Ký Sự Chiến Tranh (2 Tập)

Lượt đọc: 1885 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHÚNG TÔI Ở CỒN CỎ
(trích)
⚝ i ⚝

Cồn Cỏ, hòn đảo nhỏ bé mà chúng tôi được vinh dự đem tất cả trí tuệ, mồ hôi và xương máu ra bảo vệ nổi lên ở ngoài khơi về phía bắc vĩ tuyến 17, xa đất liền trên hai mươi hải lý. Những ngày quang mây, đứng ở Vĩnh-Linh nhìn ra, người ta có thể nhìn thấy rõ một vệt xanh lam nổi lên ở đường chân trời. Có người nói : nom nó thật hệt một con hổ đang chồm trên mặt sóng. Nhưng cũng có người lại thấy giống như một chiến hạm đang neo ngoài biển lớn. Về phía chúng tôi, đứng trên bờ đá của đảo nhìn vào đất liền cũng có thể thấy vệt xanh sẫm của những rừng dương ở Cửa Tùng, và bãi cát trắng của Vĩnh-Linh; nom thấy cả một số nơi thuộc bờ Nam thân yêu của Tổ quốc, cùng với dải Trường Sơn màu tím nhạt, nhấp nhô chạy dài tít tắp đến tận cuối trời. Quê tôi ở Triệu Phong, bên kia giới tuyến. Đồng chí Chỉ, một cán bộ của đảo cũng cgia đình ở vùng đó. Cả hai chúng tôi vẫn thường gặp nhau ở bờ đá, trong những buổi chiều hòa bình, rỗi rãi trước đây cùng hướng vọng về phía Cùa, Ba Lòng mà ngồi hàng giờ lâu không muốn quay trở lại.

Đã có không ít đồng chí khi đặt chân tới Cồn Cỏ đều phải công nhận : "Mỗi phút đứng trên hòn đảo này là mỗi phút ruột gan mình như cháy bỏng lên trong niềm đau thương vì đất nước bị chia cắt. Mỗi phút đứng trên hòn đảo bốn bề sóng gió này là mỗi phút đầu óc mình phải thức tỉnh với một tinh thần cảnh giác và sẵn sàng chiến đấu thật mạnh mẽ".

Ở đây ngay từ buổi đầu tiên đặt chân lên đảo, tất cả chiến sĩ chúng tôi đều hiểu rằng : mình đã được Đảng và Quân đội phái tới một đồn tiền tiêu khá đặc biệt. Ở đây, biển cả bao la trước mặt chúng tôi đáng lý phải đem lại nhiều điều hứa hẹn tốt đẹp; nhưng chúng tôi đều thấy như nó chỉ sẽ đưa tới nhiều điều bất trắc. Cảm giác ấy quả không nhầm. Cũng ngay trong buổi đầu tiên ra đảo, từ phía đường chân trời xa đã thấy hiện ra hai mươi tàu biệt kích Mỹ. Chúng tiến lại và bao vây, uy hiếp đảo liên tiếp ba ngày, ba đêm liền. Sau đó là những chuyện bắt thuyền đánh cá của ta một cách trái phép, máy bay thám thính tới nhòm ngó, khiêu khích... đã diễn ra gần như liên tục.

Ở đây, cũng ngay trong đêm đầu tiên ngủ trên đảo lắng nghe qua tiếng sóng thấy khá rõ tiếng đại bác từ đồn Ba Dốc (ở bên kia giới tuyến) bắn về phía những làng mạc ở Gio Linh (cũng ở trong vùng tạm chiếm). Thế là suốt đêm ấy không sao ngủ được. Nhưng, sau đó ít lâu, chúng tôi lại mừng rỡ reo ầm lên vì nghe thấy có xen lẫn cả những tiếng liên thanh, mà chắc chắn đấy không phải chỉ là tiếng liên thanh của địch. Anh chị em ta ở trong ấy đã cầm súng đứng lên và ngày một trưởng thành... Đã một vài lần, trong những cơn bão lớn, một số thuyền "trong ấy" bị nạn. Chúng tôi đã cùng nhau cứu được tất cả bà con, cô bác. Và đó làng ngày thật đặc biệt ở trên đảo. Tất cả cán bộ, chiến sĩ chúng tôi đã cùng với bà con, cô bác chia sẻ mọi nỗi niềm tâm sự. Khi chia tay, cả hai bên đều nửa cười nửa khóc. Cười vì tin rằng ngày thắng lợi chung không còn xa lắm nữa. Khóc vì quá lưu luyến. Đã có người lấy một nắm đất trên đảo đem đi. - "Ôi, hình như đây mới thực sự là Đất nước của tôi! Các anh ơi, hiểu cho nỗi lòng của bà con ở trong ấy chứ?"

Có lẽ cũng vì thế, vì tất cả những đặc điểm nói trên, mà đời sống tinh thần và tình cảm của chúng tôi trên hòn đảo tiền tiêu đột xuất này luôn luôn như mặt biển nổi sóng, không một buổi nào yên. Trời, biển ở đây quả là không hề gợi lên một chút cảm giác nghỉ ngơi nào, mà trái lại luôn luôn như giục giã chúng tôi phải làm việc, làm việc gấp hai, gấp ba khi còn ở hậu phương của Tổ quốc.

⚝ ⚝ ⚝

Nhiều người cũng đã biết : Cồn Cỏ rất nhỏ, diện tích của nó không quá bốn cây số vuông. Nhỏ đến nỗi tưởng như con gà gáy to ở đầu đảo, cuối đảo cũng nghe thấy. Tuy nhiên, Cồn Cỏ không phải là một hòn đảo trơ trụi, không màu sắc. Dù nhỏ bé, Cồn Cỏ cũng có những vẻ riêng biệt của nó với những khu rừng đại ngàn, những ngọn đồi gianh rậm rạp lá cao gần lút đầu người, với những lớp san hô rất dày ăn lẫn vào đất, làm cho người ta có cảm giác : cả hòn đảo có lẽ là do những lớp san hô tự nghìn, triệu năm về trước đã kết tụ lại mà thành. Xung quanh đảo có những bờ đá đen, từng hòn từng tảng đồ sộ, sóng biển đánh lâu ngày đã nhẵn bóng như mài. Đứng ở những bờ đá đen ấy, lắng nghe tiếng sóng gầm, rồi trở vào rừng ngắm nhìn những cây đùng đình thân cao, vằn vèo như rắn, đầy những đốt, mọc bên những cây khoai đại lá to bằng nửa cái chiếu một, không mấy ai không có một cảm giác khá đặc biệt tưởng như đứng trước một bức tranh vẽ cảnh trái đất hồi còn nguyên thủy. Rừng Cồn Cỏ còn có một thứ cây khác mà anh em chúng tôi đặt tên là cây “dầu máu”. Mỗi khi bị sây sát, nhựa cây chảy ra đỏ như máu người. Dầu máu cao to, gỗ cứng và nặng, thân thẳng, vỏ nhẵn như vỏ ổi, nom thật giống những chàng trai lực lưỡng, đầy khí phách.

Ngoài những loại cây khá lạ ấy, Cồn Cỏ còn có rất nhiều rắn, thứ rắn lục nhỏ, cắn không chết người, nhưng cũng làm cho vết thương sưng vù lên hàng tuần lễ. Trong hầu khắp các khe đá, các khu rừng, đâu đâu cũng có thể nhìn thấy những con mắt nhỏ tí đen láy, man rợ của chúng nhòm ngó, rình mò... Hồi anh em chiến sĩ ta mới ra đảo, đã có đêm rắn bò vào ngủ cả với người.

Nhưng không phải Cồn Cỏ chỉ có những thứ cây và loài vật hoang dại ấy. Cồn Cỏ còn có cả những rừng bàng đến mùa thu vàng rực cả một vùng, nom thật đẹp mắt. Anh em chiến sĩ thường hái lá đem về nhuộm áo. Có cả những rừng giâu gia, đến mùa hè, từng chùm chín đỏ, trĩu cành. Anh em lấy về từng bọc đầy, ăn chán không hết. Động vật trên Cồn Cỏ cũng không phải chỉ có rắn lục, mà còn có rất nhiều cua đá, những chú cua rất to, mai bằng bàn tay một. Chúng ở khắp các hốc đá, đêm đêm thường bò ra ăn. Đem thùng, đem bồ đi bắt về có khi được hàng gánh nặng. Những chú cua ấy thường làm cho lũ rắn lục phải kiềng sợ vì đôi càng mạnh mẽ của chúng. Cho tới về sau này, những chú cua ấy đã trở thành một nguồn thực phẩm hầu như vô tận cho chúng tôi trong những ngày chiến đấu liên miên, ác liệt. Chúng cũng đã trở thành nguồn cảm hứng cho đồng chí Cừ - một cán bộ, đồng thời là một nhạc sĩ nghiệp dư của đảo - sáng tác nên bài "Con cá đua" (có nghĩa là con cua đá) được anh em chiến sĩ rất thích. Nói tới thực phẩm, cũng cần phải nói ngay tới hải sâm. Quanh đảo có rất nhiều thứ hải sản rất quý, rất bổ ấy. Trắng có, đen có, con nào cũng to bằng ngón chân cái, dài tới hai mươi phân. Ở các bờ đá còn có cả những chú ốc nón, cạo đem về luộc ăn rất ngọt. Đó là không nói tới rất iều thứ cá biển, mùa nào loại ấy, tha hồ mà chài, lưới. Có thứ cá chỉ riêng cái thủ, cả một phân đội ăn một bừa vẫn thừa...

Trên đảo còn có những loại chim quen thuộc ở đất liền và những loài chim rất dễ đánh bạn với người. Mùa hè, chim cu cườm gáy loạn rừng, làm cho nhiều chiến sĩ ta trưa trưa thường không ngủ được vì nghe tiếng chim lại chạnh nhớ đến quê nhà. Khi gió mùa đông bắc thổi, chim én thường bay về làm tổ. Những đêm mưa, nằm nghe tiếng én lào xào ngoài mái hiên, cứ tưởng như có người lạ đứng trú nhờ.

Và giống như nhiều nơi khác trên đất nước, Cồn Cỏ cũng có một lịch sử “riêng” của nó, tuy chưa được ai ghi lại đầy đủ, tỉ mỉ. Nghe nói ngày xưa, đời nhà Trần, cũng có người ra tới đây. Nhưng đó là những người tội phạm của triều đình vì đã "nổi loạn" hoặc "chống lại nhà vua". Cho tới thời Pháp thuộc, bọn thực dân cũng đã có một thời gian dùng Cồn Cỏ làm nơi an trí các nhà hoạt động chính trị yêu nước. Ra tới đảo, những lớp chiến sĩ đầu tiên của chúng tôi, đi sâu vào những khu rừng già, đã tìm thấy trên những thân cây dầu máu có khắc những dòng chữ : Việt Nam độc lập vạn tuế nét vẫn còn khá rõ. Khi ra tới bờ đá, nơi có thể nhìn vào trong đất liền, một chiến sĩ lại tìm thấy mấy chữ “Bến sầu” cũng khắc sâu vào trong đá. Chắc hẳn ở chốn này, khi xưa những người yêu nước của chúng ta vẫn thường ra ngồi để tưởng vọng về quê nhà với tất cả những niềm đau, nỗi nhớ. Ở một góc đảo còn có một ngôi miếu đã đổ nát, không rõ ai xây và xây dựng tự bao giờ. Ở dưới chân miếu có một cái giếng, cỏ đã mọc đầy; vét lên thấy hai chiếc sọ người cùng mấy chiếc xiềng đã gỉ nát. Ngoài ra, các chiến sĩ còn nhặt được một lưỡi kiếm to bản, dài tới tám mươi phân. Lưỡi kiếm ấy cũng đã hoen gỉ hoàn toàn... Những chiếc sọ ấy là sọ ai? Những chiếc xiềng kia đã trói chặt tay ai? Và lưỡi kiếm kia ai đã dùng? Tất cả chúng tôi không khỏi bồi hồi xúc động. Hôm nay ra đả chúng tôi không còn bị xiềng chặt như các người xưa kia nữa. Tổ quốc của chúng ta đã chiến thắng! Nhân dân ta đã chiến thắng! Hôm nay chúng tôi ra đảo với tư cách là những người chủ, những người đã chiến thắng. Và hôm nay chúng tôi ra đảo chẳng còn phải để “an trí” hoặc “phát vãng” mà chính là để biến cái nơi trước đây là nhà tù của phong kiến, đế quốc thành tiền đồn, thành pháo đài chống Mỹ, bảo vệ Tổ quốc.

⚝ ⚝ ⚝

Những lớp chiến sĩ đầu tiên ra đảo đã tốn biết bao công sức để cải tạo hòn đảo này. Có những quyển nhật ký của đơn vị và một số cá nhân để lại đảo, đã ghi lại biết bao chuyện gian nan trong những ngày đầu tiên khai phá. Nào mưa gió, bão bùng, nào những ngày hè nóng như thiêu như đốt, nào rắn, nào muỗi, nào đói, nào bệnh... nếu không thật hiểu sâu sắc ý nghĩa công việc mình làm, nếu không có một lòng yêu nước nồng nàn, có lẽ khó có ai có thể hăng hái mà vượt qua được bấy nhiêu trở lực.

Những mái ngói đỏ tươi đã lần lượt hiện lên cùng với những vườn hoa xinh xắn, những con đường ngang dọc, những sân bóng phẳng phiu, những chuồng chim, chuồng lợn, chuồng bò... cùng với những vườn rau xanh tốt, gần như quanh năm mùa nào thức ấy. Cuộc sống từ đất liền đã được san sẻ ra tới đây và mỗi ngày một thêm phát triển. Các chiến sĩ đã đặt tên cho nhiều khu vực ở trên đảo : khu Hà Nội, khu Hà Đông, Sơn Tây, khu Bến Tre, khu Sài Gòn, Huế... Và cái “Bến sầu” trước đây cũng đã có một tên mới thích hợp hơn : "Bến vui". Ở cái Bến vui ấy vào những buổi chiều, những đêm trăng, các chiến sĩ ta thường kéo ra rất đông. Cũng ngóng nhìn về đất liền, nhưng không phải là để rầu rĩ, xót thương, mà để ca hát, đàn sáo vui vẻ. Không phải bây giờ các chiến sĩ ta không biết nhớ quê nhà, nhưng chính vì hiểu được ý nghĩa vinh quang của nhiệm vụ mình ở nơi tiền tiêu anh em đã yêu đảo như một quê hương thứ hai của mình.

Lớp chiến sĩ vinh quang đầu tiên ra đảo kiến thiết đã trở về đất liền gần hết. Anh em chúng tôi hiện nay là những lớp người ra kế tiếp. Đội ngũ của chúng tôi rất trẻ, tuổi trung bình của chiến sĩ là mười chín, hai mươi, tâm hồn thật tươi sáng và tinh thần thật khỏe khoắn. Bất cứ ai ra đảo đều bị cuốn ngay vào cái không khí sinh hoạt, lao động, chiến đấu thật lạc quan và mạnh mẽ của anh em. Tiếng cười luôn luôn vang rộn. Chạy, nhảy, vật..., những chàng trai mười chín, đôi mươi ấy suốt ngày làm việc và nô đùa không biết mệt. Bác sĩ Lê, một cán bộ đã đứng tuổi, có phần hơi đạo mạo, khi ra đảo được ít ngày cũng đã phải "trẻ" lại với những chàng trai tinh nghịch và đầy sức sống ấy. Anh cũng xông vào các cuộc vui chơi, các công việc học tập, lao động, hăng hái không thua kém bất cứ một người nào...

Trình độ kiến thức của anh em giờ đây cũng khác với những lớp người đã lớn tuổi như chúng tôi hồi mới vào bộ đội trước đây. Còn nhớ, ngày đầu tiên ra đảo tôi gặp một chiến sĩ đang xoay trần hì hục đào đá ở một cửa hầm, mặt mũi rất chất phác nói một cách "văn vẻ" là : toàn thân cậu ta như còn toát ra mùi ruộng đất. Khi hỏi đã học tới lớp mấy, thì anh chỉ nhoẻn cười không đáp. Gặng mãi, anh mới nói thật là : "làm giáo viên cấp ba!". Và sau đó, khi đã quen nhau hơn, tôi mới hiểu rõ : anh rất mê những tác phẩm cổ điển cũng như hiện đại của các nhà văn, nhà thơ có tên tuổi trong và ngoài nước.

Một trường hợp khác : có bữa ngồi với mấy chiến sĩ thông tin, hóa học, cũng là những thanh niên nông thôn rất hồn nhiên, giản dị, chỉ một lúc sau, tôi đã được nghe anh em nói không những rất thông thạo về cách đặt dây khoai, hom mía, cách chọn lúa giống, cách ủ các loại phân chuồng, phân xanh; mà còn nói được khá dễ hiểu về các vấn đề viễn thông vũ trụ và nguyên tử... Lẽ cố nhiên không phải phần l anh em chiến sĩ trên đảo đều có trình độ văn hóa khá cả. Lớp 3, lớp 4 vẫn còn. Nhưng rõ ràng là tầm kiến thức của anh em không phải chỉ đóng khung trong những chương trình ở lớp học. Từ ngày xây dựng xã hội chủ nghĩa cho tới nay, toàn dân ta, trong đó có những anh em thanh niên này, đã được hấp thụ nhiều điều mới mẻ. Trí óc và tầm mắt của anh em đã được mở rộng ra không ngừng qua biết bao cuộc học tập chính trị, thời sự, và những cuộc tiếp xúc thưởng thức văn học, nghệ thuật trong nước ngoài nước. Anh em cũng thường được nghe phổ biến khoa học, kỹ thuật và được trải qua không ít cuộc vận động cải tiến quản lý kinh tế ở nông thôn cũng như ở thành phố. Vì thế, ở đảo có cả những thanh niên rất tài hoa, chẳng khác gì những nhà nghệ sĩ hoặc những kỹ thuật viên đã được đào tạo trong các nhà trường chuyên nghiệp.

Lê Ngọc Vân, cây súng máy cừ khôi nhưng đồng thời lại là một "nghệ sĩ nhào lộn có tiếng" của đảo. Trong buổi liên hoan nào mà Lê Ngọc Vân trình diễn tiết mục nhảy qua vòng lửa thì thật là rôm rả.

Pháo thủ Lâm Văn Hiếu, cũng một tay súng giỏi nhưng đồng thời lại là một nhạc sĩ nghiệp dư, một tổ viên đắc lực của câu lạc bộ đảo. Không một ai không mê cây sáo trúc và cây đàn bầu của anh. Đáng chú ý là cây đàn bầu ấy đã do chính bàn tay khéo léo của Hiếu tự chế lấy bằng các vỏ hộp đạn và cành tre nhặt nhạnh ở trên đảo. Bùi Thanh Phong, một chiến sĩ trẻ phơi phới tuổi thanh xuân, cũng là một pháo thủ giỏi đồng thời là một trung phong cứng của đội bóng thanh niên trên đảo. Phong lại còn là một người rất thích nuôi chó. Bầy chó ở trên đảo rất quyến luyến anh. Có một lần, trong một đêm mưa rét, con Sao Sa - một con chó cái rất mắn đẻ - càm về hai con chó nhách đã lả đi vì rét và đói. Bùi Thanh Phong thương chúng quá. Anh cùng với Đinh Kinh, một chiến sĩ ưu tú của đảo nhóm lửa sưởi rồi hì hụi nấu cháo cho chúng. Hai người đã thay nhau chăm sóc lũ chó nhách ấy cho đến khi chúng khỏe khoắn và lớn lên thư t

Nguyễn Văn Thiêm là một chiến sĩ quan trắc; nhưng với một tinh thần hăng say và óc tháo vát, anh đã tự động mày mò tìm hiểu, học cách sử dụng và sửa chữa được khá nhiều thứ vũ khí khác nhau; đến nỗi quân khí viên Nguyễn Đức Báu, một người về sau này đã nổi danh là "kỹ sư chưa qua trường học" đã phải ngạc nhiên và coi Thiêm như người thay thế số I của mình, mặc dầu Thiêm không hề ở tổ quân khí lấy một ngày.

Nghị, chiến sĩ bắn súng máy vào loại "cứng", có thể soi gương tự cắt tóc cho mình trông cũng khá gọn mắt. Với cái tài ấy, anh đã phục vụ rất đắc lực cho cả đơn vị. Ngoài ra, anh xạ thủ cao lớn, hiền lành đó được toàn đảo liệt vào hàng ngũ những cây đơn ca và ngâm thơ có nhiều triển vọng. Phương, Tràng, Bường... các chiến sĩ thông tin, mỗi anh cũng đều có một "tài mọn". Tràng chơi đàn, Phương vẽ, Bường hát. Cả ba cũng đã đóng góp tích cực trong công tác câu lạc bộ chung của chúng tôi.

Còn có thể kể ra đây nhiều người hơn nữa, vì hầu như tất cả cán bộ, chiến sĩ trên đảo người nào cũng có những nét đặc sắc riêng trong cá tính, tâm hồn và những khả năng phong phú, chỉ có khác ở người này những sắc thái và khả năng ấy bộc lộ ra rất dễ nhận thấy, còn ở người khác thì tất cả những cái đó lại lẩn kín vào bên trong, chỉ có lúc nào đó mới phát lộ ra, và khi ấy mới thấy rằng: các chiến sĩ ta, cán bộ ta quả là ai ai cũng đều tết đẹp như hoa mùa xuân, tất cả đều xứng đáng là những người con yêu quý của Tổ quốc, của Đảng.

Tâm hồn, trình độ, nói chung gần nhau như vậy, thêm nữa lại cùng chung nhiệm vụ ở trên hòn đảo tiền tiêu đột xuất này, cho nên tất cả chúng tôi đều rất thân nhau, yêu quý nhau vô hạn. Nói một cách khác : nhiệm vụ đặc biệt, trên hòn đảo tiền tiêu này, cùng với tất cả những sự gần gũi về tâm hồn, cá tính, trình độ, đã gắn chặt chúng tôi lại một tập thể keo sơn trong một mối tình đồng đội, đồng chí thiêng liêng chẳng khác gì một tập thể thủy thủ trên một con tàu biển. Chúng tôi biết: mỗi người chúng tôi là một thành viên không thể thiếu trong cái tập thể được tổ chức rất chặt chẽ này. Ở đây, chúng tôi phải cánh sát cánh với nhau và thương yêu nhau, tin tưởng nhau hơn lúc nào hết; có như thế chúng tôi mới có thể đứng vừng ở nơi "đầu sóng ngọn gió", và mới có thể chiến thắng được mọi kẻ thù.

⚝ II ⚝

Ngày 5 tháng 8. Một ngày không sao quên của nhân dân toàn quốc ta; Bọn Mỹ đã ngang nhiên dùng không quân đánh phá một số địa điểm của miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Cuộc chiến tranh trên phạm vi toàn quốc cũng coi như bắt đầu từ đấy. Ở Cồn Cỏ, chúng tôi đã sống trong tháng ngày thật sôi sục. Tập họp dưới ngọn cờ, tất cả anh em chúng tôi cùng thét lên át cả tiếng sóng biển : "Đả đảo đế quốc Mỹ xâm lược!", “Phải trừng trị đích đáng bọn Mỹ xâm lược!” Chúng tôi gửi về đất liền lời chào mừng những chiến công đầu oanh hệt của Quảng Ninh, Lạch Trường, Bến Thủy, sông Gianh... chào mừng riêng chiến công vẻ vang của các bạn hải quân Việt Nam trẻ tuổi anh hùng.

Ngày 5 tháng 8! Không sao quên được! Những trái bom của giặc Mỹ và tay sai đã trút xuống. Những làn khói đen đã cuồn cuộn bốc lên cùng với những đám cháy ở nơi này nơi khác. Bầu trời hòa bình của miền Bắc xã hội chủ nghĩa bắt đầu nhuốm khói lửa từ hôm ấy. Lịch sử đã mở sang một trang mới. Trên đảo, Đảng ủy nhóm họp và đã nói cho các cán bộ, chiến sĩ rõ : Từ hôm nay chúng ta bắt đầu chuyển sang thời kỳ chiến đấu thực sự. ..

Những ngày hòa bình ở miền Bắc thế là đã chấm d

Lệnh báo động được ban bố. Toàn đảo chuẩn bị gấp rút mọi mặt, nhất là về mặt hầm hố, công sự và sơ tán đội hình . ..

Hàng năm, cứ đến ngày mồng 8 tháng 8 là chúng tôi mở hội. "Ngày sinh của đảo". Năm nay, vì đất nước đã có ngày mồng 5 tháng 8, nên, mặc dầu vẫn chuẩn bị liên hoan như thường lệ, chúng tôi vẫn sẵn sàng chiến đấu. Nhưng có điều đặc biệt là trong ngày kỷ niệm long trọng này, thâm tâm từng người chúng tôi ai ai cũng muốn, nếu bọn Mỹ dẫn xác tới đây, quyết sẽ đánh cho chúng rơi rụng tơi bời, lập thành tích để vừa ăn mừng đảo, vừa góp phần trả thù cho đồng bào trong đất liền.

Thật là "cầu được ước thấy". Đúng buổi sáng hôm đó máy bay của bọn Mỹ kéo tới, cứ hai chiếc một, lượn vòng quanh đảo, hết ngoài xa lại vào gần, chúng có ý muốn thăm dò "gân cốt" của Cồn Cỏ.

Tiếng động cơ phản lực rú hét liên hồi như "loa như quỷ". Nhưng không có một ai hoảng sợ trước cái thuật "tác động tinh thần" của chúng.

Những nòng pháo quay loang loáng dưới ánh nắng chói chang.

– Trời! Tụi nó dát như cáy thế kìa! Vào đi! Vào nữa đi xem nào! - Những anh chiến sĩ bồng bột, nóng nảy đều kêu lên, làm cho những đồng chí chỉ huy phải ra lệnh "Im lặng để theo dõi địch".

Đếm tới vòng thứ mười một, chiến sĩ Ngụ đã nản :

– Thôi, thế là có lẽ chúng chỉ tới biểu diễn để chào mừng sinh nhật đảo rồi về cũng lên!

Nhưng không, tiếp đến vòng sau, hai chiếc phản lực bắt đầu lao vào sát đảo, rất thấp, chỉ trên nghìn mét. Lập tức, khẩu đội của Ngụ cùng các khẩu đội bạn nổ vang. Từng bó lửa đạn tung vút lên không, phóng rất trúng vào đầu chiếc phản lực thứ nhất. Tất cả mọi việc chỉ xảy ra trong chớp mắt. Chiếc máy bay kẻ cướp ấy bốc cháy, lảo đảo quay ngoắt trở ra. Nó bay xa dần, kéo theo sau một dải khói đen kịt, rồi như một con muỗi mắt, nó rơi tụt xuống biển cách đảo trên mười hải lý. Chiếc phản lực thứ hai không dám đánh nữa. Nó bay đuổi theo chiếc máy bay bị cháy rồi cứ lượn vòng mãi ở nơi tên bạn của nó vừa đâm đầu xuống.

Ngay chiều hôm ấy, điện từ trong đất liền gửi ra cho biết : Bộ Tổng tư lệnh đã quyết định tặng thưởng cho Cồn Cỏ Huân chương Chiến công hạng nhất, đồng thời trung đoàn, Quân khu cũng đã đề nghị lên trên xét duyệt cho Cồn Cỏ danh hiệu “Đơn vị quyết thắng”. Toàn đảo tưng bừng, phấn khởi. Đồng chí chính trị viên lập tức thành lập một đội múa lân và cho anh em ráo riết tập văn nghệ để đón Huân chương. Những “nhân vật tài hoa” trên đảo lại được dịp trổ hết khả năng để trang hoàng doanh trại, làm bích báo, vẽ đầu lân, huấn luyện bài hát mới, dựng hoạt cảnh...

Nhưng, rồi cái chương trình vui ấy không có dịp nào thực hiện được nữa, vì ngày hôm sau, bọn Mỹ không ngừng cho tàu chiến tới bao vây, uy hiếp. Đêm nào cũng nghe thấy tiếng máy rù rù ở ngoài xa. Rồi những ánh đèn lấp lóe lúc ẩn lúc hiện ở trên những lớp sóng cồn cào, đen sẫm.

Công việc chiến đấu của chúng tôi do đó càng thêm khẩn trương hơn. Trước đây cũng đã có cuộc vận động thanh niên xây dựng "chi đoàn thép". Sau đó Đảng uỷ đảo phát động tiếp một đợt thi đua giành danh hiệu "chiến sĩ 5-8", "đơn vị 5-8". Sang cuối tháng 10, một phong trào mới lại được đề ra : Phong trào "Giành danh hiệu đoàn viên Nguyễn Văn Trỗi". Nội dung chủ yếu của cácng là tăng cường củng cố công sự, trận địa, mài sắc tinh thần cảnh giác, chuẩn bị đầy đủ để sẵn sàng có thể chiến đấu bất cứ ngày đêm, bất cứ với lực lượng nào của quân thù.

Mọi chủ trương của Đảng bộ đã thấm sâu dần xuống anh em chiến sĩ và đã trở thành những sức mạnh vật chất thật sự. Những con số thi nhau nhảy lên vùn vụt. Những kỷ lục luôn luôn bị phá vỡ. Có chiến sĩ trước đây mỗi ngày chỉ đào được ngót một mét khối đất hoặc hơn thế chút ít, nhưng trong đợt thi đua mới, chính những chiến sĩ ấy đã nêu lên những kỷ lục không nhỏ : tám mét khối trong ngày. Người đào kém nhất trong đơn vị cũng đạt sáu mét khối. Khẩu hiệu “đổ mồ hôi đỡ tốn máu” được lan rộng trên khắp các khu vực, các trận địa. Các chi đoàn, với cái nếp quen thuộc cũ, luôn luôn mở những cuộc tranh luận sôi nổi trên diễn đàn về các biện pháp nâng cao năng suất, và việc tổ chức chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu sao cho thật tốt để tiêu diệt máy bay Mỹ nhanh hơn, gọn hơn và nhiều hơn trận mồng 8 tháng 8.

Bước sang tháng 11, ở đất liền đã chớm lạnh, nhưng ở đây biển vẫn giữ được hơi ẩm. Công việc chuẩn bị chiến đấu của chúng tôi vẫn tiếp tục tiến hành với một nhịp điệu đều đặn, và những nếp sống mới mẻ trong chiến đấu trên đảo đã trở nên bình thường. Chúng tôi đã quá quen với những chuyện tàu địch rình mò, hăm dọa...

Buổi chiều ngày 25, đồng chí Chỉ, như thường lệ, đi kiểm tra các kho gạo, thấy có chuột bèn dắt bầy chó đi. Bầy chó đã được huấn luyện, tinh khôn như chó săn. Chỉ một lúc sau, đồng chí đã trở về vui vẻ tuyên bố : "tiêu diệt được hai mươi tên". Tới khi buông màn đi ngủ, anh vẫn còn say sưa mãi với cuộc “vây lùng” rất mưu mẹo của mình và khen mãi con Sao Sa rất dũng cảm, tinh khôn và hai con chó con bụ bẫm mà Đinh Kinh và Bùi Thanh Phong đã chăm bẵm cũng rất hăng hái. Tuy vậy, trước khi đi ngủ, anh v đồng chí chỉ huy trưởng đã không quên nhắc nhở các đơn vị tăng cường tuần tra cảnh giới vì đã có những triệu chứng khang khác, không thể coi thường. Mấy hôm nay biển động dữ, sóng ầm ầm suốt ngày đêm. Ở chân trời thấy xuất hiện những dấu vết khả nghi. Máy bay trinh sát của địch đã lướt qua đảo mấy lần. Lúc xẩm tối, các đài quan sát lại báo cáo về : ở hướng đông nam có một đèn xanh; hướng đông bắc, hai đèn đỏ; phía tây cũng có vệt sáng. Mà hẳn hoi đó chẳng phải là đèn, là vệt sáng của đồng bào chài lưới. Đảng ủy phán đoán : Đêm nay dịch sẽ hoạt động mạnh.

Khoảng 12 giờ khuya, sau khi đã làm nốt một số công việc, tôi tắt đèn đi ngủ, vừa mới chợp mắt được một lúc, bỗng nghe thấy tiếng nổ đùng đùng. Mọi người đều bật trở dậy. Tôi cũng vội nhào ra cửa. Cả bầu trời đã sáng lòa dưới ánh đèn dù, pháo sáng. Đạn địch từng luồng đỏ lừ đan ngang đan dọc. Sáng quá sáng đến nỗi nhìn xuống mặt đất thấy cả những chú kiến đang chạy lăng xăng. Địch bắn dồn dập. Có đủ các cỡ đạn 105 ly, 75 ly, 20 ly, 81 ly... Tôi ra chỗ cột cờ để cùng hội ý với các đồng chí chỉ huy, quan sát. Cách đấy không xa, một chuồng lợn đang bốc cháy. Những chú lợn béo mụ của chúng tôi đang phóng ra khỏi chuồng, lao bạt vào các khu rừng bên cạnh. Nhìn ra biển chỉ thấy đen kịt và chỉ nghe thấy tiếng tàu địch rù rù lẫn trong tiếng sóng. Đảng ủy ra chỉ thị : Cứ phục sẵn, chờ thời cơ thuận lợi sẽ giáng trả lại chúng những đòn quyết liệt như kế hoạch đã định. Có phương hướng rồi, tất cả chúng tôi tỏa nhanh đi từng trận địa, từng khu vực để phổ biến cho các cán bộ, chiến sĩ.

Toàn đảo thật là bình tĩnh, mặc cho những khẩu pháo của chiến hạm địch vẫn nhao nhao sủa. Trên vị trí của mình, một đồng chí vừa quan sát vừa làu bàu chửi bọn Giôn-xơn nhát như cáy. Một chiến sĩ thông tin nói vui với đồng chí Chỉ :

– Mai chúng tôi sẽ tha hồược vớt cá! Bọn Mỹ bắn "tài" lắm, xem ra "trúng" biển khá nhiều đấy, thủ trưởng ạ!

Trận tập kích pháo hèn hạ của lũ giặc Mỹ chỉ kéo dài thêm vài chục phút rồi chấm dứt. Hèn hạ đến nỗi lúc rút lui, những chiếc tàu ăn cướp ấy phải tắt máy cho trôi đi, tránh không để chúng tôi theo dõi tiếng động của chúng. Mấy đám cháy nhỏ đã tắt. Kiểm điểm lại : sự thiệt hại của đảo không có gì ngoài một chuồng lợn, mấy chuồng gà, vài vườn rau bị thiêu hủy và một chiến sĩ công binh bị sây sát chút ít vì mảnh gạch đá văng phải. Đêm trở lại yên tĩnh. Khi đặt mình xuống giường lại chỉ nghe thấy tiếng sóng biển ì ầm vang vọng bốn chung quanh đảo, và tiếng chân những chú cua đá bò ra ăn đêm lại lạo xạo xa gần. Cái tiếng êm ái và thân thuộc ấy cho mãi về sau này, khi cuộc chiến đấu trở nên rất tàn khốc ở trên đảo, vẫn không hề mất đi, mà đêm đêm vẫn nổi lên như muốn nhắc nhủ chúng tôi rằng cuộc sống ở trên hòn đảo này là bất diệt, không có một sức mạnh tàn phá nào hủy diệt nổi.

Trận tập kích bằng pháo hạm của địch quả thật không những đã không gây cho chúng tôi những thiệt hại gì đáng kể, trái lại chúng tôi đã rút được nhiều kinh nghiệm bổ ích vì cũng coi đó là một cuộc “tập dượt”. Qua cuộc "tập dượt" ấy, chúng tôi đã bổ sung được thêm một số vấn đề cần thiết trong công tác tư tưởng và trong kế hoạch quân sự trên đảo. Ấy là chưa kể tới số cá chết nổi trắng xóa trên mặt biển mà đồng chí thông tin đã nói với đồng chí Chỉ trong đêm trước : "Bọn Mỹ bắn trúng biển khá nhiều đấy!".

Liên tiếp từ đó cho tới Tết Nguyên đán, bọn tàu chiến Mỹ lại mò đến sáu lần nữa. Cả sáu lần, chúng đều ồ ạt bắn phá trong vài chục phút rồi lại rút chạy. Nhưng dù sao cũng phải nói tới lần tập kích thứ sáu của chúng! Ấy là đêm ba mươi Tết, cái đêm trừ tịch theo phong tục cổ truyền đẹp đẽ

Mặc dầu cuộc sống của chúng tôi đã chuyển thực sự sang thời kỳ chiến tranh từ lâu rồi, nhưng Tết đến, chúng tôi vẫn muốn trong một chừng mực nào đó cố gắng duy trì, tổ chức những cuộc vui chơi đầm ấm cho chiến sĩ. Nhà câu lạc bộ, doanh trại đã được quét dọn, trang hoàng từ những ngày hai mươi tám, hai mươi chín âm lịch. Phương, anh chiến sĩ thông tin, phó chủ tịch hội đồng quân nhân vừa chững chạc vừa tài hoa đã tốn khá nhiều công sức để vẽ những bức tranh xuân có đủ cành đào, hoa cúc, pháo nổ. Hướng, một cán bộ trẻ tuổi mới trưởng thành từ lớp nghĩa vụ 1958 lên, say sưa làm một cây hoa giấy để tổ chức trò “hái hoa năm mới”. Áp cũng một cán bộ trẻ, đầy nhiệt tình và nhiều triển vọng, xung phong nhận tổ chức các trò câu cá, ném vòng ăn giải. Các nhà bếp thì nhộn nhịp mổ lợn, gói bánh, giã giò. Tiếng dao tiếng thớt khua rộn rã suốt ngày không ngớt. Anh em đã đem hết tâm hồn mình ra để làm việc. Hình như càng căm thằng Mỹ, anh em càng làm việc thật hăng để cho chúng biết : "Bọn tao vẫn đàng hoàng ăn Tết đây, không sao cả!".

Đêm ba mươi. Bầu trời ngoài biển hình như không tối bằng trong đất liền. Không có mùi khói pháo. Không có một tiếng khánh đất rung reng trong gió, nhưng trái tim chúng tôi cũng vẫn thấy êm dịu trong những cảm giác phơi phới, nhẹ nhàng và đầm ấm. Chúng tôi đem những bộ quần áo đẹp nhất ra mặc. Các phòng họp đều sáng trưng ánh đèn. Các đồng chí cán bộ, chiến sĩ thay nhau lên chúc tụng năm mới, rồi cùng ca hát và tham gia các trò vui. Anh em cười bò ra, hết sức thú vị khi tới trò hái hoa, hai đồng chí Phúc và Sen (hai cán bộ của đảo) phải đút kẹo cho nhau ăn, nom ngộ nghĩnh như hai cô bé. Tới khi đồng chí Cừu, một cán bộ, và pháo thủ Xiểu bò ra làm bạch tuộc; người bò ngang, người thách dọc, chân tay lều nghều, cũng không một ai nín được cười. Thấy anh em vui, lòng tôi càng dào dạt niềm sung sướng. Tôi hiểu : có được niềm vui giòn giã như thế này không phải dễ. Đừng có ai nghĩ các chiến sĩ ta trẻ tuổi, hồn nhiên nên niềm vui cũng đơn giản. Tôi biết có anh lúc trời vừa xẩm tối còn ngồi c đầu im lặng rất lâu trước trang nhật ký, nhưng khi bước qua ngưỡng cửa vào trong phòng họp, gương mặt lại trở nên tươi tắn như thường. Anh em đều biết chia sẻ và cùng đóng góp những niềm vui chung, vì ai ai cũng hiểu niềm vui ấy cũng là một trong những yếu tố tạo nên sức mạnh của toàn đảo.

Cuộc liên hoan mỗi lúc một thêm rôm rả. Nhưng tới 21 giờ 30, chợt một chiến sĩ trực canh hiện ra ở khung cửa, súng khoác chéo trước ngực, nét mặt trang nghiêm. Tất cả mọi người đều quay lại. Một chiến sĩ đang đơn ca, ngừng ngay ở giữa câu hát. Những người chơi hái hoa cũng hạ cánh tay xuống. Mọi người đều biết có chuyện gì xảy ra rồi. Điện từ các đài quan sát báo về : tàu chiến địch xuất hiện ở phía đông...

Đồng chí chỉ huy trưởng từ đám đông đang đứng vây quanh "cây hoa" bước ra. Động tác của anh rất nhanh nhưng phong thái vẫn thật ung dung, thoải mái. Anh ôn tồn ra lệnh cho anh em giải tán, trở về vị trí chiến đấu. Ở gần anh đã lâu lâu, tôi đã hiểu được con người trầm tĩnh và tế nhị này phần nào. Nhưng tới bây giờ tôi càng hiểu anh hơn. Sự bình tĩnh và tác phong rất nghiêm chỉnh nhưng hết sức dịu dàng của anh đối với chiến sĩ trong giây phút này làm cho tất cả mọi người cảm thông được ngay những ý đồ của anh một cách nhanh chóng.

Đèn lửa tắt hết. Tất cả các khu nhà biến mất trong bóng tối mung lung. Tôi cùng các đồng chí cán bộ chỉ huy quay trở ra chỉ huy sở. Qua một vị trí pháo, tôi dừng lại bên một chiến sĩ. Chiếc mũ sắt che tới gần hết khuôn mặt của anh. Tôi nắm lấy cánh tay tròn lẳn và nóng hổi của anh, và nhận ra đó là một trong những tay mê chơi nhất lúc liên hoan ban nãy.

– Thế nào? Sẵn sàng nhả đạn chứ?

– Báo cáo, sẵn sàng lắm rồi!

– Cóếc cuộc vui không?

Anh chiến sĩ khẽ cất tiếng cười, đáp :

– Cũng chẳng tiếc lắm. Mà bọn Giôn-xơn đến, may ra đảo ta lại có chiến công làm quà đầu năm thì thật tuyệt!

Nhưng rồi anh lại bổ sung :

– Tuy vậy, thú thật với đồng chí, chỉ tiếc là chưa được nghe thư Bác!

Tiếng tàu địch trước còn mơ hồ lẫn trong tiếng sóng, lúc này nghe đã rõ mồn một. Vẫn lại cái tiếng rù rù nghe rất ám muội và độc ác. Nhìn ra xa, biển vẫn đen ngòm và bầu trời mù xám, đường chân trời chìm trong bóng tối. Gió lạnh thổi phần phật. Chúng tôi cùng dựng cao cổ áo vải cao-su lên. Một vài hạt mưa lất phất. Trái đất hình như tuyệt đối im lặng. Lạnh, bực dọc và bứt rứt. Tiếng tàu địch vẫn rù rù quẩn quanh mãi ở ngoài xa y như chúng chỉ có thể tiến được tới đó là vấp phải một bức hàng rào vô hình không tài nào vượt nổi nữa. Ở một ổ súng nào gần đó bật lên một câu chửi cáu kỉnh :

– Tổ cha nó, lại chỉ quấy rầy! Mỗi năm có một đêm ba mươi Tết...

Một lúc sau, những tiếng rù rù nhỏ dần, xa dần, rồi mất hẳn. Các đài quan sát báo về: tàu địch đã rút.

Hết báo động.

Và lúc đó cũng đã hai mươi ba, giờ khuya. Cuộc vui lớn không thể tiếp tục được vì vẫn phải cảnh giác, đề phòng tàu địch bất thần quay trở lại. Tuy vậy các cuộc vui nhỏ vẫn nổ ra ở ngay tại các hầm, và các trận địa chiến đấu. Chỗ này là một cuộc họp đồng hương; chỗ kia là một nhóm chơi bài, uống trà, ăn kẹo để đón giao ta. Đồng chí Sen và chúng tôi đã nghĩ ra được một cách : mở đài thu thanh ở tổng đài truyền qua hệ thống dây nói đi tới các khu vực, các trận địa, để các chiến sĩ đều nghe được thư Bác.

Chúng tôi hồi hộp đón đợi; chén nước ấm trong tay; khẩu hiệu mừng xuân đỏ hồng trên vách hầm.

Đúng hai mươi bốn giờ, trong máy thu thanh, tiếng pháo bắt đầu nổ. Xen lẫn vào những tiếng pháo tép râm ran, tưng bừng là từng quả pháo đùng nổ điểm nhịp vang động làm cho không khí trên toàn đảo thêm tràn ngập hương xuân. Tiếp đó là giọng nói xiết bao quen thuộc, đầm ấm của Bác Hồ cất lên từ Thủ đô xa xôi vọng đi bốn phương trên Tổ quốc và khắp cả năm châu, bốn biển :

Đồng bào thân mến,

Nhân dịp năm mới, tôi gửi lời chúc mừng thân ái nhất đến toàn thể đồng bào miền Bắc và miền Nam, toàn thể chiến sĩ và cán bộ, đến các cụ phụ lão, các cháu thanh niên và nhi đồng, đến kiều bào ta ở nước ngoài.

Tôi thay mặt đồng bào ta gửi lời chúc mừng tốt lành nhất đến nhân dân các nước anh em trong phe xã hội chủ nghĩa, đến nhân dân các nước trên thế giới, đặc biệt là các nước bạn Á - Phi, và Mỹ la tinh.

Sau đây là vài vần nôm na chúc đồng bào năm mới :

Chào mừng Ất Tỵ xuân năm mới

Nhà nước ta vừa tuổi hai mươi

Miền Bắc xây dựng đời sống mới vui tươi,

Miền Nam kháng chiến ngày càng tiếới,

Đồng bào hai miền thi đua sôi nổi,

Đấu tranh anh dũng, cả nước một lòng

Chủ nghĩa xã hội nhất định thắng lợi!

Hòa bình thống nhất ắt hẳn thành công!

Chúng tôi cùng lắng nghe và cuối cùng đều thốt lên :

– Bác vẫn khỏe lắm!

– Sang năm mới nhất định chúng ta phải cố lập nhiều chiến công để dâng lên chúc thọ Bác.

Nghe xong thư, các đồng chí chỉ huy và tôi cùng đi lên các trận địa, tới các khu vực để mừng tuổi anh em. Trong các gian hầm, anh em vẫn thức. Người ghi nhật ký. Người đọc thư nhà. Anh ngồi nói chuyện. Anh nhấm nháp cốc trà hương. Tất cả cùng đón đợi một ngày mai, một năm mới đang dần dần bước tới, một năm tiếp tục cuộc “Đấu tranh anh dũng, cả nước một lòng”. Ngoài trời, những làn gió xuân ấm áp đang dào dạt thổi về và tiếng sóng nghe mênh mang như đang ca hát. Tôi bước đi thong thả trong các chiến hào còn hăng nồng mùi nhựa cây, đất mới, đi lướt qua các cửa hầm le lói ánh đèn. Tôi dừng lại bên các khẩu pháo đã đẫm sương, lạnh giá nhưng vẫn luôn luôn cựa quậy, thức tỉnh cùng với những chiến sĩ trực canh. Trong cái đêm giao thừa không quên ấy, lòng tôi tràn ngập biết bao ý nghĩ thật đẹp đẽ về cuộc sống chiến đấu kiên cường thật đặc biệt của chúng ta, về những ngày đã qua và những ngày sắp tới...

Một hồi lâu sau, khoảng 01 giờ 30, chợt lại nghe có tiếng tàu địch. Rồi có tiếng súng lớn nổ ở phía đất liền. Nhìn vào Vĩnh Linh, thấy rõ cả ánh lửa lóe lên đỏ rực. Toàn đảo lại báo động, sẵn sàng chiến đấu.

Mờ sáng ngày mồng một Tết, chúng tôi nhận được tin "báo hỉ" đầu xuân : Quân dân Vĩnh Linh đã bắn chìm một tàu biệt kích của Mỹ.

⚝ III ⚝

Ngày 7 tháng 2 năm 1965! Lại một ngày rung chuyển cả toàn đảo. Ngày 7 tháng 2 năm 1965! Bọn Mỹ và tay sai lại ngang nhiên tung máy bay vào miền Bắc xã hội chủ nghĩa của chúng ta bắn phá. Ngày 7 tháng 2 năm 1965, ngày bọn đế quốc Mỹ đã chính thức mở cuộc tấn công điên cuồng bằng không quân đối với miền Bắc! Đứng trên đảo, chúng tôi nhìn thấy rất rõ từng đàn máy bay từ hạm đội 7 vun vút bay vào đất liền của Tổ quốc cũng như từng đàn máy bay kẻ cướp từ phía Nam bay ra Bắc. Rồi tiếp đó là những cột khói ở Vĩnh Linh, Hồ Xá bốc lên nghi ngút. Ruột gan chúng tôi như cháy bỏng cả lên. Trên các trận địa, các pháo thủ ngồi sẵn trên mâm pháo, vừa liên tục theo dõi từng đợt máy bay bằng những họng súng của mình vừa rít lên những tiếng căm hờn :

– Lại tám chiếc nữa!

– Lại mười hai chiếc! Phải giết sạch bọn Giôn-xơn đi! Phải bắn rụng hết bọn Mỹ xuống biển!

Trên vị trí chỉ huy của mình, đồng chí chỉ huy trưởng đứng sừng sững, không nhúc nhích, mặt hướng về phía đất liền, đôi môi mím chặt, bắp thịt trên má căng ra, và hai dòng mồ hôi lấp lánh ở thái dương từ từ chảy xuống. Vợ và hai con của đồng chí không phải ở đâu xa, chính ở ngay khu Vĩnh Linh - Hồ Xá, nơi đang bốc lên những cột khói đen sì nối tiếp. Con người vốn ít nói ấy lúc này càng lì ra. Nhưng tôi biết, ở bên trong, trái tim anh đang sôi máu. Từng đàn máy bay vẫn tiếp tục lao vào đấ

Bữa cơm buổi chiều hôm ấy thật nặng nề. Từng người cúi đầu nhai chậm chạp. Những con mắt tối sầm. Đinh Kinh, người chiến sĩ nuôi quân nổi tiếng tận tụy của đảo, ngồi bần thần, vặt từng nhúm cỏ, đưa cặp mắt rầu rĩ xót xa, cặp mắt của những bà mẹ, những người chị, hết nhìn anh em, nhìn những xoong cơm còn gần như nguyên vẹn, lại quay ra với tất cả nỗi căm hờn nhìn về phía vòm trời xa đã mù sương, nơi mà mấy giờ trước đây những chấm đen giết người đã vun vút lướt qua và để lại những dải khói trắng dài.

...Rồi từ hôm đó trở đi, bọn Mỹ tiếp tục bay vào miền Bắc bắn phá không ngừng. Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam cũng từ buổi đó, sớm chiều loan báo các tin chiến sự không phải chỉ có những tin chiến thắng ở miền Nam như trước nữa, mà đã có cả những tin chiến thắng ở miền Bắc. Toàn quốc đã ở trong tình trạng chiến tranh! Trong một buổi tối, tất cả chúng tôi đều xúc động nghe từ đài thu thanh vang lên câu nói trọng đại ấy. Toàn quốc đã ở trong tình trạng chiến tranh! Trái tim chúng tôi như vang vọng lại âm thanh của câu nói ấy với tất cả ý nghĩa thực tiễn mạnh mẽ của nó.

Lại một đợt thi đua nữa được Đảng ủy phát động với tên gọi "phong trào xuất kích thắng lợi". Các chi đoàn thanh niên đã tổ chức những cuộc tự do diễn đàn sôi nổi về thực chất đế quốc Mỹ "giàu mà không mạnh". Trong khi đó, các phương án tác chiến cũng đều được đem ra dân chủ thảo luận, bổ sung và luyện tập thêm. Các khẩu hiệu "Học tập Nguyễn Viết Xuân, dũng cảm ngẩng cao đầu nhìn thẳng vào quân thù mà bắn!", "Sống, chiến đấu anh hùng như Nguyễn Văn Trỗi" và "Trả thù cho Nguyễn Văn Trỗi, Nguyễn Viết Xuân và đồng bào hai miền Nam, Bắc!" được nêu cao. Một cuộc thi thống kê tội ác đế quốc Mỹ ở Việt Nam đã được tổ chức rất sâu rộng. Và do đó khí thế đánh Mỹ lập công rửa thù mỗi ngày một thêm rạo rực trên toàn đảo. Đi tới đâu cũng thấy những cuộc tranh luận sôi nổi về các cách đánh máy bay, tàu chiến, quân đổ bộ của địch trong tất cả mọi tình huống. Đi tới trận địa nào cũng thấy la liệt những bản liệt kê các tội ác đẫm máu của quân thù. Bên các khẩu pháo đều có ảnh Nguyễn Văn Trỗi và Nguyễn Viết Xuân. Và các pháo thủ đều tươi cười giới thiệu với bất cứ cán bộ nào đi tới :

– Báo cáo đồng chí, đây là những pháo thủ danh dự của khẩu đội! Các đồng chí ấy cùng ở đây chiến đấu với chúng tôi cho đến ngày toàn thắng!

Sang ngày 14 tháng 3, Cồn Cỏ bắt đầu bước vào cuộc chiến đấu thực sự ác liệt. Đối với chúng tôi, đó là một ngày lịch sử vĩnh viễn không bao giờ quên của đảo cũng giống như ngày mồng 8 tháng 8 sinh nhật của đảo, hoặc những ngày mồng 5 tháng 8, mồng 7 tháng 2 đối với toàn thể nhân dân ta trên cả nước nói chung và miền Bắc nói riêng.

Từ mấy ngày trước đã thấy có máy bay trinh sát của địch liệng đi quần lại ở hướng đông nam của đảo. Có khi chúng bay thấp hẳn xuống, gần như rà trên mặt biển. Lại thấy có một số tàu chiến từ Cửa Việt chạy ra, lượn quanh ở khu biển trước thôn Vĩnh Mốc. Các bộ phận quan sát còn phát hiện thấy cả máy bay thám thính U2 lượn trên đảo nhiều lần. Đảng ủy nhóm họp và khẳng định : địch sẽ đánh lớn; và chủ trương : phải kịp thời kiểm tra lại ngay tất cả mọi mặt chuẩn bị chiến đấu.

Quán triệt tinh thần nghị quyết ấy, từ những ngày 11, 12, các pháo thủ đã được lệnh thường trực liên tục trên mâm pháo. Đạn luôn luôn lắp sẵn vào ổ súng. Tất cả các dụng cụ và phụ tùng sửa chữa đều được xếp đặt hết sức quy củ, có nơi có chốn, khi cần tới là không phải mất thì giờ tìm kiếm. Hơn thế nữa, theo nghị quyết của Đảng ủy, đồng chí chỉ huy trưởng đã có một kế hoạch chiến đấu toàn diện, được phổ biến kỹ tới từng binh chủng, từng trận địa, từng chiến sĩ. Riêng tôi được Đảng ủy phân công lên trực tiếp bám sát một trận địa. Sau khi bàn bạc với các đồng chí chỉ huy phân đội ở đó, chúng tôi đã đề ra những yêu cầu thật nghiêm ngặt đối với các chiến sĩ về sinh hoạt và chiến đấu, kiên quyết chống lại mọi thói quen có phần nào lỏng lẻo trước kia. Chúng tôi vẫn thường được trên nhắc nhủ : chiến đấu với một quân thù có những phương tiện hiện đại, phải có một tổ chức thật khoa học, chặt chẽ để bảo đảm cho những hành động của ta được thật nhanh, gọn và chính xác. Chỉ trong một tích tắc là quân thù đã có thể chạy buột mất, cũng như chỉ trong một tích tắc quân thù đã có thể gây cho ta những tổn thất không nhỏ.

Ngày 14 tháng 3. Buổi sáng hôm ấy mặt biển thật trong trẻo. Những làn sóng trắng phau, dịu dàng nô đùa, đuổi nhau trên những bãi cát. Bầu trời ửng hồng bao la. Từ phía đất liền, những cánh buồm hiện ra lấm tấm, cái trắng, cái nâu, cái hồng, cái đỏ tía dưới ánh nắng ban mai.

Những giờ đầu hôm ấy, theo chương trình cũ, tôi tiếp tục chuẩn bị để sơ kết cuộc thi sưu tầm tội ác đế quốc Mỹ. Trong tay tôi đã có hàng tập giấy dày với những con số, những dòng chữ chi chít. Có nhiều tờ nhòe cả chữ vì nước mắt. Có một số tờ mang theo cả những dòng chữ viết bằng máu cắn ở ngón tay ra đã thâm đen : "Thù này phải trả!" hoặc : "Phải tiêu diệt đế quốc Mỹ!".

Chỉ làm công việc đọc lại những bản thống kê tóm tắt ấy mà lòng tôi cũng đã không thể chịu nổi, nhiều lúc phải bỏ dở công việc, đứng dậy đi ra các ụ pháo với anh em, trò chuyện đôi lúc. Hôm ấy, Lê Ngọc Vân, anh chiến sĩ bắn súng máy, lên tìm tôi ở trận địa. Anh vẫn nhanh nhẹn, linh lợi như mọi ngày, chỉ riêng có đôi mắt rất buồn. Sáng nay đọc báo, Vân đã tìm thấy tội ác thứ 160 của giặc Mỹ. Câu chuyện ấy vừa mới xảy ra nóng hổi ở miền Bắc. Đó là chn mấy em nhỏ ở Nghệ An bị máy bay Mỹ bắn chết một cách thảm thương. Vân đã đưa cho Lĩnh, tổ viên trong tổ súng máy của anh, và hai anh em đều không ngăn được nước mắt. 160! Con số của Vân đã vượt quá những con số của Bùi Thanh Phong, Lâm Văn Hiếu và chiến sĩ quan trắc Nguyễn Văn Thiêm, quân khí viên Nguyễn Đức Báu. Tôi bắt tay Vân và thấy lòng bàn tay anh hâm hấp nóng.

– Vân sốt đấy à? - Tôi hỏi.

– Báo cáo không! - Vân lắc đầu, rồi hỏi mượn tôi quyển sổ tay trong đó tôi có ghi chép một số lời của Bác Hồ và các đồng chí tiền bối của Đảng về cuộc sống, về đấu tranh và lý tưởng...

Có quyển sổ rồi, Vân chào tôi rồi nhanh nhẹn quay đi. Nhìn theo anh, tôi không khỏi nhớ lại câu chuyện bảo vệ cờ trong một trận mưa bão trước. Hôm ấy, Vân cũng đang sốt. Bình thường, anh là một chiến sĩ tích cực và có ý thức rất sâu về chức trách của mình. Mỗi khi ốm, anh thường không chịu nghỉ, vẫn đề nghị được ra thao trường, nếu không ít ra cũng phải để cho anh đi xem tập. Hôm ấy anh đã phải chịu nằm nhà là sự chẳng vừa. Một cơn mưa dông đột ngột ập tới, Vân nhìn ra ngoài sân thấy lá quốc kỳ vẫn còn ở trên đỉnh cột, anh vội vã lao ra quên cả mưa gió, quên cả cơn sốt, kéo được lá cờ xuống, ghì chặt vào ngực chạy vào. Vừa thở Vân vừa nói với đồng đội : “Nom thấy cờ của mình bị gió giật xé, tôi không thể nào chịu nổi”... Từ ngày đó, trước mắt chúng tôi, Lê Ngọc Vân càng đẹp hơn lên nhiều lắm.

Lê Ngọc Vân đi khỏi, tôi lại trở ra các ụ pháo. Lúc đó Bùi Thanh Phong đang lau pháo, tấm thân mảnh dẻ của anh hơi cúi xuống và đôi mắt một mí dễ xúc động đang ánh lên vui vẻ. Dưới bệ pháo, ở ngay cạnh anh là một cuốn “Lý Tử Trọng” đang đọc dở. Phong rất ham thích đọc sách. Những "Thép đã tôi thế đấy”, "Lôi Phong” và tất cả những chuyện anh hùng, chiến sĩ thi đua của quân đội ta trong thư viện của đảo, đọc đã hết sạch. Phong rất yêu "ông Nhỏ" cũng như rất mê Pa-ven, Lôi Phong và gần đây rất cảm phục Nguyễn Văn Trỗi, Nguyễn Viết Xuân.

Nom thấy tôi đi tới, Phong ngẩng lên, tươi cười, và cũng như tất cả mọi khi, anh đều có ngay một câu hỏi :

– Báo cáo đồng chí, liệu hôm nay ta có phải tiếp tục ngồi “ế'”nữa không?

– Chắc không - Tôi đáp - Cứ chuẩn bị sẵn sàng!

Phong vỗ vai Châu, anh pháo thủ tiếp đạn, hớn hở :

– Đúng không! - Tau đã cảm thấy điều này ngay từ sáng sớm nhé!

Châu cười, nụ cười rất lành. Cũng trẻ như Phong, nhưng Châu ít nói và có phần chậm chạp hơn. Tuy nhiên, đó là một anh chàng thật gan lì, sét đánh ngay trên đầu cũng chỉ cười.

Ở một ụ pháo gần đó, Lâm Văn Hiếu - cây sáo trúc và đàn bầu của đảo - đang ngồi ngay ngắn trên ghế pháo thủ số 1, mê mải tập lấy đường ngắm ở trên cao và ở cả dưới mặt biển. Hiếu là người cùng làng với Bùi Thanh Phong. Khuôn mặt nhỏ nhắn với nước da mịn trắng của anh đóng khuôn trong chiếc mũ sắt nom lại càng đẹp. Cứ nhìn cái vóc dáng mảnh mai và bộ mặt thanh tú ấy, khó có ai biết rằng anh là một thanh niên nông thôn thuần túy. Từ bé, Hiếu chưa hề ra khỏi lũy tre làng, khi học lên tới cấp 3 anh mới biết qua "mặt mũi" của thị xã Thanh Hóa. Anh dự định tốt nghiệp lớp 10 xong sẽ vào đại học, nhưng mới hết lớp 8, anh đã xin đi bộ đội. Cùng với Bùi Thanh Phong, anh quyết tâm ra đi vào lúc tình hình cả nước đang sôi sục, khẩn trương. Lâm Văn Hiếu nhờ có một ý chí rất tốt và thêm thuận lợi là có văn hóa nên học tập, tiếp thu rất nhanh và sâu. Vì còn là "lính mới" nên anh chỉ được giữ nhiệm vụ pháo thủ số 3. Sáng nay số 1 ốm mệt, Hiếu đã được chúng tôi mạnh dạn cho lên thay thế. Anh hết sức phấn khởi, ôm chầm lấy đồng chí chỉ huy trưởng mà nói : “Nhất định sẽ bắt bằng được một "con ép" [17] để xứng đáng với lòng tin của các thủ trưởng”.

Kể cũng khá đặc biệt, ở trên trận địa này còn có một người đồng hương nữa của Bùi Thanh Phong. Đó là chiến sĩ quan trắc Nguyễn Văn Thiêm, “quân khí viên nghiệp dư, dự bị số 1 của Nguyễn Đức Báu” như ta đã biết. Cả ba thanh niên ấy cùng ra đi bộ đội vào một năm, giờ đây cùng ở Cồn Cỏ, và hơn nữa : cùng là những chiến sĩ ưu tú. Thiêm hơn hai mươi tuổi, đen giòn, người chắc lẳn, nét mặt thông minh và quả cảm, ai nom cũng phải yêu. Là phân đoàn trưởng thanh niên, ngoài những đức tính hăng hái, xốc vác như các bận khác, Thiêm còn có cả sự chín chắn và ý thức lãnh đạo của một người có trình độ giác ngộ tất. Thiêm đang đứng sừng sững với khí tài quan sát của mình, toàn thân anh như tỏa ra lòng tin tưởng và ý chí chống Mỹ sắt đá. Ở quê nhà, Thiêm đã có hai con. Anh thường đỏ mặt, cười : "Thanh Hóa tôi có cái tục hay "sớm sủa" thế đấy mà!". Tuy vậy, ai cũng thấy anh vẫn rất yêu vợ, và đặc biệt rất thương con. Những ngày rỗi rãi, anh thường chăm chỉ đi nhặt từng vỏ sò, vỏ ốc, những loại thật đẹp, tích góp lại để khi được về phép làm quà cho lũ trẻ.

Hưởng, cán bộ của phân đội, hôm nay đến phiên trực ban chiến đấu. Anh thanh niên nông thôn sức vóc đen đủi nhưng lại rất có duyên và hiền hậu ấy lúc nào cũng bận rộn. Hình như ngồi rỗi một tí đối với anh là một điều thật đáng áy náy, xấu hổ. Vẫn luôn thuộm với chiếc áo bà ba nâu và chiếc quần xanh "cổ truyền", anh đi khắp các khẩu pháo, như một con thoi, kiểm tra từng viên đạn, từng cái đinh ốc. Hưởng là cảm tình của Đảng đã lâu, nay chỉ còn chờ dịp thuận lợi là Đảng bộ sẽ làm lễ kết nạp; giống như Bùi Thanh Phong cũng chỉ còn chờ ngày để chính thức được vào Đoàn. Hưởng gặp tôi ở khẩu đội của Nhì. Anh tỏ vẻ hơi áy náy vì một bộ phận của khẩu pháo chưa được tốt. Sau đó, sang một khẩu đội khác xem xét, anh sà ngay vào xắn tay áo cùng lau chùi súng, đạn với các pháo thủ. Vừa làm anh vừa nói chuyện bằng cái giọng rè rè của mình. Khi mọi việc đã xong xuôi, anh cùng với anh em mang báo ra đọc, ngâm thơ và tiếp tục viết nhật ký.

Về trưa, nắng càng to. Cả bầu trời sáng lóa. Trong lúc đó mặt biển lại rất êm, gió thổi đều đặn, hiền hòa. Tôi lại tiếp tục làm sơ kết cuộc thi tìm tội ác của giặc Mỹ. Ở trận địa, mọi công việc đều đã gọn gàng, đầy đủ, không có điều gì còn phải lo lắng nhiều nữa.

13 giờ. Như thường lệ, chỉ trừ những chiến sĩ trực chiến vẫn ngồi sẵn sàng trên các mâm pháo, còn chúng tôi ai nấy đều tranh thủ ngả mình thiu thiu. Bỗng nghe thấy tiếng kẻng từ phía đài quan sát đổ hồi rồi sau đó là tiếng máy bay vọng tới. Trong chớp mắt, tất cả chúng tôi đã ở các vị trí chiến đấu.

Tiếng kẻng vẫn mỗi lúc một gióng giả, mạnh mẽ. Nghe tiếng kẻng quá quen thuộc, Nguyễn Văn Thiêm phải reo lên :

– Đúng là tiếng kẻng của Thái Văn A! Hay lắm! Nó đánh càng hay tức là máy bay địch càng gần, càng đông!

Quả nhiên, Thiêm nói vừa xong, đã rào một cái, hai chiếc phản lực F.105 đầu nhọn hoắt, sơn mốc thếch, to như những con chim cổ quái từ phía xa lao sát trên mặt biển ngang sườn đông nam của đảo rồi cất vọt mình bay vút lên cao, tiếp tục bay thẳng.

– Nó nghi binh đấy! - Tiếng Hưởng nói, giọng vẫn rè rè, bình thản - Cứ chú ý hướng đông!

Quả không sai, chỉ một phút sau, từ phía đường chân trời xuất hiện sáu chấm đen vùn vụt lao tới, k theo sau những vệt khói và cả một màn tiếng động rung chuyển.

Trên khắp các trận địa của chúng tôi, các khẩu pháo lập tức rào rào quay lại. Tiếng báo cáo bắt được mục tiêu vang lên tới tấp. Thế rồi tốp máy bay đầu tiên ào tới, hú lên như hóa dại, và những trái bom lao xuống. Bầu trời đang nắng đẹp, bỗng tối sầm hẳn lại. Những cột khói khổng lồ, cuồn cuộn dựng lên. Lửa cuốn theo đỏ khé . Khu nhà bếp của chúng tôi trúng bom. Mặt đất rung lên. Hơi ép đánh rất mạnh vào trận địa. Nhưng chính trong lúc ấy, trên bầu trời cũng hiện lên một đám lửa lùng bùng, hấp tấp lướt chéo ra phía biển.

– Cháy rồi! Rơi rồi! Hoan hô Lâm Văn Hiếu! Hiếu giỏi lắm!

Tiếng reo hò, tiếng vỗ tay nổi lên khắp các trận địa. Anh em sướng quá. Có người gào lên, thét lên. Có người nhảy cả lên công sự mà vỗ tay hoan hô. Tôi phải nói to :

– Tiếp tục chiến đấu! Chớ quên trên đầu vẫn còn địch!

Vừa nói, tôi vừa chạy bay tới khẩu pháo của Lâm Văn Hiếu. Ngay trong loạt đầu tiên, khẩu pháo của anh đã cùng các khẩu đội bạn bắn trúng "con ép" ấy làm cho nó không kịp cắt bom đúng theo ý định. Làn đạn của Hiếu đẹp quá : thẳng căng, chính xác một cách tuyệt vời, không một ai có thể lầm lẫn được. Hiếu đang mím môi, thoăn thoắt một mình điều khiển khẩu pháo, tiếp tục bắn lên chiếc phản lực thứ hai. Làn đạn của anh lại rạch lên không trung như những đường dao sắc. Anh mê mải bắn đến nỗi tôi đến ngay bên cạnh mà vẫn không hề biết. Tôi nói như reo vào tai mình :

– Thay mặt Đảng ủy và thủ trưởng, tôi biểu dương đồng chí! Đồng chí bắn chính xác lắm. Cố gắng, dũng cảm nữa lên, Hiếu ơi!

Rồi tôi ỗ Bùi Thanh Phong, cất tiếng hô một khẩu hiệu cho cả trận địa cùng nghe thấy :

– Thời cơ lập công đã tới! Đây là lúc tốt nhất để trả thù cho Nguyễn Văn Trỗi, Nguyễn Viết Xuân, cho đồng bào Nam, Bắc!

Phong đang quay tròn theo khẩu pháo của anh. Anh bắn rất tốt. Mặt anh đỏ bừng, hai con mắt sáng lên khác thường. Châu, pháo thủ tiếp đạn của anh, đột nhiên bị sức ép, ngất đi. Nhưng Phong vẫn tiếp tục bắn. Hai mảnh rốc-két bay véo tới, làm hư chiếc máy ngắm, một mảnh nữa, xuyên thủng vành mũ sắt mà anh vẫn không hề biết. Từ ụ súng khác, Hưởng lao đến với Phong, nhanh như một con sóc. Thật là kịp thời, Phong đã phát huy liên tục hỏa lực của khẩu đội, không một giây phút nào gián đoạn.

Những trái bom tiếp tục nổ tơi bời xung quanh trận địa. Khói mù mịt gần như bưng lấy mắt. Nhưng theo lệnh của đồng chí chỉ huy trưởng, chúng tôi vẫn bám sát chiếc phản lực thứ ba đang lao xuống. Và quả nhiên chúng tôi đã quật đổ ngay được "con ép" ấy. Nó bị trúng vào cánh, bay lệch hẳn về một bên, cuống cuồng quay ra biển, vừa chạy vừa ném lại tất cả những thùng xăng phụ, hòm rốc-két chưa dùng hết, bay lả tả ở phía sau.

Trên bầu trời chỉ còn lại bốn chiếc F. 105. Nhưng chúng không dám xuống thấp nữa. Cả bốn "con ép" ấy đều phải bốc lên cao rồi mới dám cắt bom và bắn phá. Trong phút chốc, tất cả khu vực trận địa của chúng tôi bị chìm ngập vào một biển khói đen kịt. Đứng từ ụ súng này không thể nom rõ sang ụ súng kia. Thậm chí người cùng một ụ súng cách nhau vài mét cũng không nom được thật rõ mặt nhau nữa. Chuông điện thoại bỗng đổ hồi, và từ đầu dây nói bên kia, ở chỉ huy sở, tiếng đồng chí chính trị viên vọng tới nghiêm trang mà tha thiết :

– Đồng chí Khoa, hãy cố gắng nữa lên, thay mặt đảng ủy lãnh đạo, giúp đỡ anh em chiến đấu choơn nữa! Chúng ta đã thắng lợi và cũng đang ở vào trong những giây phút thật ác liệt. Người lãnh đạo lúc này cần làm sao cho anh em vẫn luôn luôn tỉnh táo và nhất là vẫn giữ vững được tinh thần chiến thắng!

Tôi cảm động đáp lại :

– Đồng chí chính trị viên! Chúng tôi xin hết sức cố gắng!

Vừa khi ấy, một số pháo thủ kêu lên :

– Báo cáo, khói quá lắm! Không sao nom thấy mục tiêu nữa!

Tôi nói :

– Mình không thấy nó, nó cũng không thấy mình, bom, rốc-két càng trượt xa. Cứ bình tĩnh theo lệnh chỉ huy!

Lợi dụng những lúc khói loãng ra ít nhiều và đã có thể bắt được mục tiêu, chúng tôi tiếp tục đánh. Nhưng khi khói tràn tới, che lấp tất cả, chúng tôi ngùng lại, để dành đạn. Trong lúc đó, đột nhiên một bóng người chạy lại nói to, giọng rất đanh :

– Báo cáo, khí tài quan sát không sử dụng được nữa, đề nghị cho tôi tham gia bắn! Tôi bắn được. Nếu không, tôi tiếp đạn!

Nhận ra Nguyễn Văn Thiêm, tôi trao ngay nhiệm vụ cho anh đến giúp khẩu đội Hiếu. Trước khi anh chấp hành mệnh lệnh, tôi dặn tiếp :

– Là phân đoàn trưởng, đồng chí hãy nhắc nhở anh em quyết tâm chiến đấu đến cùng.

– Rõ! - Thiêm đáp.

Anh quay ngoắt đi ngay và nhanh chóng biến vào trong đám khói mù. Tiếng anh cất lên vang rộn

– Giờ lập công đã tới! Các đồng chí đoàn viên hãy cố gắng nữa lên, cho xứng đáng là đoàn viên Nguyễn Văn Trỗi, xứng đáng là các đoàn viên của các chi đoàn Thép của Cồn Cỏ.

Lập tức có ngay những lời đáp lại từ khắp các ụ pháo xa, gần, trong đó nghe rất rõ tiếng Bùi Thanh Phong và Lâm Văn Hiếu :

– Bớ Hiếu! Tau với mi thi đua nghe!

– Bớ Phong! Chúng ta phải bắt nốt mấy "con ép" kia, đừng cho chúng nó thoát!

Nghe tiếng súng vẫn nổ rầm rầm, tiếng các chiến sĩ hăng hái, phấn chấn động viên nhau, tôi sung sướng tới ứa nước mắt. Nhưng đột nhiên sau đó thấy một khẩu pháo im bặt, mà lại chính là khẩu của Bùi Thanh Phong! Tôi vội lao tới. Hưởng và Phong đang ngồi trong hầm sửa ổ đạn.

– Sao thế?

– Báo cáo một viên bị kẹt! - Hưởng, Phong cùng đáp hơi thở dồn dập.

Biết những lúc pháo hỏng hóc, người xạ thủ dễ bối rối, tôi nói :

– Cứ bình tĩnh! Bọn Mỹ thua ta rồi! Sửa xong tiếp tục đánh, đánh hăng nữa vào!

Chỉ trong nháy mắt sau, khẩu pháo ấy đã được sửa chữa. Những làn đạn của hai anh lại tung lên mãnh liệt. Nhưng mới được một phút, lại thấy một khẩu pháo khác im bặt. Nhận ra khẩu của Nhì, tôi vội gọi to :

– Thiêm! Quân khí viên chưa tới, đồng chí sang chữa giúp cho Nhì ngay! Mau lên

Nói xong, tôi cũng rời vị trí, chạy thẳng tới khẩu đội ấy. Nhưng vừa bước ra tới ngã ba giao thông hào thì bị ngay một người mập mạp đang ở đâu xồng xộc chạy tới xuýt đâm xầm phải. Chưa kịp nhận ra nhau vì khói quá, anh ta đã gắt om lên :

– Mắt với mũi! Đâu? Khẩu nào vừa hóc thế? Bắn chác ra làm sao để đến nỗi hóc? Đánh với đấm thế hả?

Té ra quân khí viên Nguyễn Đức Báu, người chiến sĩ có một tinh thần trách nhiệm không thể chê trách được của đảo, đồng thời cũng là một anh chàng hay cáu. Trong những lần bắn máy bay lẻ tẻ khi trước, ngoài việc sửa chữa vũ khí, Báu còn hăng hái tham gia cả việc cổ vũ động viên các pháo thủ, nhưng anh cũng cổ vũ bằng cái tính cáu kỉnh của anh. Lần này, tôi lại là người lần đầu tiên được hưởng sự cáu kỉnh ấy. Khi nhận ra tôi, Báu cười xòa. Và cả hai chúng tôi cùng chạy như bay tới nơi khẩu pháo vừa tắc. Hôm nay, thực ra không phải là phiên trực chiến của Báu, nhưng khi nghe thấy tiếng súng, tiếng bom nổ, anh vứt ngay quyển sách đang đọc dở, không kịp mặc cả quần dài, vớ vội lấy túi lắc-lê, kìm búa rồi cứ thế lao từ tuyến trong ra đây.

Anh em trong khẩu đội Nhì nom thấy Báu mừng quá reo ầm :

– Kỹ sư của chúng ta đây rồi!

Câu nói tưởng như có thể làm Báu cười vui được, nhưng anh vẫn cáu. Các pháo thủ nhìn nhau, im thin thít. Khi Báu vừa mới ngồi thụp xuống thì Nguyễn Văn Thiêm cũng đã tới. Tưởng Báu phải mừng vì có người giúp việc, nhưng anh lại cáu cả với Thiêm. Đến lúc ấy thì tất cả bọn chúng tôi không nhịn được nữa, phải cười ầm. Bấy giờ Báu mới cười theo. Trong giây phút, khẩu pháo đã được sửa hoàn hảo. Nhì ôm chầm lấy Báu, Thiêm hôn lấy hôn để rồi nhảy lên ghế sắ

Nhưng khi chúng tôi vừa khuất vào một ngách chiến hào, một trái bom rơi xuống cách ụ pháo ấy không quá năm mét. Trời đất tưởng như vỡ vụn ra trong một tiếng nổ xé óc. Khói, bụi, đất, đá làm cho mặt mũi chúng tôi tối tăm cả lại. Khi nhìn được rõ, đã thấy Nhì bị hơi ép của bom ném ra xa tới hai, ba mét, anh đang ôm ngực lăn lộn trên mặt đất. Tôi chưa kịp chạy lại vực Nhì, và cũng chưa kịp chỉ định ai thay thế anh, thì đã thấy một bóng người nhảy phắt lên chiếc ghế số 1, vồ lấy khẩu pháo, đạp cò. Đó là Nguyễn Văn Thiêm! Anh vừa nom thấy một "con ép” hiện ra trên nền trời mù mịt tro khói.

– Tốt lắm! Thiêm! Hay lắm! Bắn mạnh nữa lên! Nhằm cho trúng vào! - Tôi sung sướng reo to.

Thiêm không quay lại, cũng không đáp lời tôi, anh tiếp tục bắn. Trán anh đỏ tía, hai thái dương ròng ròng mồ hôi, cặp mắt mở căng, cháy lửa căm hờn. Lại một loạt đạn của anh quất lên, hòa cùng với những loạt đạn của các khẩu đội bạn.

– Một "con ép" nữa kìa! Trúng rồi!

Các chiến sĩ reo lên như thét.

Đúng là một chiếc F. 105 nữa đã dính đạn, những ngọn lửa đang lấp lóa ở đuôi nó, khi tắt khi đỏ. Chiếc máy bay ấy chạy. Cùng lúc đó, chiếc "ép" thứ tư gầm lên, lao xẹt qua trận địa chúng tôi một cách hết sức hằn học rồi dượt theo chiếc bị thương, đi thẳng.

Tất cả chúng tôi đều đứng bật dậy, reo ầm một loạt. Anh vỗ tay, anh múa mũ. Phong, Hiếu mặt vẫn còn đỏ gắt, đầm đìa mồ hôi, mỗi anh vớ lấy một bi- đông, ngửa cổ tu ừng ực. Bỗng nhiên tiếng cười nói lại thêm vang rộn :

– Đinh Kinh

– A ha! Đinh Kinh đây rồi!

Người chiến sĩ cấp dưỡng ấy đã hiện ra ở một đầu hào với hai thùng nước sóng sánh, hơi còn bốc nghi ngút. Anh vẫn đội chiếc mũ vải nhàu nát, mặc một chiếc áo cổ vuông lôi thôi lốc thốc, chỉ có khác mọi ngày là đeo thêm một khẩu súng trường chéo ở sau lưng. Một pháo thủ má tròn vo, còn đầy lông tơ nhảy lên nắm lấy nòng súng ấy toan nghịch, nhưng cậu ta vội buông ra, kêu to :

– Đinh Kinh! Cậu cũng vừa bắn đấy à? Nóng quá!

– Bắn chứ! - Tất cả "anh nuôi" đều tham gia bắn hết! Cả bọn hậu cần, hóa học, thông tin... và các phân đội khác cũng bắn. Đứa có súng trường bắn súng trường, đứa có tiểu liên bắn cả tiểu liên...

– Đúng! - Tất cả chúng tôi đều công nhận : trong lúc ở các trận địa pháo ngoài này đang quần nhau với bọn "ép" thì ở tất cả các phía của đảo cũng thấy ran lên đủ các tiếng súng lớn nhỏ.

– Các cậu bắn tốt quá! - Đinh Kinh đặt thùng nước xuống, hỉ hả - Chiều nay thế nào tớ cũng khao các cậu một chầu canh cua đặc biệt.

Các pháo thủ đều nhao nhao :

– Canh cua thường của Đinh Kinh ăn đã không chê vào đâu được. Bây giờ lại còn "đặc biệt" nữa, ăn xong khéo ngon quá lại chết sạch cả lũ mất thôi.

Tiếng cười lại nổ ra sảng khoái. Không thỏa mãn với thắng lợi bước đầu, các cán bộ tranh thủ thời gian trao đổi ý kiến, rồi hạ lệnh cho anh em củng cố lại ngay tất cả công sự, trận địa, đồng thời trao đổi chớp choáng những kinh nghiệm đấu nóng hổi vừa qua. Đảng ủy đảo khẳng định: thế nào quân địch cũng còn quay trở lại.

Quả nhiên, chỉ mười phút sau, khói trên trận địa chưa kịp tan hết thì lại đã thấy tiếng máy bay địch vọng tới, lần này nghe rất nặng, có lẽ nhiều lắm. Các pháo thủ vội giục :

– Đinh Kinh! Quay lại đi! Để chúng tớ đánh!

Đinh Kinh kêu lên :

– Cho tao ở đây với! Tao có thể giúp chúng mày bất cứ việc gì! - Vừa nói, anh vừa đưa mắt nhìn tôi như muốn cầu cứu.

Nhưng khi thấy tôi lắc đầu, biết không thể nài nỉ được anh đành phải rời khỏi trận địa. Chân bước đi mà mặt vẫn còn quay lại, đầy vẻ không hài lòng.

Lần này không phải bốn "thần sấm" (F.105) như trước nữa, mà là hai mươi sáu tên "giặc nhà trời" (AD6). Chúng bay thành từng tốp, theo đội hình chữ A. Loáng một cái, những bóng đen sì ấy đã bay trùm qua đầu trận địa. Chúng đã nhanh, nhưng chúng tôi còn nhanh hơn. Tất cả các khẩu pháo đã bắt được mục tiêu và đều đánh lên rất kịp thời. Những nòng pháo thụt lùi sau mỗi phát đạn rồi vươn ra loang loáng như máy. Các cành lá ngụy trang rung lên bần bật. Cát, bụi trên các công sự bay mù. Lửa từ các đầu nòng phụt ra sáng lóa. Không khí trong trận địa như bị đốt cháy. Mùi thuốc súng sặc sụa. Từng luồng hơi ép tạt ra rát cả mặt mũi. Tai ù hẳn đi; chỉ còn có thể nhận lệnh bằng các hiệu cờ.

Đợt này khẩu đội nào bắn cũng rất tốt. Chỉ vừa mới qua có một đợt chiến đấu, nòng pháo còn nóng bỏng mà các chiến sĩ ta đã trưởng thành lên trông thấy. Ngay trong loạt đạn đầu tiên của chúng tôi, chiếc AD6 đi đầu đã cháy bùng. Cháy dữ đến nỗi nó không kịp vứt bom, cũng không ịp lạng ra xa nữa. Như một cục lửa, cứ thế nó vùn vụt lao xuống biển, ngay trước trận địa của chúng tôi không quá một hải lý. Một cột nước trắng xóa vọt lên cao ngất. Rồi sau đó mặt biển nhanh chóng khép lại và những con sóng mau lẹ xóa sạch ngay dấu vết của chiếc máy bay kẻ cướp ấy. Chiếc AD6 đi đầu bị bắn rụng một cách đáng sợ như thế, nên cả tốp máy bay đi theo nó lập tức rã ngay đội hình, mạnh cái nào cái ấy chạy thục mạng hoặc vọt lên cao tít. Không những thế, tất cả những tốp phía sau cũng bắt đầu bay hỗn loạn và ném bom bừa phứa. Lũ phi công chỉ cốt trút hết bom đạn để nhẹ xác mà chuồn cho nhanh.

Lẽ cố nhiên ném như thế làm sao mà trúng trận địa chúng tôi được. Một số không ít bom rơi xuống biển, dựng nên những cột sóng lớn, và những loạt mưa kỳ lạ ở những khu đất sát bờ đá. Những loạt bom khác rơi vào rừng, các vườn rau, các sân bóng, các khu nhà ở, gây ra những đám cháy khổng lồ, làm cho chúng tôi có cảm giác cả hòn đảo đã bốc lửa. Rất sốt ruột về các nơi khác, tôi quay máy nói gọi về chỉ huy sở. Nhưng gọi mãi không được. Bom đạn địch đã cắt đứt đường dây.

Trong lúc cuộc chiến đấu đang mỗi lúc một thêm gay gắt, một người chạy thẳng tới trước mặt tôi, vừa thở vừa nói :

– Báo cáo! Tôi, tiểu đội trưởng Nguyên, xin đồng chí cho làm bất cứ việc gì cũng được!

Tôi vui sướng nhận ra người tiểu đội trưởng hăng hái gương mẫu ấy. Anh ở đơn vị khác mới tới trận địa này để nghiên cứu một số vấn đề. Tuy là "khách", nhưng bao giờ anh cũng tự coi mình như cùng một đơn vị. Ngoài việc tranh thủ học thêm pháo, anh còn hăng hái tham gia gánh vác đủ mọi việc. Tôi yêu cầu Nguyên đi tiếp đạn giúp cho Phong. Nguyên vừa đi khỏi, lại thấy một chiến sĩ khác xuyên qua các đám khói chạy tới. Anh này cởi trần trùng trục, tay cầm mấy chiếc quần áo ướt. Tôi nhn ra Đơ, chiến sĩ trong tiểu đội của Nguyên.

– Báo cáo, tôi đang tắm thì chúng nó đến. Bây giờ mới về được tới đây. Đồng chí cho tôi xin nhiệm vụ!

Tôi trao cho Đơ việc tiếp đạn cho khẩu đội của Nhì. Ngay lúc đó tôi mừng rỡ gần như reo lên vì thấy Duyến và Bường, hai chiến sĩ thông tin đường dây của chỉ huy sở hiện ra ở đầu hào. Duyến lấm như trâu đầm. Lưng áo anh cháy loang lổ; khẩu tiểu liên đeo chéo phía sau cũng đã cháy mất báng. Cứ liếc qua bộ quần áo ấy cùng với hai bàn tay đã sây sát, rớm máu của anh, tôi cũng đã hiểu ngay Duyến đã trải qua những khu vực, những đoạn đường hiểm nghèo, ác liệt đến thế nào. Duyến báo cáo đường dây đã nối xong. Tôi bèn quay máy ngay về sở chỉ huy sở. Câu nói đầu tiên từ đầu dây bên kia của đồng chí chỉ huy trưởng là một câu hỏi : “Duyến đã tới đấy chưa? An toàn chứ?". Nghe hơi thở và cách hỏi, tôi biết các đồng chí trong ấy đã lo lắng cho Duyến đến thế nào. Tuy nhiên, trên khuôn mặt trái xoan hồng hào, lấm tấm tàn nhang của Duyến, tôi vẫn không thấy lộ một vẻ gì hồi hộp. Anh vẫn cười, đôi mắt đen láy kéo thành hai vạch dài, rất hiền và tươi. Như tất cả mọi khi, anh cười hai tai cũng đỏ lên theo, y như một cô gái cả thẹn.

Chợt nhớ vừa rồi không thấy đồng chí chỉ huy trưởng nhắc tới Bường, tôi hỏi :

– Lúc ở chỉ huy sở đi, chỉ có đồng chí Duyến thôi à?

Duyến đáp :

– Vâng! Nhưng dọc đường tôi gặp đồng chí Bường đi lấy gỗ về. Đồng chí ấy xin đi luôn với tôi; người vác dây, người đeo máy. Khi có bọn Mỹ nhào tới thì Bường nối, tôi bắn yểm hộ.

Đến lượt Bường cườAi đã gặp anh chiến sĩ nhỏ bé này cũng phải mến ngay cái vẻ hăng hái, kiên quyết của anh. Hồi tòng quân, Bường mới mười sáu, anh khai tăng tuổi để được đi. Ra tới đảo, thấy Bường bé nhỏ quá, ai cũng gọi đùa là "chú bé"; nhưng khi biết cái tính rất kiên quyết và hăng hái triệt để của anh, lại đổi là "Tý Trâu chỉ tiến không lùi" [18]

Duyến, Bường xin đi chữa nốt các mạng dây khác. Vừa lúc đó, chuông điện thoại lại đổ hồi. Đồng chí chỉ huy trưởng gọi tôi đến nói chuyện.

– A lô! Các đồng chí ngoài ấy đánh tốt lắm. Anh em tất cả các đơn vị, các phân đội khác cũng đang chiến đấu rất cừ! Cừ lắm! Quả là các chiến sĩ ta đều rất anh hùng. Lát nữa đồng chí chính trị viên sẽ kể cho các đồng chí nghe về Lê Ngọc Vân, Thái Văn A, và rất nhiều đồng chí khác nữa. Thái Văn A đã rất anh dũng chiến đấu và được tuyên bố kết nạp vào Đảng ngay tại trận!

Tôi mừng rỡ loan báo ngay tin ấy đi khắp trận địa. Anh em vô cùng phấn khởi. Tiếng reo mừng nổi lên chẳng khác gì khi vừa bắn rơi một chiếc máy bay. Bùi Thanh Phong, mắt vẫn không rời các mục tiêu, nhưng miệng hỏi vọng sang rối rít :

– Thái Văn A! Đúng Thái Văn A vừa được kết nạp vào Đảng, phải không đồng chí?

– Đúng! - Tôi đáp - Còn Đoàn cũng đang chờ Phong đấy!

– Rõ! - Tôi xin cố gắng hơn nữa! - phong đáp.

Một lúc sau, nhìn vào mặt Phong, biết anh đã mệt lắm, tôi giục :

– Phong! Cậu hãy xuống nghỉ để anh em khác thay cho

– Báo cáo! Còn một chút hơi thở, tôi quyết chưa rời mâm pháo!

Bỗng một trái bom nổ ở phía trận địa bên cạnh. Tôi không kịp nói thêm gì với Phong nữa, vội vàng chạy sang xem tình hình ra sao. Vượt qua mấy đoạn hào đã nhừ nát, tôi đứng sững lại trước một hố bom như một cái phễu khổng lồ. Đất cồn lên bời bời ở bốn chung quanh. Gần đấy, hai chiến sĩ đang từ trong một đống đất, vùng vẫy chui ra. Đó là Mươi và Phùng, hai xạ thủ súng máy. Nhưng khi vừa mới lảo đảo đứng dậy được, Mươi đã lại ngã giúi xuống. Tôi vội đỡ anh lên. Mặt anh trắng bệch như sáp, hai con mắt dại đờ. Mấy giây sau mới hồi tỉnh lại, nom thấy tôi anh cố gượng nở một nụ cười. Tôi mừng rỡ định dìu anh vào hầm thì anh đã vội toài ra phía khẩu súng, và nói gần như gào lên trong những tiếng máy bay còn đang gầm rít trên đầu.

– Không! Báo cáo đồng chí, cho tôi được tiếp tục chiến đấu! Tôi chỉ bị choáng một tí thôi.

– Đã có Phùng rồi. - Tôi thét lại.

– Không. Đồng chí vừa báo tin Thái Văn A bị thương vẫn tiếp tục anh dũng chiến đấu, vậy tôi cũng xin làm được như Thái Văn A - Vừa nói, mắt anh nhìn tôi cầu khẩn tha thiết. Biết không thể làm gì hơn được nữa, tôi đành phải gật đầu. Vừa quay gót trở lại trận địa pháo, tôi đã nghe thấy tiếng súng của Mươi vang lên đanh, giòn mãnh liệt như không hề có chuyện gì vừa xảy ra.

Mấy loạt pháo rền lên liên tiếp. Một chiếc AD6 nữa trúng đạn. Nó lộn đi một vòng rồi như chiếc diều từ trên cao đứt dây, rơi xuống. Cuộc chiến đấu kịch hệt tới lúc đó cũng vừa vặn chấm dứt. Những tên "giặc nhà trời" còn lại như đã nhược cả ra rồi. Chúng réo lên ầm ĩ rồi từng chiếc quay đầu, vượt ra phía biển nối nh vùn vụt chạy thẳng. Lại một lần nữa, tất cả anh em chúng tôi hò la khắp các trận địa, giũ đất giũ cát trên mũ, áo, đứng dậy, siết chặt tay, ôm chầm lấy nhau, vui đến nổ trời nổ đất. Gió biển hình như bị trận chiến đấu đánh bạt đi mất, giờ đây lại dào dạt trở về, xua đuổi những đám khói còn quẩn trên khắp các trận địa. Không gian trở lại yên tĩnh. Những mảng trời trong xanh hiện ra qua những màn khói đang tan dần. Rồi ánh nắng ban chiều lại tràn ngập, sáng lóa trên biển lớn và giội xuống chói chang trên các trận địa còn khét nồng mùi thuốc nổ. Chuông điện thoại lại đổ hồi. Đồng chí chính trị viên đã có thì giờ kể cho chúng tôi nghe câu chuyện về Thái Văn A, người chiến sĩ ưu tú đã được Đảng bộ trên đảo chăm chút giáo dục từ lâu.

Đúng như sự phỏng đoán rất tinh của Thiêm : Thái Văn A là người đã nổi hiệu báo động kịp thời cho toàn đảo. Cũng giống như quân khí viên Nguyễn Đức Báu, hôm nay không phải phiên mình trực ban, nhưng với tinh thần tự giác, hăng hái, A đã ra xung phong giúp bạn. Những chiếc máy bay lao đến, rồi hàng loạt bom nổ tới tấp chung quanh đài quan sát cao ngất. Chỉ trong chớp mắt, cả cái phần trên có mái che, có lan can của chiếc đài đã bị phá hủy tan tành. Mảnh rốc-két, mảnh bom bắn vào thang, vào sàn đài chi chít. Nhưng Thái Văn A hầu như quên tất cả mọi sự nguy hiểm, quên cả thân mình, anh vẫn đứng sừng sững trên đó, giữa nơi bốn bề lửa khói ấy để tiếp tục quan sát. Đồng chí chính trị viên đã ba lần ra lệnh cho đồng chí tiểu đội trưởng Cảnh gọi Thái Văn A tạm xuống, nhưng cả ba lần A đều trả lời : "Báo cáo, tôi cần phải ở đây; không quan sát được máy bay nữa, tôi quan sát tàu chiến, đề phòng chúng thừa cơ này lẻn vào tập kích!". Tới lần thứ hư, Cảnh vừa ra đã thấy có mấy vệt máu chảy dài ở chân thang, anh gọi cuống quýt :

– Cậu A! Cậu A! Cậu bị thương rồi, xuống đi thôi. Mình lên thay cho. Xuống đi!

Chẳng những A không xuống, A còn trả lời

– Báo cáo, tôi đã bị thương. Nhưng mới bị vào đùi thôi. Tôi đã rút được mảnh bom rồi. Xin cứ để cho tôi tiếp tục làm nhiệm vụ.

Cho đến khi đợt oanh kích của bốn chiếc F.105 bị đánh bại, bây giờ Thái Văn A mới chịu rời chiếc đài quan sát của anh leo xuống.

Đồng chí chính trị viên đã biết cặn kẽ việc này nên khi nom thấy Thái Văn A tập tễnh đi tới, một bên ống quần ướt đẫm máu suốt từ ngang đùi xuống tới gấu, anh đã ứa nước mắt, chạy vội đến ôm chầm lấy A. Và ngay trong giây phút ấy, nhân danh bí thư Đảng ủy, anh đã trịnh trọng tuyên bố kết nạp A ngay tại chỗ - chỗ ấy lửa vẫn còn nghi ngút cháy trên những đám cỏ gianh, mảnh bom mảnh đạn vẫn còn ngổn ngang khắp trên mặt đất đã bị cày xới đến nhừ nát. Đến lượt Thái Văn A chảy nước mắt. Anh sung sướng đến nghẹn lời. Bắt tay đồng chí bí thư Đảng ủy mà tay anh cứ run lên : "Tôi không biết nói thế nào... Đời tôi từ nay đã hoàn toàn thuộc về Đảng...".

Câu chuyện về Lê Ngọc Vân cũng đã được đồng chí chính trị viên kể lại với tất cả niềm xúc động mạnh mẽ của mình. Khi máy bay địch tới, Lê Ngọc Vân cùng với Lĩnh, một xạ thủ người Mường, đã kịp thời nổ súng đánh ngay chiếc F.105 đầu tiên, phối hợp rất đẹp với trận địa pháo. Khẩu súng của anh đánh rất hay, nghe tiếng nổ của nó ở góc chiến hào nào là anh em biết ngay Lê Ngọc Vân có mặt ở chỗ đó.

Khẩu súng của Vân, Lĩnh góp phần xứng đáng vào việc bắn rụng chiếc F.105 thứ hai. Ụ súng của các anh đã bị sập bốn lần. Cả bốn lần, Vân đều kịp thời di chuyển và tiếp tục bắn không biết mệt mỏi. Súng hỏng chữa hỏng, súng tắc chừa tắc, bình tĩnh và linh hoạt lạ thường. Nhưng tới vị trí thứ sáu thì một quả bom đã rơi gần đó. Lê Ngọc Vân vừ ra, hai chân đã đỏ những máu... Lĩnh thấy vậy òa khóc, quỳ vội xuống ôm ghì lấy anh. Mấy giây sau Vân tỉnh lại tươi cười an ủi bạn : "Ấy, sao lại khóc thế Lĩnh? Tớ có việc gì đâu! Xoàng thôi mà!". Nhưng Lĩnh đã biết vết thương của Vân đâu có nhẹ, và Lĩnh cũng thấy rất rõ nụ cười trên đôi môi đã trắng nhợt của Vân chỉ là kết quả của một sự cố gắng cao độ mà hôi. Lĩnh càng khóc to hơn và cố dìu Vân vào trong hầm. Tới lúc đó Vân mới nói thật : "Thôi, giấu cậu làm gì, tớ bị cũng khá nặng đấy, có lẽ không được ở trận địa nữa đâu, Lĩnh ạ!". Và rất nghiêm trang, tha thiết, anh cầm lấy tay Lĩnh, dặn dò : "Nhờ cậu chuyển lời chào tới Đảng ủy, chào các thủ trưởng và chào các đồng chí trong ban chấp hành chi đoàn Thép, chào tất cả anh em. Nói hộ rằng : Vân rất nhớ, rất yêu các anh, các bạn, và tất cả. Vân chúc các anh, các bạn và tất cả hãy cố gắng tiêu diệt thật nhiều máy bay Mỹ hơn nữa, kiên quyết giữ vững lấy Cồn Cỏ của Tổ quốc!”. Cáng thương tới. Vân được đưa ngay về trạm quân y phía sau. Trên dọc đường, gặp bất cứ ai, Vân đều ân cần chào hỏi và nhắn lại những lời tương tự như vậy. Khi Vân tới ngang chỉ huy sở thì các đồng chí bí thư Đảng ủy và chỉ huy trưởng... đều đã có mặt ở đấy mọi người bàng hoàng, xúc động nắm chặt lấy bàn tay đã trắng xanh của Vân. Anh lại cố mỉm cười, gượng nói : "Các thủ trưởng ạ, tôi rất sung sướng vì đã làm tròn nhiệm vụ, đã được đổ máu trên mảnh đất thân yêu này để góp phần bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa và giải phóng miền Nam! Tôi rất sung sướng. Không có điều gì đáng ân hận cả!". Kể tới đó, đồng chí chính trị viên ngừng lại mấy giây, rồi mới nói tiếp, giọng anh rung lên :

– Khoa ạ! Các chiến sĩ của chúng ta là như thế đấy! Chúng ta thật đáng được tự hào, kiêu hãnh và tin tưởng ở anh em! Đảng của chúng ta quả là đã đào tạo nên những lớp người thật gang thép, anh hùng.

...Ngay đêm ấy, một cuộc liên hoan mừng chiến thắng đã được mở ra chp nhoáng trên toàn đảo. Vừa liên hoan vừa tranh thủ rút những kinh nghiệm nóng hổi để tiếp tục trừng trị bọn Mỹ. Mặc dầu suốt cả một buổi chiều chiến đấu liên tục đã thấm mệt, nhưng tất cả chúng tôi đều hết sức phấn chấn, vui vẻ. Chính những niềm vui ấy đã làm cho sức khỏe của chúng tôi hồi phục rất mau chóng. Lâm Văn Hiếu lại đem cây đàn bầu của mình ra chơi. Những cái láy, những cái vuốt của anh lại làm cho các chiến sĩ say mê. Bao khuôn mặt còn chưa rửa sạch vết thuốc súng và đất, cát ở chiến hào giờ đây lại mơ màng đắm chìm vào trong những niềm rung động dịu dàng, tha thiết. Bường - “Tý Trâu chỉ tiến không lùi” - và Duyến... những cây đơn ca quen thuộc lại nối tiếp nhau lên tiếng hát. Dưới bầu trời vằng vặc ánh trăng, giữa nơi bốn bể tiếng sóng rì rầm, trên trận địa hãy còn nóng bỏng tro than, nghe những tiếng hát của các chiến sĩ cất lên trong sáng và tươi trẻ, sao mà thích đến thế! Tiếng hát như làm sáng thêm cả hòn đảo.

Và không ngờ liền đó, chúng tôi lại có thêm một việc vui mừng. Một số thuyền đánh cá của đồng bào cặp đảo. Những lá buồm nâu rộng lớn, từ ngoài khơi dần dần tiến lại. Rồi những người thân yêu của đất liền, tươi cười bước lên, với những thúng cá đầy. Có cả một thiếu nữ to khỏe, da cháy nắng, cặp mắt sáng ngời, cặp mắt quen thuộc của những cô gái miền biển. Tất cả đều siết chặt tay chúng tôi. Những bác già ôm chầm lấy từng chiến sĩ mà sờ đầu, nắm tay, bóp vai, rồi reo lên sung sướng :

– Giỏi quá! Trời ơi! Các con giỏi quá! Ở ngoài khơi, bà con nom thấy chúng nó rơi xuống biển nhiều lắm, chứ không phải chỉ vài chiếc như các con nói đâu! Có ít cá ngon đây, ăn đi! Ăn cho nhiều cho khỏe mà tiêu diệt giặc Mỹ! Hết rồi lại có, các con ạ.

Mấy phút đầu, chúng tôi không ai đáp được câu nào. Trước sự đùm bọc vô bờ bến của đồng bào, tất cả chúng tôi đều rưng rưng n

...

⚝ X ⚝

Lá cờ "Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược" của Bác vẫn tiếp tục vẫy gọi, cổ vũ chúng tôi chiến đấu Màu cờ như luôn luôn tỏa ra đỏ thắm trên khắp đảo. Những dòng chữ vàng lấp lánh như có hồn sống. Không một ngày nào trên các chiến hào, các trận địa, chúng tôi không nhắc nhở nhau : "Chúng ta đã được cờ Bác. Phải làm sao cho xứng đáng hơn nữa!".

Trắc, Kỳ..., những chiến sĩ trước đây còn có lúc lúng túng trong chiến đấu, giờ đây đã hiên ngang ngồi ở những ghế pháo thủ số 1, thành thạo và rất bình tĩnh. Tứ cũng càng trở nên giàu kinh nghiệm. Anh vẫn đứng sừng sững giữa trận địa, mặc cho bom đạn réo quanh mình làm cho các pháo thủ đã phải kháo nhau : "Không khéo ông Tứ đã tới trình độ có thể nhìn thấy cả luồng đạn của bọn Mỹ. Chỉ thấy ông ấy né mình sang một bên là đã tránh gọn!". Đinh Minh Vị, anh giáo chưa tốt nghiệp, người chiến sĩ của đại đội Lê Hồng Phong trước đây, nay giữ cây thượng liên cũng càng đánh càng vững, và càng đánh càng ăn khỏe, xem chừng cũng là đấu thủ đáng gờm của "trạng ăn" Nguyễn Văn Tảo. Tấm lưng của anh đi trong giao thông hào nào cũng thấy chật chội. Lĩnh, anh chiến sĩ ở một phân đội pháo khác, đã có đêm dũng cảm bắn trúng tàu biệt kích địch khi chúng liều lĩnh vào gần đảo, nay cũng luôn luôn xông ra chỗ cao xạ xin xung phong tiếp đạn...

Toàn đảo thi nhau lập công. Ai ai cũng muốn trở nên người chiến sĩ vững vàng nhất, đáng tin cậy nhất của Đảng. Ai ai cũng muốn trong dịp này phải làm được một việc gì tốt hơn trước, cao hơn trước để xứng đáng với phần thưởng của B

⚝ ⚝ ⚝

Ít ngày sau, tôi được trên trao cho một nhiệm vụ hết sức đột ngột, đó là nhiệm vụ : thay mặt toàn thể cán bộ, chiến sĩ trên đảo, về Thủ đô dự Đại hội “Thi đua quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”. Lòng những bồi hồi sung sướng. Tôi đã được vinh dự nhận một nhiệm vụ vẻ vang mà bản thân tôi chưa bao giờ dám mơ ước tới. Về Thủ đô dự Đại hội, chắc chắn tôi sẽ được hạnh phúc gặp Trung ương Đảng, Chính phủ và Bác... Cũng sẽ được gặp biết bao đại biểu của các đơn vị, các địa phương anh hùng của Tổ quốc... Ôi, mới thử mường tượng ra cái giây phút đầu tiên được nom thấy Bác, là người tôi đã nóng ran lên, và nước mắt muốn tuôn chảy vì hạnh phúc. Tôi biết nói thế nào đây để báo cáo được tất cả mọi điều trên Cồn Cỏ với Trung ương, Chính phủ và Bác? Ngày và đêm trên hòn đảo tiền tiêu bé nhỏ này đã xảy ra biết bao sự kiện vẻ vang, đẹp đẽ. Những người bảo vệ, xây dựng nên chiến công của Cồn Cỏ thực ra chẳng phải chỉ có chúng tôi. Nhiều lắm! Đã có biết bao nhiêu Đảng bộ, bao nhiêu đồng bào, đồng chí, bè bạn xa, gần chi viện, ủng hộ cho chúng tôi làm tròn nhiệm vụ...

Bồi hồi sung sướng xen lẫn lo lắng bàng hoàng!...

Buổi sáng hôm ấy, tôi đi các trận địa thăm lại anh em, rồi trèo lên cái đài quan sát đã dày đặc mảnh bom đạn của Thái Văn A, ngắm nhìn lại toàn cảnh của Cồn Cỏ thân yêu trước khi tạm biệt nó ít ngày. Từ trong đất liền nhìn ra hòn đảo giống như một chiến hạm nổi hoặc một con cọp đang chồm trên sóng như nhiều người đã nói, nhưng lúc này đứng ở trên cao nhìn xuống, lại thấy nó có hình một lá cờ đang bay trước biển sóng. Trước kia, đảo toàn là một màu xanh mượt mà của cây cỏ hôm nay, các khu rừng ấy cùng mọi vật ở trên đảo đã bị quân thù phá trụi hầu hết. Từng khu đất lớn trơ ra đỏ loét, lồi lõm hố bom đạn. Nơi này một đống lửa còn đang âm ỉ cháy. Chỗ kia mấy luồng khói vẫn còn đang đùn lên nghi ngút. Ở khu trung tâm văn hóa nay không còn lấy một mẩu gạch nhỏ. Muốn tìm lại dấu vết của những nền nhà xưa, chỉ có thể nhìn phương hướng mà phỏng đoán. Tuy nhiên, tất cả những vết nham nhở ấy giờ đây lại làm cho hòn đảo thêm gân guốc, cứng cỏi. Ngoảnh nhìn về phía "khu Hà Nội" vẫn thấy cây cột cờ kỳ lạ của đảo. Nó vẫn đứng sừng sững bất chấp mọi thứ bom, đạn của giặc Mỹ. Một bóng người đang lúi húi ở những "vườn" rau mới trồng bên những hố bom lớn. Tôi nhận ra ngay Đinh Kinh với điếu thuốc lá vấn to xù ngậm ở bên mép và chiếc bao tải vắt trên vai... Lại thấy mấy bóng người nhỏ nhắn khác đang nhanh thoăn thoắt đi dọc theo một đường hào ra trận địa. Đó là Duyến và Bường, hai chiến sĩ thông tin, những người đã cùng anh em lăn lộn ngày đêm không quản ngại, xông pha vào bất cứ chỗ nguy hiểm nào để bảo đảm đường dây thông suốt trên đảo. Một con chim hoàng yến ức vàng mịn bỗng ở đâu bay tới gần chỗ tôi rồi ngập ngừng đỗ trên một thân cây đã bị bom phạt gãy. Đưa cặp mắt đen láy nhìn tôi, rồi chú chim bé nhỏ ấy cất tiếng hót trong trẻo. Chú chim hình như muốn nói : "Anh xem, tôi vẫn đẹp, vẫn vui đấy chứ?", rồi cất cánh bay vút lên cao tít, nhẹ nhàng, thanh thản. Ở nhiều nơi, những mầm chuối non đã đâm lên, cái nhọn hoắt, đỏ tía, cái xòe đôi ba lá xanh biêng biếc. Cả một số chồi đu đủ cũng đang nhú lên, và những mầm cỏ non cũng đã trải ra ở đó đây. Từ phía trận địa cao xạ bỗng vẳng lại những tiếng cười giòn như ngô rang của những anh chiến sĩ trẻ nào đó...

Trước khi tôi vượt biển, một lần nữa các chiến sĩ lại nhộn nhịp kéo tới. Anh dặn dò : về Đại hội phải ghi chép kỹ, để khi trở ra, kể lại thật tỉ mỉ cho anh em nghe. Anh vui vẻ nhắc tôi : Khi nào được gặp Bác phải báo cáo thật rõ với Bác rằn g: "Chúng cháu ở Cồn Cỏ kiên quyết thực hiệ lời dạy của Bác, cụ thể là trong hoàn cảnh nào cũng đoàn kết cùng nhau tiêu diệt thật nhiều bọn đế quốc xâm lượt Mỹ và bè lũ tay sai, giữ vừng Cồn Cỏ mãi mãi là hòn đảo yêu quý của Tổ quốc". Khẩu đội này nhét cho tôi một túi đầy những mảnh bom Mỹ đủ các loại để về tặng các đồng chí và bà con trên đất liền. Phân đội kia bắt tôi đèo về bằng được một số dụng cụ như thìa, muôi múc canh, kẹp tóc, nhíp nhổ râu, ống khói bếp Hoàng Cầm... mà anh em đã nhặt các đuôi bom bi và ống rốc-két chế tạo ra, cũng để làm quà gửi biếu các nơi. Và hầu như không một đơn vị nào quên các cháu bé. Thôi thì vỏ ốc, mai cua, đuôi đạn... đủ các thứ mà các cháu có thể chơi được, tôi phải cõng tới một ba lô nặng. Những anh chiến sĩ trẻ, tinh nghịch còn ôm lấy tôi "gửi những cái hôn" về cho các bạn thân yêu ở quê nhà.

...Thế rồi, tôi đã đặt chân lên tới đất liền của Tổ quốc với tất cả niềm xúc động đến nghẹn ngào. Mắt tôi đẫm lệ. "Ôi Tổ quốc Việt Nam hùng cường, kiêu hãnh! Ôi mẹ hiền Việt Nam yêu quý!" Tôi muốn reo lên, cúi xuống hôn mảnh đất thiêng liêng mà đã bao ngày qua từ trên bờ đá ngoài kia nhìn vọng về, chỉ thấy một dải mờ xanh với tất cả niềm thương nhớ, tin tưởng.

Tôi bước chân lên tới bờ, cũng là lúc tôi được đắm ngay mình vào biển cả của tình thương yêu nồng nàn chưa từng thấy của Đảng bộ và đồng bào Vĩnh Linh. Muôn ngàn cánh tay đưa ra. Muôn ngàn lời thiết tha âu yếm quấn quít khắp chung quanh, làm cho tôi luôn luôn ngây ngất như say đi trong cái không khí gia đình, trong mối tình đồng chí, và trong cái nghĩa đồng bào. Tất cả chỉ vì một lẽ : chúng tôi là người đại diện của các chiến sĩ ngoài Cồn Cỏ.

⚝ ⚝ ⚝

Tôi không ngờ lại được gặp Bùi Thanh Phong, Lâm Văn Hiếu và Nguyễn Văn Thiêm ở ngay trên đất Linh. Các đồng chí ấy đã về tới đây từ mấy tuần trước để nghỉ ngơi ít ngày. Mới cách xa có thế, mà tưởng chừng như đã mấy năm trời. Vừa nom thấy, chúng tôi đã reo ầm lên, ôm choàng lấy nhau, nước mắt ứa ra, mừng mừng, rỡ rỡ. Phong vẫn bị ù tai chưa khỏi. Muốn nói chuyện với anh phải dùng bút viết. Lâm Văn Hiếu, Nguyễn Văn Thiêm đã khỏe khoắn như xưa. Đôi môi Hiếu lại đỏ chon chót. Cặp mắt Thiêm lại luôn luôn ngời sáng, tỏa ra một nghị lực và ý chí kiên cường. Hiếu và Thiêm đã ráo riết đề nghị lên cấp trên xin trở ra Cồn Cỏ mặc dầu mấy anh em đang được sống như những người con "cưng" nhất của Đảng bộ và nhân dân Vĩnh Linh. Suốt ngày bà con, cô bác, bạn bè tấp nập tới thăm hỏi, tặng quà bánh. Nghe tin có chiến sĩ Cồn Cỏ trở về, đã có không biết bao nhiêu đơn vị bộ đội, nông trường, cơ quan, xí nghiệp, trường học, hợp tác xã... tranh nhau đến mời đón về chơi để cho anh em, bà con "được biết mặt và chăm sóc cho bõ những ngày gian khổ ở tiền tuyến"...

Thiêm kể lại :

– Chúng tôi không còn biết dùng lời gì để tả lại sự ân cần quý mến vô bờ của cấp trên, của Đảng bộ và bà con cô bác ở đây đối với chúng tôi. Thấy tai Phong bị ù như thế, các mẹ, các chị và các o cứ khóc miết. Anh có biết không, một hôm chúng tôi ra đường chơi, không rõ ai "lộ bí mật" nói cho mọi người biết chúng tôi là người của Cồn Cỏ, thế là trong phút chốc, chúng tôi đã bị vây chặt trong một đám đông không sao đi được nữa, nhiều bác, nhiều bà mẹ cứ ôm chặt lấy chúng tôi, sờ nắn từ mái tóc đến bàn tay, xót xa, âu yếm như mẹ, như cha đối với đàn con nhỏ đi xa trở về. Còn bầy thiếu nhi thì có thể nói, đã yêu chúng tôi đến cuồng nhiệt. Một bữa khác, Phong đi may áo ở một cửa hiệu nhỏ. Khi biết Phong là chiến sĩ Cồn Cỏ, chị thợ may nhất định không lấy tiền công. Chị nói : "Các anh Cồn Cỏ đã cống hiến biết bao nhiêu cho nhân dân, cho đất nước, chúng tôi may giúp anh cái áo phỏng đã có nghĩa lý gì...". Những chuyện tương tự như vậy thực ra kể không biết bao nhiêu cết. Chúng tôi đã nói với nhau : "Bọn mình được sung sướng tới cực điểm rồi đó!". Và cũng chính vì thế mà chúng tôi càng tích cực xin trở ra Cồn Cỏ tiếp tục chiến đấu. Ngoài ra, ở đây, hàng ngày mắt trông thấy máy bay Mỹ bắn giết đồng bào, bọn tôi không tài nào chịu nổi. Tay mình đã quen điều khiển khẩu pháo để trừng trị bọn chúng rồi.

Thiêm cho tôi biết tiếp : Thể theo nguyện vọng của mấy anh em, cấp trên đã đồng ý cho Hiếu và anh được trở lại Cồn Cỏ. Riêng Bùi Thanh Phong vẫn phải ở lại đất liền để tiếp tục điều dưỡng. Phong hiện vẫn còn đang "kiện" về vấn đề này rất hăng. Vẫn sôi nổi như xưa, anh thiết tha nói với chính ủy : "Các đồng chí cứ cho tôi ra Cồn Cỏ, tức khắc mọi bệnh sẽ tiêu tan hết ngay!" Nhưng chính ủy chỉ cười và kéo Phong vào sát ngực mình, ôm anh như ôm một chú em yêu quý nhất.

Hiếu và Thiêm đã chuẩn bị xong xuôi, chỉ chờ lệnh là lên đường. Hai anh mang cho tôi xem những đồ hành trang. Tôi phải ngạc nhiên trước cái khối lượng tặng phẩm, quà bánh đồ sộ mà anh em trong cơ quan, bà con địa phương đã tới tấp mang tới cho hai anh. (Đó chỉ là những món quà riêng. Quà chung cho Cồn Cỏ đã để ở một chỗ khác, ở đây không kể tới). Có những o đã chăm chút vót cho hai anh từng bó tăm tre nhỏ tắp, thêu cho các anh những bông hồng rõ tươi có kèm theo những chữ "kỷ niệm" hoặc “lưu luyến” trên góc những chiếc khăn tay còn mới nguyên màu hồ. Một bà mẹ đã gói cho hai anh năm sáu chiếc bánh chưng, mà mỗi cái có lẽ hai người ăn một bữa không hết. Có những cháu bé tặng cho hai anh những quyển sổ tay rất xinh xắn do chính các cháu đóng lấy... Tuy nhiên, giữa những đống tư trang và quà tặng ấy, tôi vẫn thấy có một cây sáo trúc. Lâm Văn Hiếu cười :

– Tôi với nó đi đâu cũng phải có nhau anh ạ! Chuyến này nó lại theo tôi trở ra Cồn Cỏ...

Và anh chiến sĩ trẻ ấy đã giắt cây sáo trúc sau lưng, cùng bạn lại vượt biển raCỏ thật. Hăm hở và vui tươi các chiến sĩ ấy đã lên đường vẫn chẳng khác gì lần đầu tiên được phái ra hòn đảo tiền tiêu nhỏ bé ấy.

Riêng Bùi Thanh Phong vẫn phải ở lại, vẫn phải “giữ trong lòng Đảng và đồng bào” cho tới khi bình phục.

Còn về phần tôi, hướng về Thủ đô, tôi cũng bắt đầu lên đường. Trước khi xe lăn bánh, tôi còn cố ngoái nhìn ra phía Cồn Cỏ. Tuy không nom được rõ nữa, vẫn nghe thấy tiếng máy bay phản lực Mỹ đang quần ngoài ấy cùng với tiếng bom nặng nề theo sóng lan truyền về. Tất cả các trận đỉa, các chiến sĩ thân yêu phút chốc lại như hiện lên đầy đủ trước mắt tôi tưởng chừng như nom thấy rõ mồn một từng đường đạn đỏ chói, thẳng căng của anh em đang đánh lên để lập thêm những chiến công mới gửi tôi đem về dâng Đảng, dâng Bác và làm quà chào mừng Đại hội. Tôi những chỉ mong sao mọi công việc thu xếp được nhanh chóng để có thể sớm trở về. Chiếc xe nhằm thẳng phương Bắc, bắt đầu lao vun vút giữa đôi hàng dương xanh mướt.

Nhưng bên tai tôi vẫn còn như âm vang tiếng sóng, tiếng gió và trước mắt tôi vẫn hiện lên hình ảnh chói lọi của hòn đảo thân yêu : Cồn Cỏ!

10-1965

HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG

Chú Thích

[17] Tiếng của anh em Cồn Cỏ gọi tắt một chiếc phản lực.

[18] Một nghĩa quân trẻ tuổi của Ông Ích Khiêm rất mưu trí, dũng cảm, chiến đấu chống ặc Pháp khi chúng mới sang xâm lược nước ta (trong truyện "Ông Cản Ngũ” của Kim Lân).

« Lùi
Tiến »