Kỳ Ảo Đất Phương Nam

Lượt đọc: 6594 | 4 Đánh giá: 8,5/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Lời bàn của b.s Kỳ Hương.

Quyên, một đời, khóc có mấy lần...

Lúc được cọp Mun cứu thoát khỏi hang cọp. Nàng đã nức nở khóc thương cho cả nhà chết thảm, gởi thây trong bụng cọp.

Còn cái buổi chiều vàng nắng tắt cuối năm ở trong vườn hôm đó nữa chi. Lần đó thì khóc dữ đa. Khóc tới mờ trời, thúi đất, dỗ cách mấy cũng không nín! Bởi khóc vì thương phận mình mồ côi mồ cút thì ít, mà khóc để nhõng nhẽo, khóc để làm màu, để bắt xác người quân tử Hai Thành thì nhiều.

Còn cái trận khóc trong buồng Hai Phát. Nàng ân hận vì đã lỡ cắm dao vô lưỡi cậu ta, nên khóc vì sợ cậu... chết.

Còn trận khóc ngày hôm nay thì mới là khóc thiệt, khóc ròng, xuất phát tự đáy lòng, bởi xót thương cho một kiếp người.

Cậu Hai có đòi được sinh ra đâu, có lựa cửa mà đi đầu thai đâu. Sợ mà thương, nàng xót thương cho một linh hồn đàn ông trai tráng, bị nhốt trong cái tấm hình hài dị dạng mà nó không có quyền chọn lựa. Cũng giống như con gà bị nuôi trong cái ống tre, lớn lên nó mang hình thù cổ quái, dài và tròn như cái ống tre, thịt mềm múp, để ăn chớ bán chẳng ai dám mua. Thể xác của cậu cũng tuân theo mọi quy luật đấu tranh sinh tồn, tỷ như người mù thì thính giác của họ thính nhạy hơn chúng ta, vậy thôi. Nhưng thay vì phát triển như người ta, thì các giác quan của cậu lại “trổ sanh nghề lạ”, biến dị theo một chiều hướng khác. Không phải giác quan thứ sáu đâu, mà là thứ bảy, thứ tám gì đó.

Tuổi đương sức lớn, lại bị ép buộc phải trường chay, khổ hạnh thì cơ thể làm sao mà đầy đủ chất đạm tố chớ, cho nên mới phải “đói ăn vụng, túng làm liều”. Đòn đau nhớ đời nhưng món ngon thì khó bỏ. Chỉ có trời mới biết vì sao cậu chỉ thích ăn sống nuốt tươi cái món cá lóc tát đìa mà thôi. Có lẽ đó cũng chỉ là sở thích ăn uống của cậu, giống như mỗi người trong chúng ta, ai cũng có “gu” ăn uống riêng: có người hảo thịt gà, chê thịt vịt, có người chỉ ưa thứ cá có vảy như cá lóc, cá rô... mà không bao giờ dám ăn cá trê, cá tra là loại cá da láng, da trơn. Họ gớm, vậy thôi...

Giận mà... thương, đâu phải tự nhiên mà cậu sinh ra “đổ đốn” như vậy. Cha mẹ ăn ở làm sao để ông trời chơi ác. Đã bắt cậu phải mang một vẻ ngoài dị dạng nhưng lại cắc cớ, nhóm lên trong lòng cậu một ngọn lửa hừng hực yêu đương, một trái tim cháy bỏng khát vọng ái tình. Ác nghiệt thay, người gần gũi, thân cận nhất bên mình cậu lại là một người con gái. Cậu ta đã chứng kiến toàn bộ quá trình thay đổi ở Quyên, đứa bé gái ở rừng về. Từ một con vịt dẹt xấu xí, bỗng chốc lớn vụt lên thành con thiên nga phổng phao, mơn mởn đào tơ, mát da mát thịt. Có ai mà chịu đời nổi không? Cả đám nhơn loại giống cái trên thế gian nầy, đối với cậu chỉ gói gọn trong hình ảnh của người con gái duy nhất đó. Quyên đẹp đẽ, Quyên duyên dáng, Quyên dịu dàng, Quyên thông minh, nhân hậu mà đôi khi Quyên cũng dữ như bà chằn lửa nữa.

Năm tháng qua đi trong cảnh gần gũi thân mật giữa hai người, trai đơn gái chiếc. Cái gì tới thì nó phải tới. Cậu bé ngày xưa, giờ đây đã dậy mẩy trưởng thành hồi nào mà chẳng ai hay biết. Chức năng truyền giống vẫn không ngừng phát triển, cũng có sự rạo rực, tò mò giới tính, cũng biết thèm muốn chuyện khó nói ra mà ai cũng biết. Thì cũng bình thường thôi, ai chẳng vậy, đờn ông... mà, phải biết... cảm thông.

Cũng giống đàn ông, cũng con trai,

Cũng thèm “việc ấy”, kém chi ai,

Trời xanh quen thói, khôi hài quá,

Khối tình thác xuống tuyền đài chửa tan.

Chính vì vậy, mà tự nhiên giữa hai người, có một sự tương thông tâm ý lạ lùng và sâu sắc. Hễ Quyên suy nghĩ điều gì, muốn cậu làm theo việc chi, thì không cần phải máy môi nói ra nửa lời, có khi không thèm ra dấu mà cậu cũng hiểu. Còn về phần cậu Hai, trừ Quyên ra, cậu không cho bất cứ ai sán lại gần, nói chi đến chuyện đụng được vào mình cậu, kể cả bà Ba... má cậu. Thảng có đôi lúc hiếm hoi, cố nén sự gớm ghiếc, bà Ba cũng ráng ban phát cho cục cưng của bả vài cử chỉ âu yếm, vuốt ve, cậu đều vùng vằng hất tay bả ra. Từ đó về sau bả bỏ lún hết mọi việc cho Quyên, không thèm rờ rẫm gì đến ông con quý tử nữa.

Nghĩ cho cùng! Cậu Hai đáng thương hơn đáng trách. Nhưng ngoài Quyên ra, có ai dư nước mắt mà khóc thương cho tình yêu của một con người biến dị và héo tàn kia chớ!

Trong cuộc đời ngắn ngủi, đầy đớn đau, tật bệnh của mình, cậu Hai chỉ có một khối tình thủy chung như nhất, cậu yêu như một phản xạ vô điều kiện. Trước một tình yêu quá ư sâu sắc, ma quái và mãnh liệt như vậy, để kết thúc câu chuyện một cách chỉn chu, tác giả chỉ còn có mỗi một cách là: cho cậu chết. Vậy mới vãn tuồng! Hết chuyện. 

HẬU KỲ

Cố sự tân biên

Từ những ký ức tuổi thơ qua những chuyện kể đêm khuya của ông ngoại, đã khơi nguồn cảm hứng cho “Kỳ ảo đất phương Nam”.

Ông ngoại có cả một kho chuyện ma, một tủ đầy ních sách chuyện Tàu. Ông đọc truyện Tàu bằng nguyên tác. Chuyện ma thì ai nghe cũng khoái, nhưng mà sợ, vì cách diễn tả của ông rất sinh động, rất tân thời, không giống như những ông già xưa khác. Buổi tối ông hay cà rà lại gần đám con nít gạ kể chuyện ma. Lũ kia khóc thét bỏ chạy mất, còn tôi thì biết chạy đi đâu vì tôi ngủ với ông trên bộ ván kia mà.

Là một thầy thuốc Đông y có tiếng trong làng, ông vừa xem mạch hốt thuốc, vừa mở lớp dạy chữ Nho tại nhà. Ông ngoại cũng là người thầy đầu tiên dạy cho tôi đạo lý ở đời, ông rèn cặp tôi trên tinh thần tám chữ: “Kỹ sở bất dục, vật thi ư nhân”. Nhân vật ông già Năm cùng với bậc thức giả ưu thời mẫn thế trong làng được xây dựng trên chính hình tượng ông ngoại.

Kỳ ảo đất phương Nam được ươm mầm trên cái nền như vậy. Phát triển từ những chuyện kể đêm khuya của ông ngoại cộng thêm những câu chuyện có thật xảy ra trong giòng họ, và trong tỉnh Bến Tre.

Cuộc đất Thủy bái là cuộc đất có thật, người chủ sau cùng là người hiền lương nên cuộc đất Thủy bái đã che chở cho cả dòng họ qua hai cuộc chiến tranh tàn khốc, việc bán buôn ngày càng phát đạt.

Kịp đến những năm đầu thế kỷ nầy, nhà nước cho đắp đập, hàn kinh để ngăn nước mặn, cho nông dân có nước ngọt canh tác quanh năm. Không còn thủy triều hai bận lên xuống nữa, nước sông trở nên lình bình, cuộc đất bị ảnh hưởng không ít, tuy vẫn tốt nhưng không phát được như xưa.

 ❊

Chuyện tàu chìm đêm ba mươi Tết là chuyện có thật nhưng không nhớ rõ là tàu gì, Đồng Sanh hay Oai Lợi. Chọn tên tàu Đồng Sanh là để chơi chữ với “đồng tử”.

Những năm kinh tế khó khăn, vải xổ mắc mỏ, không nhập cảng được, dân chúng phải mặc bao bố. Có khi hai vợ chồng chỉ có một cái quần mặc chung, hễ chồng có việc đi ra ngoài thì được mặc quần, vợ phải núp trong buồng lấp ló, thấy ai tới thì giả bịnh nằm đắp chiếu. Bà ngoại liền xuống Ba Tri học nghề dệt, rồi bày ra trồng dâu nuôi tằm, trồng bông dệt vải, việc kinh doanh hết sức thuận lợi. Ghe vải chở đi bán khắp nơi trong tỉnh và các tỉnh lân cận, bà có mướn một thanh niên người Trung đi theo làm bảo tiêu cho ghe vải, do đó mới có tích “nhất trạo diệt quần ma”.

Chuyện “cái đôn sứ”, xảy ra đâu đó trong thị xã Bến Tre. Còn chuyện “giết thằng ăn trộm” thì xảy ra đâu đó ở trong làng. Cô Ba Kim Thoa là hình ảnh một bà cô già trong họ. Bà nầy bị chồng để, cưới vợ khác giàu có hơn. Chờ nhà chồng rước dâu về, bà hùng dũng xông vô đám cưới “giũ cho một giũ”.

Ba Búa, tay giang hồ tứ chiếng mượn từ hình ảnh một người bạch đinh trong làng, vốn rất hiền lành, bị Pháp bắt đi lính trong trận Đệ nhất Thế chiến (1914- 1918). Lúc hồi hương anh ta chỉ đem về cho vợ một cái bụng đói, một cặp giò mỏi, một tấm thân xăm trổ đầy những hình tục tĩu, nhiều chữ Pháp bồi, cộng thêm cái tật nghiện rượu, nghiện thuốc và thói quen hễ mở miệng ra là mẹc xà lù nghe phát mệt.

Ngọn gió lạ ba lần xuất hiện, được gợi ý từ ngọn Lạc mạo phong trong Bao Công kỳ án. Lần thứ nhất làm người bảo vệ, cố ngăn chặn một tai họa (cản không cho Quyên mở cửa rào thỉnh cọp vô nhà). Lần thứ hai làm một lương mai, để thành tựu một mối nhơn duyên. Lần cuối thành ngọn ác phong, để linh ứng một lời thề trước mặt cọp.

Lời cảm ơn chân thành

Trước tiên phải cảm ơn Trương Thị Yến, vợ hiền yêu quý, người biên tập đầu tiên. Nếu không nhờ giáo viên vợ đã không ngại tốn hao mấy chục cây viết đỏ, lặt ra cả giỏ (vừa lỗi chính tả, vừa lỗi văn phạm) thì sản phẩm này đã không được chỉn chu như ngày nay.

• Tới thầy Phan Nghi Linh, Giáo sư Đại học Văn khoa Sài Gòn cũ, cũng là người cậu yêu quý, đã cung cấp và hiệu đính rất nhiều tư liệu về Bến Tre để giúp cho tác giả hoàn thành tác phẩm này.

• Tới bạn hiền Nguyễn Đoàn Bảo Tuyền, Thạc sĩ Văn hóa học, Giảng viên Trường Văn hóa Nghệ thuật Thành phố Hồ Chí Minh, đã gián tiếp góp ý và giúp nhiều tư liệu về nói lái Nam Bộ, để hoàn thiện nên tác phẩm.

• Tới cô họa sĩ nhỏ Quỳnh Thơ, đã chịu khó thiết kế bìa và minh họa cho người cha rất ư là khó tánh này.

• Tới các nhà văn Nam Bộ xưa và nay với muôn vàn lời biết ơn và xin lỗi vì đã “chôm chỉa” quá nhiều văn liệu và ý tưởng của các vị. Nếu không nhờ những “văn liệu và ý tưởng” quý giá ấy, chắc tác giả không thể nào “nhào nặn” nên cái mà bạn đọc hiện đang săm soi ở trên tay.

• Tới học giả Vương Hồng Sển, người vừa bị chôm văn liệu, vừa bị “nhái” văn phong nhiều nhứt:

- Bẩm với Thái sư thúc tổ! Đồ tôn biết lỗi! Xin nhận ở đồ tôn này mấy... xá.

Tám kỳ công của cô Hai Quyên

1. Bảy tuổi, chỉ bằng một nồi cháo nóng, giết chết tươi con hùm tinh “Linh miêu cán vá” muôn dặm tầm thù.

2. Mười hai tuổi, đập mớp đầu ông cọp chúa đầu đàn chỉ với một cái chày đơn quết bánh phồng.

3. Mười hai tuổi mấy, cỡi trên lưng cọp Mun, đêm khuya băng rừng xuống tận quán Sơn Đốc mua rượu cho cha.

4. Mười sáu tuổi, bắt được “con sâu đo quái dị khổng lồ”.

5. Mười bảy tuổi, giết chết tươi tay giang hồ tứ chiếng “nanh heo rừng đeo lủng lẳng, đạn Tây bắn phải vẹt” và ra lịnh lưu đày biệt xứ tên Ất.

6. Mười bảy tuổi ba tháng, bắt tại trận “con rắn màu hồng” lẻn vào phòng ăn trộm cá.

7. Mười bảy tuổi sáu tháng, đánh lui “con ma da bạch tuộc như làn khói thoảng”.

8. Gần mười tám tuổi, thu phục và sai khiến trọn đời tay “đệ nhất cao thủ” cù lao Bảo, cũng là người quân tử miệt vườn cuối cùng còn sót lại.

Lời ngỏ (tự bạch)

Độc giả xin chớ trách người viết sao hay dùng điển tích, thành ngữ, sử dụng nhiều câu chữ Nho trong tác phẩm. Không phải tác giả còn luyến tiếc chi cái đạo Nho suy tàn của thời kỳ mất nước. Tiểu thuyết nó bắt buột mình phải lồng nó vào môi trường văn hóa, thời đại mà nó diễn ra.

Vào thời đó, tuy không còn thi cử bằng chữ Hán nữa, nhưng tân học chưa bén rễ, dân ta vẫn còn chịu ảnh hưởng nhiêu của đạo Nho.

Chỉ có người giàu mới được đi học, người dân quê ít học, không thông hiểu lịch sử, lại sính nói chữ. Đối với họ, biết một vài câu chữ Nho trong sách cũng là người trí thức. Cho nên trong các đám tiệc, giỗ quảy, nhậu nhẹt sần sần, hễ có dịp là họ xổ Nho chùm lai láng.

Những lúc nông nhàn họ giải trí bằng cách xem hát bội. Đa số các tuồng tích hát bội đều lấy từ truyện Tàu (trừ tuồng San Hậu). Kiến thức văn hóa của người dân quê Nam Bộ vào những năm đầu thế kỷ trước, đều do họ thu lượm được từ những vở tuồng hát bội mà họ đã xem, những tích truyện Tàu mà họ được nghe đọc. Cho nên không lấy gì làm lạ khi thấy trong các buổi hò hát huê tình, phe nầy thường đưa ra những tích truyện Tàu hóc hiểm hoặc những câu chữ Nho mắc mỏ để cho phe kia phải bí lù, không đáp lại được.

Ai mà dựng cờ trên núi,

Ai mà bán muối chợ đông,

Ai đem áo tặng cho chồng,

Anh mà đáp đặng, má hồng em ưng.

Trình Giảo Kim dựng cờ trên núi,

Hà Nguyệt Cô bán muối chợ đông,

Liễu Kim Huê tặng áo cho chồng,

Anh đà đáp đặng, má hồng em tính sao?

Tiền tài như phấn thổ;

Nhơn nghĩa tợ thiên kim;

Chàng Phụng Tiên gá nghĩa với Điêu Thuyền;

Kiếp này không đặng thời nguyền kiếp sau.

Chữ rằng hổ tử lưu bì;

Làm người phải có danh gì hậu lai.

Nhân sinh bách hạnh hiểu vi tiên;

Chữ rằng mộc thủy bổn nguyên.

Tuy vậy những câu trung hiếu tiết nghĩa nầy, có câu đã đi sâu vào đời sống, đến nỗi khi đọc lên, dù người dân quê ít học mấy cũng có thể hiểu được:

Hoặc:

Phụ mẫu tình thâm, phu thê nghĩa trọng;

Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ;

Vô duyên đối diện bất tương phùng.

Hoặc

Nhất nhật bất kiến như tam thu hề.


Nguồn:
Được bạn:Ct.Ly đưa lên
vào ngày: 26 tháng 11 năm 2025

« Lùi
Tiến »