KỴ HỔ NAN HẠ
Trời chiều tối mịt rồi mà trong chuồng vẫn chưa về đủ đôi trâu Cỗ Pháo. Cỗ về trước, Pháo thì còn lưu linh lưu địa ở đâu không rõ. Ruộng ở xa nhà, xung quanh là rừng rậm nên không sợ nó đi phá lúa của người ta, chỉ sợ trời tối chạng vạng, cọp hay ra đón đường, ngồi rình bắt trâu. Con trâu nó nhớ đường dai lắm, mình đi lạc còn phải nắm đuôi nó, nhờ nó dắt về giùm, đúng như lời ông bà mình thường nói: “Lạc đường nắm đuôi chó, lạc ngõ nắm đuôi trâu”. Mấy đám trộm trâu, chỉ có cách cỡi nó lội băng qua sông cái, thì chừng đó nó mới chịu thua, hết biết đường về, nhưng mà năm đó phải dưỡng, không cho nó làm việc nặng.
Con trâu khôn ở miệt rừng, tự nó cũng hiểu rằng, chẳng thà ở trong chuồng của loài người, tuy có mất chút tự do, nhưng dù sao cũng vẫn an toàn hơn là ở ngoài rừng, cho nên khỏi cần phải lai dắt lôi thôi, trời nhá nhem tối là tự chúng đã dắt díu nhau riu ríu về chuồng.
Ông Tư ngất ngưởng đi vòng ra ngoài đám ruộng, giáp mé rừng mà kiếm. Trong bụng ông cũng hơi lo vì ông sực nhớ rằng mẹ con Pháo không phải là trâu nòi ở vùng nầy, mà nó thì mới về đây chưa được bao lâu.
Ông Tư cưng cặp trâu nầy dữ lắm, nhờ có chúng mà ruộng của ông năm nào cũng trúng mùa. Con Pháo lại dữ tợn nhứt vùng, nó cày bừa giỏi, đạp lúa giỏi mà báng lộn cũng giỏi nữa, cọp nó cũng không thèm sợ, gặp lúc sung sức, ông ba mươi nó cũng dám vích cho lòi phèo. Cặp Cỗ Pháo nầy, thường ngày đi đâu cũng có đôi, ít khi chịu lẻ bạn lắm. Vậy mà bữa nay...
Mặt trời đã lặn từ lâu, mà chị Hằng chưa chịu ló dạng, vẫn còn e lệ núp vào đám mây, hé mắt, thập thò rải xuống đám ruộng thưa một chút ánh sáng lờ mờ, nhập nhoạng.
Ông Tư còn phưởng phất hơi men, sau chầu nhậu quắc cần câu ở nhà Ba Hữu. Nhác thấy giữa đám ruộng thưa có con vật gì lớn như cái đống rạ đang nằm ngủ say sưa, tiếng ngáy vang rền như sấm. Ông nghĩ thầm trong bụng, không phải con Pháo thì là cái giống gì, nên ông cất tiếng nạt lớn:
— Đồ chết bầm! Giờ nầy mà còn ở đây! Không chịu về chuồng hả mậy? Cọp vật mầy bây giờ!
Con vật vẫn nằm ngáy ro ro, coi như thể trên đời nầy, không hề có ông Tư nào ráo trọi. Trong bụng đã nổi ôn, ông bước lại gần hét lớn:
— Được! Cho mầy biết tay!
Thót một cái, đã cỡi ngay lên lưng, ông cúi xuống thò tay kiếm sợi dây dàm mũi, miệng thì hô lớn:
— Bước!
Dây dàm dây dụi đâu không thấy, mà con vật cũng chẳng thèm nhúc nhích. Ông càng nổi đóa, quay ra túm lấy sừng, sừng cũng chẳng có luôn, chỉ có đôi tai dựng đứng đầy lông lá.
Đến lúc đó chị Hằng mới chịu vẹt mây, te rẹt chun ra để rọi xuống cho ông Tư chút ánh sáng lờ mờ, rồi từ từ tỏ rạng. Nhìn kỹ lại, toàn thân con vật đầy lông lá, vằn vện sọc ngang, tinh là những vằn đen, vằn vàng nằm lẫn trên cái nền xám xám, luốt luốt. Trời thần hỡi! Một ông cọp mun!?
Bao nhiêu men rượu trong độ nhậu ban chiều, vụt bốc hơi cái “vèo” theo cơn gió lạnh. Ông Tư điếng hồn, nhận ra là mình đang cỡi trên sống lưng vằn vện của một ông cọp lớn. Nhưng đã lâm vào thế kẹt, làm sao mà xuống được đây, “kỵ hổ nan hạ”[43], nhảy xuống bây giờ, chết là cái chắc.
Lúc nầy cọp ta cũng vừa tỉnh ngủ, nhận ra rằng nó đang bị một vật nặng đè nhủng nhẳng trên lưng. Phát hoảng, nó nhảy dựng lên như một con ngựa chứng. Ông Tư kinh hãi nghĩ thầm, bây giờ mà sút tay văng xuống đất, nhứt định cọp sẽ nuốt trông như chơi, khỏi cần muối ớt. Cho nên sống chết gì cũng phải ráng đeo dính cứng trên lưng của nó.
Cọp ta hộc lên những tiếng “cà um, cà um” vang trời rồi bắt đầu càn lướt. Trước tiên nó tung hai chân sau lên thật cao, như ngựa đá vó hậu để hòng hất văng con vật kì dị đang đeo bám trên lưng kia. Nhưng vô hiệu. Nó lại cố hết sức nhảy cà dựng... cà dựng lên, với hy vọng những cành cây thấp là đà, sẽ gạt rớt phăng cái vật nhủng nhẳng đeo bám cứng ngắc kia đi. Cũng vô phương luôn.
Ông Tư mấy lần bị va đầu vào nhánh nhóc lòa xòa, cành cao nháng lửa, mắt đổ hào quang, trán u mấy cục. Ông kẹp chặt cứng hai chân, như hai cái đai sắt, gắn chết trân vào hông cọp, mặc tình cho nó nhảy cào, nhảy cửng. Lúc ấy, ngó bộ dạng ông Tư giống hệt như một tay kỵ sĩ lành nghề đang thuần hóa ngựa rừng.
Ra đến trảng trống, con vật phăng phăng rẽ lau vẹt cỏ, tế nhanh như ngựa vía. Kinh hoàng, ông Tư gò mình bíu chặt lấy hai cái tai to lớn của con vật, hai chân ông vẫn kẹp cứng ngắt hai bên hông nó, mặc tình cho nó muốn làm gì thì làm, chạy đâu thì chạy. Cảnh vật cứ ào ào, vùn vụt chạy giật ngược về phía sau. Gió rừng lạnh ngắt, rít ù ù hai bên tai ông rát rạt, như có cả chục cái xa quạt lúa đương hè nhau mà quạt thẳng cánh.
Quần áo rách nát, bay ngược về phía sau phất phới, đập lật phật vô mình ông Tư. Cái áo vải ú đen ướt đẫm mồ hôi bị gai quào rách teng beng tét bét, lòi bụng, lòi sườn, sau cùng chỉ còn sót lại có cái bâu nát, treo toòng teng trên cổ; và dưới bắp tay, phất phới hai cái ống tay cụt ngủn...
Con vật cứ cà cồng, cà cưởng cõng người mà chạy như vậy đến tận canh năm.
Ối cha! Mệt quá! Người ngồi trên lưng đã mỏi nhừ, thì con vật cõng người mà chạy, chắc phải đuối đừ hơn nữa. Sức cọp mà chịu còn không thấu nên nó thỏn mỏn lần, cứ xà quần, xà quần giảm dần tốc độ. Chạy lúc thúc được một đỗi, cuối cùng nó xà lỉa, xà lai, sụm luôn bốn cẳng, quăng ông Tư văng cái “ạch” xuống đất.
❃
Liếc mắt nhìn qua, thấy con vật đã nằm im hết cựa. Kiệt sức ông Tư cũng liều mạng giăng tay, sải chưn, ngửa mặt lên trời, nằm sải lai phó thác tính mạng của mình cho số phận. Người và vật cứ nằm gác chưn lên nhau như vậy, không biết là bao lâu... không biết rồi đứa nào sẽ hồi sức trước, con người hay con vật.Trên trời, từng đám mây tơi tả, cuồn cuộn rượt đuổi nhau trên cái nền đen u ám của một vầng trăng sắp lặn. Hư không lồng lộng... Nơi góc trời xa, có ngôi sao đang nhấp nháy như muốn rụng. Cái ngôi sao đó, phải chăng là ngôi sao bản mệnh của ông Tư? Chưa lúc nào ông cảm thấy yêu mến cuộc sống như lúc nầy, khi mà sự sống của ông chỉ còn được tính bằng giây. Nếu như còn được sống, dù chỉ một ngày, một giờ thôi, ông cũng cảm thấy tuyệt vời hạnh phúc. Còn bao nhiêu việc phải làm, biết mấy tâm tư, biết bao hoài bão còn chưa thực hiện. Bất giác, ông trào nước mắt, ngửa mặt lên trời, rú lên một tiếng - thấu tận trời xanh.
Tiếng rú thống thiết bi ai đó, thứ âm thanh rền rĩ quái dị như chưa từng có trên cõi đời nầy, cơ hồ như vút bay lên tới thượng tầng thanh khí, làm lay động cả bầu trời, lạnh buốt cả tám cõi thái hư, đông cứng cả chín tầng vũ trụ, lồng lộng cả hư không. Quả thật là “Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư.”[44]
Trong tích tắc, cả một quá khứ, cả một đời người cơ cực trôi nhanh hết tốc lực trong trí não ông, những hình ảnh trắng đen loang loáng vùn vụt qua mau: một đại họa giáng xuống dòng họ, cả ngàn người bị thảm sát, chôn chung một hố - một tuổi thơ dữ dội - những tháng ngày lênh đênh trốn chạy lệnh truy nã của một triều đình nhu nhược, cong lưng làm mọi cho Tây - đám con cháu tản lạc tứ phương, tha hương cầu thực - cả kiếng họ chỉ còn sót lại lơ thơ có một nhúm người, phải thay tên đổi họ, đùm túm, dắt díu nhau, lưu lạc đến tận mảnh đất phương Nam này. Tưởng đã yên thân, ngờ đâu hôm nay phải gởi thây vô bụng cọp. Nghĩ mà thương cho bà Tư, cho con Quyên, cho thằng Lực, chưa được hưởng một chút gì sung sướng, nhàn nhã tấm thân; sinh ra là để chạy giặc, cả cuộc đời kết bằng những chuỗi ngày trốn chạy gian nan. Tiếng rú vút cao lên rồi từ từ yếu lần, yếu lần, tan loãng vào khoảng không trung bao la vô tận.
Nhưng một điều kỳ diệu đã xảy ra. Như có phép nhiệm mầu, con cọp từ từ ngoảnh đầu lại, lấm lét ngó ông Tư. Hai vành tai nó cụp xuống như chó ăn vụng bột, đuôi dán sát háng, bòn chân mọp sát đất, con vật len lét ngó chừng ông. Được nước, ông trừng mắt ngó lại, nó lật đật cụp mắt xuống như thể biết lỗi, rít lên khe khẽ những tiếng nịnh nọt rối rít. Cọp ta khúm núm lết tới bằng cả bốn chân, le lưỡi liếm tay ông, đuôi ngoắt lia lịa như một con chó ngoan nịnh chủ.
❊
Trời chưa kịp sáng, gà rừng chưa gáy hiệp đầu. Bà Tư, con Quyên và thằng Lực đã lóng ngóng đứng trước cửa rào. Ba mẹ con thấp thỏm cả đêm, không ai ngủ được, trông đứng trông ngồi, lòng nóng như lửa đốt.Hồi đầu hôm, ông Tư nói là đi kiếm trâu, mà sao lâu quá không thấy về. Gần sáng, bà đã tính đốt đuốc đi kêu thêm người, băng rừng kiếm ông. Suy đi nghĩ lại, còn nấn ná chưa kịp đi thì bỗng nhiên ông đã lù lù xuất hiện, cỡi trên lưng một con trâu dị kì chưa từng có.
Ông Tư khệnh khạng, hí hửng nghĩ thầm: “cho mấy mẹ con nó hồn vía lên mây, sợ xanh mặt chơi!”. Dè đâu, qua cơn sửng sốt ban đầu, con Quyên lân la lại gần, dòm lom lom vào con thú với một vẻ mặt lạ lùng, bỗng nó vọt miệng nói tỉnh khô:
— Tía! Cho con cỡi nó với!
Vỗ mông cọp cho nó quỳ xuống, vẫn ngồi yên trên lưng cọp, ông Tư xoay người lại, cúi xuống nhấc bổng con Quyên lên, đặt nó ngồi vững vàng sau lưng ông. Lại phủi bụi, dọn một chỗ sạch sẽ ở phía trước, ngay cổ ông cọp, ông quay lại phía sau, trợn mắt hỏi:
— Thằng Lực đâu? Lại đây!
Thằng Lực ré lên một tiếng thất thanh, điếng hồn, thụt cà lui, núp sau lưng mẹ, níu áo bà Tư chặt cứng, luôn miệng nói: “không... sợ, không... sợ” nhưng mặt mày đã tái xanh, tái tử, cái miệng bắt đầu mếu xệch. Ông Tư xua tay, lắc đầu ngán ngẩm:
— Thôi! Thôi! Không chịu thời thôi! Ai dám ép cậu! Cái thằng chết nhát!
Hai tay con Quyên bấu vô eo ếch tía nó chặt cứng, dựa đầu vào cái lưng bằng thán như tấm thớt của ông Tư, nhún nhún đít mấy cái, gục gặc đầu nó nói:
— Cái lưng của nó nạc không hà, hệt như lưng tía, êm... mắc ngán.
Bà Tư chưa kịp hoàn hồn, chưa kịp lên tiếng ngấy ngà, cằn rằn ông như mọi khi, thì hực một tiếng, hai chân ông Tư đã thúc mạnh vô be sườn ông cọp, cọp và người đã lồng lên khuất dạng sau một khúc quanh. Chỉ còn nghe tiếng cà rụp, cà rụp và vẳng lại tiếng ông Tư, tiếng được tiếng mất, theo làn gió sớm tạt vọng về:
— Cha con tôi đi... chơi... tới... tối... mới về.
Họ trở về khi trăng treo rạng rỡ trên đầu. Họ - ba đứa - ngó bộ ăn ý với nhau lắm. Kể từ ngày đó, nhà ông Tư kết nạp thêm một thành viên mới. Cọp Mun, tuy không ở lại luôn nhưng lui tới hà rầm, nằm ưỡn trước thềm, thong dong gác cằm lên cẳng trước mà táp ruồi, ve vẩy đuôi đuổi muỗi, ngoan còn hơn con chó giữ nhà. Thảng có bóng người lạ nào đó đi ngang, nó đều nghển cổ lên dòm, báo hại người kia, chạy văng mất guốc, không dám ngoái đầu. Thét rồi ai cũng chạy tét, không dám léo hánh, cuộc đất nầy đã trẻo lại càng thêm trẻo.
Cả nhà đôi khi cũng quên, hổng nhớ nguồn gốc nó từ đâu tới, tưởng chừng như nó đã có mặt, cùng lúc với cả gia đình, trong cuộc trường chinh tháo chạy, như một thành viên không thể thiếu. Nó muốn tới lúc nào thì tới, muốn đi lúc nào thì đi, muốn ở bao lâu thì ở.
Bẵng đi một thời gian dài không thấy tới, cả nhà đang tiếc ngẩn tiếc ngơ, chưa kịp nhắc, thì một tối kia đã thấy song song hai bóng cọp, dắt nhau đi lưỡng thương dưới trăng. Tưởng ai, hóa ra đó là con Mun, nó đã dắt ở đâu về, ngỏn ngoẻn giới thiệu một chàng cọp đực. Lúc đó, cả nhà mới té ngửa ra: nó là cọp cái. Cũng chẳng sao, vì cho dù là đực hay cái, thì hết thảy mọi người, ai ai cũng đều phải kêu nó là “ông cọp” hết ráo.
Sau Tết, tới mùa nắng hạn, ao đầm đều cạn, nước mặn tràn vô sông rạch. Người ta phải lo trữ nước mưa để uống. Lũ cọp khát khô cả cổ. Mỗi chiều con Quyên phải xách nước giếng đổ đầy cả chục cái máng mà ông Tư đóng sẵn để la liệt ngoài sân cho lũ cọp giải khát...
Nhà ông Tư từ đó về sau, cọp dắt díu nhau tới cả bầy lủ khủ, một xã hội cọp thu nhỏ. Mỗi khi tới rằm, đêm thanh trăng sáng thì: Ối thôi! Cọp đực, cọp cái, cọp mén... nằm ngồi lễnh nghễnh đầy sân. Bắt chúng làm gì cũng được, duy chỉ có đi cày là không xong, vì không có cách chi bắt cái ách vô cổ chúng để lùa xuống ruộng mà “ví, thá” cho được.
❊
Vốn là một tín đồ Nho giáo thuần thành, bác lãm quần thư, tinh thông âm dương thuật số, lại gần đến tuổi tri thiên[45] . Vậy mà, nhiều đêm nằm gác tay lên trán, ông Tư cứ ngẫm nghĩ hoài mà cũng không dám chắc rằng những việc tình cờ đưa đến đó, là phúc hay là họa nữa. Ông thấy chuyện của mình giống hệt như “chấp hổ nhĩ” (nắm tai cọp) trong Tân Tề Hài[46], tuy rằng kết cuộc thì có hơi khác.Phật giáo vốn coi trọng cơ duyên, không biết có phải nhờ trước đó ông đã nuốt được “tướng tinh” cọp chúa, cho nên mới hàng phục được cọp Mun vừa rồi? Bị cỡi cọp ngang xương nên ông mới phát minh ra cách thuần hóa cọp rừng, hệt như người da đỏ vẫn thuần hóa ngựa hoang ở tận bên kia châu Mỹ, cách xa hơn nửa vòng trái đất.
Chỉ biết rằng từ đó về sau, đám thú dữ trong rừng sợ ông như sợ cọp, hễ nhác thấy bóng ông đi tới đâu, chúng đều mọp xuống đất, cúp đuôi xếp re một nước. Sau này ông Yến (có nơi bà con kỵ húy nên kêu trại ra là ông Yểng) đã thuần hóa được một bầy cọp dữ.
Cho đến tận ngày nay, ở miệt Tân Hưng, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre, ông già bà cả vẫn còn kể lại cho con cháu nghe giai thoại: “Ông Yểng cỡi cọp đi mua rượu ở quán chợ Sơn Đốc.”[47]
Và cũng kể từ ngày ấy, số phận của ông, của cả gia đình ông, đã rẽ qua một khúc quanh khác, mà cũng chưa biết là phúc hay họa. Ở đời, phúc họa nan lường, hệt như chuyện Tái Ông thất mã[48] biết đâu là phúc, biết đâu là họa. Muốn biết rủi may, họa phúc thế nào, chịu khó coi tiếp hồi sau sẽ rõ.
Chú thích:
[42] Chó ở rừng, trước khi nằm xuống, thường xà quần vài vòng để làm rạp cỏ nhằm đuổi rắn đi (nếu có). Điều này chứng tỏ chó vẫn còn mang tính hoang dã.
[43] Kỵ hổ nan hạ: cỡi cọp khó xuống.
[44] Trường khiếu, nhất thanh, hàn thái hư: một tiếng thét vang, lạnh cả bầu trời. Hữu thì trực thượng cô phong đỉnh. Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư. (Thơ của Không Lộ thiền sư, đời Lý - Trần).
[45] Tuổi tri thiên: ngũ thập tri thiên mệnh, tuồi năm mươi biết được mệnh trời.
[46] Tân Tề Hài: Tề Hài là người chuyên viết sách sưu tầm các chuyện quái dị của Trung Hoa thời cổ. Người đời sau mượn tên người làm tên sách. Sau nầy khi Viên Mai (1716 - 1798) sưu tầm những chuyện kỳ quái, ông cũng đặt tên là Tề Hài nhưng thêm chữ Tân để phân biệt. Chấp hổ nhĩ là một chuyện trong Tân Tề Hài, có nội dung giống hệt như ‘ông Yểng cỡi cọp”. Cũng đi tìm trâu, cũng nhầm cọp với trâu, rồi cỡi cọp tới sáng. Kết cuộc, cọp kiệt sức mà chết, người thì bị cọp cào tới lòi xương, nát bét cả hai chân.
[47] Theo lời các bậc bô lão ở tỉnh Bến Tre kể lại, trước năm 1945 vẫn còn miễu thờ ông Yểng, trước miễu có một cây dầu cổ thụ. Thời chiến tranh, người ta phải hạ cây dầu xuống vì sợ Pháp lấy chuẩn để thụt cà-nông.
[48] Tái Ông thất mã: Ông già họ Tái bị mất ngựa. Hàng xóm sang chia buồn, Tái Ông cười, nói: ‘chưa chắc đã xui”. Mấy hôm sau, con ngựa về lại còn rủ thêm một nàng ngựa cái về giới thiệu nữa. Hàng xóm sang chúc mừng. Tái Ông lắc đầu nói: “chưa chắc đã hên”. Tái Nạm - con trai Tái Ông - thấy nàng ngựa tốt, bèn nhảy lên cỡi. Dè đâu nó không chịu, lồng lên hất cậu té chỏng gọng, gãy lọi một giò. Hàng xóm lại sang chia buồn, Tái Ông lại cười: “chắc gì đã rủi”. Mấy năm sau, biên cương giặc giã nổi lên, thanh niên trai tráng trong làng bị đưa ra biên ải rất nhiều. “Lệnh vua ban, phải cam lòng,/ Người đi thì có, người không thấy về”. Tái Nạm - xi cà que - nên được miễn quân dịch, ở lại nhà mà phụng dưỡng Tái Ông cho tới mãn đời.