HAI CHỊ EM
Võng nhà ai kẽo kẹt đưa...
Ẩu... ơ... ơ... duyên đấu duyên tuốt bên Tàu,
Hay là thằng Chệc nó giàu (mà) bậu... ham.
Trời ơi! Giữa trưa hè oi ả, nắng như đổ lửa, tiếng võng đòng đưa kẽo kẹt lại hòa cùng với giọng hát ru em nhừa nhựa nữa. Hỏi còn có thứ tiếng nào mà buồn thỉu buồn thiu hơn nữa không?
Mỗi lần chị Ba hàng xóm ở xế bên chùa, nằm võng toòng teng, kẽo cà kẽo kẹt ru con bằng câu hát não nề kia. Tự dưng tiểu Huệ lại thấy sống mũi cay cay, trong ngực quặn thắt nhói đau, y như có ai đó thò tay vô ngực chú mà bóp trái tim thật mạnh.
Tiểu Huệ xuống tóc quy y ở cái chùa này đã hơn ba năm rồi, mà sao lòng trần còn quá nặng. Còn cái chị Ba hàng xóm nầy, mới thiệt là ngộ à nghen! Thiếu gì câu hát ru con hay quá mạng, chỉ đã không thèm ru cho thằng Tửng nó ngủ. Hổng biết vô tình hay cố ý, nhè câu hát thúi ruột bầm gan nầy mà chỉ cứ đồ tới đồ lui hoài, khác nào mà cứa đi cứa lại vô cái nỗi “đoạn trường” của người ta.
Con Thơm đi lấy chồng là coi như đã yên cái phận của nó rồi. Chỉ hiềm một nỗi là lấy ai ở đâu không lấy, đằng nầy nó lại đi làm bé cho ông Bang Kỉnh, đáng tuổi cha của nó. Đêm trước ngày xuất giá, nó còn gục đầu vô vai thằng Cưng mà khóc như mưa bấc, làm ướt tèm lem một khoảng ngực áo của thằng kia. Nó còn thút thít: “Cưng ơi Cưng, Thơm vì chữ hiếu, Cưng hãy coi như con Thơm nầy, trong tháng sẩy nôi[134] Cưng ơi. Tại cái duyên phần của Thơm nó hẩm hiu như vậy. Kiếp sau, Thơm nguyện làm thân trâu ngựa mà đền bôi trúc mai lại cho Cưng”.
❊
Ngày con Thơm theo ông Bang lên Bến Tre, cũng là ngày mà thằng Cưng vô chùa làm sãi, thí phát quy y, pháp danh tiểu Huệ; mặc tình cho thím Ba má nó, khóc ngất, xỉu lên xỉu xuống mấy lần. Lòng nó giờ đây đã trơ trơ nguội lạnh, nó sống như một loài cây cỏ vô tri, như một thi hài biết thở, ai có nói gì cũng mặc, nó để ngoài tai...Dòng đời cứ lặng lẽ trôi đi, như nước chảy chưn cầu. Cho đến một hôm, ông Bang dẫn cô vợ bé về viếng cảnh chùa. Thằng Cưng pháp danh tiểu Huệ còn hơi ngờ ngợ, nên còn đứng đó xớ rớ mà chưa chịu đi thỉnh ngay cho một hồi chuông. Bởi nó không tài nào nhận ngay ra được, cái chị đờn bà diêm dúa đẫy đà, núc na núc ních, phấn son lòe loẹt, vàng đeo đỏ cườm tay, cườm cẳng kia chính là con Thơm - người tình đầu tiên và cũng là cuối cùng - trong cái dĩ vãng hơn hai mươi mấy năm trần tục của nó.
Chị ta còn na theo một thằng tửng đâu chừng hai tuổi, cù lự hết sức, giống ông Bang như tạc. Ngoáy cái mông đít ní na ní nần, đi ngang qua tiểu Huệ, chị đờn bà thơm phức, chải gỡ láng nhuốt đó còn liếc xéo nó một cái muốn cháy đuôi con mắt, rồi chu mỏ nói oang oang với con nhỏ người làm đi cùng: “Tôi đã nói rồi, mà ổng có chịu nghe tôi đâu. Lựa chi cái chùa gì mà nó nghèo ngơ nghèo ngắt, Phật trời nào mà chịu ở trong cái chùa xập xụi như vầy. Rồi lấy ai đâu ra mà phù hộ, độ trì cho mình, cúng chi cho uổng. Chùa gì mà như cái miễu, không bằng cái am của người ta. Nói đâu cho xa, chùa K.V. ở gần xịt đây nè: bom nho chất đầy bàn, bánh in, mứt gừng chất tràn tủ, còn nhang đèn thì ối thôi, đốt tư niên mãn mùa cũng không hết nữa”.
Chừng đó, chú sãi con - tức thằng Cưng - tức tiểu Huệ - chịu hết nổi mới ngửa mặt lên trời, giậm chân, đấm ngực, nghiến răng mà bá ngọ . Chú tiểu lòng trần còn nặng nầy bá ngọ tòe loe, tá lả. Bá ngọ Trời, bá ngọ Phật, bá ngọ tổ, bá ngọ tông, bá ngọ đời, bá ngọ đạo. Bởi nó cho rằng tất cả mọi người, mọi sự vật trên cõi đời nầy, hết thảy đều hè nhau mà báo đời, báo hại nó. Tóm lại, nó bá ngọ búa xua, bá ngọ tuốt tất cả ông bà tiên tổ của cả hai nhà, đã nầy nòi sanh ra cái giống “tham phú phụ bần” là con Thơm và cái thứ “ngu đệ nhứt hạng” là... nó. Càng thấy mình ngu thì nó lại càng thấm thìa lời thím Ba, má nó nói đúng vô cùng. Thiệt! Phải là đờn bà thì mới thấu hiểu được mọi ngóc ngách trong lòng dạ đờn bà.
Biết ngu thì sự đã rồi, nó đã đôi ba phen muốn cởi trả áo cà sa, hoàn tục phứt cho rồi. Nó không muốn chôn vùi tuổi thanh xuân bên ngọn đèn xanh với mấy quyển kinh vàng chỉ vì một chị đờn bà như vậy. Nhưng ngặt vì lúc đó ni cô Diệu Thiện còn đang lâm trọng bệnh, nó bịn rịn chưa thể dứt áo ra đi, vì dù sao sư cô cũng là người đã dạy dỗ kệ kinh, đã đặt pháp danh cho nó. Ngày nó mới bước chưn vô chùa, bà đặt cho nó là tiểu Nhơn, (Thích Thiện Nhơn ấy mà). Nhưng về sau, bà sợ chú tiểu duy nhứt trong chùa bị người ta đánh đồng với kẻ tiểu nhơn nên bà mới đổi lại cho nó là tiểu Tâm. Tên Tâm nghe cũng hợp với kẻ xuất gia. Nhưng khi ghép chung với chữ “tiểu”, nghe nó cũng hơi kỳ kỳ, chướng chướng vì thằng Cưng đâu phải là đứa nhỏ mọn chi li, nên cuối cùng bà mới sửa lại cho nó thành ra tiểu Huệ. Nói như vậy cũng đủ thấy tấm lòng từ ái của bà đối với nó như thế nào, bà cũng như người mẹ thứ hai, đã chăm sóc cho nó trong những ngày đầu nó mới chân ướt chân ráo bước vô chùa, lòng còn tràn ngập những tình cảm oán đời, hận người.
❊
Kể từ ngày đó nó không thèm cạo đầu nữa, nó còn thắng dầu dừa để xức, mong sao cho tóc mau mọc dài. Tới chừng đó, nó mới “ngộ” ra rằng: thói đời, hễ cái gì mình càng mong cho nó mau tới thì nó lại càng đỏng đảnh, chùng chình. Trời Phật dường như cũng muốn hè nhau mà trêu ngươi thằng Cưng. Đã sáu tháng trời trôi qua rồi mà cái đầu sư cọ của nó vẫn còn trọc lóc trọc lơ, láng lẫy, mịn màng, y chang như cái mông con gái, thậm chí một bệt màu xanh xanh, xám xám cũng chưa thấy xuất hiện. Đôi lúc nó lẩn thẩn, tự hỏi: “Tại mình có cốt tu hay Phật khéo cợt người!?”Nó chắc mẻm kỳ nầy mà hoàn tục về nhà, việc đầu tiên của nó là nó sẽ đi chằm lá, xóc lại cái nóc nhà dột cho thím Ba má nó, rồi dừng lại tấm vách nát để lo cưới vợ. Nó sẽ ân hận, vừa khóc vừa cầm tay má nó mà nói như vầy:
— Chú tiểu ơi, làm ơn vô bạch với sư cô giùm. Nói có tôi là Ba Ngỡi ghé vấn an.
Tiếng nói nhỏ nhẹ của một người lạ vụt cất lên giữa trưa hè thinh vắng, đã cắt đứt ngang xương cái dòng liên tưởng đương rạt rào của tiểu Huệ, khiến cho tiểu ta phải vội vã chắp tay:
— Mô Phật! Xin mời tín nữ theo tôi.
❖
Tiểu Huệ dẫn khách đi dọc theo cái cửa nách nhỏ, trổ ngay bên cạnh tam quan, hai bên xếp xơ rơ vài chậu kiểng còi, vài cây mai ốm. Vừa đi vừa kín đáo quan sát bà khách, trong bụng chú lấy làm thắc mắc, không biết đây có thật là bà Ba Ngỡi hay không, một người hét ra lửa, khạc ra... bạc ở cái tỉnh Bến Tre nầy, một người giàu sang tột bậc, đất điền “cò bay gãy cánh, chó chạy rớt đuôi”. Không một tay bao tá nào dám vỗ ngực khoe rằng mình biết chính xác đất điền của bả có bao nhiêu mẫu hết.Bà Ba đây sao!? Sao coi bả tiểu tụy, bèo nhèo quá đỗi. Lời ăn tiếng nói sao mà nhỏ nhẹ, mềm mỏng quá vậy?
Hai người tiếp tục đi qua một dãy hành lang dài tăm tối, xuyên qua một mảnh sân hẹp lót gạch tàu loang lổ rêu xanh. Bên hông chùa, một bức họa lớn vẽ toàn cảnh Diêm La Thập Điện. Trong vườn, khung cảnh tranh tối tranh sáng, cành khô chấp chới chiếu bóng lên bức bích họa, hệt như những bàn tay ma khẳng khiu, quờ quạng, càng làm tăng thêm vẻ ghê rợn âm u của cảnh a tỳ địa ngục.
Đầu nầy, mấy thằng quỷ ngưu đầu, mã diện, cầm đinh ba cố sức dìm đám người trần truồng đang trồi lên hụp xuống giữa cái vạc dầu sôi sùng sục. Đầu kia, mấy con quỷ Dạ Xoa đang xẻ đôi người nọ trên bàn cưa, đứa lúc lắc rút gân, thằng lom khom cắt lưỡi. Góc giữa, một đám người mập ú, trắng hếu như lợn cạo, đang bị lũ ngạ quỷ vây quanh đòi mạng. Té ra ở chốn trần gian, đám nầy là lũ tham quan ô lại, ăn hại báo đời, hút máu, hút mủ dân đen. Xuống dưới nầy, của thiên trả địa, đem được gì theo, chỉ phân biệt được với hạng thảo dân nhờ còn sót lại cái mão cánh chuồn nhỏ xíu, tum húm đội ở trên đầu. Còn thì lõa thể cả đám, cha mẹ sanh sao để vậy, thằng nào cũng như thằng nấy, kẽ lái gió, người lù coi , cúi cúi, khum khum, lấy tay mà bụm...
Gần đến chỗ ngoặt rẽ xuống hậu liêu, bỗng có chút ánh nắng le lói ở trên trời cao dọi xuống. Tia nắng hiếm hoi ấy phát ra từ một miếng ngói bể, ở tuốt trên cao, bị đám mèo hoang xô dạt từ lâu mà nhà chùa chưa có tiền mướn người lợp lại. Tia nắng chiếu chính diện vô một bức tranh lớn dựng đứng, làm cho toàn cảnh bức tranh, với những gam màu u trầm bỗng trở nên rực rỡ, sống động lung linh. Người xem có cảm tưởng dường như ánh sáng công lý đã xé tẹt trời cao, vẹt mây mà rọi xuống sáng lòa. Giữa vùng ánh sáng chói chang ấy, hình ảnh bà Thanh Để hiện ra lồ lộ, trái hẳn với hình của thầy Mục Kiều Liên, chắp tay đứng cóm róm núp sau lưng mẹ, khuất trong một góc tối, cố giấu đi vẻ mặt đau khổ.
Họa sĩ miệt vườn nào đó đã chăm chỉ tô vẽ sự tích Mục Liên Thanh Đề. Màu sơn tuy đã cũ, nét vẽ ngây ngô, quê mùa, lại dùng toàn màu rợ nhưng cũng đã thể hiện được cái khung cảnh âm u, ở tầng mười địa ngục. Bà Thanh Đề, đít đặt trên bàn chông nhọn liễu, cổ đeo cái gông bằng gang nặng trĩu, hai tay bị cùm đưa lên cao, như đang ráng sức nưng cái chậu nặng đội ở trên đầu, chứa thứ nước gì sóng sánh đỏ bầm tợ máu. Vẻ mặt tuy cực kỳ đau khổ, song vẫn còn phưởng phất đôi nét phương phi đã níu ánh mắt của bà Ba Ngỡi phải dừng lại hơi lâu. Bà thấy sao mà hơi ngờ ngợ.
Chùa nghèo, hậu liêu cũng chính là trai đường luôn. Chư tăng ni đếm được trên đầu ngón tay gồm có nó, tiểu Huệ, sư cô và bà Bảy móm; một bà già, yếu đến nỗi từ sư cô cho tới tiểu Huệ, không ai dám nặng lời với bả. Vì dẫu có kê miệng vô lỗ tai bả mà gào thét cho tới tàn hơi mỏi cổ, thì bả cũng vẫn nghễnh ngãng mần thinh, không thèm trả lời trả vốn gì ráo. Sức bả còn mần được tới đâu thì cứ để cho bả mần tới đó. Tuổi già, cậy con, nhờ cháu, vậy mà con cháu bả không còn sót lại mống nào. Nhà ở gần chùa, hằng ngày bả chỏi gậy lụm cụm vô chùa mần công quả, với chút hy vọng nhỏ nhoi là: sau nầy trăm tuổi, được gởi nắm xương tàn cốt rụi vô chùa, hưởng khinh chút nhan khói cùng chư Phật. Phật tổ từ bi chắc ngài cũng không nỡ trách.
❖
Giữa trưa mà hậu liêu mát lạnh, tối thui. Ánh sáng vàng vọt leo lét của thếp đèn dầu phông yếu ớt, dường như không đủ sức xua tan đi bóng tối đặc quánh, bảng lảng vây quanh. Có tiếng nước nhỏ tí tách đâu đây, con thằn lằn chắc lưỡi núp trong góc tối. Không khí ẩm thấp, tù hãm, thoang thoảng cái mùi gì ngai ngái; mùi của đèn nhang ắp lẫm lâu ngày, cộng với mùi của mấy bình bông cúng trên bàn Phật đã bắt đầu tàn rữa, héo xào...Tiếng muỗi đói vo ve xao xác, lẫn với tiếng chuột rúc rích dưới chân giường. Sư cô Diệu Thiện, ốm như cái xác ve, nằm ẹp trên giường. Sư cô nghe rã rời từng khớp xương, thân xác mỏi mòn, xương sọ nhô cao, đối lại với đôi mắt đã trũng sâu, nhiều tròng trắng hơn tròng đen, đang trực thị vào một điểm cố định trên đỉnh mùng. Nghe báo có khách, bà mới uể oải nhổm mình lên, mệt nhọc dựa lưng vào cái gối vuông, hơi thở khò khè, như người bệnh suyễn.
Tiểu Huệ kê thêm một cái ghế đẩu cạnh giường người bệnh, bưng vô một bình trà nguội ngắt để ở trên bàn, chú thò tay khêu cao thếp đèn dầu phông, rồi lẳng lặng chắp tay đứng qua một bên. Ý là đứng hầu coi sư cô có sai bảo điều chi nữa không, chớ thiệt ra thâm tâm chú cũng rất tò mò, chú muốn nấn ná ở lại để chứng kiến cuộc gặp gỡ hiếm có này, không phải ngày nào cũng xảy ra, và không phải ai cũng có cơ duyên mà được chứng kiến.
Cuộc hội ngộ giữa hai người đờn bà nổi tiếng là trái ngược nhau. Một người chuyên cho vay đặt nợ, dám làm nhiều chuyện bạo thiên nghịch địa; của cải, điền sản nếu không giở sổ ra coi thì không thể nào nhớ hết, thế lực bao trùm cả tỉnh, chủ tỉnh còn phải nể phục đôi phần. Còn người kia là một bậc chân tu, trụ trì một cái am rách nát, nghèo rớt mồng tơi, nhưng mà đạo cao đức trọng, cả đời chay lạt nâu sồng, giữ gìn thanh quy giới luật. Ở trong chùa, ni cô Diệu Thiện quanh năm đi chưn không, khi nào phải đi ra ngoài, bà mới mang đôi thảo hài, do chính tay bà bện lấy bằng cỏ lau, cỏ lát. Cả đời bà, bà không dám đi dép da, bởi bà cho rằng: chỉ vì mình có lòng ham muốn đi dép da cho tốt, cho êm chân, cho nên người ta mới giết con vật để lấy da làm dép bán cho mình. Té ra, vô tình mình đã phạm giới sát sanh, không giết mà xúi người khác giết, tội ấy trời Phật nào dung. Chùa nầy cũng không thèm dùng trống, bởi mặt trống được bịt bằng da trâu. Bà Hai trường chay bằng đũa tre, trả lại cặp đũa ngà bịt bạc do bà Ba dâng cúng, bà cũng gói trả luôn cặp lược sừng, lược xương, cũng do chính tay bà Ba dâng tặng... (tóc đâu nữa mà chải, cái bà Ba nầy, thiệt là... vô ý, vô tứ). Tóm lại, trong chùa đoạn tuyệt hẳn với các loại đồ vật được chế tác có nguồn gốc từ động vật...
Vui với cuộc sống nông thiền, không biết có phải vì chịu ảnh hưởng bởi cái ông thiền sư trăm roi, trăm trượng gì đó, tận cái đời xa lắc xa lơ nào đó ở bên Tàu hay không mà bà chủ trương: "Nhất nhật bất tác, nhất nhật bất thực"[135]. Cho nên chiều chiều, trên miếng vườn nhỏ sau chùa, người ta lại thấy bóng bà vãi già cặm cụi lên liếp trồng rau hoặc cùng với chú tiểu trẻ, xới đất trồng bầu trồng bí.
Họ cũng chớ có thèm tơ hào, ỷ lại vào cái thùng Tam bảo Phước điền[136] do thập phương bá tánh cúng dường... Tiền của trong thùng đó chỉ dùng để bố thí, giúp đỡ cho những người nghèo ngặt trong làng. Ngoài ra các vật phẩm trong chùa như: tương ta, chao ta, đèn cầy, đèn sáp, nhang thắp bàn Phật thì cũng đều do một tay bà Hai tự cung, tự cấp, tự sản, tự tiêu...
❊
Kiếp nầy nợ trả chưa xong,Thì còn mang nặng nợ chồng kiếp sau.
— Chị Hai... ơi! ủa quên! Bạch... sư cô, nhà mình nghèo, mẹ cha mất sớm, chị thay mẹ nuôi em. Không bao giờ em dám quên công ơn chị, đã từng bồng ẵm, đút cơm dỗ ngủ, rửa đít rửa khu cho em hồi em còn nhỏ. Cho nên mấy năm trước, năm nào em cũng đều lên chùa thăm chị, nhưng chị đều lánh mặt không tiếp. Việc ấy đã đành, vậy chớ tiền bạc em gởi xuống, một xu chị cũng không thèm lấy, còn đồ vật em cúng vô chùa, thứ gì chị cũng đều gói trả lại không sót món nào, vậy là sao hả chị Hai?
— Mô... Phật! Người tu hành “thiểu dục tri túc”, không ham chi chùa cao Phật lớn, tài vật dồi dào. Tuy là cửa thiền rộng mở, nhưng mà tôi với dì thuở nay không “hạp”. Tôi là người tu hành lo vun trồng cái đức bố thí, cái hạnh từ bi, còn dì thì chuyên tom góp của cải, cho vay nặng lãi, làm nhiều điều tội nghiệt.
— Thì em cũng biết cái thân của em, nên em không dám làm náo động cõi thanh tu của chị. Nay dưng không chị mời em xuống đây, chắc có điều chi hệ trọng?
— Mô... Phật! Chuyện nhà của dì, tuy tôi ở xa, lại là kẻ xuất gia, không còn tham luyến hồng trần, nhưng mà ngoài chợ người ta đồn vấy lên, rùm beng cả tỉnh, nên dù tôi không muốn nghe, cũng đà lọt đầy hai cái lỗ tai hết rồi. Con chim sắp chết, tiếng hót bi thương, “nhân chi tương tử, kỳ ngôn dã thiện”, con người sắp chết, ắt nói lời lành. Dì Ba à, nay tôi biết trong mình của tôi, không còn sống đặng bao lâu nữa, nên tôi cho trẻ mời dì xuống đây là để tôi có đôi lời khuyên nhủ, lần nầy dì cũng nên nghe theo lời tôi một chuyến.
Nói đến đây, Sư cô Diệu Thiện co rúm người lại, thở hổn hển, cố đè nén những cơn ho húng hắng. Bà Ba lật đật đưa tay ra đỡ chị:
— Bạch với chị Hai! Cả tháng trời nay em xuống tóc, ăn chay, đêm nào em cũng trì chí lần chuỗi bồ đề, tụng kinh sám hối, niệm Phật tới khuya lơ khuya lắc, cầu cho Trời Phật phò hộ độ trì. Vậy mà mấy đêm liền rồi, em chong con mắt tới sáng, không ngủ được miếng nào. Hễ vừa chợp mắt một chút, là em chiêm bao thấy vía mình đương ngồi ở một chỗ nọ, không biết là chỗ nào, mà coi bộ âm u lắm, đít đặt trên bàn chông nhọn liễu, còn cái đầu thì gục xuống tới ngực, ngóc lên hổng muốn nổi, bởi bị đè bằng cái chậu gì mà tanh rình, tanh ói giống như chậu máu. Hai tay muốn đưa lên để bợ cái chậu đó bỏ ra ngoài mà cũng không xong, vì bị cùm bởi một vật gì giống như cái gông, nặng thôi chình chịch. Em có nhờ sư Muôn mượn người đánh đồng thiếp “du địa phủ” để hỏi cho ra lẽ, thì ở dưới Âm ty, ngài Nhứt Điện Tần Quảng Vương có nhắn với lên rằng: “Dữ ác hôn! Dưới nây tụi tui chờ bả lâu quá, mà chưa thấy bả xuống. Cái gông đúc bằng gang, để từ hồi năm Thìn bão lụt tới giờ, sét ăn gần hết, chắc phải đúc lại cái khác...” Còn thằng Hai Phát thì bạch với chị! Nó lậm con nhỏ ở rừng quá đỗi, con nọ bỏ trốn ngang xương, thằng kia ngắt ngơ ngắt nghéo, một ngày chết đi sống lại hổng biết mấy lần. Cả tháng nay, cơm cháo gì nó cũng không thèm ăn lấy một miếng, em sợ nó không qua khỏi con tráng nầy, rồi nó sẽ bỏ em mà đi... quá! Chị Hai... ôi!
Nói tới đây bà Ba khóc thút thít, lấy khăn ra chặm chặm hai con mắt đỏ chạch. Giữa hai cơn ho húng hắng cố đè nén xuống làm cho người sư cô run rẩy, bà phải đưa hai bàn tay gầy guộc khô khan lên vuốt ngực. Tiểu Huệ đang dỏng lỗ tai lên nghe, sực tỉnh nó lật đật rót tách trà nguội rồi kề gần bên miệng cho Sư cô thấm giọng.
— Mô Phật! Chưởng qua đắc qua, chưởng đậu đắc đậu, gieo gì gặt nấy, dì đã gieo quá nhiều cái nhân ác rồi, thì bây giờ ắt phải gặt lấy cái quả ác. Gieo một trái, hái một thúng, dì không biết hay sao. Ở trong tam chướng lục trần: tham, sân, si, cái nào dì cũng đã lậm quá rồi. Cả đời dì, dì chỉ lo tích cóp cho có thiệt nhiều của cải, bạc vàng, đó là tham ai ai cũng biết. Hễ ai không nghe theo lời dì, cản trở cái con đường làm giàu của dì thì dì nổi cơn tam bành lục tặc lên, rồi vung tiền bạc ra, dùng thế lực để mưu hại người ta, ấy là sân. Cuối đời, dì tưởng rằng chỉ cần ăn chay niệm Phật, mê mỏi việc tụng kinh gõ mõ, ngồi lần chuỗi hột bồ đề thì Phật Trời sẽ xóa hết tội nghiệt cho dì, đó chính là si, chớ còn gì nữa. Có đủ tham, sân, si như vậy, thì dẫu cho dì có ăn chay trường, cạo đầu trọc lóc, vô chùa ngói tụng kinh gõ mõ cho tới mãn đời thì Trời Phật cũng không làm sao mà gỡ hết tội nghiệt cho dì được đâu... Còn chuyện cậu Hai, cũng không phải là “tiền khiêng nghiệp chướng” chi đâu, mà chính thiệt là “quả báo nhỡn tiền” của kiếp nầy đó đa. Cậu Hai là người của cõi trên, được lịnh đầu thai xuống cõi hồng trần là để phá tán cho hết cái gia sản phi nghĩa, để đòi cho hết cái nợ mà kiếp nầy dì đã gây ra. Hễ đòi xong nợ, hết phận sự là cậu “thăng” về thượng giới liền hà. Trời Phật triệu hồi cậu về trên gấp, vì ở trên trời, người ta còn trăm công nghìn việc, ai hơi đâu mà nấn ná ở dưới nầy hoài, “cõi thế vô thường nầy, có gì mà vui chớ!”.[137]Chuyện là như vậy đó, dì cũng nên mừng chớ lẽ đâu phiền não. Còn con nhỏ ở rừng nào đó, thì dì phải mang ơn nó mới phải, vậy mới là phá chấp. Dì không nghe trong sách Minh Tâm có câu “Thiện ác đáo đầu chung hữu báo, cao phi viễn tẩu, giả nan tàng” hay sao? Bánh xe luân hồi, tuy chuyển có hơi chậm, một đời người chưa thấy được hết, nhưng việc báo ứng thì đã tới trước rồi đó, dù có bay cho cao, chạy cho xa, thì dưới gầm trời nầy, đố ai mà thoát được...
— Bạch chị! Chị nói vậy, em nghe cũng phải. Thiệt! Em cũng muốn nghe theo lời chị dạy lắm. Mà ngặt cái là chị Hai ơi, con của mình rứt ruột đẻ ra, ai mà không đau không xót hả chị, hơn nữa, nó lại là con một, đứa con trai nối dõi tông đường.
— Nam mô A Di Đà Phật! Tôi tuy quy y Phật pháp từ thuở nhỏ, nhưng vì đạo hạnh còn non, đức độ cũng không bằng ai, nên không dám lên mặt thầy đời mà dạy khôn cho ai hết. Tuy có câu “Ai ăn nấy no, ai tu nấy đắc”, nhưng chỗ chị em ruột thịt, không lẽ thấy dì trầm luân trong nghiệp chướng mà tôi làm hiềm, khoanh tay đứng nhìn, không chỉ cho dì. Dì Ba... ôi! Lẽ nào mình cứ làm điều ác, tạo nhiều tội nghiệt rồi chỉ cần ăn chay niệm Phật, tụng kinh gõ mõ, lần chuỗi bồ đề, ăn năn sám hối mà được Phật trời xóa hết tội lỗi cho mình. Vậy thì, cả thế gian nầy, có ai sợ gì mà không dám làm điều ác nữa. Dì Ba... ôi! Người ta tu cả đời mà còn chưa tròn quả phúc, tu “hạ thăng” kiểu như dì là tu lối tắt, là “dối thế”, dối cả Phật Trời. Cạo đầu ăn chay, cho vay cắt cổ, tu như vậy, chẳng thà đừng tu, vì tội nghiệt nó còn nặng hơn là người không tu nữa.
— Té ra cái sự tu hành, nó khó hơn tôi tưởng nhiều quá. Vậy thì, bạch với chị Hai, em phải tu như thế nào cho phải lẽ, hả chị Hai?
— Mô... Phật! Ác giả ác báo, thiện giả thiện báo! Dì về nhà, đừng gieo thêm cái nhân ác nữa, đừng cho vay nặng lãi, đừng cào nhà, xiết ruộng, đừng bắt người ta phải đợ vợ, dợ con cho mình nữa. Kể từ bây giờ và cả mai sau nầy nữa, dì đừng tạo thêm bất cứ một ác nghiệp nào có thể gây khổ đau cho người khác.
Nói đến đây, bà run run lấy tay vuốt ngực, có đè nén một cơn ho húng hắn. Hớp ngụm trà nguội do tiểu Huệ đưa ra, bà nặng nhọc nói tiếp:
— Mô... Phật! Kiếp phù sinh, vạn cảnh giai không, con người ta hễ xuôi tay nhắm mắt rồi, thì tiền tài địa vị, thế quyền sang trọng đều phủi tay hết sạch. Bao nhiêu của cải, ruộng vườn, có đem theo được gì đâu, thì tội gì mà bòn tro, đãi trấu, chắt mót chi cho cực tấm thân. Dẫu có bạc muôn xe để lại, mà con cháu bất tài, bất xứng, đã không biết lo giữ gìn, mà còn phung phí, thì càng dễ mất nết hư thân. Dì nên nghe theo lời tôi, rèn lòng nhơn ái, tập tánh từ bi, lo vun trồng cái đức bố thí mà tạo phước cho chúng sinh. Còn cái mớ của cải, tiền bạc phi nghĩa mà dì tích cóp bấy lâu nay, nó đã trở thành cái “kho oán” rồi đó. Phải biết cải ác tùng thiện đem nó ra mà bố thí, tạo phước cho chúng sinh, để đức lại cho con cháu đời sau...
Có câu “chùa rách Phật vàng”, nên cái sự bố thí, thì mô Phật! Nói có đức Phật soi lòng tôi. Hễ cúng chùa thì dì nên lựa chùa nghèo mà tăng ni trì chí, tinh tấn tu hành, chớ đừng lựa chi chùa giàu, sư mô úc na, úc núc, cạo đầu láng lẫy, tụng kinh giòn giã mà làm biếng nhớt thây, miệng nói chuyện tương chao mà sao phưởng phất mùi vọng ngôn mị ngữ, ngày tối trông chờ vào bá tánh thập phương, địa ngục thiếu gì lũ ấy. Dì cũng đừng nên đốt hàng mã, giấy tiền vàng bạc, có tội chớ không có phước... Tích tụ được nhiều thiện nghiệp như vậy, thì không cần tu mà tội nghiệt của dì cũng giảm bớt được đôi phần. Chúng sanh mê muội, không rõ luật nhơn quả luân hồi, tưởng chết rồi là hết, chớ theo bánh xe luân hồi của nhà Phật, hễ kiếp nầy mắc nợ mà dì trả không xong, thì kiếp sau dì phải đầu thai lên mà trả tiếp, có khi phải mang lông, đội sừng mà trả, trả chừng nào hết nợ mới thôi...
- Ối cha! Cái gông sao nó nặng quá trời! Biết trả tới mấy kiếp cho nó tiêu!?
Bà Ba chắc lưỡi than trời...
❊
Vậy đó, cái con người đã từng tuyên bố: “Làm phước quá tay, ăn mày hổng kịp”. Vậy mà sau cuộc hạnh ngộ lịch sử ấy trở về, bà Ba lại cho rước sư sãi, lập đàn trai giới, cầu khẩn Phật Trời, bố thí cả tháng ròng để mong cho cái gông bằng gang kia nó mòn đi chút đỉnh. Khói nhang mù mịt, tụng niệm rân trời, đồ chay, bánh trái ê hề, bá tánh tha hồ mà giựt giàn, hưởng thí. Đến nỗi có đứa con nít kia, con tá điền nghèo, cứ luẩn quẩn suốt mấy ngày đêm bên cạnh trai đàn, ních đầy nhóc một bụng bánh trái, đến nỗi cái bụng nó óc nóc, chang bang như cái trống chầu. Nứt bụng cành hông, nó nằm xuôi cò, thiêm thiếp mê man tưởng chết. Tới chừng đỡ cái đầu nó dậy, rinh nó lên để bỏ vô sáu tấm ván, bỗng nghe nó ợ lên cái ồ, mở mắt, ngồi dậy, lấy tay vuốt cái bụng cho xẹp xuống bớt, rồi bẽn lẽn tuột xuống đất cái rột, chạy tuốt một hơi ra sân, mạnh trân như cũ.Bà Ba cho xuất bạc trắng ra đúc cầu, đào kinh, nối liền hai con sông SĐ và TH. Bà còn bảo trợ việc in kinh ấn tống, cho tăng ni tu học và Phật tử có đủ kinh sách tu hành. Đích thân bà tìm thầy, mướn thợ, xây chùa cho sư sãi, cất trường cho con nít đi học.
Tiếng lành đồn xa, lan qua tới mấy tỉnh lân cận, nhiều chùa ở tuốt ngoài Trung, cử người lặn lội, khăn gói quả mướp, vô tuốt trong Nam, gõ cửa nhà bà mà quyên góp, bà cũng đều hoan hỷ xuất tiên cúng dường hết thẩy. Vậy mà có lần kia, ngài chủ tỉnh Bến Tre xuống thăm bà, nhè gặp lúc bà đang thời cơm - bà có tật ăn cơm rất lâu. Quan Lớn chánh người Pháp nầy phải kiên nhẫn ngồi chờ cả buổi, đợi cho bà ăn xong mới dám thỏ thẻ nhờ bà tiếp tay, vá giùm cái công khố tỉnh đang hồi thâm thủng mà sắp tới đợt thanh tra. Lần đó, không hiểu bà bị ông ứng bà hành hay con gì nó cắn mà bà dám mạnh dạn từ chối lời yêu cầu của cái con người miệng có gang có thép đó.
Thói đời! Dù bà có bố thí bao nhiêu đi nữa thì thiên hạ cũng vẫn chưa cho là đủ. Chưa đủ, là chưa đủ so với toàn bộ cái gia sản đồ sộ của bà, hay là chưa đủ so với những tội nghiệt mà bà đã gây ra? Ngồi lê đôi mách là “cố tật ngàn năm” của giống đờn bà, cho nên nhiều chị mài mỏ đâu sẵn ở nhà, lúc huỡn việc, mấy bà tám mỏ nhọn nầy, kiếm chuyện ra chợ, ngồi đâu mỏ chùm nhum lại mà “đía” với nhau tưng bừng. Mấy cái miệng thèo lẽo thấy sợ nầy phun ra một câu xanh đờn: “Coi như cháy vài tờ giấy nợ, cọp mới rụng sợi lông chưn thôi! Chớ có nhằm nhò gì!”.
Ở đời, biết ở sao cho vừa miệng thế gian.
Chỉ đâu mà buộc ngang trời,
Tay đâu mà bụm miệng người thế gian.
❃
Chẳng ai giàu ba họ, chẳng ai khó ba đời, trải bao lớp sóng phế hưng, chiến tranh tàn khốc, bao vọng tộc suy vi, vật hoán tinh di, tang điền thương hải. Mấy chục năm sau, dân Bến Tre chẳng ai thèm nhớ gì đến tiếng tăm giàu có rân rác của bà Ba Ngỡi, mà trái lại người ta chỉ nhắc đến những việc làm phước thiện, tưởng chẳng ra chi lúc đó... Vì ngày nào mà họ chẳng chèo ghe trong kinh Cô Ba, qua cầu Cô Ba, đi lễ chùa Bà Ba ... Nhưng xin độc giả ai đó, chớ có lỡ trớn nói lịu, mà “đế” thêm vô: “chè bà Ba, áo bà ba hay xà bông cô Ba” gì ráo. Vì chè bà Ba, áo bà Ba đã có từ lâu, trước khi bà Ba Ngỡi ra đời. Còn xà bông cô Ba, thì nói thiệt, phải đợi đến mấy chục năm sau, lối 1930 mới thấy xuất hiện trên thị trường, vỏ hộp có in hình cô Ba, con thầy Thông Chánh[138]. Là loại xà bông cục, làm từ cơm dừa Bến Tre, có hình hột xoài, màu xanh ngọc bích, mùi thơm dễ chịu. Trên cục xà bông có dập nổi hình người đờn bà bán thân nhìn nghiêng, tóc bới ba vòng một ngọn. Đã từng làm mưa làm gió trên thị trường “hóa mỹ phẩm” miền Nam cho đến tận thập niên năm mươi, sáu mươi ; “bán chạy vo vo” ăn đứt các loại xà bông thơm Ca-đum, Mac-xây[139] do Tây nhập cảng.❃ ❖ ❊
Tiểu Huệ tính nấn ná ở lại chùa thêm một thời gian nữa, chờ cho tóc mọc tốt tươi rồi mới hoàn tục luôn thể. Ngặt vì bệnh tình của sư cô mỗi ngày một nặng, nó chưa thể nào dứt áo ra đi. Kịp đến khi sư cô về chầu Phật tổ rồi thì tiểu ta còn phải nán ở lại chùa để phụ lo công việc trùng tu chùa chiền. Cũng bởi bà Ba chỉ tin tưởng ở tiểu Huệ - là người thân tín của sư cô - đã được sư cô gởi gắm lại bên giường bệnh, lúc bậc chân tu còn đang nửa tỉnh, nửa mê, hồn sắp thong dong trực vãng cõi Tây Phương cực lạc. Bà Ba đã cúng dường cho nhà chùa một số bạc rất lớn, đủ để trùng tu lại cái am không tên, cái chùa rệu rã nầy.
Và cứ như vậy, công việc của nhà chùa, ngày qua tháng lại đã chiếm hết thời gian của thằng Cưng. Nó chưa thể nào hoàn tục được, một phần vì tóc hổng chịu mọc, một phần vì trách nhiệm, phần vì thời cuộc, vì hoàn cảnh đẩy đưa.
Xây qua, xây lại, thời gian trôi mau như nước chảy chưn cầu, chừng ngoảnh mặt lại thì con đường hoàn tục đã quá xa xôi, không còn kịp nữa rồi, công đức tu hành đã rấp nẻo đường về.
Thím Ba ham dâu và thèm có chút cháu nội bồng muốn chết, vậy mà cái mơ ước nhỏ nhoi ấy, thím đành phải mang theo xuống tận đáy mồ. Ngày thím Ba mất, thằng con bất hiếu cũng không về kịp.
Sông vẫn chảy, đời vẫn trôi, đạo và đời hai đường chọn một. Cơm nhà Phật ăn đã mòn răng, áo cà sa lẽ nào lại cởi. Mấy chục năm trời nhấp nháy trôi qua, đến lúc đó rồi, thì thằng Cưng - tức tiểu Huệ - tức thầy Thượng tọa. Thầy Thượng tọa - phải cung kính gọi như vậy mới là đúng - vì lòng dục dẫu chưa phai nhưng mùi thiền đã bén, thầy đã thăng lên đến chức Thượng tọa, đã là sư cụ trụ trì của chùa Bà Ba danh giá rồi. Thiệt tình mà nói, cho tới tận lúc nầy, chúng ta cũng không thể biết là tiểu ta đã phủi sạch lòng trần mà phát “huệ” hay chưa nữa.
Thằng Cưng - tức tiểu Huệ - là đại diện cho một tầng lớp thanh niên mất phương hướng, thiếu lý tưởng thời bấy giờ. Lập trường lơ lửng của họ được thể hiện chắc nụi qua hai câu thơ:
Ra đi gặp vịt cũng lùa,
Gặp duyên cũng kết, gặp chùa cũng tu.
Chú thích:
[134] Trong tháng sấy nôi: chết từ hồi chưa đầy tháng (còn nằm nôi).
[135] Ngày nào không làm, ngày đó không ăn, là chủ trương của thiền sư Bách Trượng Hoài Hải. Bách Trượng cũng là một tên một ngọn núi bên Tàu.
[136] Là thùng ruộng phước, đựng tiền tùy hỷ cúng dường của thiện nam tín nữ đi lễ chùa.
[137] Bà vãi nầy xuất gia từ hồi còn nhỏ, chưa từng nếm mùi ái tình lần nào, nên nói như vậy. Kim Đồng, Ngọc Nữ kia, trừng giỡn, lỡ làm bể chén ngọc nên bị Ngọc Hoàng Thượng Đế đày xuống hạ giới. Thi hành án xong, được gọi về trời mà còn cố trì kéo, không đứa nào chịu về.
[138] Có tài liệu cho rằng hình đó là cô Ba Thiệu, vợ Trương Văn Bền, chủ hãng xà bông.
[139] Marseille là một cảng lớn của Pháp