Kỳ Ảo Đất Phương Nam

Lượt đọc: 6551 | 4 Đánh giá: 8,5/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
HỒI THỨ BỐN MƯƠI BỐN
mạc ác bất tác, vỏ ác bất vi, trời sanh chi kẻ vô nghì bất lương.

TAY ANH CHỊ BỰ

Gốc gác va ở đâu, tên thật là gì, thiệt tình cả làng của mình cũng không ai biết nữa. Một sớm va quá giang ghe đường của bà Ba, đổ bộ xuống chợ Sơn Đốc rồi cố lì ở luôn dưới đó.

Lông mày như cái chổi cùn, xếch ngược rậm ri, gờ trán thấp tè như trán con đười ươi. Một vết thẹo lồi đỏ hói, bóng lưỡng như bị ai đó chém bằng búa đẽo, giống hệt con thằn lằn đeo, từ màng tang cong theo lưỡng quyền, kéo dài xuống tận cằm. Bà con mình quen tật thấy mặt đặt tên, nên mới chết danh là Ba Búa.

Va ở trần thì đen trạy như bức tượng đồng đen, khoe ra hết ráo mấy cái hình xăm chi chít. Dù không muốn nhìn mà mấy cái hình nó cũng đập vô mắt của người ta, vì tứ thời bát tiết va ở trần trùi trụi có chịu mặc áo hồi nào đâu. Ói thôi! Lăng quằng lích quỵch, hằm bà lằng đủ thứ: chữ Tây, chữ u, chữ Miên, chữ Tàu, chữ Quấc ngữ, chữ nào cũng có. Thầy đồ ướt có lần đeo mắt kiếng vô, lõm bõm đọc được câu: “ninh thọ tử, bất ninh thọ nhục” mà va xăm choàm ngoàm ở ngay giữa bụng.

Hai cánh tay u nần, xăm hai câu Nho, Nôm đối xứng. Màu chàm tuy đã phai cùng với năm tháng nhưng tôi cũng đọc được là: “Kiến nghĩa bất vi vô dũng giả[125]/ Hận tình không trả chẳng anh hùng”.

Sau cái lưng chè bè tấm thớt, người ta có thể chiêm ngưỡng tác phẩm “Long Hổ hội” với một nghệ thuật xăm mình hết sức bình dân: một ông cọp xanh nhe nanh múa vút, đang giỡn cùng với chị rồng đỏ nằm khoanh.

Giữa ngực va nổi vồng lên hai câu chữ Phú-lang-sa: “La richesse attire les amis. La pauvreté les eloigne”[126] , mà va thường ba xí ba tú xổ ra cả tràng tiếng Tây ba rọi, rồi cắt nghĩa rân trời đất, một ngày cả chục lần cho đám con nít hâm mộ vây quanh: “Phú quý đa nhân hội, bần cùng thì bà nội cũng xa”. Theo như lời va thuật lại, thì nguồn gốc hai câu chữ Tây nầy, là do một bạn tù quốc sự xăm cho va, lóng va còn đập đá ở ngoài Côn Lôn hải đảo.

Công phu “Xin tả” thì va chê là đổ bỏ, thứ đồ con nít chơi, không đáng ngó tới, va phải lặn lội qua tận xứ Chùa Tháp học “gồng Miên” hết mấy năm liền. Còn dấu tích của những tháng năm lang bạt khắp vịnh Xiêm La, lê lết gần hết các lò “bốc Xiêm”, va trình ra cho mọi người coi. Đó là một sợi dây cà tha, sênh được ở chùa Xiêm chánh hiệu, gồm có một tượng Phật nhỏ bằng vàng y, gói gọn trong miếng 

lá chì dát mỏng, khắc ngoằn ngoèo toàn bằng những chữ trùng, chữ dế. Tất cả được thắt lại bằng một sợi dây ngũ sắc, đeo chéo từ trên cổ, lòng thòng xuống đến tận một bên nách.

Hễ mở miệng ra là chửi thề giòn rụm, mẹc xà lù rôm rốp như một anh lính Tây săn đá, chắc là để bắt trớn mà nói cho dễ. Không ai biết chắc va có chơi bùa, nuôi ngải hay không, nhưng thấy va không ăn thịt sừng thịt sủa và cũng không bao giờ dám đi dưới sào quần áo, nhất là quần áo của chị em phụ nữ. Lâu lâu lại thấy va biệt tăm biệt dạng một thời gian, tưởng đã chết bờ chết bụi ở đâu đó rồi, phải được vậy thì bà con cô bác người ta cũng mừng. Xóm làng thanh bình đâu được chừng năm bữa nửa tháng. Dè đâu, một sớm tinh sương, đã thấy va ngồi chễm chệ ăn hủ tíu trong quán chú Cựng, mặt mày tươi rói tươi chong. Hỏi: “Đi đâu mất biệt hổm rày?”. Vinh cái mặt lên trả lời: “Về núi sênh lại ngải chớ đi đâu”.

Rượu uống như hũ chìm, hai con mắt trừng trừng vằn lên những tia gân máu. Trong bàn nhậu có người vô tình nhắc tới mấy tay đạo sĩ trên núi Tà Lơn, va lại cười ngất, khinh thường. Với giọng nửa nạc nửa mỡ, va ám chỉ rằng mình đã từng ăn dầm nằm dề, chà lết nhiều năm trên núi, khi thì cặp kè bá cổ choàng vai, lúc lại gác chưn nằm ngủ với mấy tay cốc chủ, quán chủ hoặc am chủ đầy nhóc ở trển. Còn như có ai đó cắc cớ đeo theo, hỏi phăng riết tới cho va bí lối thì va đánh trống lảng không thèm trả lời, hoặc ti hí đảo đôi tròng mắt rắn, rồi trả lời ăn trớt.

Còn cái nầy nữa mới ghê, mười mấy năm nay, tôi không dám nói cho ai biết hết, vì nói ra nó kỳ cục lắm. Bữa nay, vui miệng tôi mới nói nhỏ cho một mình chú nghe thôi. Có một thứ mà va giấu kỹ, còn hơn là mèo giấu cứt. Lần đó tình cờ tắm sông, va mới trịt quần xuống cho tôi coi: “Quỷ thần ôi! Có ai mà dị hợm như vậy không hè!”. Dưới rún một chút, va xăm choàm ngoàm hình một con mẹ đầm lõa thể. Rồi va còn biểu diễn, phình bụng hít vô, hóp bụng thở ra, làm cho cái hình con mẹ đầm ở truồng ngồi tèn bẹt đó, hẩy tới hẩy lui, ngó coi tục tĩu lắm...

Và cuối cùng, trên hết mọi huyền thoại, là cái nanh heo rừng độc chiếc, dài cả gang tay, hai đầu bịt bạc cong quéo, va đeo lủng lẳng ở trên cổ. Dẫu mạnh như đạn súng Mút-cơ-tông của Tây, có nhắm va mà bắn thì cũng bị nó hất cho vẹt qua một bên, bay trớt quớt ra ngoài.

❃ 

Làng quê của mình thuở trước, lâu lâu cũng có một tay du thủ du thực, trôi sông lạc chợ, ở đâu dạt tới, như lục bình trôi tấp vào cái làng nhỏ này rồi dính gốc dính rễ, dính chùm luôn ở đó. Nó muốn ở bao lâu thì nó ở, chừng nào muốn đi thì nó đi. Trên các tờ “Lục tống”[127], dán nhan nhản ở ngoài Nhà việc[128], đôi khi cũng có thấy dán một bức họa đồ hình, vẽ chơn dung một người xâm mình. Dù lần nào người họa sĩ cũng không quên vẽ thêm trên mặt, một vết thẹo in đè, như một dấu triện thự danh. Nhưng vì kỹ thuật in ấn thời đó còn 

quá thô sơ, nên không ai dám quả quyết, đó có phải là mặt thật của va không nữa.

Va đặt đại bản doanh tại tiệm nước chú Cựng đầu làng. Va tiếp khách ở đó, bàn công ăn việc làm cũng ở đó, thanh toán tiền nong, ân oán giang hồ gì cũng ở đó. Mặc kệ, không cần biết chủ tiệm có bằng lòng hay không. Tối đến, muốn đóng cửa tiệm, chủ quán phải xuống nước, năn nỉ thiếu điều gãy lưỡi thì va mới chịu ra ngủ ngoài thớt thịt nhà lồng. Hôm nào trời lập đông, se se lạnh thì về miễu ông tà ngủ đỡ.

Để có đủ tiền cung phụng cho bốn tấm vách hư[129], mà tấm nào va cũng va đầu vào hết ráo, cho nên bất cứ công việc gì dù ác nhơn thất đức tới đâu, ai cậy va cũng làm tuốt mà chẳng cần hỏi nguyên do, hà cớ. Miễn sao chung chi cho hậu là được. Nợ cờ bạc là nợ khó đòi nhứt, vậy mà mướn va là đòi được ngay. Va là cánh tay đắc lực, trung thành nhứt của bà Ba, giao việc gì cho va, va cũng phụng mạng làm tuốt: đòi nợ mướn cũng va, chém người lấy thẹo cũng va, cào nhà xiết ruộng cũng va. Mà cái bà Ba nầy lại là chỗ thân tình với ngài chủ tỉnh, cho nên ông làng ông xã gặp nó cũng còn lấm lét, không biết cách chi mà “bứng” nó đi cho đặng, chỉ thầm rủa lén sau lưng. Nợ nào khó đòi, bà Ba chỉ cần trở giọng hăm he: “Tôi để cho Ba Búa tới nhà, nói phải quấy với mấy người. Chừng đó, mấy người chớ có hòng mà lạy lục uổng công”. Tức thì con nợ sợ líu, xuống nước riu ríu, một xu cũng không dám thiếu, xin chồng đủ cả vốn lẫn lời.

Thằng con nít khóc nhây, dai nhách như giẻ rách. Má nó dỗ hoài không nín, bí quá mới chỉ đại vô một ông nào đó đang đi xa xa ở trên đường: “Ba Búa vác bị tới kìa!”. Đứa nhỏ lập tức ôm cứng lấy má nó, nín dứt như đờn đứt dây...

Trong điền bà Ba, va chỉ nể oai có một người, không cần nói ra thì chú cũng biết. Va phải công nhận là Hai Thành đã học hết công phu chân truyền của thầy Bộ Dực, và cũng chính mắt va đã từng “thực mục sở thị”, trận “so cựa” để đời giữa Hai Thành với võ sĩ vô địch Sáu Cường thuở ấy. Va vẫn thường nhắc: “Ở bên Minh có Lê Hữu Vĩnh, bên Bảo có Lê Quang Thành” một cách trân trọng, khác hẳn với cái thói vúc vắc ngang tàng, coi trời bằng cái vung... nồi cơm của va.

❃ 

Bài bạc quen tay, ngủ ngày quen nết. Năm đó không biết có phải tại “sao Thái Bạch sạch cửa nhà” nó chiếu thẳng chong vô cái bản mệnh của tôi hay không mà bài cây, thín cẩu, tôi rớ đâu thua đó. Cũng có lúc vận hên, xọc xạch trong túi bạc chục, bạc trăm, nhưng mà cái giống cờ bạc, hễ thua vài xên bạc thì say máu ngà, nóng mũi phải gỡ. Thua me, gỡ bài cào, gỡ đâu không thấy, càng ngày càng lậm, hết chục nầy lại đến trăm kia, rốt cuộc rồi cũng thua tróc đít. Không tiền thời thôi, có tiền thì máu cờ bạc nó sôi trở lại. Mấy tay lấy xâu, làm hồ có đúc kết một câu chân lý mà bây giờ nghĩ lại tôi mới thấy thấm: “Dân cờ bạc, giàu giờ ngọ, khó giờ mùi, tiền ăn cờ bạc chỉ có nước 

đem về xây mả đá cho ông bà, tiên tổ thì tụi tui mới chịu thua, không lấy lại được. Chớ có mua nhà, sắm đất, thì không bao lâu, cũng phải cầm cố hoặc bán sạch, mà “cúng” lại hết cho tụi tui”.

Nãy giờ kể lể dài dòng, đầu đuôi khúc ngọn, là để cho chú thương. Chớ tôi mà “rạt gáo”, nợ nần ắp lẫm, lút đầu lút cổ... là cũng bởi con sâu cờ bạc, nó rọ rạy hai bàn tay. Bị chủ nợ dí ngày dí đêm, tuy chưa đến nỗi phải rinh bộ lư đồng trên bàn thờ mà đem đi cầm, chớ cái viễn cảnh phải bán nhà, gán ruộng, dợ vợ, dợ con đã tới thật gần, tình thế ngày thêm quẫn bách.

Thiệt! Thiếu gạo không sợ, thiếu áo không sợ, thiếu nợ mới sợ, vì bóng chủ nợ ngày nào cũng lấp ló ngoài sân, ông nọ chưa bước chân ra khỏi bực thềm, thì bà kia đã ngồi chần vần ngoài ngõ. Cận Tết, chủ nợ ngồi chật cả hai bộ ván ngựa, lấn tuốt ra tới bộ vạt cau ngoài mái hiên. Có chị kia tới trễ, đứng sựng rựng. Vợ tôi thấy tội mới ngoắt lại, chị nọ mừng húm, chắc mẻm phen nầy chủ nhà để dành tiền trả riêng cho mình nên mới hý hửng lại gần. Vợ tôi nghé tai nói nhỏ đủ nghe: “Ngày mai, nhớ tới sớm mới có... chỗ ngồi”.

Mỗi lần bước chưn về tới nhà, thấy cảnh nợ đòi tới đít, vợ đau rề rề, con đói khóc nhề nhệ. Thiệt! Nói có trời làm chứng! Nếu không vì núm níu vợ con, chắc tôi cũng liều “quăng dây, đạp ghế’ cho xong.

Đúng lúc thắt ngặt đó thì bà Ba sai người tới kiếm tôi, ứng trước cho tôi một số tiền lớn, bắt phải đi theo Ba Búa một chuyến, hứa xong việc còn thưởng bạc thêm. Thiệt là! Buồn ngủ gặp chiếu manh, còn mong gì hơn nữa. Mặc dù trong bụng tôi cũng thấy hơi ngờ ngợ. Cái bà “mạc ác bất tác” nầy, hiệp cùng với cái thằng “vô ác bất vi” kia, thì đời thuở nào mà họ làm chuyện gì nhơn đức như người ta đâu. Lương tâm của họ - nếu như họ còn có lương tâm - chắc cũng đã cùn, không còn cục cựa hay nói vô nói ra gì nữa...

 ❊

Con nhỏ cứ nằng nặc đòi qua miệt Tân Hưng thì mới có heo giống tốt. Nó nói, nó biết ở miệt đó, có những lưu dân từ Gia Định chạy về, họ có đem về giống heo Đồng Nai, vừa đẻ sai, vừa dễ nuôi, mau lớn mà họ lại bán rẻ nữa.

Hổng nói giấu gì chú, tụi này nhận bạc của bà Ba có phải là để mua heo, mua cúi gì đâu. Nói trớ ra là đi mua heo giống theo lịnh của bà chủ, chẳng qua là để cho con nhỏ nó yên lòng mà đi theo thôi, chớ nó mà biết được, nó trì, nó kéo, rồi khóc lóc, rồi lạy lục van xin, năn nỉ ỷ ôi hay ngã lăn ra nằm vạ, có điệu được nó ra khỏi nhà thì cũng mệt cầm canh, làng xã người ta để ý. Lúc đó ở miệt Tân Hưng còn nhiều rừng rậm hoang vu, dân cư thưa thớt lắm, rất “hạp” với cái việc làm đầy ám muội nầy. Bởi vậy, mới vừa nghe qua là Ba Búa đã gật đầu cái rụp, y còn biểu con nhỏ đi trước dẫn đường. Vậy là cả ba người, cà rịch cà tang nhắm hướng rừng Tân Hưng trực chỉ.

Thiệt là tội nghiệp! Con nhỏ hồn nhiên hết sức, có biết chi đâu, cứ tung tăng đi giữa hai đứa chúng tôi, miệng hát nho nhỏ. Gặp cái bông gì đẹp ở hai bên đường, nó cũng đều ghé lại hái, giắt hết lên đầu. Nghĩ mà thương cho nó, còn nhỏ mà phải chết sớm, lại còn chết thảm nữa chớ.

Càng nhìn nó tôi càng mủi lòng, rớt nước mắt, nhớ tới con Đẹt ở nhà. Đồng tiền quả có sức mạnh vạn năng, vì nó mà có những việc, dù ác nhơn thất đức tới đâu, người ta cũng ráng làm cho bằng được. Tôi đâm ra giận cái thân tôi, quỷ chưa thành quỷ, người chẳng ra người. Phải chi tôi đừng đam mê, mắc tròng cờ bạc, lãnh bạc trước của bà Ba thì đâu đến nỗi phải làm cái chuyện ác nhơn thất đức như vầy.

Từ đó về sau, suốt dọc đường, tôi cố tránh, không dám nhìn thẳng vô đôi mắt ngây thơ của nó. Chú nghĩ coi, con mèo, con chó nuôi trong nhà, mình còn không nỡ làm thịt nó, huống chi đây là một đứa con gái trắng trẻo, dễ thương nhường ấy.

CÂU CHUYỆN Ở TRONG RỪNG

Nào ai học đặng chữ ngờ! Con nhỏ cái mặt còn non choẹt, khờ ịch, vậy mà mới vừa bước chưn vô tới cửa rừng là nó đã lanh hơn sóc. Như cá gặp nước, vừa mới xây qua xây lại, con nhỏ đã luồn rừng phóng chạy mất tiêu, bỏ lại đôi gióng gánh nằm lăn lóc trơ trơ dưới đất.

Ba Búa nổi cộc, hộc lên một tiếng chửi thề, rồi vung mác thong, chặt cây, vẹt lá rượt theo. Con nhỏ gò lưng na cái thúng nhỏ trước bụng giống hệt như con nhện mẹ ôm trứng, co giò phóng chạy veo veo như con cheo.

Hai thằng đờn ông chạy mệt ngất ngư, thiếu điều muốn hụt hơi, xịt khói vẫn không sao bắt kịp. Vậy mà mới vượt qua được một khúc quanh, đã thấy đứa con gái ngồi chễm chệ trên một tảng đá to, trước một bụi cây lá rậm ri, cái thúng để trước mặt. Nó tỉnh queo ngó thẳng vô mặt hai đứa chúng tôi rồi cười chúm chím:

— Hai chú chạy mệt dữ đa!

Ba Búa thở dốc, cái mũi sần sùi như quả cam sành đỏ ửng, hai cái lỗ mũi tẹt lét như họng súng hai nòng chĩa thẳng lên trời, phì phò thở như thợ rèn kéo bễ. Mệt quá hóa khùng, y chẳng nói chẳng rằng, co cẳng đạp cho đứa con gái một đạp té nhào. Rồi một tay y túm tóc nó, ngoai hai ba vòng, một tay y huơ cao cây mác thong sáng giới, miệng văng ra một câu chửi thề giòn khuớu:

— Ông nội cha mầy chớ mệt! Tao bung cho một đá rồi đời! Đ.m. tới giờ tận số rồi mà cũng còn dễ ngươi lờn mặt!

Đứa con gái, bấy giờ mới biết sợ, nó cúi đầu chắp tay, bái lia bái lịa như con nhái bị lột da:

— Chú Ba tha cho con! Chú Ba tha cho con!

Đó rồi nó mọp sát đất, ráng sức kéo cái thúng nhỏ lại gần, run cầm cập nó cúi xuống lục lọi, tìm tòi. Lát sau moi ra được một gói giấy dầu, lập cà, lập cập nó nói:

— Số tư trang nầy là của má con để lại cho con. Nay hai chú có cần thì cầm lấy xài trước đi, rồi tha chết cho con, làm ơn làm phước đi mà.

Ba Búa buông đứa con gái ra, sớt lẹ cái gói trên tay của nó. Y tung cái gói lên cao rồi thò tay đón bắt mấy lần, như muốn ước lượng coi nặng nhẹ thế nào, cặp mắt rắn ti hí của y không ngớt đảo qua đảo lại nhưng vẫn không rời đứa nhỏ.

— Bữa nay Ngọc Hoàng giũ sổ mầy rồi đó con ơi. Mầy có chết cũng đừng oán tụi tao. Có oán thì oán bà Ba đó. Bây ăn ở thế nào mà để cho bà chủ bả ghét. Hay là bây biết được chuyện chi bí mật động trời của người ta mà người ta muốn giấu.

Con nhỏ tuyệt vọng quá, nó quay sang phía tôi, hạ giọng năn nỉ:

— Chú Hai xin giùm con đi chú Hai! Con lạy chú Hai, tội nghiệp con mà chú Hai! Chú đừng có làm như vậy!

Giọng nó thảm thiết quá chừng, nghe mà đứt ruột. Nhớ tới đứa con gái nhỏ ở nhà, cầm lòng không đậu, tôi rớt nước mắt, xuống giọng rụt rè hỏi nhỏ Ba Búa:

— Hay là mình lấy vàng của nó rồi mình tha cho nó đi anh Ba. Tôi thấy tội nghiệp nó quá anh à. Mình làm chuyện thất đức như vầy, tôi e tội lút đầu, lút cổ đó anh Ba. Mình bắt nó phải thề bỏ đi biệt xứ. Mà nầy cháu gái ơi! Cháu có dám thề không?

Ba Búa sạm mặt lại, y nạt:

— Câm miệng! Đ.m.! Tha cho nó rồi ai tha cho tao? Bà chủ mà hỏi tới thì tao biết làm sao? Đ.m.! Mầy nhắm coi, tiền đâu mầy đền lại cho bả?! Mầy dám nghịch mạng với bả không? Mầy đã biết thế lực của bả rồi! Ở tù rục xương đó con! Dù có chạy lên trời cũng không thoát. Sao không thương cho cái thân của mày đó. Bán nhà, dợ vợ, dợ con, còn không lo, lo chi chuyện của người dưng nước lã. Không được! Chỗ nầy sao bằng chỗ bạc mà bà Ba trả công cho tụi tao. Thôi! Tao tính gọn như vầy! Mầy đã có lòng cho tụi tao vàng bạc, tao cũng không nỡ hẹp bụng chi mà không thí cho mầy một cái chết nhẹ nhàng ngọt xớt luôn, không đau đớn như “mấy con nhỏ trước”. Đ.m.! Bữa nay, cái giếng đó bị lấp rồi nên mầy mới được toàn thây mà chết như... vầy, như... vầy nè! Sướng... chưa?

Vừa nói y vừa ngửa đầu ra sau, đưa cạnh bàn tay lên khứa qua, khứa lại trên cổ. Biết không cách chi lay chuyển được Ba Búa, đứa con gái 

vừa run cầm cập vừa cóng róng lần tay vô ruột tượng rút ra thêm một vật khác:

— Hay là chú đem cái nầy về trình với bà chủ, nói là đã làm xong phần việc của bả giao. Ngồi ở nhà, chắc gì bà chủ biết được việc làm của hai chú ở đây!

Ba Búa hớt lẹ cái vật trong tay đứa con gái, y chắc mẻm nếu không là vàng bạc thì cũng là vật báu chi đây. Ai dè lúc xổ mạnh ra thì chỉ là một manh áo rách, vá quàng, có dấu máu đỏ lòm tươm ra ở cái lỗ thủng trước ngực.

Từ hồi biết Ba Búa tới giờ, tôi mới thấy y ngạc nhiên như vậy là lần đầu. Y trợn hai con mắt tròn xoe, đầy những tia gân máu đỏ ngầu lên nhìn chăm chú, nhìn sững sờ vào manh áo rách, cái thẹo bóng lưỡng, dài sọc của y giựt giựt liên hồi, lát sau y mới lắp bắp:

— Bà... mẹ nó! Mầy! Mầy Mầy... lận cái này trong lưng đem theo từ... từ... lúc mới bước chưn ra khỏi nhà. Vậy là mầy đã biết. Biết hết trơn hết trọi! Biết trước cả tụi tao nữa. Đã chuẩn bị kỹ càng, vậy mà vẫn sẵn sàng, ngoan ngoãn chịu đi theo tụi tao. Hồi nãy, lẽ ra mầy đã chạy thoát rồi, vậy mà không hiểu sao, vẫn ngồi nán lại để chờ tụi tao. Thuở giờ, tao chưa thấy có con mồi nào lại đi “bẹo” thợ săn như mầy. Thiệt! Tao... tao cũng hết... biết nổi mầy rồi. Nhưng mà con ơi! Ở đây rừng rậm hoang vu, la làng ba ngày cũng hổng ai tới cứu! Ông trời, ổng mà xuống đây, tao cũng hớt cho một mác... rụng đầu. Lần nầy tao đã đề phòng rồi, dù mầy có âm mưu gì, thì nhắm coi, ai cứu được mầy? Ất đâu! Trói nó lại cho tao. Ủa! Sao mầy nín thinh, ngó bộ mầy tiếc nó lắm hả?

Đứa con gái, bấy giờ mới trở mặt, bình tĩnh khoanh hai tay trước ngực, rồi huỡn đãi nói:

— Tôi đã năn nỉ hết lời rồi, mà hai chú vẫn không khứng buông tha. Vậy thì hai chú cũng chớ có trách tôi sao không nhơn đức.

Nói vừa dứt câu nó đã thọc hai ngón tay vô miệng, huýt lên một hồi còi dài lanh lảnh, như thổi kèn lá.

— Ái... chà... chà! Cái chị Hai... này! Cà cuống chết đến nơi rồi mà đít vẫn còn cay. Thổi kèn để tế ông bà ông vải mầy hay sao? Đ.m.! Ai mà tới đây, tao “phúp” cho một nhát rồi đời!

Ba Búa lẩm bẩm chửi thề rồi lừng lững tiến lại, cái bóng đen to lớn của y trùm lên toàn thân đứa con gái. Y hít một hơi dài, vận nội công, cơ bắp bành ra cuồn cuộn, gân cốt chuyển nghe răng rắc. Rồi hoành thân theo một thế võ, y huơ cây mác thong sáng giới lên cao, lấy thế xả mạnh xuống...

Tôi nhắm hít mắt, quay đầu đi, không dám nhìn cảnh tượng đau lòng đó...

Chú thích:

[125]Thà chết chứ không chịu nhục

[126] Giàu sang thu hút bạn bè. Bần cùng bạn hữu cũng xa, (Phú quý đa nhân hội, bần cùng thân thích ly)

[127]Lệnh truy nã

[128] Công sở, như ủy ban nhân dân bây giờ.

[129] Tứ đổ tường gồm: tửu, sắc, tài, khí


Nguồn:
Được bạn:Ct.Ly đưa lên
vào ngày: 26 tháng 11 năm 2025

« Lùi
Tiến »