Mười phút sau khi những quả pháo lớn đầu tiên mang theo những đuôi lửa dài màu da cam giội xuống khu tam giác, mở đầu cuộc tiến công lịch sử của quân Giải phóng vào thành phố Huế, Tụng cũng vừa dẫn mũi tiến đến trước cửa Hữu. Hai ổ trung liên địch từ xóm nhà chi chít hai bên cửa thành bắn chéo góc ra như mưa, đội hình Tụng ùn cả đầu cầu không vào được. Luồn theo bóng tối, Tụng dẫn bốn đồng chí đu người lên, hai bàn tay bám chặt vào thành cầu, lần theo mép cầu vượt sang đầu bên kia, áp vào cửa thành. Bọn Tụng ném luôn bảy quả thủ pháo về phía hai họng lửa đang lập lòe ở hai bên góc thành, nhưng vẫn không dập tắt được hỏa điểm địch. Vừa lúc ấy, Mác chiếm xong cổng Thủy Quan, cũng vừa triển khai đến. Tiếng Mác gọi từ trên thành cao: “B.40 đâu?”
Tụng cho điều hai cây B.40 đến, bắn bốn quả chéo góc vào hai mục tiêu. Trung liên địch câm họng ngay, nhưng các loại súng khác rải rác từ các nhà vẫn bắn ra chéo chéo. Lúc ấy Mác vừa mở cửa cổng Thủy Quan chiếm mặt thành dẫn tổ triển khai lên vừa đến cửa Hữu. Đứng trên thành, Mác bắc tay hô lớn làm nghi binh : "Sư đoàn Hai tiến vào!". Từ trong kẽ hở của bức thành bị vỡ, một tốp địch nhảy bật ra, chạy tháo vào nhà dân. Mấy thằng ngoan cố còn bám lại bắn rào rào xuống dưới thành. Mác tọng luôn trái thủ pháo vào khe thành, cả bọn chết cháy. Tụng hô xung phong, vừa ôm bộc phá lao tới trước cửa thành thì một tràng tôm-xông và lựu đạn từ một ngôi nhà gần đấy nổ vang rền, quét lên mặt cầu. Rõ đang dẫn mũi chạy qua cầu, vội hô anh em nằm rạp xuống sát hai bên thành cầu. Tụng bỗng thấy chân phải mình tê bại hẳn đi, anh ngã quỵ xuống. Tụng la lớn :
– Tôi bị thương rồi, anh em lên đi.
Ngoài kia, Rõ cũng đã bị thương. Nguyễn Duy Tựa lên thay Rõ, dẫn anh em vừa bắn trả địch vừa lao qua cầu. Khánh cũng đưa mũi mình vượt theo. Đến sát thành, Khánh cho mũi mình tỏa ra hai bên, chồng lên vai nhau trèo lên Thành.
Ổ tôm-xông địch vẫn nổ tạch tạch dai dẳng. Tựa gọi cây B.40 lên, vừa bắn yểm trợ cho đồng chí mình vừa hô lớn : "Bộc phá đâu?". Một trái B.40 nổ ầm, súng địch im hẳn. Ngay lúc ấy, Minh ôm một gói chất nổ nặng hàng chục cân lao như bay đến trước bãi dây thép gai chằng chịt đang bít hẳn cửa Hữu. Minh vốn gầy, lại đang sốt chưa cắt cơn, người còn yếu. Tiếng hô của Tựa lẫn trong tiếng súng nổ rền, trận địa như có một sức mạnh xô Minh lên phía trước. Anh giật lấy khối bộc phá nặng hơn sức vác ngày thường của anh, lao đi như một mũi tên. Một tiếng nổ long trời, những guồng thép gai cự mã bay bổng lên không, bãi thép gai biến mất. Cửa Hữu đã mở. Bộ đội ào ào tràn vào thành.
Vừa ngã xuống, Tụng cố bò ra khỏi trận địa để tránh đạn, đến nằm nép ở dưới chân cầu, lấy băng cá nhân ra băng lại vết thương. Tụng trước đây là nghĩa binh, người Phong Chương, từ nhỏ sống lưu lạc ở Huế, làm nghề mộc. Đến năm mười chín tuổi, Tụng bị bắt đi quân dịch. Ở Quang Trung, Tụng bỏ ngũ về xã tham gia du kích, bám làng đánh giặc ba năm. Tháng mười một năm 1966, địch càn lớn, Tụng bị bắt. Bọn địch ở quận Phong Điền truy tố Tụng về tội "ăn cơm quốc gia, thờ ma Cộng sản" kết án tử hình Tụng. Trước hôm sắp bị chúng đem ra xử bắn, Tụng phá ngục, đưa được mấy đồng chí trong ban lãnh đạo Mặt trận huyện thoát ra luôn, và anh được kết nạp vào hàng ngũ quân Giải phóng, rất được đồng đội quý mến. Trong chiến dịch này, Tụng vừa làm hoa tiêu dẫn đồng đội vào thành, vừa chỉ huy một mũi đánh chiếm Cột Cờ. Bị bắn gãy chân phải, Tụng rất lo không có ai thay mình đưa đường cho anh em. Lúc ấy cửa Hữu đã mở được, Tụng báo cáo với anh Chất :
– Anh cho kiếm xích-lô chở tôi đi để tôi dẫn đường anh em đến Cột Cờ.
Thấy vết thương của Tụng khá nặng, giọng nói Tụng thều thào yếu hẳn đi, anh Chất bảo Tụng yên tâm ở lại đây chờ đưa ra tuyến sau, đồng thời anh ra lệnh cho đồng chí y tá của đơn vị ở lại lo cho Tụng và các thương binh khác. Nhưng Tụng khoát tay, bảo đồng chí y tá :
– Đồng chí đi theo đơn vị đi, đánh nhau còn ác liệt. Anh em vô cửa, rẽ phải, dọc theo thành chạy miết là tới Cột Cờ. Để thương binh ở lại đây với tôi, tôi lo liệu lấy.
Anh em triển khai vào thành. Vào khỏi cửa Hữu, đội hình không còn nguyên như trước nữa. Chất, Khánh, Nguyễn, Tựa, mỗi người dẫn một ít quân, triển khai theo hướng của mình.
Vào thành, chạy dọc theo đường Tôn Thất Thiệp một quãng, Nguyễn Duy Tựa dừng lại ổn định đội hình của mình. Trong tiếng súng ầm vang rung chuyển cả thành phố, Tựa nói với các đồng chí, giọng sang sảng :
– Mũi chúng ta nhận nhiệm vụ đánh chiếm Cột Cờ Huế. Kéo lá cờ mặt trận lên đó là để kêu gọi nhân dân Huế nổi dậy cướp chính quyền, để báo cho cả nước và thế giới biết thành phố Huế đã thuộc về tay nhân dân. Đó là nhiệm vụ vinh quang nhất trong đời bộ đội chúng ta. Chúng ta thề hoàn thành cho kỳ được nhiệm vụ vô cùng trọng đại này. Đội viên hy sinh thì A trưởng xông lên, A trưởng hy sinh thì B trưởng xông lên, còn một người cũng quyết đánh chiếm cho được Cột Cờ. Các đồng chí sẵn sàng chưa?
Dưới ánh pháo sáng, bóng những cây mù u bổ xiên lướt nhanh trên những khuôn mặt đanh lại, chín cánh tay cùng giơ lên, nhiều tiếng thét bật ra cùng một lúc
- Sẵn sà... àng!
Tựa kéo mũi đi, tất cả rầm rập chạy về phía trước. Thấy trong một căn nhà bên đường có ánh đèn thấp thoáng, Tựa chạy vào, cất tiếng hỏi :
– Cột Cờ Thành-Nội ở đâu, nhờ bà con chỉ hộ.
Ba người đàn bà ngồi sát vào nhau dưới đất, cùng với bảy đứa trẻ con nằm ngồi lổm nhổm dưới một chiếc phản gỗ. Thấy Tựa vào, cả ba chị đưa mắt nhìn nhau, im lặng. Một lát, một chị ẵm đứa con nhỏ trên tay, rụt rè đáp :
– Chị em tui lạ mới tới đây, không biết.
Tựa sốt ruột :
– Chúng tôi là quân Giải phóng, vào giải phóng Huế, chị làm ơn chỉ đường cho chúng tôi kẻo trễ giờ.
Ba chị lại đưa mắt nhìn nhau. Một chị đứng dậy chạy ra ngõ.
– Cột Cờ hướng đó, cách đây cây số thôi.
Nói xong, chị tất tả quay vào nhà.
Tựa dẫn anh em chạy theo hướng chị chỉ. Quá một ngã ba, nghe tiếng kêu ơi ới đằng sau :
– Ơi mấy eng! Đường ni nè, chạy mô ngả nớ!
Tựa quay lại. Chị ôm con hồi nãy đã chạy ra đến đầu ngã ba. Tay trái chị nách đứa bé bên hông, tay phải tóm búi tóc xổ xuống lòng giòng sau lưng, kéo nó nhét vào trong cổ áo. Quần ống cao ống thấp, chị chạy lúp xúp, anh em chạy theo đường Nguyễn Thiện Thuật. Đến đầu một ngã ba khác, Tựa thấy hai tên lính nguy đội mũ sắt, đạp xe đạp nhong nhong từ đầu xa trờ tới. Thấy bọn Tựa súng ống lô nhô, lại có cả một người đàn bà bồng con đi theo, một tên rà rà xe lại, hỏi :
– Đổi gác rồi hả, còn sớm mà. Súng mô bắn dữ rứa?
Tựa chĩa A.K vào ngực chúng, quát :
– Giơ tay lên! Quân Giải phóng đã vào đổi gác cho chúng mày rồi. Cột Cờ đâu, đưa chúng tao đi ngay.
Hai tên lính ngụy sợ hãi, thả xe đạp cái choảng xuống mặt đường, giơ tay lên, ú ớ :
– Dạ... dạ... xin ông đừng bắn... Chúng em xin đưa đi.
Chúng khai một thằng là chuẩn úy, một thằng là trung sĩ, từ quân vụ đi kiểm tra gác ở các cửa thành.
Lúc ấy, mũi của Khánh cũng vừa chạy tới. Tựa giao tên trung sĩ ngụy cho Khánh, bắt nó dẫn đường vào đánh Đại-Nội. Còn mũi Tựa thì theo tên chuẩn úy tù binh tiến thẳng đến Cột Cờ. Chị bồng con quay về, đi mấy bước chị ngoái lại, dặn với :
– Đánh mau mà ra kẻo sáng rồi, anh nghe!
– Chị về nhé! - Tựa đáp - Chúng tôi đánh rồi ở lại luôn. Sáng thì đánh càng dễ!
Tên chuẩn úy lấm lét nhìn Tựa. Nó dẫn Tựa chạy dọc theo một con đường, hai bên có những cây phượng nhỏ, cành lá lưa thưa. Nhìn trước mắt, Tựa thấy bóng những thành quách lâu đài kiến trúc theo lối cổ hiện ra trong sương. Tên chuẩn úy đưa Tựa rẽ vào một sân cỏ, chỉ về phía trướ
– Cái đài cao, đen đó là Cột Cờ. Bọn lính giữ Cột Cờ ở trong nhà gạch dưới chân thành, gần cây phượng đó.
Tựa nhìn qua vị trí Cột Cờ, rồi anh quay lại quan sát dãy nhà dài mà anh đã để ý ngay khi mới tới. Dãy nhà không tường, bên trong bày chín khẩu pháo lớn thành hai dãy, nòng pháo hướng chênh chếch lên không. Tựa mừng rỡ hỏi dồn tên chuẩn úy :
– Cái gì đây? Trận địa pháo hả?
– Dạ không. Những, khẩu súng thần công hồi xưa đó ạ.
Tựa suýt bật cười. Anh nghiêm mặt lại, quay về phía Cột Cờ, bảo tên chuẩn úy :
– Cậu gọi chúng nó ra đầu hàng đi.
Tên tù binh gãi đầu, ấp úng. Tựa đẩy vào vai nó :
– Nhanh lên!
Tên chuẩn úy "dạ, dạ". Hắn bước đến đứng thu mình sau một gốc phượng lớn, nhô mặt ra khỏi thân cây bắt tay lên miệng làm loa gọi về phía Cột Cờ :
– Ơi anh em binh sĩ giữ Cột Cờ. Quân Giải phóng đã đánh chiếm thành phố Huế. Sĩ quan và binh sĩ sư đoàn Một đã ra hàng. Anh em bảo an, cảnh sát ở Cột Cờ hãy mau mau ra hàng để được sống với vợ con, đừng chống cự lại mà chết uổng mạng.
Vừa gọi xong, hắn thụt đầu ngay vào sau thân cây như sợ bọn kia bắn ra. Bọn địch giữ Cột Cờ vẫn im lặng, chỉ có tiếng nói của tên chuẩn úy dội vang vang vào những vòm cửa Ngọ-
Để một đồng chí ở lại giữ tù binh, Tựa dẫn một tổ theo cái hồ dẫn nước chạy dọc dưới thành, áp đầu đến trước chân Cột Cờ, trong khi Cường dắt một tổ khác băng qua sân cỏ, tạo một mũi nhọn chọc lên phía trái Cột Cờ. Thấy gọi hàng không có kết quả, Tựa cho thụt một quả B.40 vào căn nhà gạch, và từ bên kia, Cường cũng bắn luôn một quả đạn vào căn nhà. Hai tiếng nổ đánh ầm, ánh lửa xanh chớp lên, chiếc đồn giặc biến thành một đống gạch nát. Tựa cho một đồng chí vào kiểm soát lại mục tiêu, không thấy có xác địch nào, chỉ có một khẩu trung liên bị vùi dưới đống ngói, lấy lên thấy còn dùng được. Có lẽ địch đã chạy lên cố thủ trên Cột Cờ. Tựa để một chốt lại phía dưới phòng địch kéo đến chi viện, rồi anh dẫn đầu các đồng chí chạy lên thành, băng qua những đám cỏ tranh lưa thưa áp đến dưới chân tầng thứ nhất của kỳ đài. Mặt tầng thành này có một vòm cửa tò vò mở ra phía Ngọ-Môn, hai cánh cửa gỗ có khuy sắt này kiên cố khóa chặt, bịt hẳn những bậc thang đi lên cao. Cường ném liên tiếp hai quả thủ pháo vào cánh cửa. Tiếng vôi, gỗ rơi xuống ầm ầm, hai cánh cửa bật tung ra. Tựa tiến vào vòm cửa tò vò, áp sát mép tường nghe ngóng rồi nhảy từng hai bậc một tiến thẳng lên phía trên. Những bậc thang này xây bằng gạch chạy xuyên qua lòng kỳ đài như kiểu một địa đạo, đưa bọn Tựa lên một sân cỏ rộng. Địch núp sau bức thành thấp phía ngoài sông Hương bắn trung liên vào dữ dội, Tựa cúi người thấp xuống, bắn tiểu liên yểm trợ cho một đồng chí khác thụt một quả B.40 vào ổ súng địch đang khạc lửa lập lòe ngoài kia. Ánh lửa tắt ngấm, súng địch cũng im bặt. Còn một tầng thành nữa mới đến chân Cột Cờ. Hai cánh cửa ở đây bỏ ngỏ. Tựa dẫn đồng đội, theo cái hầm thang gác hình bán nguyệt chạy lên phía trên. Miệng hầm mở ra trên một sân cỏ thứ hai. Tựa bước lên sân, đứng thẳng người lên. Trước mặt anh, Cột Cờ hiện ra sừng sững, cao vút chọc lên một bầu trời rộng bao la chấp chới những trái pháo sáng với màu lửa ma-nhê. di-um trắng lạnh. Xen kẽ những vệt khói trắng theo chiều thẳng đứng địch, những đường lửa khác khắp bốn phía từ mặt đất vút lên, chênh chếch trên không, xanh, trắng, vàng, đỏ... đủ các màu. Đó là những pháo hiệu của quân ta báo tin những mục tiêu đã dứt điểm. Không có bóng dáng một tên địch nào ở trên này, chỉ còn lại mấy chiếc ba-lô, mấy tấm vải bạt trải trên sân cỏ, và mớ chăn màn vứt bừa bãi trên mặt đất. Tất cả anh em khác cũng đã kéo lên đứng lố nhố trên sân cỏ vùng dưới chân Cột Cờ. Tựa nhìn vào chiếc đồng hồ dạ quang trên tay, lẩm bẩm “4 giờ 15”.
Nỗi hân hoan của các chiến sĩ vừa hoàn thành nhiệm vụ đã làm cho không khí trên sân cỏ trên cao này rộn rã hẳn lên. Nam và Hải ôm nhau nhảy van. Cường chống hai tay xuống đất, nhào lộn trên sân cỏ mấy vòng.
Với bản tính trầm lặng của một nhà giáo, Tựa chống báng súng trên bờ chiếc thành thấp, nhìn ra sông Hương. Trời còn tối, anh chưa nhìn rõ được dòng sông, chỉ thấy một dải đen dài lấp loáng, những ánh pháo sáng bị nhòe đi trong sương. Mặt thành Huế sáng lờ mờ chạy dọc theo bờ sông, như một con đê. Tựa thấy lòng mình nhẹ nhõm, thoải mái như lúc anh đã cố vượt xong một con dốc thực cao, ngồi nghỉ trên một đỉnh núi bằng phẳng lộng gió. Tựa bỗng thấy thèm thuốc một cách kỳ lạ. Anh mò vào túi áo trên. Bao thuốc bẹp dúm, chỉ còn lại ba điếu. Anh rút một điếu, còn lại ném cho Cường. Điếu thuốc bị ẩm nước lúc anh lội qua sông đốt vất vả mãi mới cháy.
Tiếng Cán thét lên: "Quật mẹ thằng ba que xuống". Như sực nhớ ra điều gì, Tựa cũng buột miệng kêu lên: "Không ai mang cờ theo, lấy gì mà treo lên?" Nói thế, nhưng Tựa biết không phải các đồng chí của anh đã quên mang cờ theo. Với yêu cầu gọn, nhẹ, mũi của Tựa chỉ mang đủ số vũ khí cần thiết để giải quyết trận địa. Lá cờ lớn do một đơn vị khác mang đến sau. Cán nói :
– Cứ kéo đầu thằng ba que xuống cái đã, chốc nữa hẵng h
Tựa cho Luận và Cán đứng cảnh giới ở hai góc sân Cột Cờ, Nam cùng một đồng chí khác điều khiển khẩu trung liên ba vừa tịch thu được của địch xuống bố trí trước vòm cửa tò vò ở tầng dưới, còn mấy đồng chí khác xúm lại kéo sợi dây chão hạ lá cờ ba que xuống. Nhưng sợi chão bị cuốn đâu ở trên cao, anh em kéo mãi vẫn không ăn thua gì. Tựa sốt ruột nói :
– Ai biết trèo, trèo lên lôi cổ nó xuống.
Anh em ngước nhìn lên Cột Cờ. Cột Cờ cao ngất, ngửa hẳn mặt lên không vẫn chưa thấy đỉnh, chỉ nghe lá cờ đập gió sàn sạt trên cao như một cánh dơi đi ăn đêm. Anh em lúng túng chưa biết cách nào để trèo lên, thì Tựa cất tiếng nói, khô và đanh :
– Đảng viên đâu?
Cán đang đứng cảnh giới ở đàng xa, đáp :
– Để tôi.
Cán bám những khâu sắt làm sẵn dọc theo trụ cờ, thoăn thoắt trèo lên cao. Anh vừa trèo vừa dừng lại từng chập, quờ tay giật những lá cờ hình tam giác nhỏ đeo trên những sợi dây chung quanh, ném xuống lả tả. Cán vừa trèo lên gần đến cái đài giữa thân Cột Cờ thì nghe tiếng reo ở dưới :
– Được rồi! Được rồi!
Tiếp theo đó, tiếng dây chão bị kéo đi tuồn tuột và bóng lá cờ ba que lướt ngang mặt anh. Khi Cán tuột xuống đến mặt đất thì anh em đang xúm nhau giật lá cờ ra khỏi sợi dây thừng. Nó được làm bằng ny-lông rất chắc, xé mãi không chịu đứt. Cán tức giận, gầm lên :
– Mẹ cái thằng ba que ngoan cố, đến giờ này mày còn chưa chị buông hả? Này! Này!
Cán hé răng cắn vào biên lá cờ, hai tay nắm chắc sợi dây chão, giật thật mạnh. Lá cờ kêu “soạt” một tiếng thật mạnh. Rồi cứ thế, tiếng “soèn soẹt” kéo dài, the thé như một tiếng rú cất lên trong đêm tối, đuối dần và tắt hơi. Trong phút chốc, chiếc "quốc kỳ An-nam cộng hòa" đã bị giẫm nát dưới những bàn chân mang dép cao-su của các chiến sĩ quân Giải phóng thành phố Huế.
Trời sáng dần. Sương mù xuống trắng cả không gian. Thấy 2 khẩu trọng liên của địch giá sẵn dưới chân Cột Cờ, Tựa đưa bàn chân hất hất vào nó, hỏi tên chuẩn úy ngụy :
– Súng này để đây làm gì?
– Dạ, đó là hai khẩu ca-nông-vanh, để phòng Míc của các ông oanh tạc.
Tựa cười, nhún vai :
– Cần gì Míc với Miếc. Chúng tôi mở cửa thành ra chúng tôi vào chứ.
Tựa chỉ tay sang bên kia sông, bảo nó :
– Cái nhà ba, bốn tầng ở bên kia sông ấy là nhà gì? Ai ở đấy?
Tên chuẩn úy vẫn với giọng lễ phép :
– Dạ, đó là khách sạn Hương-Giang, Mỹ ở.
– À, tốt quá. Cậu quay khẩu súng này bắn vào cái nhà ấy cho tôi.
Tên chuẩn úy vâng lệnh, xoay hướng khẩu súng, lên đạn. Nó loay hoay bóp cò mãi vẫn không nổ. Nét mặt hoảng sợ, nó ấp úng :
– Dạ, thưa anh, hình như súng bị hóc đạn ạ.
Tựa nghĩ thầm, có lẽ thằng này nó không biết bắn.
Tiếng súng trong Đại-Nội vẫn nổ râm ran. Chắc là Khánh gặp khó khăn nên bây giờ vẫn chưa dứt điểm được. Tựa để Nam, Luận, Cán ở lại bảo vệ Cột Cờ và coi giữ tên tù binh, còn anh cùng sáu đồng chí khác đi xuống dưới chân thành để vào cửa Ngọ-Môn. Xuống hết ba tầng thành, anh đứng trên sân cỏ rộng quay lại nhìn. Trong làn sương trắng đục, mênh mông đầy trời, dãy thành cổ lờ mờ hiện ra với những hình khối đồ sộ chồng lên nhau, với cột cờ cao tít, mất hút trong sương. Tựa có cảm giác như toàn bộ kiến trúc đó là một tòa lâu đài cổ tích nằm trên một cái biển nào đó rất xa trong thời gian. Trước khi trận đánh bắt đầu, anh thấy nó như một cái pháo đài bí mật và kiên cố một cách đáng lo ngại. Bây giờ thì cái cảm giác ấy mất hẳn. Một phút thoáng qua rất nhanh, hình ảnh những khẩu súng thần công và những người thanh niên tự vệ Huế hạ cờ quẻ ly xuống kéo cờ đỏ sao vàng lên trên đỉnh Cột Cờ này hiện ra trong trí anh. Tựa lẩm bẩm : "Cái điểm cao này thực ngon lành. Một tổ của chúng tao ở trên ấy thừa sức chọi với hàng đại đội của chúng mày".
Trong chiếc áo ka-ki và chiếc quần cộc, khẩu tiểu liên vác ngay trên vai, với mái tóc bồng bềnh như hồi anh còn là nhà giáo, Tựa đứng nhìn Cột Cờ Huế bằng cái nhìn lặng lẽ mà tha thiết vô ngần, như muốn bao trùm lấy nó. Nhưng chỉ trong một thoáng thôi, anh quay phắt lại, lao mình chạy về phía Đại-Nội.
Mũi của Tựa vừa quay đi thì một đồng chí bộ đội còn rất trẻ từ trên thành chạy nối theo. Đồng chí này trước đây đã được phân công ở lại liên lạc, báo tin đã đánh chiếm được Cột Cờ về chỉ huy sở. Vì chưa nắm được vị trí đóng quân của chỉ huy sở, sợ phải ở lại lâu lỡ mất thời cơ, lòng hăm hở muốn diệt địch, đồng chí đã lặng lẽ nhập vào đoàn tiên phong vào Đại-Nội.
Đúng bảy giờ sáng, tại chỉ huy sở, trước một tấm bản đồ Huế trải vừa kín mặt một chiếc bàn gỗ lớn, anh Bốn đang ngồi nghe báo cáo tình hình qua máy điện thoại, nét mặt chăm chú. Giọng chậm rãi quen thuộc của vị chỉ huy trưởng mặt trận cánh Nam vang lên trong máy :
– ... đã treo cờ lên tòa đại biểu và tòa hành chánh tỉnh ngụy. Chiếm đài phát thanh. Đơn vị X vì lạc đường vào thành phố, đang tiến đánh bót Ngã Sáu. Nhưng chắc chắn ta sẽ giải quyết mục tiêu trong vòng một tiếng đồng hồ nữa. Cơ bản ta làm chủ Khu tam giác. Lực lượng triển khai tốt, bám sát phương án một. Đang tiếp tục đánh chiếm mục tiêu X và Y, có tình hình mới sẽ xin báo cáo sau.
Anh Bốn với tay lấy chiếc bút đỏ khoanh thêm mấy khoanh tròn trên mặt tấm bản đồ, gật gật đầu một mình :
– Tốt lắm. Này M., nhất định thắng chứ?
Tiếng cười sảng khoái của người chỉ huy trưởng mặt trận cánh Nam vang lên từ đầu dây bên kia :
– Báo cáo anh, toàn thắng ắt về ta!
Anh Bốn cũng cười rất tươi, đặt ống điện thoại xuống.
Anh xoa tay, đến đứng trước tấm bản đồ kiểm soát lại tình tình trận đánh trong thành phố. Trên tấm giấy dầu mỏng phủ ngoài mặt tấm bản đồ, ghi chằng chịt những mũi tên lớn và nhỏ chỉ đường tiến quân của các mũi, và những vòng tròn có gạch chữ thập ở giữa đánh dấu những mục tiêu đã đánh chìm được còn lại vài vòng tròng trắng là những mục tiêu quan trọng cần phải đánh chiếm. Cạnh những vòng tròn mang chữ thập có con số ghi giờ mục tiêu bị đánh chiếm : Căn cứ trung đoàn thiếáp số bảy ngụy, 5 giờ, diệt gọn; cầu Kho Rèn : 6 giờ; cầu Nam giao : 5 giờ; Khách sạn Thuận Hóa, bản doanh Phan Sào Nam : 6 giờ; Cửa An Hòa : 2 giờ 38; Cửa Chánh Tây : 2 giờ 40; Sân bay Tây Lộc, Mang Cá : 6 giờ, làm chủ cơ bản; Cửa Đông B a: 3 giờ 43; Đồn cảnh sát Đông Ba : 5 giờ...
Đầu cán bút trong tay chạy khắp mặt tấm bản đồ Huế. Bỗng nhiên cán bút dừng lại trên một vòng tròn trắng khoanh trên bờ Bắc sông Hương. Đôi mày rậm cau lại, những nếp nhăn nhỏ hiện ra thực sâu giữa hai chân mày, anh đảo đảo cán bút trên mặt bản đồ, lẩm nhẩm : "Mở cửa Hữu lúc 2 giờ 45, chiếm cửa Thượng Tứ 4 giờ. Mãi đến bây giờ vẫn chưa chiếm được Cột Cờ. Lạ thực". Anh ném cán bút xuống bàn, quay máy điện thoại.
– A-lô? Sông Hương đâu?
Có tiếng đáp trong máy điện thoại. Anh Bơn nóng nảy hỏi ngay, anh nói thực to như sợ đầu dây kia không nghe rõ :
– Đã chiếm được Cột Cờ chưa?
Tiếng đáp :
– Báo cáo anh, có lẽ chưa.
Giọng anh hơi gắt :
– Chưa à? Sao lại có lẽ.
– Ban chỉ huy chưa nhận được tin của mũi ấy báo về. Có thể chưa giải quyết được mục tiêu. Chúng tôi đang cho người đi nắm tình hình.
Một đồng chí mặc binh phục, mang xắc-cốt từ ngoài đi vào đứng nghiêm chào anh Bốn, nói nho nhỏ :
– Báo cáo anh, tôi từ bộ tư lệnh s
Anh Bốn ngước lên nhìn, khe khẽ gật đầu, nói tiếp vào ống điện thoại :
– Có tin thông báo tôi ngay. Tôi đợi.
Anh đặt ống nói xuống, quay sang làm việc với đồng chí bộ đội vừa mới đến.
Anh Bốn ở trong ban lãnh đạo Mặt trận giải phóng thành phố Huế. Thuở nhỏ, anh Bốn sống bằng nghề bán báo ở Huế. Năm mười sáu tuổi, anh cùng với một thằng bạn nhỏ hơn đi coi tế Nam Giao. Đứng chen lấn ngoài hàng rào nhìn vô trong đàn Nam Giao, vừa thấy thằng Bảo Đại mặc áo vàng rực rực ngồi chễm chệ trên lưng voi thì anh bị thằng lính tuần sát đến vụt vào lưng một roi đau điếng. Bỗng nhiên trong óc chú bé bán báo nảy ra một ý muốn ngông cuồng phải làm thế nào lật đổ thằng vua này khỏi ngai vàng của nó, mở cửa Đại-Nội cho bà con mỗi ngày làm việc xong chiều chiều vô đó chơi mát. Chú bé bán báo đem chuyện ấy bàn với thằng bạn nhỏ của mình, và hai người bỏ nhà đi từ ngày ấy.
Cái ý muốn “ngông cuồng” ngày nhỏ ấy không ngờ đã biến thành một hoài bão lớn của đời anh Bốn. Trải hơn bốn mươi năm hoạt động cách mạng cùng với một tập thể thừa kế từ lớp người này sang lớp người khác, tâm tư của anh vẫn từng ngày, từng giờ gắn liền với sự nghiệp giải phóng thành phố Huế. Bất cứ ai được dịp gần gũi anh Bốn cũng đều phải ngạc nhiên và cảm phục sự hiểu biết đến độ kỳ dị của anh về thành phố Huế. Anh thích gọi Huế bằng những cái tên thân mật của nó, như xóm Đất Mới, xóm Chỉ, eo Bầy, nghẹo Giăng Xay, Cầu tiệm rượu... như người ta vẫn thích gọi những người thân trong nhà bằng cái tên móc nôi cha mẹ đặt cho hồi còn nhỏ. Và cùng với mỗi tên đường, tên xóm như thế, anh thường nhắc nhớ lại bao nhiêu sự tích của lòng dân, những sự tích cứ sinh sôi nảy nở mãi qua cuộc chiến đấu lâu dài, đã biến thành những sợi máu thắm thiết ràng buộc tâm hồn anh với Huế, ràng buộc tâm hồn Huế với cách mạng. Anh hiểu rõ lai lịch, tính nết của từng thằng địch, hiểu cha nó thích ăn trái vải trạng, anh nó thích nuôi chó béc-giê một cách tường tận khúc nôi như cách anh hiểu tính nết từng con cá trong đầm cần Hai, hiểu hột gạo de trên đồng An Cựu, hiểu các hột sen trong hồ Tịnh nó khác hột sen trong Nội như thế nào. Với tình yêu thiết tha đối với thành phố quê hương nung nấu tâm hồn anh suốt cả đời người, với sự hiểu biết đến độ thấm thía từng hòn đất từng con người ở một tập thể đã gồm nhiều người như anh Bốn, người ta hiểu tại sao bao nhiêu thủ đoạn của thằng địch ở trên đất này, ghê gớm và tàn bạo đến thế, vẫn không ngăn nổi phong trào nhân dân Huế ngày một lớn lên không ngừng.
Bây giờ tóc anh đã hoa râm, và anh được tập thể chỉ định đảm nhiệm chức vụ trưởng ban công kích và khởi nghĩa thành phố Huế.
Cuộc nổi dậy của quần chúng sẽ tạo ra một lực lượng mới, kết hợp với các lực lượng vũ trang, làm nghiêng hẳn cán cân lực lượng về phía cách mạng, đủ sức giành thắng lợi trong chiến dịch này trước gần tám vạn tên địch, trong đó có năm vạn tên Mỹ trên chiến trường Huế, với tất cả vũ khí hiện đại của chúng. Đó là sự khẳng định hết sức sáng suốt và quý báu của tập thể và anh Bốn đang trực tiếp nhận một phần lớn trách nhiệm trước tập thể trong sự triển khai nghị quyết này của thành phố Huế. Gần một tháng nay, anh và các đồng chí lãnh đạo gần như thức luôn trắng đêm để giải quyết hàng đống những khó khăn cao như núi chuẩn bị cho chiến dịch. Những khó khăn càng nhân lên gấp bội khi người ta còn phải chạy đua với thời gian. Nhưng cũng chưa bao giờ niềm tin ở thắng lợi lại vững chãi trong anh như những ngày này.
Những thế kỷ đấu tranh đã đi qua trên thành phố này và đã dựng lên những thành trì vững chãi của truyền thống gấp lại thành những cái nế của đất từ Nguyễn Huệ đến Cách mạng tháng Tám. Đó là những cái mốc của lịch sử đấu tranh của nhân dân Huế, là cuộc nổi dậy lật đổ Diệm năm 1963, là đồng khởi năm 1964, là phong trào đấu tranh và ly khai năm 1966... Giống như những sóng biển cứ cao mãi dần, đợt sau cao hơn đợt trước, cho đến khi đập vào chân núi Trường Sơn thì vỡ tràn ra. Cái thế của đất đai và thế người trên mảnh đất này đều thể hiện một cách rõ rệt cái quy luật ấy của lịch sử, và đấy chính là niềm tin ở nhân dân vẫn tồn tại trong trái tim của anh Bốn như một nguồn ánh sáng vô tận dù giữa những năm đen tối của thời kỳ thoái trào.
Những tàn bạo của kẻ thù từ giữa năm 1966 trở đi đã làm nảy nở những nhân tố tích cực mới về phía cách mạng. Cuộc chiến tranh bình định vào mùa khô thứ hai của chúng kéo dài mãi đến nay rốt cuộc đã làm dậy lên khắp miền đồng bằng Trị Thiên một câu hát đẹp như một phiến thép hồng cứ rực rỡ mãi trong lửa : Tan nhà nát cửa cũng ừ. Quyết tâm đánh Mỹ cực chừ sướng sau. Và cuộc đàn áp của địch giữa mùa hè năm 1966 chẳng những không làm chùn nổi ý chí đấu tranh của nhân dân Huế, trái lại đã tôi luyện kinh nghiệm đấu tranh của quần chúng thành một bài học hành động vô cùng quý báu : vì cái chủ yếu của kẻ thù là cây súng nên ta cũng phải cầm súng. Chính bài học kinh nghiệm ấy đã đẻ ra những tiếng nổ Nguyễn Văn Trỗi liên tục khắp thành phố, ở đồn cảnh sát Đông Ba, ở nhà bọn ác ôn, ở quân vụ thị trấn, ở 209 Chi Lăng, quán cơm Am Phủ, ở bến tòa Khâm... Rõ ràng là tình thế đã chín muồi cho một cuộc khởi nghĩa vũ trang thành phố, tình thế đang hứa hẹn một bước nhảy vọt mới. Đảng đang duỗi cả hai cánh tay của mình để đón quần chúng lên. Một tay ấn vào cái đòn bẩy để hất tảng đá nặng đè lên lưng quần chúng, và bàn tay kia vẫy gọi nhân dân đứng lên. Quân đội đã đập vỡ cái đầu não kìm kẹp của địch trong thành phố. Bây giờ cần phải giương ngọn cờ cách mạng lên thực cao...
Đồng chí sĩ quan đã chào anh Bốn ra về. Anh đ quay máy điện thoại.
– A lô! Sông Hương.
Giọng của vị chỉ huy mặt trận cánh Bắc Huế đáp lại trong máy :
– Tôi nghe rõ.
Nét mặt của anh Bốn nghiêm nghị, hơi lạnh, như thể người đối thoại đang đứng trước mặt anh.
– Đồng chí nhận lệnh : tăng cường thêm một mũi lên Cột Cờ, kéo cờ lên bằng bất cứ giá nào!
– Rõ!
Nhận được lệnh, đồng chí Tuyến theo một tiểu đội mạnh mang cờ đi ngay. Đến trước Ngọ-Môn, đơn vị sắp triển khai tiến lên Cột Cờ thì Tuyến nghe có tiếng gọi. Tuyến nhìn lên, thấy các đồng chí đang đứng trên cao vẫy xuống. Lên đến sân Cột Cờ, Tuyến thấy năm, sáu tên cảnh sát dã chiến bị trói gô nằm trong một góc sân. Bọn này do Thuận, Cúc và Sắt bắt trong Đại-Nội đưa lên đây. Mấy đồng chí giữ tù binh đang ngồi tựa lưng vào thành, lau súng bằng những tấm giẻ vàng xé từ lá cờ ba que rách tả tơi ún lại thành một đống lớn trên sân cỏ. Thuận, Cúc và Sắt bê cờ đến buộc vào dây. Lá cờ Mặt trận lớn gần một trăm mét vuông trải ra phủ gần hết khoảng sân cỏ rộng.
Nam đang lúi húi buộc cờ vào dây thừng, chợt có tiếng khàn khàn ở đằng sau :
– Con lạy các ông trăm lạy.
Nam ngoảnh lại. Một tên cảnh sát dã chiến đang cố lê đến gần Nam, run lên bần bật. Nam gắt :
– Cái gì mà lạy với lục?
Tên cảnh sát vừa vập đầu như máy, miệng lắp bắp :
– Con đã vô tay các ông rồi. Con biết con chỉ vì miếng cơm manh áo, không làm chi độc ác, sẽ được các ông khoan hồng. Các ông làm phúc cho con đi nơi khác, kẻo Mỹ nó thấy các ông treo cờ lên, nó đến ném bom thì chúng con chết hết thôi. Con còn một bầy con dại ở nhà... hu hu... hu hu...
Tên cảnh sát bật lên khóc như trẻ con. Nam bật cười hỏi nó :
– Vậy chớ Mỹ nó không sợ chết đồng bào à? Nó không tôn trọng di tích lịch sử à?
– Ôi chao, Mỹ hắn có kể chi chuyện nớ các ông ơi! Mô có các ông là hắn đem bom, đem đạn tới, lính cộng hòa hắn cũng không tha, nói chi đồng bào.
– À ra cái thằng "đồng minh" của các người tốt quá nhỉ! Nó bảo vệ tự do cho các người như thế đấy. Được tôi sẽ cho các người ra khỏi nơi đây. Để các người xem thằng chủ các người nó làm đếch gì được chúng tôi cho biết.
Nghe Nam nói thế, mấy tên tù binh kia vui mừng hớn hở ra nét mặt. Chúng bắt đầu kháo chuyện với tên chuẩn úy :
– Đây đánh, e chỗ khác họ cũng đánh anh hè?
– Đánh tuốt. Nghe nói họ đánh từ đây vô thấu Sài Gòn.
– Ui chao! Điệu ni e họ làm cho bay luôn cả ông Thiệu ông Kỳ có?
Nam để các bạn buộc cờ, anh cùng Cán xách súng đi tuần tiễu. Đến bãi tranh rậm trên mặt thành dưới chân kỳ đài, Nam phát hiện được xác của một tên cảnh sát dã chiến nằm cứng đờ úp mặt xuống đất. Nam khẽ đưa chân hất hất vào mông nó. Nam ngạc nhiên thấy cái mông nó nhổm lên, toàn thân nó gập lại như con sâu đo. Anh chĩa súng vào tên cảnh sát quát lớn :
– Giơ tay lên!
Nó quỳ người lên giữa vạt tranh, hai tay giơ lên đầu.
– Còn thằng nào nữa không?
Nó run rẩy :
– Dạ, còn bốn đứa kia nữa.
Nó vừa nói xong thì từ trong đám tranh, bốn cái đầu khác từ từ ngóc dậy như nấm mọc, đứa nào đứa ấy cúi gầm mặt, da tái ngoét, miệng mếu máo, nước mắt và bùn bê bết cả mặt mũi. Trông chúng thảm hại đến buồn cười. Nam dồn cả năm thằng lại một chỗ, hỏi :
– Súng ống chúng mày để đâu?
Thằng bị bắt đầu tiên, đầu trọc tếu như nhà sư, nhanh nhảu :
– Chúng em vứt ngoài đám tranh, em xin lấy đem nạp.
Nam để Cán bốn thằng kia, anh theo thằng đầu trọc đi lấy súng, có một trung liên ba, một các-bin và ba cực nhanh, tất cả đạn đã lên nòng, ném bừa bãi trong vạt những cây hổ ngươi rậm rạp sát bờ thành. Có lẽ tin rằng mình đã thoát chết, coi bộ tên cảnh sát hớn hở hẳn lên. Nó vừa gãi gãi cái đầu trọc của nó, nói liến thoắng :
– Hồi khuya nghe các anh gọi hàng chúng em không dám chống lại. Tưởng trốn một chập chờ các anh đánh xong rút đi...
Nam bật cười
– Cậu không ngờ "Việt cộng" đánh xong rồi ở lại luôn hả?
Tên cảnh sát "dạ" thực nhỏ nhẻ. Nó vừa đi vừa kể lể với Nam, nó rất sợ ra trận, phải bán chiếc xe hông-đa đút lót cho thằng thiếu tá trong Mang Cá để được cái chân làm lính giữ Cột Cờ. Nó còn nói thêm là nó biết lái xe, biết chèo đò; Mặt trận cần gì nó xin làm hết mình đái công chuộc tội...
Nam gộp tất cả bọn tù binh lại giao cho Cán dẫn chúng qua giữ tạm dưới cửa Ngọ Môn. Khi anh trở lại trên đài thì Thuận, Cúc và Sắt đang kéo lá cờ lên. Vừa lên cao được gần mười mét, lá cờ đã bung ra, bay phần phật trong gió. Gặp gió, nó trở nên khỏe lạ thường, sức của nó như một con đại bàng vỗ cánh, muốn kéo băng cả sợi dây chão to bay theo nó. Sắt giữ một đầu dây, còn Thuận và Cúc thì rút đầu dây bên kia để kéo lá cờ lên cao. Sáu cánh tay trần nổi vồng những bắp thịt níu vào hai đầu sợi dây chão lớn, ba cái lưng phơi gập xuống trên những cái chân co lại và duỗi ra trong thế triển khai toàn bộ sức mạnh của cơ thể, trông họ giống như những người đi biển đang giương cánh buồm của một con thuyền bắt đầu ra khơi.
Ngọn cờ đã kéo lên đến đỉnh cột. Trên tầng trời cao sương đã tan. Lá cờ Mặt trận vĩ đại bay trên nền trời trong xanh của mùa xuân, màu xanh bao la của hy vọng kết liền với màu đỏ tươi của máu và giữa lòng nó, năm cánh sao vàng như một bàn tay từ trong thăm thẳm của hàng nghìn năm lịch sử xòe ra, vẫy gọi Huế đứng lên. Lúc ấy là tám giờ mười lăm phút ngày ba mươi mốt tháng Giêng năm một nghìn chín trăm sáu mươi tám.
⚝ II ⚝
Viết đến đây, bỗng nhiên tôi thấy mình bất lực trong một niềm mơ ước kỳ lạ. Tôi ước có được một chiếc ống kính vạn năng có thể thu được chừng hai chục vạn hình ảnh con người trong một lúc ở khắp cả mọi hướng, ống kính ấy không những chỉ thu được những nét mặt mà còn soi chiếu vào tận chỗ sâu thẳm nhất của tâm hồn : không những chỉ thu tiếng động mà còn bắt được tần số của nhũng tiếng nói im lặng, và ống kính ấy không những chỉ ghi được những gì đang diễn ra trước nó, mà đằng sau cái hiện thực ấy, nó còn tái hiện được cả một quá khứ dài chừng hai mươi năm. Tôi sẽ đặt chiếc ống kính mầu nhiệm của tôi trên một điểm cao nào đó, thí dụ trên đỉnh cây thu lôi của Cột Cờ Phu Văn Lâu và tôi sẽ mở hết khẩu độ của ống kính chiếu xuống thành phố Huế đúng vào lúc mà bởi một sự tình cờ nào đó rất kỳ diệu, một đàn chim bồ câu bỗng từ phía Gia Hội bay qua trên đỉnh Cột Cờ, nghiêng cánh trắng lượn vòng quanh lá cờ sao vừa được ba chiến sĩ quân Giải phóng kéo lên trên bầu trời thành phố. Những hình ảnh mà ống kính giả tưởng của tôi thu được trong phút ấy, đem chiếu lên tấm phông lịch sử của miền Nam những ngày tấn công và nổi dậy đầu xuân Mậu Thân, tôi hy vọng có thể diễn tả được trạng thái tâm hồn của Huế khi lần đầu tiên nhìn thấy lá cờ Mặt trận bay trên đỉnh Phu Văn Lâu. Trạng thái tâm hồn ấy, xin phép bạn đọc thân mến, tôi gọi tên nó là "Huế Phục Sinh".
Những ngày đen tối nhất đã vội vã ập đến với Huế, ngay sau khi hòa bình lập lại. Vốn gờm mặt một nhân dân đã từng nổi dậy đạp đổ cả một ngai vàng, để củng cố triều đại mới của hắn, thằng Diệm đã ra sức xây dựng đất cố đô này lại thành một thứ ấp chiến lược kiểu mẫu của những thành phố miền Nam. Dưới nhãn hiệu "tố cộng", những chiến dịch giết người kéo dài từ năm này sang năm khác, thực hiện ý đồ thâm độc của Mỹ Diệm mu tiêu diệt sạch những mầm mống cách mạng trên mảnh đất kiên cường này, dập tắt hẳn trong tâm hồn dân Huế ánh phản chiếu huy hoàng của Cách mạng tháng Tám. Huế những ngày ấy là vòng đai của những trại tập trung thít chặt lấy ngoại ô, ở đó bọn ác ôn phục thù bất cứ lúc nào cũng có thể cầm dùi cui đập vỡ óc một người nông dân để moi cho ra một chút "tư tưởng cộng sản" còn bám lại trong đó, giẫm gót giầy lên bụng một phụ nữ có thai để làm phọt ra ngoài một giọt máu cộng sản còn đọng lại trong đó... Những trang sử oán thù của Huế còn nối dài mãi lên bằng nỗi u uất chồng chất lâu đời của những ngôi chùa bị xiềng bằng dây thép gai của chính sách kỳ dị và đàn áp tôn giáo, bằng cơn ngột ngạt oi bức của những người tri thức mà tư tưởng bị truy bức từng ngày từng giờ bởi móng vuốt của một con thú phát xít mới mệnh danh là "Chủ nghĩa cần lao nhân vị", bằng nỗi đau đớn của từng lớp thanh niên ưu tú lớn lên đã bị tước đoạt mất quyền cống hiến cho đất nước và cuộc đời để khoác áo thập tự quân cầm súng cho bạo chúa. Mãi sau ngày bọn Ngô triều bị lật đổ, cái ấn tượng ghê tởm đối với chế độ nguy quyền do chúng nó xây dựng nên vẫn còn ăn sâu trong tâm hồn người Huế, không gì có thể bôi xóa đi được, giống như vết máu đọng lại chiếc chìa khóa mở cửa tòa lâu đài tội ác của con yêu Râu xanh trong truyện cổ tích.
Cuộc sống của Huế không dễ thở gì hơn sau ngày bọn bạo chúa họ Ngô bị giết chết. Có chăng, bom đạn Mỹ đổ lên bến Tòa Khâm ngày càng nhiều hơn, lính Mỹ ngày càng kéo vào phố đông hơn, với bộ dáng chủ nhân ông ra mặt. Có chăng, những cuộc đấu tranh của nhân dân Huế càng bị đàn áp một cách tàn bạo hơn, nạn bắt lính ngày càng dồn dập và trắng trợn, con trai trong nhà chưa kịp lớn đã bị lôi vào trại nhập ngũ, trong khi đó tiếng ca-nông, bom và B52 ngày càng nổ gần, làm rung cửa phòng ngủ của từng nhà. Thành phố cổ kính thơ mộng xưa ngày một bệ rạc, xơ xác vì chất Mỹ. Cuộc sống cứ từng ngày trôi qua trong mòn mỏi, vô vọng, và những mơ ước tươi đẹp về hạnh phúc, niềm hy vọng về con cái, niềm khao khát về hòa bình và cơm áo,ự do và nhân phẩm cứ héo hắt mãi trong tâm hồn con người, như một đám lửa tàn lụi trong nắng hạn, không hy vọng gì còn làm ra được mùa màng. Mười lăm năm dồn lại cái đau của cuộc sống trong lòng người Huế vẫn còn mới rợi như ngày hôm qua...
Và bỗng nhiên, 8 giờ 15 ngày 31 tháng Giêng năm 1968, lần đầu tiên trong lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, ngọn cờ Giải phóng được kéo lên trên đỉnh cột cờ Phu Văn Lâu.
Ngày tự do đầu tiên chợt đến, như bởi một phép lạ không ai ngờ.
Hàng vạn nhân dân Huế đã đổ xô ra, giành những chỗ đứng thuận lợi nhất để nhìn về Cột Cờ. Những gia đình xúm xít sau những ô cửa sổ trên lầu cao. Người dưới vạn đò kéo nhau lên đứng dàn hàng trên bờ sông. Những dãy phố đã biến thành những tầng người dưới thấp, trên cao, xếp thành những tầng dài lố nhố thẳng tắp như đêm nào dân Huế xếp hàng xem quân Giải phóng đánh vào khách sạn Hương Giang. Và trên mặt thành, trên lầu chuông những cửa ô, dân phố chen chúc nhau đứng nhìn về Cột Cờ đông đến nỗi để đề phòng pháo địch, các anh bộ đội Giải phóng phải chia họ ra từng nhóm nhỏ, luân phiên nhau nhìn cờ Mặt trận từ sáng cho đến mãi quá trưa.
Những nguyện vọng tha thiết về hòa bình, độc lập niềm mong mỏi được gặp lại những người thân yêu đã vắng từ lâu, tình cảm thiêng liêng hướng về Mặt trận dân tộc giải phóng, những kỷ niệm huy hoàng của ngày khởi nghĩa cướp chính quyền năm xưa. Tất cả những trình tự trăm nỗi vẫn xao xuyến trong lòng người dân Huế từ hàng chục năm trời nay, giữa buổi sáng đầu xuân này bỗng nhiên hiện thân một cách gần gũi vô cùng trên lá cờ Mặt trận phấp phới trên trời thành phố Huế như cô Tấm trong truyện đời xưa, sáng dậy bỗng thấy những ước mơ của mình trong giấc ngủ đêm qua hiện thành sự thực, khoác áo mới thênh thênh bước vào ngày hội lớn của cuộc đời.
⚝ ⚝ ⚝
Trong nỗi náo nức mới đang dậy lên trong từng căn nhà xóm Thượng Thành cửa Đông Ba, chị đứng dưới hàng thầu đâu [19] sau sân nhà, yên lặng ngắm lá cờ. Đằng xa tít, vượt lên trên những mái nhà và những vòm lá xanh, lá cờ chênh chếch theo hướng gió đông bắc, mặt lá cờ uốn cong lên rồi trải rộng ra từng đợt đều đặn như một mảng sóng rực rỡ lượn giữa nền trời quang đãng.
Chị nhớ lại lần đầu tiên chị nhìn thấy lá cờ Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam, vào một ngày đầu xuân như thế này, năm 1961. Đêm ấy hai chị em đóng chặt cửa buồng, đốt nến để nhìn cho kỹ lá cờ, như Vịnh thường đăm đăm nhìn thực lâu khuôn mặt của mẹ sau những năm đi xa về thăm nhà. Chị hỏi Vịnh về ý nghĩa của màu xanh da trời trên lá cờ. Vịnh nói : “Màu xanh là miền Nam, miền Nam đang đấu tranh và hy vọng”. Tai chị như nghe rõ tiếng chân bọn ác ôn đi lại rầm rập ngoài đường, mắt chị như nhìn thấy hình ảnh Ánh ngã gục trước họng súng của bọn đao phủ, và trong trí chị lại hiện ra hình ảnh làng Đông Bàn quê ngoại, vẫn đứng hiên ngang bên bờ sông Thu Bồn, dưới móng vuốt đẫm máu của bọn Mỹ, Diệm phục thù. Ánh bị bắt một tuần lễ trước ngày hẹn cưới chị, và mấy tháng sau Ánh bị bọn Mỹ, Diệm bắn chết trong trại giam. Mẹ đi mua đồ cưới cho con gái về, nghe tin ấy, mẹ ngồi khóc rấm rứt. Mẹ nói : “Bọn hắn hung ác như con thuồng luồng trên cạn”. Rồi từ đó, những lúc quét cái nhà, sẩy mớ gạo, mẹ cứ lụm cụm vừa hát về Thạch Sanh một mình : “Đờn kêu tích tịch tình tang. Ai đem công chúa lên hang mà về”'. Chị không biết mong ai, nhưng sao trong chị, nỗi mong đợi cứ dài ngun ngút theo tiếng hát của mẹ. Bây giờ thì bài vè của lịch sử đang kể đến chuyện chàng dũng sĩ hiện ra ở phương Nam, sau lưng chàng trùng trùng người đang cầm gươm xông tới. “Miền Nam đang đấu tranh và hy vọng”. Tiếng nói của Vịnh lạ hẳn đi, như rất gần mà cũng lại rất xa, như thể là Vịnh đang cúi xuống nói vào lòng một cái giếng sâu thẳm nào đó trong tâm hồn chị, và chị nghe như chính lòng mình cất tiếng vang. Một năm sau, móng vuốt của con thú phát xít đã vồ đến người thân yêu thứ hai của đời chị. Vịnh đã quắc mắt nhìn cái bản án tử hình của thằng Diệm giống như cảnh Pa-ven Vlaxốp đã nhìn bọn quan tòa của Sa Hoàng. Không bao giờ chị quên được ánh sáng kỳ lạ tỏa ra từ đôi mắt đứa em trai yêu quý của chị khi Vịnh nhìn cái chết. Chị thấy nó giống như ánh mặt trời đúng ngọ phản chiếu trên hai mặt hồ trong suốt. Cái nhìn ấy khi quay về phía chị, nó dừng lại trên khuôn mặt chị, và trong khoảnh khắc vô cùng im lặng ấy, hình như nó truyền đến tai chị tiếng nói nghiêm nghị của Vịnh : “Chị đừng khóc, em không chết đâu”. Lòng chị tự nhiên ổn định hẳn lại. Chị thấy rõ ràng rằng bọn đao phủ không thể nào cướp mất hoàn toàn em trai chị. Có một phần nào đó thân thiết nhất trong sự sống của Vịnh không bao giờ bị tiêu diệt, nó mãi mãi thuộc về chị, sẽ luôn luôn có mặt với chị với mẹ và với đồng bào trong những cuộc đấu tranh. Mắt ráo hoảnh nhìn kẻ thù, chị bước vào giữa cơn bão căm hờn của nhân dân. Từ năm 1963 trở đi, năm nào gần đến ngày 20 tháng Chạp, chị lại thức đêm để may cờ, gói vào giấy báo trao vội vã cho những đứa em trai của chị vào những lúc chập choạng tối. Để rồi sáng hôm sau, đúng vào ngày kỷ niệm thành lập Mặt trận, bà con lại được nhìn thấy những lá cờ xanh đỏ bay phấp phới khắp thành phố. Cờ bay trên cửa Thượng Tứ, trên đỉnh cột cờ những trường học, trên ngọn cây ở ngã ba đường; cờ treo trên cột điện ở đầu cầu Kho Rèn, cầu ga, ngay trên đỉnh cột cờ đồn cảnh sát Phú Hội, và một lá cờ Mặt trận lớn phấp phới trên đỉnh núi Ngự Bình, đường bệ vẫy gọi... Những đứa em trai đi cắm cờ của chị lớn dần lên cùng với phong trào, mang cái dáng dấp ngang tàng của Vịnh ngày trước. Lư, Khoa, Hà... thoát ly, những Đồng, những Nguyệt vào lao Thừa Phủ, những Tần, Na, Tị, Truyền... đi đảo. Nhưng cờ Mặt trận mỗi năm lại xuất hiện nhiều hơn trong thành phố cắm ngay trên đỉnh trán kẻ thù.
Chị đứng dưới hàng thầu đâu sau sân nhà, yên lặng ngắm lá. Những cây thầu đâu này mẹ trồng từ hồi hòa bình mới lập lại, mẹ nói để hai năm nữa thống nhất, nó lên mát sân, mát nhà đón anh Sừ đi tập kết về.
Nghĩ đến mẹ, chị bỗng thấy thương mẹ vô cùng. Ba năm chị xa nhà, mẹ vô ra một mình một bóng trong căn nhà này. Những ngày mùa đông, mẹ trùm kín đầu bằng cái khăn nhung đen cũ đã rụng hết tuyết ấy ngồi lặng lẽ hàng giờ sau cái quán hàng xén nhỏ bày trước hiên nhà. Hẳn là ít người thân thích còn lui tới nhà mẹ, có chăng thỉnh thoảng một chú bé hàng xóm chạy tạt vào chìa ra một đồng mua vài cái bánh, hoặc một bác công nhân xích lô, vận tải ghé vào quán uống một ly rượu trắng, nói năm ba chuyện bâng quơ kín đáo an ủi mẹ một vài câu rồi đi. Những lúc ấy chị biết lòng mẹ trăm mối tơ vò. Mẹ thương cha bị Tây bắn chết trên đèo Hải Vân, thương thằng Vịnh bị đưa ra ngoài đảo không biết mất còn, thương thằng Ánh bị bắn chết trong tù, nhớ thằng Sừ ở ngoài Bắc, nhớ con Mai đi kháng chiến xa nhà, mẹ nhớ cả tiếng kêu xành xạch mệt nhọc của chiếc máy may già cũ trong những ngày chị còn ở nhà may áo thuê nuôi gia đình. Những ngày mùa đông dài dằng dặc ấy, hàng cây thầu đâu đã trụi hết lá chĩa những cành khô nhằng nhịt trên sân nhà. Bầy chim chuốc mào ăn trái thầu đâu chín suốt cả mùa hè, nhớ cây nên tạt ngang qua đó đậu nặng trĩu trên những ngọn mềm, ướt rũ và im lặng như những chùm trái khô. Có lần ở trên rừng chị nhận được thư mẹ, lời mẹ chị nhớ như in : "... Con Ty chị nay đã bận bịu tay bồng tay dắt, con Ty em thì ăn chưa no lo chưa tới. Cả nhà nay chỉ còn mình mi khôn lớn, bay nhảy được với chị, với em. Cực khổ mấy mạ chịu cũng được, miễn răng mi cố gắng theo cách mạng để trả thù cho cha mi, cho thằng Ánh, cho thằng Vịnh. Hết cơn bĩ cực tới tuần thái lai, hết giặc mạ con lại gặp nhau lo chi..."
Sáng nay, như trong một giấc mơ, chị trở về gặp lại mẹ đứng nhìn cờ lên dưới hàng cây này.
Ba năm qua chị xa nhà, hàng thầu đâu không cao thêm, nhưng đã trổ thêm nhiều cành mới, tỏa ra che kín cả mái nhà. Trên những thân cây to khỏe, vỏ cây nứt thành những đường sóng chi chít như cây kiền kiền trên rừng và từ những đường nứt ấy, nhựa mới trào ra từng dòng trắng nõn như bột lọc. Lá chưa rậm như mùa hè, chỉ mới xòe ra thành từng chòm lổ đổ trên cành. Nhưng cái màu lục của nó trông mới tinh khôi, tươi trẻ một cách kỳ lạ khiến chị nghĩ đến một sắc áo ngày Tết. Và dọc theo những cành cây màu nâu bóng lấm tấm những chấm vàng như da lươn, những chùm hoa thầu đâu trắng phơn phớt tím đã nở sum suê thơm ngát cả khu sân. Cái mùi hương kỳ dị của hoa thầu đâu, nó nồng nàn đến độ như thấm vào từng tế bào của trí nhớ, khiến cho những buổi hoàng hôn ngày xưa, nghe thấy nó là chị cứ nghĩ đến những người vắng mặt trong căn nhà này và bây giờ thì nó chợt đánh thức dậy tất cả những gì đang lắng xuống sâu nhất trong tâm hồn chị.
Trong bộ quần áo bà ba bằng lụa đen, lấm tấm những vết bùn trên đường hành quân, với chiếc băng đỏ vòng trên cánh tay và khẩu Walter trên thắt lưng, khuôn mặt chị bỗng hồng hào trở lại, có lẽ còn trẻ hơn ba năm trước đây khi chị bước khỏi căn nhà này. Cái dĩ vãng đầy những lo âu, nặng nhọc như mùa đông trên hàng thầu đâu này bỗng như tiêu tan hẳn trong căn nhà thân yêu của chị, và chị nghe thấy trong tâm hồn một cái gì đang rạo rực sống lại.
Căn nhà hiu quạnh bấy lâu bây giờ trở thành trung tâm của cả xóm, đầy tiếng nói cười. Cờ Mặt trận mọc lên san sát phấp phới đầy cả khu xóm Thượng Thành này, những cánh sao vàng chen chúc trước những hiên nhà, nở rộ như hoa mai. Đàng xa, lá cờ Mặt trận vẫn bay phơi phới trên bầu trời thành phố, hào sảng như một người tráng sĩ xưa giật cương cho vó ngựa chồm cao lên giữa trận địa. Từ đỉnh núi ấy chị như nghe lá cờ cất lên một tiếng gọi mãnh liệt đến nỗi chị thấy háo hức muốn băn mặt thành chạy thực nhanh để đến đứng dưới cái bóng hùng tráng của nó.
Bỗng nhiên, những mơ ước nuôi nấng suốt cả một tuổi trẻ đầy dông bão, những hy vọng về cuộc đời đã đâm chồi giữa những tháng năm dài làm ăn vất vả trong căn nhà này, những giấc mơ đêm xuân, những hứa hẹn thầm lặng của chị với những người đã chết, tất cả những thứ ấy vút lên, kết tinh vào giữa ngôi sao trên đỉnh Cột Cờ Phu Văn Lâu. Có cái gì đấy khẽ động vào trái tim chị như một tình yêu sống lại và hai giọt nước mắt trong veo không ngờ bỗng trào ra khóe mi, lăn tròn trên khuôn mặt đang phảng phất nét cười vui của chị.
Chị tên là Lê Thị Mai, người con gái Huế bị địch bắt đầy lên trại giam Ba Làng ba năm trước, đã vượt ngục trở về, hôm nay đang có mặt trong cuộc khởi nghĩa của nhân dân Huế.
Đơn vị đã bố trí xong trận địa chung quanh Cột Cờ. Khẩu đội phòng không của Việt đóng ngay dưới chân Cột Cờ. Khẩu đại liên giá trên mặt đất, sát ngay miệng một chiến hào đào hình chữ L, dùng làm chỗ đứng cho xạ thủ. Bầu trời vẫn bình yên, chưa thấy địch phản ứng gì. Việt ngồi bệt trên sân cỏ, day mặt nhìn ra ngoài sông. Mặt trời đã lên cao, sương mù tan hẳn. Sông Hương xanh biếc, êm đềm như một tấm lụa chảy lòn qua dưới sáu vài [20] cầu trắng, màu dụ bạc phản chiếu ánh nắng chấp chóa. Bên kia sông, những đám lá xanh đậm nhạt khác nhau, màu đỏ và trắng của những tường vôi, những đường gãy khúc rất sắc của những mái ngói đỉnh nhà thờ nhọn vút tất cả hiện ra thực rõ nét dưới ánh nắng trong ngần, Việt có cảm tưởng như thành phố vừa qua một cơn mưa. Trên những tòa nhà đồ sộ có lẽ là những cơ quan ngụy quyền, Việt nhìn thấy rõ những chấm sao vàng lay động trên những vệt đỏ của cờ Mặt trận và cờ Liên minh, thấy rõ cả những cái bóng ung dung của những toán bộ đội đi lại dưới những hàng cây xanh. Lẩn trong ting súng cối và súng con vang lại từ một vài khu vực nào đó trong thành phố, Việt còn nghe rõ cả tiếng còi xe "toe toe" âm vang trên mặt sông, tiếng trẻ em reo cười từ xóm Tỳ-Bà-Trang ở gần cột cờ hòa với tiếng thùng sắt tây, tiếng phèng la truyền từ xóm này qua xóm khác trong Thành-Nội.
Một lúc sau, nhân dân ở các xóm cửa Ngăn và Tỳ-Bà-Trang trên Thượng Thành đã kéo đến đứng lố nhố dưới chân Cột Cờ. Những người đàn ông khẽ cúi đầu chào bọn Việt bằng mấy tiếng “chào các ông” rồi yên lặng đứng ngắm lá cờ. Các mẹ mang theo những bình tích nước, những đĩa mứt gừng và hạt dưa đến mời từng người trong bọn Việt, hỏi han và hình như mẹ nào cũng tỏ vẻ ngạc nhiên về sức khỏe của các chiến sĩ quân Giải phóng bằng những câu tương tự : "Nhờ ơn trời phật, hồng hào mập mạnh cả, có đến nỗi chi". Một cháu bé bụ bẫm mặc áo hoa mang giày đỏ, đút ngón tay vào miệng, mở mắt thao láo đứng nhìn các chú bộ đội. Mẹ nó đứng cạnh, bảo :
– Con vòng tay thưa mấy chú đi con
Đứa bé rụt rè ngoẹo đầu nhìn mẹ nó, nhưng khi Nhật vẫy tay gọi nó, nó nhoẻn miệng cười chạy đến sà vào lòng Nhật. Một bà mẹ mặc áo dài màu khói hương, đầu tóc hoa râm, đến ngồi bên cạnh Việt. Bằng cử chỉ thân thiết tự nhiên như đã quen thân từ lâu, mẹ sờ nắn trên vai, trên tay Việt, giọng mẹ run run :
– Trời ơi! Người ta ra ri mà bọn hắn cứ nói ở côi núi, ăn đá ăn lá, xanh xao vàng vọt.
Mẹ để yên bàn tay mẹ trên tay Việt, thỉnh thoảng mẹ nhìn thoáng khuôn mặt của Việt rồi ngó đi nơi khác. Khi Việt nhìn lại mẹ, Việt thấy mẹ không khóc thành tiếng, nhìn nước mắt mẹ ràn rụa. Việt bối rối mãi. Anh cười thực to để giấu sự xúc động của mình :
– Chúng con khỏe như trâu cả, mẹ ạ.
Mẹ gật đầu “ừ, ừ, bác mừng” rồi kéo vạt áo chùi nước mắt. Giữa lúc ấy, một cậu thanh niên mặc áo len xù nước da trắng, quần chật ống, mang giày không bít tất từ từ đi đến phía Việt. Cậu chỉ vào khẩu đại liên, hỏi Việt :
– Cái này để bắn tàu, hả anh?
Việt đáp :
– Bắn cả dưới sông lẫn trên bộ, nhưng chủ yếu là bắn trên này.
Việt vừa nói, vừa đưa tay chỉ lên bầu trời Cột Cờ. Cậu thanh niên "a" một tiếng ngạc nhiên. Rồi cậu quay lại vẫy mấy cậu bạn khác đang xúm xít chung quanh chỗ Ký và Hải đang lúi húi chữa lại hai khẩu ca-nông 20 ly vừa lấy được của địch :
– Ê súng phòng không tụi bây ơi!
Cả bốn, năm cậu chạy ùa đến. Cậu mặc áo len xù chỉ vào hai khẩu súng đồng đặt dưới chân Cột Cờ, liến thoắng :
– Mỗi buổi sáng, bọn lính ở đây đun ngòi vô đít cái ống đồng này, đổ vào đó một lon thuốc súng rồi nhét rơm vô, đóng chặt lại. Đúng 8 giờ chúng châm ngòi. Súng nổ cái ành, tàn rơm bay xấp xới trên không, thế là cờ ba sọc tà tà lên. Tụi cảnh sát dã chiến ở đây mỗi ngày chỉ làm có việc ấy, cuối tháng lãnh lương đều đều.
Bà mẹ mặc áo lam ngồi cạnh Việt tiếp lời :
– Bọn lính giữ Cột Cờ đông lắm. Ăn rồi đánh bạc chửi nhau rầm rầm suốt cả ngày. Có đêm tụi hắn còn chở mấy con đĩ dưới cửa Sập lên chơi bời với nhau dưới chân Cột Cờ này. Có thằng thượng sĩ Chc ôn hết chỗ nói. Mới thượng sĩ mà hắn đánh thằng trung sĩ Vui bể mặt. Thằng Minh, lính lôi hổ Chợ- Lớn, đánh bạc ăn hắn, hắn cũng rút dao đòi đâm..
Mẹ ngừng một lát, rồi tiếp :
– Hồi thằng Diệm bị đảo chánh, con Theo nhà tui không chịu treo cờ ba que trước nhà, thằng Chính đánh con Theo một bạt tai xững vững. Bà con trong xóm Cột Cờ đi biểu tình tranh đấu, hắn nói "ở dưới cờ quốc gia mà đi thờ ma cộng sản", ngăm nghe đòi bắt bỏ tù cả xóm.
Sực nhớ lại mấy thằng cảnh sát dã chiến bị bắt hồi sáng, Việt quay sang hỏi Vinh :
– Anh Vĩnh à, năm thằng bị bắt hồi sáng đó, có thằng vlào là thằng Chính không?
Bà mẹ ngắt lời :
– Không có mô. Hắn về nhà ăn Tết từ bữa hăm bảy, hăm tám tê lận. Nhà hắn ở bên Phủ Cam. Hắn chạy luộc chuyến ni, nghĩ thiệt uổng.
Một cô gái hiện ra trước miệng hầm cầu thang trên sân cỏ. Cô gái dáng nhỏ nhắn, nước da trắng hồng, mặc áo sơ-mi xanh da trời, ngoài choàng một chiếc áo len đen hơi rộng, tay xách một cái giỏ bằng nhựa. Cô dừng lại trước vòm cửa tò vò, khẽ hất đầu đưa mớ tóc ra sau vai, nhìn quanh rồi đi thẳng đến phía Việt. Cô gái đặt chiếc giỏ nhựa xuống, lấy một bình nước và mấy đĩa bánh tét đến đặt trước mặt bà mẹ, xong cô quay đi. Bà mẹ cất tiếng gọi :
– Theo à, Theo... Mời các anh ăn bánh uống nước, răng lại bỏ đi. Con cái lạ tề!
Cô gái quay lại, bưng đĩa bánh đến trước mặt Nhật và Việt, mắt vẫn cúi nhìn xuống, khe khẽ
– Dạ, mời mấy anh thời bánh.
Việt cầm chiếc đũa xóc một lát bánh tết, bắt chước giọng Huế nói trọ trẹ :
– O Theo ở nhà mần chi, đi học à?
Cô gái thoáng mỉm cười, "dạ" một tiếng nho nhỏ rồi quay đi, mang mấy đĩa bánh sang chỗ Vĩnh và Hải. Mấy người đàn ông vây lại chung quanh Vĩnh và Hải, nói cười râm ran. Việt nghe hình như họ đang nói chuyện về thời tiết. Một ông cụ mặc áo dài đen, một tay cầm quạt che nắng, tay kia vuốt chòm râu bạc lưa thưa, phong thái ung dung. Giọng ông cụ dần dần nổi lên giữa câu chuyện :
– Chuyện này lạ lắm chớ phải chơi đâu. Tôi ở Huế bốn chục năm nay chưa hề thấy có cái mù lạ lùng như sáng ni. Đời thủa mô mới chiều bữa qua trời còn trong vắt qua một đêm trời đổ xuống sa mù, mù đặc ba bước không thấy mặt người, đến chín mười giờ mà chưa tan. Có vậy, thiên binh vạn mã người ta kéo vô thấu Huế mà bọn hắn có mắt như đui, Mặt trận người ta lấy cả cái đất kinh đô này như lật bàn tay. Tui đoán chắc là Mặt trận đã dùng cái kế Khổng Minh uống rượu chèo thuyền đi trong mù cướp không cả triệu mũi tên của Tào Tháo trên Xích-Bích đời xưa đó. Thiên văn địa lý tinh thông như vậy người ta mới ăn thằng Mỹ được chớ.
Ông cụ quay qua Vĩnh :
– Bà con ở đây đoán mò vậy đó, có trúng không anh?
Vĩnh cười :
– Dạ, cái đó chỉ có cấp trên biết. Chúng cháu chỉ được lệnh đánh là đánh thôi ạ, sương hay nắng gì cũng
Qua câu chuyện, Việt được biết bà con khu Thượng Thành này rất lo bão, tháng chín tháng mười thường mở đài nghe tin bão. Đài Sài-Gòn báo tin thời tiết trật lất, bữa cho học trò nghỉ thì chẳng thấy bão đâu; có bừa đang học thì bão đùng đùng ào tới, đám học trò ùa ra đường như chim vỡ tổ, qua cầu Trường- Tiền bị bão xô té sấp té ngửa. Bà con xoay qua theo dõi tin bão trên đài Hà-Nội. Ai nấy đều phục ngoài đó "coi thiên văn" giỏi lắm, gió mùa, biển động, bão đến, bão tan đều báo trước đúng răm rắp. Do đó mà nẩy ra lời bàn rằng Mặt trận đã biết trước cái ngày “sương giáng” này để kéo quân vào đánh úp Huế. Câu chuyện cứ xoay quanh mãi về ngày 31 tháng Giêng sương mù ở Huế như vậy. Việt ngồi im nghe bà con nói chuyện, lòng anh vui theo. Nhân dân mỗi người đều có một cách để giải thích sự thất bại của thằng địch, dựa theo kinh nghiệm riêng của họ. Nhưng tất cả những cách giải thích ấy đều biểu lộ lòng tin tưởng của họ ở sự lãnh đạo của Mặt trận. Mà niềm tin đó chính là chân lý, là nền móng vững chắc nhất để anh và đồng đội đứng chân trên trận địa giữa lòng thành phố này trong cuộc chiến đấu sắp đến.
Bà mẹ mặc áo lam cầm nón chạy đến ngồi chụm vào đám người đang chuyện vãn, nói to :
– Khi hôm nghe súng nổ, tui cứ tưởng là đảo chánh. Tui chạy qua hỏi dượng Trợ đây - mẹ chỉ vào ông cụ hồi nãy - coi phe mô hất cẳng phe mô. Nghe súng nổ nhiều, trong bụng tui đã hồ nghi. Đến khi súng nổ lên thấu Cột Cờ thì tui quyết là không phải tụi hắn. Mấy thằng tướng tá trong ni đá nhau lặp lặp như cơm bữa, nhưng không có thằng nào động đến Cột Cờ ni.
Ông cụ chỉ vào đống xác cờ ba que nằm ùn ở góc sân, nói thì thào nhưng ai nấy đều nghe :
– Các anh làm việc này, bà con chúng tôi thiệt hả dạ. Phải hạ cổ cái thằng trật búa đó xuống, đồng bào ở đây mới mong chấm dứt tình trạng sống dở chết dở này, ruột thịt mới mong nhìn thấy mặt nhau.
Nắng lên to dần. Một chiếc "bà già" chợt hiện ra bên kia sông, liệng vòng thực cao trên Khu tam giác. Từ trên chiếc bà già, giọng nói của thằng tâm lý chiến ọ ẹ vọng xuống :
– Tỉnh trưởng tỉnh Thừa-Thiên, thị trưởng thị xã Huế ra lệnh cho các công sở chưa lọt vào tay Việt cộng hãy treo quốc kỳ lên...
Nhóm bà con đang ngòi trên sân Cột Cờ cười ầm lên cùng một lúc. Một bà mẹ nói trỏ lên chiếc "bà già" thực to :
– Công sở nỏ còn mà thị trưởng cũng độn thổ mất rồi, lấy chi mà lệnh với lạc - bà mẹ ngoảnh lại hạ giọng - Thiệt là chết đến tận cổ rồi mà cái miệng còn nói trạng.
Việt yêu cầu bà con tản bớt khỏi sân Cột Cờ, đề phòng thằng địch làm càn bắn rốc-két. Bà con ra về cả mấy cậu thanh niên vẫn ngồi nán lại, mân mê mấy khẩu báng đỏ, hỏi tác dụng của cây súng, cách bắn... Cậu mặc áo len xù mượn khẩu báng xếp của Hải khoác vào vai, đứng dạng chân nhìn ra sông Hương. Chợt nghĩ ra điều gì, cậu vội lột chiếc mũ ni- lông tròn có chiếc vành nhỏ xíu trên đầu xuống vò nhỏ nhét vào túi quần, đến mượn chiếc mũ tai bèo của Việt đội lên đầu. Xong cậu quay lại chỗ cũ, giương súng lên ngắm chiếc tàu Mỹ đậu mãi tít cuối sông. Nhìn dáng điệu của cậu, Việt thấy muốn cười, nghĩ thầm "coi bộ anh chàng muốn làm Vi-xi theo kiểu xi-nê-ma đây".
Cậu tóc quăn gọi to :
– Ê coi bộ “chịu” quá, hả Bảo?
Cậu áo len xù vẫn ngắm nghía như lấy đường ngắm:
– Chịu quá mi ơi! Chuyến ni tao về xin ông rốp [21] đi theo quân Giải phóng gấp.
Cậu tóc quăn cười hì hì :
– Bộ mi sức mấy mà đòi vô quân Giải phóng. Mỹ hắn nện cho một loạt thì vất súng chạy về nhà mét [22] mạ.
Anh chàng áo len xù tên là Bảo, quay lại, đá nhẹ vào đít cậu tóc quăn một cái, mắt gườm gườm nhưng miệng lại cười cười :
– Thằng tóc quăn, muốn chơi anh em hả? Thằng này đã nhiều phen cho Mẽo Phú Bài ăn trầu lỗ mũi, đếch ngán thằng nào...
Anh chàng tóc quăn lại cười hề hề. Việt nói :
– Đánh Mỹ dễ thôi. Miễn biết căm thù giặc thì ai cũng đánh nó được. Các anh thử đánh một trận thì biết nó ngay.
Khi ra về, anh chàng mặc áo len xù còn ngoái lại nói với Việt :
– Hẹn gặp lại anh dưới Cột Cờ này nghe.
⚝ ⚝ ⚝
Ngọn cờ Mặt trận bay trên đỉnh Cột Cờ Phu Văn Lâu đã làm chấn động dư luận nhân dân trong nước và thế giới. Nó là một cái đinh mà quân và dân Huế đã cắm đúng vào đỉnh đầu bọn trùm xâm lược ở tòa Nhà trắng... Vì thế, từ những ngày đầu tiên địch đã tung ra hàng loạt đợt phản kích dữ dội hòng chiếm lại Cột Cờ. Trưa ngày 31 tháng 1, bốn xe M41 địch vượt qua cầu Trường Tiền, định mò vào cửa Thượng- Tứ. Đội biệt động và tự vệ khu phố Trần Hưng Đạo đã chặn đánh chúng một trận ác liệt trước nhà hát lớn thành phố. Hai chiếc M41 bị cháy thiêu giữa vườn hoa Nguyễn Hoàng, hai chiếc kia tháo chạy về khách sạn Hương-Giang, một chiếc bị bắn đuổi bỏ xác lại ngay giữa cầu Trường-Tiền. Ở mặt trận phía Bắc, một tiểu đoàn dù ngụy mở cuộc phản kích vào cửa An-Hòa, hòng chiếm lại Cột Cờ. Nhưng chính ở đây các chiến sĩ quân Giải phóng Huế đã lập một chiến công đẹp tuyệt vời, ngay trận đầu đã đập nát các mũi tiến quân của địch, diệt gọn tiểu đoàn dù số 7 ngụy, bắt sống xe M113 và hơn 60 tên "thiên thần mũ đỏ".
Lính thủy đánh bộ Mỹ và lính Pắc Chung Hy từ cửa Thuận-An đi tàu lên, định chiếm lại khu phố Hai để tiến vào hợp điểm với cánh quân của chúng từ Mang-Cá tiến ra, ở cửa Đông-Ba. Nhưng cả hai cánh quân ấy của chúng đều đã húc đầu phải bức tường thép. Trong suốt 25 ngày chiến dịch, bọn lính thủy đánh bộ Mỹ đã không vượt nổi một tấc đất qua đường phố Trần Hưng Đạo, cửa Đông-Ba đã trở thành cửa thép, nơi đó vôi gạch đã bị bom đạn Mỹ cơ hồ biến thành bụi, nhưng con người vẫn đứng vững. Những tổ săn tàu được rải suốt dọc theo hai bờ sông, chặn đường tiếp tế của địch từ Thuận-An lên, đã đánh chìm hàng chục tàu hàng và tàu chiến xuống lòng sông. Chỉ một tiểu đội của chiến sĩ Chu Văn Đài, trên một khoảng sông ngắn ven hữu ngạn, đã nhấn chìm 13 tàu Mỹ. Và hẳn từ đây, khi nghe lại tiếng hát ảo não của Ma-ri-lin Mông-rô trong bài hát nổi tiếng ấy “có một dòng sông tên gọi là dòng sông không ngày về”, những tên lính thủy đánh bộ Mỹ còn sống sót sau mùa xuân Mậu Thân ở Huế sẽ kinh hoàng nhớ lại dòng sông Hương xanh đẹp vẫn trầm mặc chảy qua lòng thành phố này.
Bên chiến hào áp sát nửa sân bay Tây-Lộc còn lại, người lính trẻ mười chín tuổi tên là Chu Anh Hùng giơ tay thề vị : “Còn sống là còn chiến đấu, bị thương nặng coi như nhẹ, nhẹ coi như không bị thương, thề chiến đấu đến cùng, giữ vừng ngọn cờ, giữ vững quyền làm chủ thành phố”. Đêm ấy, Chu Anh Hùng đã ôm chất nổ lao tới dưới cơn mưa đạn, vượt qua đường băng dập tắt ổ đại liên của địch mở đường cho đồng đội tiến lên đập nát sân bay Tân-Lộc, tự tay anh đã đốt cháy một loạt mười máy bay địch.
Hai mươi vạn nhân dân Huế đã nổi dậy cùng với bộ đội giữ chặt từng cửa thành, từng đầu cầu, từng khu phố, đập nát những ổ rắn độc từ bao lâu vẫn mai phục khắp cả hang cùng ngõ hẻm. Hai ngàn người bị xiềng xích đã nổi dậy phá lao Thừa-Phủ, trở thành 2000 người lính quyết tử giữ thành phố. Bà mẹ ở phố Lý Thường Kiệt đã dùng tay không bắt sống một tên đại tá Mỹ. Bà mẹ ở xóm Lịch-Đợi mang giấy hương đánh dấu nhà từng tên ác ôn. Mười một cô tự vệ thành phố cùng với một đơn vị bạn đã đánh tan một tiểu đoàn lính thủy đánh bộ Mỹ, diệt 120 tên... Ngọn cờ Mặt trận như một vầng thái dương rạng rỡ, vừa mọc lên đã làm tan rã ngay cái đám âm hồn từ bao lâu vẫn mang ảo tưởng rằng dưới bóng 50 ngôi sao của lá cờ Mỹ, đêm tối sẽ còn kéo dài mãi để cho chúng nhảy múa, ăn hút. Ở khu phố Gia-Hội, hơn 1200 tên ngụy quân nguy quyền ra đầu thú nhân dân. Ở quận Thành-Nội, trong những ngày đầu tiên có đến 500 tên. Những ủy ban đăng ký bọn chúng sau đó đã biến thành những ủy ban chính quyền cách mạng khu phố. Chính trên sự tan rã của toàn bộ cơ cấu ngụy quyền địa phương, ủy ban nhân dân cách mạng Thừa-Thiên Huế đã thành lập.
Theo ngọn cờ vẫy gọi, người Huế đã đứng lên cầm súng, giành lấy chính quyền về tay mình.
⚝ ⚝ ⚝
Khoảng 8 gi sáng ngày sau đó, tổ tiền tiêu của ta phát hiện khoảng hơn một chục chiếc ca-nô địch nổ máy xình xịch từ phía cồn Hến chạy lên. Đại đội trưởng Chi ra lệnh sẵn sàng. Địch đến đổ ca-nô dưới mé sông, bọn lính cộng hòa dàn hàng ngang tiến lên, bóng chúng lố nhố dưới những gốc cây to của quảng trường Phu Văn Lâu. Đại đội trưởng Chi thả ống nhòm xuống, bàn với anh em :
– Chúng nó có khoảng một đại đội. Ta chiếm điểm cao, lại có hào sâu, tường kiên cố, dẫu chúng có một tiểu đoàn cũng chưa làm chi ta được. Lúc này tinh thần chúng hoang mang rệu rã lắm rồi, ta tích cực làm binh vận, kêu gọi chúng đầu hàng để tiết kiệm xương máu.
Anh em đồng ý cả. Anh Chi nhô ra khỏi công sự, bắt tay lên miệng làm loa, gọi to : “Hỡi anh em binh lính cộng hoà!”
Bọn lính ngụy đang dò dẫm tiến lên, dừng cả lại. Anh Chi gọi tiếp :
– Mấy ngày nay quân khởi nghĩa đã từng tiến công và đánh chiếm hầu hết các thành phố miền Nam. Nhân dân thành phố Huế đã nổi dậy tiếp tay quân cách mạng, giành quyền làm chủ hoàn toàn thành phố Huế. Bọn Thiệu-Kỳ gian ác vô cùng, đến giờ này còn cưỡng ép các bạn cầm súng chống lại cách mạng. Đó là việc bẻ nạng chống trời, chỉ mua lấy cái chết vô ích và nhục nhã. Các bạn hãy quay súng về với quân cách mạng cùng nhân dân chống Mỹ cứu nước, sẽ được hưởng chính sách khoan hồng của Mặt trận.
Những cái bóng trây-di xanh lá cây vẫn đứng im lặng bên kia đường. Chợt phía sau chúng có tiếng thét :
– Đi lên! Thằng nào đứng lại tao bắn chết bỏ mẹ.
Bọn lính cộng hòa lại rậm rịch đi tới, lôm côm tiến qua đường Thống-Nhất. Giữa lúc ấy, Việt thấy một bà mẹ từ xóm nhà dân tất tả chạy đến trận địa. Lúc mẹ đến gần, Việt nhận ra là mẹ Năm hôm trước. Lần này mẹ mặc áo cụt màu lam, tay mẹ cầm quạt. Mẹ chạy vội vã nên búi tóc xõa xuống lòng giòng sau lưng. Không hiểu bà mẹ có việc gì mà ra nơi trận địa lúc hai bên sắp nổ súng? Sợ nguy hiểm cho mẹ, từ trên cao Việt gọi xuống :
– Mẹ à! Mẹ!
Mẹ Năm hình như không nghe. Mẹ cứ mải miết chạy, mấy lần mẹ vấp chúi xuống đất suýt ngã, Việt thét to :
– Mẹ vào nhà đi! Súng nổ bây giờ, nguy hiểm!
Mẹ Năm giơ chiếc quạt khoát khoát lên không đáp lời Việt rồi mẹ đến đứng bên anh Chi. Người mẹ thấp nên cái bờ thành lên cao đến vai mẹ. Mẹ vẫn để mặc búi tóc lòa xòa sau lưng, xòe chiếc quạt giấy vẫy đám lính ngụy ở dưới đường :
– Ơi anh em quân đội cộng hòa!
Trong cái im lặng của trận địa, giọng mẹ vang lên lanh lảnh, vừa sắc, vừa dịu dàng. Có lẽ lần đầu nghe tiếng một bà mẹ gọi giữa trận địa, bọn lính cộng hòa đang tiến lom khom trên mặt đường lại đứng lại. Có nhiều thằng đứng thẳng dậy, ngẩng mặt lêu nhìn.
Mẹ tiếp :
– Quân cách mạng đã giải phóng Huế rồi, anh em không lo tìm đường sống còn kéo nhau đi mô đó?
Mẹ vừa dứt lời thì thằng chỉ huy cầm súng ngắn đi sau lưng đám lính nguy vụt giơ tay lên phía trước.
Anh Chi kéo mẹ ngồi thụp xuống. Một tiếng "đoàng" vang lên; một viên đạn rít qua mặt thành kêu vé
Tiếp theo đó một tiếng nổ rất đanh từ trên mặt thành dội xuống, thằng chỉ huy bật ngửa người ra sau, khẩu súng ngắn trong tay hắn văng lên không. Vinh đã tức thì nổ súng diệt ngay tên chỉ huy ác ôn.
Mẹ Năm lại đứng dậy. Lần này, tiếng mẹ sang sảng như ra lệnh :
– Anh em quân nhân Phật tử đứng qua một bên. Để quân cách mạng trừng trị bọn ác ôn bợ đít Thiệu - Kỳ.
Có mấy tên lính cộng hòa vụt bỏ hàng ngũ chạy lui phía sau, nấp vào những gốc cây. Nhưng ngay khi ấy từ tấm bia lớn bên cạnh cái nhà ngói trước Phu Văn Lâu, đại liên địch nổ ào ạt lên mặt thành. Đám lính cộng hòa cũng vừa nổ súng vừa chạy tới trước. Các chiến sĩ ta kê tiểu liên lên bờ thành bắn từng loạt ngắn vào đám lính ngụy ở dưới. Chủng tản ra nấp sau những gốc phượng bắn trả lại. Việt quay đại liên về phía tấm bia, nổ một loạt giòn giã. Tấm bia vỡ tung ra, ổ đại liên cũng câm bặt. Địch từ bên kia sông Hương bắn ĐK và cối 81 qua chi viện cho bộ binh của chúng dưới Cột Cờ. Nhưng đạn pháo của chúng lại rơi tới tấp bên mé đường Thống-Nhất, nhè đấm ngay vào lưng bọn lính cộng hòa đang bị mưa đạn của các chiến sĩ giữ Cột Cờ tạt vào mặt. Bị kẹp giữa hai hàng rào lửa, bọn lính ngụy kêu la chửi thề inh ỏi, mạnh thằng nào thằng ấy chạy. Chúng ùa trở lại bờ sông rồi dựa theo mé sông chạy thục mạng về phía Thương-Bạc, bỏ lại hơn chục xác chết nằm sóng xoài trên mặt đường. Sau mấy loạt pháo hạm từ ngoài biển bắn tới tấp vào khu vực Cột Cờ, trận địa trở lại im lặng. Trận phản kích đầu tiên của địch để giành lại Cột Cờ đã diễn ra và kết thúc như vậ
Chiều hôm ấy, mẹ Năm thết cơm khẩu đội Việt. Theo gánh đến dưới Cột Cờ một đôi quang, một đầu là thúng cơm trên đậy mấy tấm lá chuối, đầu kia là thức ăn và bát đĩa. Thức ăn chính hôm nay là món xà-lách trộn dấm và thịt gà rán, ngoài ra còn thêm mấy thứ mắm Huế bà con quanh xóm gửi đến cho, ăn thực lạ miệng. Còn món canh thịt bò thì bỏ ớt cay quá anh em bộ đội ăn không quen cứ xuýt xoa um lên, cô Theo quay mặt đi chỗ khác, che miệng cười. Anh em gọi đây là một bữa ăn "đặc táo" nấu theo lối Huế. Nhật hỏi Theo, bắt chước giọng Huế, vụng về :
– Mẹ cho ăn răng mà sang ri, o Theo?
– Dạ có chi mà sang, anh. Xà-lách ở nhà trồng. Có con gà trống mẹ em cứ để dành mấy bữa ni, nói để mừng mấy anh đánh thắng.
Ăn xong, Nhật đến ngồi dưới tăng-sê tháo súng ra lau. Hải, Sánh và mấy anh em khác kéo nhau xuống bãi cỏ trước Ngọ Môn để tập xe. Mấy hôm nay buổi chiều có mấy cậu thanh niên ở xóm Tỳ-Bà-Trang đem hông-đa lên tập cho anh em bộ đội, anh em rất ham tập.
Việt ngồi đưa người se sẽ trên chiếc võng ny-lông màu đỏ sặc sỡ, một đầu cột túm lại, buộc vào bờ thành, đầu kia mắc vào một chiếc cọc trồng trên sân cỏ. Cô Theo xếp dọn bát đĩa xong ngồi tựa mép thành, hai bàn tay gầy gầy thuôn thuôn đặt trong lòng chiếc nón để trên chân cô. Nhìn chiếc võng của Việt cô hỏi :
– Anh về Huế mà cũng đem võng theo à?
Việt chỉ vào đống vải vàng rách tả tơi nhem nhuốc trên mặt sân cỏ :
– Đâu có. Vải lấy ở cái cờ ba que kia đấy. Cái sọc đỏ của nó tốt thực, rộng vừa đủ khổ một chiếc võng đôi vừa bền vừa nhẹ. Bọn tôi đứa nào cũng lấy được một chiếc.
Cô Theo cười rung cả người :
– Ôi cha! Cờ "quốc gia" mà mấy anh đem làm võng ngồi à? Thiệu-Kỳ hắn biết chắc chuyến ni hắn đâm đầu xuống sông tự tử mất thôi.
Việt hỏi thăm qua việc học hành của Theo. Cô nói năm nay cô đã thôi học, ở nhà vừa giúp mẹ trồng rau vừa tiếp tục dọn thi bán phần. Trước đó, cô học đệ nhị Đồng Khánh. Ban giám đốc nhà trường theo lệnh của thằng tỉnh trưởng, thường bắt ép nữ sinh trường Đồng Khánh đi "ủy lạo" quân đội "đồng minh" dưới Phú-Bài ai không đi bị dê-rô kỷ luật. Bọn thủy quân lục chiến Mỹ dưới Phú-Bài tính rất láo xược, vẫn gọi các cô là "mai bô-by" [23] . Lần nào cũng có cái mục choàng vòng hoa cho mấy thằng Mỹ vừa đi đánh phá ở đâu đó về, bắt con gái đứng chụp ảnh chung với chúng nó. Mấy thằng khác thì mặc quần gin, ở trần, người đỏ rực rực như con tôm luộc, các cô đi ngang, chúng kêu cô này "năm-bơ-oăn" [24] cô kia "năm-bơ- then" [25] , chỉ trỏ cười hô hố với nhau. Theo kể tiếp, bạn bè cô có mấy đứa vì đi lên đi xuống Phú-Bài như vậy mà thành ra hư bỏng : Con Quỳnh cặp bồ với thằng trung úy Hoóc-tơn, thứ bảy nào thằng Mỹ cũng lái xe gíp lên chở đi "pạc-ty" [26] dưới Phú-Bài. Cuối cùng con Quỳnh đẻ ra một thằng bé mắt xanh lè, má đầy cả tàn nhang, hắn đem giao thằng bé cho "cô nhi viện đồng minh" nuôi, rồi bỏ nhà trốn vô Sài-Gòn biệt tích. Lễ Nô-en vừa rồi Theo lại bị nhà trường bắt xuống Phú-Bài để làm cái trò ủy lạo ấy nữa. Nhớ lại cảnh nhục nhã của những lần trước, Theo không đi, cô còn rủ thêm mấy cô bạn khác làm theo cô. Một mụ trong ban giám đốc nhà trường, thường ngày vẫn giao du thân mật với bọn Mỹ, xét lý lịch gia đình Theo, sau đấy quy cho cô cái tội "bài Mỹ", tuyên truyền bôi nhọ danh dự "quân đội đồng minh", đuổi Theo ra khỏi trường Đồng Khánh.
Theo kể chuyện một thôi. Việt để ý thấy trong câu chuyện, Theo ít khi nhìn vào mặt người nói chuyện với mình, cứ mải miết xé hết mẩu lá tranh này đến mẩu lá tranh khác, bàn chân mang guốc cứ táy máy hất đi hất lại một viên sỏi trên mặt đất.
– Bọn Mỹ ngụy nó lộng lược đến như vậy sao các o không đứng lên đấu tranh?
Việt đứng lên, đến bên bờ thành, nhìn ra sông. Gió ngoài sông thổi vào, mái tóc Theo bay lòa xòa về phía trước. Đứng gần, Việt nghe mái tóc ấy là lạ, phảng phất như mùi gỗ trầm, như những lúc anh hành quân đi qua một khu rừng có nhiều cây gió. Theo vòng tay lên vai vuốt mái tóc lại đằng sau, đáp :
– Đấu tranh có ăn thua chi, anh. Dân Huế năm mô cũng đấu tranh rầm rầm, bọn em niên khóa nào cũng bỏ mất một vài tháng để xuống đường, bãi khóa. Nhưng bọn việt gian thì thằng ni trúc thằng khác lên, còn bọn Mỹ thì càng ngày càng làm tàng. [27]
Theo dừng lại một chút, nét mặt thoáng vẻ suy nghĩ. Cô nói tiếp, giọng nghe to hơn :
– Chỉ có mình về mới trị được bọn hắn.
Theo vừa nói vừa ngẩng lên nhìn ngọn cờ Mặt trận bay trên đỉnh cao. Trong đôi mắt to đen trong sáng mở ra trên khuôn mặt hồng hào khỏe mạnh của cô Việt thấy phản chiếu bóng ngọn cờ và một mảng trời xanh biếc vô ngần, nền cờ thành hai cái vết đỏ lay động phập phồng khiến cho Việt nghĩ đến một ngọn lửa đang cháy ở một nơi nào đó rất xa, phía sau đôi mắt ấ
Cái tiếng "mình" Theo vừa nói, nó quá đỗi thân thiết, tự nhiên, khiến Việt mang máng thấy hình như bóng cờ ấy đã in sẵn trong đôi mắt Theo từ bao giờ rồi.
Việt đang nghĩ ngợi lan man thì nghe tiếng Theo nói nhỏ nhẹ :
– Anh Việt à! Có khi nào anh thấy sông Hồng chưa?
Việt quay lại, hơi ngạc nhiên về câu hỏi của Theo. Anh tiếp :
– Sông Hồng ấy à? Có. Nhưng o hỏi sông Hồng làm chi?
– Sông Hồng khác sông Hương răng anh?
Việt nheo mắt như để nhớ lại cái gì. Anh gật gật :
– Khác. Ờ khác nhiều chứ. Sông Hồng thì đỏ tươi, sông Hương thì xanh biếc. Nước sông Hồng chảy xiết quanh năm, luồng của nó khi nào cũng hăm hở như muốn đưa con người ra đến biển. Còn sông Hương thì êm đềm, trầm lặng.
Chợt Việt phá ra cười, chỉ tay về phía Cồn Hến :
– Nhưng đối với giặc Mỹ thì cả hai con sông ấy đều giống nhau, giống nhau như hai chị em. Bởi vì sông Hồng đã chôn vùi xác tàu bay Mỹ còn sông Hương thì bây giờ đang nhận chìm tàu chiến của chúng dưới bùn đen.
Cuối ngón tay Việt, bên kia cầu Trường-Tiền, khoảng giữa khu phố Gia-Hội và Cồn Hến, một chiếc tàu chiến Mỹ vừa bị các tổ săn tàu bắn hôm trước. Một nửa thân tàu chếch lên không, cái lườn xám của nó còn nghi ngút cháy, phả một làn khói xám đùng đục trên mặt sông. Chiếc cột cờ vẫn còn nhô một đoạn khá dài, chênh chếch trên không. Hình như nó không còn dính gì với cái thân tàu đang cháy và đầu nó vẫn còn mang một lá cờ Mỹ rách bươm với những sọc đỏ bay vật vờ trên mặt sóng ngũ sắc sặc sỡ vì pha lẫn với ét-xăng. Theo đăm đăm nhìn xác chiếc tàu Mỹ trên sông, đôi mày hơi xếch lên, đôi mắt to đen sáng trưng niềm tự hào :
– Những ngày trước em đi học qua đò Thừa-Phủ, cứ bị cái nạn ca-nô Mỹ ầm ầm chạy qua làm tung sóng lên ướt cả mặt, cả áo. Em tức lắm, nhưng cũng không bao giờ nghĩ rằng sẽ có ngày tàu chiến của bọn Mỹ sẽ bị nhấn chìm trên con sông này. Chừ thì cả thế giới đều nói đến sông Hương. Đúng là cách mạng đi tới đâu đất nước mình nổi tiếng tới đó.
Theo ngừng một lát, rồi nói tiếp ý nghĩ lúc nãy. Giọng Theo dịu dàng trở lại, Việt nghe như rất xa :
– Em chưa thấy Hà-Nội, nhưng nhiều khi em nhớ Hà-Nội da diết, anh Việt ơi. Em cứ nghĩ đất nước mình đẹp đẽ như vậy mà thiếu mất một nửa. Mỗi lần nghĩ như rứa là trong bụng em cứ tiếc quay. Tánh em nghèo mà ham, ngay cả những cái nho nhỏ hàng ngày cũng vậy cái chi mình đã yêu quý thì mình cứ muốn nó thật đầy đủ nguyên vẹn, đừng mất mát chút nào hết.
Việt cười :
– Đất nước mình nhất định rồi sẽ nguyên vẹn như ý muốn của em thôi, Theo ạ. Điều cần thiết là bây giờ chúng ta phải cầm thực chắc tay súng...
Theo về rồi, Việt một mình đứng nhìn ra sông. Sau một ngày chiến đấu ác liệt ở khắp các khu phố, Huế có cái không khí của Hà-Nội sau một trận đánh máy bay Mỹ, đẹp và yên tĩnh; trong cái mãnh liệt, hăm hở của cuộc sống vẫn hiện ra cái phong thái ung dung, tự chủ. Ánh mặt trời cuối cùng của một ngày quang đãng còn ném lại dưới chân những dãy đồi phía tây một vừng lửa màu da cam vàng rực, và từ trong vùng lửa ấy, dòng sông ương trôi về, vẽ thành một nét màu xanh thẳm qua thành phố, rồi biến mất giữa mảng màu xanh lá mạ của những cánh đồng ngoại ô trải rộng đến tận biển. Phía trên cầu Bạch- Hổ, Trường-Sơn dựng thành những tầng tiếp nối nhau, những dãy đồi thấp màu đỏ trầm trầm, những lớp cao hơn màu lam già, và tận cùng, chất ngất chạm trời, vách núi ửng lên màu xanh thẳm của khói đá. Bóng núi đồ sộ rất gần, hình như cứ trầm lặng đổ xuống thành phố xinh đẹp này một sức mạnh chất chứa trong lòng những khối đất ấy đã hàng nghìn thế kỷ. Và giữa lòng thâm nghiêm của những dãy núi ấy sông Hương đã bắt đầu cuộc hành trình của nó để đi ra biển. Việt chợt thấy trước mắt anh, ngọn sông Hương cứ kéo dài mãi ra, xa thăm thẳm, đến tận chỗ mà nó còn mang tên là sông Ya-ling chảy mải miết giữa những rặng cây rì rì nở hoa hồng thắm như hoa đào; nơi sông Hương còn là sông A-mong tung bọt trắng xóa dưới chân những buôn rẫy bạt ngàn của dân tộc Cà-tu anh dũng, đến mãi nơi mà nó còn là một dòng nước nhỏ đen thẳm như mặt hồ lặng lẽ dưới chân những vách đá cao ngất và lạnh buốt. Việt bỗng thấy yêu sông Hương một cách kỳ lạ, pha lẫn với niềm tự hào của một người đã hiểu dòng sông từ nguồn của nó. Sông Hương như người đồng chí của anh, cả hai đã cùng khởi đi từ trên ngọn những dãy núi kia về đến thành phố, qua một cuộc hành trình gian khổ và hùng tráng. Việt nghĩ như thế. Nó đã biết nổi giận, cũng như sông Bạch-Đằng, sông Lô, sông Hồng hay sông Vàm-Cỏ... Như tất cả những dòng sông anh hùng ấy của Tổ quốc, nó tung lên những ngọn sóng thần bất ngờ cuốn xác bất cứ loài xâm lược nào dám in cái bóng của chúng lên mặt nước trong xanh, và sẽ chôn vùi xác tàu của chúng vào dưới đáy phù sa quên lãng của nó. Việt xúc động đứng thẳng lên im lặng, tay trái đặt lên nòng khẩu đại liên, mặt hướng theo nòng súng hơi ghếch lên cao, chiếc mũ tai bèo buông xuống sau gáy. Bóng người lính trẻ canh giữ bầu trời thành phố Huế, nổi lên nền trời ửng đỏ ráng chiều vững chãi thành một khối đen kiêu hãnh, trông giống như một pho tượng dũng sĩ được đắp lên cùng một lần với dãy thành có này không rõ từ niên kỷ nào, có lẽ còn lâu đời hơn cả lịch sử của
⚝ ⚝ ⚝
Một buổi tối, đồng chí phụ trách tin kỹ thuật của đơn vị nghe tiếng địch gọi nhau trong máy. Thằng L.19 đang lượn quanh Cột Cờ, gọi về Phú-Bài :
– Đại bàng! Đại bàng đâu? Cho Cột Cờ ăn dưa đi. Trời tối con cái không có lợi.
Thằng bộ binh ở dưới thúc giục thằng L.19, giọng hốt hoảng :
– Nhà số 5 gọi chuồn chuồn đây. Xin đại bàng cho dưa đi! Con cái đi phép dài hạn và rách áo mất nhiều. Phải cho Cột Cờ dưa góp, con cái không lên được.
Thằng L.19 gọi lí nhí ở đâu một lúc, đáp lại :
– Đại bàng bị Vi-xi bắn dữ quá nó về rồi. Mặt trăng hứa sẽ cho thêm tăng-gô, con cái tùy đó mà xử trí lấy.
Giọng thằng bộ binh nổi cáu :
– Tăng-gô thì nước mẹ gì. Báo cáo lại Mặt trăng, không có đại bàng thì con cái không làm ăn được.
Ban chỉ huy đơn vị phán đoán rằng vì thiếu máy bay yểm trợ, ngày mai địch chưa có khả năng phản kích vào Cột Cờ, nhưng, lệnh cho anh em củng cố công sự vững chắc thêm để chống pháo và bom trong những ngày sắp tới.
Đúng như thế, mấy ngày sau trôi qua khá yên tĩnh. Thỉnh thoảng một chiếc "bà già" đến đảo quanh Cột Cờ lấc láo nhìn nghiêng nhìn ngửa xuống trận địa. Không phát hiện được gì, nó thụt vài quả rốc-két vu vơ xuống mặt thành rồi bay đi.
Đó là những ngày nhàn của đơn vị giữ Cột Cờ. Tổ phòng không của Việt bày một sòng bài ù trên công sự. Nhật, Sánh và mấy anh em, mang lá nguy trang trên mũ, vỗ những con bài bằng plát-tích kêu đen đét trên mặt cỏ. Mấy cậu bên bộ binh mỗi chiều đến lại đánh quần đùi ra tập hông-đa trên sân cỏ Ngọ-Môn. Tiếng cười nói, tiếng hông-đa nổ xành xạch lẫn với tiếng vỗ tay râm ran dội vào vòm cửa Ngọ-Môn, khiến Việt mang máng thấy thành phố như đang vào chiều chủ nhật và cái bãi cỏ dưới kia đang biến thành một cái sân đá bóng. Cái bãi tập xe dưới kia chỉ im lặng, phân tán đi một chốc, mỗi khi có một chiếc bà già vè vè mò đến, để rồi ít phút sau, đâu lại hoàn đấy, trận địa trở lại cái không khí sôi nổi, rộn rã yêu đời của một cái sân đá bóng chiều chủ nhật. Những ngày ấy, cô Theo trở thành em nuôi của đơn vị. Mỗi bữa cô mang cơm ra chiến hào, nói câu nào cũng bắt đầu bằng một tiếng "dạ" nhỏ nhẹ, trao bát cơm, đôi đũa cho các anh bộ đội bằng cả hai tay, và mỗi khi anh em khen "o Theo nấu ăn ngon quá" thì cô lại bối rối quay mặt đi nơi khác, kéo tóc lên che miệng.
Những hôm sau đó, pháo địch bắn khá dày vào Cột Cờ. Có lần cô mang cơm ra trận địa, một quả pháo nổ gần làm một đồng chí bị thương. Theo nằm xuống kịp, chỉ bị đất bắn vào người làm bẩn cả tóc, cả áo. Thấy nguy hiểm, anh em trong tổ phòng không đề nghị từ nay chỉ có anh nuôi Đào mang cơm ra trận địa, còn cô Theo ở nhà nấu nướng giúp là đủ rồi. Cô Theo phủi đất trên áo, giọng vẫn nhỏ nhẹ như bao giờ :
– Pháo hắn bắn kệ hắn chớ. Mấy anh ở giữa trận còn chưa sợ, em ở trong nhà lâu lâu mới ra đây, sợ chi.
Theo trả lời như vậy, và đến bữa sau cô lại mang cơm
⚝ ⚝ ⚝
Đơn vị giữ Cột Cờ vừa nhận thêm mấy thanh niên Huế vừa bổ sung, Việt gặp lại anh chàng tóc quăn ngày đầu tiên. Vẫn bộ đồ Tết có vẻ diện, chiếc áo sơ-mi màu mỡ gà với chiếc quần tẹc-gan đen, vẫn cái miệng cười hề hề dễ dãi để lộ một chiếc răng khểnh rất có duyên. Mái tóc quăn tự nhiên của cậu hớt ngắn, hoe hoe màu râu ngô trên cái trán vồ, cái mũi hơi cong xuống làm cho khuôn mặt trắng trẻo của cậu có vẻ lanh. Hôm nay cậu mang một khẩu AR.15 còn mới tinh, quanh bụng cậu còn khoanh thêm hai chiếc thắt lưng Mỹ, mắc dầy những băng đạn cực nhanh đựng trong nhưng chiếc túi ka-ki nhỏ, ngoài choàng thêm một chiếc bờ-lu-dông bằng da nâu, phẹc-mơ-tuya để buông không gài. Cậu tự giới thiệu là Oánh, học sinh đệ nhất trường Nguyễn Tri Phương, còn mấy cậu kia là Liêm, để râu mép, học sinh bán công; Huy thợ sửa xe đạp, đen, vẻ mặt lầm lì và Kỳ tóc cắt ca-rê, mặt còn thơ ngây kiểu trẻ con, học sinh trường Bồ-Đề... Vừa ngồi xuống sân cỏ, Oánh đã nói liền giọng phấn khởi :
– Anh Việt ơi! Tụi này vừa vô đội công tác Thành- Nội là kéo nhau đi đánh tụi chiêu hồi tơi bời. Nghe nói tụi hắn bỏ trốn hết rồi, tụi này tưởng bở kéo tới ty chiêu hồi định tịch thu giấy má, súng đạn của chúng. Không ngờ tụi hắn còn mấy thằng ở trong nhà ném lựu đạn ra rầm rầm, thằng Liêm tính chết. Bọn em nổi sốp [28] , nện lựu đạn trả lại, mấy anh sinh viên quạt AK tơi bời khói lửa. Xong bọn này "a-lát-xô" [29] vô. Mấy thằng chiêu hồi chạy trốn như vịt. Có thằng Sĩ trước làm chi bên mình đó sau về chiêu hồi, tới trường nói xấu “Việt cộng” rào rào. Hắn bị tụi em cho ăn lựu đạn, nằm chết ngay đơ ngoài sân. Thằng Bảo mở được kho súng của bọn chiêu hồi, lấy xài đã đời. Anh coi thằng mô thằng ấy cực nhanh, các-bin mới toanh, toàn đồ u-ét [30] > cả, ngon không?
Việt vỗ vai Oánh :
– Thanh niên Huế có khác, mới cầm súng đánh trận đầu đã thu được chiến lợi phẩm.
Thấy cả ba cậu đều mang súng, riêng Kỳ chỉ mang một, hai quả lựu đạn chày lủng lẳng trên thắt lưng vòng quanh cái bụng nhỏ xíu, Việt hỏi :
– Sao không trang bị súng cho Kỳ với?
Liêm ngắt lời :
– Thằng Kỳ tới sau, súng đã phát hết. Bọn em chia lựu đạn u-ét cho hắn, hắn chê không thèm lấy. Hắn nói lựu đạn chày của mình mạnh hơn.
Nhật cười rộ lên về cái thơ ngây của Kỳ. Việt động viên Kỳ :
– Lựu đạn chày cũng giết được Mỹ chớ Kỳ nhỉ. Gắng chiến đấu tốt rồi các anh sẽ trang bị súng cho. Súng địch bữa nay không thiếu gì.
Liêm đứng dậy, đưa bàn chân mang giày da đen đạp vào chiếc xe giá khẩu đại liên. Thấy bánh xe nằm y không nhúc nhích, Liêm hỏi :
– Ai vác bánh xe này, hả anh?
Việt chỉ Nhật. Huy im lặng nãy giờ thốt lên:
– Trời. Anh coi ốm rứa mà mạnh quá đa. Tôi cứ tưởng phải có xe kéo, hoặc ít ra cũng hai người khiêng mới nổi đấy.
Nhật c
– Lúc mới vào bộ đội, tôi cũng tưởng như anh. Nhưng vào rồi luyện tập mãi, nó cũng quen đi.
Liêm tiếp lời Nhật :
– Ờ. Thì cũng phải có thì giờ rèn luyện cái đã chớ. Tụi này ăn rồi đi học, chiều về đi đá banh, chủ nhật tà tà vô quán cà-phê, thấy các anh tụi này ngán quá. Nhưng độ lâu mau mới quen được hả anh Việt?
– Lâu mau gì rồi nhất định cũng quen cả thôi - Việt đáp - Miễn là mình có quyết tâm thì cái gì người khác làm được là mình làm được.
Oánh vỗ đánh bốp vào khẩu cực nhanh, giọng sôi nổi :
– Ồ, chi chớ quyết tâm thì tụi này dám bảo đảm với anh. Tụi này đấu tranh ba bốn năm rồi đó anh, đứa mô cũng học sinh ứng chiến, sống ly khai có, nằm lao Thừa-Phủ có, đâu có ngán Mỹ-Thiệu-Kỳ.
Chợt nhớ đến anh chàng mặc áo len xù hôm trước, Việt hỏi Oánh :
– Bảo đâu, Oánh?
– Ồ, anh Việt còn nhớ thằng Bảo à? Thằng đó bữa nay hách lắm... Dũng sĩ diệt Mỹ rồi đó anh.
Bằng một giọng say sưa, có pha vẻ thán phục, Oánh kể lại chuyện Bảo cho Việt nghe.
Buổi sáng ngày thứ ba, đội công tác thanh niên Thành-Nội vác loa đi kêu gọi thanh niên tham gia. Bảo đến trụ sở ghi tên ngay. Hỏi ai muốn vô bộ đội, Bảo là người đầu tiên xung phong vô bộ đội. Về đơn vị vừa học vũ khí được một hôm, Bảo đã xin cầm súng ra trận, đến đóng ở Ty tiểu học. Tổ của Bảo ra bố trí ở góc đường Đinh Bộ Lĩnh - Đinh Công Tráng chờ địch, hai xe tăng và bộ binh địch từ Mang-Cá bò ra, Bảo bắn AK, kềm cho đồng chí B.40 bò lên bắn xe tăng. Mới trận đầu Bảo đã rất gan, chờ địch đến thực gần mới bắn, và học ngay cách các đồng chí bộ đội, chỉ bắn từng loạt ba phát một. Bị tiểu liên và trung liên tạt vào mặt, bọn địch tháo chạy trở lại vào Mang-Cá, không kịp vác theo xác chết. Bảo rượt theo truy kích địch, tổ trưởng gọi mãi mới chịu quay về. Mấy hôm sau, Bảo theo tổ ra chốt ở ty chiêu hồi, chờ địch. Bữa trưa chỉ có cơm vắt và muối rang, Bảo không ăn được, lấy mứt gừng ra ngồi nhai. Đang ăn đứng dậy cảnh giới, thì thấy 15 tên vừa Mỹ vừa Pắc Chung Hi từ phía trường Bồ-Đề ngất ngưởng đi tới. Chờ chúng tới gần, Bảo nổ súng, diệt ngay 5 tên tại chỗ. Đồng chí cùng tổ nổ súng tiếp. Bọn địch còn lại hoảng hốt vừa chạy vừa kêu rống như một bầy bò, lủi trốn vào những căn nhà ở hai bên đường... Đêm nào Bảo cũng xung phong đi trinh sát. Bảo lủi đường hẻm giỏi như một con chuột cống, chộp được địch luôn mà địch thì không tài nào phát hiện được tổ của Bảo. Hôm Bảo vào sục ty chiêu hồi, nhờ biết chỗ, Bảo đã khui ra cả một kho vũ khí đủ các loại, đem trang bị cho thanh niên và tự vệ.
Nghe Oánh kể chuyện, Việt chợt thấy yêu mến Bảo lạ. Với cái bộ dáng cao bồi như thế, mới nhìn lần đầu Việt chẳng những không có mấy thiện cảm, trái lại còn để ý cảnh giác nữa là khác, không ngờ Bảo đã đến với Cách mạng một cách giản dị và chân thật như vậy. Anh hỏi :
– Bảo học ở trường nào?
Huy trả lời :
– Bảo không đi học. Hắn làm nghề thợ thổi chai, nấu thủy tinh ở đường Ông Ích Khiêm. Nhà hắn có sáu đứa em, thằng em kế hắn cũng đi bán kẹo đậu phụng. Bây giờ hắn đã là dũng sĩ diệt Mỹ rồi - Oánh chép miệng nhắc lại câu ấy, giọng thoáng một chút mơ ước.
Oánh nói tiếp :
– Các anh bộ đội gọi đùa nó là "dũng sĩ choàng ra [31] dù đen". Bởi vì đêm nào đi trinh sát, Bảo cũng khoác thêm ngoài một tấm vải dù đen rộng thùng thình như kiểu hiệp khách.
Việt cười hỏi tiếp :
– Bây giờ Bảo ở đâu?
– Đơn vị Bảo vẫn còn đánh địch ở vùng trường Bồ-Đề dưới đó. À hôm trước hắn hẹn lên Cột Cờ với anh, nhưng không lên được. Hắn nói thôi, đánh ở dưới đó thì cũng là để bảo vệ Cột Cờ. Hắn mong có dịp về gặp lại anh.
⚝ ⚝ ⚝
Trời vẫn lất phất mưa phùn. Khoảng giữa buổi sáng tổ tiền tiêu phát hiện nhiều ca-nô địch từ phía khách sạn Hương-Giang nhấp nhô chạy lên. Mọi người nhanh chóng tiến ra công sự, chiếm lĩnh trận địa. Mấy cậu thanh niên Huế nhập vào các tổ bộ binh bố trí dài dọc theo bờ thành hai bên Cột Cờ. Anh Vậy thay anh Vĩnh điều khiển trận đánh. Tổ của Oánh và Kỳ ở ngay dưới chân đài Cột Cờ, ngay trên công sự của ban chỉ huy. Việt và Nhật đã dời vị trí công sự qua góc phải của sân Cột Cờ hướng ra bờ sông ngay phía trên chỗ Oánh đứng. Việt thấy Oánh vỗ vai anh Vậy, chỉ tay xuống đường. Một người đàn ông mặc quần tây sẫm, áo sơ-mi xanh lơ bỏ ngoài, đội mũ pa- na-ma từ phía cửa Thượng-Tứ đi tới chắp hai tay sau lưng, vừa đi vừa nhìn lên Cột Cờ. Sau hắn vài chục bước, có ba người đàn ông khác, mặc quần đùi quẩy thùng đi gánh nước, mắt lấm lét ngó lên. Ba ng gánh nước rẽ xuống bến Phu Văn Lâu xong thì người mặc áo xanh cũng tà tà đi ra phía bờ sông. Việt nghe tiếng Oánh nói với anh Vậy :
– Cả vùng này không có đồng bào ở, ngày thường cũng không có ai đi lên Phu Văn Lâu gánh nước, huống là bữa nay. Mấy thắng đó là xê-i-ai chính hiệu.
Việt thấy ở đây đồng bào thường dùng chữ CIA để chỉ chung tất cả các loại chó săn của địch. Anh nói vọng xuống anh Vậy :
– Anh Vậy à, đúng là những tên do thám rồi. Nhưng cứ dò xem chúng làm gì.
Anh Vậy gật gật đầu. Ba người đàn ông vừa khuất xuống dưới bến thì một loạt pháo bay đến nổ ầm ầm trên trận địa; vài quả rơi trên mặt sân cỏ Cột Cờ còn tất cả dồn dập trút xuống mặt thành. Qua làn bụi khói mờ mịt, Việt nhìn thấy anh Vậy rút súng nhắm vào thằng do thám mặc áo xanh đang vừa đi vừa chạy qua sân Phu Văn Lâu ra ngoài bờ sông. Viên đạn nổ lẫn trong tiếng pháo không nghe tiếng.
Anh Vậy đút súng ngắn vào bao, lấy cây AK lên ngắm và bóp cò. Tên do thám ngã vật ra trên mặt đất, hai chân nó giãy lên đành đạch. Giữa lúc ấy, bọn lính cộng hòa từ bên Phu Văn Lâu tràn đến vườn cây. Lần này chúng khá đông, dễ chừng đến một C tăng cường, vừa nổ súng vừa chạy ùa tới. ĐK của địch từ bờ Nam sông Hương nã tới tấp vào trận địa ta, nhưng phần nhiều đều bay vọt qua nổ dưới chân thành hoặc vấp nổ vào mặt tường thành kiên cố, mảnh trượt bay bổng lên không. Anh Vậy vẫy tay ra hiệu khoan bắn, chờ bọn địch đến thực gần. Chúng dàn hàng ngang băng qua đường Thống-Nhất. Chờ chúng qua hẳn bên này đường, anh ra hiệu nổ súng vào đội hình chúng. Cây đại liên của Việt quét dọc theo mặt đường làm thành một hàng rào lửa chặn không cho chúng quay lại phía bờ sông. Bọn lính cộng hòa ngã nhào từng loạt như chuối bị quật gốc. Chúng chạy tán loạn, chúi đầu vào những gốc phượng và những bức tường chung quanh nhà khán đài Phu Văn Lâu. Những loạt ĐK của địch bây giờ hình như đã điều chỉnh lại, nổ gần hơn, đất bụi bay mù mịt ở tầng thấp của mặt thành. Có mấy thằng cộng hòa liều mạng, vác trung liên đến dưới gốc cây bắn tốc lên mặt thành. Oánh nhảy ra khỏi công sự, đứng thẳng dậy ép sát người vào mặt thành, chĩa súng bắn vào hỏa điểm địch. Nghe “rẹc rẹc” một loạt đã thấy cu cậu thay băng đạn. Việt mỉm cười "anh chàng này lại chơi toàn nguyên băng". Anh quét một tràng đại liên vào gốc cây, cây phượng già bị gãy ngang đổ vật xuống đường, hỏa điểm địch tắt ngấm. Ba tên cộng hòa vừa chạy ra khỏi gốc cây gặp đường đạn cực nhanh của Oánh lia đến, ngã vật xuống sân cỏ. Oánh khoái chí cười ha hả nhìn lên Cột Cờ la lớn : "Hiệp đồng ngon quá, hả anh Việt". Một loạt đạn địch bay tới găm vào mặt thành trước mặt Oánh, bụi trắng bay mù. Oánh tỉnh bơ như không, xoay xoay nòng súng bám mục tiêu ở dưới. Khẩu cực nhanh của Oánh bây giờ hình như đã chủ động hơn, nhả đạn nghe "tạch tạch tạch" từng loạt ngắn và chắc.
Giữa lúc ấy, một quả ĐK nổ ầm ngay cạnh chỗ Oánh và Kỳ đứng, đất tung lên phủ cả đầu cả vai của Kỳ và Oánh. Kỳ sợ quá nhảy xuống công sự núp. Nhưng chỉ một thoáng sau cu cậu thò đầu ra miệng hầm, ngấp nghé một lát rồi chui lên. Trận đánh vẫn kéo dài, đạn địch vẫn cheo chéo bay lên mặt thành. Kỳ đến bên Oánh, rút nắp lựu đạn, ném một quả về phía trước. Quả lựu đạn chày vụt đi một quãng, ngùng ngoằn trong không rồi rơi tòm xuống hồ, nổ đánh ầm, nước bay tung tóe. Kỳ và Oánh cười ầm lên. Lúc đó địch đã ùn lại dưới chân chiếc thềm cao của ngôi nhà khán đài Phu Văn Lâu. Anh Vậy cho điều hai khẩu cối 60 ly đến bắn ứng dụng vào đội hình địch. Một loạt súng cối rơi xuống xung quanh cái nhà gạch vuông, phá sạt từng mảng thành. Bọn địch nhốn nháo chạy ra phía bờ sông. Việt thấy Kỳ đến bên đồng chí xạ thủ, chỉ về phía cái bia xi-măng lớn cạnh ngôi nhà và hai người nói gì với nhau. Sau đó đồng chí xạ thủ số hai trao quả đạn cối cho Kỳ, Kỳ quay về phía mục tiêu đưa trái đạn lên như ngắm nghía, rồi thả vào nòng khẩu cối của đồng chí xạ thủ số một. Quả đạn phụt ra nổ ầm, chiếc bia vỡ mặt một mảng lớn, bốn thằng cộng hòa bị thương la lên như bò rống cố lê về chân khán đài, mấy thằng khác bỏ chạy. Kỳ vỗ tay reo lên, quay lại xin thả quả khác nhưng đồng chí số hai khoát khoát tay. Bọn lính ngụy tản thưa ra, rút chạy ra ngoài sông, vứt lại hơn chục xác chết nằm rải rác trên trận địa. Những chiếc mũ sắt văng nghiêng ngửa lông lốc trên mặt đường.
Tiếng súng vừa dứt, Việt và mấy anh em còn đang đứng đếm xác chết của địch trên trận địa, bỗng nghe tiếng động cơ rít lên chát tai. Anh và Nhật vừa nhảy xuống công sự thì từ cao đỉnh nhọn của ngôi nhà thờ bên kia sông, hai cái bóng to đen sì như hai con chim cắt đã sầm sầm lao vào trận địa anh. Như đã nắm chắc mục tiêu từ trước, vừa hiện ra ở bên kia sông, chúng đã bổ nhào ngay xuống trên sân Cột Cờ.
– Ầm... ầm...
- Ầm... ầm...
Hai loạt bom chát chúa làm giật nẩy không khí, cái sân cỏ dưới chân Cột Cờ rung bật lên như muốn hất Việt ra khỏi công sự. Có tiếng gọi ơi ới bên phía công sự của Hải và Chi. Khói bom đen ngòm và nóng hừng hực phả vào mặt Việt làm mắt anh cay sè. Anh cố mở to mắt nhìn chăm chăm qua lỗ máy ngắm của khẩu đại liên để nắm mục tiêu. Hai chiếc Scai-rây-đơ đã bay vòng ra xa, phía bên kia cầu Bạch-Hổ. Sau lưng anh, dưới công sự, Nhật vừa nâng băng đạn vừa kéo mấy cành ổi ngụy trang lại miệng hầm. Tiếng Nhật nói như thét lên :
– Bắn đón chúng, yểm hộ cho bên Hải. Sánh bị thương rồi.
Việt nghiến răng miết cò. Thằng giặc đi đầu, giật mình như bị ong đốt, rướn người bay lên. Nhưng từ dưới cánh nó, hai khối sắt đã nghiêng nghiêng lao đến, tròn dần trên đầu anh như hai quả bóng rồi nổ ầm ầm ngay sau lưng anh, hơi bom tạt đến xô Nhật và anh dụi tới trước. Đất hất tung vào mặt, vào cổ Việt nóng bỏng như cát rang. Mảnh thành chung quanh sân cỏ bị đánh vỡ, đập vào vách chân Cột Cờ ầm ầm và mảnh bom rít xoèn xoẹt bên mang tai Việt, bay đến chém vào thân Cột Cờ nghe choang choảng như tiếng sắt chém vào nhau. Việt không quay lại, vẫn mím môi miết cò, mặt anh châm bẩm, giận dữ. Thằng giặc thứ hai hơi giạt đường bay ra một tí, ném chếch hai trái bom xuống dưới sân cỏ Cột Cờ. Việt quay nhìn sang bên Hải. Chi đang cõng Sảnh trên vai băng qua khói bom chạy về phía cửa bậc thang, Hải từ một hố bom lóp ngóp đứng lên, cả hai khẩu 20 ly đã bị vùi đâu mất. Hai thằng AD6 từ phía ngọn sông Hương đang vòng trở lại. Việt nghe bàn tay Nhật siết mạnh trên vai anh :
– Chờ nó bổ nhào đã, đừng bắn lúc nó đang bay vòng.
Từ đôi mắt rất sâu của Nhật, hai tia sáng dữ dội bật ra. Khuôn mặt đen và lạnh của Nhật cứ lừ lừ quay theo đường bay của thằng giặc trời, như một chiếc ra-đa. Việt lầm lì quay dần họng đại liên bám lấy thằng địch. Mắt anh như đứng lại, đuôi mắt kéo dài ra, nhọn và sắc như hai lưỡi dao thép, tròng đen kéo lên cao lấp mất một nửa dưới mí trên. Cái bóng đen trùi trũi của nó đã nằm gọn trong lỗ kính tròn giữa máy ngắm. Nó vừa chúi đầu xuống thì nhanh như điện, Việt kéo cò súng.
Nhật cười thét lên :
– Chết cha mày rồi! Con ơi!
Chiếc AD6 đi đầu vọt lên cao, mang theo một làn khói đen trên đầu. Không kịp bỏ bom, nó ngoặt ra phía biển, làn khói trên đầu nó to và đen dần kéo một vết dài trên không, biến thành một khối lửa chấp chới đâm sầm xuống mảng cánh đồng xanh biếc phía xa. Thằng giặc trời bay sau hoảng hốt quăng vội một chùm bom xuống sương rồi bay vụt qua Cột Cờ cút mất.
Chỉ một phút sau, thằng L.16 lại vè vè mò đến. Nó rà dai như đỉa đói, lấc láo nghiêng bên này nghiêng bên kia nhìn xuống Cột Cờ như muốn tìm xem cái tổ phòng không của quân Giải phóng ở đây đã bị trận bom hồi nãy xóa sạch hẳn chưa. Chi ra lệnh cho tổ phòng không đề phòng pháo. Việt và Nhật đưa súng xuống công sự, rút về hầm ngồi thì quả nhiên một loạt pháo đã ầm ầm rơi xuống trận địa. Pháo bầy từ hạm tàu nó dồn dập đến nỗi ngồi trong công sự, Việt không còn phân biệt được tiếng nổ của tiếng quả đạn, chỉ nghe một thứ tiếng nổ rền liên miên vô tận như tiếng sấm làm buốt cả màng nhĩ, và cái sân cỏ Cột Cờ như sôi lên sùng sục dưới làn khói đen dày đặc, khét lẹt. Trên đầu anh, chiếc công sự dã chiến lát bằng mấy tấm phản nhún bần bật như một chiếc giường lò-xo, thỉnh thoảng lại chao nghiêng đi như một chiếc thuyền. Nhật đưa tay đẩy chiếc trụ chống trần vừa bị sức ép xô lệch đi, vừa cười hắc hắc trong khói pháo, hàm răng Nhật trắng bóng lên giữa khuôn mặt đen sì vì khói bom :
– Ngó như đi noốc [32] ấy mày ạ.
Việt thoáng nghĩ: "Dễ chừng tụi nó muốn bắn cho gãy Cột Cờ đây chắc?" Anh toan kéo Nhật bỏ hầm chạy qua chỗ tăng-sê thì một tiếng nổ đinh tai đã vỡ ra trên đầu anh, và một cái gì rất nặng như một khối đất lớn đập vào lưng anh làm cho anh té sấp xuống. Hai cánh tay anh choãi ra đỡ cho thân mình khỏi bị đè bẹp xuống đất. Anh trườn ra phía miệng hầm, vịn vào bậc thềm đất đứng lên, người vẫn cúi để tránh mảnh pháo. Căn hầm đã bị sập hoàn toàn, Nhật đang bị vùi trong đống đất và gỗ ấy. Việt nhanh nhẹn vớ lấy chiếc xẻng ngắn xúc bớt lớp đất dày ở trần, lần theo mép gỗ hất tung mảnh trần hầm lên. Nhật nằm sấp dưới đất, chiếc xà ngang trên trần hầm chặn lên gáy anh. Việt kéo Nhật lên, thấy người Nhật nặng trĩu như muốn trì lại. Việt vòng tay trái qua vai Nhật, tay kia luồn vào sau khuỷu chân bạn, bế Nhật đứng lên. Anh bối rối ghé miệng vào tai Nhật gọi lớn :
– Nhật ơi! Nhật ơi!
Việt sướng tưởng muốn điên lên khi anh thấy Nhật mở mắt nhìn anh, mặt Nhật tươi tỉnh và trong sáng lạ lùng đến nỗi anh thấy rõ cả khuôn mặt vui mừng của mình in trong mắt bạn, thấy cả bóng ngọn cờ xanh đỏ và chấm vàng ngôi sao lay động trên cao. Nhật đăm đăm nhìn khuôn mặt của Việt như thế rất lâu, rồi anh ngước mắt nhìn lên, se sẽ nói :
– Mày cố lên, chiến đấu tốt nhét
Nói xong Nhật cười, nụ cười thoải mái nở đầy cả khuôn mặt như mọi ngày mỗi lần anh ăn Việt một ván bài ù và ngồi nghe Việt đọc "Lời thú tội", hai má phính ra tròn trĩnh như một đứa trẻ con. Bỗng nhiên, cái nhìn của Nhật như đứng lại. Nét mặt của Nhật hình như dại hẳn đi.
Việt lắc lắc Nhật, gọi :
– Nhật, Nhật à!
Anh bỗng thét lên, giọng lạc đi :
– Các đồng chí hãy trả thù cho Nhật.
Trận pháo đã dứt từ bao giờ, trận địa trở lên im lặng... Từ đằng kia, đồng chí y tá và Chi, Hải vội vã chạy đến.
Đôi mắt Nhật khép lại, nụ cười hình như vẫn lửng lơ trên môi anh. Việt áp rất chặt khuôn mặt còn rất trẻ của bạn vào ngực mình, mắt Việt lại thấy cay cay giống như khi anh đứng trên trận địa khói bom tạt vào
Tối hôm ấy, đến phiên Việt gác đêm. Trời tối đặc và im lặng đến độ, vì nghe quen tiếng bom và pháo dữ dội ban ngày, bây giờ người anh như nhẹ hẫng đi. Từ phía vòm cửa hình cung xuống thang gác, một đốm lửa thuốc lập lòe hiện ra, một cái bóng dong dỏng cao tiến về phía anh. Anh cất tiếng hỏi :
– Oánh đó hả?
– Hì hì... Đánh chác túi bụi cả ngày, tối còn ngồi gác, mệt lắm hả anh Việt?
Oánh đã đến bên Việt. Việt kéo Oánh ngồi xuống cạnh mình, ngửi thấy mùi thuốc súng khen khét trên chiếc bờ-lu-dông của Oánh. Anh không đáp câu hỏi của Oánh, hỏi :
– Thế nào, tay còn nhức không?
Trong trận đánh hồi sáng, Oánh bị một mảnh pháo cắt vào bàn tay trái, vết thương khá sâu. Cô Theo băng tay cho Oánh xong, vỗ nhẹ vào vai Oánh một cái, cười bảo :
– Chịu khó ăn muỗng [33] vài bữa nghe, ông lính Liên minh.
Việt bật cười vì cái tên "lính Liên minh" ngộ nghĩnh mà Theo vẫn thường dùng để gọi các cậu học sinh vừa bổ sung vào bộ đội.
Oánh giơ bàn tay băng trắng lốp ra trước mặt, năm ngón tay nắm lại và xòe ra như để tập cho khỏi ngượng nghịu, nói :
– Đau thì chẳng thấm chi. Chỉ tức một cái là ngày mai lỡ có địch đến, anh Vậy lại không cho ra trận.
Oánh lại bật lửa đốt thuốc, nói chuyện lai rai với Việt. Oánh là học sinh phật tử. Hồi chống Thiệu-Kỳ năm 1966, Oánh vào đoàn học sinh ứng chiến, có lên học vũ khí ở Văn-Thánh bảy ngày, tham gia đủ các vụ đốt phòng thông tin và tòa lãnh sự Mỹ. Sau Thiệu-Kỳ đàn áp phong trào Huế, Oánh bị lùng bắt, phải trốn lên Kông-tum, bỏ thi mất một khóa. Năm rồi Oánh về học lại Nguyễn Tri Phương. Học hành uể oải chán nản vì sợ bị bắt lính. Từ khi Thiệu-Kỳ ra sắc lệnh tổng động viên, bọn quân cảnh không kể gì đến tuổi tác cứ thấy con trai to xác là bắt bừa chở qua quân vụ thị trấn, tống luôn vô trại nhập ngũ. Ban đêm Oánh không dám ở nhà, phải vào hồ Tịnh- Tâm thắp đèn ngồi học. Nghe bọn quân cảnh đổ xe gíp ngoài cầu, Oánh và tụi bạn tắt đèn, trèo lên cây sấu ngồi trốn, có khi trèo không kịp phải nằm nép trong bãi cỏ bên mép hồ, muỗi đốt sưng cả mình...
Sáng mồng hai Tết, nghe quân Giải phóng vào thành phố, Oánh sợ, đắp mền ngủ kỹ. Một lát sau, anh Thiết đến nhà gọi Oánh dậy. Thiết trước đây là một trong những người cầm đầu phong trào sinh viên tranh đấu. Bị bắt một lần với chị Mai, anh trốn thoát khỏi nhà giam, lên núi luôn. Gặp lại anh Thiết, Oánh mừng hết sức. Rồi có cả anh Bắc, tiểu đoàn trưởng sinh viên quyết tử phụ trách lớp học vũ khí của Oánh ở Văn-Thánh hồi 1966, đi biệt đâu gần hai năm bây giờ cũng trở về. Cả chị Mai nữa, cũng đến nhà động viên Oánh. Oánh nghĩ: "Bao nhiêu người họ học cao hơn mình, suy nghĩ chín chắn hơn mình, người ta cũng đi theo Giải phóng hết, thì mình sợ chi". Thế là Oánh ra tham gia, xung phong vào bộ đội.
Oánh vừa nói chuyện vừa hút thuốc liên tiếp, và khi hút xong một điếu, Oánh lại búng cái tàn cho nó bay ngùng ngoằn trong không. Xong câu chuyện, Oánh xoay sang hỏi Việt :
– Anh có biết anh Thiết không? Anh ấy đấu tranh dữ lắm, sinh viên ở đây gọi anh là cái lục lạc lửa. Hồi đi học, anh ấy nghèo lắm, đi đâu cũng qua mượn xe đạp của em. Anh thường nói với em : "Con người ta có hai bàn tay, phải giữ nó cho sạch. Chi thì chi, chớ đừng để cho tụi hắn bắt đi lính. Hễ bàn tay đã nhúng vào máu đồng bào rồi thì khó mà lau cho sạch". Bây giờ nghĩ lại em thấy lời dặn của anh Thiết thực là thấm thía. Tưởng tượng nếu em là mấy thằng lính nguy bị bắt hôm trước đó... Ôi cha... chắc em muốn độn thổ vì nhục.
Việt ngồi yên lặng nghe Oánh nói chuyện, thấy dần dần hiểu thêm con người và đất đai ở thành phố này. Anh thấy Huế có những cái lạ riêng của nó. Tình cảm của con người ở đây không biểu lộ một cách vồ vập sôi nổi ngay từ phút đầu, nó cứ từ tốn chung thủy mà đi sâu vào lòng người, màu sắc của nó không rực rỡ như hoa thược dược hay hoa hồng mà đằm đằm và bền bỉ như thể hoa mai. Nhưng một thành phố đẹp và trầm lặng như vậy mà đã biết vùng dậy làm cách mạng tháng Tám và rồi năm nào cũng nổ ra bão táp đấu tranh. Những cô gái kín đáo, e lệ như cô Theo, nghe nói chưa khi nào chịu ngồi ăn chung với một người đàn ông lạ, mà trong những ngày này đã vượt qua bom đạn làm em nuôi cho bộ đội. Những cậu thanh niên trốn lính như Oánh, như Bảo, khi cách mạng đến đã không chút ngần ngại xung phong vào bộ đội và đã trở thành những tay súng dũng cảm một cách không ngờ... Rõ ràng là nằm dưới móng vuốt của địch, tình cảm của Huế đã hướng sẵn về cách mạng. Trước đây, khi mới đặt chân lên đường nhựa, nhìn thấy chiếc cột cờ mọc cao vút trên những thành quách cổ kính hiện ra trước mắt, Việt đã thấy Huế đáng yêu. Anh yêu Huế, trước hết vì đấy là trận địa của anh. Nhưng so với bây giờ tình yêu ấy có khác, vì lúc đó nó còn vướng phải cái ý nghĩ “dân mệ” mà trước đây có khi anh nghe ai đấy nói về người Huế. Bây giờ thì thành phố này đã duỗi ra những cánh tay ấm áp ôm lấy tâm hồn anh, cũng như nó đã ôm lấy thân thể của Nhật và bao nhiêu đồng chí thân yêu khác của anh vào trong lòng đất của nó. Thấy đêm đã khuya, Việt giục Oánh về ngủ để lấy lại sức. Oánh đứng lên và trước khi quay đi còn đưa bàn tay mang băng trắng của mình lên nói với Việt :
– Anh Việt à, giá như bây giờ gặp anh Thiết ở đây em sẽ đưa bàn tay ni bắt tay anh ấy một cái.
Còn lại một mình, Việt mở đài bán dẫn mang theo ra nghe : Đài Tiếng nói Việt Nam đang loan đi một bản tin của các hãng thông tấn các nước nói về cuộc chiến đấu của thành phố Huế. Giọng nói rất đanh và đầy thúc giục quen thuộc của cô phát thanh viên vang lên bên tai Việt : "... trung úy Mỹ Rốt-đinh nói, chúng tôi mất một đại đội ngay khi mới vào thành phố, với khoảng 200 lính chết và bị thương... Một thượng sĩ ở một đại đội thủy quân lục chiến Mỹ nói : "chúng tôi có nhận được quân đến thay thế, nhưng đến bao nhiêu thì mất bấy nhiêu. Tôi sợ, tất cả những người quanh tôi cũng sợ, tinh thần căng thẳng suốt 2 4 giờ... Đến nay Việt cộng vẫn còn giữ vững những cứ điểm dọc theo toàn bộ bức thành phía Bắc của thành phố bất chấp những cố gắng nhằm đánh bật họ. Cờ Việt cộng vẫn bay phấp phới trên Cột Cờ chính của thành phố, trong khu cung điện...
... Hiện có một cái tên đang thu hút sự chú ý của toàn thế giới. Đó là thành phố Huế, kinh đô cũ của nước Việt Nam xưa. Ngày nay Huế đang đi vào lịch sử các thành phố anh hùng : Huế sẽ như một vầng dương trong lịch sử của mình với những dấu vết anh hùng và bất tử của những chiến công hiện nay..."
Bản tin đã làm Việt bồi hồi cảm động. Anh chợt có cái cảm giác là lạ rằng cái Cột Cờ mà anh đang đứng gác dưới chân nó, vụt cao lên, cao hơn cả đỉnh núi cao nhất trên trái đất, đến nỗi tất cả mọi người trên thế giới đều đang nhìn thấy nó. Toàn bộ kiến trúc cổ kính của kỳ đài Huế bỗng hiện ra trước mắt Việt biến dần thành hình ảnh của một con tàu vĩ đại, cái thân Cột Cờ với những dây cáp tỏa ra chung quanh, sừng sững cắm trên cái tháp hai tầng đồ sộ; thân con tàu là dãy thành cao, dài hàng cây số mang những tháp canh là những cửa ô... Và bây giờ con tàu ấy đang mang lá cờ Mặt trận trên đỉnh nó, hùng dũng vượt sóng trên một mặt biển mênh mông nào đó giữa lòng thế giới. Trên chiếc tàu ấy anh và những đồng chí của anh, là những ngườủy thủ nhỏ đang chiến đấu để bảo vệ ngọn cờ quang vinh của nó.
Từ trên dòng sông im lặng trong bóng tối phía trước mặt, Việt nghe tiếng ca-nô xình xịch từ xa, đến gần dần rồi tắt ngay trước bến Phu Văn Lâu. Những vệt sáng đèn pin chiếu loang loáng qua vườn cây, vội vã như sợ hãi rồi tắt ngấm. "Bọn mày lại mò ra nhặt xác đấy chứ gì. Được". Việt nói một mình và lên đạn khẩu tiểu liên của anh, tiến sát ra mé thành, ghim súng chờ. Hẳn là chúng nó đang lần mò đi trong bóng tối Một chiếc mũ sắt nào đó bị đá phải, lăn dài trên mặt đường, bật ra tiếng kêu khô và vang, tiếp theo một ánh đèn chớp lên rồi tắt ngay. Nhanh như chớp, Việt chĩa mũi súng về phía ánh đèn, bóp cò. Một tiếng rú bỗng vang lên trong đêm tối, nghẹn lại thành tiếng “ặc ặc” và cuối cùng là tiếng “choảng” của một chiếc mũ sắt khác vừa rơi xuống mặt đường. Khẩu súng trong tay Việt ngừng lại một chút như nghe ngóng, rồi tiếp tục quét xuống mặt đường từng loạt giòn giã.
⚝ III ⚝
Từ ngày đầu đến nay, vì phải giữ nhiệm vụ chính trong việc phòng không, Việt chưa có thì giờ đến thăm mẹ Năm. Hôm nay, sau một ngày chiến đấu quá ác liệt anh Chi bố trí Hải thay thế cho Việt được nghỉ. Buổi tối Việt xuống thăm mẹ. Mẹ Năm đang lúi húi ngồi lặt rau bên bếp lửa. Cạnh mẹ, những cây xà- lách mới nhổ và những trái su-le xanh bóng chất thành một đống nhỏ trên nền nhà. Thấy Việt vào, mẹ ngẩng lên, nét mặt mẹ mừng rỡ :
– Con đến chơi đó à?
Mẹ đẩy thúng rau sang một bên, đứng dậy đến bên Việt giọng mẹ dịu dàng :
– Các con đánh giặc gan quá, đồng bào ở đây phục lắm. Mệt lắm không con? Trán nóng đây rồi nè.
Bàn tay mát rượi của mẹ đặt lên trán Việt. Việt cảm động nói thật to để mẹ yên lòng :
– Làm việc nhiều, người nó nóng thế, chứ con vẫn khỏe mẹ ạ.
– Con ở đây ngồi chơi, để mẹ pha sữa uống cho mát.
Việt đưa mắt nhìn quanh nhà. Căn nhà lợp tôn, tường vôi; bày biện sơ sài, nhưng gọn ghẽ, phía ngoài đặt một bộ ván ngựa và một chiếc bàn bốn ghế đẩu. Một bức màn hoa chắn giữa nhà, phía sau bức màn kê một chiếc giường gỗ khá rộng, trên trải chiếc chiếu hoa mới có hình chữ thọ tròn, đỏ ở giữa. Cạnh đầu giường, một chiếc bàn sách nhỏ tựa sát vào tường, hẳn là bàn của cô Theo. Gian trong được ngăn với bếp bằng một bức vách làm bằng những chiếc thùng sắt tây ghép lại, trên những tấm sắt ấy còn mang những hình con sò của dầu hỏa và những tấm nhãn hiệu khác màu sắc lòe loẹt. Ở gian ngoài, một chiếc bàn thờ hình như mới được dựng lên, làm bằng tấm ván mộc đóng tựa vào vách, mép ngoài được giữ bởi hai sợi dây treo xiên lên mái nhà. Trên bàn thờ, hai ngọn nến trắng cháy bập bùng, một chiếc lọ cắm mấy đóa hoa vạn thọ còn tươi, nén hương cháy gần tàn tỏa mùi hương đầm ấm. Không thấy ảnh người chết, chỉ có tượng Phật lồng trong khung kính, một bát cơm lùm lùm, một đĩa thức ăn và một đôi đũa.
Mẹ Năm pha xong sữa gọi Việt :
– Vô trong ni ngồi chơi con, khách thương chi mà ngồi ngoài nớ.
Việt vào ngồi trên cái ghế đẩu nhỏ trước bàn học Theo. Thấy mẹ ở nhà có một mìnhiệt hỏi :
– O Theo đi đâu rồi mẹ?
– Con Theo hắn đi "tham gia" rồi, con nợ. Hồi chiều con Châu tới đây nói ủy ban... ủy ban chi thành lập bữa hôm đó con tề.
– Dạ, ủy ban nhân dân cách mạng.
– Phải, ủy ban cách mạng Thành-Nội thành lập, có cả con Mai tham gia nữa. Con ở trên núi có biết con Mai không?
Việt nhớ lại chị phụ nữ anh gặp hôm vượt qua sông A, để vào thành phố. Hình như chị vừa sốt dậy, da xanh mét. Chị không biết bơi, phải níu vào một bọc ni-lông thật lớn, vừa đạp nước vừa đẩy cái bọc đi, vất vả mãi mà cái bọc cứ chòng chành muốn cuốn băng theo dòng nước. Việt lội ngang qua, dìu hộ chị theo mình, hỏi : “Chị mang gì mà nặng thế?” Chị áp mặt vào bao ni-lông, cười thực hiền : "Cờ khởi nghĩa đó. Tôi sợ ướt".
Việt đáp lời mẹ Năm :
– Dạ, có phải chị Mai trước làm thợ may ở Huế?
– Đúng con Mai đó. Hồi trước con Theo nhà ni cứ xuống may áo dài dưới hắn luôn. Con đó giỏi lắm, hắn làm cách mạng ba bốn năm trời mà ngoài cứ lặng như tờ mãi tới hôm hắn bị bắt, bà con trong xóm mới biết. Nghe thằng địch đánh, địch tra tấn hắn đủ cách, đóng đinh vô cả mười đầu ngón tay hắn rồi đầy hắn lên mô trên núi đỏ núi xanh. Tưởng hắn chết đi mô rồi, không ngờ năm ni hắn về khởi nghĩa.
Mẹ Năm ngừng lại, với tay lên đầu giường lấy chiếc hộp sắt tây nhỏ vừa têm trầu vừa nói tiếp :
– Bà con ở đây khen con Mai lắm. Hắn con gái yếu đuối rứa mà ra đảm đương việc dân việc nước vững vàng không thua chi đàn ông. Bữa trước con Châu gặp hắn từ trong Nội đi ra, cõng một bao gạo cả trăm lon trên lưng. Bom đạn nước nớ mà chị em hắn cứ đi ngờ ngờ cả ngày ngoài đường, hết chỗ ni chỗ tê, lo cứu thương, lo phát gạo, đào hầm cho đồng bào, lo trăm công ngàn việc. Mấy ngày ni Mỹ hắn thả bom cùng cả Thành-Nội, người chết, bị thương không biết mấy mà kể. Con Mai bàn với con Châu lập một cái trạm cứu thương mô ở dưới Thái-Trạch để lo cứu chữa cho đồng bào. Con Châu học bác sĩ sang năm ra trường. Hắn lên đây rủ con Theo đi. Con Theo hắn thương con Mai lắm. Khi chiều hắn nhớ thằng Nhật, còn ngồi khóc thút thít. Nghe con Châu nói chuyện, hắn vùng dậy nói : "Mạ ở nhà nấu ăn cho bộ đội, con phải đi làm việc với chị Mai cái đã, con gửi lời chào anh Việt với mấy anh". Rồi hai chị em hắn kéo nhau đi mất, không kịp ăn uống chi cả.
Chiếc bàn học của Theo được trải bằng một tấm khăn xanh rộng, trên đó những chồng sách vở xếp đặt ngăn nắp, trên bàn đặt một cái chai Pê-ni-xi-lin cắm những bông hoa tím nhỏ xíu và một chiếc ảnh của một người đàn ông mặc đồ bà ba , mặt rắn rỏi như công nhân, đứng trước một căn nhà gạch bị sụp đổ. Một chiếc áo dài trắng muốt mắc trên tường cạnh bàn học. Phía tường bên kia, dựng một tấm bảng đen nhỏ, trên đó vẽ hình mấy hạt đậu và mấy phương trình hóa học viết bằng phấn màu. Việt nghĩ đấy là một bài học Theo vừa bỏ dở, trước hôm khởi nghĩa.
Căn nhà của mẹ Năm có cái gì vừa thanh bạch vừa quen thuộc và thân thiết với những gia đình ở vùng Giải phóng mà anh đã sống trong những ngày bám đất đánh địch vừa qua. Và ở đâu cũng vậy, Việt đều gặp những nét quen thuộc ấy từ lâu nay đã ăn sâu vào tâm hồn Việt thành như một thứ trực giác rất nhạy bén, anh dựa vào đó làm mẫu, cứ theo cái mẫu đó mà phán đoán khác ít khi sai lầm. Ngay cả ở trong một thành phố đầy rẫy đủ các loại địch này, chỉ tiếp xúc với ai một vài lần là Việt thấy mình đã nghĩ đúng về họ. Ai tốt ai xấu, ai thật ai giả, cứ hiện ra như in trên nét mặt họ.
Nén hương trên bàn thờ đã cháy hết. Mẹ Năm đứng dậy thắp một nén khác vừa vái vái vừa nói, giọng mẹ rơm rớm nước mắt :
– Con xa nhà tới đây, vì nghĩa quên mình, thôi cứ yên lòng ở lại với mẹ với em, với bà con cô bác, mô cũng là quê cha đất tổ. Mai mốt hòa bình thống nhất, mẹ sẽ đưa con về lại nơi chôn rau cắt rốn.
Lúc mới vào, Việt cứ ngỡ là mẹ Năm đang cúng cơm Tết cho một người nào đó trong gia đình mẹ. Bây giờ thì anh chợt hiểu người chết là ai. Nhìn mẹ lụm cụm cắm nén hương lên bát gạo trên bàn thờ Nhật, Việt thấy lòng mình quặn lại vì xúc động. Anh quay mặt vào trong tối, lấy ngón tay cái quệt nhanh vào khóe mắt.
Chiều hôm qua khi xe đến để đưa thương binh và tử sĩ đi, mẹ Năm nhất định giữ lại không cho. Theo vừa khóc vừa chạy đi pha sữa cho Sánh uống. Mẹ Năm ngồi vuốt tóc Sánh, nói : "Đưa đi mô? Bị thương thì ở lại đây, mẹ săn sóc cho. Ở đây y tá có, sinh viên y khoa cũng có, các con đừng lo. Còn anh Nhật thì mẹ thay mặt bà con ở đây xin lo liệu việc chôn cất". Anh Vĩnh phải hết lời giải thích với mẹ rằng các anh có trách nhiệm thi hành chính sách của quân đội đối với thương binh tử sĩ, mẹ mới chịu để anh em đưa Sánh lên xe về trạm phẫu. Nhưng đến khi anh em khiêng thi hài của Nhật lên thì các mẹ nhất định níu lại. Mẹ Năm nói : "Các con có bổn phận thì đồng bào ở đây cũng có bổn phận chớ. Anh ấy đánh giặc bảo vệ Cột Cờ chết ở đây thì chôn ở đây. Đất là đất của nhân dân chớ đất chi của cha ông thằng Thiệu-Kỳ mà sợ".
Nhật đã được chôn cất trong ườn rau của mẹ Năm, mảnh đất trồng xà-lách đã làm ra những bát canh ngọt ngào nuôi Nhật và các đồng chí trong cuộc chiến đấu dưới chân Cột Cờ Huế. Nơi Nhật yên nghỉ như vậy thực là đẹp, nó vừa nằm ngay trên trận địa nóng bỏng, vừa nằm trong cõi ấm áp vô cùng giữa lòng nhân dân. Bây giờ hẳn Nhật đang ngủ một giấc ngon lành. Nghĩ như thế, Việt bỗng thấy yên lòng về người bạn thân yêu đã chết. Nỗi đau đớn chợt nhẹ đi trong anh, và thay thế vào đó Việt thấy lòng mình lâng lâng tự hào về sự cống hiến của Nhật trong sự nghiệp giải phóng thành phố này. Việt muốn nói với mẹ Năm một cái gì để tỏ lòng biết ơn của anh đối với mẹ, nhưng anh sợ nói thế nó thành ra khách sáo nên anh lại thôi. Anh cầm tấm ảnh trên bàn Theo đưa đến gần đèn, nghiêng nghiêng nhìn. Người đàn ông có đôi mắt to đen và chiếc sống mũi cao trông hao hao giống Theo, dưới tấm ảnh đề năm 1952. Việt ngẩng lên nhìn mẹ Năm :
– Đây có phải là ảnh của...
Mẹ Năm đáp giọng hơi ngập ngọng vì nước trầu :
– Cha con Theo đó.
Mẹ ngừng lại, cúi xuống lấy chiếc ống nhổ ở chân giường nhổ quệt trầu, kéo cái khăn vắt trên vai lau miệng, nhắc lại :
– Cha con Theo chụp hồi kháng chiến đó.
Nghe mẹ Năm nói thế không hiểu sao lòng Việt thấy vui thêm. Anh ngồi vào phản :
– Chắc là bác trai đi tập kết ngoài Bắc phải không mẹ?
Mẹ Năm lắc đầu :
– Không. Ổng hy sinh rồi. Bị Tây nó bắn ở Chí- Long năm
Mẹ Năm đứng đậy đi thẳng ra ngoài khép cửa lại, kéo chiếc màn ở giữa nhà ra che kín cả gian trong. Dáng điệu của mẹ có vẻ bí mật như thể sợ ai ở ngoài trông thấy việc mẹ sắp làm. Xong mẹ quay vào mở chiếc rương nhỏ kê sát tường phía trên đầu giường. Mẹ lấy từ đáy rương ra một chiếc ống tre cũ đưa cho Việt :
– Đây là vật kỷ niệm của ông nhà tui.
Chiếc ống tre nhẹ, dài khoảng hai gang tay màu vàng óng, một đầu có mắt, đầu kia nút lại bằng một cái nút chai. Việt mở nút, dựng ngược ống, thổ nhè nhẹ vào bàn tay. Một tờ giấy cuộn tròn thò ra ngoài. Anh trải tấm giấy lên bàn. Đó là một lá cờ đỏ sao vàng làm bằng giấy hồng điều, ngoài biên giấy mủn ra rách lam nham, cái nền đỏ đã phai đi từng đám lỗ chỗ, nhưng ngôi sao vàng năm cánh ở giữa vẫn sắc, nhát kéo tưởng như còn mới. Và trong lòng lá cờ cuộn lại ấy là một tấm ảnh Bác Hồ cắt từ một tờ báo nào đó giấy đã cũ và ngả sang màu vàng, khuôn mặt rất gầy làm đôi mắt Bác như sâu hơn và vầng trán như rộng thêm ra. Việt thấy lòng xúc động đến bối rối không hiểu vì nhìn thấy lại khuôn mặt hao gầy khắc khổ của Bác năm xưa, hay là vì tấm lòng thủy chung của mẹ Năm, mà có lẽ là cả hai. Mẹ Năm ngồi buông chân xuống đất, chân kia co lên giường, bàn tay gầy guộc của mẹ chống cằm, miếng bã trầu đã khô lười ra bên khóe miệng. Mẹ nhìn vào khoảng không, đôi mắt lờ đờ. Mấy sợi tóc hoa râm từ đường ngôi rẽ xuống, rung rinh lên vầng trán nhiều nếp nhăn của mẹ.
Giọng mẹ xa xăm, Việt tưởng như mẹ Năm đang ngồi nói một mình với chính mẹ :
– Cờ đó ông làm hồi cướp chính quyền, năm Ất Dậu. Lúc ông đi kháng chiến, tui ở nhà sinh con Theo được ba tháng thì ông hy sinh. Ông biên thư về căn dặn tôi đủ điều dặn đi dặn lại phải đặt tên em Theo như vậy. Ông nói Theoụ Hồ ấy.
Mẹ kể lại cho Việt nghe những năm dài sống u uất dưới chân Cột Cờ này. Hồi thằng Diệm tố cộng, tuần nào tụi nó cũng bắt mẹ đi "học tập", bắt chính miệng mẹ phải nói xấu kháng chiến. Thằng quận trưởng cứ lâu lâu gọi mẹ tới, mặt lầm lầm : "Răng, mụ bữa ni còn theo Cụ Hồ nữa không?". Mấy thằng "cần lao" trong xóm cứ đem chuyện chồng mẹ đi kháng chiến để đòi đuổi mẹ đi khỏi Cột Cờ, tìm cách chiếm mất vườn xà-lách của mẹ. Theo lớn lên, bọn thiếu úy, trung úy giữ Cột Cờ ngày nào cũng vào chọc ghẹo, nói năng càn rỡ. Chúng không đánh đập gì mẹ, nhưng mẹ thấy đau đớn day dứt hơn cả đòn vọt tra tấn, vì những cái ấy ngày nào cũng xảy ra, kéo dài năm này qua năm khác, giày đạp lên một cái gì rất đỗi thiêng liêng mà mẹ tôn thờ trong lòng. Có lần bọn ngụy quyền đem ra "trình diện" ngoài Nhà hát lớn những người mà chúng gọi là “Việt cộng nằm vùng” bị chúng bắt được. Theo bộp chộp đi xem về mách lại với mẹ. Mẹ giận, cốc con gái một cái nên thân mắng : "Lớn sầm sầm cái đầu rồi còn ngu. Cha mi ngoài nớ chứ ai đó mà đi coi". Mẹ nói chuyện với Việt có lúc mẹ rơm rớm nước mắt : "Mẹ mang tiếng ở thành phố mà có sướng chi cho cam. Không hiểu răng mà cứ thấy o ép tức tối đêm ngủ đầu óc cứ bứt rứt". Mẹ kể tiếp cho Việt nghe những ngày mẹ và Theo cùng bà con đi đấu tranh chống Diệm, Khánh, Hương, Mỹ-Thiệu- Kỳ. Theo thì đi hội họp, biểu tình liên miên, mẹ cũng ở luôn ngoài trụ sở nấu cơm cho sinh viên ăn, nhà bỏ trống hàng chục ngày trời. Lâu lâu mẹ phải về một bữa đốt lại bếp lửa cho ấm nhà, vun lại luống rau bị gà bươi, rồi mẹ lại đi với bà con cho đến lúc dứt đợt đấu tranh. Mỗi lần một thằng đầu sỏ trong nguy quyền Sài-Gòn bị hất cổ xuống, lòng mẹ lại thấy vui lên một chút, nhưng chỉ một đôi lúc thôi. Từ ngoài phố về nhà, ngang qua Cột Cờ, thấy lá cờ ba sọc vàng ngoạch cứ hí ha hí hửng, phe phe phẩy phẩy, mẹ đứng lại nhổ một bãi quết trầu xuống cỏ rồi lầm bầm một mình : "thằng mô thì cũng là cái thằng ba que... một ma chớ nỏ mấy mồ" và lòng lại tối sầm xuống như đi ngoài nắng vào. Đời mẹ lại tiếp tục cái nhịp cũ với những buổi chạy vạy buồn thúi ruột, dài tưởng như không hết, lòng mẹ day dứt nhớ đến những lời căn dặn của người chồng đã hy sinh, lo nghĩ làm sao nuôi nấng đứa con gái cho nên người đàng hoàng. Cái lo nhất của mẹ là lo cô Theo lấy phải thằng chồng đi lính nguy. Gả cho con nhà ăn học tử tế thì rồi nó cũng trở thành lính, biết tính sao bây giờ... Nhưng rồi buổi tối mở đài ra nghe, nghe miền Bắc bắn rơi thêm mấy chiếc tàu bay Mỹ, nghe miền Nam chiến thắng dồn dập, hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng từ từ lên cao trên đỉnh Cột Cờ này hồi mùa thu năm xưa lại hiện về gần gũi trong tâm trí mẹ, lòng mẹ như tháng năm tháng sáu trời trở gió hướng nồm, mát mẻ, bồi hồi... Mẹ lại cuốc đất trồng rau, tần tảo nuôi con, với cái linh cảm ngày càng rõ ràng rằng một cái gì đó rất to lớn sắp xảy đến ngay dưới chân Cột Cờ này, to lớn đến nỗi nó sẽ làm thay đổi hết cả vận mệnh của mọi người ở đây, cả vận mệnh của gia đình mẹ.
Mẹ không ngờ cái ngày ấy nó lại đến sớm và đột ngột như vậy. Sáng mồng một Tết, tụi cảnh sát dã chiến còn đi từng nhà bắt bà con ra đứng chào cờ ba que. Sáng mồng hai cờ Mặt trận đã bay phơi phới trên đỉnh Cột Cờ... Mẹ nói buổi sáng ấy cả trời đất phố xá mờ mờ ảo ảo trong sương, mẹ mở mắt sờ sờ nhìn lá cờ lên mà cứ tưởng chuyện trong chiêm bao... Bỗng nhiên trong tiếng súng lặng dần, một mớ tiếng khác bắt đầu dấy lên, trong đó mẹ nghe có tiếng phèng la từng hồi như kêu như giục, tiếng mõ săng đánh lốc cốc... lốc cốc như rượt bắt, tiếng trống đại ầm ầm tưng tức như có cái chi trong ngực muốn nổ tung ra, và tiếng leng keng của đủ loại thùng sắt tây đông đảo, háo hức như tiếng cả ngàn người vừa chạy vừa hò. Cả mớ tiếng ầm ả ấy bắt đầu nổi lên ở vùng cửa An-Hòa, cửa Chánh-Tây, râm ran hết cả vùng Xã-Tắc, Tây-Lộc, cầu Đất và càng ngày càng to; càng rộng dọc theo mặt thành lan xuống Cột Cờ. Niềm hăm hở say mê của hồi còn trẻ theo chồng đi cướp chính quyền hơn hai mươi năm sại tràn trề trong tâm hồn mẹ . Mẹ chạy vào nhà xách chiếc thùng dầu hỏa ra đập liên hồi, cánh tay mẹ cứ hoa lên theo mớ tiếng thúc giục vọng lại mỗi lúc một gần. Rồi o Theo cũng xách chiếc thùng dầu xà-lách ra đánh phụ họa với mẹ, tiếp theo đó là tiếng mâm đồng, tiếng dùi gỗ đập vào ống tre... Bà con xóm Cột cờ bắt đầu nổi dậy...
Mẹ Năm nói với Việt hết chuyện này đến chuyện khác. Nét mặt mẹ như hồng hào trở lại, cái chân chim sau đuôi mắt mẹ nhấp nháy theo câu chuyện của mẹ.
Một lát mẹ bước xuống giường, đến sát bên Việt, giọng mẹ thì thào như sợ có ai nghe :
– Nè con... đến khi mô mình mới treo cờ ni như hồi truất phế Bảo Đại đó hả con?
Mẹ vừa nói vừa chỉ lá cờ sao trải trên mặt bàn. Việt hiểu nỗi băn khoăn của mẹ. Càng căm ghét lá cờ ba que thì lòng mẹ càng hướng về lá cờ của Cách mạng tháng Tám. Ngọn cờ ấy chính tay mẹ đã cầm phất lên cùng với một lần lớn dậy rất đỗi thiêng liêng của tâm hồn mẹ lúc trẻ, đã đỏ thắm thêm bằng máu của bác Năm, nên hai mươi năm dài xa vắng, tất cả niềm tin tưởng và mong đợi của mẹ đều hướng vọng về ngọn cờ ấy. Việt dịu dàng nói :
– Cái đó còn tùy ở ý muốn của nhân dân. Bây giờ trước mắt hai miền đang dốc sức đánh Mỹ cái đã. Nhưng chắc chắn thế nào rồi nước mình cũng thống nhất mẹ ạ.
Mẹ Năm gật gật đầu, im lặng. Một lát, mẹ nói :
– Nói thiệt với con, mấy chục năm trời ni tau chỉ có một chút tơ tưởng trong lòng. Lâu nay tau tần tiện cố dành dụm chút ít tiền để mai mốt làm lộ phí. Hòa bình rồi tau dắt con Theo ra thăm Hà-Nội một chuyến. Hai mẹ con tau đứng bên l đường với đồng bào, đón Cụ Hồ đi qua, để được thấy Cụ tận mắt một lần.
Mẹ Năm vừa nói vừa vuốt tấm ảnh Bác Hồ để trên mặt bàn, miệng mẹ cười cười, mắt mẹ lấp lánh ánh đèn. Giọng mẹ có cái gì quá đỗi chân thành làm cho Việt bỗng thấy mắt mình rưng rưng. Anh chợt hiểu vì sao giữa một thành phố mà đồn thù dày đặc như bát úp, quân Giải phóng đã có thể tiến vào, trùng trùng điệp điệp, giành lấy chiến thắng nhanh gọn như trở bàn tay. Đúng là vì trận địa Huế không chỉ được chuẩn bị khi mở chiến dịch. Trận địa ấy đã được chuẩn bị một cách thầm lặng từ hơn hai mươi năm nay, ngay ở lòng địch. Trận địa ấy chính là tấm lòng nhân dân Huế. Trong đau khổ uất hận. Huế vẫn trung trinh hướng về Cách mạng tháng Tám, vẫn một lòng theo Bác. Rồi đây chiến dịch này sẽ chấm dứt, nhưng trận địa ấy vẫn còn, nó sẽ được tiếp tục chuẩn bị và bảo vệ để chờ chiến dịch khác tiếp theo. Và bóng cờ Giải phóng đã được treo trên trận địa ấy sẽ tươi thắm mãi giữa lòng nhân dân Huế cho đến ngày toàn thắng. Nỗi vui sướng tràn ngập trong lòng, Việt đứng dậy đặt hai tay lên vai mẹ Năm, anh nói như nói với mẹ mình :
– Mẹ khỏi phải đi xa làm gì. Hòa bình rồi, Bác Hồ sẽ vô thăm miền Nam. Bác sẽ vô thăm mẹ con ta mẹ ạ!
1969
———————————
Chú Thích:
[19] Cây xoan.
[20] Vài cầu : vì cầu, nhịp cầu
[21] Cha.
[22] Mách.
[23] Tiếng gọi lẳng lơ với phụ nữ.
[24] Số một, đẹp.
[25] Số mười, không ra gì.
[26] Nhảy đầm
[27] Ngạo ngược, ngông nghênh.
[28] Nổi giận.
[29] Phiên âm tiếng Pháp: xung phong.
[30] US. (nhãn hiệu Mỹ).
[31] Từ tiếng Pháp drap : tấm vải trải, đây ý nói vải dù.
[32] Thuyền
[33] Thìa