UYÊN ƯƠNG BẠT GIÓ
Không ai nhìn thấy họ ra đi hết. Cả làng còn đang mải mê ngây ngất với ba lớp tuồng San Hậu. Đám gia nhơn, mà trong đó không thể thiếu con Thôi với thằng Được. Hai đứa ham vui đệ nhứt hạng nầy, vừa thúc cùi chỏ vừa chửi thề, chen lấn ráng giành cho được một chỗ đứng ở hạng cá kèo. Đó rồi “đâu mỏ” rọ rạy với nhau rân trời, có đứa còn xổ vài câu tiếng Tây ba xí, ba tú[133] cho thêm rậm đám.
Mùi dầu thơm rẻ tiền, mùi mồ hôi muối, mồ hôi dầu hòa lẫn với mùi “hách từ trong nôi” xông lên ngùn ngụt nồng nàn. Toàn là nam thanh, nữ tú không hà, đố có chị sồn sồn hay đứa con nít nào mà chen vô cho đặng.
Cả cái sân đình đầy ói người. Những cặp chân mốc phèn, những cái đầu khét nắng, thỉnh thoảng lắm mới thấy bồng bềnh trôi nổi vài cái đầu phùng chải tém kiểu đít vịt, bóng mượt bi-ăng-tin - Made in Cho-Lon.
Mới vừa ôm cứng ngắc cột đình, khóc mùi khóc mẫn ở màn Nguyệt Kiểu xuất gia. Khóc chưa đã thèm, ngấn nước mắt trên mặt còn chưa kịp ráo, thì đứa nào đứa nấy cũng đều ôm bụng cười lăn mỗi khi thấy thằng út Tạ Ôn gì gì đó xuất hiện, hễ mở miệng nói ra câu nào là “khờ ịch” câu nấy. Nhứt là tới lớp sư Giả Ngu ra tuồng, lão sãi mầm nầy rống lên những lời thống thiết:
Như ta đây:
Tuy chẳng phải như ông... thầy cả.
Song cũng đà dựa cốt... Phật Bà,
Bốn mùa mặc áo những... áo dà,
Tám tiết ăn ròng... rau muống,
Đi tu có giới cấm:
Nhất giới sát sanh,
Nhị giới ẩm tửu,
Tam giới hoặc ngôn,
Tứ giới thông đạo,
Ngũ giới tà dâm;
Cấm thời cấm vậy mà thôi, (chớ) thương hại thân tôi;
Giở bình tương nghĩ tới... thịt hầm;
Gắp rau muống nhớ mùi... mắm ruốc.
Gái mười bảy lịch nên quá lịch,
Cúng bữa rằm làm sãi... ngẩn ngơ.
Ở dưới liền nổ ra một trận cười ngất ngơ ngất nghéo, cười tới tức thở, lộn ruột, cười không khớp mỏ.
❃
Tiếng trống chầu trong đình vọng ra báo hiệu sắp tới hồi cụp lạc. Trên sân khấu, chàng họ Đổng bị rượt nà, chạy thôi xấc bấc xang bang. Phía sau lưng, quân phản tặc rượt theo sát đít, ó ré rân trời. Nột quá! Mà cơ khổ quá, thằng ấu quân đeo dính ở trên lưng, lại khát sữa đòi bú, khóc thôi ngằn ngặt! Báo hại... chưa! Vú đâu có sẵn giữa đàng?Đó rồi, giữa đêm khuya, hồn ma bóng quế của Khương Linh Tá mới hiện về, đưa đường chỉ lối cho bạn hiền Đổng Kim Lân, phò ấu quân nhắm hướng San Hậu thành mà chạy trốn.
Nói tới chạy trốn mà không ai dè rằng, dưới bến sông cách mấy công vườn, cũng có hai bóng người đang dắt nhau chạy trốn. Gia tài sự sản, đùm túm đem theo, chỉ gói vừa vặn trong một tờ giấy nhựt trình. Chàng đỡ nàng xuống ghe, đạp xuồng tách bến, tâm trạng bùi ngùi...
Trăng rơi nhè nhẹ trên sông nước, bến sông lùi lại phía sau, mũi thuyền rẽ nước róc rách. Rặng dừa đen thẫm sau lưng xa lần, xa lần rồi từ từ mất hút sau một doi đất. Ra đến sông cái, trăng sáng vằng vặc, họ thôi chèo, để mặc cho thuyền trôi linh đinh. Trời trong vắt, vạn vật im lìm, chỉ còn trăng trôi cùng nước, nước xuôi cùng thuyền. Con thuyền trôi càng lúc càng xa. Nàng ngồi sau lái, đôi mắt vẫn còn mở to lưu luyến hướng về cái vừng sáng ở phía sau lưng, mặt buồn dàu dàu, thỉnh thoảng hỉ mũi rồi kéo chéo khăn lên chặm nước mắt. Chàng biết ý, lơi tay chèo an ủi:
— Thôi em! Chủ biết phải thì mình ở, không phải thì mình đi. Trốn đi đặng là phước đức ông bà để lại, việc gì mà luyến tiếc.
— Có gì mà tiếc! Tui không tiếc cái gì hết á, mà tui chỉ thương cho cậu Hai. chăm sóc cho cậu bấy lâu, cũng mến tay mến chưn lắm chớ. Một ngày cũng nghĩa, nếu như cậu không trổ chứng, sanh tật, thì ai mà nỡ bỏ. Chỉ sợ mấy đứa ở sau nầy không biết ý, thấy cậu kỳ hình, dị tướng mà phát gớm, bỏ bê không chăm sóc cậu cho chu đáo. Thiệt... tình! Nghĩ cũng tội cho thằng nhỏ, má nó còn gớm, thì ai mà thương nó cho nổi. Trốn đi như vầy, trông gì gặp lại, còn em Thôi, em Được nữa chi, biết chừng nào tui mới gặp lại tụi nó. Nhớ tụi nhỏ quá chừng, chắc đêm nay tui mất ngủ à nha.
Ấy là cô chưa kể đến ánh mắt đồng lõa của con mực, lưu luyến nhìn cô ôm gói ra đi, quấn riết lấy chân mà không dám sủa. Cô phải làm mặt giận, bặm môi giậm chân mấy cái, cúi xuống lượm đất chọi cho nó mấy cục, nó mới chịu lủi thủi trở về.
— Non nước nầy rồi, mà còn không chịu xưng “em” cho nó thuận! Sao cứ xưng “tui” hoài vậy? Nghe hổng bùi tai chút nào...
Một cái liếc dài thượt muốn cháy đuôi con mắt, kèm theo một cái cong môi:
— Ứ! Cái anh này, tại người ta chưa quen!
— Chừng nào thì người ta ấy mới quen?
— Ớ! Ai biết! Lãng òm hè!
Đêm đã khuya rồi mà ai đó vẫn còn thức. Từ một ghe thương hồ đang cắm sào neo đậu lẻ loi bên bờ sông vắng, bỗng vang lên một giọng hò lảnh lót:
Hò... ơ... hơ..., ngàn trùng nương bóng tùng quân.
Tuyết sương che chở cho thân... Cát đằng.
Tiếng hò ngân dài, lan tỏa ra chơi vơi, trên bao la sông vắng...
❊
Gió thổi thốc vào làm cho quần áo hai người reo lên phần phật. Chàng trai ngước nhìn trời mây, le lưỡi thấm ướt ngón tay, giơ lên cao để ước lượng hướng gió, sức gió. Rồi dường như còn “cảm khái” với câu hò vừa rồi, nên buông ra một câu cà rỡn:— Nước xuôi, gió thuận. Phen nầy trời thương “vợ chồng” mình rồi.
Nàng “hứ” cái cốc, rồi cứ một tiếng “quỷ nà” lại véo vô be sườn chàng ta một cái đau điếng. Đó rồi cúi xuống, khoát tay vốc nước lên rửa mặt, lẹ làng nhanh nhẹn cầm lấy cây dầm một cách dứt khoát, men ra ngồi đằng trước mũi thuyền... bơi phụ. Nước xuôi, gió thuận, thuyền trôi theo nước, gió đẩy thuyền đi, êm như ru, chỉ nghe tiếng dầm cạ vô be thuyền đều đều cùng với tiếng nước rẽ róc rách, róc rách hai bên mạn thuyền.
Nàng bơi mũi, chàng chèo lái, hai tay chèo lẹ làng khỏa nước, làm vỡ tan từng mảnh trăng vàng loang loáng. Con thuyền nhỏ, êm đềm lướt đi trong trăng trong sao, trôi nhanh vun vút, hướng về phía một bến bờ mờ ảo nào đó, quản chi bến đục hay trong...
Dòng sông càng lúc càng rộng ra bát ngát. Một quãng đời khổ ải đã khép lại sau lưng, mở ra trước mặt một chân trời mênh mông, vô định...
❊
Tin con nhỏ Quyên, cuốn gói dông mất ngay trong đêm hát cúng đình, lại còn “xỏ mũi” xách theo người quân tử miệt vườn, để cho “đủ cặp” mà xây tổ uyên ương; ném về loại tin “đất bằng, sấm dậy” ở cái làng nhỏ còn theo xưa nầy. Vậy mà mãi tới trưa trờ trưa trật ngày hôm sau, mới được mọi người phát hiện.Buổi trưa hôm đó, không có ai chăm sóc cho cậu Hai, cậu làm mình làm mẩy, ó ré rân trời, đám người làm chạy kiếm Quyên tở mở. Chạy báo cho Hai Thành thì Hai Thành cũng mất tiêu tăm dạng luôn. Coi lại, thì quần áo hai người không còn một bộ, chắc họ phải cụ bị để đi xa lắm, vì dân ở quanh vùng nầy, có ai mà dám chứa.
Con nọ trốn đi, thằng kia mất biệt. Thôi thế còn ngờ gì nữa, đâu cần phải nói huỵch tẹt ra chi. Bà Ba Ngỡi mới nổi cơn tam bành lục tặc bả lên: “Cơm nhà tao bây ăn còn giắt kẽ răng, mà bây đã vội quẹt mỏ...”. Bả lồng lộn ra lịnh cho đám tá điền tức tốc đem hết ghe xuồng rượt theo, hẹn trong nội nhựt, sống chết gì cũng phải bắt về đủ cặp, dộng đầu vô trăng ngoài Nhà việc” .
Hai Phát nằm như thây khô chết rũ, bà Ba mà không nổi điên lên thì mới lạ. Đám tá điền tức tốc chạy đôn chạy đáo đi lấy ghe. Té ra, tất cả ghe xuồng đều đã bị nhận chìm dưới xẻo. Ghe nào cũng mất cặp chèo, còn lại mấy chiếc lớn đương nằm ụ thì đã bị anh Hai ảnh đục cho lủng đáy rồi xảm lại sơ sài bằng đất sét độn rơm. Không có ghe thì kể như cụt chưn, lớp phải lo lắc nước kéo lên, lớp phải chạy qua điền khác mượn ghe.
Quyên có quá trời người thương, Hai Thành có quá trời người nể (nể là nể cái oai của va. Có rượt kịp, chắc phải cua tay đứng nhìn, hoặc xuống nước năn nỉ, chớ ai mà dám bắt va). Cho nên cả bọn phải giả bộ ó ré rân trời, làm màu lăng xăng lít xít, làm bộ làm tịch cho rộn ràng, dớn dác chạy tới chạy lui cho chộn rộn, kêu réo nhau cho om sòm. Họ hè nhau chèo ghe cho thiệt lẹ. Ra tới ngoài vàm, vừa khuất mắt bà Ba là họ kiếm xẻo nhỏ lủi vô, ngủ thẳng ót một giấc cho tới chiều tối rồi mới trở về, giả mặt khờ, bẩm lại là đã rượt theo ngất ngư mà không thế nào bắt kịp.
Cuộc săn đuổi giống như một cuộc đi chơi, đúng như dự đoán của hai người chạy trốn.
Hai Phát trận thượng, tuyệt thực suốt cả ngày hôm đó. Mấy ngày sau, cậu lơ cơm lơ cháo, bà Ba phải cạy miệng, đổ hồ bằng muỗng. Cậu suy sụp thấy rõ, không ai dám tới gần, quần áo cả tuần không cho ai thay, tóc tai mấy ngày không cho ai chải, đừng hòng nói tới chuyện tắm rửa làm chi cho uổng công.
Ngay cả câu thần chú: “Méc cô Quyên” cũng không làm sao cho cậu nhúc nhích được. Mọi lần, hễ có ai đọc câu thần chú đó lên thì cậu ta còn sợ, còn ngúc ngoắc chưn tay đôi chút. Bây giờ thì Quyên đã đi mất rồi; trong cái đầu óc tối tăm u ám đó, dường như cũng đã lờ mờ nhận thức được rằng: “trên cõi đời nầy, chắc gì còn được tạng mặt cái con người yêu kiều đó nữa. Ôi! Mộng trùng lai không có thực trên đời”.
Bà Ba sai đầy tớ bỏ cậu Hai lên tấm ván rồi rinh thẳng lên nhà trên, cho ở chung buồng với bà, đích thân bà chăm sóc. Nhưng cậu không cho ai đụng vào mình hết, kể cả bà Ba, cậu cũng... cắn.
Nhìn con nằm quặt òa quặt oại, khi tỉnh thì xà lĩa xà lay, khi mê thì ỉa đái tại chỗ, chèm nhẹp như cơm nếp mắc mưa, tấm lòng người mẹ xốn xang như lửa đốt. Ai chẳng thương con, nhứt là đứa con ốm yếu tật nguyền. Tình mẫu tử bị thử thách, bà vái Trời khấn Phật, nếu như cậu Hai mà mạnh giỏi, thì bà cạo đầu, niệm Phật, ăn chay trường cả tháng, miễn đong lúa ruộng cho tá điền, tá thổ cả năm.
Cuối cùng, cầm lòng không đậu, bà ra lịnh cho đám đầy tớ thay phiên nhau, túa ra khắp các chợ quê, các làng, các tổng. Ngõ ngách nào cũng đi, hóc kẹt nào cũng tới, phao tin, bắn tiếng: “Hễ Quyên mà chịu về thì bà tha thứ hết cho cô, bà còn chạy tờ cấp cho vợ chồng cô mấy dây đất tốt ở gần đó để cho hai đứa nó lo hậu vận sau nầy nữa”.
❊
Cũng vì chuyện nầy mà trong làng, dư luận xôn xao, chia ra làm hai phe, ba phái. Cứ mỗi lần có đám tiệc giỗ quảy gì đó, thì tại bàn giữa, nhà trên, mấy ông “Hán rộng, Nho thâm” nhớ tới Hai Thành bao nhiêu thì lại “oán” con nhỏ ở rừng bấy nhiêu, vì mấy ổng cho rằng con nhỏ có lận bùa lận ngải, mới làm được cái chuyện động trời là “bắt xác” cái người quân tử cuối cùng của mấy ổng, khiến cho bàn tiệc giờ đây lặng lẽ, đìu hiu như cái chợ chiều, không còn ai nói Tam Quốc, Thuyết Đường, luận Thủy Hử anh hùng, vừa hay vừa rành rẽ như cái thằng Thành nầy.Còn ở dưới bếp thì mấy bà, mấy cô sồn sồn cãi nhau như giặc, nhưng cuối cùng rồi thì họ cũng đều đồng ý, nhất trí với nhau rằng: Hai Thành ỷ mình là người có chữ nghĩa, nói ngon nói ngọt, dụ dỗ con nhỏ ở rừng cái mặt còn non nhớt, khờ ịch.
Không ai chịu đi hỏi ý kiến mấy đứa tre trẻ như con Thôi, thằng Được, thì tụi nó sẽ cười “mỉm chi cọp” rồi trao đổi với nhau cái nhìn đầy ý nghĩa: “Bông xứng bông, bình lại xứng bình! Xứng đào xứng kép! Chưa biết ai dụ ai à nha!?”
Chú thích:
[133] Tiếng Pháp bồi, ba rọi. Có người cho rằng do ba chữ: Pas: không, Si: nếu, Tout: tất cả