai anh ta lộ ra trên những bụi cây. Tôi cũng trèo xuống dưới đó và khi vòng qua bụi cây tôi trông thấy một người phụ nữ ăn mặc sang trọng đang nằm co ro trên mặt đất. Người phụ nữ chưa hoàn toàn ngất hẳn. Khi tôi đến gần, bà ấy hơi di chuyển và lẩm bẩm gì đó bằng giọng nặng nề, không rõ ràng. Tôi cầm lấy chiếc đèn từ tay chàng trai mà tôi đoán là Thiếu tá Podbury. Khi anh ta đưa chiếc đèn cho tôi với ánh nhìn ẩn ý và một cái nhướng mày nhẹ, tôi đã hiểu sự kích động của cô Halliwell là thế nào.

Thật vậy, trong một khoảnh khắc tôi đã cho rằng người phụ nữ đang nằm sấp kia chỉ đang say mà thôi. Nhưng khi tiến lại gần, ánh sáng lập lòe của ngọn đèn soi rõ một mảng đỏ hình vuông trên mặt quý bà, giống như bị dán cao mù tạt lên che hết mũi và miệng. Tiếp đó, một thứ mùi của hợp chất nguy hiểm xộc lên mũi tôi cho thấy mức độ nghiêm trọng đang thực sự hiện hữu.

“Tốt hơn là nên bế bà ấy đặt lên trên ghế.” Nói rồi tôi đưa chiếc đèn cho cô Halliwell. “Sau đó hãy cân nhắc tới chuyện có đưa bà ấy về nhà hay không.” Tôi cùng thiếu tá nâng người phụ nữ bất tỉnh lên, thận trọng trèo trở lại con đường và cẩn thận đặt bà ấy xuống ghế.

“Chuyện này là thế nào vậy, thưa bác sĩ Jervis?” Cô Halliwell thì thầm.

“Tạm thời tôi chưa thể kết luận điều gì.” Tôi trả lời. “Nhưng đó không phải điều mà cô đang lo sợ đâu.”

“Đội ơn Chúa!” Quý cô tươi tỉnh đáp lại. “Nếu không thì đây đúng là một vụ bê bối gây sốc mất.”

Tôi cầm lấy ngọn đèn lờ mờ và lần nữa cúi xuống người phụ nữ đang nửa tỉnh nửa mê. Quan sát tình trạng của bà ấy khiến tôi ít nhiều cảm thấy bối rối. Người phụ nữ trông như một người đang dần hồi phục sau khi bị gây mê, nhưng mảng đỏ hình vuông trên mặt lại khiến người ta gợi nhớ đến những vụ giết người của Burke, có vẻ như bà ấy đã bị làm cho ngạt thở. Trong lúc mải mê suy nghĩ bỗng ánh sáng của ngọn đèn chiếu vào một vật màu trắng nằm trên mặt đất phía sau chiếc ghế ngồi. Khi tôi giơ đèn lên soi thì phát hiện đó là một miếng bông gòn hình vuông. Sự trùng hợp về hình dạng và kích thước của miếng bông với vết đỏ trên mặt người phụ nữ ngay lập tức khiến tôi chú ý, vì thế tôi bèn cúi xuống nhặt nó lên. Ngoài ra, ở phía dưới ghế còn có một cái lọ nhỏ. Tôi cũng nhặt cái lọ lên và soi nó dưới ánh đèn. Kích thước của chiếc lọ cỡ một ounce, bên trong đã rỗng không và nhãn hiệu có ghi “Methyl Chloroform”. Đây dường như chính là lời giải thích đầy đủ nhất về chất giọng khàn đặc và trạng thái nửa tỉnh nửa mê như say rượu. Nhưng điều này lại cũng cần sự lý giải rõ ràng. Dựa trên tình hình thì có thể chắc chắn rằng đây không phải một vụ cướp vì trên người của quý bà vẫn còn lấp lánh những viên kim cương, theo đúng nghĩa đen. Đồng thời, cũng không có chuyện bà ấy tự chuốc chloroform cho mình.

Lúc này không còn giải pháp nào khác ngoài việc bế bà ấy vào trong nhà và chờ hồi phục thêm. Thế là, cùng với sự giúp đỡ của thiếu tá, cả hai đưa quý bà băng qua vòm cây và tiến tới cửa hông của khu bếp trong vườn. Chúng tôi đặt bà ấy trên chiếc xô pha bên trong căn phòng đã được trang bị một phần nội thất.

Tại đây, nhờ tác dụng của việc dấp nước lên mặt cùng việc sử dụng liều lớn muối ngửi, quý bà đã nhanh chóng tỉnh lại và kể được đại khái sự việc đã xảy ra.

Lọ chloroform và bông gòn đều là của quý bà dùng để chữa đau răng. Khi bà đang ngồi một mình trên ghế và đặt cái lọ cùng bông gòn bên cạnh, thì một chuyện không thể hiểu nổi đã xảy ra. Không chút báo trước, một bàn tay từ phía sau vươn ra và ấn miếng bông lên mũi và miệng bà. Miếng bông tẩm chloroform nên bà gần như bất tỉnh ngay lập tức.

“Vậy là bà không trông thấy kẻ đó đúng không?” Tôi hỏi.

“Không, nhưng tôi biết hắn ta mặc đồ dạ hội. Bởi vì tôi cảm thấy đầu mình áp vào ngực áo sơ mi của hắn.”

“Vậy thì có thể thế này.” Tôi đưa ra suy đoán. “Hoặc là hắn ta vẫn còn ở đây hoặc là đã đi tới phòng giữ đồ. Hắn không thể rời khỏi nơi này mà không lấy áo khoác ngoài được.”

“Phải rồi!” Thiếu tá kêu lên. “Chính xác là thế. Tôi sẽ đi điều tra xem.” Nói rồi anh ta sải bước đi. Tôi cho rằng bà Chater ở lại đây sẽ an toàn nên ngay sau đó cũng đi theo tới chỗ thiếu tá.

Tôi đi thẳng đến phòng giữ đồ. Tại đây, tôi bắt gặp viên thiếu tá và một, hai cộng sự của anh ta đang mặc áo khoác với khuôn mặt hân hoan lộ rõ vẻ phấn khích.

“Hắn ta đã đi rồi.” Podbury nói, cuống cuồng vật lộn với chiếc áo khoác ngoài. “Hắn đã đi xe đạp ra khỏi đây khoảng một giờ trước. Người lễ tân nói rằng hắn ta tỏ ra rất bồn chồn lo lắng, điều đó không có gì lạ. Vậy nên chúng tôi sẽ đuổi theo hắn bằng ô tô. Ông có muốn cùng tham gia cuộc truy lùng này không?”

“Không, cảm ơn cậu đã mời nhưng tôi phải ở lại với bệnh nhân. Vấn đề là làm sao cậu biết được mình đang truy bắt đúng người chứ?”

“Không còn nghi ngờ gì nữa, chỉ có một gã đàn ông vừa rời đi mà thôi. Bên cạnh đó… Gì đây? Loạn hết cả rồi. Sao lại đưa nhầm cho tôi cái áo khoác nào thế này?” Thiếu tá cởi vội chiếc áo và trả lại cho người lễ tân lúc này đang vô cùng hốt hoảng.

“Ngài chắc chứ, thưa ngài?” Người lễ tân hỏi lại.

“Hoàn toàn chắc chắn.” Thiếu tá trả lời. “Mau đưa áo khoác của tôi ra đây nào, nhanh lên anh bạn.”

“Thưa ngài.” Người lễ tân đáp lại. “Tôi e là người đàn ông vừa rời khỏi đây lúc nãy đã lấy nhầm áo khoác của ngài rồi. Cả hai chiếc áo để chung vào một thẻ. Tôi thực sự rất xin lỗi, thưa ngài.”

Viên thiếu tá phẫn nộ tới mức không nói nên lời. Xin lỗi thì giờ có ích gì chứ? Anh ta làm thế quái nào để lấy lại được áo khoác của mình đây?

“Nhưng mà, nếu người đàn ông kia đã lấy áo khoác của thiếu tá thì cái này hẳn là của ông ta nhỉ.” Tôi xen vào.

“Chắc là vậy đấy.” Podbury nói. “Nhưng tôi không muốn cái áo khoác gớm ghiếc đó đâu.”

“Không!” Tôi đáp lại. “Ý tôi là nó có thể hữu ích trong việc xác minh danh tính của ông ta.”

Viên thiếu tá với khuôn mặt như đưa đám nghe xong điều này thì cảm thấy có chút an ủi. Khi chiếc xe đã sẵn sàng, anh ta liền vội vã rời đi. Còn tôi thì quay sang nói với người lễ tân hãy cất chiếc áo khoác đó vào nơi an toàn rồi nhanh chóng quay trở lại với bệnh nhân của mình.

Quý bà Chater đã gần như bình phục, lúc này đang vô cùng phẫn nộ và căm thù kẻ đã tấn công mình. Bà thậm chí còn cảm thấy tiếc nuối khi hung thủ đã không thó lấy ít nhất một viên kim cương của mình để có thể quy thêm tội ăn cướp cho hành vi cố ý giết người. Bà tha thiết hy vọng các sĩ quan sẽ không nương tay khi họ tóm cổ được hắn ta.

“Mà nhân tiện, bác sĩ Jervis này.” Cô Halliwell nói. “Tôi nghĩ mình nên đề cập đến một việc kỳ lạ xảy ra liên quan đến buổi khiêu vũ này. Chúng tôi nhận được thư đồng ý tham gia từ ông Harrington - Baillie, được gửi từ khách sạn Cecil. Nhưng tôi chắc chắn rằng không có cái tên nào như vậy trong danh sách khách mời của các quý cô độc thân ở đây.”

“Cô đã xác nhận với tất cả bọn họ sao?” Tôi thắc mắc.

“Chà, sự thật là có cô Waters đột ngột phải ra nước ngoài và chúng tôi không có địa chỉ của cô ấy. Rất có thể người kia là khách mời của cô Waters nhưng tôi không muốn đi sâu vào vấn đề này nữa. Cái chính là bây giờ tôi rất xin lỗi vì mọi chuyện xảy ra thế này. Chúng tôi có thể đã để lọt một tên tội phạm lẩn khuất trong bữa tiệc. Và không hiểu sao tên đó lại muốn giết bà Chater nữa.”

Đó là một vụ việc bí ẩn, những tưởng nhóm tìm kiếm trở về sẽ mang theo tin tức và xóa bỏ mọi nghi vấn, nhưng kết quả là không hề. Chiếc xe đạp được truy vết theo vài dặm về phía London, nhưng khi đến ngã tư đường, vết bánh xe đã bị trộn lẫn với nhiều dấu của những chiếc xe khác. Sau một hồi đi loanh quanh tìm kiếm trong vô vọng, các sĩ quan đã phải từ bỏ cuộc truy đuổi mà quay trở lại.

“Như bà thấy đấy, thưa bà Chater.” Thiếu tá Podbury giải thích với vẻ hối lỗi. “Hắn ta đã có một khởi đầu trót lọt cho vụ tẩu thoát nên có lẽ đã đi tới gần London rồi.”

“Ý cậu muốn nói với tôi rằng tên côn đồ đó đã thoát tội sao?” Quý bà Chater kêu lên, nhìn viên thiếu tá với vẻ khinh miệt lộ liễu.

“Có thể nói là như thế ạ.” Podbury trả lời. “Nhưng nếu tôi là bà, tôi sẽ đi thu thập lời khai về ngoại hình của người đàn ông đó từ những người phục vụ đã nhìn thấy hắn ta. Sau đó vào ngày mai sẽ trình báo thông tin vụ việc đến Scotland Yard. Ở đó họ có thể nhận dạng ra gã ta, hay thậm chí nếu mang theo chiếc áo khoác của hắn, người ta có thể truy được ra tung tích luôn.”

“Điều đó có vẻ không khả thi lắm.” Bà Chater nói trong khi không tin tưởng gì về việc đó. Nhưng vì không thể đề xuất kế hoạch nào tốt hơn nên người phụ nữ quyết định sẽ làm y như lời viên thiếu tá nói. Và tôi cho rằng đây là phần kết khép lại vụ việc tối nay.

Nhưng thực tế là tôi đã nhầm. Trước buổi trưa ngày hôm sau, nhằm khi tôi đang lơ mơ xem xét hồ sơ các vấn đề về quyền hưởng tiền tuất, còn Thorndyke đang soạn thảo bài giảng hàng tuần của mình thì tiếng chuông cửa vang lên réo rắt, báo hiệu có khách đến. Vì chỉ được ngủ có bốn tiếng đồng hồ nên tôi đứng dậy mở cửa trong trạng thái uể oải. Vị khách không ai khác chính là quý bà Chater, theo sau là thanh tra cấp cao Miller

đang nhoẻn miệng cười và kẹp dưới cánh tay một gói giấy nâu.

Tâm trạng người phụ nữ dường như không được tốt lắm. Mặc dù bà trông có vẻ hoạt bát và tỉnh táo so với mức độ nghiêm trọng của cú sốc vừa trải qua gần đây. Sự phản đối của bà về Miller được bộc lộ rất rõ ràng.

“Bác sĩ Jervis hẳn đã kể với ông về âm mưu ám sát tôi xảy ra vào đêm qua.” Người phụ nữ lên tiếng trong khi tôi giới thiệu người cộng sự của mình với bà. “Chà, mọi người tin được không? Tôi đã đến trình báo với cảnh sát, cũng như mô tả cho họ về hình dáng của kẻ thủ ác, thậm chí còn giao nộp chiếc áo khoác của hắn, vậy mà cảnh sát trả lời tôi rằng họ không làm gì được. Tóm lại, tên vô lại đó vẫn đang nhởn nhơ tự do đi lại giữa thanh thiên bạch nhật mà không hề bị nghi ngờ gì.”

“Thưa bác sĩ, ông hẳn có thể nhìn ra được sự việc.” Miller đáp. “Người phụ nữ này đưa ra cho chúng tôi một bản mô tả khớp với khoảng năm mươi phần trăm những người đàn ông thuộc tầng lớp trung lưu của Vương quốc Anh. Đồng thời cũng nộp lên một chiếc áo khoác không có bất cứ chi tiết nào để dựa vào đó xác minh. Thế mà bà ấy lại mong muốn chúng tôi tìm ra hung thủ trong khi không có manh mối gì làm phương hướng điều tra. Chúng tôi không phải thầy phù thủy ở Yard, chúng tôi chỉ là cảnh sát thôi. Vì thế tôi xin mạn phép giới thiệu quý bà Chater với ông.” Vị thanh tra cấp cao cười nham hiểm rồi đặt cái gói lên bàn.

“Thế giờ ông muốn tôi làm gì?” Thorndyke hỏi nhỏ.

“Bên trong gói này có một chiếc áo khoác. Kiểm tra các túi sẽ phát hiện một đôi găng tay, một chiếc khăn quàng cổ, một hộp diêm, một vé xe điện và một chiếc chìa khóa hiệu Yale. Và quý bà Chater đây muốn biết chiếc áo khoác đó là của ai.” Ông ta mở gói giấy với đôi mắt nhướn lên nhìn vị khách của chúng tôi lúc này đang tỏ ra bối rối. Còn Thorndyke thì nhìn ông ta với một nụ cười nhạt.

“Tôi hiểu ý tốt của ông, Miller,” Thorndyke đáp. “Nhưng tôi nghĩ một nhà thấu thị sẽ phù hợp với chuyện này hơn.”

Viên thanh tra cấp cao ngay lập tức chỉnh lại thái độ đùa cợt của mình.

“Tôi nghiêm túc đấy, thưa ông.” Thanh tra cấp cao nói. “Tôi sẽ rất cảm kích nếu ông xem qua chiếc áo khoác này. Chúng tôi hoàn toàn bế tắc trước bằng chứng nhưng vẫn chưa muốn bỏ cuộc. Tôi đã kiểm tra kĩ lưỡng cái áo khoác nhưng vẫn không tìm ra được manh mối nào để có hướng điều tra cụ thể. Tôi biết rằng không gì có thể qua mắt được ông nên mới tới đây để tham khảo một gợi ý nhằm tiến hành phá án. Ví dụ như ông sẽ dùng kính hiển vi để nghiên cứu cái áo này chẳng hạn?” Viên thanh tra nói thêm, kèm theo một nụ cười khẩn nài.

Thorndyke ngẫm nghĩ rồi săm soi chiếc áo khoác với con mắt tò mò. Tôi cho rằng vụ án này khá hấp dẫn đối với anh ấy. Lại thêm sự đồng tình của người phụ nữ trước yêu cầu của Miller với vẻ háo hức nhiệt thành, thì kết quả tất yếu đã xảy ra.

“Được thôi,” Thorndyke đáp. “Cứ để cái áo khoác này lại đây trong khoảng một giờ và tôi sẽ nghiên cứu nó. Tôi e rằng có khả năng sẽ không tìm ra được manh mối nào từ cái áo, nhưng dẫu vậy, tiến hành kiểm tra thật kĩ một lần cũng không mất gì. Hãy quay lại đây lúc hai giờ, đến lúc đó tôi đã sẵn sàng thông báo về kết quả có khả năng là thất bại của mình.”

Anh tiễn những vị khách ra ngoài rồi quay trở lại bàn, nhìn xuống chiếc áo và chiếc phong bì lớn chứa những món đồ lấy ra từ túi áo khoác với một nụ cười giễu cợt.

“Người anh em uyên bác của tôi có gợi ý gì về những thứ này không?” Anh ngước nhìn tôi rồi đặt câu hỏi.

“Tôi sẽ xem cái vé xe điện trước.” Tôi trả lời. “Và sau đó… à thì… có vẻ gợi ý của Miller cũng không tồi. Tôi nghĩ nên tìm kiếm trên bề mặt cái áo bằng kính hiển vi xem thế nào.”

“Tôi cho là chúng ta sẽ thực hiện phương án thứ hai trước.” Anh đáp lại. “Nếu kiểm tra vé xe điện trước thì dễ hình thành định kiến sai lầm. Một người đàn ông có thể đi xe điện tới bất cứ đâu, nhưng đám bụi trong nhà bám trên áo khoác của anh ta chỉ thuộc về một nơi nhất định mà thôi.”

“Đúng thế, nhưng thông tin mà nó mang đến lại khá mơ hồ.” Tôi bày tỏ quan điểm của mình.

“Đồng ý là như vậy.” Anh tán thành rồi cầm lấy chiếc áo khoác và túi phong bì đến phòng thí nghiệm. “Nhưng anh biết đấy Jervis, tôi vẫn luôn nhắc nhớ một điều, rằng giá trị thực tế của bụi hay bị đánh giá thấp. Quan điểm luôn dán mác cho những hình tướng nhìn thấy bằng mắt thường sẽ cung cấp hiểu biết cơ bản về sự vật là hoàn toàn sai lệch. Chẳng hạn như khi chúng ta gom đám bụi từ trên mặt bàn lại thì kết quả thu được sẽ là gì? Dưới quan sát thông thường, đó là một loại bột mịn màu xám không có gì khác biệt so với những loại bụi được thu thập từ các mặt bàn còn lại. Nhưng dưới kính hiển vi, thứ bột xám ấy được phân giải thành các phân tử và đó là cơ sở để truy ra sự vật có chứa tập hợp phân tử đó. Mấy điều này hẳn anh cũng đã biết rồi.”

“Trong một số trường hợp, tôi đánh giá cao giá trị làm bằng chứng của bụi.” Tôi trả lời. “Nhưng hẳn là bụi thu thập được trên áo khoác của một người đàn ông lạ mặt sẽ cung cấp kết quả chung chung, khó mà sử dụng được để truy tìm chủ sở hữu.”

“Tôi hoàn toàn đồng ý với nhận định trên của anh.” Thorndyke vừa nói vừa đặt chiếc áo khoác lên băng ghế phòng thí nghiệm. “Nhưng chúng ta sẽ sớm thấy kết quả thôi, miễn là Polton cho phép chúng ta sử dụng chiếc máy hút bụi mới được cấp bằng sáng chế của anh ấy.”

Thiết bị nhỏ mà người cộng sự của tôi nhắc đến là một phát minh của anh chàng trợ lý phòng thí nghiệm đầy tài năng của chúng tôi. Về nguyên tắc, nó giống như một chiếc “máy hút bụi” dùng để làm sạch thảm. Tuy nhiên, chiếc máy này có một điểm đặc biệt: Bình chứa được lắp thêm một phiến kính hiển vi và một luồng khí chứa đầy bụi sẽ được đẩy vào đó bằng động cơ phản lực.

Chiếc “máy hút” này được nhà phát minh đáng tự hào của nó kẹp vào một băng ghế và đặt phiến kính ẩm vào trong bình chứa. Thorndyke áp vòi của chiếc máy vào cổ áo khoác trong khi Polton vận hành động cơ hút. Sau đó, phiến kính được tháo ra và thay thế bằng một chiếc khác. Vòi máy lại tiếp tục được áp vào ống tay áo bên phải chỗ gần cầu vai, máy hút của Polton vẫn hoạt động như vừa nãy. Quá trình này được lặp đi lặp lại, giúp chúng tôi thu được nửa tá phiến kính chứa bụi từ các vị trí khác nhau của chiếc áo. Ngay sau đó, chúng tôi tiến hành thiết lập kính hiển vi và bắt đầu kiểm tra các mẫu bụi thu được.

Thông qua một cuộc kiểm tra ngắn, tôi thấy rằng loại bụi này chứa loại vật chất không thường gặp ở mức độ đáng kể. Tất nhiên, giống như hầu hết các loại bụi thông thường, kết quả cho thấy nó vẫn chứa một số tạp chất như: sợi len, sợi bông, cùng một số loại sợi khác từ quần áo và đồ gia dụng; các thành phần nhỏ của sợi rơm, vỏ khô của hoa quả, tóc và một số thành phần khoáng chất khác. Nhưng ngoài các yếu tố cơ bản trên, còn có một lượng đáng kể những vật chất có nguồn gốc chủ yếu từ thực vật và thể hiện các đặc tính rõ ràng, trong đó đa dạng nhất là hợp chất của các loại hạt chứa nhiều tinh bột.

Tôi liếc nhìn Thorndyke và quan sát thấy anh đang bận rộn với cây bút chì và một tờ giấy. Dường như anh đang lập một danh sách các vật thể có thể kiểm tra dưới kính hiển vi. Tôi vội vàng noi gương anh ấy và suốt thời gian sau đó chúng tôi làm việc trong im lặng. Cuối cùng, người cộng sự của tôi cũng dựa lưng vào ghế và đọc qua danh sách của mình.

“Đây là một bộ sưu tập rất thú vị, Jervis nhỉ?” Thorndyke nhận xét. “Anh có phát hiện điều gì khác thường trên mẫu vật của mình không?”

“Tôi cũng tìm ra nguyên một bảo tàng nhỏ ở đây.” Tôi trả lời rồi chỉ vào danh sách của mình. “Tất nhiên là có bụi đá vôi trên con đường ở Raynesford. Thêm nữa, tôi cũng tìm thấy nhiều loại tinh bột khác nhau, chủ yếu là lúa mì và gạo, đặc biệt là gạo. Còn có các mảnh vỏ của một số hạt, một số loại bụi đá khác nhau, một số khối màu vàng trông như nghệ, tế bào nhựa tiêu đen, một loại tế bào ớt pimento trong rượu vang Port wine và một vài hợp chất than chì.”

“Than chì!” Thorndyke kêu lên. “Phía tôi không tìm thấy than chì nhưng lại phát hiện ra dấu vết của mạch xoắn ốc và dạng hạt tinh bột của ca cao. Đồng thời cũng tìm ra mảnh lá và một ít bột lupulin của cây hoa bia. Tôi có thể xem than chì được chứ?”

Tôi đưa cho Thorndyke mẫu vật và anh đã xem xét nó một cách thích thú. “Phải rồi.” Anh ấy nói. “Đây đích thị là than chì và có ít nhất là sáu mảnh. Tốt hơn là chúng ta nên kiểm tra lại chiếc áo khoác một cách có hệ thống. Anh có nhận ra tầm quan trọng của việc này không?”

“Tôi thấy rằng đây rõ ràng là bụi từ nhà máy và có thể cố định phạm vi trong một khu vực. Nhưng chỉ điều này thì khó mà đưa chúng ta đi xa hơn.”

“Đừng quên là chúng ta vẫn còn một phép thử nữa.” Khi tôi nhướn mày tỏ ý thắc mắc, anh liền nói thêm. “Chính là chiếc chìa khóa hiệu Yale này. Nếu như chúng ta có thể thu hẹp phạm vi ở mức độ phù hợp, Miller có thể thực hiện một chuyến kiểm tra cửa trước của các ngôi nhà ở đó.”

“Nhưng chúng ta làm được chứ? Tôi nghi ngờ chuyện đó đấy.”

“Chúng ta có thể thử,” Thorndyke trả lời. “Rõ ràng là có một số loại hợp chất phân bổ trên toàn bộ chiếc áo, khắp từ trong ra ngoài. Trong khi đó lại có một số chất chỉ xuất hiện ở một số phần nhất định, chẳng hạn như than chì. Chúng ta phải xác định rạch ròi những phần đó và tìm ra ý nghĩa của việc phân bổ đặc biệt này.” Nói rồi anh nhanh chóng phác thảo ra trên tờ giấy mô hình cơ bản của chiếc áo khoác, sau đó đánh dấu từng phần bằng các chữ cái riêng biệt, cuối cùng anh lấy ra một số phiến kính mới rồi viết các ký tự tương ứng lên trên. Từ đó, nhìn vào các mẫu bụi trên phiến kính được đánh dấu, ta có thể dễ dàng quy chiếu trên sơ đồ và biết được nó được lấy ra từ phần nào của chiếc áo.

Chúng tôi lại một lần nữa làm việc tất bật với kính hiển vi, thi thoảng tìm ra thêm được một số thứ để bổ sung vào danh sách xét nghiệm của mình. Sau gần một giờ tìm kiếm vất vả, tất cả các phiến kính đã được kiểm tra và danh sách hai bên đã được đối chiếu.

“Và đây là kết quả cuối cùng của cuộc kiểm tra.” Thorndyke tuyên bố. “Những hợp chất cấu thành bụi có trên hầu khắp các mặt của chiếc áo khoác. Các loại tinh bột bao gồm: hàm lượng cao nhất là tinh bột gạo, tiếp đến là tinh bột lúa mì và ít nhất là tinh bột gừng, ớt và quế. Ngoài ra còn có: sợi xơ của quế, vỏ của nhiều loại hạt khác nhau, thạch bào của ớt, quế nhục, tiêu đen cùng một số mảnh vụn khác có nguồn gốc tương tự như nhựa cây và sắc tố gừng (không phải nghệ). Thêm vào đó, trên cầu vai và tay áo bên phải phát hiện ra dấu vết của ca cao và hoa bia. Phần lưng dưới vai tìm ra các mảnh than chì. Trên đây là toàn bộ dữ liệu thu thập được. Còn giờ thì những suy luận có thể là gì? Cần lưu ý rằng đây không chỉ là bụi trên bề mặt mà đã trải qua quá trình tích tụ trong nhiều tháng. Nó bám lên bề mặt vải do tiếp xúc nhiều lần và phải dùng đến thiết bị chuyên dụng mới hút ra được.”

“Có thể thấy rõ rằng các loại hạt bám khắp áo khoác đại diện cho lớp bụi bay lơ lửng trong không khí ở nơi đối tượng thường treo áo khoác. Than chì bám vào lưng áo là do dựa vào chỗ ghế ngồi. Còn ca cao và hoa bia đến từ các nhà máy mà người đàn ông này thường xuyên đi qua, dù tôi không hiểu tại sao nó chỉ bám ở mỗi bên phải.” Tôi đưa ra ý kiến.

“Điều này có thể lý giải bằng thời gian.” Thorndyke đáp lại. “Nó cho thấy thói quen sinh hoạt của ông bạn mà chúng ta đang điều tra. Có thể ông ta đã từ nhà đi qua các nhà máy nằm ở phía bên phải, đến khi trở về thì các nhà máy nằm ở phía bên trái nhưng lúc này đã hết giờ làm việc. Điều này cũng cho biết ông ta không phải thợ cơ khí hay nhân viên của nhà máy. Tuy nhiên, nhóm chất đầu tiên quan trọng hơn vì nó cho biết địa điểm cư trú của người đàn ông này. Chúng ta có thể gộp chung các loại tinh bột gạo, tinh bột mì và nhóm chất khác dưới tên gọi gia vị. Chúng cũng cung cấp manh mối về nhà máy xay lúa, nhà máy xay mì và nhà máy xay gia vị. Polton này, phiền cậu tìm giúp tôi niên giám điện thoại bưu điện được không?”

Thế rồi anh lật giở đến các trang của mục Thương mại và tiếp tục. “Tôi thấy có bốn nhà máy xay lúa ở London, trong đó cái lớn nhất là Carbutt ở Dockhead. Giờ thì hãy tìm các nhà máy gia vị.” Anh lật qua lật lại những tờ giấy và đọc lên một dãy những cái tên. “Có sáu máy xay gia vị ở London. Một trong số đó là Thomas Williams & Co. đang ở Dockhead. Còn lại thì không còn nơi nào khác nằm gần bất cứ nhà máy xay lúa nào. Vấn đề tiếp theo là tìm kiếm nhà máy xay bột. Để xem nào. Đây là tên của một số nhà máy xay bột, nhưng không có nhà máy nào ở gần nhà máy xay gạo hay nhà máy xay gia vị, ngoại trừ một nhà máy của Seth Taylor, nhà máy bột mì St. Saviour ở Dockhead.”

“Mọi thứ đang trở nên thú vị rồi đây.” Tôi nói.

“Nó đã trở nên thú vị thì đúng hơn.” Thorndyke vặn lại. “Anh có thể thấy rằng tại Dockhead, chúng ta tìm thấy tổ hợp các nhà máy đáp ứng điều kiện tạo ra lớp bụi tổng hợp bám vào chiếc áo khoác này. Và chỉ dẫn này cũng cho chúng ta thấy sự kết hợp ấy không nằm ở bất cứ nơi nào khác ngoài London. Tiếp đến hãy phân tích manh mối mà than chì, ca cao và hoa bia cung cấp. Tất cả chúng đều liên quan đến ngành công nghiệp địa phương. Theo tôi được biết, các chuyến xe điện đi qua Dockhead cũng không cách quá xa các công trường than chì của Pearce Duff & Co. ở đường Rouel. Như vậy, có thể dính lại một vài bụi than chì trên ghế xe điện tùy theo tình trạng của gió. Tôi cũng biết là có nhà máy ca cao Payne ở phố Goat, Horsleydown, nằm bên phải tuyến xe điện đi về hướng Tây. Đồng thời cũng có một số nhà kho chứa hoa bia nằm bên phải phố Southwark, cũng đi về hướng Tây. Tuy nhiên, đây chỉ là những suy luận để bó hẹp phạm vi, còn dữ kiện quan trọng nhất vẫn liên quan đến các nhà máy xay lúa, bột mì và gia vị, tất cả chúng đều chỉ rõ đến Dockhead.”

“Liệu có nhà riêng ở Dockhead không?” Tôi hỏi.

“Chúng ta phải tra cứu mục Đường phố mới biết được.” Anh trả lời. “Chiếc chìa khóa hiệu Yale cho biết đây là dạng căn hộ một người ở. Từ những thói quen sinh hoạt của người này cũng có thể hướng đến kết luận trên.” Anh lướt nhìn xuống danh sách và ngay lập tức quay sang tôi với ngón tay chỉ trên trang giấy.

“Những sự thật mà chúng ta đã tìm ra tương thích với một chuỗi các sự kiện đơn lẻ. Nếu như có nghi vấn rằng đó chỉ là trùng hợp ngẫu nhiên thì tôi có thể đưa ra những lập luận tương thích khác. Ở phía Nam của Dockhead, chính xác là có một dãy nhà của công nhân ngay bên cạnh nhà máy xay gia vị và đối diện với nhà máy xay lúa Carbutt. Đó là tòa nhà Hanover. Nơi này đáp ứng chính xác các điều kiện. Chiếc áo có thể đã treo trong một căn phòng nào đó của dãy nhà này. Cửa sổ căn phòng hẳn đã để mở (có lẽ cửa sẽ mở vào thời điểm này trong năm), nên chiếc áo đã tiếp xúc với không khí có chứa loại bụi tổng hợp như chúng ta đã tìm thấy. Dĩ nhiên các ngôi nhà khác trong khu vực này của Dockhead cũng đáp ứng các điều kiện tương tự, nhưng xác suất rơi vào tòa nhà này cao hơn hẳn. Đó là tất cả những gì chúng ta có thể suy luận ra được từ đây. Không có gì là chắc chắn cả. Có thể trong lập luận của chúng ta sẽ có những sơ hở để bị phản biện. Nhưng dẫu vậy thì khả năng một trong cả nghìn cánh cửa mà chiếc chìa khoá có thể mở ra được ở Dockhead rất có thể nằm ở Tòa nhà Hanover. Chúng ta phải để việc xác minh này cho Miller thôi.”

“Sao chúng ta không thử xem xét cái vé xe điện nhỉ?” Tôi đề xuất.

“Ôi trời!” Thorndyke kêu lên. “Tôi quên béng mất tấm vé. Đúng thế, chắc chắn phải kiểm tra nó rồi.” Thorndyke mở phong bì, lấy thứ bên trong ra đặt trên băng ghế và nhặt lên mảnh giấy xỉn màu. Sau khi nhìn lướt qua, anh ấy đưa nó cho tôi. Tấm vé đã được đục lỗ cho hành trình từ phố Tooley đến Dockhead. “Lại thêm một sự ăn khớp nữa.” Thorndyke nhận xét. “Ngoài ra, có vẻ như tôi đã nghe thấy tiếng gõ cửa của Miller rồi.”

Quả đúng như vị thanh tra cấp cao đó nói. Khi chúng tôi mời ông ấy vào phòng thì cũng nghe thấy tiếng ô tô chạy vào từ phố Tudor thông báo sự xuất hiện của quý bà Chater. Chúng tôi đứng đợi quý bà ở ngưỡng cửa. Bà ấy bước vào với cái vung tay có phần hấp tấp.

“Bác sĩ Thordyke, xin hãy nói ngay đi, ông đã tìm ra gì để nói với chúng tôi rồi?” Quý bà kêu lên.

“Tôi có một đề nghị,” Thorndyke trả lời. “Tôi nghĩ nếu thanh tra cấp cao đây mang chiếc chìa khoá này đến Tòa nhà Hanover ở Dockhead, Bermondsey thì rất có thể ông ấy sẽ tìm ra một cánh cửa mà nó mở được.”

“Thế quái nào?” Miller kêu lên. “Xin thứ lỗi cho tôi, thưa bà. Nhưng tôi nghĩ mình đã kiểm tra cái áo đó rất kĩ càng. Rốt cuộc tôi đã bỏ qua điều gì vậy, thưa bác sĩ? Chẳng lẽ lại có một ký tự nào đó được ẩn giấu hay sao?”

“Ông đã bỏ qua lớp bụi trên đó, chỉ vậy thôi, Miller,” Thorndyke đáp lại.

“Bụi!” Vị thanh tra kêu lên, tròn xoe mắt nhìn người cộng sự của tôi. Rồi ông khẽ cười thầm. “Chà, như tôi đã nói trước đây, tôi không phải là một thầy phù thủy, tôi chỉ là một cảnh sát.” Ông ta nhặt chiếc chìa khóa lên và hỏi: “Thưa bác sĩ, ông có đến để xem cái kết của chuyện này không?”

“Dĩ nhiên là ông ấy sẽ đến.” Bà Chater thêm vào. “Và cả bác sĩ Jervis sẽ cùng đi để nhận dạng người đàn ông. Bây giờ chúng ta đã nắm được manh mối của kẻ thủ ác, nhất định phải khiến hắn không có kẽ hở nào để trốn thoát.”

Thorndyke mỉm cười lạnh nhạt. “Nếu như bà muốn thì chúng tôi sẽ cùng đi, thưa bà Chater. Có điều, bà không được coi điều này là một sự chắc chắn. Cũng có khả năng chúng tôi đã tính toán sai tất cả. Thực ra tôi cũng khá tò mò muốn biết kết quả có đúng như suy luận của mình không. Nhưng ngay cả khi có tìm được người đàn ông đó thì chúng ta cũng không có nhiều bằng chứng để buộc tội hắn ta. Tốt nhất là hắn nên có mặt ở nhà và khi chúng ta đến hắn sẽ vội vã tìm cách bỏ trốn, đó là điều hợp lý nhất để chứng minh hắn có tội.”

Bà Chater nhìn cộng sự của tôi một lúc trong sự im lặng đầy vẻ khinh bỉ, thế rồi bà xốc váy lên và bước ra khỏi phòng. Nếu hỏi một phụ nữ bình thường về điều mà họ ghét hơn bất cứ thứ gì thì câu trả lời chính là kiểu đàn ông nói lý lẽ.

Chiếc ô tô lớn lao nhanh qua cầu Blackfriars, tiến vào khu vực Borough, rồi từ đó chúng tôi rẽ xuống phố Tooley về phía Bermondsey. Ngay khi Dockhead đã ở trong tầm mắt, vị thanh tra cấp cao, Thorndyke và tôi liền xuống xe và tiếp tục đi bộ. Còn quý bà lúc này đang che mặt kín mít thì vẫn ngồi trong xe, bám theo phía sau với một khoảng cách ngắn. Đối diện với bến tàu St. Savior’s Dock, Thorndyke dừng lại và nhìn một lượt các bức tường. Tôi cũng bị thu hút bởi lớp bột mịn bám trên mọi mặt lưng nhô ra của các tòa nhà cao tầng. Và trên boong của những chiếc sà lan, chúng tôi nhìn thấy chúng chất đầy bột mì và gạo xay. Sau đó, khi băng qua đường, anh ta chỉ vào chiếc đèn lồng bằng gỗ phía trên mái của xưởng sản xuất gia vị, những ô cửa sổ của chúng phủ đầy bụi xám.

“Liệu hành vi xâm phạm này có được tính là vẫn tuân thủ pháp luật hay không? Ít nhất chúng ta cũng hy vọng là vậy.” Thorndyke nhanh chóng bình luận thêm trong khi bóng của Miller biến mất vào tầng bán hầm của các tòa nhà.

Khi chúng tôi bước vào trong tòa nhà thì lại gặp thanh tra trở ra sau khi làm xong nhiệm vụ của mình.

“Ở đây không có.” Thanh tra báo cáo lại. “Chúng ta sẽ thử tầng tiếp theo.”

Ở đây là tầng trệt, hoặc cũng có thể coi là tầng một. Dù sao thì cuộc điều tra vẫn chưa đem lại kết quả nào. Vị thanh tra liếc nhìn một lượt những cánh cửa đã được kiểm tra ở tầng này rồi tiếp tục sải bước lên các bậc thang bằng đá. Tầng tiếp theo cũng không gặt hái được kết quả gì, bất chấp nỗ lực khám xét của chúng tôi. Ở đây chỉ có những ổ khóa hở tương thích với các loại khóa vành nhãn hiệu thông thường.

“Nói tên người ông muốn tìm xem?” Một tên bợm thô thiển bước ra từ một trong những căn hộ và lên tiếng hỏi.

“Muggs.” Miller phản ứng lại nhanh một cách đáng khâm phục.

“Không biết đâu.” Gã thợ nói. “Tôi đoán người mà các ông đang tìm ở tầng cao hơn.”

Theo đó, chúng tôi đi lên các tầng cao hơn nhưng các cánh cửa vẫn trơ lì không chịu xoay khớp khóa chào đón chúng tôi. Tôi bắt đầu cảm thấy khó chịu rồi nhanh chóng biến thành lo lắng tột độ khi đã lên đến tầng thứ tư mà kết quả không hề khả quan chút nào. Cứ tiếp tục lần mò trong mơ hồ thế này nghe thì có vẻ hào hứng thú vị đấy, nhưng rốt cuộc đối với người đang tìm kiếm thì chẳng ra thể thống gì.

“Tôi e rằng ông đã nhầm lẫn ở đâu đó rồi, thưa bác sĩ.” Miller vừa nói vừa dừng lại lau trán.

“Cũng có thể là vậy.” Thorndyke đáp với sự điềm tĩnh không hề lay chuyển. “Tôi chỉ đưa ra việc tìm kiếm này như một đề xuất thử nghiệm, ông biết mà.”

Vị thanh tra cấp cao tỏ vẻ càu nhàu. Ông ấy cũng như tôi, coi “đề xuất thử nghiệm” của Thorndyke ngang bằng với những điều chắc chắn của người khác. “Nếu chúng ta không tìm ra được người đàn ông đó thì sẽ khốn khổ với bà Chater đây.” Thanh tra gầm gừ khi chúng tôi leo lên những bậc thang cuối cùng. “Bà ấy hẳn sẽ bới lông tìm vết mà chỉ trích tất cả.” Ông dừng lại ở đầu cầu thang và đứng nhìn quanh chiếu nghỉ một lúc. Đột nhiên viên thanh tra háo hức quay lại, đặt tay lên cánh tay của Thorndyke và chỉ vào một cánh cửa ở góc xa nhất.

“Khóa Yale kìa!” Ông thì thầm nhấn mạnh.

Chúng tôi im lặng đi theo vị thanh tra trong khi ông nhón chân rón rén băng qua chiếu nghỉ. Tiếp theo, ông đứng đó một lúc với chiếc chìa khóa trong tay và nhìn một cách hả hê vào chiếc đĩa khóa bằng đồng. Thế rồi ông nhẹ nhàng tra khóa vào rãnh xoắn của then cửa. Cuối cùng, chúng tôi trông thấy cánh cửa mở ra mà không hề có bất cứ tiếng động nào. Vị thanh tra nhìn quanh với nụ cười đắc thắng, lặng lẽ rút chìa khóa và bước lùi về phía chúng tôi.

“Ông đã truy đuổi được tới tận chỗ này, thưa bác sĩ.” Thanh tra thì thầm. “Nhưng tôi không nghĩ quý ông Cáo già đó có ở nhà. Hắn ta hẳn là không thể về được.”

“Tại sao lại không thể?” Thorndyke hỏi.

Miller chỉ tay về phía cửa. “Không có gì xáo trộn ở đó cả. Trên lớp sơn cũng không phát hiện dấu vết đáng nghi nào. Trong khi đó hắn ta lại không có chìa khóa nhà, với một ổ khóa Yale thì hẳn là không cạy được. Người đàn ông buộc phải đột nhập vào nhà nhưng hắn ta đã không làm thế.”

Thorndyke bước tới cửa và nhẹ nhàng đẩy tấm chắn làm khe nhét thư, qua đó anh nhìn vào bên trong căn hộ.

“Ở đây không có hộp thư. Miller thân mến của tôi ơi, tôi có thể xử lý cánh cửa đó trong vòng năm phút chỉ với một đoạn dây dài và một ít dây cước.”

Miller lắc đầu và mỉm cười toe toét một lần nữa. “Tôi đang rất mừng vì ông không nhầm lẫn gì bác sĩ ạ. Đúng là vị cứu tinh của chúng tôi. Giờ thì chúng ta báo tin cho quý bà biết nhé.”

Thế rồi tôi đi ra ngoài hành lang và nhìn xuống chiếc xe đang chờ phía dưới. Một đám đông nhỏ đang tụ tập xung quanh chiếc xe và nhìn chòng chọc vào bà Chater đang chăm chú nhìn lên trên tòa nhà. Họ cũng tò mò không biết đối tượng mà quý bà này quan tâm là gì. Tôi ra ám hiệu bằng cách lấy khăn tay lau mặt, điều này đã được hai bên thống nhất từ trước. Chỉ đợi có vậy, bà Chater lao ra khỏi xe nhanh tới mức khó tin. Thoắt cái đã thấy quý bà xuất hiện ở đầu cầu thang với khuôn mặt tái đi và hơi thở hổn hển. Chỉ duy có đôi mắt người phụ nữ này vẫn lóe lên tia lửa khí thế sẵn sàng chiến đấu.

“Chúng tôi đã tìm ra căn hộ của gã đó, thưa bà.” Miller thông báo. “Giờ thì chúng tôi sẽ vào trong. Hy vọng là bà sẽ không phải dùng đến bất cứ hành động bạo lực nào.” Vị thanh tra nói thêm với một chút lo lắng khi trông thấy vẻ mặt dữ tợn của người phụ nữ.

“Tất nhiên là tôi sẽ không làm vậy.” Bà Chater trả lời. “Ở Mỹ, phụ nữ chúng tôi sẽ không cần phải tự tay trả thù cho những kẻ đã sỉ nhục mình. Nếu là đàn ông Mỹ, ông hẳn sẽ treo cổ tên lưu manh đó lên cột giường của chính hắn.”

“Chúng tôi không phải những người đàn ông Mỹ, thưa bà.” Thanh tra cấp cao trả lời một cách kiên quyết. “Chúng tôi là những người Anh tuân thủ luật pháp và hơn nữa, tất cả đều là những viên chức phụng sự pháp luật. Những quý ông này là luật sư, còn tôi là cảnh sát.”

Với sự thận trọng đã trù tính trước, Miller tra chìa khóa một lần nữa. Khi ông xoay chìa khóa và đẩy cửa mở, tất cả chúng tôi cùng đi theo vào phòng khách.

“Tôi đã nói rồi mà bác sĩ.” Miller nói rồi nhẹ nhàng đóng cửa lại. “Hắn ta vẫn chưa về nhà được.”

Có thể thấy thanh tra đã nói đúng. Dù sao đi nữa, bên trong căn hộ này hiện đang không có ai và chúng tôi có thể tiến hành khám xét mà không gặp bất cứ trở ngại nào. Trước mắt chúng tôi là một cảnh tượng khốn khổ tột cùng. Trong khi đi lang thang từ buồng này sang buồng khác, vẻ tồi tàn của căn hộ khiến tôi trỗi dậy lòng thương hại với kẻ lưu manh đói khát. Dần dần, tôi bắt đầu cảm thấy nguôi ngoai cho tội ác ghê tởm của hắn ta. Nhìn vào bất cứ đâu trong căn phòng này cũng cho thấy cái nghèo, nghèo đến tột cùng, nghèo đến cực độ. Sự nghèo đói khốn khổ đang giương đôi mắt trống rỗng nhìn chúng tôi bằng cái sàn trống trơn với độc một chiếc ghế và cái bàn nhỏ xíu trong phòng khách tồi tàn. Những bức tường và cửa sổ không có đồ đạc hay rèm cửa treo lên. Một miếng vỏ phô mai Hà Lan được cạo mỏng như tờ đang nằm trên bàn, chúng thì thầm về cơn đói khát của chủ nhân nơi đây. Cái đói còn rình rập bên trong cái tủ trống hoác, trong hộp bánh mì hết nhẵn, trong lọ mứt đã được vét sạch. Như để khắc họa rõ hơn nỗi thống khổ, chúng tôi còn phát hiện chút ít vụn bánh mì và vỏ bánh. Chỗ thức ăn ít ỏi ở đây còn không đủ bữa cho một con chuột khỏe mạnh.

Bước vào trong phòng ngủ, ai nấy đều được chứng kiến một hoàn cảnh tương tự nhưng có vài biến đổi gây tò mò. Một chiếc giường đẩy tồi tàn được trải lên đó tấm nệm bằng rơm. Một tấm thảm đay rẻ tiền đựng quần áo ngủ. Một thùng chứa màu cam được dựng lên để làm kệ đầu giường. Còn một chiếc tương tự khác thì được tận dụng để đặt bồn rửa bằng thiếc. Tất cả tạo nên một tổ hợp đồ nội thất vô cùng tồi tàn. Tuy nhiên, trên vài chiếc đinh tường có treo một bộ đồ có đường cắt rất đẹp và hợp thời trang, mặc dù trông vẫn rất tồi tàn. Trên sàn còn một bộ quần áo khác được gấp gọn gàng và phủ bằng tờ báo. Điểm bất hợp lý nhất là trên kệ đầu giường có sự xuất hiện của một chiếc hộp bằng bạc.

“Tại sao mà người đàn ông này lại lâm vào cảnh chết đói trong khi anh ta có một chiếc hộp bằng bạc để mang đi cầm đồ?” Tôi thắc mắc.

“Không đâu. Một người đàn ông sẽ không đem đi cầm những thứ mình tâm huyết.” Miller trả lời.

Bà Chater nãy giờ vẫn nhìn chằm chằm vào cảnh nghèo khó cùng cực này bằng con mắt của quý bà giàu sang. Lần đầu tiên trải nghiệm chuyện này khiến bà kinh ngạc không nói nên lời, rồi đột nhiên, bà quay sang viên thanh tra cấp cao. “Đây không thể là người đàn ông đó được!” Bà kêu lên. “Ông nhầm rồi. Làm thế nào mà sinh vật khốn khổ này bước chân vào được một ngôi nhà như Willowdale chứ.”

Thorndyke liền nhấc tờ báo lên. Bên dưới đó là một bộ âu phục với áo sơ mi, cổ áo và cà vạt. Tất cả món đồ đều được vuốt phẳng và gấp gọn gàng cẩn thận. Thorndyke mở chiếc áo ra và chú ý vào phần ngực trước bị nhàu nát một cách kỳ lạ. Thế rồi, anh đột nhiên đưa cái áo đó lại gần mắt để quan sát. Từ chiếc cúc áo đính kim cương giả, anh lôi ra một sợi tóc mà nhìn vào sẽ nhận ra ngay là của phụ nữ.

“Thứ này rất quan trọng đấy.” Thorndyke nói rồi giơ sợi tóc lên bằng ngón trỏ và ngón cái. Bà Chater rõ ràng cũng hiểu rõ ý nghĩa của thứ này nên vẻ thương hại và cảm giác tội nghiệp đã bay biến hoàn toàn trên gương mặt người phụ nữ giàu có, bấy giờ chỉ còn lại ngọn lửa báo thù lóe lên trong đôi mắt bà.

“Tôi mong là hắn sẽ quay về đây.” Quý bà thốt lên một cách hằn học. “Sau chuyện này, đường đến nhà tù của hắn không còn gì có thể cản trở được nữa. Nhưng tôi vẫn muốn nhìn thấy hắn ta phải cúi đầu nhận tội trước tòa.”

“Chà, đổi từ chỗ này sang nhà tù Portland xem ra cũng không ảnh hưởng gì mấy tới hắn ta.” Thanh tra đồng tình với quý bà. “Nghe này!” Thanh tra đột nhiên ra hiệu.

Có tiếng chìa khóa tra vào cửa ngoài. Khi tất cả chúng tôi đều đứng đực ra như tượng thì một người đàn ông đã bước vào trong nhà và đóng cánh cửa lại. Ông ta đi ngang qua cửa phòng ngủ mà không nhìn thấy chúng tôi. Những bước lê lết của người đàn ông nghe đầy vẻ mệt mỏi và chán nản. Thế rồi ông ta lại đi vào bếp, rót nước vào một cái bình nào đó rồi quay trở lại phòng khách.

“Đi thôi nào.” Miller nói rồi lặng lẽ bước về phía cửa. Chúng tôi theo sát viên thanh tra và khi cánh cửa bị mở tung, tất cả đều nhìn qua vai ông ấy.

Người đàn ông lúc này đã ngồi vào bàn. Trên bàn bấy giờ là một ổ bánh mì loại rẻ tiền đặt trên tờ giấy mà ông ta mang đi để mua về và một cốc nước. Khi cánh cửa phía chúng tôi bật mở, ông ta trong tư thế nửa đứng nửa ngồi, bất động như hóa đá. Người đàn ông nhìn chằm chằm vào Miller với vẻ kinh hoàng trên khuôn mặt tái nhợt.

Chính khoảnh khắc ấy, tôi cảm thấy dường như có ai đó đang túm lấy tay mình. Thế rồi, bà Chater thô bạo đẩy tôi ra khỏi căn phòng. Nhưng chỉ vừa bước chân đến ngưỡng cửa, quý bà đã đứng khựng lại. Vẻ mặt của người đàn ông lúc này biến đổi khác thường, điều đó khiến tôi chú ý và vô thức chuyển ánh nhìn sang phía khách hàng của mình. Không ngờ vẻ mặt của quý bà cũng đã tái nhợt như xác chết, trên đó vẫn còn đông cứng một biểu cảm kinh hoàng khó tin.

Sự im lặng kịch tính bị phá vỡ bởi giọng nói chân thật của viên thanh tra.

“Cảnh sát đây.” Ông nói. “Tôi tới đây bắt ông vì tội…”

Một tràng cười cuồng loạn của bà Chater cắt ngang lời tuyên tội của viên thanh tra khiến ông phải quay sang kinh ngạc nhìn bà. “Dừng lại! Dừng lại!” Quý bà khóc nấc lên với giọng run run. “Tôi nghĩ là chúng ta đã mắc phải một sai lầm ngớ ngẩn rồi. Đây không phải là gã đàn ông đó. Quý ông đây là Đại úy Rowland, một người bạn cũ của tôi.”

“Tôi rất tiếc vì đó là bạn của bà.” Miller nói. “Nhưng tôi vẫn sẽ phải yêu cầu bà đứng ra để đối chất với ông ta.”

“Ông cứ tùy ý hỏi bất cứ điều gì mình muốn.” Bà Chater trả lời. “Nhưng tôi đã nói với ông rồi, người này không phải gã đàn ông đó.”

Vị thanh tra cấp cao dụi mũi rồi nhìn vào con mồi của mình với vẻ khao khát. “Nói vậy nghĩa là bà đang từ chối truy tố sao, thưa bà?” Thanh tra hỏi lại một cách kiên quyết.

“Truy tố?” Quý bà kêu lên. “Truy tố bạn của tôi về tội danh không phải của ông ấy sao? Chắc chắn là tôi từ chối!”

Viên thanh tra nhìn sang Thorndyke, nhưng khuôn mặt người cộng sự của tôi lúc này đã đông cứng lại thành trạng thái bất động tuyệt đối và không gợn chút biểu cảm nào tựa như một mặt hồ phẳng lặng.

“Được thôi.” Miller đáp lại rồi chua chát nhìn xuống đồng hồ của mình. “Vậy thì chúng tôi đã vướng vào rắc rối mà chẳng vì lý do nào cả. Chúc bà buổi chiều tốt lành, thưa bà.”

“Tôi rất xin lỗi vì đã làm phiền ngài lúc này.” Bà Chater bày tỏ.

“Tiếc là bà đã làm rồi đấy.” Chốt lại bằng một câu ngắn gọn, viên thanh tra ném chiếc chìa khóa lên bàn rồi hiên ngang bước ra khỏi phòng.

Ngay khi cánh cửa ngoài đóng sầm lại, người đàn ông liền ngồi phịch xuống với vẻ hoang mang. Sau đó, ông đột nhiên vung tay lên bàn rồi gục đầu vào chúng và bật khóc nức nở.

Tình huống này khá tế nhị nên tôi và Thorndyke định rút lui, thế nhưng bà Chater đã ra hiệu cho chúng tôi ở lại. Sau đó, bà bước tới bên cạnh người đàn ông và chạm nhẹ vào cánh tay ông ta.

Người đàn ông ngồi dậy và vung tay ra với một điệu bộ hùng hồn, chỉ vào căn phòng khốn khổ và cái tủ trống hoác.

“Trong một khoảnh khắc, tôi đã bị cám dỗ.” Người đàn ông giải thích. “Tôi lúc ấy là kẻ không một xu dính túi còn những viên kim cương đáng nguyền rủa trên người bà thì chĩa thẳng vào mặt tôi. Chúng mời gọi tôi hãy cướp lấy chúng đi. Tôi nghĩ rằng khi đó mình đã phát điên rồi.”

“Nhưng tại sao ông không lấy chúng? Tại sao ông lại không làm vậy?”

“Tôi không biết nữa. Khi cơn điên của tôi qua đi… thế rồi… Tôi nhìn thấy bà đang nằm đó… Ôi Chúa ơi! Tại sao bà không giao tôi cho cảnh sát chứ?” Ông gục đầu xuống và thổn thức một lần nữa.

Bà Chater cúi xuống theo người đàn ông, trên đôi mắt màu xám tuyệt đẹp vẫn còn đọng lại những giọt nước mắt. “Nhưng hãy nói cho tôi biết, tại sao ông không lấy những viên kim cương? Nếu muốn thì ông hoàn toàn có thể lấy chúng mà?”

“Chúng còn ích lợi gì với tôi nữa chứ?” Ông chất vấn lại với vẻ thực lòng. “Lúc ấy còn nghĩa lý gì nữa đâu? Vì tôi nghĩ rằng bà đã chết rồi.”

“Chuyện này, như ông thấy đấy, tôi vẫn đang còn sống đây.” Quý bà nở nụ cười trong màn nước mắt. “Tôi vẫn đang là một bà già khỏe mạnh đúng như trước đây. Và hãy cho tôi cách thức liên lạc của ông để tôi có thể viết cho ông một vài lời khuyên hữu ích.”

Người đàn ông ngồi dậy và lấy trong túi ra một hộp đựng thẻ tồi tàn. Ông ta lấy ra một số tấm thẻ và xòe chúng như một “tay chơi” trong giới đánh bài ăn tiền. Tôi bắt gặp một tia sáng lóe lên trong mắt Thorndyke.

“Tên tôi là Augustus Bailey.” Người đàn ông giới thiệu. Nói rồi ông chọn ra một tấm thẻ thích hợp và viết nguệch ngoạc thông tin liên lạc của mình lên đó bằng một mẩu đầu chì rồi quay về chỗ cũ.

“Cảm ơn.” Bà Chater nói trong khi vẫn nán lại một lúc bên bàn. “Bây giờ chúng tôi đi đây. Tạm biệt, ông Bailey. Tôi sẽ viết thư vào ngày mai và ông phải nghiêm túc nghe theo lời khuyên của một người bạn cũ nhé.”

Tôi mở cửa cho quý bà ra ngoài nhưng trước đó vẫn ngoái lại nhìn người đàn ông rồi mới đi theo. Bailey vẫn đang ngồi lặng lẽ khóc nức nở gục lên hai cánh tay chồng lên nhau. Và ở góc bàn, một đống vàng nhỏ đang nằm đó.

“Bác sĩ, tôi đoán là ông sẽ ghi chép lại trường hợp của tôi như một kẻ khờ khạo nhuốm màu ủy mị.” Bà Chater nói trong khi Thorndyke đưa bà vào trong xe.

Thorndyke nhìn quý bà với một vẻ dịu dàng khác thường trên khuôn mặt vốn nghiêm nghị của anh và khẽ trả lời. “Nó sẽ được ghi lại rằng: Phước lành cho những ai nhân từ.”

« Lùi
Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của r. austin freeman