Con đường Whitechapel mặc dù được bồi đắp bởi những di tích nằm tản mát, minh chứng cho một quá khứ đẹp như tranh vẽ từ chính sự tiêu điều của con đường Commercial láng giềng, nhưng nó hầu như không phải lộ trình dành cho người thưởng ngoạn. Đặc biệt là ở đầu phía Đông con đường, nơi mà lối sống đương thời hèn mọn dường như phản ánh chính xác đời sống vô vị của dân cư nơi đây. Cả một chặng đường nhuốm vẻ xám xịt và thê lương khiến cho tinh thần của bất cứ người lữ hành nào đi qua đều không khỏi chán nản. Nhưng dẫu cho con đường có dài đằng đẵng cùng sự vô vị tột cùng, chỉ cần được lắng nghe câu chuyện sôi nổi đầy dí dỏm và thông tuệ của Thorndyke là hành trình đã trở nên thú vị hơn nhiều. Thậm chí, chặng đường hai chúng tôi đi về phía Tây dường như vẫn còn quá ngắn để tiếp tục được nghe những câu chuyện của anh.
Chúng tôi đã đến bệnh viện London để xem xét trường hợp bệnh to viễn cực cần phải lưu ý. Và khi quay trở về, cả hai đã thảo luận về trường hợp kỳ lạ này. Chúng tôi xem xét điểm tương đồng giữa bệnh to viễn cực và bệnh khổng lồ, rồi liên tưởng đến nhiều khía cạnh khác, từ nguồn gốc của hội chứng cằm Gibson cho đến vóc dáng của vua Og của xứ Bashan.
“Thật thú vị khi có thể biết được sự thật về tuyến yên của vị quốc vương kể cả sau khi ông qua đời.” Thorndyke nhận xét khi chúng tôi đi ngang qua phố Aldgate. “Nhân tiện, chúng ta đang ở hẻm Harrow Alley phải không? Hẳn anh còn nhớ Defoe đã từng miêu tả về chiếc xe đẩy chở xác chết đợi sẵn tại đây và đám rước ghê rợn đi xuống con hẻm nhỉ?” Anh nắm lấy cánh tay tôi rồi dẫn đi một mạch trên một con đường hẹp tới tận khúc cua gấp ngay tại quán rượu Star & Still. Mãi đến lúc đó chúng tôi mới ngoái đầu nhìn lại.
“Tôi chưa bao giờ đi qua nơi này” Thorndyke trầm ngâm nói. “Nhưng dường như tôi có thể nghe thấy tiếng chuông lanh lảnh và tiếng kêu gào thảm thiết của những người đẩy xe…”
Đột nhiên Thorndyke dừng lời. Theo đó, cũng có hai bóng người thình lình xuất hiện ngay chỗ cổng vòm rồi tiến về phía chúng tôi với tốc độ chóng mặt. Đi đầu là một phụ nữ Do Thái trung niên với dáng vóc mập mạp, lúc này cô ta đang thở hổn hển với đầu tóc rối bù. Theo sau là một nam thanh niên ăn mặc lịch sự, bấy giờ cũng kích động không kém gì người đồng hành của cậu ta. Khi hai người họ đến gần, chàng trai trẻ bỗng nhận ra Thorndyke và bắt chuyện với anh ấy bằng giọng điệu lo lắng.
“Tôi vừa nhận nhiệm vụ khám nghiệm một trường hợp nhưng vẫn chưa biết là giết người hay tự sát. Ngài có thể xem xét giúp tôi được không, thưa bác sĩ? Vì đây là vụ án đầu tiên phụ trách nên tôi cảm thấy khá lo lắng.”
Đến đây, người phụ nữ quay sang và nắm lấy cánh tay của cậu bác sĩ trẻ.
“Mau lên! Mau lên! Đừng nói chuyện nữa!” Khuôn mặt người phụ nữ bóng nhẫy mồ hôi, trắng loáng lên như bôi mỡ. Đôi môi cô mấp máy, tay run lên bần bật và đôi mắt nhìn chằm chằm y như một đứa trẻ đang sợ hãi.
“Tất nhiên tôi sẽ đến xem sao, Hart ạ.” Thorndyke quyết định như vậy rồi tất cả chúng tôi cùng theo chân người phụ nữ điên cuồng chen lấn giữa những đoàn khách bộ hành.
“Cậu đã bắt đầu tập nghề y ở đây rồi sao?” Thorndyke hỏi khi chúng tôi vội vã bước đi.
“Không phải, thưa bác sĩ.” Bác sĩ Hart trả lời. “Tôi chỉ là trợ lý thôi. Người phụ trách chính của tôi là cảnh sát kiêm pháp y giải phẫu, nhưng ông ấy lại vừa mới ra ngoài mất. Thật may khi có ngài đi cùng tôi, thưa bác sĩ.”
“Nào nào, tôi chỉ đến đó để xem cậu thể hiện ra sao sau khi đã được tôi chỉ dạy thôi. Cứ bình thường như ở trường là được.”
Chúng tôi theo sự chỉ dẫn tiến vào một con phố nhỏ. Đi được nửa đường đã thấy một nhóm người tụ tập ở lối đi. Đám người tò mò quan sát và khi chúng tôi đến gần thì bọn họ tránh sang một bên nhường lối. Bấy giờ, người phụ nữ mà chúng tôi theo chân vẫn giữ vẻ hấp tấp như lao đi giữa phố vừa nãy, cô ta cứ thế chạy lên cầu thang. Nhưng khi sắp lên đến nơi, bỗng nhiên người phụ nữ đi chậm lại, bước chân dẫm lên các bậc thang chuyển sang rón rén, ngập ngừng và cố để không gây tiếng động. Đứng trên đầu cầu thang, người phụ nữ quay mặt về phía chúng tôi và run run chỉ ngón trỏ vào cánh cửa phòng phía sau. Cô thì thầm bằng tông giọng gần như không thể nghe được. “Cô ấy ở trong đó.” Thế rồi người phụ nữ lại lao xuống phía dưới trong tình trạng nửa như sắp ngất đến nơi.
Tôi đặt tay lên nắm cửa và quay lại nhìn Thorndyke. Anh đang bước lên cầu thang một cách chậm rãi, mục đích là để quan sát kĩ lưỡng sàn nhà, tường và tay vịn. Khi Thorndyke đi đến đầu cầu thang, tôi liền xoay tay nắm cửa để tất cả cùng nhau bước vào phòng, sau đó thì đóng cánh cửa lại. Mành vẫn buông xuống. Trong ánh sáng lờ mờ, bước đầu chúng tôi chưa phát hiện được điều gì khác thường. Căn phòng nhỏ tuy tồi tàn nhưng trông khá gọn gàng và ngăn nắp, duy chỉ có một đống quần áo phụ nữ đang chồng chất trên một chiếc ghế. Một hình dáng lờ mờ của người nằm trên giường hiện ra, đồ vật xung quanh không bị xáo trộn nhiều. Trong điều kiện thiếu sáng, dần dần chúng tôi đã trông thấy được khuôn mặt tĩnh lặng của người đó. Nếu không có sự bất động chết chóc và vết đen trên chiếc gối bên cạnh thì người ta hoàn toàn tin rằng đây chỉ là một người đang say giấc.
Bác sĩ Hart rón rén đến bên giường, trong khi đó Thorndyke bước tới kéo rèm lên để ánh sáng ban ngày rực rỡ chiếu vào trong phòng. Ngay lập tức, cậu bác sĩ giải phẫu trẻ tuổi ngã ngửa ra sau với tiếng thở gấp hoảng loạn.
“Ối trời!” Cậu ta kêu lên. “Con người tội nghiệp đó! Thưa bác sĩ, chuyện này thật là khủng khiếp!”
Ánh sáng chiếu xuống khuôn mặt trắng trẻo, xinh đẹp của một cô gái khoảng hai mươi lăm tuổi. Nạn nhân vẫn còn sót lại biểu cảm bình yên, điềm tĩnh và xinh đẹp trên nét mặt nhuốm vẻ khắc khổ của cô. Đây có thể nói là một xác chết trẻ sở hữu vẻ đẹp siêu thực. Đôi môi cô gái hơi hé mở, mí mắt khép hờ mơ màng và hàng mi rợp bóng cong vút. Tóc cô gái tết lại thành bím và sẫm màu, càng nổi bật hơn trên làn da nhợt nhạt gần như trong suốt.
Hai cộng sự của tôi kéo tấm chăn xuống dưới vài inch. Bấy giờ, khuôn mặt cô gái xinh đẹp, vô cảm nhưng khiến người ta sợ hãi vì liên tưởng đến tượng sáp. Tuy vậy, điều còn khủng khiếp hơn chính là vết thương ngoác rộng miệng gần như cắt lìa chiếc cổ đẹp đẽ.
Thorndyke cúi xuống nhìn gương mặt trắng trẻo, tròn trịa với vẻ cảm thương từ tận đáy lòng.
“Hành động này được thực hiện một cách dã man.” Thorndyke lên tiếng. “Nhưng cũng may nhờ thế mà cô gái có thể chết ngay tức khắc mà không phải chịu dày vò.”
“Một kẻ thú vật!” Hart kêu lên, hai tay cậu nắm chặt còn mặt thì đỏ bừng vì giận dữ. “Thứ súc sinh hèn nhát bị đày xuống địa ngục! Vì Chúa! Kẻ khốn đó phải bị treo cổ!” Trong cơn giận dữ, chàng trai trẻ giơ nắm đấm lên trời cùng với hàng nước mắt trào ra.
Thorndyke đặt tay lên vai Hart. “Đó là lý do chúng ta ở đây, Hart ạ. Giờ thì lấy sổ ghi chép của cậu ra đi.” Anh nói rồi cúi xuống xem xét thi thể cô gái.
Trước lời góp ý nhẹ nhàng, cậu bác sĩ giải phẫu trẻ liền sốc lại tinh thần, bắt đầu cuộc khám xét của mình với cuốn sổ đã mở sẵn. Còn tôi thì bận rộn vẽ lại sơ đồ căn phòng, mô tả chi tiết các vật dụng và cách bài trí của chúng theo yêu cầu của Thorndyke. Tuy tất bật là vậy nhưng tôi vẫn để ý tới nhất cử nhất động của Thorndyke. Ngay lúc tôi tạm dừng công việc của mình để quan sát thì đã thấy Thorndyke dùng con dao bỏ túi để cạo ra thứ gì đó mà anh tìm được trên gối.
Khi tôi tiến lại gần, Thorndyke liền lên tiếng hỏi. “Anh nghĩ sao về chuyện này?” Nói rồi anh dùng lưỡi dao chỉ vào một đống nhỏ giống như cát mịn. Khi quan sát kĩ hơn, tôi còn phát hiện thêm những hạt tương tự như vậy được rắc lên cả những phần khác của gối.
“Cát mịn!” Tôi kêu lên. “Tôi không hiểu, làm thế nào mà thứ này lại ở đây được? Anh giải thích được chuyện này chứ?”
Thorndyke lắc đầu rồi trả lời. “Chúng ta sẽ xem xét đáp án cho chuyện này sau.” Thế rồi anh lấy từ trong túi ra một hộp kim loại nhỏ luôn mang theo bên mình, bên trong có những thứ cần thiết như: lam kính hiển vi, ống mao dẫn, khuôn sáp y tế và một số “công cụ chẩn đoán” khác. Thorndyke tìm trong đó túi chuyên dụng đựng các loại hạt nhỏ, rồi dùng dao xúc một nhúm cát và cho gọn vào túi. Trong khi anh đóng túi và viết vài dòng mô tả ngắn gọn bằng bút chì bên trên thì tiếng thét của Hart vang lên khiến cả hai chúng tôi giật mình.
“Chúa ơi! Thưa bác sĩ! Ngài hãy xem này! Việc giết người là do một phụ nữ thực hiện!”
Cậu ta lật tấm chăn ra và kinh hoàng nhìn chằm chằm vào thi thể của cô gái. Trong bàn tay trái của cô đang cầm một lọn tóc đỏ mỏng và dài.
Thorndyke vội vàng bỏ mẫu vật vào túi rồi bước vòng qua chiếc bàn nhỏ cạnh giường, cúi xuống bàn tay của thi thể với cặp lông mày nhíu lại. Bàn tay đang nắm nhưng không siết chặt. Khi chúng tôi cố gắng tách những ngón tay ra một cách nhẹ nhàng, có thể thấy các khớp đã cứng đơ như thuộc về một bàn tay gỗ. Thorndyke cúi xuống gần hơn nữa, anh săm soi kĩ từ đầu đến cuối các sợi tóc bằng chiếc kính lúp.
“Có nhiều thứ cần phải xem xét hơn là chỉ nhìn lướt qua thế này.” Thorndyke nhận xét. “Cậu thấy sao, Hart?” Cậu học trò cũ của Thorndyke chỉ vừa định cầm lấy chiếc kính lúp thì cánh cửa đột ngột mở ra cùng với ba người đàn ông bước vào. Một người là điều tra viên cảnh sát, người thứ hai có vẻ là một thám tử mặc thường phục và người cuối cùng thì rõ ràng là bác sĩ giải phẫu chuyên trách.
“Bạn của cậu hả, Hart?” Vị bác sĩ đề cập đến chúng tôi với vẻ không ưa.
Vậy là Thorndyke đã đưa ra một lời giải thích ngắn gọn về sự hiện diện của chúng tôi cho những người mới tới.
“Chà, thưa các quý ông, vị trí pháp lý của các ông tại đây là điều tra viên nên hãy chỉ đứng đó thôi nhé. Và công việc của Hart, trợ lý của tôi sẽ không thể để người bên ngoài can thiệp vào. Cậu không cần phải dừng lại đâu, Hart.”
Sau tuyên bố đó, Hart tiếp tục kiểm tra, còn Thorndyke thì rút chiếc nhiệt kế bỏ túi mà anh đã đặt dưới thi thể trước đó ra và đọc kết quả.
Tuy nhiên, viên thanh tra tỏ ra không nghe theo quyền hạn vị bác sĩ giải phẫu ám chỉ, mà tự cho mình là chuyên gia trong chuyện này.
“Ông nhận định thế nào về thời gian tử vong của cô gái này, thưa ông?” Anh ta hỏi một cách niềm nở.
“Chết được khoảng mười giờ rồi,” Thorndyke đáp.
Thanh tra và thám tử cùng nhìn xuống đồng hồ của họ. “Điều đó có nghĩa là vụ án đã xảy ra vào lúc hai giờ sáng nay.” Thanh tra lên tiếng. “Đó là cái gì vậy, thưa ông?”
Bác sĩ giải phẫu đang chỉ vào sợi tóc trên tay cô gái đã chết.
“À há!” Viên thanh tra kêu lên. “Một phụ nữ sao? Chà, hẳn là loại đàn bà cục mịch đây. Chuyện này xem ra dễ thở với anh rồi, trung sĩ.”
“Đúng vậy.” Viên trung sĩ thám tử đáp lại. “Chuyện cái hộp kê đệm ngồi bên trên nằm ở đầu giường có thể lý giải việc cô ta đã dùng nó để với lên trên. Điều này chứng tỏ cô ấy không cao lắm.”
“Nhưng hẳn đó là người đàn bà rất khỏe.” Viên thanh tra nói. “Ả ta đã suýt chặt đứt đầu cô gái tội nghiệp.” Thanh tra vòng qua đầu giường, khom người xuống và nhìn vết cắt đang há ngoác miệng. Thế rồi anh ta đột ngột rút tay ra khỏi gối rồi xoa các ngón tay vào nhau. “Tại sao?” Viên thanh tra kêu lên. “Sao lại có cát trên gối? Là cát mịn. Nhưng làm cách nào mà nó lại xuất hiện ở đây chứ?”
Bác sĩ giải phẫu và thám tử đều đến chỗ chiếc gối để xác minh phát hiện này. Từ đây, một cuộc thảo luận nghiêm túc đã diễn ra để bàn về ý nghĩa của nó.
“Ông cũng để ý đến điều này chứ, thưa ông?” Viên thanh tra hỏi Thorndyke.
“Có chứ,” Thorndyke trả lời. “Đó là chuyện không ngờ tới nhỉ?”
“Tôi cũng không hiểu tại sao lại như vậy nữa.” Viên thám tử nói xong liền chạy đến chỗ bồn rửa mặt, thế rồi anh ta thốt lên một tiếng lẩm bẩm có vẻ hài lòng. “Rốt cuộc thì chuyện này cũng chỉ là một vấn đề khá đơn giản mà thôi, mọi người có thể thấy đấy.” Anh ta trong lúc giải thích vẫn không quên liếc nhìn người cộng sự của tôi một cách tự mãn. “Trên bồn rửa mặt có một cục xà phòng cát và một chậu đầy nước pha máu. Chắc mọi người cũng đoán được, ả sát nhân đã rửa sạch máu trên tay và con dao hung khí bằng xà phòng cát. Đó hẳn phải là một kẻ rất bình tĩnh. Sau đó, cô ta đã đứng trên đầu giường để lau tay khiến cho cát rơi xuống gối. Tôi nghĩ từng đó là đủ rõ ràng rồi.”
“Nghe thật đáng kinh ngạc.” Thorndyke lên tiếng. “Vậy theo anh, trình tự của các sự kiện trong vụ án này như thế nào?”
Vị thám tử hài lòng liếc nhìn một lượt căn phòng. “Tôi cho là thế này.” Anh ta bắt đầu trình bày suy luận của mình. “Nạn nhân hẳn đã đọc sách để chìm vào giấc ngủ. Tôi thấy trên bàn cạnh giường có một cuốn sách và một chân nến chẳng còn gì ngoài chút bấc tàn ở đáy lõm xuống. Có thể tưởng tượng rằng kẻ sát nhân đã lặng lẽ bước vào, châm lửa lên rồi chồng đệm ngồi lên chiếc hộp đặt ở gần đầu giường. Xong xuôi cô ta đứng lên đó và cắt cổ nạn nhân. Người bị sát hại hẳn đã tỉnh dậy và nắm chặt tóc của nữ sát nhân, mặc dù có vẻ cô gái tội nghiệp không thể chống trả được quá nhiều và rồi gần như chết ngay tức khắc. Sau đó, nữ sát nhân rửa tay, lau con dao máu, thu dọn giường chiếu một chút rồi tẩu thoát. Tôi nghĩ mọi chuyện đã xảy ra như vậy. Nhưng làm thế nào mà hung thủ có thể đột nhập vào mà không ai nghe thấy? Làm thế nào ả ta thoát ra được? Ả ta đã trốn đi đâu? Đó chính là những nghi vấn mà chúng ta phải giải đáp lúc này.”
“Có lẽ mọi chuyện như vậy thật.” Bác sĩ giải phẫu nói rồi kéo chăn phủ lên xác chết. “Tốt hơn ta nên gặp bà chủ nhà và làm rõ một số chuyện.” Bác sĩ nhìn sang Thorndyke đầy ẩn ý, đồng thời viên thanh tra cũng húng hắng ho lên nhắc nhở. Nhưng người cộng sự của tôi chọn cách làm ngơ trước những hành động nhắc khéo này. Thorndyke tiến ra mở cửa, xoay chìa khoá tới lui vài lần, rút chìa khoá ra săm soi kĩ lưỡng rồi là tra nó vào ổ như cũ. “Bà chủ nhà đang ở ngoài cầu thang rồi.” Thorndyke thông báo và giữ cho cửa mở.
Sau đó viên thanh tra đi ra ngoài. Tất cả chúng tôi cũng đi theo để lắng nghe kết quả điều tra của anh ta.
“Bây giờ, thưa bà Goldstein, bà hãy kể cho chúng tôi tất cả những gì mình biết về vụ việc này và cả cô gái đã chết nữa. Tên cô ấy là gì?” Viên thám tử nói, mở cuốn sổ ghi chép của mình.
Bà chủ nhà lúc này đi cùng với một người đàn ông có khuôn mặt trắng bệch, cả người ông ta đang run lẩy bẩy. Khi được hỏi, bà lau nước mắt và trả lời bằng giọng run run. “Tên cô gái đó… con bé tội nghiệp đó là Minna Adler. Cô ấy là người Đức, từ Bremen đến đây khoảng hai năm trước. Tôi nghĩ là cô ấy không có bạn bè hay người thân nào ở Anh cả. Công việc của cô ấy là làm phục vụ bàn tại một nhà hàng trên phố Fenchurch. Đó là một cô gái ngoan ngoãn, ít nói và chăm chỉ làm việc.”
“Bà phát hiện ra chuyện này khi nào?”
“Vào khoảng mười một giờ. Lúc đó tôi vẫn đinh ninh cô ấy đã đi làm như mọi ngày. Nhưng chồng tôi ở sân sau để ý thấy tấm mành trong phòng cô ấy vẫn còn đang rủ xuống nên tôi đã lên gõ cửa phòng. Vì không thấy có người trả lời, tôi đã mở cửa đi vào, thế rồi, tôi thấy cảnh đó…” Nói đến đây người phụ nữ bật khóc nức nở vì những ký ức kinh hoàng lại ùa về choán lấy tâm trí.
“Cửa phòng cô gái không khóa sao? Bình thường cô ấy vẫn để cửa như vậy sao?”
“Tôi nghĩ vậy.” Bà Goldstein thổn thức. “Chìa khóa lúc nào cũng cắm trong ổ.”
“Thế cửa cổng lúc sáng nay khi bà xuống vẫn nguyên trạng chứ?”
“Nó vẫn đang đóng. Nhưng chúng tôi không chốt cửa vì một số khách trọ về nhà khá muộn.”
“Còn giờ thì hãy cho chúng tôi biết cô gái này có kẻ thù nào không? Hay có ai đó ác cảm với cô ấy không?”
“Không, làm gì có chứ. Con bé tội nghiệp đó! Đâu có lý do gì để ác cảm với cô ấy? Không có bất kì cuộc cãi vã nào xảy ra, ý tôi là cãi vã thực sự, thậm chí với cả Miriam.”
“Miriam?” Viên thanh tra đặt câu hỏi. “Cô ta là ai?”
“Không có gì đâu.” Người đàn ông đi cùng bà chủ trọ vội vàng xen vào. “Đó không phải là cãi vã gì cả.”
“Chắc chỉ là một chút bất mãn với nhau thôi nhỉ? Phải không bà Goldstein?” Viên thanh tra hỏi dò.
“Chỉ là mấy chuyện ngốc nghếch về một cậu trai trẻ thôi.” Ông Golstein nói. “Chuyện chỉ có vậy thôi. Miriam đã hơi đố kị một chút, còn lại thì chẳng có gì.”
“Ồ không không. Tất nhiên là chúng ta đều biết là phụ nữ trẻ có xu hướng…”
Một tiếng bước chân nhẹ nhàng vang lên, có ai đó đang chậm rãi đi xuống cầu thang từ tầng trên. Lúc này, người đó đã dừng lại ở khúc ngoặt cầu thang và lọt vào tầm mắt mọi người. Sự xuất hiện đó khiến viên thanh tra đang nói dở thì bất ngờ đứng sững lại như thể bị hóa đá. Một sự im lặng căng thẳng và sửng sốt bao trùm lên tất cả chúng tôi. Người phụ nữ trẻ bước tiếp những bậc thang còn lại rồi tiến về phía chúng tôi. Đó là một cô gái dù có chiều cao khiêm tốn nhưng tổng quan lại khỏe khoắn. Đôi mắt của cô ta trông dại đi, đầu thì rối bù, vẻ mặt kinh hoàng, xanh xao và quan trọng là: tóc cô ta có màu đỏ rực.
Tất cả đều đứng như trời trồng và không nói nên lời khi bóng dáng này tiến đến. Nhưng đột nhiên, viên thám tử lẻn vào phòng, không quên đóng cánh cửa và một lúc sau thì xuất hiện trở lại cùng với một gói giấy nhỏ. Anh ta nhanh chóng liếc nhìn viên thanh tra rồi vội vã nhét món đồ vào trong túi áo ngực của mình.
“Đây chính là Miriam mà chúng ta đang nói đến, cũng là con gái tôi.” Ông Goldstein nói. “Miriam, các vị đây là bác sĩ và cảnh sát.”
Cô gái liếc nhìn hết người này sang người khác. “Vậy là các ông đã phát hiện ra cô ta?” Cô gái nói bằng một giọng nghèn nghẹn kỳ lạ. “Cô ta chưa chết phải không? Chưa chết thật đúng không?” Cô gái hỏi bằng giọng điệu vừa mềm mại nhưng cũng vô cùng tuyệt vọng, cứ như thể một người mẹ đang điên cuồng vì xác chết đứa con của mình. Điều này khiến trong tôi dâng lên cảm giác khó chịu mơ hồ. Một cách vô thức, tôi nhìn quanh tìm kiếm Thorndyke. Để rồi bàng hoàng nhận ra anh ta đã biến mất dạng.
Tôi lùi về phía đầu cầu thang mà không gây ra bất cứ tiếng động nào, từ đây có thể nhìn ra sảnh hoặc hành lang phía dưới. Khi tôi nhìn xuống thì phát hiện Thorndyke đang cố với đến cái gì đó trên chiếc kệ ở sau cửa ra vào. Thorndyke cũng bắt gặp ngay ánh mắt của tôi, thấy thế, anh vẫy tay ra hiệu bảo tôi xuống dưới. Vậy là tôi đã âm thầm lẻn đi mà không bị nhóm người trên cầu thang chú ý tới. Khi tôi tới được sảnh, anh đang gói ba vật nhỏ riêng biệt vào trong từng tờ giấy cuộn thuốc lá. Thorndyke khi xử lý các công đoạn này có phần cẩn thận hơn bình thường.
“Chúng ta hẳn đều không muốn nhìn thấy cô gái đáng thương kia bị bắt.” Thorndyke nói trong khi cẩn trọng đặt ba gói nhỏ vào trong chiếc hộp bỏ túi của mình. “Chúng ta đi thôi.” Anh mở cửa không gây tiếng động nào. Anh đứng lại một lúc, vặn ổ khóa tới lui và kiểm tra kĩ càng chốt của nó.
Tôi liếc nhìn cái kệ đằng sau cánh cửa, trên đó là hai chân nến trống không. Khi mới bước vào, tôi tình cờ để ý thấy một trong số chúng có một ngọn nến sắp hết nằm trên khay. Liệu đó có phải thứ mà Thorndyke định lấy không? Nhưng khi tôi nhìn vào, mọi thứ vẫn ở nguyên chỗ cũ.
Tôi theo người cộng sự của mình ra phố, hai chúng tôi bước đi mà không trao đổi điều gì với nhau. Cuối cùng, khá lâu sau Thorndyke mới lên tiếng, “Tất nhiên là anh đoán được bên trong gói giấy của viên thám tử có gì đúng không?”
“Đúng vậy. Đó chắc là sợi tóc mà cô gái đã chết nắm trong tay. Tôi nghĩ tốt hơn anh ta nên để yên nó ở đấy.”
“Không sai. Đó chính là cách mà những vị cảnh sát thiện chí phá huỷ bằng chứng có giá trị. Trong trường hợp lần này có thể chuyện đó không quan trọng, nhưng ở vụ việc khác thì dễ mà trở thành một sai lầm trí mạng.”
“Anh có định dốc sức tham gia vào vụ này không?” Tôi thắc mắc.
“Còn tùy vào hoàn cảnh nữa. Tôi đã thu thập được một vài bằng chứng nhưng chúng có giá trị tới đâu thì vẫn chưa rõ. Không biết cảnh sát có phát hiện ra cùng một sự thật với tôi không nhưng tôi sẽ làm bất cứ mọi điều cần thiết để hỗ trợ chính quyền. Đó là trách nhiệm chung của công dân mà.”
Cuộc gặp gỡ bất ngờ khiến cho chuyến du hành buổi sáng của chúng tôi bị gián đoạn. Vậy nên để không làm lỡ lịch trình công việc, sau bữa trưa chiếu lệ ở quán trà, chúng tôi đã tách nhau ra. Tôi đã không gặp người cộng sự của mình từ đó cho tới khi công việc trong ngày kết thúc.
Tới trước giờ ăn tối, tôi mới về văn phòng.
Tại đây tôi thấy Thorndyke ngồi ở bàn và rõ ràng là bận rộn với công việc nghiên cứu của mình. Một chiếc kính hiển vi được đặt gần đó với tụ quang đang chiếu sáng nhúm bột rắc trên lam kính. Trước mặt Thorndyke, bộ đồ nghề đang mở toang, còn bản thân anh lúc này thì đang bận bịu bóp một lớp dày chất gắn màu trắng từ tuýp lên ba khuôn sáp đúc nhỏ.
“Đúng là một công cụ hữu ích, thứ chất gắn fortafix này ấy.” Thorndyke nhận xét. “Nó có thể tạo ra những khuôn đúc tuyệt vời, cùng với đó tiết kiệm được ối thời gian thay vì công đoạn rắc rối và rườm rà của việc trộn thạch cao. Chuyện này có ý nghĩa đáng kể đối với những công việc lặt vặt như thế này. Nhân tiện, nếu anh tò mò về thứ ở trên gối cô gái đáng thương đó thì hãy nhìn qua kính hiển vi xem. Nó là một mẫu vật khá đẹp.”
Tôi bước tới và dán mắt nhìn vào kính hiển vi. Mẫu vật thực sự đẹp ở nhiều khía cạnh kỹ thuật. Các hạt thạch anh kết tinh được trộn lẫn với nhau, cấu trúc gai thủy tinh, những mảnh san hô bị nước bào mòn, một số mảnh vỏ sò nhỏ đáng yêu, một vài kết cấu đồ sứ tinh xảo và vài thứ khác giống như thủy tinh thổi kiểu Venice.
“Chúng là trùng lỗ.” Tôi kêu lên.
“Đúng vậy.”
“Thế nghĩa là đám này không phải cát mịn?”
“Chắc chắn rồi.”
“Nhưng rốt cuộc thứ này là sao chứ?”
Thorndyke mỉm cười. “Đó là một thông điệp gửi cho chúng ta từ biển sâu, Jervis ạ Chính xác là dưới đáy của phía Đông Địa Trung Hải.”
“Và anh đọc được thông điệp đó sao?”
“Tôi nghĩ là mình có thể.” Anh trả lời. “Hy vọng là tôi sẽ hiểu ra nó sớm thôi.”
Tôi nhìn xuống kính hiển vi một lần nữa và thắc mắc những chiếc vỏ nhỏ xíu này có thể truyền đạt được thông điệp gì. Cát ở đáy biển lại xuất hiện trên gối một người phụ nữ đã chết? Nghe có phi lý không cơ chứ? Liệu mối liên hệ nào giữa một tội ác khủng khiếp diễn ra ở phía Đông London và đáy sâu của “vùng biển lặng sóng” Địa Trung Hải?
Trong khi đó, Thorndyke vẫn đang bận rộn nặn thêm chất gắn lên ba miếng sáp đúc nhỏ (tôi nghi đây chính là những đồ vật mà Thorndyke đã gói lại cẩn thận trong sảnh nhà Goldstein). Sau đó, anh đặt một trong số chúng xuống phiến kính và xoay mặt tráng chất gắn lên trên, còn hai cái kia thì dựng thẳng lên ở mỗi bên. Cuối cùng, Thorndyke dùng thêm một đống chất gắn dày mới, mục đích rõ ràng là để liên kết ba vật này với nhau. Anh cẩn thận mang tấm kính cất vào trong tủ, đặt cùng với túi đựng cát và lam kính đựng mẫu vật trên kính hiển vi.
Thorndyke vừa mới khóa tủ thì một tràng tiếng gõ cửa thình lình vang lên khiến anh vội vã chạy ra đó. Đứng trên ngưỡng cửa là một cậu bé đưa thư, trên tay đang xòe ra một phong bì trông bẩn thỉu. “Ông Goldstein giữ cháu lại lâu khủng khiếp, thưa ông.” Đứa trẻ lên tiếng. “Cháu có phải là đứa rảnh rỗi đâu cơ chứ.”
Thorndyke nhanh chóng đem chiếc phong bì đến chỗ ngọn đèn ga, mở nó và rút từ bên trong ra một tờ giấy. Thorndyke vội vã đọc lướt qua một lượt với vẻ mặt háo hức. Mặc dù trông anh vẫn thần bí như đeo trên mặt một chiếc mặt nạ bằng đá nhưng tôi tin rằng, tờ giấy đó hẳn là chứa đựng điều gì đó mà anh ấy mong chờ.
Cậu bé giao được thư thì hớn hở rời đi. Lúc này, Thorndyke đã quay sang phía giá sách, anh đưa ánh mắt của mình dọc theo giá cho đến khi dừng lại ở một cuốn sách được đóng bìa sơ sài nằm ở cuối dãy. Thorndyke với lấy cuốn sách này xuống và để mở trên bàn. Tôi ngạc nhiên khi nhận ra đây là một cuốn sách song ngữ, một bên là tiếng Nga, một bên là tiếng Do Thái.
“Đây là Cựu Ước bằng tiếng Nga và tiếng Yiddish.” Thorndyke đề cập đến cuốn sách khi nhận ra sự ngạc nhiên của tôi. “Tôi sẽ nhờ Polton chụp ảnh vài trang tiêu bản… Hừm? Là người đưa thư hay một vị khách đây?”
Hóa ra đó là một người đưa thư. Thorndyke lấy ra từ trong hộp thư một phong bì trang trọng màu xanh lam rồi liếc nhìn tôi đầy ẩn ý.
“Tôi nghĩ chuyện này sẽ giúp trả lời cho câu hỏi của anh, Jervis ạ” Thorndyke nói. “Đây, giấy triệu tập của điều tra viên và một lá thư mang đậm chất trách nhiệm công dân. Nghe nhé. Xin lỗi vì đã làm phiền ông nhưng tôi không có lựa chọn nào khác trong hoàn cảnh này. Ồ, tất nhiên anh ta không có lựa chọn nào rồi. Bác sĩ Davidson đã sắp xếp một buổi khám nghiệm tử thi vào bốn giờ chiều ngày mai. Tôi sẽ rất vui lòng nếu ông có thể sắp xếp tham gia cùng tại nhà xác phố Barker, ngay cạnh trường học. Chà, tôi nghĩ là chúng ta sẽ phải góp mặt thôi mặc dù Davidson có thể sẽ bực bội chuyện đó.” Thorndyke nói rồi cầm theo cuốn Kinh Thánh đem vào phòng thí nghiệm.
Ngày hôm sau, chúng tôi dùng bữa trưa qua loa tại văn phòng. Sau khi kết thúc bữa ăn, cả hai kéo ghế lại gần đống lửa và châm tẩu hút. Thorndyke rõ ràng là mang nhiều suy tư vì anh đang đặt cuốn sổ mở trên đầu gối nhưng đôi mắt lại nhìn chằm chằm vào ngọn lửa với đầy nỗi bận tâm. Thỉnh thoảng, anh lại viết gì đó bằng bút chì như thể đang sắp xếp các luận điểm cho giả thuyết của mình. Tôi cho rằng vụ giết người ở Aldgate chính là điều khiến anh phải suy nghĩ nên đánh liều hỏi.
“Anh có vật chứng gì để cung cấp cho điều tra viên không?”
Thorndyke liền gấp cuốn sổ lại và cất đi. “Bằng chứng mà tôi có là một vật chất quan trọng nhưng nó khá rời rạc và thiếu thuyết phục. Nếu tôi có thể xâu chuỗi chúng thành một tổng thể mạch lạc trước khi vụ việc ra tòa thì nó sẽ trở nên vô cùng quan trọng. Nhưng cũng may là tôi vẫn còn một vị trợ lý vô giá ở đây, cùng với những công cụ nghiên cứu của anh ấy.” Thorndyke mỉm cười quay về phía Polton, người lúc này vừa mới bước vào phòng. Bác sĩ và Polton chào nhau bằng một cái nhìn thân thiện, cho thấy hai bên rất tôn trọng đối phương. Mối quan hệ của Thorndyke và trợ lý của anh ấy luôn khiến tôi cảm thấy tích cực: Một bên là sự phục vụ tận tụy, trung thành và hết lòng, còn một bên luôn thẳng thắn và công nhận xứng đáng.
“Tôi nghĩ những chuyện đó sẽ làm được thôi, thưa ngài.” Polton nói rồi đưa cho Thorndyke một chiếc hộp các tông nhỏ như thể đựng thẻ bài trong đó. Anh nhận lấy rồi mở nắp ra. Khi tôi nhìn vào thì thấy bên trong chiếc hộp có các rãnh ngăn chứa hai bản in dán. Nhưng mô tả sau đây về chúng mới thực sự là những điểm độc đáo. Đó là các bản sao của mỗi trang trong Kinh Thánh, một bên là tiếng Nga và bên kia là tiếng Yiddish. Nhưng trên đó, các ký tự chữ trắng trên nền đen chỉ chiếm một phần khá ít ở giữa, chừa lại phần lề đen khá rộng. Mỗi bản in lại được gắn lên một tấm thẻ cứng và mỗi tấm thẻ lại có một bản in trùng lặp dán ở mặt sau.
Thorndyke trưng chiếc hộp ra để tôi xem với một nụ cười đắc ý. Anh cầm vào các cạnh của chúng một cách nâng niu, trước khi trả mọi thứ trở lại các rãnh của chiếc hộp.
“Anh thấy đấy, có vẻ chúng ta đang hơi lạc đề một chút vào bộ môn ngôn ngữ học.” Thorndyke nhận xét trong khi cho chiếc hộp vào túi. “Nhưng mà chúng ta phải đi ngay thôi nếu không muốn để Davidson phải đợi. Cảm ơn nhé, Polton.”
Tuyến đường sắt nội đô nhanh chóng đưa chúng tôi về phía Đông và cả hai đã có mặt ở ga Aldgate nửa tiếng trước giờ hẹn. Tuy vậy, Thorndyke vẫn bước đi một cách vội vã. Nhưng thay vì tiến thẳng đến nhà xác, anh vòng qua phố Mansell không hề đúng với lộ trình ban đầu. Vừa đi, Thorndyke vừa lướt nhìn qua các số nhà. Nơi đây là một dãy những căn nhà cổ đẹp như tranh vẽ nhưng trông chúng khá nhếch nhác. Dường như ở phía bên phải con phố có gì đó thu hút Thorndyke khiến anh bước chậm lại khi cả hai đến gần.
“Ở đây có một sự tồn tại kỳ lạ, Jervis ạ” Thorndyke nhận xét rồi chỉ vào hình nộm bằng gỗ kiểu Ấn Độ được sơn qua loa, lúc này đang dựng trên dầm đỡ của cửa hàng nhỏ bán thuốc lá kiểu cũ. Khi chúng tôi dừng lại để xem bức tượng nhỏ thì ngay lúc đó cánh cửa hông mở ra. Một người phụ nữ bước ra từ ngưỡng cửa và đứng đó nhìn xuống dưới con phố.
Thorndyke ngay lập tức băng qua vỉa hè và nói gì đó với cô ta. Rõ ràng là anh vừa đặt một câu hỏi, vì tôi đã nghe cô ấy trả lời ngay sau đó: “Sáu giờ mười lăm phút là lịch trình của anh ta, thưa ngài. Và anh ta thường rất đúng giờ.”
“Cảm ơn cô. Tôi sẽ ghi nhớ điều đó.” Thorndyke đáp lại và nhấc mũ lên chào. Thế rồi anh bước đi nhanh nhẹn, dẫn tôi rẽ vào một con phố nhỏ hướng đến Aldgate. Bây giờ chỉ mới bốn giờ kém năm phút, vì thế cả hai phải sải bước nhanh chóng để đến nơi hẹn tại nhà xác. Mặc dù lúc chúng tôi đến cổng thì vừa vặn đúng thời gian, nhưng khi bước vào tòa nhà thì đã thấy bác sĩ Davidson dựng tấm chắn để chuẩn bị tiến hành.
“Xin lỗi vì không thể chờ anh tới.” Vị bác sĩ nhận lỗi nhưng trong lời nói không hề có chút thành ý nào. “Nhưng đối với trường hợp này, khám nghiệm tử thi chẳng khác nào diễn hề. Anh đã thấy tất cả những gì cần thấy rồi. Tuy vậy, Hart vẫn chưa xong với cái xác này.”
Nói xong điều đó, bác sĩ ném lại một câu “chào buổi chiều” cộc lốc rồi rời đi.
“Tôi phải xin lỗi vì thái độ của bác sĩ Davidson, thưa ngài.” Hart ngước nhìn lên với vẻ mặt khó chịu từ chiếc bàn nơi cậu ta đang viết ghi chú của mình.
“Cậu không cần phải xin lỗi đâu. Vốn cậu đâu thể chỉnh được cách hành xử của anh ta. Với lại, cậu cứ tập trung vào công việc của mình đi, tôi chỉ muốn xác nhận vài điều thôi.”
Và theo đề xuất đó của Thorndyke, tôi và Hart ngồi lại bàn làm việc trong khi anh bỏ mũ ra và tiến đến chiếc bàn dài làm bằng đá phiến, cúi xuống xem xét tấn bi kịch đáng thương ở đó. Thorndyke bất động ra mất một lúc để nghiêm túc quan sát cái xác, có lẽ là để tìm kiếm vết hoen tử thi và dấu hiệu của một cuộc vật lộn. Tiếp đó, anh cúi xuống và xem xét kĩ vết thương, đặc biệt là ở phần đầu và phần cuối. Đột nhiên, Thorndyke như bị điều gì đó thu hút mà cúi xuống gần hơn nữa. Anh nhanh chóng lấy kính lúp, kèm theo một chiếc tăm bông nhỏ và dùng nó để lau khô phần xương sống của nạn nhân bị lộ ra ngoài. Thorndyke đưa kính lúp đến chỗ mình vừa xử lý và quan sát kĩ lưỡng. Sau đó, anh dùng dao giải phẫu và kẹp cầm máu tách lấy một vật gì đó ra rồi cẩn thận rửa sạch. Thorndyke để vật đó trong lòng bàn tay và kiểm tra lần nữa bằng kính lúp. Quả nhiên đúng như tôi dự đoán, hành động tiếp theo của Thorndyke là mở “chiếc hộp đồ nghề” của mình và lấy ra túi chuyên dụng để cho vật nhỏ đó vào trong. Cuối cùng, anh đóng túi lại, viết vài dòng ra bên ngoài rồi đặt nó trở lại vào trong hộp đồ nghề.
“Tôi nghĩ tôi đã thấy tất cả những gì mình muốn thấy rồi.” Thorndyke vừa nói vừa nhét chiếc hộp trở lại vào túi và đội mũ lên. “Chúng ta sẽ gặp nhau vào sáng mai tại cuộc điều tra nhé.” Thorndyke bắt tay với Hart rồi cả hai chúng tôi bước ra bên ngoài bầu không khí trong lành.
Thorndyke cứ lần lữa mãi ở khu phố Aldgate hết vì lý do này đến lý do khác. Cho đến khi chuông nhà thờ điểm sáu giờ, Thorndyke mới tiến về phía con hẻm Harrow. Anh băng qua những lối đi hẹp quanh co một cách chậm rãi với vẻ mặt đầy trầm ngâm. Chúng tôi đi dọc theo phố Little Somerset rồi ra phố Mansell, cho đến khi hết hơn mười lăm phút, cả hai đã thấy mình đứng đối diện với cửa hàng bán thuốc lá nhỏ.
Thorndyke liếc nhìn đồng hồ rồi đứng lại một lúc để nhìn chăm chú xuống phố. Lát sau, anh vội vàng lấy từ trong túi chiếc hộp các tông và lôi ra hai bản in dán. Thứ này vốn khiến tôi vô cùng băn khoăn, nhưng giờ đây, khi đánh giá biểu hiện trên mặt Thorndyke, có vẻ chúng cũng đang làm cho anh bối rối không kém. Bây giờ, Thorndyke đang áp sát hai bản in vào mắt mình, xem xét chúng tỉ mỉ với một cái nhíu mày lo lắng và lùi từng bước một đến cạnh ô cửa bên hông cửa hàng bán thuốc lá. Đúng lúc này, tôi để ý thấy có một người đàn ông đang tiến đến gần, dường như người này đang soi mói Thorndyke với một vẻ ác cảm. Đó là một thanh niên vóc người thấp lùn nhưng vạm vỡ, nhìn qua thì có vẻ anh ta là một người Do Thái đến từ nước khác. Người này vốn khuôn mặt đã sẵn nét nham hiểm và khó coi, bấy giờ lại càng bị những dấu vết của bệnh đậu mùa làm cho biến dạng.
“Phiền chút.” Anh ta nói cộc lốc rồi lách qua Thorndyke. “Tôi sống ở đây.”
“Xin lỗi anh.” Thonrdyke trả lời rồi tránh sang một bên. Đột nhiên, anh lên tiếng hỏi. “Nhân tiện, cho hỏi liệu anh có tình cờ hiểu được tiếng Yiddish không nhỉ?”
“Ông hỏi vậy là ý gì?” Người kia cộc cằn hỏi vặn lại.
“À vì tôi vừa nhận được hai bản in viết bằng ký tự này. Một bản tôi nghĩ là được viết bằng tiếng Hy Lạp, bản còn lại là tiếng Yiddish. Nhưng mà tôi quên mất bản nào với bản nào rồi.” Nói rồi Thorndyke đưa hai tấm thẻ ra cho người đàn ông. Anh ta cầm lấy chúng từ tay Thorndyke và nhìn một lượt chúng tôi với vẻ tò mò cau có.
“Cái này là tiếng Yiddish.” Anh ta nói rồi giơ tay phải lên. “Còn cái kia là tiếng Nga, không phải tiếng Hy Lạp.” Xong xuôi, anh ta trả hai tấm thẻ lại cho Thorndyke. Người cộng sự của tôi liền giữ lấy và cẩn thận cầm vào mép của chúng như trước kia từng làm.
“Tôi rất biết ơn vì sự giúp đỡ tử tế của anh.” Nhưng trước khi Thorndyke kịp nói hết lời cảm ơn thì người đàn ông đã mở khóa bước vào nhà và đóng sầm cửa lại.
Thorndyke cẩn thận nhét những bản in trở lại rãnh ngăn rồi đặt chiếc hộp trở lại túi, sau đó liền ghi chép gì đó vào sổ tay.
“Hành động vừa rồi đã góp phần hoàn thành nghiên cứu của tôi, mặc dù còn một thí nghiệm nhỏ nữa nhưng tôi có thể thực hiện tại nhà. Tiện thể, lần này tôi cũng nhặt được một mẩu bằng chứng mà Davidson đã bỏ qua. Ông ta hẳn sẽ khó chịu. Cá nhân tôi cũng không thích hạ bệ đồng nghiệp. Nhưng tay bác sĩ này quá thô lỗ để tôi có thể giao tiếp.”
Theo như giấy triệu tập hầu tòa mà điều tra viên gửi tới, thời gian mà Thorndyke phải có mặt để cung cấp bằng chứng là mười giờ. Nhưng vì vướng vào buổi tư vấn với một luật sư nổi tiếng nọ mà khi đã trễ mười lăm phút so với lịch trình, Thorndyke mới bắt đầu khởi hành từ khu Temple. Người cộng sự của tôi rõ ràng là đang vô cùng phấn chấn, mặc dù anh tỏ ra im lặng và lo lắng. Tôi đoán sự phấn khích đó đến từ việc anh hài lòng với kết quả nghiên cứu của mình. Khi cả hai ngồi cạnh nhau trên xe ngựa, tôi đã tự dặn lòng không được đặt bất cứ câu hỏi gì cho Thorndyke. Điều này không phải xuất phát từ lòng vị kỷ đơn thuần mà vì tôi mong muốn lần đầu tiên được lắng nghe các bằng chứng của anh là khi có đông đủ các nhân chứng khác.
Văn phòng tiến hành cuộc thẩm tra chính thức nằm tại một phần của trường học liền kề với nhà xác. Khung cảnh trơ trọi, trống trải vốn có của nơi đây đã được làm cho náo nhiệt bằng sự xuất hiện của một chiếc bàn dài phủ vải dạ. Ngồi một bên đầu bàn là điều tra viên, trong khi bên còn lại là bồi thẩm đoàn. Tôi mừng vì những thành viên trong bồi thẩm đoàn đều là những người lao động chân chính, chứ không phải là “những bồi thẩm đoàn chuyên nghiệp” lúc nào cũng mang vẻ mặt lạnh lùng, dữ tợn thường xuất hiện ở những phiên tòa thế này.
Có một hàng ghế được chuẩn bị cho các nhân chứng. Ở một góc bàn là vị trí dành cho luật sư bào chữa của người phụ nữ bị buộc tội. Đó là một quý ông bảnh bao, lịch sự, đeo cặp kính gọng vàng. Một góc còn lại dành cho các phóng viên báo chí. Cuối cùng là vài hàng ghế dài đã được lấp kín bởi một nhóm người lẫn lộn, đại diện cho công chúng.
Nhưng có một vài sự hiện diện khiến cho tôi hơi ngạc nhiên khi bắt gặp. Ví dụ như người đàn ông mặt sẹo đã nhìn chúng tôi đầy bất ngờ và thù địch ở trên phố Mansell, hay như sự xuất hiện của thanh tra cấp cao Miller của Sở cảnh sát Scotland Yard, có vẻ ông ở đây vì quen biết với cá nhân Thorndyke. Dẫu vậy, tôi cũng chẳng có nhiều thì giờ để quan sát xung quanh vì khi cả hai đến nơi thì quá trình tố tụng đã bắt đầu. Bà Goldstein với cương vị nhân chứng đầu tiên đang kết thúc phần trình bày của mình về hoàn cảnh mà vụ án được phát hiện ra. Khi người phụ nữ khóc lóc thảm thiết về chỗ, bà nhận được những cái nhìn thương xót từ sự cảm thông của các bồi thẩm đoàn.
Nhân chứng tiếp theo là một phụ nữ trẻ tên Kate Silver. Khi bước lên phía trước để tuyên hệ, cô nàng đã ném cho Miriam Goldstein một cái nhìn căm thù và thách thức. Bị cáo lúc này khuôn mặt đã trắng nhợt, dáng vẻ hoang dại với mái tóc đỏ rối bù xõa trên vai, đang đứng giữa sự canh giữ của hai viên cảnh sát. Hai người đứng cách xa nhau và Miriam bấy giờ đang nhìn vào cô gái kia với ánh mắt như thể chìm trong ảo mộng.
“Tôi được biết cô có mối quan hệ mật thiết với người đã khuất?” Điều tra viên lên tiếng..
“Đúng vậy. Chúng tôi là đồng nghiệp của nhau được một thời gian khá lâu rồi. Cả hai cùng làm tại nhà hàng Empire ở phố Fenchurch và từng là bạn cùng nhà. Cô ấy là người bạn thân thiết nhất của tôi.”
“Vậy cô có biết nạn nhân có bạn bè hay họ hàng nào ở Anh hay không?”
“Không. Cô ấy từ Bremen đến Anh khoảng ba năm trước. Đó cũng là lúc tôi làm quen với cô ấy. Tất cả họ hàng của cô ấy đều ở Đức nhưng vì là một cô gái hoạt bát và dễ mến nên bạn bè ở Anh có rất nhiều.”
“Vậy theo hiểu biết của cô, nạn nhân có kẻ thù hay bất cứ người nào có ác cảm đến mức ra tay giết hại cô ấy hay không?”
“Có. Miriam Goldstein chính là kẻ thù của bạn tôi vì ả ta ghét cô ấy.”
“Cô nói Miriam Goldstein ghét người đã khuất. Làm sao mà cô biết được chuyện này?”
“Cô ấy không giấu gì chuyện này. Hai người họ đã nổ ra một trận cãi vã dữ dội về một chàng trai trẻ tên là Moses Cohen. Cậu ta trước đây là người yêu của Miriam và tình cảm hai bên rất tốt đẹp cho đến khi Minna Adler đến trọ tại nhà Goldsteins khoảng ba tháng trước. Sau đó, Moses thích Minna và được cô ấy khuyến khích tiến xa hơn. Dẫu vậy, thực tế là Minna đã có người yêu rồi. Đó là một chàng trai trẻ tên Paul Petrofsky, anh ta cũng ở trong nhà trọ của Goldsteins. Cuối cùng, Moses chia tay với Miriam và đính hôn với Minna. Về sau, Miriam vô cùng tức giận và chỉ trích Minna về hành vi tráo trở đó. Nhưng Minna chỉ cười và đáp lại Miriam rằng cô ấy có thể lấy Petrofsky để thay thế.”
“Và điều gì đã xảy ra khi Minna nói như vậy?” Điều tra viên hỏi.
“Miriam còn phẫn nộ hơn nữa vì Moses Cohen là một thanh niên thông minh và đẹp trai, trong khi Petrofsky không có vẻ gì ưa nhìn. Bên cạnh đó, Miriam không thích Petrofsky. Người này đã từng thô lỗ với Miriam khiến cô ta đòi cha mình phải tống cổ hắn ra khỏi nhà trọ. Vì thế họ chẳng phải bạn bè gì và chỉ ít lâu sau thì rắc rối đã ập đến.”
“Rắc rối sao?”
“Ý tôi là về Moses Cohen đấy. Miriam là một người rất nóng nảy và cô ta ghen tị với Minna. Vì vậy mà khi Petrofsky chọc tức Miriam bằng cách chế nhạo chuyện Moses Cohen và Minna, cô ta đã mất bình tĩnh và nói những điều tồi tệ về cả hai người họ.”
“Ví dụ như?”
“Miriam tuyên bố rằng cô ta sẽ giết cả hai và rằng sẽ cắt cổ Minna.”
“Lời đó được nói ra khi nào?”
“Đó là một ngày trước khi xảy ra án mạng.”
“Còn có ai khác ngoài cô nghe Miriam nói những điều này không?”
“Còn có một khách trọ khác tên là Edith Bryant và Petrofsky. Lúc đó tất cả chúng tôi đều đang đứng trong sảnh.”
“Nhưng tôi tưởng cô nói rằng Petrofsky đã bị đuổi ra khỏi nhà.”
“Đúng là anh ta đã bị đuổi một tuần trước đó nhưng vì để quên một chiếc hộp trong phòng của mình nên hôm đó anh ta đã đến để đem nó đi. Chính sự việc ấy là khởi đầu của chuỗi rắc rối. Miriam đã dùng căn phòng đó để làm phòng ngủ, còn căn phòng trước đây được tận dụng thành nơi làm việc. Miriam lúc ấy có nói rằng anh ta không nên vào phòng cô để lấy cái hộp đó.”
“Và anh ta vẫn lấy?”
“Tôi nghĩ vậy. Miriam, Edith và tôi đã đi ra ngoài để anh ta ở sảnh. Khi chúng tôi quay lại, chiếc hộp đã biến mất. Lúc ấy, bà Goldstein đang ở trong bếp và không có ai khác trong nhà nên anh ta chắc hẳn đã lấy nó đi.”
“Cô có đề cập đến phòng làm việc của Miriam. Cô ấy làm công việc gì vậy?”
“Cô ấy tạo khuôn cho một hãng chuyên đồ trang trí.”
Nói đến đây, điều tra viên liền lấy ra một con dao có hình thù kỳ lạ từ trên mặt bàn trước mặt và đưa cho nhân chứng xem.
“Cô đã bao giờ nhìn thấy con dao này trước đây chưa?” Điều tra viên gặng hỏi.
“Rồi. Đây là con dao của Miriam Goldstein. Nó là con dao rọc giấy mà Miriam thường sử dụng trong khi làm việc.”
Lời khẳng định này cũng kết thúc phiên làm chứng của Kate Silver. Và khi cái tên của nhân chứng tiếp theo được xướng lên. Paul Petrofsky, vừa hay cũng là lúc anh bạn trên phố Mansell mà chúng tôi gặp trước đó tiến đến trước tòa để tuyên thệ. Lời làm chứng của anh ta khá ngắn gọn, chỉ có giá trị chứng thực cho lời khai của Kate Silver. Đối với nhân chứng tiếp theo là Edith Bryant thì cũng lặp lại điều tương tự. Khi việc lấy lời khai của các nhân chứng trên đã xong xuôi, điều tra viên liền lên tiếng thông báo.
“Thưa quý vị, trước khi lấy các bằng chứng giải phẫu y khoa, tôi đề nghị mọi người lắng nghe lập luận của các sĩ quan cảnh sát. Đầu tiên xin mời Thám tử - Trung sĩ Alfred Bates.” Viên trung sĩ bước nhanh về phía trước rồi đưa ra bằng chứng của mình với sự rõ ràng và mạch lạc trong lời nói.
“Tôi được Constable Simmonds triệu tập lúc mười một giờ bốn mươi chín phút và đến ngôi nhà đó lúc hai giờ kém mười hai phút, cùng với hai cộng sự là thanh tra Harris và bác sĩ bộ phận khám nghiệm Davidson. Khi tôi đến nơi thì bác sĩ Hart, bác sĩ Thorndyke và bác sĩ Jervis đã ở sẵn trong phòng. Tôi phát hiện ra người phụ nữ đã chết, Minna Adler, đang nằm trên giường với vết cắt ở cổ. Nạn nhân đã tử vong và thi thể lạnh ngắt. Tại hiện trường không phát hiện dấu hiệu vật lộn và mọi thứ trên giường đều có vẻ như không bị xáo trộn. Bên cạnh giường có một cái bàn, trên mặt bàn đặt một cuốn sách và chân nến rỗng không. Ngọn nến rõ ràng đã cháy hết vì chỉ còn sót lại một mẩu bấc cháy thành than nằm ở dưới cùng của đế cắm. Mặt sàn khu vực đầu giường có một chiếc hộp đặt ở đó, phía trên còn kê thêm một chiếc đệm ngồi. Rõ ràng kẻ sát nhân đã phải đứng lên chiếc đệm ngồi và dựa vào đầu giường để thực hiện vụ giết người. Sở dĩ hung thủ phải làm chuyện này là bởi nếu di chuyển chiếc bàn để làm chỗ đứng thì sẽ gây ra tiếng động lớn, khiến nạn nhân theo đó mà tỉnh dậy. Từ sự xuất hiện của chiếc hộp và đệm ngồi, tôi suy luận rằng hung thủ phải là một người có vóc dáng thấp bé.”
“Còn điều gì khác để xác định danh tính của kẻ giết người không?”
“Có một thứ khác. Đó là một lọn tóc đỏ của nữ giới mà nạn nhân đã nắm được bằng tay trái.”
Khi viên thám tử thốt ra lời tuyên bố này, tiếng thét kinh hoàng vang lên đồng thời từ người phụ nữ bị buộc tội và mẹ của cô ta. Bà Goldstein gần như ngất xỉu trên một băng ghế dài, còn Miriam thì nhợt nhạt như xác chết, đứng sững ra như hóa đá và chằm chằm nhìn vào viên thám tử với cái nhìn kinh hoàng. Viên thám tử rút từ trong túi hai gói giấy nhỏ và mở ra đưa cho điều tra viên.
“Tóc trong gói được đánh dấu A là thứ được tìm thấy trong tay của người quá cố. Còn gói đánh dấu B là tóc của Miriam Goldstein.”
Đến đây, luật sư bào chữa cho Miriam liền đứng dậy chất vấn.
“Anh đã lấy tóc trong gói B từ đâu?”
“Tôi lấy nó từ một cái túi đựng lược chải đầu treo trên tường phòng phủ của Miriam Goldstein.” Viên thám tử trả lời.
“Tôi phản đối điều này!” Luật sư tuyên bố. “Không có bằng chứng nào cho thấy tóc trong chiếc túi đó là tóc của Miriam Goldstein.”
Thorndyke khẽ cười thầm. “Vị luật sư này cũng dại dột y như cảnh sát vậy.” Anh nói lời nhận xét với tôi bằng một tông giọng thấp. “Không ai trong số họ nhìn ra tầm quan trọng của chiếc túi đó cả.”
“Nghĩa là anh biết về cái túi đó hả?” Tôi hỏi với giọng ngạc nhiên.
“Không. Tôi nghĩ đó là một chiếc lược chải đầu.”
Khi tôi kinh ngạc nhìn người cộng sự của mình và định hỏi gì đó để làm sáng tỏ câu trả lời khó hiểu này thì anh ta giơ ngón tay lên và quay lại theo dõi phiên tòa.
“Rất tốt, thưa ông Horwitz.” Điều tra viên nói. “Tôi sẽ ghi lại lập luận phản bác của ông nhưng vẫn cho phép trung sĩ tiếp tục cung cấp bằng chứng của mình.”
Vị luật sư liền ngồi xuống và viên thám tử lại tiếp tục lời câu chuyện của mình.
“Tôi đã kiểm tra và đối chiếu hai mẫu tóc. Theo ý kiến chủ quan của tôi, cả hai thuộc cùng một người. Một điều khác mà tôi nhận thấy trong phòng là có lượng nhỏ cát mịn được rắc quanh đầu trên cái gối của người phụ nữ đã chết.”
“Cát mịn sao?” Điều tra viên kêu lên. “Đó chắc hẳn là một vật chất kỳ lạ khi xuất hiện trên gối của một người phụ nữ.”
“Tôi nghĩ có thể giải thích chuyện này dễ dàng thôi.” Trung sĩ trả lời. “Bồn rửa tay đầy nước vấy máu, chứng tỏ kẻ sát nhân đã rửa tay của anh ta (hoặc cô ta) cùng với con dao sau khi gây án. Trên bệ rửa mặt còn có một cục xà phòng cát nữa. Vì thế mà tôi có thể hình dung rằng, kẻ giết người đã dùng xà phòng cát để rửa sạch tay của anh ta (hoặc cô ta). Và trong khi lau khô chúng, hẳn kẻ đó đã đứng trên đầu giường và khiến cát rơi xuống gối.”
“Một lời lý giải tuy đơn giản nhưng rất khôn ngoan.” Điều tra viên tán thành. Các bồi thẩm đoàn cũng gật gù và nháy nhau tỏ vẻ đầy ngưỡng mộ.
“Tôi cũng đã lục soát các căn phòng mà bị cáo Miriam Goldstein đang ở và tìm thấy một con dao loại dùng để tạo khuôn nhưng lớn hơn bình thường. Trên con dao có vết máu và điều này được bị cáo giải thích rằng cô ấy đã cắt phải ngón tay của mình vài ngày trước. Miriam cũng đã thừa nhận rằng con dao là của cô ấy.”
Đây cũng là kết luận cuối cùng của bằng chứng mà trung sĩ đưa ra. Anh ta chuẩn bị ngồi xuống thì cũng là lúc luật sư đứng dậy.
“Tôi muốn hỏi nhân chứng này một vài câu hỏi.” Luật sư đề nghị và được điều tra viên gật đầu đồng ý. “Ngón tay của bị cáo đã được kiểm tra kể từ khi cô ấy bị bắt chưa?”
“Tôi tin là chưa.” Viên trung sĩ đáp. “Nói một cách chính xác thì tôi không biết.”
Luật sư ghi nhận câu trả lời rồi tiếp tục chất vấn. “Về vấn đề cát mịn, anh có tìm thấy chúng ở đáy bồn rửa tay không?”
Khuôn mặt của viên trung sĩ bắt đầu đỏ lên, anh trả lời: “Tôi không kiểm tra bồn rửa tay đó.”
“Có ai đã kiểm tra nó chưa?”
“Tôi nghĩ là chưa.”
“Cảm ơn anh.” Ông Horwitz ngồi xuống. Tiếng rít đắc thắng từ chiếc bút lông của ông vang lên lấn át cả tiếng lầm bầm phản đối của bồi thẩm đoàn.
“Thưa quý vị, bây giờ chúng ta sẽ được nghe bằng chứng pháp y từ các bác sĩ.” Điều tra viên thông báo. “Và chúng ta sẽ bắt đầu với bằng chứng của bác sĩ khám nghiệm chuyên trách.” Sau khi bác sĩ Davidson đứng lên tuyên thệ, điều tra viên tiếp tục. “Tôi tin rằng ông đã xem xét xác chết ngay sau khi vụ giết người xảy ra và cũng đã tiến hành khám nghiệm tử thi, đúng vậy không thưa bác sĩ?”
“Đúng vậy. Tôi phát hiện thi thể của người phụ nữ nằm trên giường và hiện trường không bị xáo trộn nhiều. Thời điểm tử vong của nạn nhân được xác định là khoảng mười giờ trước đó. Tử thi chỉ mới co cứng tứ chi chứ chưa kéo đến phần thân. Nguyên nhân tử vong là do vết thương sâu và dài cắt qua cổ họng, đứt lìa đến tận xương. Loại thương tích này chỉ có thể tạo ra từ việc chém một nhát dao xuống trong khi nạn nhân đang nằm. Rõ ràng đây là một vụ giết người vì người chết không thể tự gây ra được loại vết thương như thế. Hung khí có thể là con dao một lưỡi, kéo một đường từ trái sang phải. Kẻ sát nhân đứng trên chiếc đệm ngồi kê trên chiếc hộp ở đầu giường và cúi người ra đòn. Hung thủ có thể là một người khá thấp nhưng vạm vỡ và thuận tay trái. Không có dấu vết của một cuộc vật lộn và xét theo bản chất của thương tích, tôi có thể kết luận rằng nạn nhân gần như chết ngay lập tức. Trên tay trái của người đã khuất có nắm một lọn tóc nhỏ màu đỏ của phụ nữ. Tôi đã so sánh lọn tóc đó với tóc của Miriam và tôi cho rằng đó chính là tóc của bị cáo.”
“Ý anh là con dao khắc trổ của bị cáo mà mọi người vừa được cho xem?”
“Chính là nó, một con dao khắc trổ. Tôi đã kiểm tra vết máu khô trên con dao thì phát hiện ra đó là máu của động vật có vú. Nó có thể là máu người nhưng không thể chắc chắn nó thuộc về ai.”
“Vết thương của nạn nhân có thể do con dao này gây ra được không?”
“Được, mặc dù con dao hơi nhỏ để tạo ra một vết thương sâu. Tuy nhiên vẫn có thể sử dụng nó để tạo ra thương tích như vậy.”
Điều tra viên liếc nhìn Luật sư Horwitz rồi đề xuất. “Ông có muốn đặt câu hỏi nào cho nhân chứng này hay không?”
Sau khi luật sư xem xét các ghi chú của mình, ông liền đứng dậy và bắt đầu đối chất. “Thưa bác sĩ, ông đã mô tả rằng trên dao có dính vết máu. Nhưng chúng ta cũng nghe nói rằng có nước vấy máu trong bồn rửa tay, như vậy thì chỉ có thể là sát nhân đã rửa tay và con dao của mình. Tuy nhiên, nếu con dao đã được rửa sạch rồi thì ông giải thích thế nào về vết máu dính trên đó?”
“Vậy thì rõ ràng con dao đã không được rửa sạch, hung thủ chỉ rửa sạch tay thôi.”
“Nhưng chẳng phải điều như thế rất khó xảy ra hay sao?”
“Không. Tôi không nghĩ như luật sư.”
“Vậy thì ông đã nói rằng không có dấu hiệu xảy ra vật lộn và nạn nhân chết ngay lập tức. Nhưng người chết lại nắm được trong tay một lọn tóc của nữ sát nhân. Chẳng phải hai điều này mâu thuẫn với nhau sao?”
“Không. Có lẽ lọn tóc đó đã bị giật vào ngay lúc chết. Dù sao đi nữa, chắc chắn tóc nằm trong tay của nạn nhân.”
“Có thể xác định chính xác lọn tóc đó thuộc về bất kì cá nhân nào không?”
“Không. Chắc chắn là không. Nhưng đây là một mái tóc rất đặc biệt.”
Luật sư ngồi xuống kết thúc màn chất vấn. Sau đó, bác sĩ Hart được gọi lên và lần nữa xác nhận bằng chứng của cấp trên mình vừa đưa ra. Tiếp đến, điều tra viên thông báo. “Thưa quý vị, nhân chứng tiếp theo là bác sĩ Thorndyke. Ông tình cờ liên quan đến vụ án nhưng lại là người đầu tiên có mặt tại hiện trường. Ông đã tiến hành khám nghiệm tử thi và có thể sẽ làm sáng tỏ thêm tội ác khủng khiếp này.”
Thorndyke liền đứng lên tuyên thệ, sau đó đặt một chiếc hộp nhỏ có tay cầm bằng da lên bàn. Để đáp lại những vấn đề mà điều tra viên vừa đề cập, Thorndyke đã tự giới thiệu bản thân là giảng viên về Y học Pháp lý tại trường đại học bệnh viện St. Margaret. Anh cũng giải thích ngắn gọn về mối liên hệ của mình với vụ án. Nói đến đây, chủ tịch ban hội thẩm liền ngắt lời Thorndyke rồi thắc mắc xem ý kiến của anh về con dao và lọn tóc vật chứng như thế nào, bởi đây là vấn đề đang gây tranh cãi nhất. Ngay sau đó, những món đồ trên đã được chuyển tới trước mặt Thorndyke.
“Theo ý kiến của bác sĩ, sợi tóc trong gói A có phải là thuộc cùng một người với chủ nhân sợi tóc trong gói B không?” Điều tra viên hỏi.
“Không còn gì nghi ngờ nữa, chúng thuộc về cùng một người,” Thorndyke trả lời.
“Ông hãy kiểm tra con dao này và cho biết vết thương trên nạn nhân có phải do nó gây ra hay không?” Thorndyke chăm chú xem xét con dao, sau đó đưa trả lại cho điều tra viên.
“Vết thương có thể do con dao này gây ra.” Thorndyke đáp lại. “Nhưng tôi khá chắc rằng nó không phải hung khí.”
“Bác sĩ có thể cho chúng tôi biết lý do nào khiến ông chắc chắn như vậy không?”
“Tôi nghĩ rằng sẽ tiết kiệm thời gian hơn nếu đưa ra các dữ kiện theo thứ tự liên quan.” Khi nhân viên điều tra gật đầu đồng ý, anh lại tiếp tục. “Tôi sẽ không lãng phí thì giờ của mọi người bằng việc nhắc lại những thực tế đã được nêu. Trung sĩ Bates đã mô tả đầy đủ tình trạng của căn phòng và tôi không có gì để bổ sung thêm vào chuyện này. Mô tả của bác sĩ Davidson về kết quả khám nghiệm, bao gồm: việc người phụ nữ đã chết được khoảng mười tiếng trước thời điểm phát hiện, việc vết thương chỉ rõ đây là hành vi giết người và được gây ra theo cách mà bác sĩ đã mô tả. Nạn nhân đã chết ngay lập tức và có thể nói rằng cô gái đã ngủ một giấc mà không bao giờ tỉnh nữa.”
“Nhưng mà nạn nhân đã cầm một lọn tóc trong tay cơ mà?” Điều tra viên phản đối.
“Lọn tóc đó không phải là tóc của kẻ giết người,” Thorndyke đáp. “Nó được đặt vào tay của nạn nhân với một mục đích rõ ràng. Và việc kẻ sát nhân mang theo lọn tóc đó khi gây án cho thấy tội ác đã được tính toán trước. Cũng có thể suy ra được vụ giết người được thực hiện bởi một kẻ có thể ra vào ngôi nhà và quen biết với các khách trọ khác.”
Khi Thorndyke đưa ra tuyên bố này thì điều tra viên, bồi thẩm đoàn và toàn bộ những người đang theo dõi phiên tòa đều nhìn chằm chằm vào anh ấy với vẻ ngạc nhiên đến há hốc mồm. Một khoảng im lặng căng thẳng kéo dài, cuối cùng đã bị phá vỡ bởi điệu cười điên dại và cuồng loạn của bà Goldstein. Thế rồi, điều tra viên tiếp tục đặt câu hỏi.
“Làm sao ông biết được sợi tóc trong tay nạn nhân không phải của hung thủ.”
“Suy luận này vốn dĩ rất rõ ràng. Ngay từ đầu, màu sắc đặc biệt và bắt mắt của lọn tóc đã khiến tôi nghi ngờ. Nhưng tôi xin kể ra đây ba sự thật chứng minh tóc đó không phải của hung thủ. Thực tế, chỉ cần một trong ba cũng đã đủ để làm sáng tỏ điều này.
“Đầu tiên là về tình trạng của bàn tay. Khi một người trong lúc lâm chung, nếu họ nắm chặt bất cứ đồ vật nào thì sẽ xảy ra hiện tượng co cứng tử thi. Sự co rút của cơ bắp sẽ ngay lập tức chuyển sang trạng thái đơ cứng hoặc chết cứng và vật thể vẫn bị nắm chặt bởi bàn tay của nạn nhân cho đến khi tình trạng này kết thúc. Trong trường hợp vụ án này, bàn tay nạn nhân hoàn toàn cứng nhắc nhưng nó không hề nắm lấy lọn tóc. Sợi tóc nhỏ chỉ đơn thuần nằm trong bàn tay khép hờ của nạn nhân, trông khá lỏng lẻo. Rõ ràng lọn tóc đó đã được đặt vào tay sau khi chết.
Hai thực tế còn lại thì liên quan đến tình trạng của tóc. Bấy giờ, khi một lọn tóc bị giật khỏi đầu thì điều đương nhiên là sẽ phải có chân tóc trên các sợi tóc. Nhưng lọn tóc tìm được ở hiện trường không đáp ứng được điều này. Lọn tóc nằm trên tay nạn nhân đều chỉ có phần đuôi tóc, vậy nên không thể là tóc giật ra từ đầu hung thủ được.
“Nhưng thực tế thứ ba mà tôi phát hiện ra còn thuyết phục hơn nữa. Những sợi tóc của lọn tóc đó hoàn toàn không phải bị giật ra mà là rụng tự nhiên. Trên thực tế, chúng bị rụng ra có lẽ bởi quá trình chải tóc. Hãy để tôi giải thích rõ sự khác biệt này. Khi tóc rụng một cách tự nhiên, nó sẽ bị rơi ra khỏi một ống nhỏ trên da gọi là bao tóc, do quá trình lớp tóc mới mọc ra bên dưới và đẩy nó ra ngoài. Phần chân của một sợi tóc rụng như vậy sẽ phình ra giống hình dạng của một củ hành. Nhưng khi một sợi tóc bị nhổ ra, chân tóc sẽ kéo theo cả bao tóc ra ngoài. Mọi người có thể quan sát thấy có một khối gì đó lóng lánh ôm lấy ở chân tóc. Nếu như Miriam Goldstein nhổ một sợi tóc và đưa nó cho tôi, tôi sẽ cho mọi người thấy sự khác biệt lớn giữa tóc bị nhổ và tóc rụng tự nhiên.”
Miriam bất hạnh chẳng cần phải đợi ai thúc ép. Trong nháy mắt, cô gái đã vén tóc và nhổ ra cả chục sợi. Một cảnh sát cầm lấy chúng và giao lại cho Thorndyke. Anh nhận lấy chỗ tóc và ngay lập tức cố định chúng bằng một chiếc kẹp giấy. Chiếc kẹp giấy thứ hai dùng để cố định nửa tá sợi tóc được tìm thấy trên tay của nạn nhân. Sau đó, Thorndyke đưa hai chiếc kẹp cùng với một chiếc kính lúp cho điều tra viên.
“Chuyện này đúng là vô cùng kinh ngạc và mang tính quyết định!” Điều tra viên thốt lên. Tiếp đến, điều tra viên chuyển những vật chứng này cho chủ tịch ban hội thẩm và sau đó là một khoảng thời gian im lặng trong khi bồi thẩm đoàn xem xét nó với vẻ hồi hộp đến nín thở cùng những khuôn mặt rất nhăn nhó.
“Về vấn đề tiếp theo.” Thorndyke tiếp tục. “Đó là việc kẻ sát nhân đã lấy những sợi tóc này từ đâu? Tôi phỏng đoán rằng chúng được lấy từ lược chải tóc của Miriam Goldstein. Nhưng thông qua bằng chứng mà trung sĩ cung cấp, có thể thấy rõ rằng chúng được lấy từ chính chiếc túi đựng lược chải mà anh ta đã lấy mẫu tóc để so sánh.”
“Thưa bác sĩ, tôi nghĩ rằng ông đã giải quyết được hoàn toàn manh mối về lọn tóc. Xin ông hãy cho biết liệu còn điều gì có thể làm sáng tỏ danh tính của kẻ giết người không?” Điều tra viên lên tiếng.
“Có chứ,” Thorndyke trả lời. “Tôi phát hiện được một số điều đủ thuyết phục để xác định được danh tính của kẻ sát nhân.” Nói rồi Thorndyke liếc nhìn thanh tra cấp cao Miller đầy ẩn ý. Ngay sau đó, vị thanh tra đứng dậy rồi lặng lẽ tiến ra cửa. Một lúc sau ông quay lại với thứ gì đó vừa được đút vào túi. Thorndyke thấy vậy liền tiếp tục màn suy luận của mình. “Khi bước tới sảnh của căn nhà, tôi đã ghi nhận một số sự kiện như sau: Đằng sau cánh cửa ra vào là một cái kệ, bên trên đó có hai chiếc chân nến bằng sứ. Mỗi chiếc đều được gắn nến nhưng một trong hai chỉ còn đầu nến ngắn, dài khoảng một inch đang nằm trong khay. Trên sàn nhà chỗ gần tấm thảm có một vết sáp nến và vài vết chân lấm lem. Bên trên lớp vải dầu ở các bậc thang cũng xuất hiện các dấu chân mờ nhạt do một đôi giày bọc ngoài ướt in lên. Đôi giày đã đi lên cầu thang và dấu vết mờ dần khi bước tới đỉnh. Còn có hai vết sáp nến trên cầu thang và một vết ở trên tay vịn. Ở giữa cầu thang, tôi còn phát hiện ra một đầu que diêm bị cháy và ở chiếu nghỉ cũng tìm được thêm một đầu tương tự. Không nhìn ra dấu chân đi xuống nhưng một trong những vết sáp nến ở gần lan can đã bị giẫm lên khi còn ấm và mềm, trên đó in gót giày bước xuống. Ổ khóa của cửa ra vào mới được tra dầu gần đây và ổ khóa phòng ngủ nạn nhân cũng vậy. Ngoài ra, ổ khóa ở phòng ngủ đã được mở từ bên ngoài bằng một sợi dây được uốn cong với các răng tương tự chìa khóa. Bên trong căn phòng, tôi còn khám phá ra hai phát hiện nữa. Thứ nhất là trên gối của nạn nhân được rắc lên một lớp cát, nhìn qua thì giống cát mịn nhưng màu xám hơn và ít lẫn sỏi hơn. Vấn đề này lát nữa tôi sẽ giải thích kĩ hơn.
“Thứ hai là chân nến trên chiếc bàn cạnh giường hoàn toàn trống không. Đó là một chiếc chân nến đặc biệt với phần đế được cấu thành bởi tám miếng kim loại phẳng. Phần bấc của một ngọn nến đã cháy thành than, nằm sót lại dưới cùng của đế. Nhưng trên mép chân nến, tôi phát hiện một ít sáp dính lại. Điều này cho thấy đã có một ngọn nến khác lắp vào đó và được lấy ra rồi, vì nếu không, mẩu sáp nhỏ đó đã bị nóng chảy. Tôi lập tức nghĩ ngay đến ngọn nến ngắn ở trong sảnh. Và thế là tôi lại lần nữa xuống dưới để lấy nó ra khỏi khay và xem xét kĩ lưỡng. Trên ngọn nến, tôi phát hiện ra tám dấu vết rõ ràng tương ứng với tám thanh kim loại của chân nến trong phòng ngủ. Nó đã được ai đó cầm vào bằng tay phải. Vì chất sáp ấm và mềm nên đã lưu lại được dấu ấn rõ nét của ngón cái và ngón trỏ tay phải. Thế là tôi lấy ba cái khuôn bằng sáp để in những dấu vết này lại. Từ những cái khuôn, tôi đổ chất gắn vào và tạo ra được mẫu của hai dấu vân tay cùng dấu với tám thanh kim loại ở chân nến.” Thorndyke dừng lời rồi lấy từ trong hộp ra một vật nhỏ màu trắng và đưa cho điều tra viên.
“Vậy ông đã tổng hợp được gì từ những thực tế này?” Điều tra viên thắc mắc.
“Tôi đã biết rằng vào khoảng hai giờ kém mười lăm phút buổi sáng hôm xảy ra vụ án, một người đàn ông (người hôm trước đã đến nhà để lấy lọn tóc và tra dầu cho ổ khóa) đã vào nhà bằng một chiếc chìa khóa cửa ngoài. Có thể xác định được thời gian như vậy là bởi sáng hôm đó trời đã mưa trong khoảng từ một rưỡi đến hai giờ mười lăm phút. Đây là cơn mưa duy nhất trong suốt hai tuần vừa qua. Như vậy, vụ giết người được thực hiện trong khoảng hai giờ sáng. Người đàn ông đã quẹt một que diêm trong sảnh và một que khác ở cầu thang. Lên đến phòng ngủ của nạn nhân, hắn ta thấy cửa khóa nên đã dùng một sợi dây uốn cong để mở cửa từ bên ngoài. Sau đó, hắn ta bước vào, thắp nến lên rồi đặt một chiếc hộp và kê chiếc đệm ngồi lên. Hắn đứng lên đó để sát hại nạn nhân, rửa sạch tay và dao rồi nhấc ngọn nến ra khỏi chân nến. Hắn đi xuống cầu thang rồi thổi tắt ngọn nến, trả nó trở lại khay ban đầu.
“Đầu mối tiếp theo chính là cát trên gối nạn nhân mà vừa nãy đề cập. Tôi đã lấy một ít và kiểm tra chúng dưới kính hiển vi. Hóa ra, đó là cát dưới đáy biển sâu phía Đông Địa Trung Hải. Thành phần của nó chứa đầy những vỏ sò được gọi là Foraminifera hay chính là trùng lỗ. Bởi một trong số chúng chỉ được tìm thấy ở Levant nên tôi có thể xác định được nguồn gốc.”
“Nhưng điều này chẳng phải quá ngạc nhiên hay sao?” Điều tra viên nói. “Làm thế nào mà cát ở biển sâu lại xuất hiện trên gối của nạn nhân được chứ?”
“Câu trả lời thực sự khá đơn giản,” Thorndyke đáp. “Có một số lượng lớn loại cát này chứa trong bọt biển Thổ Nhĩ Kỳ. Mấy nhà kho chứa bọt biển thường được chất đầy tới độ nếu mở cửa kho sẽ tràn đến mắt cá chân. Những người đàn ông khui thùng bọt biển thường bị phủ khắp mình bởi lớp bụi đó, chúng sẽ bám lên quần áo và chui đầy vào các túi của họ. Nếu một người với quần áo và bên trong túi đầy cát như vậy là hung thủ, thì khi nhoài người qua đầu giường trong tư thế chúi một phần cơ thể xuống, hắn ta chắc chắn sẽ làm dốc ra một lượng cát nhất định từ túi và trên các kẽ quần áo.
“Ngay khi kiểm tra và xác định được bản chất của loại cát này, tôi đã gửi tin cho ông Goldstein để yêu cầu cung cấp bản danh sách những người quen biết với nạn nhân, kèm theo địa chỉ và nghề nghiệp của họ. Lúc nhận được danh sách từ ông Goldstein thì tôi có chú ý đến cái tên của một người đàn ông đang làm công việc đóng gói tại một nhà kho buôn bán bọt biển ở Minorories. Tôi cũng xin xác nhận thêm rằng vụ mùa mới của bọt biển Thổ Nhĩ Kỳ vừa mới bắt đầu vài ngày trước khi án mạng xảy ra.
“Câu hỏi đặt ra lúc này là liệu người đóng gói tại kho bọt biển này có đúng là người để lại dấu vân tay trên chân nến hay không? Để giải quyết được vấn đề này, tôi đã chuẩn bị hai bản in dán và cố gắng chờ đợi trước cửa nhà người đàn ông nhằm lúc anh ta đi làm về. Tôi đã thuyết phục người này xem xét và so sánh chúng. Anh ta đã cầm lấy hai bản in từ tay tôi, giữ mỗi bức bằng ngón trỏ và ngón cái từng bên. Khi anh ta trả lại hai bản in, tôi đã mang chúng về nhà và cẩn thận phủi bụi cả hai mặt bằng một loại bột dùng trong phẫu thuật. Bột dính vào những chỗ mà ngón trỏ và ngón cái của anh ta đã ấn vào bản in, từ đó hiện lên dấu vân tay rất rõ ràng. Dấu vân tay của bàn tay phải giống hệt với dấu vết trên ngọn nến, mọi người sẽ thấy điều đó nếu so sánh chúng với khuôn đúc.” Thorndyke lấy ra từ trong hộp bản in chụp chữ Yiddish, trên lề đen của nó giờ đây nổi bật rõ ràng dấu vân tay ngón tay cái màu trắng hơi vàng.
Trong lúc Thorndyke đưa tấm thẻ cho điều tra viên thì xảy ra một sự xáo trộn ở phía dưới. Nhân lúc anh bạn cộng sự đưa ra phần sau của bằng chứng, tôi đã quan sát thấy người đàn ông tên Petrofsky đứng dậy khỏi chỗ ngồi và rón rén đi về phía cửa. Anh ta nhẹ nhàng xoay tay cầm và kéo cánh cửa ra, ban đầu thì nhẹ nhàng, sau đó thì mạnh hơn. Nhưng cánh cửa đã bị khóa. Khi nhận ra điều này, Petrofsky nắm lấy tay cầm bằng cả hai tay và giật nó ra một cách tức giận. Anh ta lắc qua lại tay cầm với cơn cuồng nộ của một kẻ điên. Chân tay anh ta run rẩy và đôi mắt mở to trừng trừng điên loạn nhìn vào những người chứng kiến lúc này đang vô cùng kinh ngạc. Khuôn mặt xấu xí của anh ta đã trắng nhợt như xác chết, mồ hôi nhễ nhại kèm với vẻ kinh hoàng gớm ghiếc tạo nên một bức tranh thực sự gây chấn động.
Đột nhiên, anh ta buông chiếc tay nắm cửa ra. Cùng với một tiếng gầm lên khủng khiếp, anh ta thọc tay xuống dưới áo khoác và lao vào Thorndyke. Tuy nhiên, vị thanh tra cấp cao đã chuẩn bị sẵn sàng cho chuyện này. Sau một cuộc ẩu đả cùng với tràng la hét ầm ĩ, Petrofsky đã nằm vật ra đất, đấm đá và cắn xé như một kẻ điên. Trong khi đó, Miller đã khống chế được tay phải và con dao đáng sợ mà anh ta đang cầm.
Thanh tra cấp cao Miller được dịp vùng lên khống chế.
“Tôi sẽ lấy con dao đó của anh và giao nộp cho điều tra viên.” Thorndyke nói. Lúc này, Petrofsky đã bị trói và còng tay. thanh tra Miller còn chỉnh lại cổ áo cho anh ta. “Xin vui lòng kiểm tra nó, thưa ông. Và hãy cho tôi biết có phải trên lưỡi dao có một vết sứt hình tam giác, dài khoảng một phần tám inch hay không?”
Điều tra viên quan sát con dao và tỏ ra vô cùng ngạc nhiên. “Đúng là có một vết như vậy thật. Ông đã từng nhìn thấy con dao này trước đây sao?”
“Không. Tôi chưa từng thấy nó bao giờ,” Thorndyke trả lời. “Tốt hơn là tôi nên tiếp tục lời chứng của mình. Không cần phải nói thì mọi người cũng biết rằng dấu vân tay trên những tấm thẻ và trên ngọn nến là của Paul Petrofsky. Bấy giờ tôi sẽ công bố bằng chứng do người đã khuất cung cấp.
“Theo yêu cầu của điều tra viên, tôi đã đến nhà xác và tiến hành khám nghiệm tử thi. Vết thương đã được bác sĩ Davidson mô tả đầy đủ và chính xác, nhưng tôi quan sát thấy một điều mà ông ấy đã bỏ qua. Vết thương cắt sâu đến tận xương cột sống và chính xác là chém ngang từ bên trái của đốt sống thứ tư. Tại đây tôi phát hiện ra một mảnh thép nhỏ và đã cẩn thận lấy nó ra.”
Anh lôi chiếc hộp đồ nghề ra từ trong túi và lấy ra một túi nhỏ đưa cho điều tra viên.
“Mảnh thép đó nằm trong chiếc túi này và có thể nó khớp hoàn toàn với vết sứt trên lưỡi dao.” Thorndyke nói.
Giữa bầu không khí im lặng như tờ, điều tra viên liền mở chiếc túi nhỏ và đổ miếng thép ra một mảnh giấy. Sau đó, ông đặt con dao lên tờ giấy và nhẹ nhàng đẩy mảnh giấy chứa miếng thép lại chỗ sút của con dao. Thế rồi điều tra viên ngước lên nhìn Thorndyke.
“Nó khớp hoàn toàn!” Điều tra viên tuyên bố.
Có một tiếng uỵch nặng nề ở đầu kia của căn phòng và tất cả chúng tôi đều quay lại nhìn. Petrofsky đã ngã xuống sàn và bất tỉnh.
“Một vụ án có nhiều thứ để học hỏi, Jervis nhỉ?” Thorndyke nhận xét khi chúng tôi cùng đi bộ về nhà. “Một vụ nhắc lại bài học quan trọng mà các nhà chức trách vẫn từ chối tiếp thu.”
“Đó là gì vậy?” Tôi thắc mắc.
“Là thế này. Khi phát hiện ra một vụ giết người thì hiện trường án mạng sẽ ngay lập tức trở thành tòa lâu đài bị phong bế của Người đẹp ngủ trong rừng. Không một hạt bụi nào được di chuyển, không một ai được phép đến gần cho đến khi giám định viên khoa học tới chứng kiến hiện trường nguyên bản và chưa bị xáo trộn. Không có sự giẫm đạp kích động của cảnh sát, không có sự lục lọi của thám tử, không có sự sục sạo tranh giành của đám chó săn. Thử nghĩ mà xem, điều gì sẽ xảy ra nếu chúng ta đến muộn hơn vài tiếng đồng hồ? Xác chết đã được đem vào nhà xác, lọn tóc đã nằm gọn trong túi viên thám tử, giường đã bị lục tung lên và cát vương vãi ra khắp nơi. Ngọn nến cũng có thể đã bị lấy đi và các bậc thang bị bao phủ bằng cả loạt dấu chân mới. Manh mối còn sót lại cũng sẽ tan thành mây khói hết.”
“Và, biển sâu sẽ chỉ có thể gửi đi một thông điệp vô ích mà thôi.” Tôi chốt lại.