Kỳ Ảo Đất Phương Nam

Lượt đọc: 6593 | 4 Đánh giá: 8,5/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
HỒI THỨ NĂM MƯƠI BỐN
trót sinh lộn cửa lầm đời. mong gì tìm lại đặng người kiếp sau.

NGÀY VỀ

Từ khi Hai Thành đi rồi thì bà Ba ngủ không yên giấc, ăn hết biết ngon, vắng bóng cái con người “lục thao tam lược” ấy rồi, bọn đầy tớ như rắn mất đầu, chỉ giả đò canh gác hụ hợ cho xong, rồi thì mạnh tớ tớ ngủ, mạnh chủ chủ ngơi. Để cho chắc ăn, bà Ba ra lịnh cho đám đầy tớ, hễ trời vừa sụp tối thì phải mau mau rút hết mấy cây cầu dừa đem đi giấu, hòng ngăn đường rấp nẻo, để ngừa ăn cướp.

Ỷ y không ai qua được nhà mình, bà Ba tưởng như mình đang sống giữa cù lao biệt lập. Dè đâu, gậy bà nện trúng lưng bà, mưu bà thua kế bọn cướp. Tương kế tựu kế, mượn giáo Tàu đâm Chệc, bọn cướp đổ bộ bằng lối đường sông, đánh theo kiểu “thủy quân lục chiến”.

Ngụy trang bằng hai chiếc ghe hầu lớn, loại ghe có mui, có đèn, có kèn, có kiếng, thứ ghe mà mấy thầy Cai tổng vẫn thường đi hầu lệ. Bọn chúng đổ bộ vào lúc nửa đêm, cả nhà trở tay không kịp. Chúng lẹ làng áp vô, trói gô gia chủ rồi lùa hết đám gia nhơn xuống nhà ngang, tấn cửa lại. Từ phía nhà trên, vọng ra tiếng khảo tra vang dội, tiếng la khóc rùm trời, tiếng bửa tủ, chẻ rương, lục của rầm rầm.

Bao nhiêu chó trong nhà đều xổ ra, cất lên những tiếng tru ông ổng. Đó rồi chó của mấy nhà khác cũng hùa nhau, kéo theo tới chó của cả làng, cả tổng. Chó sủa có bè, bè thấp bè cao, bè xa bè gần, bè giọng kim, bè giọng thổ. Chó cò, chó mực, chó đực, chó cái, chó vằn, chó vá, chó già, chó trẻ, chó ghẻ, chó phèn, chó xà mâu, chó... lác. Ối... thôi! Chó cả bốn làng. Giàn đại hợp xướng chó hùa này, thi nhau chõ mỏ lên trời, trỗi lên khúc nhạc chó bi ai, mà giọng lĩnh xướng của con mực là lớn tiếng hơn ai hết thảy, làm xao xác cả một vùng quê yên tĩnh.

Tiếng mõ tre kêu ran như nhái đêm mưa, đèn đuốc sáng rực trời như sao sa. Hương tuần, tráng đinh nai nịt gọn gàng, lăm lăm giáo mác, rần rần chạy tới tiếp cứu. Chừng chạy đến bên mé rạch thì bị dồn cục lại cả đám, vì còn đâu nữa mấy cây cầu dừa. Mọi người nhìn nhau, lắc đầu: “vô kế khả thi!”.

Còn đang bàn tán, tính kiếm cách bắc cầu tạm vượt qua. Bỗng vang lên tiếng “cắc - bùm” chát chúa, rồi có tiếng quát sang sảng như tiếng hét của Trương Phi trên cầu Trường Bản:

— Bà con cô bác về đi! Thằng Mây, thằng Mưa ở đây!

Mới nghe tiếng súng bùm-chéo, thầy Hương quản đã giựt mình... ngã ngửa, chừng nghe thêm hai tiếng Mây Mưa nữa thì mặt thầy bỗng xanh như đít nhái. Thì ra đảng cướp Mây Mưa, dò la biết được tin Hai Thành đã bỏ điền bà Ba đi qua xứ khác. Khắc tinh không còn nữa, lại vừa mới tửng được cây Mút-cơ-tông (Mousqueton) còn cứng khừ, trọng bân, thử hỏi còn cơ hội nào hơn. Thấy ngon cơm quá, quân sư Mưa mới ra lịnh tấn công.

Dưới ánh đuốc lá dừa lép bép, có người thày lay mới làm một cuộc so sánh tương quan lực lượng giữa hai bên. Phe mình tuy đông hơn nhưng tinh là quân ô hợp không hà, còn súng ống thì chỉ được trang bị có một khẩu Ca-líp-xây hai nòng, bắn đạn chài, đạn ghém. Để dành bắn chim le le, giang sen, chằng bè thì trúng phóc. Còn như nếu đem cây súng già nua khọt khẹt ấy mà đi bắn ăn cướp thì thằng nào xui lắm mới bị trúng nhằm, lỡ có bị trúng nhằm thì cũng chẳng chết chóc gì ráo, chỉ bị mặt rỗ hoa mè như “té thùng đinh” vậy thôi. Ca-líp mà dám đi “nói chuyện” với Mút- cơ-tông, thì chỉ có nước cà lăm cà lặp. Hồi nào tới giờ, đi đâu cũng thấy thầy Hương quản xách theo kè kè, là để thầy “khè” cái đám tá điền ngu dốt, cho chúng kiềng, chúng sợ. Chớ bữa nay, nhè đụng nhằm ăn cướp thứ dữ thì thầy co vòi, rụt cổ, cuốn gói chạy dài liền... hà! Bà con thử nghĩ coi, có đúng vậy không?

Nghe nói tới đó, ai nấy thảy đều le lưỡi, thụt đầu, hối nhau dụi đuốc, lục tục kéo về. Bận đi thì rần rần rộ rộ, đèn đuốc rực trời, hùng hùng hổ hổ như lân gặp pháo. Bận về thì đèn đóm tắt ngóm, lủi thủi xụi lơ in như cái đám bại trận tàn quân, manh giáp chẳng còn...

Được nước, bọn cướp mặc sức mà ra tay vơ vét. Bạc giấy bó lại, chất lủ khủ như củi, còn bạc trắng bà đầm xòe thì ối thôi, lấy thúng mà hứng, hột xoàn hốt thôi cả bụm. Thằng Mưa bỏ áo vô quần, thắt lại cho thiệt gọn, rồi mới túm ba mớ hột bẹt, hột xoàn, vòng vàng mà thồn hết vô trỏng. Bởi vậy, hễ nó chạy tới đâu thì bẹt, xoàn lóc cóc rớt theo sáng giời tới đó.

Tới gần sáng bạch, thì trong nhà đã sạch bách, sạch trơn như bộ ván gõ chùi bóng. Gặp gì quơ nấy, nồi đồng mâm son gì chúng cũng rinh, cũng xách. Đến nỗi cái chậu kiểng thế ngoài sân mà cũng có thằng ráng sức còng lưng vác chạy, thì độc bình xưa, lư hương cổ, mong chi lũ ấy chúng chê chúng bỏ cho đành.

Ăn hàng no nê xong, trước khi rút lui chúng còn nổi lửa đốt nhà để thị oai. Từ trong mấy cái tủ sắt nặng nề đổ ra, nào là văn tự cầm cố nhà đất, nào là bằng khoán điền thổ, nào là giấy vay bạc góp, xăng xít, đít đui của toàn thể dân nghèo trong tỉnh và của cả mấy tỉnh lân cận. Chúng vun thành một đống chình ình ở giữa nhà, bự bằng đống lúa chưa vô bổ, rồi châm lửa đốt. Ngọn lửa bốc lên cao, táp vô vách cây, cột gõ. Gió lớn ở đâu bỗng kéo tới “hùn” thêm vô, nên chẳng mấy chốc mà toàn bộ ngôi nhà đã bốc cháy ngùn ngụt như ngọn đuốc lá dừa. Khói đen bốc lên từng bựng, từng bựng, cuồn cuộn, đen nghịt cả một góc trời. Bởi vậy, đời sau mới có thơ rằng:

Bạc tiên tích cóp cả đời;

Chẳng vừa đút miệng cọp xơi một giờ.

Đám gia nhân, thân ai nấy lo, hồn ai nấy giữ, mạnh ai nấy chạy, đứa lo chạy trốn, đứa mải mê hôi của. “Ba cái mớ lụn vụn nầy chớ, cũng đủ cho mình sống cả đời”. Không đứa nào lo chữa lửa, của ông của cha gì chúng mà chúng tiếc chớ, có đứa còn hả hê nói lén, cười thầm. Bà Ba được đám gia nhơn thương tình rinh ra khỏi đám cháy. Không đứa nào nhớ tới cậu Hai, đến chừng có đứa sực nhớ tới thì ngọn lửa đã lên cao có ngọn, đám cháy đã lớn quá trời, không ai dám chạy vô trỏng nữa.

Ngọn lửa táp lên đến tận mái ngói. Bỗng vang lên một tiếng rú kinh thiên động địa. Tiếng rú cất lên, lớn như tiếng heo bị thọc huyết, sau đó nhỏ lần, nhỏ lần rồi hổn hà hổn hển như tiếng khóc thút thít, ai oán bi thương. Cả đám đông rùng mình, thất sắc đứng im một chỗ như bị trời trồng...

MANG XUỐNG TUYỂN ĐÀI

Giữa lúc chộn rộn đó, không ai kịp để ý đến một chiếc xuồng nhỏ mới vừa cặp bến ở mé sông phía trước. Không kịp gác chèo, cột đỏi, ba cái bóng đen đã co giò, hộc tốc vọt thẳng lên bờ...

Bỗng trong đám đông có tiếng người la ú ớ:

— Trời ơi! Coi kìa! Con gì kìa!

Mọi con mắt đều đổ dồn về hướng cái ngón tay chỉ. Nổi bật trên nền lửa rực trời, là cái bóng quái dị của một con vật đen ngòm, đang vắt vẻo đeo bám vô cây cột chính. Bóng đen ấy đang vặn vẹo trườn mình lên nóc nhà như một con sâu đo khổng lồ. Hai chân trước vạm vỡ, thõng thượt như hai cánh tay vượn, vươn dài níu chặt, co mình, rút cả thân mình lên theo, hai chân sau nhỏ xíu tựa hai cái cẳng gà phơi khô, vặn vẹo bíu vòng quanh, nhưng vẫn không sao giáp hết cây cột chính. Đó rồi cả người nó rướn lên, rướn lên, rướn lên nữa, bíu chặt, co rút mình tiếp. Cứ như vậy, con sâu đo khẳng kheo đó, vừa leo, vừa lết, vừa bò, vừa trườn, bườn lên đến tận nóc nhà.

Lên đến nóc cao chót vót, không còn chỗ để leo lên nữa. Cùng đường tuyệt lộ, con sâu đo đành bíu chặt lấy cái quả châu bằng sành - gắn cheo leo trên nóc nhà - bằng hai cái cẳng sau nhỏ xíu què quặt. Đó rồi cả cái thân mình dị hợm của nó cứ liên tục quặt lên, quặt xuống, quặt tới, quặt lui, khi thì qua phải, lúc lại sang trái. Có lúc vươn dài ra, lúc thì co rút lại, như một tín đồ thành kính đang hành lễ theo một nghi thức tôn giáo phương Đông thần bí. Bóng nó đen ngòm, in rõ mồn một lên nền trời đỏ hực.

Dưới ánh lửa đỏ rực trời ma quái đó, không ai hiểu vì sao con quái cứ mãi loay hoay, lóng ngóng hoài, mà con mắt đỏ khé của nó thì banh ra hết cỡ, cứ lóng lánh tìm kiếm, cứ ngóng, cứ trông, cứ mỏi mòn hướng về phía một bóng hình xa xăm nào đó. Trong lúc đó, ở tít tắp phía dưới, đám đông nhơn loại vẫn hãi hùng chen xít vào nhau.

Cuối cùng, dường như nó cũng đã nhận ra được một vóc người yểu điệu đang run rẩy đứng nép sát vào một bóng đờn ông trai tráng. Tàn lửa cháy nhà thỉnh thoảng lại bùng lên soi rõ một khuôn mặt trắng mịn với đôi mắt to đen đẫm lệ, đang ngước lên đăm đắm nhìn nó. Hướng về phía cái bóng hình yểu điệu đó, nó trằn mình chồm tới đưa tay ra huơ huơ về phía trước, như một bé em nhõng nhẽo, đưa cả hai tay ra đòi ẵm, con mắt độc nhỡn cứ ròng ròng nước mắt. Bỗng từ trong cổ họng nó, òng ọc thoát ra một âm thanh trầm trầm, khàn đục kéo dài.

— Qu u u y.e.ê.ê... ên ơ. ơ... ơi!

Tiếng kêu tuy to lớn, rõ ràng nhưng chẳng có chút gì giống tiếng người, mà cũng chẳng giống tiếng kêu của bất cứ sinh vật nào đã từng sống trên trái đất. Thứ âm thanh bi thương, thống thiết đó, rền rĩ âm u như vọng lên từ cõi ấm ty, rờn rợn và ai oán đến nỗi làm rởn cả tóc gáy những người cứng bóng vía nhứt. Mọi người không hẹn mà cùng nhau chen xít lại, người nọ giấu mặt vô lưng người kia, chùm nhum, run rẩy.

Hai Phát, đã câm từ khi lâm trọng bệnh, không nói được tiếng nào, chỉ ú a ú ớ trong cổ họng. Vậy mà tới phút lâm tử, phát ra được hai tiếng rõ ràng, lại là tên của một người con gái. Điều kì lạ nhiệm mầu này, bà con cô bác của mình dưới đó, cho mãi đến tận ngày nay, cũng không ai giải thích nổi...

Ngọn lửa càng lúc càng cao, tàn đóm bay tán loạn, có tiếng nổ lốp bốp, cây trinh nhà gãy gọn, rồi nguyên cái nóc nhà chuyển động lắc rắc, sàng qua sàng lại lắc lư như đưa võng rồi từ từ đổ sụm xuống, chìm lần vào biển lửa mênh mông. Một tiếng thét thất thanh, xé ruột vang lên rồi nghẹn ngào tắt lịm. Than ôi! Cuối cùng rồi thì bà Hỏa vô tình, cũng không tha cho con người biến dị.

Mọi người sững sờ, chôn chân tại chỗ, có tiếng ai đó nói nho nhỏ: “Cho đáng đời! Cái loài yêu nghiệt...!”.

Thiệt! Đúng y chang như lời tiên tri của bà vãi già, trước khi về chầu Phật tổ:

Thiện ác đáo đầu, chung hữu báo,

Chỉ tranh lai tảo, dữ lai trì.[140]

CHUNG

Chú thích:

[140]Việc báo ứng trên thế gian nầy (chung) cuộc rồi thì cũng xảy ra. Chỉ là vấn đề thời gian (tảo) sớm hay (trì) muôn mà thôi.


Nguồn:
Được bạn:Ct.Ly đưa lên
vào ngày: 26 tháng 11 năm 2025

« Lùi
Tiến »