TƯỚNG TINH CỌP CHÚA
Chưa năm nào trúng mùa cho bằng năm con Quyên tròn mười hai tuổi. Ba năm liền, phong điều vũ thuận[40]. Nhà ông Tư lúa trúng bể bồ, kho lẫm tràn trề. Lúa dư phải vô bao chất bên chái nhà, xóm giềng ai có thiếu qua hỏi thì chỉ ra sau hè, sức vác được bao nhiêu thì vác...
Ông Tư may mắn tửng rẻ[41] được một đôi trâu cày, nài được một bầy chó săn, coi bộ ông vừa ý lắm. Đôi trâu là đầu cơ nghiệp, là cả gia sản của người nông dân, ông dựng cho chúng một cái chuồng lớn chắc chắn sau nhà. Cuối vụ mùa, ông còn hốt cho chúng vài thang thuốc bổ trâu, sắc với mía lau để cưng dưỡng chúng, ông lo cho chúng còn hơn con mọn. Mỗi chiều, ở ngoài đồng về, Ông chỉ dội sơ sịa cho mình mấy gáo, rồi ông lo tắm táp hai con trâu cho thiệt kỹ, kỳ cọ đến sạch bóng, sạch trơn, ông còn tự mình đi ủ rơm, đánh con cúi un muỗi cho trâu.
Mỗi tối ông ôm nóp ra chuồng trâu mà ngủ, vừa để coi trâu, vừa canh chừng thú dữ. Trên chiếc sạp tre hẹp té, ông chỉ dám nằm vắt ngang nửa trên nửa dưới, ông ngủ bằng nửa con mắt, phòng khi nào ngủ mê lăn tòm cái “đụi” xuống đất; thì giựt mình tỉnh giấc, vừa lồm cồm bò dậy, vừa gục gặc ngủ tiếp. Đến nước đó rồi thì bà Tư chịu hết xiết, gặp ai bà cũng níu lại nói như phân bì: “Ống bị trâu hành, mấy con trâu mà ổng coi trượng hơn mẹ con tui nữa”.
Bầy chó săn thì ông cho ở chung nhà. Bầy chó này, ông gấm ghé từ lâu, chừng thấy việc đồng án đã huỡn, trong bồ cũng có lúa dư, lúa để, ông mới dám tự thưởng cho mình. Ông lựa tinh là giống chó săn nòi, đếm được tám con. Ông đặt tên cho chúng theo các tích chuyện Tàu: Chinh Đông, Chinh Tây, Bình Nam, Bình Bắc, Tiên Phuông, Hậu Tập, Tả, Hữu tướng quân.
Đích thân ông luyện chó, tấn thối có quy củ, thưởng phạt phân minh còn hơn Tôn Tử luyện binh. Từng nết ăn, nết ngủ, cho đến nết đi đồng, đều phải răm rắp tuân theo mệnh lệnh. Đến nỗi, hôm nào ông đi rừng về trễ, mặc dù đói đến rã ruột, đứng không muốn vững, nhưng chưa khi nào bà Tư, con Quyên hay thằng Lực cho ăn mà chúng dám xáp lại ăn. Đói tới cỡ nào, sống chết gì chúng cũng phải chờ ông Tư về cái đã. Người chủ chó, luyện cho chó có thói quen chỉ ăn thức ăn trên tay mình vì sợ chó ăn tạp thì sau này dễ bị đạo chích đánh bả.
❖
Cảnh nhà đang hồi yên ả, thì cuối năm đó bỗng đâu xảy đến một chuyện quá đỗi dị thường.Đầu tiên là con Tả tướng quân mất tích, đến giờ ăn mà cũng không thấy về, ai cũng tưởng là nó đi lạc, chỉ quanh quẩn đâu đó vài ngày. Hôm sau lại vắng thêm con Tiên Phuông. Đến lượt con Hữu tướng quân mất tích nữa thì ông Tư đã sanh nghi. Ông lo tấn cửa chuồng trâu cho thiệt kỹ, vì hai con trâu nầy, mắc chứng gì mà mấy ngày nay tự nhiên sanh tật khó ngủ, cứ lắc sừng, đập đuôi, gõ móng chạy dạt vào một góc, nếu hí được như ngựa, chắc chúng cũng đã hí lên rồi.
Vậy là tối hôm đó, sau khi đã ủ cho cặp trâu một đống un to tướng, ông Tư ôm nóp vô nhà, ngủ chung với bầy chó cưng. Mặc dù lũ chó ở chung nhà với người, nhưng ông Tư dạy chúng chỉ đi phóng uế ở bên ngoài. Ông khoét cho chúng một cái lỗ nhỏ chỉ vừa khít rim với thân hình một con chó, thú dữ như hùm beo cũng không có cách chi mà chun vô được. Lũ chó nhà này lại có nết, ban đêm không dám tự ý léo ra ngoài bao giờ.
❊
Đó là một tối trăng rằm, bên ngoài trăng sáng vằng vặc, trong nhà cửa đóng kín mít nên vẫn tối thui. Đầu hôm ông đánh thẳng giấc, nửa đêm ông mới trỗi dậy, rón rén bước xuống chưn cầu thang để thăm chừng lũ chó đang nằm ngủ lăn lóc ở góc nhà.Con Chinh Đông hực lên một tiếng rồi nhận ngay ra chủ, nó ve vẩy đuôi. Cúi xuống, ông lấy tay xoa xoa đầu nó như an ủi. Con chó liếm tay ông mấy cái rồi ngoe nguẩy đánh mấy vòng xà quẩn, xà quần, lại nằm ngủ tiếp, đầu gác lên hai chân trước. Ông Tư gật gù hài lòng, trước khi nằm xuống mà xà quần mấy vòng như vậy mới thiệt là đúng điệu chó săn[42].
Phủi một khoảng đất cho sạch bụi, ngồi xuống giữa đám chó đang say ngủ. Lưng dựa vào gốc cột, khăn rằn quấn cổ, cây xà no gác ngang bắp đùi, ông lần lưng kiếm cái túi nhái. Phạch cái túi làm bằng da rắn hổ mây đã lên nước bóng loáng, ông thong thả nhón một nhúm thuốc rê Mỏ Cày, rải lên tờ giấy quyến mỏng rồi vê tròn trên hai bàn tay, ông bập bập vài cái để mồi lửa rồi phì phà thả khói lên không.
Bóng đêm bảng lảng bao trùm khắp cả gian nhà, thỉnh thoảng nghe vài tiếng bập bập và một đốm lửa đỏ lóe lên, soi rõ một khuôn mặt vuông vức chữ điền, lởm chởm gai râu, đen xạm như được tạc bằng đồng đen. Đêm dần trôi, đốm lửa đỏ lóe lên thưa lần, yếu lần rồi chỉ còn lập lòe vừa đủ soi một bộ râu đã lốm đốm muối tiêu, tiêu nhiều muối ít. Cuối cùng, đóm lửa cũng tắt ngóm, đêm đã về khuya.
❊
Đêm yên tĩnh trôi qua, trên trời sao lưỡi cày trở cán. Đang lim dim nửa thức nửa ngủ, bỗng có tiếng chó hực lên, ông Tư giựt mình tỉnh dậy, cây xà no rớt luôn xuống đất. Lồm cồm ngồi dậy, vừa lọ mọ mò kiếm cây xà no trong bóng tối, ông vừa dỏng tai lên nghe ngóng.Có tiếng lạt sạt ở chỗ cái lỗ chó. Gió đêm lành lạnh đưa đến một mùi tanh tanh khét khét, phưởng phất xông lên khiến ông cảm thấy nhờn nhọn, như muốn ói.
Lũ chó trong nhà đã thức dậy hết, không sót mống nào. Trong bóng tối, lấp lánh những cặp mắt mở to, xanh lè khiếp đảm. Không con nào dám sủa, chúng chỉ rít ư ử trong cổ họng, bốn chân mọp xuống đất, bụng thóp lại, đuôi cụp sát háng, chúng đang run bần bật...
Mảnh trời xám sau lưng cái lỗ chó bỗng nhiên tối sầm lại, một bóng đen to tướng đã áng ngữ. Cái tiếng lạt sạt đó phát ra từ một vật gì to cỡ cườm tay người lớn, từa tựa như một con rắn cạp nong, có khoang đen khoang trắng lẫn với những khoang vàng. Vừa bò vô, con rắn liền quật tả, quật hữu từ bên nầy qua bên kia, tạo thành một góc rộng, như khiêu khích lũ chó.
Qua cơn khiếp đảm ban đầu, lũ chó săn bắt đầu trở lại tính tò mò cố hữu. Mọp sát đất, giữ đúng khoảng cách an toàn như thầy nghề võ, chúng từ từ lết lại. Ông Tư cố banh mắt ra nhìn cho thiệt kỹ. Ông chưa kịp phân biệt cái vật từa tựa như con rắn kia là cái giống gì thì bỗng có tiếng chó hực lên. Một con chó không kiềm chế nổi đã lao mình phóng vút tới, táp một cái “phập”, ghim chặt cả hai hàm răng sắc nhọn vào cổ con rắn.
Một tràng những âm thanh chát chúa, hỗn loạn vang lên. Tiếng người quát tháo inh ỏi hòa lẫn với tiếng chó bầy ong óng sủa hùa. Cuối cùng, vượt lên trên hết những âm thanh náo loạn kia là một thứ tiếng gì đó, trầm trầm, âm âm, nghe như tiếng ai đó nhổ một cái cọc lớn ra khỏi bùn ướt. Giống như tiếng một cái nút chai khổng lồ dính khắng lâu ngày, bị giựt “phựt” ra khỏi cái cổ chai quá chật. Sau đó gian nhà trở lại im ắng hoàn toàn.
Có tiếng lục đục ở trên gác, rồi ánh đèn chong bồng bềnh theo nhau trôi nhanh xuống. Quầng sáng vàng vọt soi rõ một ông Tư đang ngồi chèm bẹp ở dưới đất, giữa bầy chó lít xít, lăng xăng, nhộn nhạo xung quanh. Mắt ông lơ láo lạc thần, mặt ông bơ phờ xuôi xị, bộ ria quặp xuống, cây xà no văng tuốt vô vách. Hồi lâu sau ông mới hoàn hồn, run run cất tiếng, giọng khản đặc:
— Bà... bà nó đếm lại coi... còn... còn mấy con! Quyên... đâu, con tỏ mắt đếm thử lại coi!
— Thưa tía, còn lại có bốn con hà.
— Bữa nay mất thêm con nào nữa?
— Thưa tía, mấy con mất hôm rày không tính. Bữa nay mất thêm con Chinh Tây nữa. Mở cửa ra kiếm con Chinh Tây không tía?
Ông Tư lắc đầu khoát tay, giọng mệt mỏi:
— Chinh Đông, Chinh Tây cái giống gì! Bình Nam, Bình Bắc chi nữa con... ơi! Mấy con chó thậm ngu ngốc nầy!
Rồi Ông trở mình ngao ngán:
— Thôi! Dẫu sao thì tối nay “ổng” cũng đã no cái bụng của ổng rồi, để sáng mai hẵng tính...
Góc nhà, bầy chó vẫn chỏ mỏ vào cái lỗ chó mà rít lên rền rĩ từng hồi... như điên loạn.
❃
Trời chưa kịp sáng, gà rừng vừa gáy le te, ông Tư còn nằm thở khò khè trên tấm ván dầu, con Quyên đã trỗi dậy. Nó tò mò mở cửa rào, ba chân bốn cẳng đánh một vòng rộng quanh hông nhà, xăm xúi đi thẳng về phía cái lỗ chó. Những gì trông thấy làm cho nó sững sờ, đứng chôn chân tại chỗ.Một hàng dấu chân cọp in sâu rành rành trên nền đất cát pha, từ phía bìa rừng, đi một hàng thẳng băng như kéo chỉ, cái nào cái nấy lớn xộn, bự bằng cái tô úp ngược. Con ác thú đã ngồi rình trước cái lỗ chó, bọt mép của nó còn đọng lại lênh láng. Nhưng lạ làm sao, ngồi rình mà nó lại quay lưng vào nhà, xây mặt ra ngoài.
Còn đây là dấu chân cọp lúc quay về rừng. Càng lạ hơn nữa là bận về con cọp chỉ phóng có ba chân, hai chân sau và một chân trước, còn một chân nó phải quành ra đằng sau để giữ yên một vật gì đó cõng nặng trên lưng. Dấu chân cọp kéo dài tới mí rừng là hết. Con vật đã phóc một cái vào rừng, chỉ còn sót lại một vết máu sậm màu, rơi vãi dưới đất và một túm nâu nâu lông chó phất phơ trước làn gió sớm.
Tất cả vết tích của Chinh Tây đại tướng quân để lại, chỉ còn có vậy...
❊
Hôm sau, ăn cơm sáng dằn bụng xong là ông Tư đã đi mất biệt... Đi đâu, làm gì, cả ngày ở đâu? Không nói cho ai biết hết! xế trưa, từ trong rừng ổng ôm về một mớ lỉnh kỉnh gồm mấy sợi mây lão và hai gộc tre già.Ông rị mọ ngồi chẻ dây mây rồi tằn mằn bện, bện rồi chẻ tiếp. Cả nhà càng ngạc nhiên hơn nữa khi thấy ông nới rộng thêm cái lỗ chó. Hai gộc tre vạt nhọn, ông đóng ngập xuống đất, sát hai bên lỗ chó. Ông còn buộc thêm vào hai gộc tre kia một thanh gióng ngang to tướng bằng thân tre đực. Dây mây đã bện, ông néo lại cho thiệt chắc, giống y như hai cái hình chữ thập dính khắng vào nhau. Tất cả lại được gia cố thêm một lần mây dẻo vào hàng cột nhà, vào tấm vách gần đó. Ông Tư rị mọ mất cả buổi chiều, còn đương hì hụi thì con Quyên đã mon men lại gần, chắp tay sau đít, tò mò hỏi đon hỏi ren:
— Tía mần cái chi ngộ quá vậy tía? Tụi con có chơi được không?
— Đi chỗ khác chơi! Con nít biết gì mà hỏi! Tránh ra cho người lớn mần việc.
Con Quyên sững sờ, vô cớ bị tía nạt nộ mà không biết lý do. Tủi thân, nó đứng úp mặt vô vách khóc rấm rứt.
Ông Tư ân hận, thấy xót xa trong lòng. Nội trong cái nhà nầy, ông cưng con Quyên hơn ai hết thảy, chỉ có nó là dám nhõng nhẽo với ông thôi, mà cũng chưa bao giờ ông lớn tiếng nạt đùa, nạt vãi với con như bữa nay...
Ông kéo nó lại gần, vuốt tóc con rồi dịu giọng an ủi:
— Thôi con đi chỗ khác chơi đi, chuyện nầy là không được nói ra với ai hết, kể cả vợ con. Nói trước mất linh.
Con Quyên gặng lại:
— Tại sao mà nói trước mất linh vậy tía?
Chịu hết xiết, ông Tư đổ quạu, trừng mắt nạt:
— Cha mầy! Con chó con! Đi chỗ khác chơi! Tía đánh cho nứt đít bây giờ. Đừng thấy tui cưng rồi hỗn, cái gì cũng hỏi, tía lia cái miệng, trả lời phát mệt. Hỏi dần lân muốn lòi con trê luôn vậy hà...
Con Quyên há miệng tính bắt bẻ: “Hỏi dần lân muốn lòi con trê là hỏi làm sao vậy tía?” Nhưng thấy ánh mắt ông Tư quắc lên, nó đành nuốt ực câu hỏi vô miệng rồi lỏn đi nơi khác. Trời chạng vạng tối, đã quá giờ ăn cơm chiều. Tháng Mười, ở rừng trời sụp tối rất mau.
Con Quyên ngủ một giấc ngon lành. Vào khoảng canh ba, tự nhiên nó thức dậy, tỉnh rụi như đã thức sẵn tự hồi nào. Có ánh đèn dầu le lói rọi qua kẽ vách và tiếng người rì rầm nho nhỏ bên buồng bà Tư. Nó tuột xuống giường, rón rén bước lại gần, áp tai nghe ngóng. Đêm khuya thanh vắng, tiếng ông Tư văng vẳng:
— Bà cầm cây xà no nầy, còn cây mác thong kia thì giao cho thằng Lực.
Tiếng bà Tư run run:
— Còn con Quyên, ông tính sao?
— Thôi! Nó là con gái, để cho nó ngủ.
Có một việc gì thật trọng đại sắp xảy ra, Quyên không biết đó là việc gì, nhưng Quyên cũng lờ mờ cảm nhận được rằng, có một bí mật nào đó đang lởn vởn trong bầu không khí, hình thành qua những việc làm lạ lùng của cha, cùng với thái độ phục tùng của mẹ.
Bò lẩn ra ngoài thang gác. Quyên nằm ép bụng xuống sàn, thò đầu dòm xuống, từ đây nó dễ dàng quan sát quang cảnh dưới nhà. Trong nhà tối om, mãi một lúc lâu sau, mắt nó mới quen lần với bóng tối. Cái đống ngổn ngang kia chắc là mấy con chó còn sót lại, không biết bị gì mà nằm im re không cục cựa. Còn cái hình bóng vạm vỡ núp sau gốc cột kia, chắc chắn là ông Tư. Bên trái ông, hẳn là bà Tư đang núp sau cái mái bọng, tay hờm sẵn cây xà no. Còn bên phải, phía sau gốc cột nhà, cái hình bóng nhỏ bé đang lăm lăm cây mác thong trong tay, thằng Lực đó chớ còn ai nữa.
Canh ba lần lần trôi qua, cả bọn thỏn mỏn lần, nhứt là con Quyên vì nó phải nín thở hoài, không dám thở mạnh. Bỗng ông Tư tằng hắng một tiếng, cả bọn lại hờm hờm chồm dậy, tư thế sẵn sàng. Qua khe hở trên gác, Quyên nhìn ra phía bìa rừng. Trời mênh mông, trăng sáng vằng vặc, khoác lên cảnh vật một màu xám bạc lạnh lẽo. Lúc đầu nó không thấy có điều gì khác thường. Bỗng nó lạnh gáy khi nhận ra một bóng đen từ phía bìa rừng đang lướt nhanh như bay về phía ngôi nhà, lúp xúp băng qua cây nhỏ, bụi to, êm ru không gây ra một tiếng động.
Bóng đen khuất sau một chòm cây tối đen, một lúc lâu sau lại thấy xuất hiện trở lại dưới ánh trăng. Ở khoảng cách nầy, Quyên đã nhận ra đó là một con cọp lớn, bằng cỡ con bò mộng. Con cọp thong thả bước lại gần nhà rồi ung dung ngồi xuống, chồm hổm như người, đưa lưng về phía cái lỗ chó, day mặt ra ngoài. Nó ngồi yên lặng, tư thế vững vàng như người đi đại tiện.
Một con rắn cạp nong to bằng cườm tay có khoang đen, khoang trắng lẫn với những khoang vàng lù lù xuất hiện, ngoe nguẩy bò vào. Lần nầy, nhờ ánh trăng chiếu sáng nên những người trong nhà nhận được ra ngay, con rắn mọc lông kỳ dị ấy là cái gì rồi.
Con rắn đập mình lạt sạt từ phải qua trái, rồi từ trái sang phải, đánh thành một vòng rộng để khiêu khích lũ chó. Lần nầy thì không có con chó nào chồm lên hết, vì ông Tư đã cẩn thận bó chúng lại như những đòn bánh tét từ hồi đầu hôm rồi.
— Chết tía mầy rồi!
Tiếng ông Tư rít lên the thé, ông lao mình tới, túm ngay lấy đầu con rắn. Không! Không phải đầu con rắn, phải nói lại cho trúng, đó chính là chót đuôi ông cọp.
Tưởng chắc ăn như thường lệ, con cọp xoay mình quấn đuôi vào tay ông rồi giật mạnh, điệu nghệ như ngư ông giật cần câu cá.
— Ăn quen mửng cũ làm lại hả con!? Chuyến nầy chết tía mấy nghen con!
Hai bàn tay ông Tư, như hai cái kềm sắt, xiết thật chặt chót đuôi ông cọp, hai cánh tay gồng lên, bắp thịt nổi vồng lên từng múi, từng múi to. Hai chân ông rùn xuống trung bình tấn, hướng về phía trước, cả hai đầu gối chịu vào hai gốc tre lão, ông vận nội công ra sức rị lại. Vậy mà cú giựt đầu tiên của con vật, dũng mãnh đến nỗi, làm cho ông nhào đầu vô vách, u lên một cục, bự bằng trái ổi, suýt chút nữa ông đã vuột tay.
Lợi dụng lúc con cọp lùi đít lại để lấy đà cho cú giựt tiếp theo, ông Tư đã lẹ làng luồn cái chót đuôi con vật qua thanh gióng ngang, ông còn bình tĩnh ngoai thêm một vòng nữa cho chắc án. Cú giật thứ hai, cả ngôi nhà sàn rung rinh cơ hồ như muốn sập. Có tiếng đổ vỡ răng rắc ở trên gác.
Trước khi con cọp kịp giật đến cú thứ ba, ông Tư đã thét lên lanh lảnh.
— Bà nó đâu! Thằng Lực đâu! Tiếp coi! Chết hết rồi sao?
Im lặng, không có tiếng trả lời...
Đến cú giật thứ tư, đã có tiếng răng rắc phát ra từ phía thanh tre đực. Thanh gióng ngang chắc như vậy mà cũng phải oằn lại như cánh cung, run lên bần bật.
Toàn thể ngôi nhà chao đảo, những cú giật mãnh liệt của con quái, đã làm cho cả ngôi nhà lung lay như cái răng bà lão, như cây non tróc gốc, vặn mình trong cơn bão lớn.
Đáp lại những tiếng la giật giọng, khản đặc của ông Tư chỉ có một sự im lặng nặng nề.
Bà Tư điếng hồn, hai chân bà khuỵu xuống, hai tay run run không cầm nổi cây xà no. Còn thằng Lực thì hồn bất phụ thể, mụ mẫm cả người, răng đánh bò cạp liên hồi, cây mác thong đã rời khỏi tay nó cắm mũi xuống đất tự lúc nào. Một vệt sẫm màu, bỗng loang rộng ra ở ngay chính giữa đũng quần, có tiếng nước rỏ lỏn tỏn xuống đất, đọng thành vũng lênh láng giữa hai bàn chân.
ông Tư không còn la lối gì được nữa vì cái chót đuôi ông cọp đẫm mồ hôi tay, đã trở nên trơn tuột. Ông phải ngưng la, hả miệng thiệt to, ghé răng cắn chặt vô chót đuôi con vật, quay hàm bạnh lại, mồ hôi túa ra ròng ròng, chảy xuống hai mắt cay xè. Ông chỉ còn nước trân mình chịu trận, hai tay bịn chặt, nghiến răng ghị lại, mặc sức cho con quái nó giựt đuôi, nó chòi, nó đạp. Bụi đất bay tung mù mịt.
Giữa lúc thập tử nhất sinh đó, bỗng có tiếng thét lên lanh lảnh:
— Còn con đây chi tía! Ráng ghị chắc nó đi tía!
Một bóng đen nhỏ bé tuôn vẹt ra, xô dạt hai con người như hai hình nhân đứng bất động trời trồng, làm cho họ ngã ngửa lăn cù ra đất.
Bóng đen mạnh dạn mở cửa chính, ào ra sân. A thần phù xốc lại gần con quái, bóng đen lấy hết sức bình sinh vung lên một vật gì to tựa cái chày rồi dang củ lừ táng mạnh xuống đầu chúa sơn lâm.
Con quái hốt hoảng, hộc lên một tiếng kêu đau đớn, rồi bắt đầu rống lên những tiếng cà um, cà um vang trời.
Trong suốt cuộc đời của chúa sơn lâm, nó chưa bao giờ phải chiến đấu với một đối thủ nào mà lạ lùng đến như vậy. Ánh trăng xanh lạnh lẽo, soi rõ mồn một, cái thân hình mảnh dẻ, tóc tai tung bay xõa sợi, môi mím chặt, mắt tóe lửa, thở hồng hộc, liên tục vươn mình lên cao, thật cao, quay chày nện những nhát to đùng xuống sọ dừa của chúa sơn lâm, cắc cùm cum, liên tu bất tận như thường ngày vẫn cắc cùm cum, quết bánh phồng.
Con quái không còn hơi sức đâu để mà giựt đuôi nữa. Vừa rống cà um, cà um, nó vừa múa loạn xạ hai chân trước lên đầu, như điên như dại, cốt là để che cho cái sọ dừa. Giả tỷ lúc đó ông Tư, có mà thả đuôi của nó ra, chắc chắn con quái sẽ cúp đuôi vọt thẳng về rừng, chứ nó không còn hồn vía đâu mà chiến đấu nữa.
Gió rừng vù vù thổi mạnh, cái bóng đen nhỏ bé vẫn quay chày nện liên tu bất tận. Mình mẩy ướt đẫm mồ hôi, đầm đìa như tắm, nhứt là trên trán, mồ hôi mẹ, mồ hôi con tươm ra nườm nượp, cay xè cả mắt, mặn quéo cả lưỡi.
Hai chân sau con vật, tống mạnh từng đợt, từng đợt sàn sạt ra sau. Bụi cát tung bay mù mịt, phủ trùm mặt mũi ông Tư khiến cho ông cơ hồ như ngạt thở. Thốt nhiên, một mùi thúi hoắc, khai nồng, gay gắt xộc thẳng vào mặt làm cho hai mắt ông cay xè, nước mắt, nước mũi tuôn ra choàm ngoàm. Thì ra, trong cơn hấp hối, con cọp đã vãi cả phân tươi lẫn nước tiểu nóng hổi ra ngoài, trây trét nhẩy nhụa lên đầu lên cổ ông Tư.
❃
Áp lực tự nhiên giảm hẳn xuống. Căn nhà sàn không còn rung rinh theo từng đợt trì kéo nữa, thanh gióng ngang trở lại bình thường, cái đuôi cọp giãn ra, thả lỏng xuống. Tiếng cà um yếu lần, yếu lần rồi dứt hẳn, con vật lúc đó chỉ còn thở thoi thóp...Cát bụi lắng xuống, cả cái thân hình to lớn khổng lồ của con vật bỗng gò lại, nấc lên một cái mạnh rồi từ từ giãn ra. Hai chân sau run run co giật vài cái rồi từ từ xuôi ra đàng sau, ngay đơ cán cuốc...
Từ trong đám phân cọp nồng nặc, nóng hổi đùn ra phủ kín mắt mũi ông Tư, bỗng có tiếng vo ve như tiếng muỗi đêm hè. Một đốm sáng xanh lè, nhỏ rí như con đom đóm ma xuất hiện. Đốm sáng nầy thoát ra từ ngõ hậu môn của con cọp đã tắt thở. Đóm sáng xanh cứ lấp la, lấp lánh, chập chờn, lúc ẩn, lúc hiện, vo ve quanh đầu ông Tư hoài rồi thừa lúc ông hết hơi phải lấy sức hít mạnh vô một cái, đốm sáng ấy thình lình chui tọt vào kẽ hở giữa hai hàm răng của ông. Ông muốn khạc ra cũng chẳng được vì răng vẫn còn mắc kẹt chót đuôi ông cọp, chưa kịp nhả ra. Cục hầu chạy lên chạy xuống mấy lần, ông đã nuốt ực con đom đóm quái dị kia rồi...
❃
Quyên! Đúng vậy! Cái bóng đen nhỏ bé dũng cảm đó chính là con Quyên. Như trong con mê, nó vẫn mụ mẫm quay chày, nện liên hồi kỳ trận vào cái đầu khổng lồ bể nát như cái hột vịt móp mà chúa sơn lâm thì đã ngủm cù đeo từ hồi nảo hổi nao rồi. Máu từ trong cái mõm cọp há rộng, vẫn còn tuông ra òng ọc như con nít ọc sữa. Ông Tư đuối đừ, buông tay ra, trở mình nặng nhọc nói: “Thôi con!”. Chừng đó nó mới lả đi, buông rớt cái chày rồi rũ người xuống đất như một tàu chuối héo.Theo những tin tưởng rất lâu đời của dân sơn tràng, liệp bộ: các con thú dữ, nhất là loài cọp, một khi chết đi, “tướng tinh” của chúng sẽ xuất ra theo ngõ hậu môn, bay thẳng lên trời. Trong trường hợp của con quái nầy, cái chết ập đến quá nhanh chóng, sự đau đớn cùng cực đã làm cho tướng tinh của nó khi xuất ra cũng trở nên hoảng loạn, ngớ ngẩn, xẹt dọc, xẹt ngang, bay tứ lung tung, lộn xà ngầu. Chính nhờ sự tình cờ hi hữu ấy mà ông Tư đã nuốt nhầm “tướng tinh cọp chúa”, con cọp hùng vĩ nhất đàn.
Nuốt được tướng tinh cọp chúa thì được lợi ích gì, là rủi hay là may, là phúc hay là họa, hay là trong phúc có họa cũng chưa biết chừng, muốn biết thì phải xem tiếp hồi sau mới rõ. Chỉ biết rằng, kể từ ngày đó trở đi, không còn mất thêm một con chó nào nữa, và đám thú dữ ở trong rừng, hễ nhác thấy bóng ông Tư đi tới đâu thì thảy đều cúp đuôi, mọp sát xuống đất, xếp re một nước.
Chú thích:
[40] Phong điều vũ thuận: chỉ thời tiết thuận hòa (phong đăng hòa cốc).
[41] Tửng: mua lại, sang lại (gốc tiếng Quảng Đông).