
Chú thích:
Đ: Đông T: Tây N: Nam B: Bắc;
(1):Thanh 1 (2):Thanh 2 (3): Thanh 3 (4):Thanh 4
2. Tráng chí chưa thành quyết không thôi
Cuối cùng chúng tôi cũng từ mật đạo "Trường chinh" đi ra, thoát khỏi nhà giam và phòng tạm giam đặc biệt đó. Nhà giam quả nhiên là một kho bị chiến được xây lại của huyện. Sau đó chúng tôi mới biết, những năm tháng đó tù chính trị nhiều như trâu ngựa, nhà tù đông nghịt, trong huyện khắp nơi học hỏi kinh nghiệm mở rộng nhà giam, xây lại kho lương thành nhà giam chuyên dụng cho tù chính trị, đồng thời còn sáng tạo xây dựng nên phòng tạm giam đặc biệt đó. Hôm đó chúng tôi vẫn chưa ăn cơm, bọn họ vẫn không cho chúng tôi uống một ngụm nước (chủ nghĩa nhân đạo không thu hoạch được một hạt gạo nào trong kho lương thực). Chúng tôi được sự phát hiện của mình cổ vũ, được kế hoạch trốn chạy khuấy động, ngọn sóng trong tim chúng tôi dâng trào, máu nóng sục sôi, cuộn trào lên, chúng tôi xông đến với sự dũng mãnh tuyệt vời, chúng tôi từ trận đồ bát quái xông ra. Lúc binh lính từ trên pháo đài đi xuống ăn cơm tối, chúng tôi ngồi xổm ở đó, không nói gì, không động đậy gì chờ binh lính ăn cơm tối xong, lên điện cho phòng tạm giam, làm cho bốn phía trên dưới chúng tôi đèn đuốc sáng trưng, phát sáng chói rực, tiếng hô "Muốn khai thì gọi chúng tôi!" lại vọng từ lầu gác xuống.
Từ toàn bộ cuộc chiến tranh chống Nhật nhìn lại, bởi vì chiến lược trong cuộc chiến địch - ta là tiến công và tác chiến vòng ngoài, chúng tôi thuộc về vị trí chiến lược phòng ngự và tác chiến vòng trong, không nghi ngờ gì nữa đã nằm trong chiến lược bao vây của kẻ địch. Chúng tôi nhất thiết phải xồng ra khỏi vòng bao vây ngoài ra không còn con đường sống nào khác cả.
Chúng tôi bắt đầu hành động.
Đầu tiên tôi dẫm lên thanh đỡ của ghế cao để xuống viền gần nhất của bức tranh Mao Chủ tịch, nhấc bốn bức tượng đầu tiên lên để chứng minh phía dưới chính là những chữ đơn giản và bộ thủ trong bốn chữ "Hồng, điểu, kim, canh", sau đó đón Hồng Mai xuống ghế, vội vội vàng vàng ôm hôn một lát, rồi dùng tay dịch toàn bộ những bức tượng Mao Chủ tịch to nhỏ khác nhau, hướng ngồi khác nhau kia ra, sau đó lại xếp lại những bức tượng theo đúng mật mã "Trường chinh" lúc trước, sau đó chúng tôi rón rén đi đến cửa. Chúng tôi không ngờ là chúng tôi có thể trốn khỏi nhà giam thuận lợi như vậy, không ngờ là ngoài tấm cửa khung sắt của nhà tạm giam đặc biệt này lại không hề khóa, chỉ có then cửa cài vào móc cửa bên ngoài, bất ngờ nữa là cái gọi là cửa sắt của nhà tù vẫn chỉ là cánh cửa cũ của kho lương bị chiến, ngay cả mấy chữ "kho 208" vẫn còn dán ở phía trên. Chúng tôi không có thời gian nhìn kĩ bốn phía, không có thời gian nghe kĩ cánh cửa khép hờ của căn phòng đối diện là tiếng nói chuyện huyên náo, hay là tiếng cãi nhau của vài binh sĩ đang đánh bài. Sau khi Hồng Mai dùng ngón tay dài mảnh của em gẩy móc cửa ra, chúng tôi ra khỏi cửa, lính gác ngoài cửa lớn đang bảo một tên lính khác đem cho cốc nước, tên lính kia nói anh tự đến rót đi, trung đội trưởng, đại đội trưởng đều đang chơi trong nhà đấy, sau đó tên lính đó liền vác súng ra ngoài cửa sắt ở căn phòng phía tây đi đi lại lại (lúc kẻ địch lơ là, mới là lúc quân ta tiến công, mới là lúc thắng lợi). Lúc này tôi liền kéo Hồng Mai đang run lên từ phòng giam đặc biệt đi ra, rồi lại cài móc cửa lại như cũ, khom lưng theo chân tường đến dưới cổng lớn, rồi chui ra từ khoảng không của viền dưới cửa sắt cách mặt đất chừng nửa thước.
Đang là ngày mười lăm âm lịch, ánh trăng đẹp vô cùng. Vừa chui qua cửa sắt của nhà giam đứng dậy trên đất, chúng tôi liền cảm thấy ánh trăng mênh mông như nước rắc xuống mát mẻ trên mặt, trên người và trong cổ khi chúng tôi ngửa đầu lên. Sự ướt át trong mắt dịu dàng đến mức giống như mắt bệnh được nhỏ thuốc nước vào. Chúng tôi bắt đầu nhẹ chân bước nhanh về phía đông ngược với cánh cửa nhà giam, lúc cảm thấy lính gác hoàn toàn không còn nghe thấy tiếng bước chân của chúng tôi nữa, chúng tôi liền vung chân chạy về một bên dốc núi, mồ hôi đầm đìa, hơi thở hổn hển. Lúc ở trên lưng dốc núi, Hồng Mai cuối cùng không chạy được nữa, chúng tôi liền dừng lại, nhìn rõ chúng tôi đang ở trong một rừng hòe ở trên sườn núi. Mùi hoa hòe tháng năm ngọt nồng từ bốn phía ùa đến, những lá cây rụng bị sâu cắn, trong ánh trăng quay vòng vờn theo gió, rơi xuống dưới đất nhẹ nhàng kêu lên. Từ trong kẽ lá nhìn ra, mặt trăng tròn mới đi lên không trung trắng bạc như tuyết, tròn vành vạnh như cái đĩa, có thể nhìn rõ dãy núi, rừng cây dòng sông đang chảy, bóng người và thỏ, dê đang lắc lư trong ánh trăng. Trong rừng hòe yên tĩnh kì lạ, chúng tôi còn nghe thấy tiếng bước chân đi lại dưới chân núi của thỏ, dê và người trong ánh trăng) nghe thấy tiếng dế và những tiếng trùng khác trong rừng cây kêu lên ra rả như đánh trống trận, làm cho cả thế giới như bị nhét đầy tiếng huyên náo và vui tươi của chúng. Chúng tôi biết là chúng tôi đã an toàn rồi. Chúng tôi quay lại nhìn nhà giam dưới núi một cái, không có thời gian để nhìn kĩ được toàn bộ vị trí và phương hướng của nhà giam, chỉ nhìn thấy hướng mà chúng tôi đến, đó chính là một con đê men theo dòng sông khô cạn, một dòng ánh trăng mờ ảo như một con đường, ngay một bóng người cũng không có, thế là hơi thở của chúng tôi lập tức bình tĩnh lại. Chúng tôi lập tức nhìn nhau chúc mừng, không hẹn mà cùng nhào vào đối phương, ôm đối phương vào lòng, điên cuồng hôn hít và sờ mó, điên cuồng ôm ấp và cắn xé. Hai môi tôi lúc hôn em hận sau khi cắn nát hai môi mềm đẹp của em ra không thể nuốt vào trong bụng. Lúc tôi vuốt ve tóc em, cổ em và ngực em, em cắn vào vai tôi qua làn áo sơ mi, làm cho vai tôi vừa nóng lại vừa phồng lên, đau đớn khó chịu, sung sướng vô bờ, tôi cũng vô cùng muốn em thật sự cắn một miếng vai tôi rồi nuốt vào trong bụng. Chúng tôi không nói câu gì, trừ thở ra, cứ thế hôn hít và vuốt ve nhau, cứ thế lăn lộn và cắn xé nhau trên đất. Dường như chúng tôi chạy thoát khỏi nhà giam chỉ để đến cánh rừng này, đến đây để vuốt ve và không nói một lời làm việc ấy Cỏ xanh trên đất phủ ngập đến cổ chân chúng tôi, có cành cây khô và những mảnh vụn của lá hòe khô từ năm ngoái. Chúng vốn dĩ đã nằm yên rồi, đã bị cái xanh tốt của đầu hạ dìm chết rồi, nhưng vì chúng tôi, chúng lại bắt đầu tỏa ra mùi vị, bật lên tiếng nói tiếng cười của chúng, lại có thêm sức trẻ và sinh mệnh mới, có niềm vui và ý nghĩ mới. Có một người nước ngoài vô cùng nổi tiếng mà tôi lại quên mất tên đã nói một câu nói vĩ đại, anh minh và chính xác: Cái quý giá nhất của đời người là cuộc sống. Đời người phải sống sao cho xứng đáng để khi đã nhắm mắt xuôi tay nhớ lại, ta không phải ân hận vì những năm tháng đã sống hoài sống phí. Bây giờ, chúng tôi đang thực hiện câu nói ấy. Tôi đè Hồng Mai dưới người mình (có lẽ là Hồng Mai lật tôi lên trên người em). Tất cả những con trùng đang kêu đều ngừng lại nhìn chằm chằm hai chúng tôi, nghe hai chúng tôi, ngửi hai chúng tôi. Bọn chúng thậm chí còn muốn đến sờ lên chúng tôi. Tôi để hai tay tôi từ dưới làn áo em duỗi đến ngực em như em vẫn muốn, đôi vú của em đối với tôi đã cực kì quen thuộc nhưng vì chúng tôi vừa từ trong ngục đi ra nên cảm thấy xa lạ, thần bí bội phần, đôi vú ấy trở nên đầm đìa mồ hôi, nảy lên nóng bỏng trong tay tôi, như thể nôn nóng nảy ra từ hai tay tôi, lại như thể nôn nóng muốn luồn qua hai tay tôi để chui vào nơi nào đó trên thân thể tôi. Ánh trăng sáng trên đầu trong sạch và sảng khoái. Lúc đó, chúng tôi quên mất phía sau chúng tôi là nhà ngục, quên mất chúng tôi chỉ cách nhà giam không quá hai dặm, quên mất chúng tôi không chỉ là nhà Cách mạng, nhà chính trị mà tôi còn là nhà quân sự, nhà chiêm bốc thiên tài, quên mất tương lai và vận mệnh, quên mất tình hình Cách mạng phức tạp, nhiệm vụ và mục đích Cách mạng đang vô cùng cấp bách, quên mất bọn địa chủ, phú nông, phản Cách mạng, phần tử xấu và cánh hữu trong nước, quên mất bọn đế quốc xét lại phản động ngoài nước, quên mất hình sông và dáng núi, tình thế và kẻ địch bên mình. Chúng tôi bất chấp tất cả, chúng tôi quên đi tất cả, sau khoảnh khắc chúng tôi từ trong ngục chạy ra, chính dưới ánh trăng, bên nhà giam, trong rừng cây trên sườn núi đã làm cái việc tình ái vĩ đại, vinh quang và chính xác đó. Ba ngày trước chúng tôi vẫn còn ở Trình Cương nhân lúc Đào Nhi đi học trần truồng ở trong nhà ngang nhà em, nhưng chúng tôi cảm thấy đã ba tháng trời rồi chúng tôi không làm việc đó, chúng tôi đã ba năm rồi không gặp mặt, bất ngờ gặp lại nhất thiết phải làm việc đó đầu tiên. Lần này chúng tôi không cần âm nhạc Cách mạng, không cần phải cởi đến mức không còn mảnh vải nào để thưởng thức và trêu chọc lẫn nhau, càng không cần em phải giống như dì ghẻ đánh đập và cấu véo chỗ nào đó trên thân thể tôi như đánh đập cấu véo đứa con chồng, ngay đến cúc áo chúng tôi còn chưa cởi, ngay đến một câu khơi gợi chúng tôi còn chưa nói, chúng tôi không thể nào chịu được cùng quấn vào nhau làm việc đó.
Chúng tôi dùng thời gian ngắn nhất để làm xong việc đó, ngắn như nửa cây đũa, ngắn như một giọt nước trên mái hiên lăn xuống vậy. Làm xong việc đó, chúng tôi vẫn không nói một câu, một từ nào, vội vã thu dọn lại, theo bản năng tôi liền kéo tay em, men theo một con đường nhỏ chạy nhanh lên trên núi. Lúc chúng tôi làm cái việc kia, đã không có sự sung sướng hồn tan phách tản như ngày trước lại vừa không có sự nuối tiếc và trách móc vì ngắn ngủi vội vàng. Chúng tôi cảm thấy chúng tôi vì việc đó nên mới vượt ngục, không làm việc đó thì không thể làm cho tâm hồn của hai người bình tĩnh lại, không thể bình tĩnh để suy nghĩ về Cách mạng và vận mệnh, tình thế và cuộc đời. Chúng tôi làm xong việc đó liền hoàn toàn bình tĩnh lại, giống như khi khát được uống đủ nước, khi mệt được dừng chân, khi trời hạn được đón mưa trút xuống, khi đói khát được ăn no, khi nóng nực được vào trong bóng cây mát mẻ. Lúc chúng tôi trèo lên núi, tuy rằng bước chân vội vã, nhưng không có một chút hoang mang và sợ hãi, dường như nếu lúc đó có người ở phía sau đuổi đến, bắt chúng tôi lại chúng tôi cũng không tiếc nuối gì lớn cả.
Chúng tôi đã làm xong việc đó rồi, chúng tôi trèo lên trên đỉnh núi.
Sự cô tịch và ánh trăng lóng lánh bao phủ trên đỉnh núi. Chúng tôi từ trong rừng cây đi ra, đứng ở một chỗ cao mà mặt đất giống như một bậc thềm đá, thở một hơi dài khoan khoái, quay người nhìn xuống dưới núi, mới tĩnh tâm nhìn rõ nhà giam với những cửa sổ sáng đèn của vài dãy phòng tản mạn rời rạc. Trong ánh trăng, mái ngói màu đỏ hiện ra như màu nâu đất, giống như vài đống đất hoàng thổ nằm dưới chân núi. Ở sau cùng của những dãy phòng, bóng vuông như ẩn như hiện của mạng dây thép gai trên đỉnh tường sân hiện ra mờ mờ ảo ảo. Ở trên góc cuối cùng của khung vuông đó, có một dãy bón cái lò gạch nổi trên đất bằng, dường như có hai lò gạch đang dập lửa lò, có thể lờ mờ nhìn thấy rất nhiều người, khỏi phải nói đó đều là phạm nhân, đang gánh nước lên lò xuống lò. Từ đỉnh lò có cột khói trắng đậm hiện ra dưới ánh trăng trở thành màu xanh thẫm, chưa lên cao bao nhiêu đã bị hòa tan vào ánh trăng rồi. Lại nhìn về phía trước lò gạch một dặm hai dặm, có một thôn trang đen đen đang chìm trong giấc ngủ tĩnh mịch vô cùng, không một tiếng động, như thể những mái nhà và rừng cây trong thôn trang đó bị người ta tùy ý làm rơi xuống. Chúng tôi có chút vui mừng vì chúng tôi không bị ném vào trong đống phạm nhân đi làm gạch, làm ngói và đốt lò kia. Chúng tôi dẫu sao vẫn là những nhà Cách mạng, dẫu sao vẫn là những người Cách mạng đã cung cấp những kinh nghiệm thành công cho cả Cách mạng nông thôn Trung Quốc, dẫu sao chúng tôi cũng đã biến Trình Cương từ một cái thôn phong kiến như cái đầm nước chết trở thành một căn cứ địa Cách mạng mới rực rỡ sắc hồng. Kinh nghiệm Cách mạng của chúng tôi đã từng được phổ biến mở rộng ra toàn huyện và địa khu hơn mười lần, lãnh đạo tỉnh từng ở trên sáng kiến kinh nghiệm của chúng tôi tự tay viết lời bình. Trấn Trình Cương xét đến cùng là viên ngọc sáng và ngọn hải đăng của Cách mạng nông thôn toàn phương Bắc Trung Quốc, chúng tôi xét đến cùng là một đôi nhà Cách mạng nông thôn thiên tài, hiếm thấy. Bọn họ đương nhiên không nên để chúng tôi giống như những phạm nhân bình thường, bắt hai chúng tôi đi đốt lò, có lẽ một ngày nào đó, bọn họ sẽ vui mừng vì đã không áp dụng chủ nghĩa phát xít với chúng tôi trong thời gian hai chứng tôi bị giam giữ, sẽ hối hận vì đã không bưng cơm bưng nước cho chúng tôi trong thời gian chúng tôi còn trong ngục. Chúng tôi suýt nữa thì là huyện trưởng và chủ nhiệm Hội phụ nữ của huyện này, tôi làm huyện trưởng rồi, nhà ngục này tôi muốn ai vào, người đó bắt buộc phải vào. Lúc đó mặt cứng, mặt mềm của giai cấp vô sản chuyên chính đều phải phục tùng tôi, nhưng trước mắt không biết biết ma đưa lối quỷ đưa đường thế nào mà chúng tôi lại bị rơi vào đây. Chúng tôi bị bắt rồi thì tôi vĩnh viễn không làm huyện trưởng được sao? Hồng Mai không làm được hội trưởng Hội phụ nữ huyện sao? Hiện tại khó lường, tương lai khó liệu, trong dòng sông dài của lịch sử Cách mạng Trung Quốc, chẳng phải có bao nhiêu tiền bối đã ngồi tù sao? Họ vĩ đại, không phải chính vì họ đã từng ngồi tù sao? Lí Đại Chiêu, Cù Thu Bạch, còn có Diệp Đỉnh tướng quân được vẽ chân dung trong sách giáo khoa (Cửa để người ra thường đóng chặt/ Hang chó chui ra thường mở toang [61] ) chính bởi họ đã từng ngồi tù, lịch sử cuộc đời họ mới hiện ra càng huy hoàng xán lạn, chính bởi bọn từ trong Cách mạng đi vào nhà ngục, lại từ nhà ngục đi vào ngọn sóng Cách mạng, sau này họ mới trở thành những người lãnh đạo quân đội và quốc gia, trở thành tấm gương cho thế hệ Cách mạng đời sau chúng ta, trở thành tấm gương sáng đời đời bất hủ, soi sáng ngàn thu. Nếu như bọn họ không có chặng đường từ cơn hồng thủy Cách mạng bước vào ngục tù, cuộc đời họ có được như hôm nay không?
Chúng tôi không hề vì phải ngồi xổm một ngày một đêm trong nhà tạm giam mà bi thương, không vì bị giám sát, đói khát trong cái nhà tạm giam đặc thù đầy tài trí Cách mạng đó mà phẫn nộ, có lẽ giai đoạn lịch sử ngắn ngủi này sẽ có ý nghĩa mới trong quá trình phấn đấu sau này của chúng tôi, bù đắp bồi thường cho những tổn thất trong cuộc đời chúng tôi. Đáng tiếc là, nếu như nó đến muộn một ngày thì tốt, đến muộn một ngày thì bí thư Quan đã tuyên bố chúng tôi nhậm chức trên huyện rồi, chúng tôi đã thật sự là huyện trưởng và chủ tịch Hội phụ nữ huyện rồi. Chúng tôi là chủ tịch và chủ nhiệm Hội phụ nữ rồi, bọn họ còn dám không cho chúng tôi ăn cơm uống nước trong nhà giam không? Còn dám xếp bát quái "trường chinh" trong lối đi ra cửa không? Ánh trăng trong không trung từ phía bắc lại rong chơi về khống trung phía nam, sự cô tịch trên dãy núi càng trở nên bao trùm trời đất, đồng ruộng phía xa mênh mông đen thẫm một vùng, không biết đó là tiểu mạch bắt đầu ngậm sữa hay là cỏ hoang thẫm xanh che ngợp đến đầu gối. Chúng tôi mờ ảo nhìn thấy cỏ hoặc là hoa màu trên đất đang đu đưa trong gió, giống như khi tôi còn ở bộ đội từng nhìn thấy mặt biển nhấp nhô. Tôi vẫn nắm lấy tay Hồng Mai. Sắc mặt em mông lung như sương như mây vậy ngón tay lại vừa băng vừa mát. Xét đến cùng, em là một nữ đồng chí, chưa phải là nhà Cách mạng đã trưởng thành, vẫn còn mắc lên mắc xuống chứng bệnh yếu mềm Cách mạng. Tôi nghĩ tôi với tư cách là một người đàn ông, một người lãnh đạo và chiến hữu của em, một nhà Cách mạng trong lòng ôm chí lớn, một người tình ưu tú mà em khó gặp và một người chỉ đường cho Cách mạng của em, một nhà chính trị với những chiến lược lớn, tôi nhất định phải đỡ em dậy, làm em cảm thấy ngồi tù không có gì là to tát cả, chạy trốn khỏi tù cũng không có gì đáng sợ, đây chẳng qua chỉ là Cách mạng và người Cách mạng chơi một trò chơi nhỏ, xảy ra một chút hiểu lầm nhỏ, giống như trong lịch sử Cách mạng, Đảng ta phạm phải sai lầm cơ hội chủ nghĩa phái tả phái hữu, không có sai lầm của chủ nghĩa cơ hội phái tả, phái hữu đó, Đảng ta có trưởng thành, có vĩ đại như hôm nay không? Cũng như vậy, trong cuộc đời Cách mạng của chúng ta phạm một chút sai lầm, đi một chút đường cong, nếu Cách mạng không đùa một chút với chúng ta thì khi xảy ra một chút sai lầm, chúng ta có thể trưởng thành vững chãi được không? Chúng ta có tích lũy được rất rất nhiều kinh nghiệm không? Sau một đời cúc cung tận tụy vì Cách mạng rồi, chúng ta có thể làm cho hơn vạn người trong lễ truy điệu của chúng ta khóc lóc nức nở không? Sẽ làm họ thừa nhận chúng ta quả thực là những nhà chính trị và nhà lãnh đạo công tác Cách mạng nông thôn trác việt không? Tôi nhất thiết phải an ủi được Hạ Hồng Mai của tôi, giáo dục, cổ vũ Hạ Hồng Mai của tôi, em là linh hồn của tôi máu thịt của tôi, là thể xác của tôi linh hồn của tôi, là tinh túy của tôi tinh thần của tôi. Tôi kéo tay Hồng Mai chặt hơn, vặn vặn ngón tay của Hồng Mai trong hai lòng bàn tay mình. Tôi nói: "Em đang nghĩ gì thế?"
Em nói: "Không nghĩ gì cả."
Tôi nói: "Em đã nhìn thấy biển chưa?"
Em nói: "Chưa."
Tôi nói: "Một ngày nào đó anh nhất định sẽ dẫn em đến Thanh Đảo nhìn biển, dẫn em đến Bắc Kinh nhìn Thiên An Môn."
Em nhìn mặt tôi:
"Còn có ngày đó sao?"
Tôi nhìn sâu vào mắt em:
"Sao lại không có ngày đó?"
Em nói: "Ái Quân, anh nói chúng ta bỏ trốn xét đến cùng để làm gì? Bị bắt lại không phải là lại tội chồng thêm tội sao?"
Tôi nói: "Em oán trách vì thời gian chúng ta làm việc đó vừa rồi quá ngắn sao?"
Em rút tay ra khỏi tay tôi,
"Chúng ta trốn đi chỉ vì việc đó sao?"
Tôi nói: "Đương nhiên là không phải. Chúng ta còn phải về nhà đập vỡ đi chùa Trình và cổng đá, thực hiện ý nguyện Cách mạng thời niên thiếu của anh; em phải về nhà xem, chứng thực xem miệng hầm có phải bị người ta phát hiện không. Phải, thì chúng ta sẽ nói thật ra lỗi lầm của mình, tranh thủ Cách mạng khoan dung với chúng ta, cho chúng ta thêm một cơ hội để lập công mới. Nếu như miệng hầm vẫn còn đóng chắc chắn như lúc đầu, thì bí thư Quan nhốt chúng ta khống phải vì việc đó, chúng ta có thể dùng cách khác và thái độ khác đối phó ông ta."
Hồng Mai có chút nôn nóng, em ngẩng đầu lên nhìn trời, xem xem vị trí mà chúng tôi đang đứng là chỗ nào nói: "Đã như vậy thì chúng ta nhanh nhanh đi, còn đứng đây làm gì, trước khi trời sáng không quay lại được thì làm thế nào đây!"
Tôi nói: "Em để anh làm rõ phương hướng đã, em có biết chúng ta đang ở phía đông hay phía tây huyện thành không? Chúng ta về Trình Cương nên đi hướng nam hay hướng bắc?" Nói những điều này sự hoang mang và nôn nóng trên khuôn mặt em dần biến mất, tôi liền nhìn qua ngọn cây nhìn thấy trong không gian đêm khoảng mười dặm, hai mươi dặm có một vùng ánh sáng lớn mơ hồ rải trên mặt đất, hơn nữa ở đó còn có cung lửa hàn lóe sáng lên mấy lần. Tôi nói: "Trong huyện có xưởng cơ giới và xưởng sửa chữa ô tô không?" Hồng Mai nói: "Có. Còn có một xưởng chế tạo máy nông nghiệp, nhưng mà đều dừng sản xuất rồi." Tôi nói: "Có người làm Cách mạng thì sẽ có người sản xuất, công xưởng càng bại liệt thì càng có người đánh ngầm, điều này là quy luật Cách mạng và quy luật đấu tranh - khỏi phải nói, đó chắc chắn là huyện thành rồi." Sau đó, tôi đến bên cạnh một thân cây sờ sờ lên mặt sáng và mặt tối của nó, phán đoán nhà giam ở chính phía bắc huyện thành, mà chúng tôi lại đang ở chếch phía nam của nhà giam, trấn Trình Cương ở chếch về phía bắc của vùng giữa nhà giam và huyện thành. Nhà giam, huyện thành, Trình Cương tổ thành một hình tam giác ba góc nhọn, mà cực Trình Cương và nhà giam rất có khả năng nằm ở hai đầu đường thẳng ngắn nhất nối hai góc tam giác. Điều này có nghĩa là, tôi vẫn khắc sâu trong đầu môn hình học từ thời trung học, vẫn không hề quên những kiến thức cơ bản về điểm và phương vị trong môn chung hồi còn phục vụ trong quân ngũ. Bây giờ chúng tôi ở trên đỉnh núi phía nhà ngục, cách nhà không hề xa, trái lại khoảng cách càng gần. Chúng tôi hoàn toàn có thể trong đêm nay về đến Trình Cương, trước khi trời sáng thần không biết quỷ không hay men theo đường cũ trở về đứng ở trên ghế trong phòng tạm giam đặc biệt.
Đạp mọi chông gai vượt khỏi phòng giam địch/ Nhìn phương xa, nhớ Trình Cương/ Càng dậy lên tinh thần chiến đấu/ Đảng gửi gắm ở chúng tôi hi vọng vô bờ/ Người thân và đồng chí bày tỏ lời gan ruột/ Ngàn vạn dặn dò cho chúng tôi sức mạnh vô biên / Những trái tim nóng trái tim hồng trong lồng ngực/ Phải dũng cảm phải cẩn thận khắc ghi trong tim/ Dựa vào dũng cảm còn phải dựa vào mưu trí cao cường/ Lời của Đảng từng câu đều bảo đảm cho thắng lợi/ Tư tưởng Mao Trạch Đông vĩnh viễn tỏa hào quang/ Có dũng có mưu thiếu quyết đoán/ Nhìn thấy đường lớn cũng như mù hai mắt/ Mặc cho tầng tầng che chắn trên Uy Hổ Sơn/ Mặc cho con đường dưới núi dài vạn dặm/ Mặc cho súng như rừng, đạn như mưa/ Lũy thành lô cốt địa đạo khắp nơi phòng bị / Chỉ cần tôi dựa vào trí tuệ tính toán thích hợp/ Nhất định có thể đi trên băng như đi trên đường lớn/ Hai ngày thăm dò tình hình địch mịt mù mưa khói/ Chạy trốn tìm hướng điều tra đã dễ như trở bàn tay/ Biết người biết ta không lo sợ/ Bách chiến bách thắng đã chắc rồi/ Ngoài điều này ra quan trọng hơn là thực hiện giấc mộng thủa đồng niên/ Nổ chùa Trình phá cổng đá quét sạch luôn tàn dư phong kiến/ Đã đi theo Cách mạng thì triệt để/ Lòng trung sắt son hiến cho Đảng/ Khi bỏ trốn vượt hiểm nguy suy nghĩ kĩ/ Có thể một mũi tên trúng hai đích không thể do dự bàng hoàng/ Cả rừng đao kiếm cũng phải băng lên/ Hận không thể lệnh gấp tuyết bay hóa mưa xuân/ lệnh gấp đêm đen thành ngày sáng/ Đón lấy sắc xuân đổi nhân gian/ Đón lấy bình minh soi hoàn vũ/ Đón lấy động phòng hoa chúc chiếu nhân sinh/ Đón lấy tiền đổ mới phổ bài ca mới/ Nguyện rắc máu nóng viết xuân thu/ Tráng chí chưa thành quyết không thôi/ Chờ ngày đó cùng uống rượu mừng/ Nhìn hồng kì phấp phới khắp năm châu.
Tôi nói: "Hồng Mai, mau đi về hướng đông bắc."
Em nói: "Sẽ không đi sai chứ?"
Tôi nói: "Không sai được."
Tôi càng kéo tay trái em, dẫm lên con đường nhỏ đầy ánh trăng vội vã đi về hướng đông bắc. Bỏ lại nhà giam, rừng cây và huyện thành ngày một xa phía sau lưng.
Ngay một chút đường vòng chúng tôi cũng không phải đi qua, trèo qua sườn núi, từ trên con đường nhỏ đầy ánh trăng đi xuyên luôn đến đường xe cộ đi vào trấn Trình Cương, trên đường còn chặn chiếc xe công nông chở than lại, ngồi nhờ hơn mười dặm, nói vợ chồng chúng tôi cùng là công nhân của một công xưởng trong huyện, vì mẹ già bị ốm, vội vội vàng vàng chạy suốt đêm về nhà, ngay cơm tối còn chưa ăn. Người lái xe bốn mươi mấy tuổi bị lời nói của chúng tôi làm cảm động, không chỉ cho chúng tôi đi nhờ xe, mà còn để cho chúng tôi ăn lương khô của anh ta. Anh ta nói: "Những năm này con cái trong đêm chạy mười mấy dặm về nhà gặp mẹ không lạ, nhưng con dâu có thể không ăn một miếng cơm, đi mười mấy dặm về nhà thăm mẹ chồng thì hiếm gặp - vì điều này các bạn hãy ăn lương khô của tôi di."
Tình giai cấp, tình huynh đệ làm động lòng người; Tình huynh muội, tình giai cấp làm người thương cảm. Chúng tôi nói rất nhiều lời cảm ơn vô tư đến người lái xe, hai người ăn hết ba cái bánh bao hấp làm túi lương khô của anh ta hết sạch (một ngày nào đó tôi được trở lại làm huyện trưởng, tôi nhất định sẽ để cho người lái xe này làm xưởng trưởng hoặc phó xưởng trưởng xưởng cơ giới huyện. Tôi nhớ tên của anh ta, anh ta tên là Liễu Hồng Lập, là người của công xã Khố Nội đội trưởng là Liễu Lâm, học hết tiểu học, thành phần bần nông). Bởi vì chuyến ngồi nhờ mười mấy dặm này, chúng tôi về Trình Cương kịp thời giờ. Lúc đó đêm đã sâu, tôi và Hồng Mai đứng ở trước cổng đá Nhị Trình, nhìn thôn xóm đang say ngủ, nhìn con phố Trình trước và cây cối, nhìn chỗ ủ phân và hố phân ở cửa các nhà, nhìn cái cối xay bỏ không ở giữa phố, còn có trâu và cỏ để trâu ăn trong chuồng của đội sản xuất số hai, ánh trăng trong vắt như nước, sự phân phối của chủ nghĩa bình quân hiện lên trên mỗi gian nhà, mỗi tấc đất, mỗi sự vật. Mùi thơm tươi mới của tiểu mạch đang chín ở đồng ruộng phía sau bay đến, làm trong lòng chúng tôi dấy lên nhiều nỗi thương cảm bởi Cách mạng khó khăn. Chúng tôi biết chúng tôi không thể dừng lại lâu trong thôn, chúng tôi bắt buộc phải trở về nhà giam trước khi trời sáng, đứng lên cái ghế cao trong nhà giam đặc biệt đó. Chúng tôi hi vọng sẽ trở về sớm, có lẽ rất nhiều binh lính sẽ đang ngủ gật, hoặc là cái lạnh trước khi trời sáng sẽ làm cho bọn họ ở trong phòng để chúng tôi có thể lại từ dưới cánh cửa sắt bò lên. Cách mạng vẫn chưa thành công, các đồng chí vẫn cần cố gắng. Thời gian đối với chúng tôi cũng như một bát mì đứng trước cơn đói vô bờ vô hạn, nếu không tranh lên phía trước tóm lấy nó thì hậu quả sẽ không thể nào tưởng tượng nổi. Tôi và Hồng Mai đứng vài giây ở dưới cổng đá đó, chỉ có vài giây, tôi đái lên một đống đất ở cổng đá, em đến một một cái cột đứng khác để đi tiểu, khi quay lại hai chúng tôi chia tay
Em nói: "Em sẽ đến đâu tìm anh?"
Tôi nói: "Em về nhà nhất định phải cẩn thận, không được để Đào Nhi và cô chồng kinh động (lúc em rời nhà đã giao Đào Nhi cho cô chồng trông), lúc đi ra thì đến chỗ tường sân chùa Trình, không thấy anh thì vỗ tay ba cái."
Em nói: "Anh không về nhà xem u và con anh sao?"
"Không kịp nữa rồi", tôi nói, "em cũng nhiều nhất là trèo lên cửa sổ nhìn Đào Nhi một cái, nhất thiết không được làm nó tỉnh dậy. Nhất thiết phải nhớ đem diêm cho anh."
Em liền đi về phía lầu ngói cao cao ở phố Trình trước rồi biến mất.
3. Pháo nổ bộ tư lệnh
Tôi từ trước cổng đá rẽ vào phố Trình giữa, đi thẳng đến phòng đại đội. Bước chân của người Cách mạng làm kinh động vài tiếng chó sủa, sau đó tiếng chó sủa mới yên tĩnh trở lại, trên phố không một bóng người. Có tiếng ánh trăng chuyển di trên phố. Tôi đến cửa đại đội, mở cổng chính của phòng đại đội ra, lại kéo cửa nhà kho ở bên cạnh nhà vệ sinh đại đội. Trong nhà kho có hai trăm kg thuốc nổ và kíp nổ mà huyện phát để xây dựng công trình thủy lợi và khai mương đào hầm. Tôi từ trong kho cầm ra nửa cân thuốc nổ được bọc trong ba mươi cuộn giấy dầu, cầm ba cái ngòi nổ, hai dây thừng dẫn nổ và một cái kéo mới, rồi đóng cửa kho lại, đóng cánh cửa gỗ du của phòng đại đội lại, sau đó lại sải bước đi đến chùa Trình. (Sự nghiệp Cách mạng không có lối thoát nào khác: chỉ có dùng bạo lực mở rộng căn cứ địa, giải phóng toàn quốc, thậm chí cuối cùng giải phóng toàn nhân loại.) Mùi thơm ẩm ướt thuần phác của thuốc nổ từ trong lòng tôi xông lên mũi, làm cho tôi giây phút đó đầy hăm hở, ý chí chiến đấu sục sôi, mồ hôi nóng trong lòng tay đầm đìa, tim đậm thình thịch, để làm cho nội tâm đang bị kích động của mình bình tĩnh lại, tôi rất muốn hát đoạn này bài hát "Dương Tử Vinh đánh hổ trên núi": "Xuyên biển rừng vượt đồng cỏ tuyết khí thế ngút trời cao", hoặc là hát đoạn trong "Bình nguyên tác chiến" mà Triệu Dũng Cương hát: "Mấy ngày trời quần nhau với bọn Nhật trên Bình Xuyên/ Về đến thôn Bảo Lũy cá về biển lớn/ Nhật, Uông, Tưởng câu kết hung hãn ngạo cuồng/ Bà con thân yêu khổ cực tổn thương/ Nghe người thương yên giấc trong nhà/ Mong được gặp, mong được gặp nhưng lại sợ làm kinh động mẹ/ Ấm lạnh an nguy của nhân dân luôn phải khắc ghi trong tim/ Không cảm thấy mưa gió qua sao sáng ngợp trời." Tôi cảm thấy bài hát này hoàn toàn vì tôi mà sáng tác, ngôn từ chỉ cần sửa một chút, thì chính là đã vì lòng tôi mà viết ra: "Mấy ngày rồi quần nhau với lũ giặc trong núi/ Về đến Trình Cương cá về biển lớn/ Kẻ địch nham hiểm vẫn đang cuồng ngạo/ Khiến chúng tôi bị hãm hại tim bị tổn thương/ Nghe người thân trong thôn đang yên giấc/ Mong được gặp, mong được gặp nhưng lại sợ làm kinh động mẹ và con/ Sự an nguy ấm lạnh của nhân dân luôn ghi khắc trong tim/ Nhưng chỉ nhìn thấy trên đầu ngợp trời trăng sáng."
Lúc tôi đi đến chùa Trình, muốn hát không dám hát, liền nghĩ làm thế nào để sửa đoạn ca từ đó. Lúc bắt đầu nghĩ ca từ, tim lại cứ đập đi đâu, sau đó lúc nghĩ đến câu "Về đến Trình Cương cá về biển lớn", trong phút chốc tim liền dừng lại trên những từ vừa sửa, sự hoảng loạn trong lòng chầm chậm bình tĩnh lại. Không ngờ rằng những từ này lại có thể làm cho tim của người đang ôm thuốc nổ dần dần bình tĩnh lại, tôi có chút cảm kích các chiến sĩ văn nghệ viết ra lời kịch đó. Tôi muốn kính họ một lễ, tôi nghĩ họ có thể nhìn thấy tôi bình tĩnh chôn thuốc nổ dưới chùa Trình thì tốt biết bao, có thể tận mắt nhìn thấy tôi làm nổ tung chùa Trình thì tốt biết bao, vậy thì thật động lòng người, thật là cao trào của một màn kịch hoành tráng.
Chôn thuốc nổ, đặt kíp mìn, đặt thừng dẫn lửa đối với một công trình binh ưu tú như tôi thật là một việc đơn giản. Tôi chỉ dùng không đến một tiếng đồng hồ, đã hoàn thành tất cả ở chùa Trình. Tôi nhét đầy thuốc nổ và kíp nổ trong tường sau và kẽ đá trong móng tường ở bốn góc của điện lớn chùa Trình, bốn góc tường mỗi góc nhét hai cuộn thuốc một cân, sau đó lại nhét mấy cuộn thuốc nổ nửa cân lên vài chỗ trên tường sân, sau cùng tôi đem những thuốc nổ, ngòi nổ còn lại bọc vào trong áo, vác ở trên vai, từ một cây hòe ở bên tường trèo lên tường của Trung Tiết viện, lại từ một cây bách trèo xuống, đi vào Xuân Phong đình, Lập Tuyết các của Tiền Tiết đại viện, đặt thuốc nổ dưới cột trụ. Sau vài phút, đi vào Trung Tiết viện, đại điện Đạo Học Đường và dưới cột trụ trước tường và góc sau tường của hai chái nhà "hoà phong cam vũ', "liệt nhật thu sương" đặt thuốc nổ, lúc đi đến cột trụ của đại điện Đạo Học Đường đặt thuốc nổ, có một con chuột từ dưới tường chạy ra, dẫm lên kíp thuốc mà tôi đặt dưới chân, khiến tôi sợ đến tim đập như sấm, mồ hôi ẩm ầm túa ra trên mặt. Sau một hồi kinh hãi, tôi liền đặt cuộn thuốc nhét vào trong hang chuột.
Trong chùa Trình yên tĩnh vô cùng, ánh trăng như sữa bay bày lay động trong miếu chùa, bóng cây lắc lư đầy thần bí. Tôi ở chùa Trình chôn hai mươi tám cuộn thuốc nổ trong hai mươi hai chỗ, nhét vài cuộn thuốc nổ và ngòi nổ cuối cùng trong tay vào túi quần, lúc thẳng lưng lên nhớ đến Hồng Mai nên đến rồi, thời gian em về nhà còn dài hơn cả một bánh dây thừng dẫn lửa, nếu không đến thì sẽ làm lỡ thời gian, làm hỏng bí mật quân sự.
Nhẹ nhàng mở cửa của Trụng Tiết viện và Tiền Tiết viện; tôi vừa đi ra thì nhìn thấy Hồng Mai đứng ở dưới bóng của cổng lầu chùa Trình.
"Em đến sao lại không vỗ tay?", Tôi nói.
"Em nghe thấy anh ở trong rồi", Em nói, "em ở đây canh gác cho anh."
"Tình hình thế nào?"
Em cúi đầu xuống, mặt trở nên trắng xanh trong ánh trăng:
"Sự tình giống như anh nói."
Nói câu này xong dừng một chút, em lại ngẩng đầu lên nhìn tôi, giống như nhìn người mà em có thể khóc lóc kể lể nỗi lòng, có thể sám hối cầu cứu tha thứ, nhẹ nhàng nói, bi thiết thê lương nói, Ái Quân, sự tình quả thật giống hệt như anh nói, Đào Nhi vẫn còn ở nhà cô chồng em, em về nhà liền đến nhà ngang đầu tiên, khóa cửa phòng tuy rằng vẫn khóa, nhưng cửa sổ đã bị mở ra, lúc đó em kinh hoàng, vội vàng mở cửa vào nhà, bật đèn sáng, nhìn thấy thảm trên giường dường như đã bị người khác động đến, gối dường như cũng bị dịch chuyển, cửa tủ đứng mở rộng, quần áo đều còn, nhưng chiếc chăn đè cửa hầm dưới đáy tủ lại dường như đặt không đúng với trước. Lúc trước em nhớ là em luôn luôn để bông hoa mẫu đơn ở trên chăn đối diện thẳng với cửa hầm, nhưng lần này bông hoa đó lại hướng về phía đông rồi. Nói đến đây, nước mắt của Hồng Mai lại rơi xuống, hối hận như là miếng vải xám dệt bằng đất mắc trên mặt em, nước mắt hối hận tràn đầy hoa la hoa la chảy xuống đất. Ánh trăng đã chếch về phía nam thôn, sao đã bắt đầu thưa thớt. Trên con phố nào trong thôn có tiếng thở và tiếng nhai lại của trâu già men theo mặt đất vọng lại, giống như là tiếng cành cỏ khô cuộn lên trong gió thổi. Lúc đó, tôi nhìn khuôn mặt nước mắt như mưa trút của Hồng Mai, hận không thể tát cho khuôn mặt đó một cái, hận không thể cắn một cái vào khuôn mặt đó. Đây không chỉ là bởi vì em đã để lộ việc của chúng tôi, càng quan trọng hơn, chính là hai ba ngày, thậm chí có thể chỉ một ngày nữa thôi, tôi đã được tuyên bố làm huyện trưởng rồi, em đã được tuyên bố là cấp huyện phó hoặc chủ nhiệm Hội phụ nữ rồi. Nhưng mà hiện giờ, tất cả đều là kiếm củi ba năm thiêu một giờ, phó mặc cho dòng nước cuốn trôi, giống như là con đê số mệnh trăm ngàn vạn khổ, máu chảy mồ hôi rơi mới đắp thành đã vì tổ kiến hang chuột mà sụp đổ tan tành, khiến cho từng hòn đất hòn đá trên đê đều bị cuốn trôi không tăm tích. Việc này còn khiến cho tôi không trở thành huyện trưởng được, khiến em không trở thành chủ nhiệm Hội phụ nữ huyện được, mà nói đến cùng, chúng tôi Cách mạng bao nhiêu năm, tôi và em đến hôm nay vẫn đều là nông dân! Hộ tịch vẫn còn ở trong thôn Trình Cương ở dãy núi Bả Lâu. Lúc nghĩ đến việc tôi vẫn còn là nông dân, hai tay tôi có chút run run rũ xuống hai đùi, có một luồng hơi vừa đắng vừa nồng lại thêm chút mùi đường đỏ từ hai tay tôi bốc lên. Tôi biết thuốc súng dính trên tay tôi đã phát huy rồi. Lúc ngửi thấy mùi đó, tôi mới biết hai tay tôi lúc đó đã nắm thành một nắm, mùi mồ hôi và thuốc súng đều từ kẽ tay bốc lên. Tôi lau lau mùi mồ hôi và thuốc súng trên quần, sờ vào thuốc nổ và kíp ngòi tôi đã đặt riêng biệt ở túi quần, ngẩng đầu nhìn nhìn trời. Sao mai đã treo ở đầu thôn, còn có ngôi sao đỏ mà sau nửa đêm mỗi ngày mùa hạ đều có thể từ dãy núi Bả Lâu nhìn thấy, vừa xa vừa sáng, phát ra ánh sáng hiền hòa tuyệt mĩ, giống như một đốm lửa được bọc trong một miếng lụa xanh. Chỉ cần sao đỏ hiện ra, là ngầm báo hiệu rằng nửa đêm trước đã sớm qua rồi, nửa đêm sau đã đến rất lâu rồi. Hồng Mai dùng tay lau nước mắt trên mặt em, còn vén tóc ở trước trán và trước tai ra sau. Em nói: "Ái Quân, em nếu như sớm lấp cửa hầm lại như anh thì đã tốt."
Tôi nói: "Em có dịch chăn ra nhìn miếng gỗ ở đáy tủ bị người ta động đến không?"
Em nói: "Nhìn rồi. Nhưng em không nhớ được hình dáng để miếng gỗ lúc đầu."
Tôi nói: "Em có nhìn thấy trên bệ cửa sổ, trên bàn có dấu chân, dấu tay của Trình Thiên Dân không?"
Em sững người một chút: "Bây giờ em đi về xem nhé?"
Tôi nói: "Thôi. Kẻ trộm thì vô cùng giảo hoạt, có dấu chân ông ta cũng đã lau đi rồi."
Em nói: "Vậy anh nói chúng ta đã phí công làm Cách mạng thế này sao?"
Câu hỏi của em giống như một cây gậy vắt ngang đổ xuống trong não tôi, kẹp trong cổ họng tôi. Tôi nhìn chằm chằm vào mặt em, trên mặt em dường như đã không có sự bi thương vừa rồi, chỉ còn lại sự hối hận và ảo não mà trước khi Cách mạng thành công vì không cẩn thận mà dẫn đến thất bại. Sự hối hận này làm khuôn mặt em trở thành màu trắng sữa, giống như ánh trăng sau nửa đêm, hoàn toàn hòa vào trong ánh trăng, nếu như không phải chiếc áo em đang mặc màu hồng và mái tóc đen bóng, có lẽ mặt em đã trở thành một ánh trăng mềm mại xinh đẹp rồi. Không cần nói, Cách mạng không cho phép người Cách mạng nhìn trước lại lo sau, không cho phép người tham gia nó gặp thất bại mà nản chí. Bài học kinh nghiệm là của cải bảo bối của tương lai Cách mạng, đấu tranh và chiến tranh, là liều thuốc tốt nhất để bù đắp cho bài học kinh nghiệm. Tôi nói: "Chúng ta đương nhiên không thể vì điều này mà đi đưa tang tiền đồ, đi chôn cất Cách mạng. Vì sao anh phải cho nổ tung chùa Trình và cổng đá? Điều này không chỉ vì lí tưởng và ước nguyện thủa nhỏ của anh, điều này còn vì bước cờ Cách mạng triệt để của chúng ta, là phần lễ cuối cùng mà chúng ta hiến cho Cách mạng. Trước mắt, bố chồng em đã đưa chúng ta vào nhà ngục, chặt đứt đi tiền đồ là huyện trưởng và chủ nhiệm Hội phụ nữ của anh và em, em nói xem chúng ta chỉ làm nổ tung chùa Trình là được sao? Như thế hời cho Trình Thiên Dân quá?"
Em nói: "Anh nói chúng ta sẽ làm thế nào?"
Tôi nói: "Người nếu không phạm đến ta, ta không phạm đến người, người nếu phạm đến ta, ta phải phạm đến người, lấy cách của người đó để trị chính người đó. Ông ta không phải đã tố cáo chúng ta thông dâm sao? Không phải tố cáo chúng ta phải chết băm chết dầm sao? Được, chúng ta sẽ thông dâm, để làm cho nó đi chết băm chết dầm. Chúng ta bây giờ chôn hai cuộn thuốc nổ xuống dưới cột cổng đá Nhị Trình, trở về sẽ xông vào Hậu Tiết viện chùa Trình, làm cái việc đó trước mặt Trình Thiên Dân, làm cho ông ta tận mắt nhìn thấy chúng ta thông gian, làm ông ta tận mắt nhìn thấy Cao Ái Quân anh yêu Hạ Hồng Mai em như thế nào, em Hạ Hồng Mai yêu Cao Ái Quân anh như thế nào, để ông ta hiểu rõ ra rằng chúng ta không chỉ là một đôi Cách mạng, mà còn là một đôi người tình Cách mạng và một đôi đến chết vẫn yêu nhau, để cho ông ta nhìn thấy tình yêu chân chính và sức mạnh của người Cách mạng, làm cho ông ta cảm thấy chúng ta Cách mạng hoàn toàn và triệt để thế nào. Làm cho ông ta hiểu ra, chúng ta là một đôi nhà Cách mạng điên cuồng. Làm cho ông ta hối hận vì đã đi tố cáo em và anh, làm cho ông ta chết trong hối hận!"
Lúc tôi nói như thế, nửa đoạn trước là những kế hoạch đã chuẩn bị sẵn từ trong miệng nói ra với Hạ Hồng Mai, nửa đoạn sau là vì phẫn nộ mà rít ra từ kẽ răng. Tôi nghĩ có lẽ Hồng Mai không tán thành kế hoạch này của tôi, em xét đến cùng không phải là một người Cách mạng triệt để như tôi, xét đến cùng lúc làm việc đó trước mặt kẻ địch lại chính là bố chồng của em, phụ thân, bố đẻ, bố ruột của Trình Khánh Đông. Nhưng mà, em nghe lời tôi nói, không lập tức phản đối ngay hoặc nói "không". Em nhìn mặt tôi, giống như từ khuôn mặt tôi làm rõ lời nói của tôi là một kế hoạch đã kĩ lưỡng hay là một sự báo thù và phục thù đầy cảm tính. Em mượn ánh trăng ánh mắt vừa lạnh lẽo vừa bốc lửa nghi ngờ nhìn vào mặt tôi mấy giây, rồi như đinh đóng cột nói một câu mà chỉ có những người phụ nữ tài năng kiệt xuất nhất trên thế giới này mới nói:
"Ái Quân, đến mức này rồi, vì Cách mạng, vì đấu tranh, chúng ta chỉ có thể như vậy."
Một kế hoạch kinh thiên địa, khóc quỷ thần ra đời và được thực hiện (tất cả kế hoạch của chúng tôi đều phải hành động một cách chắc chắn chu đáo nhanh chóng, nói mà không làm, cũng bằng không nói). Sự tình chính là như vậy, điều mà người Cách mạng muốn làm chính là hành động của người khổng lồ, chứ không phải là những lời nói suông của những kẻ lùn. Vì Cách mạng, vì đấu tranh, chúng tôi quyết định cầm lấy vũ khí cuối cùng của chúng tôi, đầu tiên trước mặt Trình Thiên Dân làm một cuộc yêu kinh thiên động địa, sau đó không hề lưu luyến chút tình cho nổ tung cổng đá và chùa Trình.
Chúng tôi rất nhanh chôn cuộn thuốc nổ cuối cùng xuống cổng đá.
Chúng tôi thắng lợi khải hoàn trở về từ cổng đá, em cầm nửa bánh thừng dẫn lửa còn lại trong tay đi phía sau tôi, lúc đi vào cửa lớn chùa Trình, sự nghiêm túc và trang trọng của đấu tranh Cách mạng như mây như sương bao phủ lấy hai chúng tôi. Chúng tôi cảm thấy căng thẳng và thần bí trước khi thời khắc vĩ đại nhất đến, cảm thấy sự thắng lợi và vui sướng chuyển hoán từ thất bại làm cho máu huyết chúng tôi xung lên thành dòng sông cuồn cuộn sục sôi, như tiếng trống trận đập tưng bừng. Trong sân Tiền Tiết bóng hàng cây bách vừa đen vừa to, giống như một tử thi khổng lồ vắt ngang trong sân. Hồng Mai đóng cửa lớn lại phía sau lưng tôi. Trong sân tràn lên một mùi ẩm mốc trắng sữa. Ngửi thấy mùi vị này trong lòng tôi có chút hoang mang, nhưng lúc nghĩ đến tôi là một người Cách mạng, việc mà tôi đang tiến hành là một bộ phận của Cách mạng vĩ đại, có lẽ sẽ bị người đời sau hiểu sai, nhưng càng có khả năng được người đời sau ghi vào trong sử sách, những hoang mang đó liền chuyển hóa thành sự kích động và sức mạnh, làm tôi bình tĩnh, hơn nữa còn làm tôi cảm thấy hưng phấn. Chúng tôi đi vào sân Trung Tiết. Giàn nho ở sân Trung Tiết giống như một căn lều che trên đỉnh đầu, chỉ có chỗ bốn bên sân giàn nho không phủ tới, ánh trăng như vôi bột mới rắc được vào. Tôi nhìn thấy gói thuốc nổ tôi vùi dưới đại điện Đạo Học Đường, có một đoạn lộ ra ngoài, kíp nổ cũng dường như nhét hơi nông, thừng dẫn lửa giống như một sợi dây thừng nửa cuộn nửa duỗi men theo tường. Tôi đã tính kĩ lưỡng độ dài của những dây dẫn lửa đó, tôi dự tính các bước trong kế hoạch đốt chùa là Trung Tiết viện, Tiền Tiết viện, sau đó từ trong chùa chạy ra, đến vòng ngoải của sảnh lớn Hậu tiết viện châm lửa, sau cùng mới là dưới hai cột của cổng đá chùa Trình, chờ sau khi châm lửa xong, tất cả dây dẫn thuốc nổ của hai mươi sáu chỗ đặt thuốc nổ đều đã cháy còn lại một thước năm tấc dài, thời gian đốt cháy một thước năm tấc dài này, đủ để tôi và Hồng Mai ung dung trèo lên đầu cầu ở dãy núi Bả Lâu nhìn biển lửa hoa vạn dặm của phong cảnh Bắc quốc [62] . Chỉ có ngòi nổ kia bị nhét nông một chút, tôi muốn đi đến nhét sâu thêm, nhưng sau khi Hồng Mai đóng cửa Trung Tiết viện, lúc đi đến Đạo Học Đường, có người mở ra cánh cửa kẽo ca kẽo kẹt của Hậu Tiết đại viện.
"Ai đấy?"
Trình Thiên Dân mặc chiếc quần cộc trắng và chiếc áo lụa trắng vẫn chưa cài cúc (trước giải phóng những nhà địa chủ giàu có dường như đều mặc kiểu áo lụa này) đứng ở dưới khung cửa, trong phút chốc đã nhận ra Hồng Mai, ông ta vội vàng cài cúc áo, rồi lại kinh hoàng hỏi luôn mấy tiếng:
"Là Hồng Mai phải không? Sao con lại ở đây? Kia là ai?"
Hồng Mai đứng ngây ra dưới gốc nho, không dám nói. Khỏi cần nói, lúc này đã đến lúc động tay rồi, không động tay chờ Trình Thiên Dân hô hoán lên, gọi người trong thôn đến thì lại một lần nữa mất toi thành công sắp đến. Tôi nhìn thấy Hồng Mai quay đầu nhìn tôi. Tôi nhìn Trình Thiên Dân, đi qua vị trấn trưởng cổ hủ lụ khụ và kẻ địch của trấn Trình Cương.
"Cô ấy không phải là con dâu Hạ Hồng Mai của ông." Tôi lạnh lùng đáp, "cô ấy là một nhà Cách mạng ưu tú, một nhà Cách mạng công tác nông thôn, một nhà chính trị và người lãnh đạo, cô ấy là người bạn thân thiết nhất và là phu nhân của Cao Ái Quân tôi, là chiến hữu và đồng chí cùng sống chết của tới." Tôi nói như vậy liền đến trước mặt Trình Thiên Dân, mặt ông ta đang bị bóng trăng dưới khung cửa Tam Tiết viện che lại, làm cho tôi không nhìn thấy trên mặt ông ta có thay đổi gì, chỉ nhìn thấy bàn tay đang cài cúc của ông ta cứng lại ở cái cúc trước ngực. Chính ở giữa lúc ông ta vừa ngây ra sững lại, tôi sải bước đến, dùng khuỷu tay kẹp lấy ông ta, tay trái lập tức bịt lấy miệng ông ta, làm cho tiếng kêu kinh hoàng của ông ta chưa kịp chui ra khỏi miệng thì đã bị bịt chặt lại trong cổ họng.
Tôi không ngờ rằng ông ta lại nhẹ như vậy, giống như là một bó lúa khô vậy. Không ngờ ngón võ mà tôi học trong bộ đội chống bọn đế quốc xét lại lúc này lại sống lại trong tay, trên đùi và dưới chân tôi. Lúc tôi kẹp Trình Thiên Dân giống như kẹp một cuộn bông kéo đến trước cửa của giảng đường đông Hậu Tiết viện, Hồng Mai còn đứng ngây ra dưới giàn nho trong sân Trung Tiết, nửa cuộn dây dẫn lửa chuẩn bị làm dây thừng không biết từ lúc nào rơi xuống chân em.
Tôi nói: "Hồng Mai, nhanh đưa dây thừng cho anh."
Em vẫn ngây ra không động đậy.
Tôi hét: "Đấu tranh đã đến lúc sống chết rồi, còn ngây ra đấy làm gì?"
Hồng Mai bị tôi gọi tỉnh giật lại từ trong tê dại. Em đột nhiên khom lưng lại, nhặt nửa cuộn dây dẫn lửa lên, chạy đến nhét cho tôi, lại lập tức chạy về phía cánh tây của Khởi Hiền Đường đại điện, nháy mắt đã từ trong gian phòng của giảng đường tây nhấc ra một chiếc ghế, cầm một chiếc áo gối chạy đến. Em để chiếc ghế đặt giữa sân Hậu Tiết đại viện, đưa áo gối nhét cho tôi, nói dùng cái này rồi lại dẫm lên dấu chân vừa rồi chạy đến căn phòng phía bắc của giảng đường phía tây. Tôi không biết em sắp làm gì. Lúc tôi nhận lấy áo gối ngửi thấy mùi tóc cáu lại thành những cặn dầu bẩn thỉu, liền biết căn phòng phía bắc của giảng đường tây là nơi ở của Trình Thiên Dân. Tôi nhìn Hồng Mai chạy vào trong gian phòng đó. Ánh đèn trong phòng từ cửa sổ hắt vào góc sân, như hắt xuống dưới sân một tấm phản mỏng màu trắng vuông vức. Tôi thu ánh mắt lại, nhét áo gối đến năm ba lần vào trong miệng Trình Thiên Dân, ấn Trình Thiên Dân ngồi xuống chiếc ghế, rồi nhanh chóng trói tay ông ta vào sau ghế. Tôi trói Trình Thiên Dân thuận lợi và dễ dàng như mẹ cho con uống sữa, ông ta hơn sáu chục tuổi rồi, dường như trừ bộ não vẫn hoạt động ra, thân thể đều không có nước, không có hơi sức. Ở cái tuổi này cái thân già này nên được chăm sóc tốt, nhưng ông ta lại cứ đi tuyên chiến với tôi và Hồng Mai, muốn đẩy người Cách mạng vào trong ngục. Không có cách nào khác, thực sự là không còn một cách nào khác cả, đây là do lập trường giai cấp và hình thái ý thức của ông ta quyết định. Ý thức là sản phẩm của thế giới vật chất phát triển đến một giai đoạn nhất định, là kết quả tất nhiên của đấu tranh xã hội phát triển đến thời điểm này là cơ quan vật chất đặc thù mà tổ chức cấp cao - đại não - của ông ta tổ thành, là bộ tư lệnh của giai cấp tư sản đã hình thành trong thời gian ông ta hoạt động xã hội lâu dài, không thể giáo dục, không thể cải tạo. Hiện tại cái bộ tư lệnh này đang trắng trơn tuyên chiến với chúng tôi, và cũng giành được thu hoạch và thắng lợi mà ông ta không ngờ tới, nhưng chúng tôi sẽ không ngồi chờ chết, chúng tôi phải làm cho ông ta nhận được thất bại và sự ăn năn mà ông ta không hề ngờ tới. Tôi trói tay ông ta; trói người ông ta, để hai chân của ông ta trói vào hai chân trước của chiếc ghế. Tên đệ tử đắc ý của Trình Hạo, Trình Di, nhà triết học phản động đời Tống Chu Di này đã tiêu thụ và phát triển cái học vấn thối nát của Trình Hạo, Trình Di, viết bao nhiêu là sách, nói bao nhiêu là lời mà hôm nay người ta đều quên sạch cả rồi, đều không nhớ đến nữa rồi, nhưng có một câu chúng tôi vẫn không quên, đó là "lấy cách của người đó để trị chính người đó". Chúng tôi học như và cũng làm như vậy. Chúng tôi chỉ có thể như vậy. Như vậy mà thôi, há có gì khác! Chuyên chính Cách mạng và chuyên chính phản Cách mạng, tính chất đối lập nhau, mà cái trước là học từ cái sau. Việc học tập này rất quan trọng. Nhân dân Cách mạng nếu như không học các hạng mục phương pháp thống trị giai cấp đối với bọn phản Cách mạng này, họ sẽ không thể duy trì chính quyền, chính quyền của họ sẽ bị bọn phản động lật đổ, bọn phản động đầu tiên sẽ ngóc đầu dậy ở nông thôn Trung Quốc, Cách mạng của nhân dân sẽ gặp họa - Điều này đã được nhiều bài học kinh nghiệm chứng minh rồi. Hôm nay, chúng tôi lại ở Hậu Tiết đại viện của chùa Trình bắt đầu thực hành loại lí luận và tri thức này. Chúng tôi không biết vì sao khi chúng tôi trói Trình Thiên Dân ông ta lại không hề động đậy, không hề kháng cự, không hề vùng vẫy, cổ họng phía sau áo gối không hề phát ra tiếng rên ư ư ô ô nào. Có lẽ ông ta đã sớm liệu đến ngày này, có lẽ cái tuổi ông ta nói với ông ta càng phản kháng thì càng không có kết quả tốt đẹp. Phản kháng - thất bại - lại phản kháng - lại thất bại. Ông ta biết không thoát khỏi được logic và quy luật này. Ông ta cả đời đều là người ở sau bức màn phản Cách mạng, âm mưu làm người lãnh đạo số một, nhưng khi thật sự mặt đối mặt sát sàn sạt với chúng tôi, ông ta liền bó tay vô sách, trong tay không có chút sức lực nào. Đây là căn bệnh chung của rất nhiều kẻ thuộc giai cấp địa chủ, giai cấp tư sản phong kiến, là điều kiện có lợi để chúng tôi đánh đổ bọn chúng, chuyên chính của bọn chúng. Bạn thấy đấy, Trình Thiên Dân ngồi trên ghế tựa, tay bị trói ngược sau ghế, đã không hề vùng vẫy, lại không hề phản kháng, nhìn tôi như thể tôi bị ông ta trói vậy xem tôi như một tay hề vậy, vẻ mặt gầy guộc vàng vọt tự trấn tĩnh mạnh trong ánh trăng, hai mắt không ấm không nóng, không giận không dữ, chỉ là như trừng to một chút lúc phê bình, lòng trắng nhiều một chút, nếp nhăn trên trán sâu một chụt so với ngày thường, cổ bị kéo dài ra so với ngày thường một chút. Còn có thay đổi gì? Ồ, chiếc áo lụa trắng của ông ta bị tôi vo thành một đống rồi, giống như là một đống giẻ lau, còn có một chiếc dép cũng rơi ở trên cửa của Tam Tiết viện, một chân trần lại rất giống như người Cách mạng bị bắt làm tù binh. Không ngờ rằng ông lại có kết cục hôm nay phải không? Không ngờ rằng Cách mạng cuối cùng sẽ chuyên chính trên đầu ông phải không? Không ngờ chúng tôi lại dùng chính cách của ông để đập lại ông phải không? Người không phạm ta, ta không phạm đến người; người nếu phạm ta, ta tất phải phạm người. Tôi bắt buộc phải phạm ông, đả đảo ông gấp bội. Đây là quy luật của đấu tranh, đây là phương pháp đấu tranh Cách mạng, đây là phương pháp của Cách mạng. Kẻ địch cầm súng chết rồi, nhưng những kẻ địch không cầm súng này vẫn còn tồn tại, một lúc nào đó bọn chúng sẽ còn tàn khốc hơn, vô tình hơn phát động tấn công chúng ta. Đối với những kẻ địch không cầm súng này, chúng ta chỉ cỏ thể lấy tàn khốc trị tàn khốc, lấy tàn nhẫn trị tàn nhẫn. Chúng ta không còn lựa chọn nào khác. Chúng ta không có phương pháp nào khác. Cựu trấn trưởng, Trình Thiên Dân, bác hai Trình, ông hãy ngồi ở đây đợi tôi và Hồng Mai làm một cuộc yêu trước mặt ông! Ông sẽ nhìn thấy tôi và con dâu ông ở trước mặt ông trần truồng không mảnh vải cuồng nhiệt mây mưa! Ông sẽ không ngừng hối hận ông không nên lên huyện tố cáo với bí thư Quan là chúng tôi thông dâm nhé!
Sao Hồng Mai vẫn chưa từ giảng đường tây đi ra?
Tôi đi về căn phòng phía bắc của giảng đường tây, Đi vào căn phòng không to lắm đó, nhìn thấy Hồng Mai đang xé tấm vải đệm xanh da trời trên giường của Trình Thiên Dân ra. Tôi nói em làm gì đấy? "Anh mau nhìn đi", em chỉ vào chiếc đệm đã xé một nửa nói, em vốn đến để còn chuyển giường, nhưng vừa bóc đệm ra thì đã cảm thấy có gì bất thường, vừa sờ bên trong đệm thì thấy như là sách, vừa xé ra, hóa ra là "Nhị Trình trước tác" và toàn thư của Chu Hy trên lầu tàng kinh đều bị ông ta khâu vào trong đệm này. Tôi ngửi thấy mùi nóng ẩm của bụi mốc, giống như là ai đó trải ra một đống rơm mạch ướt trong mùa đông. Nhìn theo mùi vị đó, thì thấy tấm đệm giường đã bị Hồng Mai kéo ra đang dựa vào cửa sổ, chiếc đệm ở trên giường bị xé ra, quả là được rải một tầng sách đóng chỉ buộc, để không bị mồ hôi ướt và hơi ẩm làm hỏng, mỗi cuốn sách đều được dùng bao ni lông bọc lại.
Tôi nhấc đệm lên giống như nhấc một cái bao đổ sách ra như đổ lương thực. Từng quyển từng quyển, từng bộ từng bộ vừa hẹp vừa dài, tất cả đều là những thư tịch của Trình Chu bìa bọc vải màu xanh cũ, viết chữ dọc, phồn thể, có đóng con dấu đá ào ào rơi xuống trên giường và trên nền đất. Di thư, Ngoại thư, Văn tập, Dịch truyền gì đó, nằm trong ánh đèn vàng giống như vẫn chưa ngủ dậy, có cái rơi ra từ trong bao nhựa mỏng, giấy cuộn lên, giống như mí mắt đang chớp mắt mông lung mông lung, có cái thì yên ổn ở trong túi, như vẫn còn nằm trong chăn vậy. Bọn chúng không biết chủ nhân của bọn chúng đã bị trói trong sân, không biết bọn chúng cũng chỉ sống thọ đến hôm nay thôi. Tôi đem những sách đó từ trong bao ni lông rũ ra, phát hiện ra ngoài những cái đã nói, còn có những sách của Trình Di như Kinh thuyết và Tùy ngôn , có Thượng Nhân Tông hoàng đế thư , Tam dạng khán tường văn , Nhan tử sở hảo hà học luận , Vi Gia quân thượng tể tướng thư . Những sách đó có cái là một quyển, có cái là bộ mấy quyển, mà mỗi quyển đều tề chỉnh, không có dấu tích đã bị người đọc qua. Tôi từ nhỏ nghe nói Trình Thiên Dân học thuộc rất rất nhiều trước tác của tồ tiên ông ta, nói trước giải phóng khi ở trên trấn làm hiệu trưởng, cả ngày đọc Nhị Trình toàn thư, nhưng những sách này một tờ cũng không xoăn mép thì ông ta đọc gì đây? Tôi nhìn dưới bốn góc nhà, không ngờ là nhà của Trình Thiên Dân cũng loạn xạ như là nhà của người dân bình thường, ngoài chiếc bàn và chiếc giường này ra, trên chiếc bàn dài sau lưng đặt một bình nước trúc, hai bát ăn cơm, vài đôi đũa, dưới bàn là nồi và chậu rau, bên cạnh là một cái hòm gỗ. Tôi mở cái hòm gỗ ra, trong hòm gỗ ngoài chăn và quần áo không có gì hết cả. Tôi kéo một cái ngăn kéo ra, trong ngăn kéo có bút lông, bút máy và một bình mực xanh, còn có một nghiên mực cũ. Tôi kéo một ngăn kéo khác ra, trong ngăn kéo đó bày chỉnh tề vài cuốn sách của Mao Chủ tịch, tất cả đều dùng giấy đỏ bọc bìa sách, trên mặt bìa dùng bút lông viết mấy chữ thể liễu Mao Trạch Đông tuyển tập và quyển thứ mấy. Ở trên cuốn Mao Trạch Đông tuyển tập và bên ngăn kéo còn bày cuốn sách bỏ túi bìa bọc ni lông Ngữ lục Mao Chủ tịch và Thơ từ Mao Chủ tịch và vài chiếc huy hiệu Mao Chủ tịch. Sự bày biện này, cảnh tượng này, giống hệt như bất kì một gia đình nào ở trấn Trình Cương, sự khác biệt chỉ là có người đặt sách của Mao Chủ tịch ở đầu giường, có người đặt ở bệ cửa sổ, có người đặt ở trên mặt bàn mà thôi.
Tôi đóng ngăn kéo lại.
Đóng lại rồi tôi lại đột nhiên kéo ra. Tôi đột nhiên cảm thấy mấy cuốn Mao Trạch Đông tuyển tập có chút dài dài, khác thường, tôi liền mở một cuốn trong đó ra, một hàng chữ phồn thể được viết dọc bằng bút lông lập tức xông vào mắt tôi:
Đạo làm vua là phải lấy chân thành nhân ái làm gốc.
Lại nhìn những thể chữ và văn khác, đều là những lời "chi hồ giả dã" [63] này. Tôi lập tức lật đến mặt sau của bìa sách/ nhìn thấy vài chữ Nhị Trình toàn thư ở bìa thứ hai. Tôi đưa cho Hồng Mai mấy cuốn Nhị Trình toàn thư đội lốt Mao Trạch Đông tuyển tập cho Hồng Mai, lại rũ cái gối ở đầu giường ra, tất cả đều không ngoài dự định của tôi, từ trong gối tôi rũ ra có hai tá giấy có những hàng chữ viết ngang bằng bút lông nhỏ, xếp lại cũng đủ một tập dày, những tờ giấy đó là giấy viết thư có dòng kẻ ngang, ở trên đầu giấy viết thư in mấy chữ Vì nhân dân phục vụ , ở dưới chính là tác phẩm gần mười năm của Trình Thiên Dân. Tiên sư ông ta, tôi đây còn chưa viết sách ông ta đã viết rồi! Tiên sư ông ta, không tiêu diệt ông ta thì tiêu diệt ai đây? Tôi lật tờ thứ hai của xấp giấy viết thư đầy những chữ mực đen lên, đột nhiên nhìn thấy mấy hàng chữ:
TRÌNH HỌC TÂN Ý
(I) Về tác dụng trị quốc của Trình học đời Tống.
(II) Về tác dụng trị quốc của triết học Trình Chu qua các triều đại sau triều Tống.
(III) Trình học ứng dụng trong xã hội mới có những tác dụng nào?
(IV) Trình học ở vùng núi Bả Lâu Dự Tây có ảnh hưởng nào?
(Liên hoa lạc) bản trúc hậu trường hát:
Trời của tôi, đất của tôi, trời của tôi à trời của tôi. Chim sắp vào đất, chuột sắp lên trời, cỏ sắp làm lương thực, cây sắp làm cầu vồng, kiến qua biển khoe anh hùng, nhà mẹ đẻ của gà mái vốn là tổ phượng hoàng, nấu cơm chạy loạn cũng phải lập quốc làm triều chính.
(Một người đàn ông mặt mũi xanh xám, thân thể gầy yếu bị vài người túm lên bắt quỳ trước đài.)
Giáp (kinh dị hỏi) : Mau nhìn xem, đây là cái gì?
Ất (ngạc nhiên): Trời ơi, sổ biến thiên!
(Trên khán đài trầm xuống, mọi người đều nhìn chằm chằm vào ông già đang run lên trên khán đài.)
Ất (sải một bước lên trước đài): giải phóng rồi, Trung Quốc mới thành lập rồi, kẻ địch cầm súng bị chúng ta đuổi đi rồi, nhưng mà, kẻ địch không cầm súng, kẻ địch ẩn tàng, (nhìn một chút lão già đang quỳ xuống) bọn chúng không ngày nào không mộng tưởng lật đổ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, không ngừng âm mưu đoạt lấy chính quyền của giai cáp vô sản. Cây muốn ngừng mà gió không thôi…
(Cầm sổ biến thiên, cảm khái) nếu như không phải cuốn sổ biến thiên này, chúng ta làm sao có thể nghĩ ra một nông dân thật thà chất phác đây, lại là tên đặc vụ mà Tưởng Giới Thạch lưu lại để phản công đại lục?
Giáp: Cũng tốt, như thế thì mắt ngươi càng có thể lau sáng, nhận rõ mặt mũi của kẻ thù giai cấp. (Hướng về phía mọi người), các đồng chí, bà con, bây giờ, sách biến thiên đã rơi vào tay chúng ta rồi, bà con nói chúng ta nên làm gì với tay Vương Lão Ngũ này dây?
Ất (phẫn nộ): tóm lấy lột da hắn ta ra!
Bính (nghiến răng nghiến lợi, hai tay làm động tác xé toạc trong không trung): Rút gân hắn ra!
(Vương Lão Ngũ sợ đến mức mồ hôi túa ra đầy mặt.)
Đinh (nói như rít ra từ kẽ răng): Chặt đầu hắn ta treo trên cổng thôn!
Mậu: Tưới dầu châm lửa đốt!
Canh: Để hắn ta ngồi trên ghế hồ [64] .
(Theo sự kích động và kinh dị của mọi người, vẻ mặt Vương Lão Ngũ không ngừng biến hóa, sau cùng bị tiếng hò hét Cách mạng dọa đến ngất trên đài.)
Giáp: (lớn tiếng ngăn lại) tốt rồi, mọi người không được làm việc theo cảm tính. Chúng ta có dân chủ của chúng ta, chúng ta có pháp luật của chúng ta, chúng ta có chuyên chính của chúng ta - bây giờ, giải tay Vương Lão Ngũ đi!
(Quần chúng giải tay Vương Lão Ngũ đang run rẩy lẩy bẩy đi. Tiếng vỗ tay.)
Chúng tôi nhấc giường của Trình Thiên Dân đến chính giữa của sân Tam Tiết chùa, bày ra trước mặt ông ta. Có lẽ ông ta vẫn chưa biết là chúng tôi sắp làm gì, không biết tình thế Cách mạng đã phát triển đến bước nào rồi. Ông ta ngồi trên ghế nhìn hai chúng tôi, cổ quay đi quay lại theo bước chân ra ra vào vào phòng của chúng tôi, mặt ông ta giống như là tấm phản gỗ cũ kĩ vứt mấy năm ở dưới giường, ngoài màu tro đất ra, không có biểu lộ tình cảm gì. Ánh trăng chưa bao giờ sáng hơn ánh trăng đêm nay, chúng tôi có thể nhận ra ngay cả các loại màu sắc khác nhau của cỏ trong các kẽ gạch của nền đất dưới chân, thỉnh thoảng có một đám mây bay qua, trắng như là tơ lụa vắt lên giữa trời cách mặt trăng rất xa. Trong thôn xóm vẫn tĩnh lặng như lúc đầu, không có tiếng bước chân, cũng không có tiếng chó sủa và gà gáy. Con quạ ở cây bách cổ thụ trước sân chùa không ngừng kêu lên mấy tiếng mỏng và lạnh như băng truyền từ trên cây xuống, rồi lại hòa vào trong sự tĩnh mịch của sân chùa, từ đó dẫn đến tiếng kêu như là chim sẻ nói mê dưới mái hiên của lam Tiết đại điện Khởi Hiền Đường, trong sân khí ẩm tràn đến. Chúng tôi không đem theo chăn và đệm, ngay cả chăn của Trình Thiên Dân chúng tôi cũng không có. Giường của ông ta trải một tấm phên trúc. Chúng tôi nhấc tấm phên trúc đó ra phủ lên trên chăn, Hồng Mai nói rải một lớp chăn đi? Tôi nói em không sợ nó bẩn sao? Em nói chăn đó được em gái của Trình Thiên Dân mấy ngày trước về nhà mẹ đẻ đem đi giặt rồi. Tôi nói có giặt nữa thì cũng là chăn kẻ thù giai cấp đã dùng qua. Em nói không thể chỉ rải phên trúc chiếu cỏ được.
Tôi nói: "Đem tất cả trước tác của Nhị Trình và những bản thảo của Trình Thiên Dân rải lên giường."
Em nói: "Vậy cũng được - để cho tất cả những thánh kinh nhà họ Trình đi đời nhà ma."
Chúng tôi liền đem những trước tác của Trình Di, Trình Hạo và mấy cuốn chú thích của Chu Hy giống như đám cỏ ôm đến rải trên phên trúc, Lúc chúng tôi rải những thư tịch đó, mắt của Trình Thiên Dân trợn càng to, trong cổ họng cuối cùng cũng phát ra những tiếng khô khốc tắc nghẹn, giống như là đang muốn hỏi gì chúng tôi. Chúng tôi không nói gì với ông ta. Ông ta sẽ nhìn thấy chúng tôi làm gì. Chờ đến lúc cuối cùng chúng tôi đem cái xấp gọi là bản thảo "Trình học tân ý" của ông ta xé ra vò lại để rải đệm trên giường, ông ta dường như nhìn rõ chúng tôi đang xé đang vò là cái gì liền ở trên chiếc ghế lắc lắc đầu làm cho những tiếng u u trong cổ họng kêu càng to, và khi mượn ánh trăng nhìn rõ cái chúng tôi xé là "Trình học tân ý" của ông ta, ông ta đột nhiên lấy đầu ngón chân chống đất tiến lên phía trước đứng một chút, làm cho cái ghế dưới mông cách mặt đất một chút. Chờ đến khi chiếc ghế rơi xuống đất rồi, một âm thanh giòn vỡ phát ra rồi, ánh trăng trong sân, ánh sao và bóng nhà bóng cây đều bị chấn động đến run rẩy.
"Trình thiên Dân!" Tôi lạnh lùng dằn giọng xuống với ông ta, "ông không được động đậy. Ông tưởng là ông viết cuốn sách rách này là có thể biến thiên sao? Có thể lật đổ chính quyền xã hội chủ nghĩa và giai cấp vô sản sao?" Vừa nói, tôi vừa để cho từng đám từng đám, từng trang từng trang bản thảo của ông ta từ tay tôi rơi xuống rải lên giường, giống như làm cho hoa tuyết rơi xuống chỗ mà nó cần rơi.
Trình Thiên Dân quả nhiên không cựa quậy nữa, ngay cả tiếng u u trong cổ họng cũng biến mất. Ông ta dường như đùng một cái mới nghĩ ra là chính mình đang bị chuyên chính giai cấp vô sản trói vào trên ghế, mới hiểu ra là trước mặt ông ta không chỉ là một đôi nhà Cách mạng tràn trề tinh lực tuổi trẻ, mà điều quan trọng hơn ông ta hiểu ra là ông ta đang đứng trước cả một giai cấp Cách mạng to lớn, còn cái mà ông ta đại diện cho lại là Chủ nghĩa tư bản phong kiến mục nát tàn vong. Lũ kiến phô trương khoe nước lớn/ Kiến càng rung cây dễ thế sao/ Hoàn cầu nhỏ bé/ Nhặng tưởng hoàn cầu là nhỏ bé/ Đối diện với chân lý/ Ngươi không thể hỗn xược/ Thẩm Loan Bình trong dinh Uy Hổ/ Dương Tử Vinh hang hổ hóa anh hùng/ Kéo Loan Bình ra ngoài dinh góc Tây Nam/ Họng súng nhằm thẳng vào não hắn/ "Loan Bình, mi làm điều xằng bậy bao năm/ Nợ máu tích đầy tội khó tha/ Ta đại diện nhân dân xử mi tội chết!… "Pằng pằng pằng!" Sau tiếng súng Loan Bình đổ xuống như một cọng hành. Chúng tôi rải Nhị Trình toàn thư lên trên giường. Chúng tôi vò Trình học tân ý nát trong không trung. Ánh sao lấp lánh làm sáng sân chùa, bộ Trình học chết tiệt bay trong không trung, một phiến hoa tuyết rơi xuống đất, lót giường tình yêu càng thần thánh, Trình Thiên Dân, ông hãy mở to mắt ra nhìn tôi và Hồng Mai phong hoa tuyết nguyệt đại náo thiên cung, không sợ ông lén lút hăm dọa, không sợ ông lén lút cuồng hung, không sợ ông tố cáo chúng tôi gian dâm mà nói chúng tôi không Cách mạng. Chân Cách mạng, giả Cách mạng, lịch sử sẽ có công luận để nói rõ. Mưa gió tiễn xuân đi, tuyết bay đón xuân về. Sắc hoa bừng đầy núi, em ẩn trong tươi cười [65] .
Giường chiếu trải xong rồi, Hồng Mai rời một bước về bên giường, em nhìn nhìn tôi, như thể đợi một tiếng lệnh mở ra nguồn điện làm cả thế giới bừng sáng. Ánh trăng đã chếch về phía tây nam rồi, chúng tôi dường như lúc chuẩn bị giường đã dùng thời gian nhiều hơn một chút, bóng tường từ sân Trung Tiết đổ xuống đã dài hơn trước, đậm hơn trước một ít, cho đến lúc này tôi mới có thời gian nhìn kĩ hơn bốn phía Hậu Thư viện. Đại điện Khởi Hiền Đường vẫn như tôi lúc còn niên thiếu, vẫn cao lớn uy nghi mà thanh thoát, trong ánh trăng càng hiện lên sự thần bí và uy nghiêm của nó. Nhưng hai cánh sân rộng hai mẫu có thừa, bốn ngôi giảng đường đứng đối nhau, nghe nói hồi đó các đệ tử của Nhị Trình dùng để nghe giảng ở đây, ngoài chứa đầy sự trống rỗng và trần ai lịch sử, còn rỗi hơi đứng đó cho những người rỗi hơi đi cúng viếng Nhị Trình đến tham quan khảo sát, nói cổ nói kim, thao thao bất tuyệt, ba hoa chích chòe, làm mê mụ lòng người để làm công tác chuẩn bị dư luận cho việc phục hồi vương triều phong kiến. Trước mắt, trong Khởi Hiền Đường đại điện, bốn ngôi giảng đường với những mái ngói tròn màu vàng ở trên, chuông gió ở góc hiên, những trạm trổ rồng bay phượng múa trên sân cột, những cỏ cây mọc tràn trong mùa hạ ở góc sân, còn có những viên gạch vuông rải đất dưới giường, chúng đều biết chúng sắp đến lúc tiêu tan rồi, Cách mạng không để cho chúng trốn ở đây tự tại an nhàn nữa, chờ thời cơ phản công đến là tan tành. Chúng lặng lẽ không lên tiếng gì, không nói gì, ngay cả chiếc chuông gió treo ở bốn góc đại điện cũng câm nín không lời.
Dường như Trình Thiên Dân cho đến lúc này vẫn không hiểu chúng tôi kéo giường của ông ta ra đây rốt cuộc để làm gì, sao lại đem mặt trên của Nhị Trình toàn thư và Trình học tân ý của ông ta rải xuống làm đệm giường. Có đánh chết ông ta cũng không nghĩ ra tôi và Hồng Mai sẽ ở trước mặt ông ta công nhiên làm chuyện phong hoa tuyết nguyệt đó, cũng giống như cuối cùng giai cấp tư sản biến mất trên thế giới này đều không dám tin rằng chủ nghĩa xã hội sẽ có thể từ những đốm lửa nhỏ mà có thể đốt cả cánh rừng. Chân lí chính là một sức mạnh huyền diệu không thể tưởng tượng nổi như thế, bạn càng công kích nó; sự công kích của bạn càng không chỉ chứng minh và tiếp thêm sức mạnh cho nó, mà còn làm cho nó càng thêm phát sáng mạnh mẽ. Suối nguồn sức mạnh của chân lí, chính nằm ở những kẻ, những sự vật công kích nó. Trình Thiên Dân mãi mãi sẽ không hiểu những điều này bởi vì vai diễn mà ông ta đảm nhiệm là kẻ công kích chân lí. Ông ta chưa bao giờ hiểu chính trị, hiểu xã hội, hiểu nhân loại. Trên đệm giường trước mặt Trình Thiên Dân, mùi mốc rữa dâng lên nồng nặc, giống như chăn ở trên giường ba năm năm năm không được giặt. Lúc cái mùi đó tràn đến, mũi của Hồng Mai nhíu lên trên một chút, ngẩng đầu nhìn ánh trăng trong không trung, nói Ái Quân, rải khăn trải giường lên nhé. Tôi cũng nhìn trời, nói không rải, chúng ta phải Cách mạng, phải để cho những thứ hủ mạt kia bị chúng ta công kích và tiêu diệt một cách trực tiếp nhất.
"Không còn sớm nữa rồi", em có chút chần chừ nhìn tôi, lại liếc Trình Thiên Dân một cái, giống như là cầu xin tôi nói, "anh cởi trước đi."
Tôi biết là con gái nên em xấu hổ, em quên mất cái mà chúng tôi đang làm chính là đấu tranh, mọi lời nói việc làm của chúng tôi phòng ngự và phản công trước sự công kích của kẻ địch, đều là vì sự phát triển thuận lợi của Cách mạng và mở rộng kết quả chiến đấu và thành tựu của Cách mạng.
Tôi bắt đầu cởi cúc áo của mình.
Tôi nói: "Em cũng cởi đi?"
Em cũng cởi cúc áo của em ra, sột soạt sột soạt, cởi cúc giống như là cắt lúa mạch vậy.
Đến lượt em cởi chiếc áo đầu tiên xuống. Lúc chúng tôi cởi quần áo, Trình Thiên Dân cuối cùng cũng hiểu ra chúng tôi sẽ như thế nào trước mặt ông ta. Mặt ông ta lúc đầu vẫn đờ đẫn như vậy mãi đến khi Hồng Mai cởi áo lót của em ra, mặt ông ta liền trắng nhợt lên, trong cổ họng lại bắt đầu phát ra những tiếng kêu khô khốc mạnh mẽ, giống như tiếng con ếch trong ruộng mạch hạn đêm mùa hạ không thể nhịn được khô nóng mà phải kêu lên. Chính trong tiếng thở u u a a của ông ta, trong lúc ông ta đu người khiến cho chiếc ghế dưới mông đít kêu coong keng, chúng tôi đã cởi hết quần áo, vắt quần áo lên đầu giường. Hồng Mai trần truồng đứng ở bên giường cách Trình Thiên Dân một quãng, chân trần dẫm lên một trang bản thảo "Trình học tân ý" của ông ta rơi trên đất. Em mặc dù đã ở trong ngục chịu qua một đêm, nhưng thân thể em vẫn lóng lánh sáng lên như ngày trước, da vẫn mềm và trắng như vậy, giống hệt như ánh trăng trong đêm đó. Sự trắng trẻo mềm mại của em, sự lõa thể trần truồng của em làm cổ họng của Trình Thiên Dân đột nhiên bạo phát ra một tiếng kêu kì quái, thô ráp, trì trệ mà lại dài như mười dặm, rồi không hiểu vì sao ông ta không kêu nữa, ghế cũng không lắc lư nữa, giống như chửi một câu gì đó, rồi lại bắt đầu yên tĩnh, ép sự tức giận xuống. Sau khi yên tĩnh lại, mặt ông ta lại xanh lét như rau, gân ở trên cổ nổi rõ như muốn nhảy ra ngoài, nhìn chằm chằm vào Hồng Mai, con ngươi trợn tròn như muốn nhảy bắn ra.
Sự phẫn nộ của ông ta có lẽ đã đạt đến cao trào.
Phẫn nộ lên, gào thét lên đi, Trường Giang đang cuộn chảy, Hoàng Hà đang gầm gừ. Tôi đã lau xong súng ba tám, đạn của tôi đã lên nòng; tôi vác lên túi đạn, anh dũng lên trận tiền. Tôi đạp lên lựu đạn, phải tiêu diệt lũ phỉ Tưởng. Lưỡi lê của tôi đã tuốt vỏ, lóe sáng lóe sáng lên! Nhưng mà, nhưng mà chính lúc này, khi mà Hồng Mai đã cởi ra chiếc áo cuối cùng, tất cả đều cởi hết rồi, tôi phát hiện ra tôi ngoài nhiệt tình Cách mạng và ngọn lửa báo thù cháy khắp toàn thân ra, dường như trên người không hề có sức lực và sự kích động làm cái việc đó. Tôi biết cái bệnh khó nói ngày trước của tôi lại tái phát rồi. Cái vật đáng chết của tôi lại ở giữa hai đùi giống như con chim ngủ say không chịu tỉnh dậy. Lúc tôi cởi quần lót của mình thì phát hiện ra, tôi biết lúc trước tôi đã nghĩ quá nhiều về Cách mạng và chùa Trình, sức lực chú Ỷ đều tập trung vào thư tịch chùa Trinh và bản thảo của Trình Thiên Dân rồi.
Hồng Mai nhìn thấy tay cởi quần lót của tôi cứng lại trên hông, em hiểu rõ việc gì từ trên trời rơi xuống, vẻ khó xử lướt qua trên mặt, sau đó em ngồi ngay xuống mép giường, quay lưng lại bố chồng Trình Thiên Dân của em. Linh hồn của tôi da thịt của tôi, tinh thần và tinh túy của tôi. Em ngồi trên mép giường, đột nhiên nhổm dậy cởi ra chiếc quần lót của tôi, giáng hai cái tát như sấm sét ngang trời vào cái đó của tôi. Tiếng của cái tát vừa sáng vừa rõ, giống như là băng tuyết sáng loáng đột nhiên bay xuống khắp nơi trong chùa, đụng vào ánh trăng phát ra tiếng kêu loảng xoảng như thủy tinh vỡ, đụng vào tường phát ra tiếng kêu tạch tạch như tiếng đập của gậy gỗ. Tôi kinh ngạc lùi về phía sau một bước, vẫn còn chưa hiểu đã xảy ra việc gì; Hồng Mai lại đuổi theo, nửa ngồi xổm nửa khom người, để tóc rối tung, điên cuồng tát liên tiếp mấy cái lên cái đó của tôi, túm lấy cái giữa hai đùi tôi. Em vừa đánh vừa túm, vừa cấu vừa véo, miệng liên tục mắng: "Tao cho mày tố cáo chúng tao! Tao cho mày tố cáo chúng tao! Mày tố cáo chúng tao thông dâm giết người phản Cách mạng? nhưng chính mày mới là phản Cách mạng chính cống, một tay đao phủ nham hiểm độc ác, một kẻ âm mưu giết người không chớp mắt!" Em cứ đánh cứ chửi, tôi không ngừng lui về phía sau, em không ngừng đuổi theo tôi. Lúc đó, cái đau như lửa bỏng, cái rát như bị dội nước sôi xuất hiện giữa hai đùi tôi. Cái giữa đùi tôi rất nhanh phồng to lên như bột nở, máu toàn thân đều chạy đến trào xuống đó.
Cái đó của tôi vì đau đớn dựng đứng lên.
Tôi lập tức ôm lấy Hồng Mai lên giường.
Lúc tôi ôm lấy Hồng Mai, em còn líu ra líu ríu nói: "Tao cho mày tố cáo chúng tao! Tao cho mày tố cáo chúng tao! Tự mình là phản Cách mạng mà còn nói chúng tao phản Cách mạng!"
Ánh trăng yên tĩnh, sao nhấp nháy, cây đứng trang nghiêm, đại điện cúi đầu, chuông gió ngừng kêu, tùng bách cúc cung, giàn nho chú mục, tường sân ưỡn ngực, mái ngói giương vai, bóng trăng không động, thôn xóm nín hơi, dãy núi ngừng thở, trâu bò nghển cổ, chim mở to mắt nhìn, muỗi đang bay dừng lại trong không trung, không khí ngừng lưu động. Khi tôi đi vào trong Hồng Mai, toàn thân em vẫn như ngày trước run lên kinh hoàng, ép cổ họng phát ra những tiếng thét nóng bỏng, giống như đây là lần đầu tiên làm việc đó, lần đầu tiên ham muốn khoảnh khắc thần thánh trong cuộc đời này. Tôi biết tiếng thét này của em một nửa là vì sung sướng không thể không kêu lên, một nửa là cố ý khoa trương để cho bố vợ em nghe thấy. Nhưng tiếng kêu nóng bỏng của em phát ra đã cổ vũ tôi, tôi liền bất chấp tất cả, chuyên tâm làm việc đó. Tôi không nhìn Trình Thiên Dân. Nhưng tôi nghe thấy tiếng u u mà Trình Thiên Dân cắn răng cắn lợi, nghe thấy lúc ông ta muốn xoay người quay lưng lại phía chúng tôi làm cho chân ghế và nền gạch phát ra tiếng chạm vào nhau lục cục. Nhưng càng làm chói tai, làm người kinh động không phải là âm thanh mà Trình Thiên Dân tạo ra, mà là tiếng kêu kin kít ken két lúc cao lúc thấp phát ra từ tấm phên giường khi lên khi xuống theo cơ thể của tôi và Hồng Mai, là tiếng kêu khóc đến đứt gân vỡ xương của giấy và thư tịch dưới người chúng tôi. Trong không khí, mùi tươi mới của sữa trắng dày đặc, mồ hôi lóng lánh bắn tung tóe, mùi thơm của diêm đỏ tràn lên, những tiếng kêu bay lên đập vào nhau, ánh trăng vừa thanh vừa trắng, sao trời vừa đỏ vừa xanh. Tôi không nghĩ về chùa Trình và Trình Thiên Dân nữa, tôi chỉ nghĩ đến sự cương cứng và Cách mạng, chỉ muốn vui sướng và mất hồn, muốn tôi và Hồng Mai trần truồng, và lần cương cứng này tôi có thể cương cứng bao lâu. Khi tôi nghĩ đến việc tôi có thể cương cứng bao lâu, tôi liền biết tôi không được nữa rồi, núi sắp đổ đất sắp nứt rồi, sắp đổ sụp đến nơi rồi. Lúc đó, tôi liền nhìn thấy bóng tường từ bên người tôi đổ xuống vẫn ở nguyên trên đất, đường bóng giường vẫn ở trên đường kẻ gạch, mới biết rằng thời gian tôi cương cứng mới chỉ đủ cháy hết nửa que hương, mới chỉ bằng một người đàn ông hút thuốc vào cổ họng, nuốt một lúc rồi lại nhả ra. Tôi sợ lần này tôi không tiếp tục cương cứng được nữa, sau khi xối trào sẽ đổ sập xuống và hoàn toàn bị nhấn chìm. Rốt cuộc thì tôi đã ngồi trong ngục một đêm và cả một ngày nửa đêm trước mới ăn của người ta một cái bánh bao khô, rốt cuộc thì tôi và Hồng Mai đêm nay đã đi mười mấy dặm đường. Tôi co chặt toàn thân, cổ họng khô khốc, mồ hôi nóng đầm đìa trên người. Tôi quả nhiên sắp đổ sập rồi, sắp không được rồi, sắp kết thúc rồi. Tôi hiểu ra rằng, sự đổ sụp lúc này không chỉ đơn thuần là sự đổ sập khi làm việc đó giữa tôi và Hồng Mai, mà là sự đứt gánh giữa đường của cuộc Cách mạng, một cuộc chiến đấu phản kích lại kẻ địch, mới hô đánh đã hết đạn cạn lương, sau khi kẻ địch bị chúng tôi đánh tan quay đầu bỏ chạy, chúng tôi liền chắp tay nhường cho chúng một con đường. -
Tôi sợ tôi sẽ cuồn cuộn mà đổ xuống.
Tôi không chịu nổi sự mê hoặc và trêu ghẹo sung sướng đang cuồn cuộn đổ xuống đó.
Tôi càng thúc nhanh cái động tác điên cuồng đó.
Hồng Mai ở bên dưới tôi rõ ràng đã cảm thấy gì rồi. Chúng tôi như keo như sơn, không phải vợ chồng mà còn hơn cả vợ chồng. Em rõ từng chân tơ kẽ tóc của tôi, rõ như lòng bàn tay, lúc cảm thấy động tác của tôi đã kề bên đỉnh, em đột nhiên không hét nữa, đột nhiên dùng hai tay lắc lắc hai vai tôi nói, "Ái Quân, anh nghe. Anh nhanh nghe này!"
Toàn thân tôi kinh động: "Gì vậy?"
Em nói: "Ở kia dường như có người đang hát."
Tôi dựng tai mình lên, nghe thấy sự yên tĩnh vô bờ vô bến đang bổ nhào xuống miếu chùa.
Tôi lại bắt đầu động tác của tôi.
Em ở sau lưng tôi tát mạnh một cái.
"Anh nghe tiếp di, giống như là bài "Tướng sĩ Cách mạng giơ đao súng" từ bên kia núi vọng lại.
Tôi lại nghe kĩ hơn.
Tôi đường như đã nghe thấy âm thanh của ánh trăng rơi trên đất ở bờ núi bên kia có tiếng hát như những sợi tơ, còn như nghe thấy ca từ trong bài hát đó là: tháng chín quế hoa thơm/ chiến ca vang bốn phía/ người nghèo muốn vùng lên/ công nông cầm dao súng. Hồng Mai nói đã nghe thấy hay chưa? Tôi nhìn Hồng Mai gật đầu một cái. Hồng Mai nói, anh nghe kĩ hơn một chút đi, âm thanh đó càng ngày càng lớn/ giống như là nước chảy qua. Tôi liền để hai tay vịn trên hai vú em, dỏng tai lên không trung, Nhưng lần này âm thanh mà tôi nghe thấy không phải là "Tướng sĩ Cách mạng giơ đao súng" từ bên kia đầu núi Bả Lâu truyền tới nữa mà là "Tiến quân về phía thắng lợi mới" lúc ẩn lúc hiện từ phía nam vọng lại. Tiếng hát đó như cách chúng tôi rất xa, mười vạn tám ngàn dặm, hơn nữa đường điện tiếp xúc của loa phát ra bài hát đó lại không tốt, lúc có tiếng lúc không. Tôi còn muốn men theo con đường tiếng hát đó nghe tiếp, nhưng âm thanh đó lại đột nhiên biến thành "Lưu Dương hà", hơn nữa âm thanh còn to hơn trước rất nhiều, có một giọng hát giống như là một người con gái vùng sơn cước đang đứng ở trên bến sông phía nam trấn Trình Cương hát, dường như những tiếng đàn như tam huyền cầm và khèn tiêu gì đó trong rừng liễu của bến sông vọng ra. Bình thường tôi thích bài "Lưu Dương hà". Mỗi lần nghe đến "Lưu Dương hà", tôi đều nghĩ tới một cô gái thanh tú xinh đẹp xách làn trúc và lưỡi liềm men theo con suối nhỏ đi đến, vừa đi vừa hát, vừa hát vừa cắt cỏ, sau khi cỏ đã đầy làn, cô ấy cũng nóng lên, liền khỏa thân xuống suối tắm, lấy nước giội lên vẩy lên thân thể trắng trẻo sạch sẽ nở nang của mình, hát rằng: Sông Lưu Dương chảy qua mấy khúc, mấy mươi dặm nước nữa thì đến Tương Giang? Bên sông là huyện gì? Sinh ra người nào đã lãnh đạo nhân dân giải phóng?" [66] Lúc này cảnh tượng đó lại một lần nữa xuất hiện, cô gái đó chỉ mới mười bảy hoặc mười tám tuổi, cởi hết quần áo hát một đoạn, còn không ngừng cười mỉm vẫy tay bảo tôi đi về phía cô ấy. Tôi không thể không đi về phía em. Tôi vừa dẫm lên nước đi đến, vừa ngây dại nhìn vào thân thể đồng trinh của cô khi cô dùng hai tay sờ lên những giọt nước trên thân thể bồ đào của mình, cẩn thận nhẹ nhàng vuốt ve núm vú màu tím thẩm vừa phụ họa theo tiếng hát của cô và cùng cô hát. Đoạn tôi hát là Lưu Dương hà chảy qua chín khúc cong, năm mươi dặm thì đến núi Bả Lâu, dưới núi có một trấn Trình Cương í a, sinh ra Cao Ái Quân, lãnh đạo nhân dân vùng lên. Sau đó, sau khi cô gái mười bảy mười tám tuổi nghe thấy, liền dựa đầu vào vai tôi, hai tay vuốt ve trên ngực tôi, hát đoạn thứ ba của "Lưu Dương hà" cho tôi nghe - sông Lưu Dương chảy qua chín khúc cong, năm mươi dặm chảy đến Trình Cương, nước chảy cuồn cuộn không ngớt, không dài bằng ân tình của Cao Ái Quân với nhân dân.
Tôi hoàn toàn bị tiếng hát của cô chinh phục, hoàn toàn bị thân thể mịn màng, non tơ, trắng ngần của cô chinh phục rồi. Lúc cô gái hát, trong tiếng hát có tiếng sông nước chảy sau khi đã bị hai mùa thu hạ hong khô, còn có mùi cỏ non xanh như sữa của cỏ cây xanh lúc chớm xuân. Em trẻ trung như vậy, ngay một nếp nhăn trên thân thể thôi cũng không có nữa, trên lớp lông tơ trên môi tinh tế phớt mềm như nhung có một làn ánh sáng hiền hòa dịu dàng, như là một làn hơi nước treo trên đó, chỉ cần ta chạm tay vào một chút, nó sẽ trở thành những giọt nước li ti biến mất, nhưng em trưởng thành như vậy rồi, lúc hát hoặc lúc cười, sự rạng ngời trên khuôn mặt như mùa thu vàng. Ngực mông tròn đầy, eo thon đùi dài, đứng trong nước như là một cây liễu bên sông. Trừ đi những thứ ngất ngây này, cái làm động lòng người hơn, lại chính là sự sùng kính mà em giành cho tôi, sự trung trinh và ca tụng cho tôi. Tôi hôn lên mái tóc em, hôn lên sống mũi em, hôn lên bờ môi em, cắn lên đầu lưỡi em. Sau khi em cũng hôn hít tôi như thế, càng lõa thể trần truồng nhảy lên trên bờ, tiếng hát lảnh lót ngọt ngào, nước chảy cuồn cuộn hát đoạn thứ tư, đoạn thứ năm của "Lưu Dương hà" dâng hiến cho tôi: Cao Ái Quân anh như vừng dương/ Anh dẫn dắt chúng ta tiến lên phía trước/ Chúng tôi mãi mãi đi theo anh í a/ Giang sơn hạnh phúc vạn năm dài. Lưu Dương hà í a vừa rộng vừa dài/ Hai bờ tiếng hát vang bốn phía/ Bài hát ngọt ngào hát mãi không thôi/ Cuộc sống hạnh phúc vạn năm dài… Hát xong rồi, sắc hồng lộng lẫy trên khuôn mặt em trong ánh mắt em tràn đầy mong đợi. Tôi bị sự ca tụng của em làm cảm động đến nước mắt tràn ra, toàn thân run rẩy, không biết làm thế nào, nhưng chính lúc này, chính lúc này chính khoảnh khắc này em lại đột nhiên cực kì lơ đãng hỏi tôi: "Anh có thích em không? Anh đã nhìn thấy một người con gái nào có thân thể đẹp hơn em quyến rũ hơn em chưa?" Tôi cuối cùng đã khóc, nước mắt ào ạt rơi đập vào trên đất, bổ nhào đến ôm em vào lòng, đặt em lên trên giường. Trên giường chất đầy giấy bồi, có một mùi ẩm mốc bốc lên, nhưng chính ở nơi này em nói, chỉ cần tôi thích em, ở đâu cũng được. Chúng tôi liền nằm trên chiếc giường đó, cùng vuốt ve, cùng thì thầm, từ sáng đến đêm, từ chớm đêm đến đêm khuya, nghe những ca khúc Cách mạng đến từ các thôn xóm và đồng ruộng khác, làm việc ấy, khí thế như vậy, rắn chắc như vậy, dài lâu như vậy. Tôi vừa làm việc đó, vừa nghe tiếng nhạc đến từ tám hướng bốn phương. Ca khúc đến từ phương Đông là "Bạt ngàn tùng xanh núi cao", ca khúc từ phía nam truyền đến là "Núi cao đỏ thắm dòng nước chảy", ca khúc từ phía bắc vọng lại là ca khúc chính "Vạn người đồng tâm băng lên trước" trong bộ phim "Ngày xuân tươi đẹp", ca khúc từ phía đông nam truyền đến là "Các xã viên học Đại Trại", từ phía đông bắc truyền lại là "Bài hát tám đại đội tốt trên đường Nam Kinh", ca khúc từ phía tây nam truyền đến là ca khúc chính "Trung sơn hùng vĩ đón chiêu dương" của phim "Ngu Công nay đổi mới" từ trên trời rơi xuống ca khúc "Bài ca tập bắn", từ dưới đất vọng lên là "Giống như Lôi Phong", "Triệu ức nhân dân triệu ức binh", và "Nhân dân thế giới đoàn kết lại". Chúng tôi hoàn toàn bị tiếng hát bao vây, được tiếng hát cổ vũ. Tiếng hát đầy trời, tiếng ca tràn đất, nốt nhạc giống như là hạt gạo, ca từ tuyệt mĩ như hoa tươi, khúc phổ chiến đấu như chông gai. Vừa hát vừa múa vừa chiến đấu, vừa nói vừa cười vừa thét gào. Không sợ trời, không sợ đất, chỉ sợ tiếng hát ngừng vang. Không sợ chùa Trình cao xuyên mây, không sợ vị thần Trình Thiên Dân này, chỉ sợ lũ ngừng chảy sợ đập nước chặn dòng lũ lại. Ca khúc làm giường, ca khúc làm chăn, chiến đấu anh dũng quên giấc ngủ, bài hát làm chăn, ca khúc làm giường, ca khúc Cách mạng tỏa hào quang. Đấu tranh đấu tranh tiếp tục đấu tranh, thắng lợi thắng lợi tiếp tục thắng lợi. Đấu tranh chính là công kích, công kích chính là thắng lợi, thắng lợi chính là khải hoàn, khải hoàn chính là hoa tươi. Hồng Mai nói: "Ái Quân, anh nghe đó là ca khúc gì vậy? Đàn phong cầm đánh rầm rầm rộ rộ." Tôi nói: "Em không nghe ra sao, đó chính là 'Hành khúc du kích'." Hồng Mai nói: "Anh nghe bài tấu nhị hồ bên này là gì?" Tôi nói: "Là đoạn lũ quỷ tiến vào thôn trong đạo chiến phải không?" Em nói còn ở đằng kia, anh nghe từ phía đông nam đi. Tôi liền cưỡi trên người em nghiêng tai về phía đông nam một chút. Nghe thấy có nhị hồ, khèn tiêu, còn có piano, sáo tây gì đó, nửa quê nửa tỉnh, ca khúc hiệp tấu đông tây kết hợp gì đó, lúc thì nước suối róc rách, lúc thì sông lớn chảy về đông, lúc thì núi cao mây trắng, lúc thì hồng thủy mãnh liệt. Tôi nói đây là ca khúc gì? Em nói dù sao cũng là hành khúc Cách mạng. Tôi nói chưa nghe thấy hành khúc Cách mạng như thế này, Em nói mồ hôi trên mặt anh rơi vào mắt em rồi. Tôi nói bây giờ mấy giờ rồi, sao lại không nghe thấy tiếng gà gáy? Em nói lo mấy giờ làm gì, đêm nay chúng ta làm việc này tốt nhất là chết trên giường này. Tôi nói tôi có chút hư thoát rồi, em nói tôi nằm xuống dưới nghỉ một chút.
Tôi liền nằm xuống dưới người em, để em giải phóng thân thể nằm trên người tôi. Tôi vừa nằm xuống liền cảm thấy mồ hôi của tôi đã dìm đẫm Nhị Trình toàn thư và Trình học tân ý của Trình Thiên Dân rồi, những giấy bồi đó ở dưới lưng tôi trở thành từng phiến từng phiến lá cây khô ướt, mùi xú uế của nước mực và hương thơm da thịt trên thân thể Hồng Mai hòa lẫn xộc vào trong mũi tôi. Ánh trăng dường như đã nhạt nhòa rồi, ánh sao cũng thưa thớt hơn lúc trước, chỉ có mùi sương ướt nhiều lên sau nửa đêm trong chùa Trình. Chúng tôi quên mất thời gian, quên mất xung quanh, quên mất Cách mạng và thế giới, quên mất kẻ địch và đấu tranh, không nghe thấy trong thôn đã bắt đầu có tiếng gà gáy và chó sủa, không nhìn thấy sau khi sao rơi đi một nửa thì ánh trăng đã nhạt nhòa và ướt đẫm hơn trước rất nhiều, không ngờ tới thời gian dài như vậy mà Trình Thiên Dân vẫn ở đó nhìn chúng tôi, vẫn nghiến răng cắn lợi quay đầu sang một bên. Lâu như vậy, trời dài đất rộng như vậy, tuế nguyệt trôi đi như vậy, trong cổ họng ông ta còn có những tiếng u u ư ư chửi rủa thậm tệ không? Trên ghế trói ông ta có còn lục cục lặc cặc không? Tiếng hát bay khắp trời, ái tình tràn mặt đất. Tấm phên giường kêu kẽo ca kẽo kẹt, giấy sách thành bùn nhỏ rớt khắp nơi. Hồng Mai trèo lên người tôi. Hồng Mai ngồi lên trên người tôi. Tôi phục tùng thân trước Hồng Mai. Tôi phục tùng thân sau của Hồng Mai. Tôi bảo Hồng Mai giơ hai chân lên trời, tôi đứng ở dưới giường. Tôi bảo Hồng Mai trèo lên giường, mông vểnh lên không trung, tôi đứng sau lưng em. Tôi bảo Hồng Mai nghiêng người, còn tôi thì chếch dịch xuống phía sau người em. Tôi bảo Hồng Mai cong một chân vào, em lại kẹp một chân của tôi vào dưới một chân của em. Em bảo tôi ngồi ở mép giường, em tự mình ngồi trên bẹn tôi. Em bảo tôi nằm ngửa ở mép giường, em đứng ở dưới giường. Em dùng tay dùng miệng, dùng cả tay, miệng, lẫn thân người, và bảo tôi cùng hành động với tay, miệng, người em. Chúng tôi không có gì là không làm, chúng tôi không có gì là không thể; chúng tôi vắt óc nghĩ ra tất cả mọi biện pháp làm tình, chúng tôi thực nghiệm tất cả mọi phương thức làm tình trên thế giới. Chúng tôi giống như lợn, chúng tôi giống như chó; chúng tôi giống như gà, chúng tôi giống như phượng. Chúng tôi dịu dàng như bông liễu, chúng tôi điên cuồng như hổ beo. Trời sinh một động tiên, phong cảnh tuyệt vời nơi núi hiểm; cuộc đời như nước chảy về đông, coi cái chết nhẹ tựa lông hồng làm Cách mạng. Chúng tôi chính là lợn, chúng tôi chính là chó. Chúng tôi không bằng gà, chúng tôi nào có thể sánh với phượng hoàng. Chúng tôi kì thực là một đôi lừa, chúng tôi kì thực là hai con trâu, chúng tôi kì thực là hai con ngựa, chúng tôi kì thực là hai con la. Sói còn lương thiện hơn chúng tôi, sư tử còn biết xấu hổ hơn chúng tôi, hổ còn dịu dàng hơn chúng tôi, beo còn mềm mại hơn chúng tôi. Chúng tôi trần truồng lõa lồ, chúng tôi vô liêm vô xỉ, chúng tôi chỉ có bắt đầu, nhưng vĩnh viễn không có kết thúc. Trần truồng không mảnh vải là vũ khí đấu tranh tốt nhất. Không cần phải che che đậy dậy, ngượng ngượng ngùng ngùng, vì Cách mạng nào sợ kẻ địch đổ đĩa phân lên đầu mình. Cách mạng chính là tình yêu, Cách mạng và tình yêu cùng bắt nguồn từ một miệng giếng sâu. Đàn bà vì Cách mạng mới đáng yêu, đàn ông vì Cách mạng mới anh hùng. Không có một loại vũ khí nào mạnh mẽ hơn trần truồng lõa thể, không có một loại Cách mạng nào vinh quang hơn lõa thể trần truồng. Cách mạng nhé, đối diện với đêm tối; chiến đấu nhé, đón chào ánh bình minh. Nói chúng tôi là lợn; chúng tôi chính là lợn, nói chúng tôi là chó, chúng tôi chính là chó. Mắng chúng tôi là súc sinh, chúng tôi cười cười với bạn, chửi chúng tôi không bằng súc sinh, chúng tôi gật gật đầu. Không có ai khoan dung độ lượng hơn người Cách mạng, không có ai có ý chí kiên cường hơn người Cách mạng. Chúng tôi Cách mạng, chúng tôi chiến đấu. Kiếp này kiếp sau, đấu tranh không nghỉ. Lá cờ đấu tranh vác trên vai, tiếp lấy cây súng trong tay tiên liệt, dẫm lên dấu chân của các anh hùng, Cách mạng mãi mãi tiến về phía trước. Đi đấu tranh anh dũng. Phóng mắt nhìn trời đất, sấm chớp động tám phương. Lửa cháy lan thảo nguyên, công nông cầm vũ khí, thề sẽ chôn hết bọn phản động, mặt trời hồng mãi soi chiếu chúng ta! Sao Bắc đẩu trên trời, ánh trăng sáng dưới đất, dãy Bả Lâu tĩnh lặng trong đêm, mọi người chìm trong giấc mộng, Trình Cương nhè nhẹ thở, cổng đá mở mắt to, thuốc nổ đã chôn rồi, chùa Trình không yên tĩnh, Ngày mai lúc nào đây? Tiếng ầm ầm vang dội; Ái Quân và Hồng Mai, mãi mãi tình không cạn; Một giường trang giấy mốc, tương lai sẽ chứng minh; Cuộc đời là nấm đất, ái tình cỏ xanh xanh; Gió mưa sương sấm chớp, nào cản nở hoa tươi; chờ cho đến tương lai, rực hồng toàn thế giới; không chỉ đẹp như xưa, mà đẹp hơn gấp bội. Nhìn kìa, phương đông tia nắng ban mai đã hé sáng rồi, nghe kìa, kèn hiệu đã vang dội sân chùa, ngửi đi, mùi thuốc nổ đã dày đặc khắp không trung, sờ đi, làn da của tình yêu tươi đẹp mịn màng biết nhường nào. Thịt đâm vào thịt, lửa bắn tung tóe, một vùng ánh sáng hồng, không gian như cháy rực, hôn chạm vào hôn, không ngừng thở, tinh tinh tang tang, lốp bốp lốp bốp như thần mạch cháy, như vỏ đậu già tách nổ; tiếng kẽo kẹt của chân giường bay vào không trung, đánh vào tiếng hát từ bốn phương tám hướng đang truyền đến, nốt nhạc giống như lá mùa thu bập bềnh trôi, ca từ giống như mưa đá rơi; tiếng thét hoan lạc của Hồng Mai đâm vào mây xanh, trăng run sao rẩy, sương tan mây tản, đập vào ca khúc từ bốn phương tám hướng tràn lên, ca từ giống như quả rụng ngã xuống, nốt nhạc giống như nước vỡ đê trong sân sau tràn ra bốn phía. Vào vào ra ra ý chí vững vàng, ra ra vào vào chiến đấu hiên ngang; đạp bằng mọi chông gai, chiến đấu trong tâm can kẻ địch, đạp gió rẽ sóng, càng kích lên ý chí của tôi; một nắng hai sương, tình cảm sục sôi đầy ắp trong lòng tôi, mài dao lau súng, trong gió trong sóng, dám xông vào hang sói hang hùm. Thân lâm vào cảnh ngục tù, diệu kế giúp tôi ra được ngục. Vạn dặm phong tình, vẫn là chiến trường. Anh dũng diệt hổ báo, dũng cảm diệt sài lang, người chí cường lại cứng, uy phong lại hào hùng, đối diện với biển sâu ngẩng cao đầu. Mặc kẻ địch giảo hoạt dùng hết mánh khóe vẫn không lay chuyển được người Cách mạng sừng sững như núi, uy nghi kiên cường. Mắt nhìn Hạ Hồng Mai tâm trí tôi hướng về tình Cách mạng, tình đồng chí ghi khắc trong tim. Cách mây trời nghe thấy bài ca chiến trận, trong không gian đêm nhìn thấy lá cờ lớn Cách mạng bay bay trên trời cao. Núi Bả Lâu huy hoàng tráng lệ, một khúc tình ca khai sáng một chương mới của nhân loại. Thân thể đẹp, khuôn mặt tuyệt mỹ, làm cho tôi hồn xiêu phách lạc, càng quan trọng hơn là cùng chung chí hướng, nguyện bỏ thân mình vì Cách mạng. Thời gian trôi đi, ánh trăng lặng lẽ đi; sương sớm thầm rơi, ánh ban mai đang ấp ủ. Trong hoảng hốt, dường như tiếng ca bài hát đã trở về phương xa. Chỉ nghe thấy hơi thở của chúng tôi vừa mạnh vừa hổn hển. Tinh đã mệt, chỉ còn lại những sức mạnh cuối cùng; Lực mới hết, chạy nước rút đoạn cuối cùng đón ánh bình minh, Toàn thân đầm đìa mồ hôi, hai chúng tôi như thể cùng tắm, gân cốt rã rời, cao trào cuối cùng không thể ngăn lại. Đón thủy triều, em thở điên cuồng, đứng đầu sóng, trong ngực tôi có ánh dương. Dồn hết lực khí để phổ nên bài ca Cách mạng, vò xé em đủ kiểu như chết như thương. Nhìn không gian, tiếng thét hoan lạc của em khiến mây bay ráng lạc, nghe âm thanh, kèn lệnh tiến công của tôi càng lảnh lót. Vốn tưởng rằng, tôi trút ngàn dặm xuống chưa đầy một giây, em lại nói, đúng trọn một giây là khéo nhất. Tôi nói rằng, lần này hồn bay phách lạc nhất, kì diệu nhất, có chết cũng chẳng hề gì. Em nói rằng, làm việc này cả trăm ngàn lần rồi, từ trước đến giờ không có lần nào mà cao trào lại lên cùng nhau như thế, cao trào trùng điệp như xé ra tâm hồn thiếu nữ, như là người đi vào sương, tâm cưỡi mây, cưỡi mây cưỡi sương, như say như tiên, hồn bay lên thiên đàng, phách bay khắp bốn phương. Có cuộc yêu một lần đêm nay, vị ngọt ngào của nhân gian sẽ còn mãi ở trong lòng, một lần mà còn hơn cả trăm lần, giây phút kì diệu còn dài hơn cả trăm năm bình thường. Một đêm mây và sương, mưa móc hóa phong sương, bình minh về nhà giam, mỉm cười với binh lính, chính là ngày anh đến pháp trường, cũng cảm ơn cơ hội tốt mà Cách mạng ban cho, ái tình như cây lớn, Cách mạng được bón tình mà kết trái, ái tình là mắt lưới Cách mạng là giềng lưới, có căng giềng lưới thì mắt lưới mới mở to ra. Ái tình làm cho sức mạnh Cách mạng của chúng tôi trở nên vô tận, ý chí càng kiên cường, Cách mạng làm ái tình của chúng tôi càng thắm thiết, đến chết cũng không đổi thay Không có mâu cũng không có thuẫn, không có mắt lưới thì nói gì giềng lưới. Ánh trăng mượn ánh mặt trời mới sáng, không có ánh trăng ý nghĩa của mặt trời ở đâu? Bổ trợ cho nhau để cùng làm Cách mạng, ánh sáng của Cách mạng chiếu rọi ngàn thu chiếu vạn đời, chiếu rọi vạn đời chiếu rọi bốn phương. Thu dọn tàn cục xuống giường, nhìn trong chùa cô tịch vô cùng, mông lung một phiến, bóng trăng còn dư dả, bóng cây rung rung, thế giới tỉnh lại trong giọt sương kêu tí tách, phương đông đã sáng lên…
A…
A…
Ai… a… ai… a… ai… a… ai… a… ai… a…
Cuối cùng rồi, cuối cùng rồi, thời gian cuối củng giống như dây trói, trói lấy tay và chân của chúng tôi. Cuối cùng rồi, cuối cùng rồi, thời gian cuối cùng như đao súng, đâm vào tim chúng tôi nhỏ máu.
Cuối cùng rồi…
Cuối cùng rồi…
Cuối cùng chúng tôi quay đầu nhìn Trình Thiên Dân, ông ta vẫn bị trói ở trên ghế như cũ, miệng vẫn bị nhét áo gối của ông ta như cũ, nhưng ghế đã không còn đối chính diện với chúng tôi, mà là lưng ghế đối diện với chúng tôi. Lưng ghế đối diện chúng tôi bên này, Trình Thiên Dân có thể đã không nhìn hai chúng tôi, sau đó ông ta quay đầu lại qua vai, hai mắt chằm chằm vào trên giường, cổ cứng như một đốt da trúc xanh, miệng khẽ há ra, răng nghiến chặt vào nhau, nhưng đôi mắt vốn dĩ đã lão hóa đó, vì trợn to quá, trợn đến quá mức, lại không chút chớp nên có hai dòng máu đen dính sệt từ trong mắt ông ta chảy ra, ngưng lại ở hai bên cánh mũi, giống như hai bông lúa đỏ trên cán cờ.
Cuối cùng rồi…
Cuối cùng rồi…
Cuối cùng chúng tôi liền tay nắm tay đi ra khỏi chùa. Trong lúc các quần chúng xã viên phần lớn vẫn chưa tỉnh lại, tỉnh lại rồi thì cũng sẽ còn nằm lười trên giường, chúng tôi châm tất cả những dây dẫn lửa của thuốc nổ rồi.
Sau một khoảnh khắc, đột nhiên có tiếng nổ cực lớn, rồi sau đó có những tiếng ầm ầm oàng oàng liên tiếp. Tiếp theo, là tiếng gạch ngói rơi xuống như mưa. Thời gian liên tục của những âm thanh này chỉ khoảng bằng mười dặm. Chờ âm thanh chấm dứt, trấn Trình Cương đột nhiên bị mùi lưu huỳnh của thuốc nổ phủ ngập, trong phút chốc rơi vào một khoảng lặng như tờ, giống như là không phải chùa Trình và cổng đá đã sụp đổ, đã chết rồi, mà là cả thế giới đều bị nổ ầm, bị diệt vong.
Cách mạng đã phát triển đến một giai đoạn mới - nó đứng ở trên bờ biển vọng nhìn ra biển lớn thấy mũi một con thuyền, nó là bào thai trong bụng mẹ đang đập sắp hình thành một hài nhi, nó đứng trên đỉnh núi cao, vọng nhìn phương Đông đã dâng lên hào quang của một vừng dương sắp mọc. Mặt trời mọc ra rồi. Mặt trời mới như bật ra từ trong thuốc nổ, đầm đìa máu tươi, rực đỏ diễm lệ. Bởi vì đã không thể trước khi trời sáng trở về nhà ngục, về đứng trên chiếc ghế cao như cũ; bởi vì sau khi chúng tôi trở đi, dự định sẽ đem tất cả mọi việc nói ra, không che giấu Đảng bất cứ điều gì. Chúng tôi kiên quyết phải làm một đôi người thành thật, kiên quyết phải làm một đôi người cao thượng, một đôi người thuần khiết, một đôi người có đạo đức, một đôi người thoát khỏi cách cư xử thấp hèn, một đôi người có ích cho nhân dân, đã như vậy chúng tôi còn cần phải gấp gáp chạy về làm gì?
Chúng tôi tay nắm tay như một đôi vợ chồng mới cưới, bình thản trong ánh ban mai mỹ lệ đi về phía nhà ngục ở ngoài thành.