Kỷ Nguyên Park Chung Hee Và Quá Trình Phát Triển Thần Kỳ Của Hàn Quốc

Lượt đọc: 784 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 6
các lực lượng vũ trang
kim joo-hong

Các lực lượng vũ trang Hàn Quốc bắt đầu liên quan trực tiếp tới chính trị từ cuộc đảo chính quân sự của Park Chung Hee vào tháng 5 năm 1961. Sự kiện chuyển giao “chính quyền dân sự” vào tháng 10 năm 1963 làm tan rã chính quyền quân sự nhưng không khiến các lực lượng vũ trang chấm dứt vai trò trong hoạt động chính trị của đất nước này. Park sau này sẽ điều hành Hàn Quốc trong vai trò một người-lính-chuyển-sang-chính-trị-gia-dân-sự, các lực lượng vũ trang phục vụ cho ông trong vai trò lực lượng đảm bảo trật tự chính trị tối cao vào những thời điểm khủng hoảng và là một nguồn cung cấp ổn định các nhân sự trung thành và ủng hộ làm việc trong các cơ quan chủ chốt ở chế độ chính trị của ông. Quân đội Hàn Quốc thuộc về cái mà Samuel P. Hungtington từng gọi là một “cận vệ cấp cao”, đặt những lợi ích chính trị của Park trước tất cả những thứ khác với niềm tin rằng lợi ích của ông cũng là lợi ích nội bộ của tổ chức này cũng như lợi ích quốc gia của Hàn Quốc.

Theo quan điểm của Park, các lực lượng vũ trang quá quan trọng để không bị chính trị hóa. Thứ nhất, để duy trì được triều đại của mình, Park phải vận động các lực lượng vũ trang, cơ sở quyền lực đáng tin cậy nhất của ông, để kiểm tra, kiểm soát và trấn áp phe đối lập với chế độ độc tài của ông và ngăn không cho xã hội phát triển một nền tảng quyền lực độc lập. Trong suốt thời gian 18 năm, Park tuyên bố về thiết quân luật năm lần và ba lần sử dụng các sắc lệnh quân đồn trú để dập tắt thách thức đang gia tăng từ những nhà bất đồng chính kiến chaeya, các chính trị gia chống đối và các lực lượng xã hội mới nổi. Để khiến quân đội nhất trí chống lại phe đối lập vào những thời điểm khủng hoảng, Park buộc phải chính trị hóa nó, biến nó trở thành công cụ của cá nhân ông. Thứ hai, đã từng là nạn nhân nhưng cuối cùng chính là người hưởng lợi từ nạn bè phái trong các lực lượng vũ trang, Park biết rằng ông phải lợi dụng sự cạnh tranh giữa các bè phái quân đội cho lợi ích của riêng mình nếu ông cần áp đặt sự kiểm soát chặt chẽ lên các lực lượng này. Bằng cách đó, ông đã chính trị hóa các lực lượng vũ trang Hàn Quốc nhiều hơn nữa. Ông trở thành bậc thầy của tranh chấp bè phái và các âm mưu “cung đình”.

Tuy nhiên, cần phải nhấn mạnh rằng việc chính trị hóa quân đội không nhất thiết làm tổn hại đến quá trình hiện đại hóa đất nước. Thật ra, đã từ lâu trước cuộc đảo chính quân sự của Park, sự bùng nổ Chiến tranh Triều Tiên (1950-1953) đã chuyển hóa một đội quân vốn hỗn tạp, gồm các cựu sĩ quan cấp tá và những người chiến đấu độc lập từ tất cả các luồng ý thức hệ bị chia rẽ với vô số bè phái, thành một quân đội chuyên nghiệp với tiềm năng lãnh đạo đất nước đi đến hiện đại. Khi Hàn Quốc hậu chiến trở thành mặt trận phòng thủ chống lại sự lan truyền chủ nghĩa cộng sản ở Đông Á, Hoa Kỳ ồ ạt đổ các khoản viện trợ quân sự khổng lồ để tiếp tục nâng cấp năng lực chiến đấu của nước đồng minh. Bao gồm trong viện trợ này là hoạt động đào tạo các lực lượng sĩ quan Hàn Quốc mà sau này tỏ rõ tầm quan trọng trong quá trình mở rộng vai trò của quân đội thành các hoạt động xây dựng đất nước phi quân sự vào những năm 1960. Trước khi Park khởi động cuộc đảo chính của ông, các lực lượng vũ trang đã trở thành hệ thống tổ chức chặt chẽ và hiện đại nhất ở Hàn Quốc. Trên thực tế, các thành viên của liên minh đảo chính đã thành công khi củng cố quyền lực của họ chủ yếu bởi họ có thể kiểm soát, quản lý và tận dụng được mọi đặc tính phức tạp của các tổ chức quân đội vào mục đích xây dựng quốc gia. Bên cạnh đó, những người này cũng tận dụng được các ưu thế tổ chức bắt nguồn từ thẩm quyền của các tổ chức quân đội nhằm làm suy yếu các lực lượng xã hội và tổ chức quá trình hiện đại hóa.

Không thể kết luận rằng quá trình chính trị hóa các lực lượng vũ trang và việc mở rộng vai trò của lực lượng này sang các lĩnh vực phi quân sự đã cản trở quá trình chuyên nghiệp hóa của quân đội. Trái lại, trong suốt giai đoạn cầm quyền dài của Park, quân đội thậm chí đã trở thành một lực lượng chiến đấu hiện đại chuyên nghiệp hơn và hùng mạnh hơn. Các nhân tố an ninh bên ngoài đã thúc đẩy Park củng cố tinh thần đồng đội của tổ chức này. Đầu tiên, ngay cả sau khi hủy hoại nền kinh tế và xã hội Bắc Triều Tiên trong chiến tranh Triều Tiên, lãnh tụ của nước này, Kim Il Sung, vẫn giữ tham vọng “giải phóng” miền Nam khỏi đế quốc Mỹ, phân bổ đến 25% tổng sản phẩm quốc dân của Bắc Triều Tiên để xây dựng những đại đội pháo hùng hậu dọc theo khu vực phi quân sự hóa (DMZ) và để xúc tiến việc dàn quân phần lớn các lực lượng vũ trang của nước này. Để ngăn cản Kim Il Sung phát động một cuộc Chiến tranh Triều Tiên thứ hai, Park buộc phải đầu tư mạnh vào đào tạo chuyên môn cho các lực lượng sĩ quan, nâng cấp hệ thống vũ khí và xây dựng một ngành công nghiệp quốc phòng. Thứ hai, vào năm 1965 Park đã gửi quân chiến đấu đến miền Nam Việt Nam như một phần trong nỗ lực xây dựng mối quan hệ liên minh gắn bó với nước đồng minh có vẻ thiếu kiên định - Hoa Kỳ, nước ngày càng mong muốn tự giải thoát khỏi các cam kết an ninh châu Á. Trong quá trình này, chiến tranh ở Việt Nam cũng trở thành một cơ hội để thử nghiệm và nâng cấp năng lực quân sự của Hàn Quốc. Sau khi quân chiến đấu được gửi đến Việt Nam, cuộc chiến này đã tự nó trở thành một lý do căn bản để duy trì tốc độ chuyên nghiệp hóa.

Vậy, câu hỏi đặt ra là làm thế nào mà những hình ảnh khác biệt đến thế của các lực lượng vũ trang Hàn Quốc khi họ vừa là một quân đội bị chính trị hóa vừa là một đội quân chuyên nghiệp lại có thể cùng tồn tại. Chương 6 lập luận rằng cả hai hình ảnh này đều tạo nên thực trạng của Hàn Quốc, tuy nhiên chúng không đối lập như vẻ ngoài bởi Park, ý thức được về các tác động đối lập về mặt tổ chức đang còn tiềm ẩn của hai xu hướng này, đã sử dụng một chiến lược chi phối hai cấp độ, chiến lược này cân bằng được những yêu cầu bảo vệ cho một tổ chức quân đội trung thành về mặt chính trị nhưng cũng chuyên nghiệp về mặt tổ chức. Bộ nguyên tắc chi phối thứ nhất là cách ly và độc chiếm. Cả hai đều là biện pháp để ngăn ngừa những thế lực khác không vận động đấu tranh bè phái trong quân đội vì mục đích riêng của họ và là cách để xây dựng một lực lượng chiến đấu chuyên nghiệp có khả năng đáp ứng các thách thức an ninh từ bên ngoài, Park đã cách ly quân đội Hàn Quốc khỏi tất cả các lực lượng chính trị và xã hội ngoại trừ chính ông. Đối với Park, việc cách ly là một bước để tiến tới độc chiếm lòng trung thành của các lực lượng vũ trang cũng như để bảo vệ tinh thần đồng đội và tiềm lực về tổ chức của quân đội. Dưới sự kiểm soát chặt chẽ của ông, quân đội sẽ được sử dụng chỉ như một phương tiện cho chính quyền trong các cuộc đấu tranh chính trị trong nước và như một công cụ phòng vệ quân sự trong mối quan hệ xuyên bán đảo Triều Tiên. Chiến lược nước đôi giữa cách ly và độc chiếm này được thúc đẩy đáng kể bởi chiến thắng của ông trong các cuộc đấu tranh giai đoạn 1961-1963 giữa các thành viên của chính quyền quân sự để kiểm soát quân đội. Khi phát hiện khoảng 11 hoặc hơn “âm mưu phản cách mạng” bị cáo buộc được lên kế hoạch bởi các tướng lĩnh đối thủ trong chính quyền quân sự, Park đã thanh trừng khỏi các lực lượng vũ trang tất cả những kẻ thách thức tiềm năng cho vị trí lãnh đạo của ông trước khi ông thắng trong cuộc bầu cử tổng thống năm 1963. Sau đó, nhiệm vụ của ông là phải duy trì được quyền kiểm soát khó khăn lắm mới giành được này bất chấp quá trình dân chủ hóa chính trị và bất chấp sự già đi của ông, điều này đã khởi phát cuộc cạnh tranh quyền kế nhiệm giữa các lãnh đạo chính trị cấp cao cấp hai.

Thứ hai, Park đã sử dụng một hệ thống thăng bậc kép mà ở đó các cận vệ cấp cao sẽ chỉ huy các đơn vị tình báo quân sự chiến lược và những quân nhân chuyên nghiệp sẽ đi lên từ tập đoàn quân. Hai lộ trình này hiếm khi gặp nhau, chúng ngăn không cho quá trình chuyên nghiệp hóa bị cản trở bởi việc Park sử dụng các lực lượng vũ trang làm cận vệ cá nhân cấp cao vào các thời điểm khủng hoảng và cũng không để cho quá trình chính trị hóa làm suy yếu quá trình biến đổi không ngừng các lực lượng vũ trang Hàn Quốc thành một tổ chức chuyên nghiệp. Khi một cựu học viên của Học viện Quân sự Hàn Quốc bước chân vào con đường chỉ huy chiến đấu hay một vị trí an ninh chống lật đổ, anh ta thường ở nguyên trong con đường lựa chọn ban đầu và hưởng những đặc quyền dành cho con đường sự nghiệp đó. Những người chọn con đường an ninh chống lật đổ được Park tin tưởng cho tham gia vào các nhóm trung tâm ra quyết định về các vấn đề chính trị tối quan trọng. Họ nắm giữ quyền lực lớn hơn nhiều so với các tư lệnh chiến trường, tuy nhiên họ hiếm khi được thăng bậc lên cấp tướng bốn sao. Theo một cách nào đó, các sĩ quan trong lực lượng an ninh đánh đổi danh dự và uy tín vì quyền lực. Ngược lại, các sĩ quan theo con đường chỉ huy chiến trận sẽ lên đến những vị trí cao nhất và uy tín nhất trong các lực lượng vũ trang, trong đó có cả vị trí tổng tham mưu trưởng bốn sao của quân đội. Nhiệm vụ của tập đoàn quân là duy trì khả năng phòng vệ quân sự chống lại Bình Nhưỡng.

Ngoài ra, Park cũng sử dụng chiến lược chia để trị đối với các sĩ quan an ninh để ngăn cản sự hình thành các đối thủ thách thức vị trí lãnh đạo của ông trong quân đội. Tổng cục An ninh Quân đội (ASC) bị giám sát chặt chẽ bởi Sở chỉ huy Quân đồn trú Thủ đô (CGC), rồi hai cơ quan này lại bị kiểm soát bởi Cơ quan Tình báo Trung ương Hàn Quốc (KCIA) cùng Văn phòng An ninh Tổng thống (PSS), hai cơ quan cốt lõi khác trong bộ máy an ninh của Park. Cho dù như vậy, Park vẫn ý thức được rằng mình cần phải ra quyết định cá nhân về việc thăng cấp cho các sĩ quan quân đội cấp cao để giữ cho những vị phó tướng tin cẩn nhất của ông chuyên tâm vào nhiệm vụ của họ.

Các thách thức an ninh và quá trình chuyên nghiệp hóa

Quân đội là phương tiện cho chính sách đối ngoại, 1963-1967

Park Chung Hee nhận thấy phát triển kinh tế và an ninh quốc gia có mối liên kết không thể tách rời; xây dựng một quân đội hùng hậu cần một nền kinh tế công nghiệp mạnh mẽ và ngược lại. Tập trung vào tăng trưởng kinh tế với niềm tin rằng quá trình này sẽ dẫn đến tích lũy quân sự trong dài hạn không thể là chiến lược hiện đại hóa ông chọn, vì trong suốt giai đoạn cầm quyền của ông mối đe dọa quân sự từ Triều Tiên là có thật và rất cận kể. Tập trung vào tăng trưởng kinh tế chỉ khả thi khi Hàn Quốc có được những sức mạnh quân sự hùng hậu để ngăn cản Kim Il Sung không phát động chiến tranh. Bắc Triều Tiên đã vượt qua đối thủ phương nam về GNP bình quân đầu người trước năm 1958. Để làm tăng thêm hơn nữa các mối quan ngại, khoảng cách Bắc-Nam tiếp tục mở rộng trong suốt những năm 1960 với việc hoàn tất thành công Kế hoạch Khôi phục 3 năm (1954-1956) và Kế hoạch 5 năm đầu tiên (1957-1961) của Kim Il Sung. Khoảng cách kinh tế gia tăng cũng biến thành khoảng cách quân sự khi nó cho phép Bình Nhưỡng gây dựng lại các lực lượng vũ trang của nước này. Với khoảng 25-30% GNP chi tiêu cho quốc phòng, Bắc Triều Tiên có thể duy trì được một quân đội thường trực đến hơn 400.000 lính, với dân số chỉ bằng một nửa của Hàn Quốc.

Bắt kịp và cuối cùng là vượt qua Bắc Triều Tiên ở cả sức mạnh kinh tế và quân sự là những nhiệm vụ cực kỳ khó khăn. Nền kinh tế Hàn Quốc quá nhỏ, quá nghèo và quá mỏng manh trước các mối đe dọa an ninh để có thể thu hút được vốn đầu tư nước ngoài. Do đó Park đã sử dụng sức mạnh nhà nước và thương lượng chính trị để làm được những điều thị trường không thể làm. Không chỉ củng cố liên minh với Hoa Kỳ — trụ cột phòng vệ quân sự và an ninh cuối cùng của Hàn Quốc - mà còn có được vốn đầu tư, công nghệ và thị trường xuất khẩu thông qua chính sách đối ngoại, vào giữa những năm 1960 Park đã tiến hành hai chính sách đối ngoại đầy tranh cãi và quân đội đều đóng vai trò quan trọng trong hai chính sách này. Một là để thu được khác nguồn quỹ bồi thường thiệt hại thông qua quá trình bình thường hóa quan hệ ngoại giao với chính quyền thực dân từng chiếm đóng đất nước, Nhật Bản, chính sách này đã khiến xã hội rơi vào hỗn loạn đến mức chỉ quân đội mới có thể kiểm soát được. Chính sách thứ hai là việc gửi quân chiến đấu sang miền Nam Việt Nam với tư cách là một đồng minh của Hoa Kỳ nhằm phục vụ cho mục đích hiện đại hóa quân đội, phát triển kinh tế và củng cố liên minh. Việc gửi quân chiến đấu đã giúp Park kiếm được một khoản viện trợ ổn định từ Mỹ (xem Chương 14 và 15).

Trong trường hợp bình thường hóa quan hệ với Nhật Bản, quân đội giữ vai trò của một người bảo vệ trung thành che chắn cho Park cùng với chế độ khỏi những đợt biểu tình rộng khắp nổ ra vào tháng 6 năm 1964. Vì các trường đại học nổi loạn, Park đã phải đình chỉ các cuộc đàm phán với Nhật Bản, tuy nhiên bên cạnh đó ông cũng ban bố thiết quân luật để trấn áp phe đối lập hòng dọn đường cho việc nối lại các cuộc thương thảo. Do đó bắt đầu từ “Sự kiện ngày 3 tháng 6”, lần đầu tiên kể từ khi chuyển đổi sang chế độ dân sự, Park phải huy động bốn sư đoàn bộ binh để bảo vệ vị trí tổng thống của mình. Sau khi quân đội đã tái lập lại trật tự, Park điều động cảnh sát bắt giữ các lãnh đạo sinh viên và yêu cầu lệnh bắt giữ từ tòa án. Khi tòa án từ chối, 12 thành viên có vũ trang thuộc đơn vị không quân dưới quyền Sở chỉ huy Quân đồn trú Thủ đô đã xông vào tòa án và buộc các vị thẩm phán phải đưa ra lệnh bắt. Những người lính không quân cũng xông vào văn phòng tòa soạn Dong-A Ilbo đe dọa các phóng viên và biên tập viên vì những báo cáo quan trọng của họ về vụ đàn áp. Tổng cục Phản gián (CIC), cơ quan tiền thân của Tổng cục An ninh Quân đội, cũng phải dùng đến bạo lực để đe dọa các nhà báo ở Dong-A Ilbo và Hệ thống Phát sóng Dong-A.

Cuối cùng, chính quân đội — đặc biệt là CGC và CIC — đã bảo vệ chế độ cầm quyền của Park khỏi các nhà hoạt động sinh viên và các chính trị gia đối lập suốt những ngày tồi tệ nhất của Sự kiện ngày 3 tháng 6. Cả hai lực lượng an ninh này và các lãnh đạo quân đội khác cùng với binh lính của họ đã loại bỏ những trở ngại chính trị đối với quá trình bình thường hóa quan hệ Hàn Quốc-Nhật Bản, mối giao bang mà Park tin là điều kiện tiên quyết không chỉ cho phát triển kinh tế mà còn thắt chặt hơn nữa mối quan hệ liên minh của Hàn Quốc với Hoa Kỳ. Ngoài ra, bằng cách cho phép quân đội lên tiếng phản ánh những quan ngại về các nỗ lực của Kim Jong-pil nhằm củng cố vị thế dẫn đầu trong cuộc đua kế vị tổng thống, Park không chỉ tìm được một bia đỡ đạn tốt để bảo vệ bản thân khỏi quần chúng đang phẫn nộ mà còn có thể loại bỏ một kẻ có tiềm năng thách thức quyền lực của ông. Kim từng là cánh tay phải của Park và cũng là một nhà đàm phán bí mật trong thỏa thuận bình thường hóa. Khủng hoảng hiệp ước 1964 cho thấy các lực lượng vũ trang đã bảo vệ cho chế độ chính trị của Park, với việc trừng trị lực lượng chống đối chính trị, xây dựng môi trường an ninh vị phát triển và loại bỏ những người thách thức tiềm năng bằng cách tham gia vào trò chơi chia để trị của Park.

Ngược lại, việc gửi quân chiến đấu đến miền Nam Việt Nam lại gây ra ít tranh cãi hơn nhiều. Không có bất cứ lực lượng chính trị quan trọng nào có thể mạnh miệng thách thức lời kêu gọi của Park để giúp đỡ nỗ lực chiến tranh của Mỹ ở miền Nam Việt Nam như một cách để trả các món nợ của Hàn Quốc với Hoa Kỳ vì đã tham gia chiến đấu bảo vệ Hàn Quốc vào tháng 6 năm 1950. Bên cạnh đó, việc gửi lính đi được xác định là một cơ hội để có được vốn đầu tư và thị trường xuất khẩu cho các dự án hiện đại hóa kinh tế. Các lợi ích quân sự cũng trở nên quan trọng khi chiến tranh tại Việt Nam được đánh giá là sẽ tạo cho các lực lượng vũ trang Hàn Quốc một cơ hội để có được kinh nghiệm chiến đấu vô giá và hiện đại hóa các lực lượng này với hệ thống vũ khí tối tân của Mỹ. Hơn nữa, sự can thiệp quân sự của Hàn Quốc thuyết phục được Hoa Kỳ không tái phân bổ một số đơn vị quân đội Mỹ đóng ở Hàn Quốc sang các chiến trường ở miền Nam Việt Nam. Do vậy, sau khi Tổng thống Lyndon B. Johnson chính thức đề nghị vào tháng 5 năm 1964 rằng Hàn Quốc cần hỗ trợ cho các nỗ lực của Mỹ ở miền Nam Việt Nam, đến tháng 9 Park đã gửi đi 1.954 sĩ quan quân đội, các đơn vị Bệnh viện Phẫu thuật Quân đội Di động (MASH), và 10 võ sư nghệ thuật đối kháng Taekwondo, tất cả đều cho những mục đích phi chiến đấu.

Việc gửi quân chiến đấu có khó khăn hơn, nhưng tâm lý phản chiến vẫn còn quá yếu để có thể ngăn cản được việc này. Để chuẩn bị cho hoạt động này, Park cử Chae Myeong Shin, tư lệnh tác chiến quân đội, cho nhiệm vụ tìm hiểu thực tế để đánh giá bối cảnh quân sự ở miền Nam Việt Nam, tuy nhiên việc này chỉ khiến Ch’ae đưa ra đề nghị không nên can thiệp quân sự. Đảng Dân chủ Cộng hòa (DRP) cầm quyền vốn đã có sự rạn nứt nội bộ vào năm 1964 khi Quyền Chủ tịch Jeong Ku-young công khai chống đối việc gửi quân chiến đấu vì sợ làm xấu đi hình ảnh của các lực lượng vũ trang Hàn Quốc, đội quân này vốn đã bị một số người xem như lính đánh thuê. Kể cả thành viên Nghị viện Quốc gia Cha Ji-cheol - một trong những phó tướng tin cẩn nhất kể từ khi làm vệ sĩ cho Park trong cuộc đảo chính năm 1961 — cũng đã kết hợp với khoảng 20 nhà lập pháp DRP để chuẩn bị cho một đề xuất hủy bỏ quyết định gửi quân chiến đấu. Đảng Dân chủ Quốc gia (NDP) đối lập, các sinh viên đại học và các trí thức tiến bộ cũng phản đối việc gửi quân, nhưng dĩ nhiên không bằng với quy mô họ đã thể hiện khi chống lại lộ trình bình thường hóa quan hệ với Nhật Bản của Park. Tiếng nói của lực lượng chống đối yếu và phân tán. Vào tháng 1 năm 1965, tám tháng sau lời đề nghị can thiệp quân sự chính thức của Johnson và bốn tháng sau khi gửi quân phi chiến đấu, 2.000 binh sĩ chiến đấu Hàn Quốc đã lên tàu đến miền Nam Việt Nam.

Vì những rủi ro và mối nguy hiểm chính trị trong việc gửi quân chiến đấu đến miền Nam Việt Nam vào giữa giai đoạn căng thẳng xã hội bắt nguồn từ quá trình bình thường hóa quan hệ Hàn Quốc-Nhật Bản, Park có ý định giành được càng nhiều sự nhượng bộ kinh tế và an ninh từ Hoa Kỳ càng tốt. Trước khi gửi bổ sung quân chiến đấu để biến việc can thiệp quân sự của Hàn Quốc trở thành toàn diện vào tháng 10 năm 1965, Park yêu cầu một lời hứa từ Hoa Kỳ về việc gia tăng viện trợ kinh tế song phương, hỗ trợ công tác tăng cường khả năng sẵn sàng chiến đấu của các lực lượng vũ trang Hàn Quốc và duy trì mức độ hiện diện quân sự hiện tại của Mỹ ở Hàn Quốc bất chấp việc leo thang nhanh chóng những đòi hỏi về binh lính của Mỹ ở miền Nam Việt Nam. Các cuộc đàm phán được chính thức hóa trong Bản ghi nhớ Brown vào ngày 4 tháng 3 năm 1966, trong văn bản này Hoa Kỳ đồng ý tài trợ cho chi phí gửi quân của Hàn Quốc đến miền Nam Việt Nam và hỗ trợ quá trình hiện đại hóa các lực lượng vũ trang của nước này với mục đích xóa bỏ khoảng cách về tiềm lực quân sự so với Triều Tiên. Người ta ước tính rằng thông qua thỏa thuận này, khoản viện trợ kinh tế và quân đội trị giá 1 tỷ đô-la Mỹ đã được chuyển đến Hàn Quốc suốt giai đoạn 1965-1970, chiếm đến khoảng 19% tổng thu ngoại tệ.

Những đe dọa từ Triều Tiên, 1968-1971

Năm 1968 bắt đầu một giai đoạn chuyển giao về an ninh. Vào ngày 21 tháng 1, 31 lính biệt kích Triều Tiên đã đột nhập thành công mặt trận phía tây khu vực phi quân sự hóa nằm dưới quyền kiểm soát của Sư đoàn Bộ binh 2 của Quân đội Hoa Kỳ, và đã tiến sát vào, chỉ còn cách Nhà Xanh 1 kilômét, để chuẩn bị một đòn tấn công bất ngờ nhằm vào Park. Một cuộc đấu súng ác liệt đã nổ ra ngay tại trung tâm Seoul, làm tử vong Choi Kyu-sik của Sở Cảnh sát Chongno và một số hành khách trên một xe buýt bị lính biệt kích phá hủy. “Sự kiện ngày 21 tháng 1” đã gây rúng động quân đội Hàn Quốc, cho thấy sự mỏng manh của Hàn Quốc trước cuộc đột nhập và phơi bày sự thiếu chuẩn bị của Hàn Quốc trước những xung đột quân sự phi chính thống mặc cho kinh nghiệm chiến đấu ở miền Nam Việt Nam và quá trình hiện đại hóa hệ thống vũ khí của nước này. Khả năng tác chiến và quyết tâm mang tính ý thức hệ của những người lính biệt kích nhằm tiến hành một sứ mệnh cảm tử cũng đáng ngạc nhiên. Trong số 31 lính biệt kích, chỉ một người bị bắt sống. Số còn lại đã chiến đấu đến người cuối cùng, thể hiện tinh thần chiến đấu của các đơn vị đặc nhiệm Triều Tiên. Thông tin về việc lính biệt kích đã tiến được 40 kilômét dọc theo sườn núi của mặt trận phía tây để tiếp cận được Seoul chỉ trong một ngày đã làm tăng thêm cảm giác dễ bị tấn công của Hàn Quốc.

Vào ngày 23 tháng 1, hai ngày sau cuộc tấn công biệt kích thất bại của Triều Tiên xuất hiện tin tức về việc Triều Tiên bắt giữ USS Pueblo, một tàu tình báo Mỹ đang truyền tin báo cáo trong vùng biển cả [93] phía đông Wonsan, Triều Tiên. Trong lúc bị giam giữ, các thành viên trên tàu đã bị ép phải công khai xin lỗi vì xâm nhập vào vùng lãnh hải của Triều Tiên với mục đích gián điệp. Câu hỏi làm thế nào để đối phó với những hành động khiêu khích của Triều Tiên đã tạo nên một vết nứt trong liên minh Hàn-Mỹ. Mặc dù Park yêu cầu Hoa Kỳ trước tiên phải giải quyết cuộc tấn công đột kích của Triều Tiên vào Nhà Xanh, Johnson lại tập trung vào việc giải thoát thủy thủ đoàn Pueblo. Hơn nữa, trái ngược với sự sẵn sàng trả đũa quân sự của Park, Johnson chọn cách tìm kiếm một thỏa thuận thông qua đàm phán; ông ta không thể có khả năng chịu đựng rủi ro chiến tranh ở một phần khác của châu Á khi mà tình hình ở miền Nam Việt Nam đang tiếp tục xấu đi. Park cảm thấy bị Hoa Kỳ bỏ rơi khi Johnson đơn phương đàm phán về việc phóng thích thủy thủ đoàn Pueblo mà không hề hành động gì để ngăn cản việc tái xảy ra những cuộc tấn công đột kích của Triều Tiên vào Hàn Quốc. Cảm giác bị phản bội trở nên đặc biệt nghiêm trọng bởi Park nghĩ rằng mình đã đánh cược vị trí tổng thống để sát cánh với Johnson trong Chiến tranh tại Việt Nam. Tuy nhiên ông cũng đủ thực dụng để không leo thang xung đột với Hoa Kỳ.

Trái lại, Park đã chuyển hóa vết rạn nứt này thành một cơ hội khác để tăng cường tiềm lực quốc phòng của Hàn Quốc. Nhằm xoa dịu Park, phái viên của tổng thống Mỹ Cyrus Vance đã viếng thăm Seoul để công bố một thông cáo chung trong đó Mỹ cam kết tăng cường viện trợ quân sự. Thêm nữa, Vance đồng ý về việc trang bị các lực lượng dự bị mới thành lập với nhiệm vụ bảo vệ hậu phương khỏi các mối đe dọa phi chính thống; tổ chức một cuộc họp cấp Bộ trưởng Bộ Quốc phòng song phương đều đặn để nâng cấp liên minh và tái xác định chính sách sử dụng binh lính của Lực lượng Hoa Kỳ đóng ở Hàn Quốc (USFK) là làm “dây bẫy” bằng người chống lại sự xâm lược của các lực lượng vũ trang Triều Tiên bằng cách duy trì việc triển khai quân đội gần DMZ. [94] Việc triển khai quân đội là để đảm bảo sự tham gia quân sự tự động của Hoa Kỳ trong trường hợp chiến tranh nổ ra ở Bán đảo Triều Tiên, vì quân lính xâm lược Triều Tiên chỉ có thể tiến đến được Seoul sau khi đã vượt qua binh sĩ USFK đóng giữa DMZ và Seoul trên mặt trận phía tây bằng phẳng.

Bất chấp những hoạt động chứng tỏ cam kết của Mỹ với nền quốc phòng Hàn Quốc, khiêu khích quân sự của Triều Tiên vẫn tiếp diễn suốt cuối những năm 1960. Vào ngày 30 tháng 10 năm 1968, hơn 100 quân biệt kích đã đổ bộ lên bờ biển phía đông của Uljin và Samcheok để quấy rối quân đội Hàn Quốc từ phía hậu phương. Vào ngày 15 tháng 5 năm 1969, Triều Tiên bắn hạ một máy bay do thám EC-121 của Mỹ để thăm dò ý định và tiềm lực của các đồng minh. Vào ngày 11 tháng 12 cùng năm đó, Triều Tiên tổ chức cướp một chuyến bay nội địa của Korean Air. Có lẽ, Kim Il Sung đã tiến hành những hành động khiêu khích quân sự vì tin rằng người dân Hàn Quốc sẽ nổi dậy lật đổ Park khi có những dấu hiệu nhỏ nhất cho thấy điểm yếu của ông. Thành công của miền Bắc Việt Nam với chiến tranh du kích cũng cổ vũ Kim thử nghiệm các hoạt động quân sự phi chính thống. Tuy vậy, ông này đã phải thất vọng cay đắng khi người dân Hàn Quốc tập hợp lực lượng ủng hộ các nỗ lực của Park để tăng cường tiềm lực quân sự. Các lực lượng dự bị mới tham gia cùng quân sĩ thường trực trong các hoạt động chống du kích ở Uljin và Samcheok. Park cũng thành lập Học viện Quân sự Đệ Tam để đào tạo các sĩ quan quân đội trẻ ở quy mô lớn hơn nhiều so với Học viện Quân sự Hàn Quốc (KMA); thành lập nhiều đơn vị lực lượng đặc nhiệm cho các hoạt động chống nổi dậy và phản gián; tạo ra các vị trí chỉ huy mới ở vùng hậu phương; sử dụng các hệ thống vũ khí mới; và kéo dài thời gian phục vụ của những người lính nhập ngũ từ hai thành ba năm.

Tuy nhiên, tình hình an ninh tiếp tục tồi tệ thêm. Với Học thuyết Guam, được công bố vào tháng 7 năm 1969, tổng thống Mỹ mới đắc cử Richard M. Nixon bắt đầu chuẩn bị một lối thoát “danh dự” khỏi Chiến tranh Việt Nam. Mặc dù học thuyết này cam kết duy trì sự hỗ trợ của Mỹ cho các nước đồng minh ở châu Á trong khuôn khổ các thỏa thuận quốc phòng hiện có, Park đã hiểu rằng đó là một dấu hiệu cho thấy cam kết của Mỹ với Hàn Quốc và khu vực Đông A đang suy yếu. Với GNP bình quân đầu người và tổng chi tiêu cho quân sự tiếp tục thấp hơn so với của Triều Tiên, Học thuyết Guam khiến Hàn Quốc trở nên bất ổn sâu sắc. Càng gia tăng các mối quan ngại hơn nữa, nỗ lực tìm kiếm lối thoát khỏi Chiến tranh Việt Nam của Mỹ lên đến đỉnh điểm với cuộc viếng thăm bí mật của cố vấn an ninh quốc gia Henry A. Kissinger đến Bắc Kinh vào tháng 7 năm 1971 để chuẩn bị cho một hội nghị thượng đỉnh Trung-Mỹ cũng như việc Trung Quốc gia nhập vào Liên Hợp Quốc với vai trò thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an. Mặc dù vậy, sự xuất hiện của hành động xoa dịu trong mối quan hệ giữa các siêu cường đã diễn ra cùng lúc với xu hướng gia tăng căng thẳng trái ngược trên Bán đảo Triều Tiên. Bình Nhưỡng tuyên bố Bốn Nguyên tắc Quân sự để gia tăng áp lực quân sự lên Seoul trong năm 1962. [95] Vào tháng 1 năm 1969, nước này đồng thuận việc tiến thành đồng thời chiến tranh chính thống và phi chính thống nếu có phát động tấn công bất ngờ vào Hàn Quốc.

Với sự thay đổi các mục tiêu quân sự của Mỹ ở Chiến tranh Việt Nam, Park đã mất đi nguồn lực tạo ưu thế đối với những chính sách của Mỹ. Trong những năm 1960, Park đã tận dụng nhu cầu của Johnson đối với sự hỗ trợ của Hàn Quốc cho các nỗ lực chiến tranh không chỉ vì mục đích có được viện trợ của Mỹ trong quá trình hiện đại hóa quân đội và phát triển kinh tế quốc gia mà còn để giành được sự nhượng bộ của Mỹ khi ông xử lý ngày càng mạnh tay với phe đối lập chính trị trong nước. Khi Học thuyết Guam làm yếu đi vị thế của Park, ông điên cuồng cố gắng kiểm soát thiệt hại. Mục tiêu là khiến Hoa Kỳ phải rút lại hoặc thu hẹp quy mô của kế hoạch giảm, rút quân khỏi Hàn Quốc đang hình thành nhanh chóng. Nếu mục tiêu này không thể đạt được, mục tiêu kế tiếp sẽ là gia tăng viện trợ quân sự của Mỹ như một sự đền bù cho bất kỳ binh sĩ Mỹ nào bị rút đi. Bên cạnh đó, Park biết rằng ông đang hoạt động chống lại các thế lực thay đổi nằm ngoài tầm kiểm soát của mình, ông bắt đầu chuẩn bị cho điều tồi tệ nhất khi dấn thân vào một kế hoạch tham vọng khiến Hàn Quốc có thể tự cung tự cấp về quân lực quốc phòng thông qua quá trình công nghiệp hóa ngành công nghiệp nặng và hóa chất.

Hoạt động cắt giảm và di chuyển của quân đội USFK diễn ra mạnh mẽ vào đầu những năm 1970. 24.000 binh sĩ thuộc Sư đoàn Bộ binh 7 của Mỹ cùng 3 tiểu đoàn không quân chiến đấu đã rời khỏi Hàn Quốc trước tháng 3 năm 1971, trong khi đó Sư đoàn Bộ binh 2 của Mỹ với 20.000 binh sĩ đã rút về Tongducheon, khu vực phía nam các căn cứ quân sự tiền phương ban đầu của đơn vị này, việc này buộc Sư đoàn Bộ binh 1 của Quân đội Hàn Quốc phải chính thức tiếp quản hoạt động phòng ngự mặt trận phía tây từ Tập đoàn quân 8 của Mỹ. Còn lại 46.000 quân USFK đóng ở Bán đảo Triều Tiên, đủ để duy trì phòng vệ chống lại Triều Tiên. Tuy vậy, Học thuyết Guam đã giúp Park nhận ra rằng Hàn Quốc phải tự chịu trách nhiệm một phần lớn trong công tác phòng ngự của nước mình và điều đó đồng nghĩa với việc hiện đại hóa quân đội nhiều hơn nữa.

Vào giai đoạn 1971-1975, Bộ Quốc phòng (MoND) thúc đẩy một dự án hiện đại hóa quân sự quyết liệt với một chương trình viện trợ quân sự của Mỹ trị giá 1,5 tỷ đô-la Mỹ mà Bộ trưởng Bộ Ngoại giao đã giành được từ những cuộc đàm phán với đại sứ Mỹ William J. Porter kết thúc vào tháng 2 năm 1971, để đổi lại việc chấp thuận cho hoạt động rút về một trong hai sư đoàn mặt đất của Mỹ. [96] Bộ Thương mại và Công nghiệp hỗ trợ MoND bằng cách tiến hành xây dựng một khu phức hợp công nghiệp khổng lồ ở Changwon vào tháng 4 năm 1974 nhằm mục đích xây dựng một cơ sở hạ tầng công nghiệp cho hoạt động sản xuất vũ khí quân sự. Bộ Khoa học và Công nghệ cũng tham gia vào nỗ lực này với việc thành lập Cơ quan Phát triển Phòng thủ [97] để chịu trách nhiệm tuyệt đối về sản xuất các hệ thống vũ khí mới cũng như tiếp quản trang thiết bị chiến tranh được quân đội Mỹ chuyển giao khi rời Hàn Quốc như là một phần của thỏa thuận song phương được ký vào tháng 9 năm 1973. Theo cách này, Park bắt đầu tiến hành kế hoạch tham vọng của ông nhằm phát triển các ngành công nghiệp nặng và hóa chất như là nền móng tự cung tự cấp để hiện đại hóa những tiềm lực quân sự của Hàn Quốc đến mức đủ để ngăn chặn những cuộc tấn công từ Triều Tiên. Trong khi Hàn Quốc đã đồng ý với Hoa Kỳ vào tháng 2 năm 1971 về việc tổ chức một Cuộc họp Cố vấn An ninh song phương giữa các Bộ trưởng Bộ quốc phòng và Bộ Ngoại giao của hai nước như là một nỗ lực xây dựng liên minh, Park tiếp tục tập trung vào tính tự cường, do tính thiếu chắc chắn trong các mục tiêu, ý định và chiến lược của Mỹ.

Bắt kịp về quân sự, 1972-1979

Để hỗ trợ quá trình phát triển ngành công nghiệp quốc phòng một cách có tổ chức, Park đã chỉ định Oh Won-chul làm Thư ký Cấp cao Thứ hai chịu trách nhiệm các sự vụ kinh tế vào năm 1971 và giao phó cho ông này nhiệm vụ điều phối quá trình công nghiệp hóa ngành công nghiệp nặng và hóa chất (HCI). Theo khuyến nghị của Oh Won-chul, Park đã thành lập một Cục Công nghiệp Quốc phòng thuộc Bộ Quốc Phòng và tổ chức ra Hội đồng Hậu cần do thủ tướng chỉ đạo, để phối hợp mối hợp tác liên bộ vào trong chính sách ngành công nghiệp quốc phòng vào tháng 3 năm 1973. Ba tuần trước đó, Park đã thông qua Luật Thu mua Hậu cần Đặc biệt để hỗ trợ cho các tập đoàn chaebol tham gia vào các dự án HCI chiến lược với mục tiêu chuyển hóa các tập đoàn này thành các doanh nghiệp quốc phòng. MoND nhiệt thành phản hồi lại kế hoạch của Park và cuối cùng đã đặt ra vị trí Vụ trưởng Công nghiệp Quốc phòng vào tháng 9 năm 1977 và tách Cục Công nghiệp Quốc phòng thành ba cục riêng biệt vào tháng 12 cùng năm đó. Thậm chí, Park đã phát triển, hoặc cố gắng tỏ ra đang phát triển, một chương trình vũ khí hạt nhân với mục tiêu xoay chuyển lời hứa lúc tranh cử của Tổng thống Jimmy Carter về rút lui quân sự và nhằm tạo được phương tiện phòng vệ riêng của Hàn Quốc (xem Chương l6). [98]

Cán cân quyền lực giữa hai nước trên bán đảo Triều Tiên bắt đầu chuyển dịch về phía có lợi cho Hàn Quốc một cách rõ nét vào giữa những năm 1970. Nền kinh tế Hàn Quốc tiếp tục tăng trưởng với tốc độ quá nhanh, vượt qua Triều Tiên về GNP bình quân đầu người vào năm 1974 và nới rộng khoảng cách này lên đến 50% GNP bình quân đầu người của Triều Tiên vào năm 1977. Về chi phí cho quốc phòng, thay đổi cũng diễn ra đậm nét. Năm 1969, Hàn Quốc cung cấp chỉ 50% tổng nhu cầu quốc phòng bằng nguồn lực trong nước, đến trước năm 1975, tỷ lệ tự cung cấp trong chi phí quốc phòng đã vượt qua 90%. Viện trợ quân sự gián tiếp của Mỹ kết thúc vào năm 1974 và viện trợ quân sự trực tiếp chấm dứt vào năm 1978, tuy nhiên điều này không hề đe dọa những tiềm lực của Hàn Quốc. Sau khi có được chương trình viện trợ quân sự 1,5 tỷ đô-la Mỹ từ Hoa Kỳ vào năm 1971, Park đã cố gắng hơn để bòn rút từ những nguồn lực trong nước nhằm duy trì các lực lượng vũ trang ở mức 600.000 cho đến 650.000 binh lính. Vào tháng 7 năm 1975, ông áp dụng thuế quốc phòng để hỗ trợ một khoản gia tăng trong ngân sách quốc phòng từ 4% lên 5% GNP cả nước bắt đầu từ năm 1976.

Chương trình nâng cấp vũ khí cũng có tiến triển trong suốt kỳ nguyên yushin (xem Chương 8). Giai đoạn 1971-1976 chứng kiến khu phức hợp công nghiệp quốc phòng Hàn Quốc thiết lập được một nền móng vững chắc trong hoạt động nghiên cứu và phát triển cũng như trong khả năng sản xuất hàng loạt đạn dược và vũ khí hạng nhẹ như súng trường M-16, súng cối và lựu đạn cầm tay thông qua một hệ thống các chương trình nội địa hóa và các thỏa thuận cấp phép công nghệ phức tạp. Vào năm 1974, Park tiến hành Chương trình Yulgok, chương trình này vận hành đến năm 1981, với mục tiêu tiến nhanh đến giai đoạn nâng cấp tiềm lực quân sự tiếp theo. Hoạt động sản xuất hàng loạt các vũ khí hạng nhẹ cơ bản và đạn dược được thể chế hóa trong giai đoạn đầu tiên của Yulgok. Tháng 9 năm 1978, với sự hiện diện của Park Chung Hee, các lực lượng vũ trang Hàn Quốc ăn mừng cuộc phóng thành công tên lửa thử nghiệm mang tên Paekkom (Gấu Trắng), một tên lửa Nike-Hercules được thiết kế lại với tầm bắn 180 kilômét. [99] Tuy nhiên, không phải tất cả các chương trình công nghiệp quốc phòng đều đóng góp cho lợi ích quốc gia của Hàn Quốc cũng như cho các mục tiêu chính trị của Park theo cách tích cực. Chương trình hạt nhân bí mật tiêu tốn nhiều chi phí hơn là mang lại lợi ích khi chương trình này làm tăng cao nỗi lo ngại của Mỹ về hoạt động phổ biến vũ khí hạt nhân cấp khu vực và làm tổn hại đến mối quan hệ của Park với Jimmy Carter đến mức không thể khắc phục được. Để ngăn cản Park không tiến hành giai đoạn phát triển vũ khí hạt nhân tiếp theo, Hoa Kỳ đã đề nghị triển khai các tên lửa tầm xa ở Hàn Quốc.

Mặc cho Hàn Quốc bắt kịp thành công về mặt quân sự, những đe dọa từ Triều Tiên tiếp tục diễn ra vào những năm 1970. Trong suốt giai đoạn 1974-1978, quân đội Hàn Quốc đã phát hiện những đường hầm dưới lòng đất do Triều Tiên đào để đưa lính của nước này đột nhập vào giữa vùng hậu phương của Hàn Quốc. Đường hầm dưới lòng đất đầu tiên được phát hiện ở Korangpo thuộc mặt trận phía tây giáp với DMZ vào tháng 11 năm 1974; cái thứ hai được tìm thấy ở Cheolwon, trong mặt trận trung tâm vào tháng 3 năm 1975; và hầm thứ ba ở gần Panmunjeom vào tháng 10 năm 1978. Các đường hầm thứ hai và thứ ba lớn đến mức có thể chứa được những xe tải 5 tấn và các khẩu pháo 155mm. Các lực lượng vũ trang Hàn Quốc ước tính có đến khoảng bốn hàng lính bộ binh có thể hành quân xuống mỗi một trong hai đường hầm này để tấn công quân đội Hàn Quốc từ hậu phương. Vào ngày 18 tháng 8 năm 1976, hai sĩ quan Mỹ đã bị lính Triều Tiên giết một cách dã man bằng rìu ngay trong Khu vực An ninh Chung ở Panmunjeom. Những hoạt động khiêu khích này của Triều Tiên chỉ làm tồi tệ thêm cảm giác yếu ớt của Hàn Quốc. Triều Tiên gây áp lực quân sự lên Hàn Quốc vào đúng chiến dịch tranh cử tổng thống của Carter, chiến dịch tranh cử này đã khiến vai trò tương lai của quân đội Mỹ ở Bán đảo Triều Tiên không còn chắc chắn. Các đường hầm và những kẻ giết người dùng rìu chỉ càng làm tăng thêm quyết tâm của Park nhằm chống lại Triều Tiên với sự thống nhất chính trị nội bộ và nhằm phát triển các tiềm lực quân sự.

Tại Cuộc họp Cố vấn An Ninh Hàn-Mỹ lần thứ 10 tổ chức ở Seoul vào tháng 7 năm 1977, các đại diện của quân đội hai nước đồng minh đồng ý kết hợp cơ quan chỉ huy tác chiến của binh lính Hàn Quốc với của binh lính USFK và thành lập một Bộ chỉ huy Lực lượng Kết hợp (CFC) vào năm 1978 để cho phép các đồng minh chiến đấu hiệu quả như một lực lượng chung và để Hàn Quốc đóng một vai trò lớn hơn trong bộ chỉ huy tác chiến và gánh chịu phần chi phí phòng vệ lớn hơn. Hai bên tiếp tục theo đuổi trong một Cuộc họp Cố vấn An ninh khác vào tháng 7 năm 1978 để thành lập một Ủy ban Quân sự chung với sứ mệnh ra quyết định tập thể về những vấn đề chiến lược. Với việc Ủy ban Quân sự ban hành Chỉ thị Chiến lược số 1, việc xây dựng CFC bắt đầu diễn ra vào tháng 7 năm 1978 và hoàn thành trong vòng ba tháng rưỡi.

Trong CFC mới được tổ chức, quân đội Hàn Quốc đảm nhận các vị trí phó tư lệnh và tham mưu phó cũng như chiếm các vị trí nhân sự, tình báo, hậu cần, liên lạc và công binh điện tử, ngược lại Hoa Kỳ giữ các vị trí tư lệnh và tham mưu trưởng đồng thời cũng cử người đảm nhận vai trò tác chiến và lên kế hoạch. Như vậy, cách tổ chức bên trong CFC phản ảnh bản chất chuyển giao của liên minh an ninh Mỹ - Hàn, cho Hàn Quốc một tiếng nói lớn hơn khi kiểm soát tác chiến, nhưng không tiến xa đến mức giao cho nước này vị trí tối cao trong quyền chỉ huy thời chiến. Quyền chỉ huy thời chiến chỉ thuộc về tư lệnh USFK, người này cũng giữ luôn chức tư lệnh CFC. Kể cả trong thời bình, phần quan trọng nhất của hoạt động kiểm soát tác chiến - hoạch định chiến lược - cũng bị điều khiển bởi bộ phận tham mưu tác chiến và kế hoạch của CFC do Mỹ chi phối. Tư lệnh của USFK với vai trò là chỉ huy của CFC cũng như UNC, chịu trách nhiệm giám sát hiệp định đình chiến ký với Triều Tiên vào tháng 7 năm 1953, đảm bảo rằng Hoa Kỳ sẽ tiếp tục có ảnh hưởng mang tính quyết định lên nguyên tắc và các lựa chọn chiến lược của quân đội Hàn Quốc.

An ninh chế độ và các cận vệ cấp cao

Chế ngự Kim Jong-pil, 1961-1969

Song song với các nỗ lực hướng đến chuyên nghiệp hóa, Park làm việc không ngơi nghỉ để độc chiếm lòng trung thành của các lực lượng vũ trang Hàn Quốc nhằm ngăn cản những thế lực khác sử dụng quân đội chống lại ông và nhằm bảo vệ chế độ chính trị của mình. Cơ chế trung tâm mà Park đã phát triển để biến các lực lượng vũ trang thành công cụ kiểm soát, trấn áp và phòng vệ chính trị là một hệ thống kiểm soát và cân bằng nhiều tầng mà ông đã thiết lập giữa các đơn vị tình báo quân đội. Kỳ lạ là trong những năm 1960, đối tượng cô lập chính trị chính của Park lại là Kim Jong-pil, cánh tay phải của ông. Chỉ một số ít các thân tín và phó tướng chính trị của ông mới dám nuôi dưỡng tham vọng kế nhiệm ông trên cơ sở sự ủng hộ rộng khắp có tổ chức họ có được trong DRP và quân đội. Kim Jong-pil là một người như vậy; ông trụ được với vai trò người dẫn đầu trong cuộc cạnh tranh kế vị cho đến cuối những năm 1960. Các thành viên nòng cốt thuộc phái chính thống của Kim Jong-pil nắm giữ những vị trí chủ chốt trong Ban thư ký DRP, KCIA và Nghị viện Quốc gia cho đến cuộc sửa đổi hiến pháp năm 1969 cho phép Park nắm quyền nhiệm kỳ thứ ba. Trở thành người dẫn đầu trong cuộc đua kế vị vào khoảng giữa những năm 1960 có nghĩa là Kim Jong-pil có thể dễ dàng vận động được những người ủng hộ mới, những người đã vào cuộc, tuy nhiên ông cũng trở thành mục tiêu trong hoạt động kiểm soát và cân bằng của những kẻ khát khao quyền lực khác, nếu không phải là của chính vị trí tổng thống. Kỳ lạ là, chính Park lại là người chú tâm nhất đến việc kiểm soát Kim Jong-pil. Cho đến khi các cuộc đấu tranh quyền lực xung quanh vấn đề sửa đổi hiến pháp năm 1969 hủy hoại nghiêm trọng những tuyên bố về vị thế “thái tử” của Kim Jong-pil, chiến lược chia để trị của Park đều tập trung vào việc xây dựng một phái chống chính thống mà sau này có thể phá vỡ được những khát khao của Kim Jong-pil. Vào giữa những năm 1960, Kim Jong-pil sở hữu nhiều quyền lợi chính trị đầy ấn tượng. Trong thời kỳ chính quyền quân sự, ông đã được giao phó nhiệm vụ chỉ huy KCIA (1961-1963), cũng như bí mật tổ chức Ban thư ký DRP để chuẩn bị cho các cuộc bầu cử năm 1963. Cả hai nhiệm vụ này tạo điều kiện cho ông xây dựng bè phái của riêng mình thông qua bảo trợ chính trị. Một khi nắm được quyền kiểm soát Ban thư ký DRP, Kim Jong-pil cũng chi phối luôn quá trình bổ nhiệm các ứng viên DRP cho cuộc bầu cử Nghị viện Quốc gia năm 1963.

Không khó cho Park để có thể kìm hãm quyền lực đang gia tăng của Kim Jong-pil, bởi chính nguồn gốc của quyền lực đó có thể bị biến thành rắc rối chính trị. Bắt đầu vào tháng 12 năm 1962, các đối thủ của Kim đã hủy hoại sự minh bạch của ông bằng cách đào bới lại các hoạt động phi pháp của ông, gồm có việc gây dựng quỹ để tạo lập DRP bằng những phương thức bất hợp pháp. Hơn nữa, Park, với quyền lực đã được củng cố sau lần đắc cử làm tổng thống năm 1963, do đó ít cần đến Kim Jong-pil hơn. Lớp những người giữ cân bằng đầu tiên được Park tìm thấy trong số các sĩ quan quân đội tại ngũ và trong lực lượng dự bị để kiểm soát Kim Jong-pil là những người thuộc khóa KMA 8 và thế hệ sĩ quan cấp cao đã tham gia vào cuộc đảo chính 1961 rồi tồn tại sau các cuộc thanh trừng nối tiếp. Trong lớp đầu tiên này có Kim Hyeong-wook, Park Chong-gyu và Yi Hu-rak, những người sẽ lần lượt trở thành giám đốc KCIA (1963-1969), Giám đốc Văn phòng An ninh Tổng thống (1963-1974) và Trưởng ban Cố vấn Tổng thống (1963-1968). Những người này được đánh giá là không có hy vọng, tham vọng hoặc năng lực để cạnh tranh kế nhiệm chức tổng thống bởi họ thiếu đi sức hấp dẫn, cơ sở bè phái độc lập và sự ủng hộ của quần chúng. Số phận của họ phụ thuộc hoàn toàn vào Park, điều này khiến lợi ích của Park trở thành lợi ích của họ. Ba cận vệ cấp cao này đã phối hợp với phái chống chính thống của DRP đang được dẫn dắt bởi Kim Seong-gon, một chính trị gia dân sự của Đảng Tự do đã tan rã, và Bè lũ Bốn tên của ông này để cô lập Kim Jong-pil và cuối cùng là đập tan ý chí quyền lực của ông.

Cơ hội đầu tiên để kiểm soát được Kim Jong-pil xuất hiện vào tháng 2 năm 1963, khi phái chống chính thống vừa nổi lên nhanh chóng đã buộc Kim Jong-pil phải “nghỉ hưu” trong hoạt động nhà nước với cáo buộc gây quỹ bất hợp pháp và tham nhũng chính trị trong suốt thời kỳ chính quyền quân sự. Như chúng ta đã thấy ở các chương trước, khi quá trình bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Nhật Bản gây ra làn sóng chỉ trích chính trị đầy phẫn nộ trong quần chúng vào năm 1965, một đợt chỉ trích tương tự cũng đã được phái chống đối Kim Jong-pil ở Nhà Xanh, KCIA, Văn phòng An ninh Tổng thống và DRP tự đứng ra ủng hộ lần thứ hai - nhưng lần này, cũng với các tướng lĩnh như Kim Chae-gyu (Sư đoàn Bộ binh 6), Kim Chin-wi (Sở chỉ huy Quân đồn trú Thủ đô), Jeong Pong-uk (Sư đoàn Bộ binh 20), và Yi Pyeong Yeop (Sư đoàn Bộ binh 33) đang chỉ huy binh sĩ thực thi thiết quân luật ở Seoul - nhằm một lần nữa buộc Kim Jong-pil “nghỉ hưu” trong hoạt động chính trị. Vốn từ lâu đã bất mãn với sự thăng tiến của Kim Jong-pil và lớp học viên khóa 8 Học viên Quân sự Hàn Quốc (KMA) của ông này, những vị tư lệnh quân đội đã tham gia cùng với giám đốc KCIA Kim Hyeong-wook (một lãnh đạo tự chỉ định của phái chống chính thống) khi đề nghị Park loại bỏ Kim Jong-pil khỏi vị trí chủ tịch DRP. Phái chống đối Kim Jong-pil trong DRP cũng xem Sự kiện ngày 3 tháng 6 như là một cơ hội để lật đổ Kim Jong-pil khỏi vai trò của ông là người kế nhiệm thật sự của Park. Nỗ lực hạ bệ Kim được dẫn dắt bởi các chính trị gia dân sự được Park tuyển vào từ Đảng Tự do lúc bấy giờ đã tan rã. Bị chỉ trích bởi những người biểu tình như là một kẻ phản bội chủ nghĩa dân tộc Hàn Quốc và bị tấn công bởi các đối thủ của ông ở cả trong quân đội và DRP, Kim Jong-pil từ chức vào ngày 4 tháng 6 và đi “tị nạn” nước ngoài. Sau khi biến Kim Jong-pil thành bia đỡ đạn cho mình, Park ký kết hiệp ước bình thường hóa quan hệ với Nhật Bản.

Bên cạnh đó, khi Park, chứ không phải Kim Jong-pil, trở thành mục tiêu của sự bất mãn quân sự, Park ngay lập tức thẳng tay đàn áp những người chống đối. Chẳng hạn như trường hợp hơn 20 sĩ quan, bao gồm cả Won Chung-yeon, một sĩ quan cấp tá trong lực lượng dự bị và là phát ngôn viên của Park trong những năm chính quyền quân sự, bị CIC bắt giam vì tội âm mưu đảo chính quân sự vào tháng 5 năm 1965. Không rõ những sĩ quan này âm mưu điều gì, nếu họ thật sự có âm mưu. Tuy nhiên, báo cáo cho rằng họ đang gặp gỡ bí mật để trao đổi các quan điểm chỉ trích cách thức cầm quyền chính trị của Park, bao gồm việc gửi quân chiến đấu đến miền Nam Việt Nam, đã đủ khiến Park phải hành động. Đối với Park, các ý định của Won Chung-yeon và nhóm của ông này không quan trọng bằng cơ hội để từ sự kiện này cho phép ông thiết lập kỷ cương lên các lực lượng vũ trang trước khi tiến xa hơn với hoạt động gửi binh lính tham chiến đầy rủi ro chính trị. Tình hình chính trị vốn đã căng thẳng, với xã hội bị phân cực trong việc nghị viện phê duyệt dự luật bình thường hóa quan hệ với Nhật Bản. Park đã tận dụng nỗ lực phản cách mạng được gán cho Won Chung-yeon làm lý do để thắt chặt vòng kiểm soát chính trị. Vào ngày 26 tháng 8 năm 1965, Park viện đến một sắc lệnh quân đồn trú và chính thức yêu cầu Sư đoàn Bộ binh 6 duy trì trật tự ở Seoul lần thứ hai chỉ trong vòng 14 tháng. Quân lính đã được huy động đi vào ngày 2 tháng 9 và sắc lệnh quân đồn trú kết thúc vào ngày 25 tháng 9 khi phong trào chống đối chính trị về việc bình thường hóa quan hệ với Nhật Bản suy yếu.

Các sự kiện dẫn đến việc phải tị nạn năm 1963 và 1965 rõ ràng đã gây tổn hại, nhưng không hủy diệt được sự nghiệp chính trị của Kim Jong-pil. Trái lại vị thái tử này đã quay trở lại Hàn Quốc chỉ vài tháng sau khi đợt chỉ trích của quần chúng suy yếu. Chỉ khi Park và liên minh các cận vệ cấp cao, các nhà lập pháp dân sự DRP và các lãnh đạo thế hệ tiếp theo chống đối Kim Jong-pil dụ dỗ và đe dọa thành công để ông ta chịu chấp nhận việc sửa đổi hiến pháp nhằm dọn đường cho nhiệm kỳ tổng thống thứ ba của Park vào năm 1969 thì Kim Jong-pil mới bắt đầu đánh mất sức mạnh chính trị của mình trong vị thế người cạnh tranh chính cho vai trò người kế nhiệm. Khả năng Park vẫn sẽ năm giữ quyền lực mãi mãi đã làm tổn hại đến nền tảng sức mạnh của vị “thái tử”. Phái của Kim Jong-pil nhanh chóng tan rã; một số thành viên thất vọng vì sự vô năng của ông khi không đứng lên chống lại Park, còn những người khác bắt đầu xét lại những năng lực mà Kim Jong-pil sở hữu có thể bảo trợ chính trị vào lúc này.

Hơn nữa, càng làm tăng thêm mối quan ngại cho Kim Jong-pil, vào đầu những năm 1970, một lớp những người đóng vai trò cân bằng thứ hai xuất hiện để chống lại ông trong những học viên khóa KMA 11 dưới sự bảo trợ của Park. Khóa KMA 11 tạo nên thế hệ lãnh đạo tiếp theo trong các lực lượng vũ trang Hàn Quốc. Như vậy, họ không cạnh tranh với Kim Jong-pil trong vị trí tổng thống. Họ cũng không thách thức phái chống chính thống của những lãnh đạo quân đội cấp cao, các chính trị gia dân sự và các cận vệ tổng thống. Các sĩ quan này là những người trung thành với Park ở cấp trung trong lực lượng lãnh đạo quân sự Hàn Quốc, sau đó họ đã kiểm soát các lực lượng chiến đấu trọng yếu. Là khóa đầu tiên trong số các khóa tốt nghiệp KMA được nhận chương trình đào tạo và giáo dục quân sự bốn năm trọn vẹn, các thành viên khóa 11 tự hào là thế hệ đầu tiên của các sĩ quan quân đội “chuyên nghiệp” và những cựu học viên KMA “đích thực” của Hàn Quốc. Hơn nữa, họ quá trẻ để được đào tạo quân sự từ Nhật Bản, Trung Quốc hoặc Xô-viết dưới thời thực dân Nhật và trong cuộc đấu tranh với Triều Tiên để giải phóng dân tộc (1910-1945), khóa KMA 11 không chỉ là hiện thân của tinh thần độc lập dân tộc mà còn vượt qua nạn bè phái hình thành trên cơ sở các liên kết chính trị và giáo dục trước giải phóng. Park cũng cho rằng khóa tốt nghiệp thứ 11 có thể và cần phải nắm vai trò lãnh đạo các lực lượng vũ trang mới của Hàn Quốc đã được chuyên nghiệp hóa.

Chun Doo-hwan là một trong số các cựu học viên KMA 11, ông đóng vai trò chủ chốt trong việc tạo ra cầu nối giữa các sĩ quan trẻ và Park. Chun Doo-hwan gặp Park lần đầu vào tháng 5 năm 1961. Lúc đó họ đang lần lượt nắm giữ quân hàm đại úy và thiếu tướng. Chàng thanh niên Chun Doo-hwan đã chứng tỏ giá trị chính trị của mình khi tổ chức một cuộc diễu binh công khai với khoảng 800 hoặc hơn những học viên KMA nhằm hỗ trợ cho cuộc đảo chính quân sự. Cuộc diễu binh đã góp phần dấy lên một làn sóng dư luận ủng hộ Park, người lúc này đang tranh đấu để trấn áp ý kiến bất đồng của Yi Han-lim và giành sự ủng hộ của Mỹ. Vào tháng 7 năm 1963, Chun Doo-hwan - lúc này đã mang hàm thiếu tá - thành công khi làm sâu sắc thêm niềm tin của Park bằng cách lập âm mưu với các đồng môn KMA của ông, gồm có Roh Tae-woo, để hỗ trợ chiến dịch của phái chống chính thống nhằm hạ bệ Kim Jong-pil và 40 chính trị gia DRP của phái chính thống với mục tiêu củng cố nền tảng quyền lực của Park trước cuộc bầu cử tổng thống tháng 10 năm 1963 đang đến. Chính trong bối cảnh này, bảy lãnh đạo của khóa tốt nghiệp KMA 11 đã thành lập Chilseonghoe (Hội Thất tinh), sau đó đổi tên thành Hanahoe (Nhất Hội), một nhóm bí mật được sự đồng tình của Park Chung Hee. Park là một nhà bảo trợ giấu mặt, giao phó cho tổng tham mưu trưởng Seo Jong Sheol, tư lệnh CGC Yun Pil-yong và giám đốc PSS Park Chong-gyu nhiệm vụ sắp đặt các thành viên của Hanahoe vào lộ trình thăng tiến nhanh. Nhóm bí mật này nhanh chóng mở rộng để kết nạp các thành viên thuộc các khóa tốt nghiệp KMA 12 đến 20.

Hanahoe phát triển thành một bè phái chặt chẽ, chỉ tuyển chọn những sĩ quan quân đội được các thành viên của tổ chức này đánh giá toàn bộ và nhất trí lựa chọn, ngoài ra nhóm này cũng xây dựng các luật lệ và quy định hoạt động nội bộ nghiêm ngặt. Để làm chặt chẽ hơn cách tổ chức và hạn chế thành viên, Hanahoe tuyển chọn hầu hết cựu học viên KMA từ khu vực Gyeongsang, quê nhà của Park Chung Hee và Chun Doo-hwan. Mặc dù vậy, cuối cùng thì chính mối liên hệ đặc biệt của các thành viên Hanahoe với Park và các đặc quyền mà mối quan hệ này tạo ra cho họ mới kết nối họ với nhau. Bộ chỉ huy quân sự đã chỉ định các thành viên Hanahoe vào các đơn vị “chính trị” đặt ở trong và gần Seoul — CGC, ASC, PSC, KCIA và Sở chỉ huy Lính dù, những đơn vị này nằm ngoài cấu trúc chỉ huy của CFC do Mỹ chi phối và do đó sẵn sàng chịu sự huy động của Park mà không cần phải tham vấn Hoa Kỳ. Khi các thành viên Hanahoe đều được nâng lên giữ nhiệm vụ quân sự ở các chiến trường, bộ chỉ huy quân đội đã đặc biệt chỉ định họ vào Sư đoàn Bộ binh 1 và 9 đóng ở mặt trận phía tây có đường dẫn đến Seoul.

Bên cạnh những vị trí được khát khao nhất, các thành viên Hanahoe cũng được hưởng sự thăng tiến nhanh chóng. Bốn thành viên sáng lập chủ chốt — Chun Doo-hwan, Son Young-gil, Kim Pok-tong và Choi Seong-taek — đều được thăng cấp lên chuẩn tướng vào năm 1973, họ là những người đầu tiên của khóa tốt nghiệp 11 đạt được quân hàm này. Bốn người này đều xuất thân từ vùng Gyeongsang. Để củng cố đặc quyền của mình, các thành viên Hanahoe — với sự ủng hộ của những người bảo trợ, gồm có Yun Pil-yong và Park Chong-gyu - đã nhanh chóng phát triển một nguyên tắc chuyển giao các vị trí quân đội chủ chốt giữa họ. Cụ thể hơn, Đơn vị Cận vệ An ninh Tổng thống 30 của CGC, chịu trách nhiệm bảo vệ Nhà Xanh và vì vậy đóng quân gần với Park nhất, đã chứng kiến vị trí chỉ huy của họ được chuyển từ Son Young-gil sang cho Chun Doo-hwan (1967) và sang Park Kap-nyong (1969). Cả ba người này đều là thành viên Hanahoe của khóa tốt nghiệp KMA 11. Tương tự, bốn chỉ huy tiếp theo vào những năm 1970 đều là binh sĩ Hanahoe của các khóa tốt nghiệp KMA 14 đến 17. Họ phải ngăn chặn Kim Jong-pil khỏi việc chi phối thế hệ lãnh đạo tiếp theo của các lực lượng vũ trang Hàn Quốc.

Thay đổi chế độ, 1971-1972

Khi Park được bầu làm tổng thống lần thứ ba vào năm 1971, giữa các lực lượng vũ trang Hàn Quốc đã có một hệ thống kiểm soát và cân bằng gồm nhiều tầng lớp phức tạp có thể đảm bảo được ổn định và trật tư. Tuy nhiên, chính trị quân đội lại chưa bao giờ ổn định và trật tự vào đầu những năm 1970. Không chỉ việc lan rộng các căng thẳng chính trị xã hội và các vấn đề kinh tế mà quá trình chuyển đổi những thách thức đó thành cơ hội duy trì khả năng cầm quyền suốt đời của Park đã đẩy những cận vệ cấp cao trong quân đội Hàn Quốc tiến sâu hơn vào các cuộc đấu tranh chính trị và, trong quá trình đó, đã vô tình làm suy yếu hệ thống kiểm soát và cân bằng.

Năm 1971 là năm diễn ra đặc biệt nhiều căng thẳng chính trị xã hội và khó khăn kinh tế. Vào ngày 10 tháng 8 năm đó, khoảng 50.000 người dân ở Kwangju, tỉnh Gyeonggi, đã gây ra những cuộc biểu tình bạo lực, thiêu rụi một đồn cảnh sát cùng các xe giám sát đồng thời tổ chức những cuộc biểu tình ngồi ở các tòa nhà chính quyền. Họ tố cáo rằng chính quyền không giữ lời hứa cung cấp các khoản hỗ trợ kinh tế để tái định cư cho những người bị đuổi khỏi các khu ổ chuột của Seoul. Để hỗ trợ cảnh sát, quân đội đã được huy động để trấn áp các cuộc bạo loạn. Tình trạng hỗn loạn này diễn ra lần đầu tiên và cho thấy những căng thẳng đã được tích tụ từ khi Park bắt đầu chiến lược phát triển siêu tốc vào giữa những năm 1960. Sau đó, vào ngày 23 tháng 8, 24 lính đặc nhiệm thuộc một căn cứ không quân Hàn Quốc, những người đang được đào tạo để đột nhập vào lãnh thổ Triều Tiên nhằm trả đũa Sự kiện 21 tháng 1 vào năm 1968, đã giết chết 12 bảo vệ để thoát khỏi Đảo Silmi hẻo lánh đồng thời cướp lấy một chiếc xe buýt tiến vào Seoul nhằm lên tiếng phản ánh về tình trạng bạo hành. Khi nố ra cuộc đấu súng với các lực lượng vũ trang, tất cả những người lính đặc nhiệm này đã tự sát, tuy vậy vụ trốn thoát này cũng đủ để làm trầm trọng thêm những quan ngại trong xã hội.

Các thế lực đối trọng đấu tranh vì dân chủ trong chế độ cũng đã xuất hiện. Vào ngày 18 tháng 8 năm 1971, các giáo sư cấp tiến của Đại học Quốc gia Seoul công khai chỉ trích hệ thống giám sát các nhà hoạt động sinh viên của cảnh sát. Những sinh viên đại học hưởng ứng với phong trào chống đối riêng của họ. Danh sách nghị sự nhanh chóng bổ sung cho việc chấm dứt các chương trình đào tạo quân sự thực hành ở các cơ sở đại học và việc sa thải các giáo sư “thân Park” trong các trường đại học. Vào ngày 4 tháng 10, các sinh viên Đại học Hàn Quốc tiến hành một cuộc biểu tình ngồi để yêu cầu trừng phạt các chính trị gia tha hóa. Danh sách các chính trị gia mà lực lượng sinh viên muốn thanh trừng gồm có Chủ tịch Tài chính DRP Kim Chin-man, Giám đốc KCIA Yi Hu-rak và Tư lệnh CGC Yun Pil-yong. Sau những can thiệp liên tục của CGC vào chính trị để loại bỏ các nhà hoạt động chaeya và khủng bố những chính trị gia đối lập, vị tư lệnh của đơn vị này trở thành biểu tượng của quá trình chính trị hóa quân đội Hàn Quốc.

Bị thách thức bởi những lời kêu gọi dân chủ hóa đang lan truyền mạnh mẽ, nhưng cũng cảm nhận được về một cơ hội để đối phó từ tâm lý khủng hoảng của quần chúng, Park đã quyết định hành động nhanh gọn và dứt khoát chống lại những sinh viên biểu tình ở Đại học Hàn Quốc, ông ra lệnh cho Yun Pil-yong gửi cảnh sát quân sự CGC đến trường vào rạng sáng ngày 5 tháng 10 để đập tan cuộc biểu tình ngồi, bắt giam các lãnh đạo sinh viên và đóng cửa các lớp học. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đe dọa đưa các sinh viên đại học từ chối tham gia chương trình huấn luyện quân sự thực hành vào danh sách nhập ngũ bắt buộc, nhưng rồi ông cũng chỉ đành chứng kiến các cuộc biểu tình lan rộng từ Đại học Hàn Quốc sang các trường khác. Các tu sĩ từ nhiều giáo phái Thiên chúa giáo tham gia vào các cuộc nổi loạn để tố cáo tình trạng bất công xã hội và tha hóa chính trị. Park không hề sợ hãi trước sự phối hợp của các lực lượng chống đối. Ngược lại, ông càng làm xung đột thêm căng thẳng, đặt Seoul và khu vực xung quanh thành phố này dưới một sắc lệnh quân đồn trú vào ngày 15 tháng 10 và gửi binh lính đến 10 trường đại học để bắt giữ các lãnh đạo của phong trào sinh viên. Cuối cùng, hơn 4.000 sinh viên đã bị bắt giữ và bị cưỡng bức vào quân đội.

Khi Park bị thách thức bởi xã hội và tìm cách biến thách thức này thành cơ hội để thể chế hóa việc cầm quyền suốt đời thì vai trò chính trị của quân đội Hàn Quốc gia tăng mạnh mẽ. Do đó, trong cuộc bầu cử nghị viện diễn ra ngày 25 tháng 5 năm 1971, Park đã đề cử 41 vị tướng đã nghỉ hưu trong vai trò ứng cử viên của DRP, khiến quân đội chiếm tỷ lệ cao nhất trong tổng số ứng viên với 46,6%. Mặc dù Park đã thường xuyên chỉ định các sĩ quan tại ngũ và trong lực lượng dự bị vào các vị trí quan trọng trong đảng chính trị cầm quyền, bộ máy quan liêu nhà nước và các công ty thuộc sở hữu nhà nước, các cựu sĩ quan được ông đưa vào hoạt động chính trị vào năm 1971 đã tỏ ra rất xuất chúng. Nghi ngờ các chính trị gia DRP đương chức, những người đang chia rẽ thành các bè phái đối thủ để cạnh tranh quyền lực với dự đoán Park sẽ nghỉ hưu sau nhiệm kỳ thứ ba (1971-1975), các sĩ quan quân đội trung thành của Park, một khi đã được bầu lên, được giao phó cho nhiệm vụ kiểm soát Kim Jong-pil, người đang tạo được lực lượng ủng hộ chống đối lại việc kéo dài thời gian giữ chức tổng thống thành ba nhiệm kỳ vào năm 1969, và Kim Seong-gon cùng Bè lũ Bốn tên của ông này - những người mà lòng trung thành của họ sẽ không còn là vô điều kiện trong trường hợp phái chính thống của Kim Jong-pil suy yếu. Vấn đề của Park vào năm 1971 không phải là có hay không, mà là khi nào và như thế nào, ông sẽ huy động những cận vệ cấp cao để vô hiệu hóa cả Kim Jong-pil và Kim Seong-gon trong nỗ lực kéo dài thời gian cầm quyền. Vào ngày 6 tháng 12 năm 1971, Park tuyên bố tình trạng khẩn cấp của quốc gia. Sắc lệnh này xác định an ninh quốc gia là ưu tiên tối cao của nhà nước và “không cho phép” bất cứ bất ổn xã hội nào đe dọa đến an ninh. Để vượt qua những đe dọa an ninh quân sự, người dân Hàn Quốc đã được kêu gọi hạn chế “bất kỳ thảo luận vô trách nhiệm nào” về các vấn đề an ninh, xây dựng một “hệ thống niềm tin mới” và chấp nhận những hạn chế tạm thời về quyền dân sự. [100] Nội các hưởng ứng điều này vào ngày 7 tháng 12 với việc soạn thảo Luật Bảo vệ Lãnh đạo Quân sự, Luật Bảo vệ Bí mật Quân sự và bản sửa đổi Luật Trưng dụng. Ba dự luật này đã đặt nền tảng cho việc huy động hợp pháp quân đội vào các mục đích chính trị. Một ngày trước đó, Park đã tuyên bố công khai quan điểm của mình về tình hình an ninh đang thay đổi và những hạn chế về phương tiện của nước này để chống lại mối đe dọa từ bên ngoài. Park tuyên bố “vì không thể nào chống lại lưỡi gươm của kẻ xâm lược [Triều Tiên] bằng những khẩu hiệu về tự do và hòa bình, [Hàn Quốc] cần phải tiến tới với quyết tâm vững chắc để hạn chế một phần quyền tự do [vì an ninh quốc gia].”

Để củng cố vị thế của mình hơn nữa, vào ngày 23 tháng 12, Park kêu gọi chủ tịch Nghị viện Quốc gia cần đẩy nhanh việc ban hành Luật An ninh Quốc gia Đặc biệt. Được thông qua vào ngày 27 tháng 12, đạo luật này tạo điều kiện cho Park ngăn cản thành công bất cứ thách thức nào nhằm vào chính quyền của ông khi nó làm rõ rằng nghĩa vụ của tổng thống là bảo vệ nhà nước, văn phòng tổng thống có thẩm quyền điều hành nền kinh tế và phát lệnh tổng động viên toàn quốc vì mục đích bảo vệ lợi ích nhà nước. Hơn nữa, đạo luật đặc biệt này quy định rằng nhân danh an ninh quốc gia, tổng thống có thể hạn chế quyền tự do lập hội và biểu tình chính trị, quyền tự do ngôn luận và báo chí cũng như quyền hành động mang tính tập thể của công nhân.

Tuy nhiên, để tạo ra những lý luận an ninh thuyết phục nhằm thay đổi chế độ, Park cho rằng mình phải vượt khỏi những lập luận truyền thống theo kiểu chính sách ngăn chặn vào thời chiến tranh lạnh bởi tình hình an ninh quốc tế đã thay đổi đáng kể với mối quan hệ Trung- Mỹ đã được xoa dịu. Thay vì biện hộ cho việc chuyển hướng sang chế độc độc tài chỉ như một biện pháp để chuẩn bị cho cuộc đối đầu với Triều Tiên, Park đã kết hợp lối nói khoa trương thời chiến tranh lạnh về cuộc chạy đua quân sự với lời hứa hòa giải để phù hợp với kỷ nguyên mới khi quan hệ giao bang được xoa dịu. Park lập luận rằng bằng cách bắt đầu chế độ yushin, Hàn Quốc không chỉ tăng cường khả năng phòng vệ quân sự mà còn cả vị thế đàm phán với Triều Tiên về việc cùng tồn tại. Park lập luận, bằng thế mạnh xuất phát từ tính đoàn kết chính trị trong nước, Hàn Quốc có thể đàm phán được những điều kiện có lợi hơn về quá trình thống nhất đất nước. Những lý luận mới được bổ sung về thống nhất đất nước khiến cả đảng NDP đối lập và những người bất đồng chính kiến chaeya cũng khó có thể phản đối việc áp dụng hiến pháp yushin vào năm 1972. Để làm suy yếu phe đối lập hơn nữa, Park chứng minh lời nói của mình bằng những hành động dứt khoát, như việc gửi giám đốc KCIA Yi Hu-rak đến Bình Nhưỡng trong một sứ mệnh bí mật vào ngày 2 tháng 5 năm 1972 để đàm phán về một chương trình nhỏ nhằm xoa dịu căng thẳng trên bán đảo Triều Tiên. Sau khi Yi trở về, Park ra lệnh cho ông này chuẩn bị “Pung-nyeon sa-eop” (Dự án Vụ mùa tốt), một kế hoạch chi tiết để khởi động chế độ yushin.

Sau đó, các sự kiện diễn ra dồn dập. Hai nước Triều Tiên ban hành một Tuyên bố chung Bắc-Nam vào ngày 4 tháng 7 năm 1972 để bắt đầu đối thoại về quá trình hòa giải dựa trên ba nguyên tắc độc lập, hòa bình và thống nhất đất nước. Bên cạnh đó, Bộ Quốc phòng ban hành một cảnh báo không cho phép bất kỳ biểu hiện lơ là nào và kêu gọi tăng cường phòng vệ quân sự. Đích thân Park tham dự ngày các Lực lượng Vũ trang Quốc gia, ngày 1 tháng 10, để nhấn mạnh tầm quan trọng của an ninh quốc gia trong giai đoạn xoa dịu sắp đến. Vào ngày 17 tháng 10, ông tuyên bố thiết quân luật và dàn quân trong và xung quanh Seoul. Tổng cục An ninh Quân đội nhận lệnh điều tra và bắt giữ các nhà lập pháp NDP bị tình nghi vận động các quỹ chính trị bất hợp pháp cho Kim Dae-jung trong nỗ lực tranh cử tổng thống bất thành của ông này năm 1971. ASC cũng tìm kiếm những người có cảm tình với giới lãnh đạo phe đối lập bên trong quân đội và bắt đầu thẳng tay đàn áp Kim Young-sam cùng phái mới nổi của ông này trong NDP. ASC, với sứ mệnh phản gián và chống lật đổ bên trong quân đội, bắt đầu tiến hành các cuộc điều tra thường xuyên nhằm vào các chính trị gia dân sự. Quá trình chuyển đổi sang chính quyền độc tài hoàn tất khi Hội đồng Nhà nước bỏ phiếu đưa hiến pháp yushin ra trưng cầu dân ý vào ngày 22 tháng 11 năm 1972. Điều 53 của hiến pháp mới mang lại cho Park quyền sử dụng “các biện pháp khẩn cấp” để duy trì “an ninh quốc gia” cùng với “hòa bình và trật tự công cộng”.

Sự sụp đổ của hệ thống kiểm soát và cân bằng, 1973

Trong khi tiến đến chế độ độc tài dựa trên sự ủng hộ không lay chuyển của các lực lượng vũ trang vào năm 1971-1972, Park cũng tái cấu trúc liên minh cầm quyền để dọn sạch những trở ngại và nuôi dưỡng những nền tảng ủng hộ của mình. Mục tiêu là điều chỉnh cơ chế kiểm soát để thích nghi với những thay đổi cấp tiến trong các giới hạn quyền lực mà yushin đưa đến. Trong ngắn hạn, việc tái cấu trúc góp phần khởi động chế độ yushin, tuy nhiên trong dài hạn nó lại làm tổn hại đến cơ chế nội bộ để điều chỉnh nạn lạm quyền cực đoan và khắc phục tình trạng bóp méo chính sách tồi tệ nhất trong chế độ của ông thông qua việc làm xói mòn hệ thống kiểm soát và cân bằng nhiều lớp mà Park đã thiết lập từ thế hệ tham gia đảo chính năm 1961 cũng như giữa các sĩ quan cấp cao với nhóm Hanahoe. Trớ trêu thay chính sự sụp đổ của Kim Jong-pil khỏi vị trí “thái tử” lại gây nguy hiểm cho cơ chế kiểm soát và cân bằng nội bộ, vì điều đó đã làm giảm lợi ích của các đối thủ và kẻ thù của ông khi nắm giữ vai trò là công cụ để kiểm soát và cân bằng. Giữa năm 1971 và 1973, đảng DRP cầm quyền chứng kiến Park tấn công Kim Seong-gon cùng cộng sự của ông ta (Bè lũ Bốn tên), khi họ chiếm lấy vai trò chính thống và sử dụng quyền lực mới giành được để kết hợp với NDP đối lập trong lần bỏ phiếu bất tín nhiệm chống lại Bộ trưởng Bộ Nội vụ Oh Chi-seong bất chấp chỉ đạo rõ ràng về việc không làm suy yếu nội các của Park. Tương tự, quân đội cũng chứng kiến Tư lệnh CGC Yun Pil-yong phải hầu tòa vì tội lật đổ vào ngày 28 tháng 4 năm 1973. Park cũng cách chức Yi Hu-rak khỏi vị trí giám đốc KCIA vào ngày 3 tháng 12 cùng năm đó.

Sự kiện thanh trừng Yun Pil-yong đã gây chấn động trong xã hội vì mối liên hệ gắn bó của ông này với Park. Tổng thống đã bảo trợ cho ông ta mặc cho thất bại của ông khi kết hợp với các sĩ quan đồng môn ở khóa tốt nghiệp KMA 8 trong cuộc đảo chính năm 1961. Yun Pil-yong đã thăng tiến từ hàm thiếu tá năm 1961 thành thiếu tướng năm 1970. Trong 9 năm thăng tiến nhanh chóng đó, ông đã chỉ huy những đơn vị quân đội hùng mạnh nhất, từ Lực lượng Phản gián (1963-1968) đến Sở chỉ huy Quân đồn trú Thủ đô (1970-1973). Để đáp lại sự bảo trợ chính trị của Park, Yun Pil-yong phải cật lực tiến hành một “cuộc chiến bẩn” đại diện cho Park, nhằm trấn áp các phong trào chống đối chính trị và thẳng tay với các chính trị gia đối lập. Cho đến đầu những năm 1970, Yun đã bị các nhà hoạt động chính trị và những người bất đồng chính kiến để mắt tới trong số các sĩ quan quân đội đang phục vụ như một nhân vật phản diện có cùng tầm vóc với Kim Hyeong-wook và Yi Hu-rak trên chính trường Hàn Quốc. Tuy nhiên, Park đã cứng rắn trừng trị Yun Pil-yong bằng cách bỏ tù ông vì tội danh lật đổ.

Yun đã quên rằng ông chỉ là một người chăm sóc cho Hanahoe chứ không phải lãnh đạo của nhóm này. Sự sa sút của ông bắt đầu khi Giám đốc PSS Park Chong-gyu báo cáo với Park về một cuộc thảo luận giữa Yun với Giám đốc KCIA Yi Hu-rak về vấn đề kế nhiệm. Park có lý do để thấy hàm ý nghi ngờ trong báo cáo của Park Chong-gyu. Là một đối thủ chính trị của Yi Hu-rak, Park Chong-gyu có đủ lý do để nói xấu Yun Pil-yong, người ngày càng sát cánh bên Yi Hu-rak trong hoạt động chính trị cung điện. Yi Hu-rak lúc bấy giờ đang ở giai đoạn đỉnh cao của sự nghiệp khi sắp đặt thành công để Park đắc cử trong cuộc bầu cử tổng thống năm 1971 cạnh tranh với Kim Dae-jung. Yi Hu-rak cũng đã chuẩn bị thành công Tuyên bố chung ngày 4 tháng 7 với Kim Il Sung, tuyên bố này đã mở đường cho việc ban hành hiến pháp yushin vào năm 1972. Lo sợ trước những thành công chính trị rực rỡ của Yi Hu-rak, Park Chong-gyu tìm cách hạ thấp vị thế chính trị của đối thủ. Khi Shin Beom Sik, chủ tịch của một tờ báo do nhà nước điều hành, thông báo cho Park Chong-gyu về cuộc gặp của Yun Pil-yong với Yi Hu-rak về vấn đề kế nhiệm trong lúc chơi golf vào tháng 10 năm 1972, vị giám đốc PSS ngay lập tức thông báo với Park về “lòng bất trung” của hai người này.

Park cực kỳ tức giận. Ông xem Yun Pil-yong là người đáng lo ngại hơn Yi Hu-rak vì với vai trò là người giám sát Hanahoe thay mặt Park, Yun đã tìm cách để trở thành lãnh đạo thật sự của nhóm này. Hanahoe đã trở thành một bè phái với cấp lãnh đạo sẵn sàng để được thăng cấp lên hàm chuẩn tướng và các thành viên còn lại sẵn sàng độc chiếm các vị trí cấp trung trong lực lượng an ninh quân đội. Park ngay lập tức ra lệnh cho tư lệnh ASC Kang Chang-seong điều tra về Yun Pil-yong. Việc Park chọn Kang làm người điều tra vào ngày 6 tháng 5 năm 1973 đã quyết định số phận không may của Yun. Cả hai người này đều đã được cấp trên và đồng môn của họ công nhận là có năng lực để trở thành tổng tham mưu trưởng tương lai ngay từ buổi đầu trong sự nghiệp quân sự của họ. Đây không phải là lần đầu tiên họ đụng độ nhau. Vào tháng 12 năm 1967, Yun Pil-yong, lúc bấy giờ là tư lệnh của CIC, đã điều tra Kang Chang-seong vì tội tham nhũng. Kang Chang-seong lúc đó đang là giám đốc kế hoạch và quản lý ở KCIA và chỉ được giải cứu nhờ sự can thiệp vào phút chót của Yi Jong Chan, Kim Kwang-uk và Yi Tong-nam, hai người sau có gốc gác ở miền Bắc và miền Trung. Bản thân Kang Chang-seong là một người gốc ở tỉnh Gyeonggi ở miền Trung. Chính trong thời gian này mà Kang Chang-seong biết được về Hanahoe. Khi Park chỉ định ông làm tư lệnh ASC vào tháng 8 năm 1972, Park đã xác định tư tưởng cho Kang về việc giám sát và loại bỏ Hanahoe đồng thời đã tuyển chọn những sĩ quan không thuộc Hanahoe vào ASC để điều tra các hoạt động của Hanahoe trước cả khi Park ra lệnh cho Kang thẳng uy với Yun Pil-yong.

Sau 40 ngày điều tra, ASC của Kang Chang-seong buộc tội Yun Pil-yong cùng đồng sự âm mưu đảo chính quân sự. Ngoài ra, ASC cũng cáo buộc họ có dính líu đến vụ tham nhũng nghiêm trọng đe dọa đến tinh thần của các lực lượng vũ trang. Vào ngày 28 tháng 4 năm 1973, 11 sĩ quan, gồm có cả Thiếu tướng Yun Pil-yong, các Chuẩn tướng Son Young-gil (tham mưu trưởng của CGC) và Kim Seong Bae (giám đốc thăng tiến và nhân sự của bộ chỉ huy quân đội), cùng với các đại tá Kwon Ik-hyeon (trung đoàn trưởng Trung đoàn 76 thuộc Sư đoàn Bộ binh 26), Ji Seong-han (trưởng phòng Phòng Điều tra Tội phạm Quân đội) và Sin Chae-gi (trưởng phòng thăng tiến và nhân sự, bộ chỉ huy quân đội) đã bị xử từ 2 đến 15 năm tù vì tội tham ô, hối lộ, lạm dụng chức quyền và đào ngũ. 31 sĩ quan quân đội khác đã chịu những án sa thải nhục nhã. Trong số 11 “tòng phạm” bị xử tù giam, tất cả ngoại trừ Kim Seong Bae và Ji Seong-han đều là các thành viên Hanahoe. Hơn nữa, chín sĩ quan này đều đến từ vùng Gyeongsang, quê nhà của cả Park Chung Hee và Yun Pil-yong. Tệ hơn nữa với nhóm Hanahoe, trong số những người bị cầm tù có Song Young Gil và Kwon Ik-hyeon của khóa KMA 11, hai người này đã thành lập và lãnh đạo nhóm cùng với Chun Doo-hwan. Chun đã thoát được cuộc thanh trừng vì ông là người đã báo cáo về cuộc trao đổi của Yun Pil-yong với Yi Hu-rak cho giám đốc PSS Park Chong-gyu. Sau khi thoát khỏi cuộc thanh trừng, Chun cố gắng hạn chế thiệt hại bằng cách vận động chính sách khoan hổng thay mặt cho các thành viên khác của Hanahoe. Park nghe theo lời khuyên của ông này vì ông cũng không thể nào loại bỏ được toàn bộ các sĩ quan Hanahoe của vùng Gyeongsang.

Sự ra đi của Yun Pil-yong khởi động một giai đoạn mới của nạn bè phái quân sự. Đã qua những ngày tháng của “cuộc chơi lớn”, nơi mà giải thưởng là trở thành người thừa kế của Park. Cũng đã không còn những tay chơi sừng sỏ với những tham vọng lớn và phấn đấu để phát triển một nền tảng sức mạnh của chính họ mà ban đầu là ở các tổ chức an ninh quân đội và sau này là ở DRP. Ba trợ thủ cấp cao nòng cốt luân phiên đảm nhiệm KCIA trong giai đoạn 1961-1973 mất đi sự ân sủng vào năm đầu tiên của chế độ yushin. Kim Jong-pil trở thành thủ tướng vào ngày 4 tháng 6 năm 1971 nhưng không còn là hiện thân của thế hệ trẻ Hàn Quốc như trước. Ba thất bại chính trị ông gặp phải vào năm 1963, 1965 và 1969 đã hủy hoại tinh thần và làm tan rã phái của ông. Hai giám đốc KCIA khác trong giai đoạn 1961-1973 đã vấp ngã đau đớn hơn và mất đi sự ân sủng của Park. Lo sợ bị trả thù bởi những người mình từng sách nhiễu, lạm dụng và đe dọa, Kim Hyeong-wook chọn con đường tị nạn ở Hoa Kỳ vào ngày 15 tháng 4 năm 1973. Yi Hu-rak thì về quê nghỉ hưu sau khi bị cách chức vì có liên quan đến sự kiện Yun Pil-yong và vụ bắt cóc Kim Dae-jung ở Tokyo cho đến khi ông thắng được một ghế trong Nghị viện Quốc gia trong vai trò ứng viên độc lập ở các cuộc bầu cử năm 1978 và được đưa trở lại vào DRP vào năm 1979.

Ngay cả Park Chong-gyu, người sở hữu phong cách cứng rắn đã khiến ông không có nhiều bạn, cũng kết thúc nhiệm vụ 12 năm trong vai trò giám đốc PSS vào ngày 21 tháng 8 năm 1974 khi Đệ Nhất Phu nhân Yuk Yeong Su chết trong một nỗ lực ám sát bất thành nhằm vào Park. Giống như các đối thủ của Kim Jong-pil, những người mà sự nghiệp của họ cũng kết thúc với sự tan rã của phái chính thống Kim Jong-pil, tư lệnh ASC Kang Chang-seong cũng bị buộc phải nghỉ hưu khỏi lực lượng thường trực vào tháng 1 năm 1976 sau khi phục vụ trong vai trò là tư lệnh Quân khu 3 (1973-1975). Ông đóng vai trò chủ chốt khi trừng trị các sĩ quan Hanahoe có nguồn gốc từ vùng Gyeongsang. Tuy nhiên, hóa ra cuộc thanh trừng đối thủ của ông ta, Yun Pil-yong, lại làm tổn hại đến lợi ích chính trị mà Kang Chang-seong đem lại cho Park, người luôn sử dụng cách thức chia để trị để cầm quyền. Kinh nghiệm của Kang là một lời nhắc nhở rằng một vật chỉ được trân trọng khi nó còn hữu ích. Và với sự sụp đổ của những cận vệ cấp cao này, hệ thống kiểm soát và cân bằng phức tạp cũng bị tan rã.

Cận vệ của yushin, 1972-1979

Khi hiến pháp yushin được ban hành, quân đội đã được gia tăng quyền lực chính trị. Việc can thiệp của quân đội vào chính trị trở thành một hoạt động thường trực sau ngày 3 tháng 4 năm 1974, hôm đó là lần đầu tiên kể từ lúc ban hành hiến pháp yushin, sinh viên Đại học Quốc gia Seoul, Đại học Sungkyunk-wan và Đại học Nữ sinh Ewha hợp tác tổ chức biểu tình quy mô lớn chống lại hiến pháp này, kết quả là việc tổ chức ra Hội Sinh viên Thanh niên Dân chủ Quốc gia và tuyên bố về con người, quốc gia và dân chủ của hội này. Chính quyền yushin đã chống lại bằng chiến lược trấn áp chính trị đã được thời gian chứng minh với việc ban hành Sắc lệnh Khẩn cấp số 4 ra lệnh cho cảnh sát quân sự của KCIA, ASC và CGC tiến hành bắt giữ hàng loạt các nhà hoạt động sinh viên. Bốn lãnh đạo sinh viên, trong đó có Yi Cheol, đã bị đưa vào danh sách truy nã và 22 thành viên khác bị cáo buộc tham gia vào Đảng Cách mạng Nhân dân đã bị xét xử bởi một toàn án quân sự khẩn cấp. Trong số bị buộc tội có Yun Po-sun, nguyên tổng thống của Đệ Nhị Cộng hòa (1960-1961); Kim Tong-gil, một giáo sư sử học ở Đại học Yonsei; và Kim Chi-ha, một nhà thơ bất đồng chính kiến nổi tiếng. Tòa án quân sự kết luận họ vi phạm Sắc lệnh Khẩn cấp số 1. Khoảng 180 người bất đồng chính kiến cũng bị cầm tù vì vi phạm Sắc lệnh Khẩn cấp số 4. Tám người bị buộc tội là thành viên nòng cốt của Đảng Cách mạng Nhân dân bị kết án tử hình và đã nhanh chóng bị xử tử vào ngày 9 tháng 4 năm 1975.

Các phong trào phản đối của sinh viên tiến bộ đã nhanh chóng suy yếu sau cái chết của Đệ Nhất Phu nhân Yuk Yeong Su gây ra bởi Mun Se-gwang, một người Nhật gốc Hàn, vào ngày 15 tháng 8 năm 1974. Tuy nhiên với một cuộc biểu tình đông đảo được tổ chức bởi sinh viên Đại học Hàn Quốc trong dịp kỷ niệm đầu tiên của Tuyên bố về Con người, Quốc gia và Dân chủ, Park buộc phải tuyên bố Sắc lệnh Khẩn cấp số 7 vào ngày 8 tháng 4 năm 1975. Sắc lệnh mới đã ủy quyền cho Bộ trưởng Bộ Quốc phòng khôi phục lại trật tự tại các cơ sở đại học bằng cách tạm thời đóng cửa các trường với sự hỗ trợ của các lực lượng vũ trang. Bên cạnh đó, một đại đội được trang bị đẩy đủ của cảnh sát quân sự CGC đã chiếm đóng Đại học Hàn Quốc. Vào ngày 13 tháng 5, với miền Nam Việt Nam và Campuchia đang trên bờ vực sụp đổ và Hàn Quốc chìm trong nỗi ám ảnh Đỏ, Park đã ban hành Sắc lệnh số 9 để “bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự công cộng”.

Khi phong chào chống đối chính trị phát triển và cuộc khủng hoảng an ninh trở nên tồi tệ hơn, Park càng cố gắng theo đuổi một cách có hệ thống và rộng rãi hơn việc đặt các cận vệ cấp cao và các sĩ quan chuyên nghiệp vào hai lộ trình thăng tiến loại trừ lẫn nhau. Cuộc chơi lớn đã qua rồi, nhưng điều đó không kết thúc “chính trị”. Ngược lại, với sự suy yếu của hệ thống kiểm soát và cân bằng, Park gặp phải khó khăn hơn bao giờ hết khi tiếp cận với tư cách cá nhân sâu xuống hệ thống cấp bậc quân đội. Không ở đâu mà việc tăng cường áp dụng chính sách nghề nghiệp hai lộ trình lại rõ nét hơn khi tuyển chọn các tướng lĩnh vào các vị trí chính trị. Sau khi công bố hiến pháp yushin, Park tích cực tuyển chọn các tướng lĩnh trong lực lượng dự bị vào các vị trí công chức, không chỉ để xây dựng hình ảnh của mình như là người bảo trợ cho lợi ích của các lực lượng vũ trang mà còn để phát triển mạng lưới những người ủng hộ trong các lĩnh vực chiến lược của xã hội. Trong số 588 tướng lĩnh nghỉ hưu năm 1975, 53 người giữ vị trí trong nhánh hành pháp, 13 người trở thành nhà ngoại giao, 32 người được bầu vào Nghị viện Quốc gia và 43 người quản lý các doanh nghiệp sở hữu nhà nước. 174 người khác trở thành chủ sở hữu, giám đốc và cố vấn cho các doanh nghiệp tư nhân. Các trường đại học cũng sử dụng 24 tướng lĩnh nghỉ hưu. Dù vậy, vẫn còn 135 tướng lĩnh trong lực lượng dự bị (chiếm 23%) chưa được sử dụng. Số lượng chưa được sử dụng vẫn còn đủ lớn để chứng tỏ với các sĩ quan quân đội về tầm quan trọng của việc xây dựng niềm tin cá nhân và sự bảo trợ của Park khi họ vẫn còn trong quân ngũ.

Khi phong trào chống đối mạnh lên vào những năm 1970, Park bắt đầu chia sẻ các chiến lợi phẩm chính trị cho các sĩ quan trẻ. Với hệ thống tuyển chọn Sĩ quan Trẻ Đặc biệt áp dụng vào năm 1977, Bộ Quốc Phòng dành những vị trí Bậc 3A — bậc công chức cao cấp thấp nhất - cho những cựu học viên KMA nào muốn rời khỏi quân ngũ sau khi hoàn thành nghĩa vụ phục vụ trong 5 năm theo luật định và đã đạt đến hàm đại úy hoặc thiếu tá. Đối với những người muốn có vị trí cao hơn trong hệ thống công chức, Bộ Quốc phòng chỉ yêu cầu họ phải hoàn thành một chương trình giáo dục một năm ở Viện Đào tạo Quản trị KMA. Chương trình này dành cho các cựu học viên KMA, nhưng không dành cho cựu học viên của Học viên Quân sự Đệ Tam. Sự phân biệt dựa trên trường đào tạo này nhằm làm cho các cựu học viên của KMA bốn năm gắn bó với sự cầm quyền chính trị của Park. Nếu đưa vào các học viên tốt nghiệp Học viện Quân sư Đệ Tam hai năm - gồm cả những người tốt nghiệp hạng hai - vào chương trình này sẽ không chỉ hạn chế số lượng các vị trí công chức dành sẵn cho các học viên tốt nghiệp KMA, mà còn đe dọa đến tinh thần các công chức bậc cao khi đẩy mạnh cuộc chạy đua thăng tiến. Đơn giản là vì có quá nhiều các học viên tốt nghiệp từ Học viện Quân sự Đệ Tam để có thể đưa vào chương trình mà không làm ảnh hưởng đến sự cân bằng Park mong muốn đạt được giữa quá trình chuyên nghiệp hóa và chính trị hóa, giữa tăng trưởng kinh tế và ổn định chế độ.

Các sĩ-quan-chuyển-sang-quan-chức đảm nhận vai trò của đội bảo vệ hoàng gia cho chế độ yushin bên trong bộ máy quan liêu nhà nước. Không phải ngẫu nhiên mà nhiều sĩ quan trẻ đã nắm giữ các vị trí trong các tổ chức nhà nước chịu trách nhiệm kiểm soát mang tính chính trị cao hơn, như Bộ Nội Vụ, Ban Kiểm toán và Thanh tra cũng như Cơ quan Quản lý Thuế Quốc gia. [101] Các bộ ngành chịu trách nhiệm điều phối kinh tế, bao gồm Ban Kế hoạch Kinh tế (EPB) và Bộ Tài chính (MoF), bị cách ly xa hơn khỏi quân đội.

Mặt khác, Park không xây dựng nhiều lớp kiểm soát và cân bằng như ông đã từng làm trong giai đoạn 1961-1973. Thay vào đó, Park để cho Cha Ji-cheol - một trung tá quân đội đã nghỉ hưu không phải từ KMA [102] và là cận vệ của Park trong những ngày đảo chính - chi phối các sự vụ quân sự và chính trị từ vị trí mới được chỉ định của ông ta là giám đốc PSS (1974-1979). Vào tháng 12 năm 1974, Park đưa Kim Chae-gyu, một vị tướng bốn sao đã nghỉ hưu và cũng là một cựu học viên KMA, lên làm giám đốc mới của KCIA, tuy nhiên Kim Chae-gyu đã thất bại trong việc kiểm soát Cha Ji-cheol. Ngược lại, khi ở một vị trí có sức ảnh hưởng, Cha Ji-cheol tỏ rõ tham vọng trở thành một “phó tổng thống” thật sự, trích lời những người chỉ trích ông này. Để củng cố nền tảng tổ chức của mình và đảm bảo được tính chính danh trong quân đội, Cha Ji-cheol mở rộng Văn phòng An ninh Tổng thống, thành lập mới các vị trí phó giám đốc, trưởng phòng tác chiến, trưởng phòng quản trị rồi bổ nhiệm các cựu học viên ưu tú của KMA vào các vị trí này. Một PSS mở rộng cho phép ông phát triển các mối liên kết chặt chẽ với những sĩ quan Hanahoe đang lên. Các chuẩn tướng Chun Doo-hwan, Roh Tae-woo và Kim Pok-tong từ khóa KMA 18 và là các lãnh đạo của phái Hanahoe lần lượt trở thành trưởng phòng tác chiến trong giai đoạn 1976-1978. Cha Ji-cheol cũng mở rộng Đơn vị Bảo vệ An ninh Tổng thống 30 và 33 từ một tiểu đoàn thành một trung đoàn. Hơn nữa, ông có được một sắc lệnh tổng thống ban hành để đưa PSS lên đứng đầu bộ chỉ huy CGC nếu quốc gia lâm vào tình trạng khẩn cấp. [103] Quan trọng hơn, Cha Ji-cheol đã can thiệp vào chính sách nhân sự của bộ chỉ huy quân đội và dùng sức ảnh hưởng của mình để thăng chức cho các sĩ quan quân đội trung thành với ông lên các vị trí chỉ huy chủ chốt.

Bộ chỉ huy quân đội ngày càng không hài lòng với việc Cha Ji-cheol lạm dụng lòng tin của Park. Đối với hầu hết các cựu học viên KMA, việc một sĩ quan nghỉ hưu chỉ có nền tảng học vấn từ Trường Sĩ quan dự bị lại có sức ảnh hưởng đến vậy với các vấn đề quân sự là một sự xúc phạm. Đặc biệt, họ đã nổi giận với việc giám đốc PSS, về nguyên tắc không thuộc hệ thống chỉ huy quân sự, lại có thể chỉ huy CGC trong tình huống khẩn cấp quốc gia. [104] Tuy nhiên, họ không để lộ ra những bất mãn này vì nghĩ rằng Cha Ji-cheol có được sự tin tưởng của Park. Rõ ràng là niềm tin của Park dành cho Cha Ji-cheol không chỉ dựa trên lòng trung thành không hề lung lay của vị giám đốc PSS mà còn bởi ông này có khả năng cung cấp được đều đặn những báo cáo tình báo về tình hình chính trị trong nước. Đội tình báo riêng mà Cha Ji-cheol tổ chức cùng với Yi Kyu-gwang, cậu vợ của Chuẩn tướng Chung Doo-hwan, chịu trách nhiệm về Hanahoe sau cuộc thanh trừng các đối thủ tiềm tàng trong sự kiện Yun Pil-yong vào năm 1973, đã tỏ ra rất hiệu quả trong việc thu thập các tin tức nhạy cảm về hoạt động hằng ngày của các tướng lĩnh quân sự chủ chốt, các nhà lập pháp DRP và các lãnh đạo đối lập. Cũng góp phần vào sự nổi lên của Cha Ji-cheol là sự thiếu lòng tin của Park vào KCIA sau vụ đào tẩu sang Hoa Kỳ của một số đặc vụ KCIA vào thời gian xảy ra vụ bê bối Koreagate, sự kiện làm chấn động mối quan hệ Mỹ - Hàn. Cũng quan trọng không kém, Cha Ji-cheol có khả năng gia tăng ảnh hưởng của mình lên Tổng cục An ninh Quân đội sau khi tòa án quân sự năm 1973 xét xử tư lệnh ASC Yun Pil-yong. Sau những năm chuyển giao của tư lệnh ASC Kim Chong-hwan (1973-1977), vị trí tư lệnh ASC được chuyển cho Thiếu tướng Jin Jong Chae (1977-1979) nhằm mang lại mối quan hệ hợp tác tốt đẹp hơn trong chính sách tình báo an ninh giữa các nhánh khác nhau của quân đội cùng lúc với việc tiến hành Kế hoạch 5 năm Hiện đại hóa Các lực lượng Vũ trang Hàn Quốc. Mục tiêu của việc này là xây dựng một cỗ máy an ninh kết hợp để phù hợp với quân đội tự cung tự cấp mà Park đã nhắm đến cho Hàn Quốc trong thời kỳ hòa hợp và triệt thoái quân sự của Mỹ. Trong một phần của nỗ lực này, Jin Jong Chae đã tái tổ chức lại ASC thành Tổng cục An ninh Quốc phòng (DSC) vào ngày 26 tháng 9 năm 1977 tuân thủ theo Sắc lệnh Tổng thống số 8704. Việc này đã khiến cán cân quyền lực rời xa giám đốc KCIA Kim Chae-gyu hơn nữa và nghiêng về phía giám đốc PSS Cha Ji-cheol.

Kim Chae-gyu cố gắng đảo ngược thế cờ và nỗ lực của ông đã phần nào thành công. Khi DSC báo cáo không chính xác về việc đào tẩu của một sĩ quan quân đội cấp cao của Hàn Quốc vào tháng 10 năm 1977, Kim Chae-gyu đã gây áp lực lên DSC yêu cầu giải tán Phòng Tình báo của đơn vị này và thành công trong việc cấm DSC không được gửi đặc vụ đến các cơ quan chính phủ và các tổ chức xã hội cho hoạt động giám sát. Hoạt động giám sát này sẽ là nhiệm vụ độc quyền của KCIA. Tuy nhiên, ngoài việc này ra, Kim Chae-gyu gặp khó khăn khi phải kiểm soát Cha Ji-cheol. Ngược lại, ông nhận thấy chính mình phải phòng thủ khi Cha Ji-cheol đã mưu mô hơn hẳn ông khi thuyết phục Park chỉ định Thiếu tướng Chun Doo-hwan làm thủ trưởng của DSC vào tháng 3 năm 1979. Trong khi Cha Ji-cheol đã xây dựng những mối quan hệ gắn bó với lãnh đạo thế hệ tiếp theo của nhóm Hanahoe — nhóm này bị cho là đã tan rã — bằng cách chỉ định Chun Doo-hwan vào vị trí trưởng phòng tác chiến của PSS trước khi ông này chuyển đến chỉ huy Sư đoàn Bộ binh 1 vào tháng 1 năm 1978, mối quan hệ của Kim Chae-gyu với Chun Doo-hwan đã trở nên căng thẳng kể từ khi Kim phản đối Yun Pil-yong lúc Yun được chỉ định là tư lệnh ASC (1967-1971). Hơn nữa, bất kể nguồn gốc Nam Gyeongsang của mình, Kim Chae-gyu không bao giờ che giấu ác cảm của ông với khóa tốt nghiệp KMA 11 của Chun Doo-hwan, ông đánh giá khóa này bị chính trị hóa quá mạnh và quá ngạo mạn.

Kim Chae-gyu dường như đã nhận thấy mối đe dọa dẫn đến sự sụp đổ của ông vào giữa năm 1979. Với đảng NDP đối lập tập hợp được số phiếu bầu nhiều hơn DRP lần đầu tiên trong cuộc bầu cử Nghị viện Quốc gia vào tháng 12 năm 1978, nhóm đầu sỏ cầm quyền đã cố gắng trong tuyệt vọng nhằm giành lại sự ủng hộ của quần chúng. Không thể hoặc không sẵn sàng chấp nhận cải cách chính trị với rủi ro gây bất ổn chế độ, Park đổ lỗi việc bại trận cho thất bại của đội ngũ kinh tế trong việc ngăn cản tình trạng giảm phát. Để vượt qua được khủng hoảng tính chính danh đang lan rộng của chế độ yushin, Park chuyển sang chiến lược đã được chứng minh tính hiệu quả để giành sự ủng hộ của quần chúng thông qua một cải thiện trong tình hình kinh tế xã hội của đất nước. Trong những xáo trộn tiếp đó của nội các, trưởng ban cố vấn của tổng thống Kim Jeong-ryeom (1969-1978) đã rời Nhà Xanh để trở thành đại sứ ở Nhật Bản, từ đó dọn đường cho việc loại bỏ các bộ trưởng ngành kinh tế làm việc dưới trướng ông. Việc ra đi của Kim Jeong-ryeom cũng tạo ra một tác động bất ngờ đến động lực nắm quyền trong Nhà Xanh. Với tính cách nhẹ nhàng, thông minh và nắm vững các vấn đề chính trị, kinh tế, Kim đã tạo ra ảnh hưởng nhẹ và đều đặn lên Park, và cũng là trở ngại cuối cùng đối với giám đốc PSS Cha Ji-cheol trong Ban thư ký tổng thống. Trưởng ban cố vấn mới, Kim Kye-won từng là tổng tham mưu trưởng, tuy nhiên dù có sự nghiệp quân đội kiệt xuất, ông cũng được đưa vào chủ yếu để làm người bạn già của Park, một người bầu bạn với ông trong Nhà Xanh “cô độc” vào tuổi xế chiều.

Cùng với Paek Tu-jin - một thành viên Yujeonghoe không được bầu chọn mà Park tuyển lựa làm thành viên Nghị viện Quốc gia - dẫn dắt Nghị viện Quốc gia, Cha Ji-cheol tham gia vào nhóm chính sách cứng rắn của DRP vào ngày 15 tháng 10 năm 1979 để chỉ trích mạnh mẽ chủ tịch NDP Kim Young-sam từ Nghị viện Quốc gia vì cuộc phỏng vấn của ông này với tờ New York Times phê phán Park cùng cộng sự về cuộc đình công của các công nhân YH (xem Chương 13). Khi đối mặt với nạn lạm quyền chưa từng có tiền lệ, người dân Busan và Masan ở tỉnh Nam Gyeongsang - quê hương của Kim Young-sam - nổi dậy trong các cuộc chống đối chính phủ đông đảo. Thiết quân luật đã được ban hành ở Busan vào ngày 18 tháng 10 và một sắc lệnh quân đồn trú được áp dụng ở Masan vào ngày 20 tháng 10. Giữa cuộc khủng hoảng chính trị, Kim Chae-gyu, Cha Ji-cheol và Kim Kye-won đã có một cuộc họp với Park ở một trong các “ngôi nhà an toàn” (anga) do Nhà Xanh điều hành để tổ chức các buổi tiệc riêng tư. Cuộc thảo luận nóng lên khi Cha Ji-cheol “thô thiển nhưng khúm núm” bắt đầu phê bình Kim Chae-gyu “kín tiếng thậm chí có phần e ngại” trước mặt Park vì sự vô năng hoặc tinh thần thiếu sẵn sàng của ông khi trấn áp các cuộc biểu tình Busan-Masan và vì thất bại của ông khi kích động một cuộc nổi dậy chống lại Kim Young-sam bên trong đảng NDP đối lập. Kim Chae-gyu ủng hộ việc cần có một “giải pháp chính trị” mà không hề nói rõ giải pháp đó là gì và làm sao để thực hiện được nó giữa cuộc nổi dậy của quần chúng và tình thế bế tắc chính trị, trong khi đó Cha Ji-cheol thẳng thừng đưa ra lập trường cứng rắn, nỗ lực cho một cuộc trừng trị quân sự. Khó có thể biết được chính xác Kim Chae-gyu nghĩ gì trong bữa tối hôm đó bởi ông hầu như chỉ im lặng, hứng chịu cuộc chỉ trích mà không hề phản kháng. Sau đó, ông bất thình lình bắn vào Park và Cha Ji-cheol, giết chết cả hai. Kỷ nguyên của Park đi đến một kết thúc đột ngột vào ngày 26 tháng 10 năm 1979.

Không một ai, kể cả Kim Chae-gyu, đã chuẩn bị cho giai đoạn hậu Park. Giám đốc KCIA đã cố gắng trong tuyệt vọng nhằm thuyết phục vị tư lệnh thiết quân luật, Đại tướng Jeong Seong Hwa, tham gia cùng ông vào thứ mà sau này ông gọi là một “Cuộc cách mạng”, nhưng cuối cùng đành bị bắt vì tội lật đổ không lâu sau vụ nổ súng. Lỗ hổng quyền lực đã nhanh chóng được bù lấp vào tháng 12 dù theo một hướng không ngờ đến. Mặc dù các lãnh đạo NDP và DRP đã chuẩn bị để trở lại với hoạt động chính trị bầu cử nhưng cuộc cạnh tranh thật sự chỉ diễn ra bên trong các lực lượng vũ trang. Hai nhóm sĩ quan quân đội đã nổi lên trong khoảng thời gian từ 26 tháng 10 tới 12 tháng 12. Nhóm Quân đội Cũ, bao gồm các tướng lĩnh với nền tảng đào tạo đa dạng từ KMA cho đến Trường ứng viên Sĩ quan, đã liên minh lại xung quanh vị tư lệnh thiết quân luật. Ngược lại, nhóm Quân đội Mới đồng đều hơn nhưng lại có cấp bậc quân đội thấp hơn, với hạt nhân của nhóm được tuyển chọn từ các thành viên Hanahoe được đào tạo bốn năm trong KMA. Khóa KMA 11 của Chun Doo-hwan đứng đầu Quân đội Mới, trong khi đó những thành viên tốt nghiệp khóa KMA 17 hỗ trợ phái này ở cấp trung.

Quân đội Mới đã được dự định sẽ giành thắng lợi vì một số lý do. Thứ nhất, kể từ tháng 3 năm 1979 lãnh đạo của phái này Chun Doo-hwan đã đứng đầu Tổng cục An ninh Quốc phòng, với quyền điều phối các cơ quan tình báo an ninh của cả ba nhánh trong các lực lượng vũ trang. Chỉ duy nhất một cơ quan tình báo an ninh khác sở hữu các quyền hạn điều phối đó chính là KCIA, tuy nhiên đơn vị này đã mất đi tính chính danh do “cuộc cách mạng” bị ngăn chặn của vị giám đốc của nó. Hơn nữa, Chun Doo-hwan đã cẩn thận vô hiệu hóa KCIA và thanh trừng nhân sự của cơ quan này ngay sau khi bắt giữ Kim Chae-gyu. Thực tế là DSC đã chính thức tiếp quản cơ quan này, thanh trừng tất cả các giám đốc cục ngay sau khi bắt giữ Kim Chae-gyu và đưa chính người của tổ chức này vào vị trí của các giám đốc bị bắt. Chun Doo-hwan trở thành quyền giám đốc KCIA vào ngày 14 tháng 4 năm 1980, từ đó chính thức hóa những điều đã được thực hiện kể từ vụ bắt giữ Kim Chae-gyu. Kể cả khi Chun Doo-hwan đã trở thành quyền giám đốc KCIA, ông vẫn duy trì vai trò tư lệnh SDC, một vị trí đầy quyền lực.

Thứ hai, vào thời điểm ám sát Park, không một nhóm quân đội nào có thể bì được với Hanahoe về tình đồng chí. Hơn nữa, không chỉ cấp chỉ huy tối cao mà cả các thành viên cấp trung của Hanahoe đều đang ở vào giai đoạn quan trọng nhất trong sự nghiệp quân sự của họ, họ đang chỉ huy các đơn vị quân đội chủ chốt xung quanh Seoul. Cấp chỉ huy tối cao của phái này nắm giữ quân hàm thiếu tướng và đang chỉ huy các cơ quan tình báo an ninh cùng các sư đoàn bộ binh trong khi các thành viên Hanahoe cấp trung là những đại tá đảm nhiệm các trung đoàn. Họ trực tiếp chỉ huy lực lượng binh lính chiến đấu, trong khi đó Quân đội Cũ, được dẫn dắt bởi vị tư lệnh thiết quân luật bốn sao, lại bất lợi hơn trong việc điều động binh lính. Chính sự kết hợp của tình đồng chí mạnh mẽ và quyền chỉ huy trực tiếp các đơn vị quân đội đã tạo điều kiện để các thành viên Hanahoe trong giai đoạn chuyển giao chế độ cực kỳ bất ổn hành động tập thể một cách nhanh chóng và linh động. Vào ngày 12 tháng 12 năm 1979, tư lệnh DSC Chun Doo-hwan tiến hành bắt giữ tư lệnh thiết quân luật Jeong Seong Hwa vì cáo buộc dính líu đến vụ ám sát Park, trong khi đó đồng môn KMA đồng thời là đồng chí Hanahoe của Chun, Thiếu tướng Roh Tae-woo, đã chiếm đóng Seoul bằng lực lượng binh sĩ vũ trang hạng nặng của Sư đoàn Bộ binh 9 mà trước đây đóng quân trên các tuyến đầu, dù biết rõ nguy cơ dẫn đến suy yếu khả năng phòng vệ quân sự trước Triều Tiên.

Park cho rằng quân đội quá quan trọng để có thể đặt ngoài tầm kiểm soát, và ông đã chính trị hóa các lực lượng vũ trang nhằm biến họ thành những cận vệ cho chế độ của mình. Tuy nhiên, ông cũng tin rằng mình phải chuyên nghiệp hóa các lực lượng vũ trang Hàn Quốc, biến họ trở thành một tổ chức hiện đại có khả năng bảo vệ đất nước khỏi các cuộc tấn công quân sự của Triều Tiên. Bị kẹt giữa hai yêu cầu cạnh tranh lẫn nhau này, Park đã phân tách quân đội vào hai lộ trình, một cho những người lính thăng tiến để lãnh đạo các vị trí chỉ huy chiến đấu “chuyên nghiệp” và lộ trình kia là để cho các quân nhân được đào tạo trở thành các cận vệ “chính trị” cấp cao của chế độ.

Phần lớn thời gian trong 18 năm cầm quyền chính trị của Park, chiến lược hai lộ trình này đã hoạt động tốt. Quân đội Hàn Quốc phát triển với những bước nhảy vọt dưới sự đào tạo của ông, trở thành một trong những quân đội thường trực lớn nhất trên thế giới với các kỹ năng chiến đấu và trang bị vũ khí đáng để vươn tới. Cũng như nền kinh tế Hàn Quốc đã chuyển đổi từ một trong những nơi nghèo nhất thế giới trở thành một trong những cỗ máy phát triển năng động nhất, quân đội Hàn Quốc đã phát triển cả về số lượng và chất lượng. Hoạt động viện trợ và đào tạo tiếp diễn được Hoa Kỳ cung cấp đã chứng tỏ tầm quan trọng trong sự chuyển hóa thể chế của đất nước này. Chương trình hiện đại hóa quân đội đầy tham vọng được tổ chức bởi Park, kết hợp với kinh nghiệm chiến đấu trong Chiến tranh Việt Nam và các hoạt động quân sự chống lại sự xâm nhập du kích của Triều Tiên cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc chuyển đổi quân đội Hàn Quốc thành một lực lượng chiến đấu đáng sợ vào thời điểm xảy ra cái chết của Park.

Chiến lược kiểm soát quân đội và điều động lĩnh vực tình báo an ninh của tổ chức này để bảo vệ chế độ của Park cũng hoạt động rất tốt trong hầu hết thời gian ông cầm quyền chính trị. Park đã sử dụng giám đốc KCIA Kim Jong-pil và khóa tốt nghiệp KMA 8 của ông này để loại bỏ các tướng lĩnh đối thủ từ các vùng Hamgyeong và Pyeongan trong những năm chính quyền quân sự 1961-1963 và chỉ đành làm suy yếu Kim Jong-pil hết lần này đến lần khác trong suốt giai đoạn “dân chủ” 1963-1972. Để dần hạ bệ Kim Jong-pil, Park đã huy động một nhóm các lãnh đạo quân đội hùng mạnh và các nhà lập pháp DRP, những người đều có chung một mục tiêu là đánh bại tham vọng kế nhiệm Park của Kim Jong-pil. Khi những lãnh đạo chống chính thống này thành công trong việc hủy hoại tinh thần chiến đấu của Kim vào năm 1969, Park cũng loại bỏ họ như cách ông đã làm với Kim Jong-pil. Park chơi rất xuất sắc trò chia để trị mà không hề làm tổn hại đến cả quá trình hiện đại hóa các lực lượng vũ trang Hàn Quốc cũng như sự tồn vong của chế độ của ông - nhưng chỉ cho đến hết tháng 12 năm 1978.

Vào năm 1979, Park không còn kiểm soát được tình hình. Thay vì điều khiển suy nghĩ của các cận vệ quân đội cấp cao, ông để cho cộng sự của mình - Cha Ji-cheol - điều khiển suy nghĩ của ông. Thay vì duy trì sự cân bằng quyền lực, ông đã vô tình hủy hoại cán cân này bằng cách làm mất tinh thần một trong hai cực của cán cân - Kim Chae-gyu. Quan trọng nhất, thay vì tiến hành những hoạt động ngăn ngừa Kim Chae-gyu như đã làm với rất nhiều cận vệ quân sự cấp cao của mình, ông lại cho phép người đàn ông đang sợ hãi này tiếp tục nắm giữ vị trí quá quan trọng trong thời gian quá dài, quá cả tin vào tình bạn và lòng trung thành được gây dựng trong suốt cuộc đời làm đồng chí của nhau. Hoạt động giữ cân bằng không còn tác dụng vào năm 1979, tuy nhiên điều này không phải là bất ngờ quá lớn. Điều đáng ấn tượng hơn đó chính là Park đã điều khiển cực kỳ thành công hệ thống kiểm soát và cân bằng trong thời gian rất lâu.

« Lùi
Tiến »