PHỤ XƯỚNG, PHU TÙY
Ngoại ô Bến Tre, dưới chưn cầu Cá Lóc, dọc bến tắm ngựa, dựa mé sông có một xóm nhà lá, lơ thơ chưa tới hai chục nóc gia, nép mình dưới bóng mấy hàng dừa mát rượi.
Một sáng nọ, trời còn sớm bửng đã thấy một đôi trai gái bơi xuồng dọc theo xóm, hỏi mướn nhà ở đậu. Chàng, hằng ngày dậy sớm ra ngoài bến sông, đón ghe Chệc chành, lãnh vác lúa mướn. Nàng, sớm khuya tần tảo, nấu chè gánh bán dọc theo xóm. Cuộc sống cháo rau hẩm hút, tuy không giàu có chi, song cũng đủ cơm ngày hai bữa.
Ngày kia, cặp nhơn tình lít nhít son trẻ nầy dắt nhau ra chợ, lựa mua một cặp vịt mập, biện ra được một mâm cơm tươm tất. Trước là làm lễ tế cáo gia tiên để nên nghĩa vợ chồng, ăn đời ở kiếp, sau là đãi đằng khách khứa, ra mắt hai bên họ hàng.
Họ hàng, khách khứa thì có những ai? Bên đàng gái, có được một mình bà chủ nhà làm đại diện. Đàng trai thì qua khá hơn, đâu được hai người, té ra cũng là đồng nghiệp vác lúa mướn chớ ai.
Lễ vật đem qua, nhang đèn, hoa quả chứa không đầy một cái thúng nhỏ. Bộ đồ cưới là đồ đi mượn nên áo cô dâu thì rộng thùng thình như bận áo khín, còn quần chú rể thì chó táp bảy ngày hổng tới...
Nhà họ giàu đầu heo, nọng thịt,
Đôi mình nghèo thì cặp vịt, đôi bông.
Cặp vịt có rồi mà đôi bông thì chưa sắm nổi. Bởi phụ mẫu đôi bên đều không có mặt nên không có nhóm họ và cũng chế bớt khay trầu.
❃
Mỗi bận ghe chài đã ăn no lúa, rảnh rang, anh chồng chạy u một mạch dọc theo xóm, ráng kiếm cho ra gánh chè của vợ. Đó rồi giành lấy cái gánh, quảy giùm cho một đỗi đường, tướng đi xông xổng, cái mặt hí hởn, lăng xăng lít xít như con nít sợ bị ai giành. Có khi cao hứng còn cất giọng ồ ề vịt đực mà rao lớn: “Chè... ế, chè... thiu đây! Ai mão không, tôi để rẻ cho... cả gánh!”, khiến cho cô bác hai bên đường, không ai nín cười cho nổi. Chị vợ mắc cỡ, không dám đi ngang hàng, thụt cà lui mấy bước phía sau, e thẹn cắn cái chéo khăn, kín đáo che đôi gò má đã ửng đỏ hây hây. Dòm sơ qua ai cũng biết là vợ chồng son mới cưới.Bữa nào mát tay bán đắt, xoong nồi sạch bách, thay vì gánh gánh không về nghỉ, người vợ lại kiếm cớ, vẩn vơ ra đón chồng ở dưới bến sông. Dân “thầy chú”, từng khạo, mái chính, cặp rằng đứng bến, liếc ngó nàng trân trân, thiếu điều muốn rớt tròng con mắt. Đã có vài cuộc xô xát nhỏ xảy ra giữa anh chồng cả ghen với mấy con dê xồm đó mà lần nào phần thắng cũng thuộc về anh chồng bề ngoài có vẻ thư sinh nho nhã. Để tránh những việc đáng tiếc đó xảy ra, và nhứt là để che giấu hành tung, từ đó về sau người vợ không thèm ra bến sông đón chồng về sớm nữa.
Ngày lại ngày, cả hai như đôi chim non mới lìa khỏi ổ, thoát cơn giông tố, quyện lấy nhau trong cảnh “tương kính như tân, tâm đầu ý hiệp”, thương yêu nhường nhịn nhau. Hàng xóm láng giềng, chớ hề nghe thấy tiếng chén bát khua trong sóng hay tiếng cãi lẫy nặng nhẹ nhau trong nhà. Cuộc sống cứ êm đềm trôi qua, y như mấy giề lục bình, theo con nước lớn nước ròng, trôi nhanh riu ríu dưới chưn cầu Cá Lóc vậy.
Cái xóm nhỏ hơi buồn nầy đã dang rộng vòng tay mà đón nhận đôi sẻ non lít nhít ấy.
Đôi vợ chồng con nít,
Ra vào khắn khít,
Mắm muối mà vui.
Một chòi tranh nhỏ xíu,
Sau trước đìu hiu,
Ghế bàn chẳng có.
Ghế bàn chẳng có. Đôi khi huỡn việc, nhà vắng, chiều mưa, trên bộ ván nhỏ, vợ chồng trửng giỡn cùng nhau, tiếng vợ dẻo queo, tiếng chồng dẻo nhẹo:
— Mình đừng chọc em! Chọc em, em khóc... bây giờ.
— Nhỏ em dữ... hôn! Gần... xụi rồi nè!
Vợ chồng tương đắc... tưởng không có cảnh chi khoái lạc cho bằng. Thiên đường ở đâu? Cực lạc ở đâu? Chính là ở trong gian nhà nhỏ của vợ chồng người vác lúa mướn ấy.
Hai vợ chồng nầy ở đậu trong cái chòi nhỏ xíu phía sau nhà bà Tư Vốn. Bà nầy không có con cháu, sống cu ki một mình. Không ai biết tên cúng cơm của bả là gì, chỉ biết bả có một gánh hàng xén, bán lai rai tại nhà. Hễ có ai vô mua đồ, bả đều nói ngọt xớt như đường phèn: “Cái nầy là Tư để vốn lại cho con”. Riết rồi chết danh bà Tư Vốn luôn. Ngọt vậy chớ, thiếu chịu lâu ngày mà không trả thì chết với bả, bả nhiếc cho tắt bếp. Bởi vậy, cái đám tiểu yêu, thiếu chịu không có tiền trả, bị nhiếc sa sả, mới đặt tên cho bả là bà Tư trọc, bà Tư dối thế. Còn mấy dì lớn tuổi sồn sồn, thì vẫn từ tốn kêu bả là dì Tư cô đơn.
Bá nhơn bá bụng, bá bao tử, ai muốn kêu sao thì kêu, bả cũng chẳng phiền. Bả chỉ ghét nhứt là cái đám bợm nhậu, vì không có thằng cha bợm nào trong cái châu thành này, chịu kêu bả bằng cái tên Tư Vốn thông dụng. Trái lại, họ còn ưu ái, phong tặng riêng cho bả một cái tên khác, nghe ấn tượng hơn nhiều.
Số là vầy, hễ ở đâu có nấu rượu ngon thì ở đó có bợm Lưu Linh thứ thiệt. Bà Tư Vốn khôn tổ mẹ, nhà nào trong xóm xách chai đi mua rượu của bả thì bả để ý liền, chai rượu đầu nước nhứt, bả đong đầy đủ, chất lượng luôn. Nhưng đến mấy chai về sau, đoán biết mấy bợm ta đã xỉn rồi, thì bả bắt đầu pha nước vô chút chút. Mà không thèm xài nước sông, nước giếng à nghen, bả châm nước mưa mái hiên vô cho nó trong vắt. Càng về khuya thì tỷ lệ nước châm vô càng nhiều. Mắt già sờ sệt, bữa kia tổ trác, đám giỗ nhà Tư Rỏn gần tàn, thiếu rượu mới sai đứa con đi mua tiếp. Thằng nhỏ xách chai rượu về, nói: “Rượu bà Tư bán chuyến nầy kỳ lắm tía ơi!”. Tía nó mới nói: “Bộ mầy có ực hay sao mà mầy biết kỳ? Đâu đưa ra đây cho mấy chú, mấy bác coi coi!”.
Soi chai rượu ra dưới ánh đèn Măng-sông (Manchon) đang kêu khè khè, thì thấy trong khe, sáng tỏ, chớ đâu có gì là kỳ. Tới chừng chỏng cái đít chai, chú ý dòm cho thiệt kỹ thì mới thấy ở ngay chỗ cái cù lao, có mấy con lăng quăng đang từ dưới xiêu lên, từ trên xẹo xuống, (lăng quăng cũng... xỉn). Bàn nhậu cười lên cái rần, chết danh “con mẹ Tư lăng quăng” luôn tới giờ.
Bà Tư lăng quăng, ốm nhom như con khô cá hố, cái đầu trọc bon, láng lẫy như đầu bà vãi, không ai biết bả xuống tóc là để sám hối tội lỗi hay đoạn tuyệt duyên tình chi đây. Mấy bà già trầu, đầu không tu mà cạo, tiếng nói khao khao như cái bà Tư nầy, thì khó và dữ giàn trời mây. Trong xóm ai cũng nói: “Cặp vợ chồng con nít nầy, chắc gì trụ nổi ba bảy hăm mốt ngày trong nhà con mẹ Tư lăng quăng đó”. Nhưng mới chưa đầy một tháng, mà đi đâu cũng thấy Bà Tư nắc nỏm khen: “Người đâu mà lịch sự lịch sàng, má bầu, cằm lẹm, gương mặt sáng rỡ, cặp mắt hữu tình, chơn mày đậm đen, hàm răng trắng trong, khít rịt như là hột bắp. Già khụm như tui đây mà ngó thấy còn mê, huống chi là hạng đờn ông, trai tráng. Cổ gánh cái gánh chè nặng thất kinh luôn, vậy mà tướng đi vẫn khoan thai, yểu điệu. Cổ tay trắng, tròn như cái ống chỉ mà đánh đồng xa, thì ta nói... Ôi cha! Sao mà nó dịu nhĩu hè! Chẳng trách thằng nó mê đắm, mê đuối. Còn cái nết ăn nết ở nữa chớ, thiệt không mích lòng một đứa con nít. Bởi vậy mới có doang buôn bán chớ. Mỗi lần cổ hé miệng ra rao thì: Ý trời! Tiếng rao nó mới ngọt làm sao... ! Còn dịu hơn là nước dừa xiêm Bến Tre thứ thiệt nữa! Nhiều cha bợm nhậu, tánh không ưa chè, vậy mà mới nghe tiếng rao từ đằng xa, đã lật đật chạy vô nhà, vác tộ ra đứng chờ sẵn để mua. Nhưng chớ có dại, hảo ngọt, thấy con gái người ta ngộ, ăn nói có duyên, mà sanh tật, ló mòi chọc ghẹo. Thì liệu hồn đó đa! Thằng chồng nó, tướng tá học trò mà bộ giò bặm trợn, không phải là đứa dễ ăn hiếp đâu à nghen. Cái thằng... thiệt! Hễ ai dòm vợ nó hơi lâu một chút là nó làm mặt ngầu liền hà, bản mặt nó lúc đó không giận mà nghiêm, ngó phát ớn luôn.
Coi lù khù vậy, mà tưng vợ, chiều vợ, thì nói xin lỗi chớ, đàn ông con trai xóm mình không ai qua được, chỉ còn thiếu nước đóng cái trang, để con vợ lên đó mà thờ. Có bận thằng trả lời hơi xẵng, cỏn nó không nói gì, mà hai con mắt ươn ướt, chót mũi ửng đỏ. Vậy là đêm đó phải nằm treo mình toòng teng ngoài võng, đập muỗi chan chát cả đêm. Gần sáng, con vợ nó cầm lòng không đậu, mới giở mùng chun ra, lôi thằng vô mùng cái rột. Lần khác, nghe lời ai đó dỗ ngon dỗ ngọt mà lén bập bập, tập tành hút xách, cỏn nó đánh hơi biết được, một hai biểu bỏ là thằng bỏ liền cái rụp.
Mới bữa trước đây, chớ có lâu la gì đâu. Trưa vắng, đương nằm lắc võng toòng teng trước hiên nhà, bỗng nghe tiếng con vợ nó la chói lói, thất thanh ở trong nhà tắm. Hết hồn hết vía, thằng chồng nó mới lật đật phóng mình cái rẹt xuống đất, chẳng kịp xỏ guốc, tông cửa chạy vô...
Đó rồi bây biết chuyện gì xảy ra không? Thằng nó ôm bụng cười lăn, ngắc nga, ngắc nghéo: “Trời đất! Em... đó! Mới thiệt là ngộ à nghen! Cọp bầy còn không sợ, nhè con chuột lắt bé tí tẹo mà sợ tới hết hồn!”
❃
Bên ngoài trời sụp tối đã lâu, nhà nhà trong xóm đều đã lên đèn. Ngoài trời lạnh lẽo, mưa bụi bay lất phất, nhưng trong căn nhà nhỏ, ở sâu trong con hẻm ngoại ô nầy, vẫn toát ra một vẻ gì đó rất ấm cúng. Một cái siêu đất nhỏ đặt trên cái cà ràng, than hồng đỏ rực. Người vợ súc bình tích pha trà, còn người chồng thì đang ngóng cổ như chờ trông ai đó, lâu lâu anh ta lại ra ngõ, che mắt dòm lom lom về phía đầu đường. Một lúc sau, sót ruột anh ta khép cửa lại, rồi thả rều theo con lộ đắp, thong dong như người dạo mát từng tưng.Người vợ đã sắp sẵn lễ vật lên bàn thờ, chỉ còn chờ chồng về thì lên đèn mà cúng. Mới đầu, còn bắc cái ghế ra ngồi dựa cửa, ngó mông qua màn mưa bụi mịt mờ. Một hồi, nàng gục đầu vô vách, lim dim... Chờ hoài chờ hủy, người vợ mỏi mòn ngủ thiếp đi. Lát lâu sau, anh chồng mới về, nhưng không về một mình mà còn dắt theo một người khách. Vô tới nhà, thấy cửa nẻo còn mở, đèn còn chong mà vợ thì ngủ gục. Chồng lay vợ dậy, vợ nhõng nhẽo, thút thít:
— Dữ ác hôn! Mình đi lâu, ở nhà em lo muốn chết! Lần sau nhớ đừng có bỏ em mà đi như vậy nữa nghe hôn.
— Lo cái nỗi gì! Qua có đi cướp giựt hay chém giết ai đâu mà sợ nữa hổng biết.
— Hứa cái gì đó nhớ hôn! Cái tật hay đánh người đó! Nhớ hôn?
— Gì chớ cái vụ đó thì nhớ! Tại qua thấy nó ức hiếp người già, qua dằn không đặng.
Mới tháng trước đây thôi chớ có lâu la gì. Có hai thằng đi góp tiền chợ, sà vô gánh bánh canh, ăn gần nửa gánh, no tới nứt diều rồi quẹt mỏ bỏ đi. Cô bán hàng chỉ có nước ngó theo rồi kéo chéo khăn mà chặm nước mắt. Trên đường đi, chúng còn bóc hốt, vỗ bồm bộp vào mông các chị em bán hàng trong chợ. Rồi còn giở thói lung lăng, đá văng cái mẹt trầu của một bà già, già khụm. Cả chợ nín khe, chỉ biết chắc lưỡi thương thầm cho bà già tội nghiệp. Anh chồng tình cờ đi ngang qua đó. Chẳng nói chẳng rằng, thò tay nắm chóp hai chú chàng kéo lại, “cốp” hai cái đầu vào nhau nháng lửa, như là Thiên Lôi bổ búa, rồi bắt chúng phải trả tiền bánh canh, đền tiền mẹt trầu.
Không dè gặp đứa tiểu nhơn, nó oán, nó ghim gút trong lòng. Chiều hôm đó, có hai thằng du côn đứng bến, xách dao núp lén rình chém anh chồng. Báo hại, bà con phải lấy võng khiêng về. Nằm trái trả, một võng hai thằng, một thằng lỗ mũi ăn trầu, cái đầu bịt khăn đóng trắng, còn thằng kia thì khá hơn, mình mẩy vẹn toàn chớ không thấy có thương tích gì ráo. Ai dè, lúc tới nhà, đỡ nó xuống, thì mới thấy cặp giò nó đã lặc lìa lặc lọi. Cũng may, trong nầy trẻo quá, lại trẹo đường nên không có nhiều lời đồn đãi, chớ nếu không thì hai vợ chồng chắc phải tìm phương mà bôn tẩu thêm lần nữa...
Vợ chồng ngó nhau mà cười, nụ cười đầy ý nghĩa, cặp mắt sáng ngời, chứa chan hạnh phúc. Hai người đã quên phứt người khách vẫn còn đứng xựng rựng ở phía sau lưng, hồi lâu sau người chồng mới sực nhớ, xây qua đẩy người lạ ra trước ánh đèn.
— Biết ai đây hôn?
— Úy! Chú Được đây mà. Lên đây hồi nào vậy? Em Thôi có đi với chú không? Sao tui nhớ nó quá!
— Tui lên có mình ên hà. Hồi năm, lúc chị mới trốn đi. Ủa quên! Lúc chị mới ly xứ, con Thôi nó nhớ chị quá, cứ khóc hoài hà, mà hổng dám khóc lớn, chỉ dám khóc thầm. Sáng khóc, trưa khóc, chiều khóc, ăn cơm cũng khóc, đi ngủ cũng khóc. Tui phải nạt nó: “Dụ được anh Hai đi trốn! Ủa quên! Bà... vật cái miệng bữa nay, sao mà lãng nhách! Được anh Hai dắt cho đi trốn là chỉ sướng như tiên rồi, xứng đào xứng kép, còn ai hơn nữa. Thỏa lòng mong ước của mấy người rồi, còn khóc lóc cái nỗi gì. Chừng đó nó mới thôi khóc, ngỏn ngoẻn cười...”.
Người vợ cúi xuống giả bộ châm thêm nước để giấu đôi má đã ửng hồng. Một lát sau, nàng mới hỏi nhỏ:
— Chú Được lên chơi hay đi lo công chuyện, bà con dưới mình mạnh giỏi hết hả, còn cậu Hai ra sao rồi?
— Tui lên hổm rày, đi lo công việc cho bà chủ, đương đứng lớ ngớ ở ngoài bến sông, tình cờ gặp đặng anh Hai. Anh em mầng rỡ, đợi tới khuya vắng vẻ, ảnh mới dám dắt tui về đây thăm chị. Con Thôi, nó mà biết tui lên đây gặp chị, chắc nó sẽ níu kéo đòi theo chằng chằng, e rằng tui phải nạt nộ, hầm hứ dữ lắm thì mới yên, không thôi thì sanh giặc. Ai mà dám cho theo! Bà chủ biết được quở chết.
Người chồng nảy giờ vẫn ngồi im, tủm tỉm cười nụ. Quá biết tánh thằng Được, sau lưng con Thôi thì nó làm hùm làm hổ, chớ trước mặt con kia thì nó cà lăm, cà lặp. Con nọ mà bồi thêm mấy cái liếc háy nữa là nó á khẩu liền hà. Hễ sểnh ra, có dịp là nó làm tàng. Thiệt... là! Thầy nào trò nấy. Sư phụ thờ bà, thì đệ tử cũng sẵn lòng đóng cái trang để sẵn.
Để cho nó được lên mặt sung sướng một lát, người chồng mới khều vợ nói nhỏ:
— Thôi! Chuyện gì để đó nói sau, kiến cắn bụng dữ rồi đa. Cúng chưa? Dọn xuống cho anh em tôi lai rai ba hột cho đỡ đói rồi mới có sức mà trả lời được chớ.
Thằng Được cũng hỉnh hỉnh mũi đánh hơi, rồi hít hà:
— Chà! Thơm gắt à nghen! Mới nghe mùi đã bắt chảy nước miếng rồi. Từ lúc chị đi tới giờ, hổng mấy ai biết cách nấu ăn cho vừa miệng hết.
— Chú Được biết hôn! Ai như anh Hai nhà nầy, hổng khi nào biết khen một tiếng, cho người ta... mát ruột.
— Anh nầy... thiệt! Có phước mà không biết hưởng. Con Thôi, nó mà nấu nướng thì... xẵng lè.
❃
Người vợ dọn đồ cúng xuống, hai người đàn ông đói bụng nên xáp lại ăn như rồng cuốn. Người vợ vừa cười vừa nói: “Đói dữ vậy sao? Thấy hai thầy trò ăn, đứng ngoài dòm miệng thôi cũng đủ thấy no rồi!”. Đó rồi vừa rội thêm đồ ăn, vừa hỏi thăm tình hình bà con dưới xứ, những người quen biết cũ trong điền, ai còn ai mất, mùa màng đặng thất thế nào. Nói ba điều bốn chuyện, lộn đi lộn lại một hồi nàng vẫn không quên trở về câu hỏi cũ:— Lúc em đi cậu Hai mạnh khỏe thế nào rồi?
— Cậu Hai, giờ yếu lắm rồi. Từ lúc chị bỏ đi đến giờ, cậu chỉ thoi thóp sống cầm hơi, chờ ngày quỷ vô thường tới rước. Nói dại, sợ cậu không qua khỏi năm nay, còn nuối chị về nên chưa chịu chết. Chuyến nầy, chị mà không về, thì ở nhà chắc phải lo hậu sự. Bà chủ hứa sẽ tha thứ hết cho anh chị, bả còn để sẵn mấy sở ruộng tốt bên Thạnh An chờ anh chị. Lóng rày bà chủ thọ pháp quy y rồi chị ơi, đổi tánh hiền khô hà. Bả siêng lên chùa làm công quả lắm, lại nghe lời sư cô, xuống tóc sám hối, ăn chay trường, tụng kinh gõ mõ, lần chuỗi bồ đề, phát tâm từ bi, làm toàn chuyện công đức không hà.
Đó rồi nó vọt miệng nói luôn, như sợ nếu không kịp nói ra thì cơ hội sẽ trôi đi mất:
— Con Thôi dặn tui, nếu có gặp được anh chị thì nhắn dìa gấp, nó trông chị còn hơn là con nít trông má đi chợ dìa nữa. Hay là anh chị nhắm coi, nếu được thì sẵn dịp nầy anh chị dìa với tui luôn thể.
Người vợ thẫn thờ, tự nhiên thấy sống mũi ửng đỏ, mi mắt cay cay:
— Vậy sao?
Người chồng nãy giờ vẫn ngồi yên, giờ mới ôn tồn nói chen vào, giọng như người có lỗi:
— Hổng nói giấu gì mình, chuyện nầy qua biết lâu rồi, người ta đồn rùm ở ngoài bến sông, ngày nào mà qua hổng nghe đầy hai cái lỗ tai, nhưng mà qua không dám cho mình hay. Vợ chồng mình sống thuận thảo bấy lâu nay, thiệt... là phước đức ông bà để lại, còn ham hố ruộng đất mần chi.
— Chắc lần nầy em phải về xứ một chuyến quá. Không phải em ham chi mấy mẫu ruộng mà bà chủ bố thí để mua lòng đó, ý em là muốn về coi cậu Hai sống chết ra sao. Mấy ngày nay, sao trong bụng em cứ bổn chồn không yên, em có linh cảm xấu, nó làm em sốt ruột hết sức. Em sợ mình về lần nầy, không kịp nhìn mặt cậu lần cuối quá...
Người chồng còn đương dục dặc, bần dùng. Sau cùng vì cưng vợ, chiều vợ, cực chẳng đã, anh ta đành phải xuôi theo một bề, nói mà giọng nghe xuôi xị:
— Thứ đồ “yêu quỷ” đó, mà em còn “yêu quý” cái nỗi gì? Thôi được! Muốn dìa thì cho dìa. Tối nay đi ngủ sớm, sáng mơi, có con nước sáng, mình dậy sớm, nấu cơm ăn ba hột dằn bụng rồi hẵng dìa. Chịu chưa?