Làng Xưa

Lượt đọc: 1617 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
- 1 -
cuối năm giáp thân (1944)

Tháng Mười thường là tháng của mùa màng ấm no. Những ngày đó ở làng Hạ, sáng thường có bát cháo lót lòng. Trưa và tối, được nghe tiếng cơm sôi lục bục. Hơi cơm gạo mùa tỏa lan, làm những cánh mũi phập phồng.

Tháng Mười này gió heo may đã về mà trời vẫn âm u. Ao bèo cái còn xanh. Cồn tre chỉ hoe vàng, chưa hề rũ lá. Giậu râm bụt rậm rịt, khoe những bông đỏ chói và những nụ hồng đu đưa…

Như mọi năm, cữ này đám trẻ con xóm Giữa Làng thường tụ tập đông ở ngõ, đứa hái những bông bụt bày bán hàng. Đứa bắt những con sâu trong lá, buộc tơ chuối, câu cá sặt cờ. Trên mặt con ngõ ngoằn ngoèo đầy đất cát, bọn trẻ khoét những chiếc lỗ, tùy loại trò chơi chúng bày ra. Lỗ đáo tròn. Lỗ khăng thì dài. Bàn luyến và “ô ăn quan” vạch ngang, vạch dọc. Chúng vừa cười ngặt nghẽo về câu chuyện khoái chí, đã lại cãi vã om sòm, bảo đứa này ăn gian bắt đứa kia “đã bước chân đi cấm kỳ trở lại!”.

Năm nay thì khác, trong con ngõ vắng vẻ, hoa râm bụt cứ nở, giậu trúc cứ xanh, nhưng bọn trẻ mỗi đứa tản mát một phương. Tốp ra đồng đánh cào cào. Cào quan, muồm muỗm, chàn chạt, cào ngô, châu chấu đầu nhọn… vô ối! Mỗi đứa một cái giỏ treo lưng, cùng chiếc vỉ ruồi tre hoặc cặp bằng miếng mo cứng. Mắt chăm chắm. Chân lò dò trên từng con bờ. Đàn cào cào thấy động, bay tứa bốn phía. Những cái vỉ phầm phập đập xuống… Mặt trời mới lên ngọn gạo, giỏ đã đầy. Chúng dúi giỏ xuống nước cho cào cào ngạt rồi về đổ nồi rang. Cánh cào xém đi. Mình cào phồng lên, vàng ươm và bốc mùi thơm. Chúng nhặt những con muồm muỗm và cào cái đầy bụng trứng, nướng cho chín thêm, bóc ra ăn ngấu nghiến. Ngọt và ngậy. Đứa nào cũng nói vậy. Tối hôm trước chỉ húp bát cháo loãng. Sáng nhịn chay. Giờ được ăn những con cào nướng, sao không ngon? Còn lại, chúng mang ra chợ bán.

Nhà quê ít tiền, nhất là lúc khó khăn này, những con cào cào vặt sạch chân cánh, rút bộ ruột, đổ ít nước cà, kho cũng dễ ăn. Bán được cào cào, đứa mua tấm bánh đúc ăn tắp lự, đứa lại mua chiếc bánh đa về bẻ nhỏ chia đều cho đàn em ở nhà.

Tốp trẻ khác lại chú ý tìm những con cà cuống núp dưới vệ cỏ hoặc búi rạ. Cà cuống không sinh sôi nảy nở ở đây. Chúng bay theo những cơn “táp tây” đến. Cà cuống đực bụng nhỏ, đầu bé. Con cái cẳng mập, đôi cánh màu đất xòe rộng, bụng đầy trứng. Bắt được cà cuống, trước hết phải tuốt màng ở cái ngòi, để khỏi bị đốt. Cà cuống rất hiếm. Thỉnh thoảng mới “dớ” được một chú. Bắt được cà cuống, rút bỏ đầu rồi “mổ” gọi là “mổ trâu” – như ông Chánh bá mổ trâu khao dạo “khai hạ” (ăn mừng). “Trâu” được chúng xả ra từng mảnh nhỏ, chia ăn đều. Người có công bắt cà cuống, được chia riêng cái bọng cay. Cái bọng chỉ bằng đầu đũa mà cay ran lưỡi, thơm lựng…

*

 

Xóm Giữa Làng có nhà ông Quen. Hai vợ chồng và ba người con. Gái lớn tên là Sông, đang tuổi dậy thì. Gọi “dậy thì” nhưng nhà nghèo, chỉ phổng phao lên một chút, má hồng lên một chút. Hay cười và bắt đầu e thẹn.

Từ tháng Tám, sau mấy trận mưa lụt làm “đồng trắng nước trong”, chẳn ai hồng gì về một vụ mùa lúa tốt. Cái đói đã ở trước mắt. Mọi người đều lo.

Chiều hôm ấy, có một bà áo chùng, quận lụa, đi guốc “Sè Goòng” đến nhà ông Quen, nói là người làng Thượng, gia đình buôn bán tại Hà Nội. Hà Nội chẳng thiếu gì người. Bà muốn về quê mướn người thật thà lên làm “con sen”, hằng ngày quét tước nhà cửa, thổi nấu ăn, giặt giũ quần áo… Nếu ông bà Quen ưng cho con gái lớn đi làm thì vài ngày nữa bà đến đưa đi.

“Chết đuối vớ được cọc”, đi làm con ở cũng tốt, cốt kiếm được bát cơm no, manh áo lành. Ông bà Quen gật đầu. Bà “Hà Nội” mang đến một quần vải đen, chiếc áo cánh phin trắng cho cái Sông mặc, và dặn phải tắm gội sạch sẽ, đừng để dơ bẩn, lên thành phố người ta cười.

Cái Sông đun ngay nồi nước lá chanh gội đầu, lấy gio ấm đắp vào đôi chân “bó cổ trâu” bởi bùn đất bám vào, rồi kì cọ. Mặc “bộ cánh” mới để cả nhà ngắm. Bà Quen không nói gì, chỉ bảo con mặc tạm rồi cởi ra, hom nào đi với người ta hãy mặc. Cái Bến, cô em mười bốn tuổi, cứ hi hút khen là chị Bông đẹp lên nhiều. Má trắng hồng. Lúm đồng tiền xoáy sâu. Lông mày đen. Đôi tai thanh, nếu có khuyên bạc đeo thì chẳng khác con ông Chánh, ông Lý. Sông chỉ cười. Má ửng lên.

Đêm ấy, chị em nằm ôm lấy nhau. Ngày mai “bà Hà Nội” đã đón đi rồi, chả biết bao giờ chị em lại được gần gũi? Chị đi tỉnh thành sẽ được ăn sung mặc sướng. Em ở nhà vẫn bắt ốc mò cua. Vài năm nữa, lơn bằng chị, trên ấy có việc gì, về đưa em đi làm với! Cái Bến thủ thỉ dặn chị như vậy.

Chị nó nằm nghe rồi thút thít khóc, bảo chưa biết “ăn sung mặc sướng” ra sao, nhưng nhớ thầy bu và các em. Từ đây, không còn những buổi chị em chơi chuyền, chơi chắt, không còn những tối cùng nằm trên chiếc chõng che giữa sân nghe mẹ sàng gạo, xem bố buộc gầu, nhìn “cái giậm, con vịt” trên sông Ngân Hà và những ông sao đổi ngôi! Này Bến, một vài tháng chị lấy được công sẽ gửi về để thầy bu đong thóc. Hôm qua “bà chủ” bảo trả chị hai chục bạc một tháng, đong được hai thúng thóc đấy, Bến ạ. Hai thúng thóc, kể cũng rẻ, chỉ đủ gạo người ăn một tháng. Lúc khó khăn này, như thế cũng tốt. Cái Sông bảo em như vậy.

Hôm sau, “bà Hà Nội” đến đưa cái Sông đi. Nó mặc bộ quần áo mới, mặt buồn rười rượi. Từ ngày đẻ, nó chưa một lần xa rời bố mẹ, xa rời cái xóm Giữa Làng này. Giờ phải chia ly, nó sụt sùi khóc. Ông Quen nhìn con như cháy ruột gan, nhưng vẫn phải mắng:

- Đi Hà Nội làm ăn, chứ đi nước Tây, nước Tàu đâu mà khóc?

Nó lau nước mắt, nói lí nhí:

- Thầy bu, các em ở nhà. Tôi đi đây!

Bà Quen ra đầu ngõ đứng:

- Lên đấy ít lâu rồi “đánh giấy” (gửi thư) về cho nhà biết.

Nó chỉ gật. Không nói.

Cái Bến lẽo đẽo theo ra đến đầu đình, đứng nhìn cho đến khi bóng chị khuất vào rặng tre mới thôi. Về đến nhà đã thấy thằng Buồm, em nó, đang mè nheo:

- Thầy có tiền đấy, may cho tôi cái quần. Quần tôi rách tan rồi!

- May! Người ta ứng cho mươi đồng bạc công của chị mày, để mai đong gạo. May rồi nhịn hả?

Thằng Buồm vẫn lạu bạu:

- Dạo xưa thì bảo mùa. Mùa, lại bảo mai kia. Giờ có tiền lại để đong gạo. Dễ tôi cởi truồng chắc?

- Trẻ con cởi truồn cũng được. Mày không xem cụ Tư Lưu suốt đời đóng khố sao?

Thấy con vẫn lủng bủng, ông Quen gằm mặt:

- Tao cho mấy gậy thì bỏ đời. Mày xem nhà này ai lành mà mày kêu rách?

Nó lủi thủi ra ngoài, mặt vẫn xưng xỉa. Ông bố nhìn theo:

- Tao vạc cái mặt đi bây giờ!

*

Cuối vụ. Tưởng trời sẽ cho vớt vát được ít thóc, kiếm bát cơm ăn làm chiêm. Ai ngờ lúa chưa kịp ngẩng đầu thì sâu bệnh lại sinh sôi, tràn ngập khắp trên nội, dưới đồng! Cả hàng tổng, hàng huyện đâu đâu lúa cũng xác xơ èo uột. Vuốt từ đầu đến cuối bông, chỉ vài mươi hạt thóc chắc, còn tất cả lép kẹp. Chỉ cần một mồi lửa, cả cánh đồng sẽ ra than!

Muồm muỗm không còn. Cà niễng, cào cào cũng hết. Còn gì để ăn mà chúng ở lại? Cỏ ngoài đồng cũng mòn lụi đi vì những bước chân con người ngày đêm dẫm đạp kiếm sống. Những con mắt ngóng ra đồng. Những cái dạ dày chờ đợi. Trai gái, trẻ già làng Hạ đều ngóng ra đồng. Giờ thì tuyệt vọng. Từ đời ông đến đời cha chỉ ao ước “Bao giờ cho tới Tháng năm. Thổi nồi cơm nếp vừa nằm vừa ăn?”. Rồi lại “Bao giờ cho tới Tháng mười. Thổi nồi cơm nếp vừa cười vừa ăn!”. Tháng Mười năm nay như vậy. Tháng Năm còn xa…

Ông Quen làm canh điền (theo trâu cày vừa) cho nhà Chánh Tần, được cày rẽ tô bốn sào ruộng. Khi cây lúa còn “con gái”, ông cùng vợ con bàn nhau lúc gặt sẽ nấu hẳn bốn đấu gạo cho bốn người ăn thật no, để “mặn này bõ nhạt ngày xưa”. Bến cũng ước ao và mong đợi đến ngày đó. Trước thì không biết. Từ khi nó sáu, bảy tuổi đến giờ, ngày mùa cũng như tháng ba, nhà nó chỉ đong gạo bằng chén – cái chén Tống vỡ miệng bố nó nhặt đâu về. Thức ăn là cáy, cua, tôm, tép mò bắt được. Con tươi đem bán, con ươn để ăn. Bữa nào cũng vậy. Cái mâm chả mấy khi rửa. Ăn xong, mẹ nó lấy cái chổi “quét mâm” bằng rơm, phẩy phẩy mấy nhát cho “sạch”. Mâm đặt trên manh chiếu rách, trải xuống nền nhà. Một rá to rau diếp thái nhỏ để “ăn ghém”. Một bát tô nước mắm cua mặn chát. Tinh tươm hơn thì thêm đĩa cua hoặc tép kho. Không thì cứ cơm độn khoai, độn củ từ ăn với “rau ghém” cũng no và ngon! Ấy là nói ngày mùa. Còn tháng ba ngày tám, sáng nhịn; trưa, mỗi người vài vực cơm độn; tối ăn cháo.

Ông Quen làm canh điền cày bừa quần quật vất vả, tối không dám ăn cơm nhà chủ, lấy đấu gạo về nấu cả nhà cùng ăn. Đem nằm da bụng sát xuống tận sống lưng, thở hi hóp, vừa đói vừa mệt. Khoảng đầu canh năm, nghe gà gáy lần thứ hai, ông đã ngủ dây, khoác chiếc vỉ cói ra ngoài tầng áo đụp, lấy dây chuối thắt chặt chẽ, cầm cái roi tre, sang nhà Chánh Tần bỏ thêm cỏ cho con trâu cà ăn no, để sáng đi cày.

Ông Chánh có ba vợ. Vợ ba là con nhà nghèo. Bố chết sớm. Mẹ con ở với vợ chồng người anh trai. Chị không đẹp nhưng khỏe mạnh. Da bánh mật. Răng đen. Hay cười. Một thời, đám trai làng vây quanh tán tỉnh. Hình như đã có lần chị mang thai. Nhờ một thầy lang thương tình cắt cho thang thuốc, nên chuyện chỉ xì xào rồi lắng.

Nhà Chánh Tân lắm cơm, nhiều việc. Bà Hai ở dinh cơ riêng. Mình bà cả chẳn sao quán xuyến nổi công việc mấy chục mẫu ruộng. Đành rằng, có cơm có gạo thì chán vạn người hầu, nhưng người dưng nước lã, ai tội gì giữ của “cho chúa”. Bà quyết định cưới “dì Ba” để sai khiến, vừa không mất công lại được việc. Bà bỏ ra chục thúng thóc “mua” chị về. Gọi là “mua khoắng”, không cưới xin gì cả!

Lúc đầu, chị Ba vui, tìm được nơi nương tựa, thoát khỏi cảnh eo óc chị dâu, em chồng. Giàu có cao sang chắc chả đến lượt mình, nhưng miếng cơm manh áo hàng ngày không phải lo, đôi lúc lại được nghe thưa gửi. Mấy tháng đầu, bà Chánh Cả cho chị Ba nằm ở nhà trên. Bà “trấn” tại chiếc giường giữa. Mỗi lần ông Chánh sang chỗ “dì Ba” là hôm sau người bả lả mệt mỏi, ho sù sụ, có bữa bỏ cơm. Thế này thì thiệt đơn, thiệt kép. Chi bằng đưa “chị ta” xuống nhà ngang, hằng ngày lo việc xay giã, quét tước, cơm nước cho người làm và chăn mấy đàn lợn. Bà Cả nghĩ vậy.

Thế là chị Ba bị “hạ bệ”. Chị cũng chẳng oán thán. Phận lẽ mọn, phải cam chịu cảnh “ăn cơm nguội, nằm nhà ngoài”! Nhưng tuổi xuân lại giày vò chị. Đêm dài một mình trống trếnh, chị chẳng chút mong đợi người “chồng hờ”, xương hom vêu vao, mồm sặc hơi thuốc phiện, lẻn đến ôm ấp, mà ao ước có một người đàn ông sung mãn cận kè.

Những lần mang cơm lên đồng cho ông Quen, chị nghe ông kể về cảnh nhà túng quẫn. Ông bảo, con người ta có số. Chị số sướng, như “chuột sa chĩnh gạo”. Vợ chồng ông số khổ, suốt năm đầy thân dãi thể làm thuê cấy mướn vẫn khó nghèo! Thấy ông khen, chị Ba tủi phận. Có nằm trong chăn đâu mà biết chăn có rận? Chị chỉ mong được như con chim được tháo cũi sổ lồng, dù có phải đậu chốn cheo leo hay sa nơi cành mềm!...

Ông buột mồn hỏi:

- Thế sao chị không về nhà mình?

Chị thở dài:

- Con gái, đã mang thân bán cho người, muốn về đâu dễ? Mấy lại, tìm đâu ra chục thúng thóc để trả lại họ?

Nước mắt chị ngân ngấn. Ông Quen thương cảm.

Những hôm đi làm về sớm, ông qua nhà ngang, thấy chị Ba một mình giã gạo. Trời nóng bức, chị cửi trần, chiếc yếm nâu đẫm mồ hôi dán sát vào người. Cối giã gạo nhà giàu, bàn đá, tai cũng bằng đá. Cần cối là cây gõ nhãn to. Mỏ bịt sắt. Người mập mạp lại săn sức như chị Ba mà cũng phải ráng sức giậm, cối mới bổng lên, ké…ép…phịch! Ké…ép…phịch! Cần cối uể oải. Con người uể oải. Ông mặt trời cũng uể oải nhòm vào gian nhà bức bối đầy bụi cám gạo. Miệng chị đếm. Chân chị giậm. Mồ hôi tứa ra. Khuôn ngực dập dềnh theo những nhịp chày nặng nhọc. Thấy ông Quen, chị gọi:

- Vào giã với tôi một lúc, bác Quen!

Coi như một mệnh lệnh, ông ý tứ bước vào, ý tứ đứng phía sau cối. Có người phụ, nhịp chày nhanh hơn. Chị Ba đứng thẳng lên, vớ chiếc mo quạt té tát. Hơi người chị nồng nồng và ngầy ngậy. Tóc chị bay phất phơ. Chị Ba hồi sức, nói chuyện và cười vui:

- Lúc nào cũng thế này thì thích!

Ông Quen không nói gì. Tiếng chị lại vói lên:

- Ở nhà anh hay giã gạo với chị ấy nhỉ?

- Làm gì có thóc mà giã luôn. Đã có con lớn làm với mẹ nó.

- Anh sướng thật đấy. Bốn chục tuổi đã có con gái lớn. Tôi chả biết đến bao giờ mới có được mụn con!

- Con bà Chánh là con vàng, con ngọc. Con nhà khó là con cáy, con cua.

- Anh đừng nói vậy. Tôi cũng là con nhà cua cáy. Này… anh làm thế nào mà đẻ được con sớm thế. Chị ấy chắc cũng béo?

- Gầy! Trời cho…

Chị Ba cười khúc khích. Một cơn gió mồ côi từ phía gốc mít thông thuôn vào nhà. Không khí dịu xuống. Chị Ba hưng phấn càng giậm khỏe, khiến cần cối “kép phịch” liên hồi. Dần dần, ông Quen thấy chân chị Ba cứ dịch xuống. Ông lại lui, chị cũng lui… Sau phải bảo:

- Đứng lên tí nữa cho dễ giã.

Chị cười:

- Cái nết tôi hay thụt xuống. Hay là anh đứng trên.

Ông Quen đổi chỗ. Chỉ một lát, chị lại nhích dần lên, quờ vào chỗ tay ông nắm thừng…

*

Qua vụ gặt, Chánh Tần cho gọi ông Quen đến. Chả rõ chuyện gì, ông thấp thỏm bước lên thềm nhà, khúm núm:

- Kính ông. Ông gọi con?

Lão bỏ tẩu thuốc, chỉ cái ghế bảo:

- Ngồi đấy!

Lúc lâu Chánh Tần mới thủng thẳng nói:

- Anh đã hộ nhà tôi mấy năm. Làm được. Công sá đến đâu tôi trả sòng phẳng đến đó. Vụ qua, sức anh đuối, không theo kịp con trâu cà. Tôi phải mượn người khác thay. Từ vụ này, anh nghỉ. Đáng lẽ tôi phải đòi số nợ hơn chục thúng thóc vợ chồng anh vay đã mấy năm; vụ nào cũng chỉ trả được lãi. Vụ này, lãi chưa có, tôi trừ vào công anh đã làm. Còn vốn, cho khất đến vụ sau, nghe chửa?

Ông Quen cứ đứng ngây người như nghe nhầm. Thấy vậy, lão hỏi:

- Nghe rõ chửa? Rõ rồi thì về!

- Kính ông ngơi ạ.

Thế là ông mất việc giữa lúc mất mùa. Rồi đây, bốn con người lấy thóc gạo đâu ăn để sống đến tháng Năm? Ra khỏi nhà Chánh Tần, ông đi như người mê ngủ. Vòng hết xóm Đình lại vào xóm Giếng… Gần trưa, ông mới lò dò về đến nhà. Vợ hỏi không nói. Con chào không thưa. Ông gieo mình xuống cái võng rách, thu cả đôi chân đất cát lên, năm như người chết rồi!

Mọi vụ thu hoạch xong, trang trải công nợ, góc nhà còn xếp mấy ró thóc. Ăn dè, phải giáp Tết mới hết. Mùa này, nhà ông cũng như nhiều gia đình nông dân trong xóm, góc nhà chỉ còn mấy thúng lép. Thóc lép, xây không được gạo. Gạo nấu xít nồi. Xới được ít bát, lại khê dính.

Một số người ra đồng mót những bông thóc rơi thóc rụng. Nghề đi mót ở làng này vẫn có, nhưng là mót lạc, mót đỗ - những thú đồng làng không       trồng. Còn thóc, chỉ dăm ba cụ già, trẻ con đi mót làm “vốn riêng” bán ăn đồng quà tấm bánh. Những người khỏe mạnh còn bận gặt lúa, cắt ra, phơi thóc, phơi rơm, cuốc đất… đâu có thì giờ đi mót?

Mùa mất, mất đi những khuôn mặt hớn hở, những trưa ngồi dưới gốc đề ăn bánh ú đổi đồng, những “hội nước chè” bên chõng dưới trăng. Mùa mất, vắng bóng những đống rơm to; những mái rạ nát không được lợp lại. Hương rạ, hương rơm bay đi. Đàn di, đàn sẻ bay đi. Tiếng “dung dăng dung dẻ” ngoài ngõ xóm cũng tắt lịm. Thậm chí lệ cúng THƯỜNG TÂN (cơm mới) với ông bà, ông vải, cũng bỏ!

Thấy bố về nằm vật ra võng, cái Bến và thằng Buồm đều sợ. Mới dạo nào, một buổi tối, sau cơm nước xong, bố cũng nằm võng như hôm nay, nhưng lại lầm rầm hát. Ấy là lúc bố chúng vui. Khi vui ông thường hát bài “huê tình” quen thuộc: “Đầu thì cầu. Em thương nhớ ai ra lơ lửng bên đầu cầu. Lược thưa (tình chung) biếng chải (ấy mấy) gương Tàu em biếng soi. Mái tóc xanh em quên chải lược đồi mồi…”.

Nghe bố phởn, mẹ chúng bụm miệng cười. Ông im bặt. Một lúc nói:

- Mùa này rồi mùa sau “phong đăng”, tao sẽ mua tre nứa về dựng thêm gian chái nữa để cái Sông, cái Bến nằm. Con gái lớn, nằm chềnh ềnh giữa nhà không tiện. Tao cũng sẽ mua mấy chục vải Bơn về giãi nâu, may cho mẹ mày và mỗi đứa một cái áo cộc.

Bà Quen nói ngay:

- Thế còn bố nó không may gì à?

- Tôi may sau. Mẹ nó, suốt đời mảnh áo manh. Còn vài đứa lớn sắp đến tuổi lấy chồng, phải lành lặn một chút để có thằng nào “ỉa đái” đến chứ!

Chị Sông không nói gì. Bến thì bảo:

- Thầy bu cứ may trước. Con chẳng đi lấy chồng đâu!

- Dễ thường ở nhà làm bà cô tổ hả?

- Con cứ ở nhà. Mai kia thầy bu già, ai nuôi?

Ông cười khành khạch:

- Cô không phải lo. Đời cua, cua máy. Đời cáy, cáy đào. Chỉ sợ đến lúc các cô làm được đồng tiền để nuôi, thì chúng tôi đã sang tiểu sàng!

Vậy mà, mấy ngày qua không khí gia đình buồn như nhà có đám!

Tối nay, cả bố lẫn mẹ mặt mũi đều rầu rầu. Thỉnh thoảng lại thở dài. Chốc chốc, bố lại ra chõng hút thuốc lào. Lửa đóm phập phù. Điếu rít sòng sọc. Lâu lắm, Bến nghe bố hắng giọng:

- Bu nó còn thức không?

- Tôi vẫn thức. Đã sao ngủ được?

Ông gõ cái xe điếu xuống chõng cành cạch rồi chậm rãi:

- Mất mùa. Ông Chánh lại gọi tôi đến bảo không mượn theo trâu nữa. Công xá cũng bị trừ vào lãi nợ. Nghĩa là, nhà mình cận đường sống rồi. Vì vậy, tôi đã rủ ông Dong, ông Cách kéo lên Bắc xem có việc gì làm mấy tháng, trước là kiếm bát cơm ăn, sau có tiền phụ giúp vợ con.

Bà thảng thốt:

- Từ trước đến giờ, bố nó có biết Bắc, Nam ở chỗ nào mà đi? Cảnh đói kém này là “trời ra tai” cả bàn dân thiên hạ. Đâu chả đói?

Ông trấn an:

- Mẹ nó không phải lo. Tôi chưa đi, nhưng hai ông đã làm trên ấy nhiều. Trên ấy đồng rừng, gạo thóc không nhiều, nhưng khoai sắn thì vô kể. Tỉ dụ, bây giờ có củ sắn nướng mà ăn, có lẽ ngon hơn bánh khảo!

Nghĩ đến sắn nướng, cái Bến ứa nước chân răng. Thằng Buồm miệng chóp chép!

Lại nghe tiếng bố:

- Đâu chỉ tôi với hai ông đi kiếm cơm. Làng mình, từ cuối tháng Một, bao người bỏ đi rồi. Không ít gia đình, vợ chồng con cái bồng bế nhau đi cả nhà. Cánh ông Bần, ông Đoản thì vào Thanh Hóa, chi chòm ông Bút kéo lên Bắc Giang; ông Bồng, ông Đảnh ra Hải Dương. Này, Bu nó vẫn nghe tôi nói chứ?

- Chả nghe thì sao? Nhưng tôi cứ lo lo thế nào ấy!

- Đã đói, bu nó đừng lo lắng quá, ốm thì khổ. Đằng nào chúng tôi cũng quyết rồi. Sáng mai, bu nó thổi nồi cơm nắm cho chúng tôi đi ăn đường. Cứ nấu qua quá nhé, hai ông cùng ăn một thể. Bu nó đừng tiếc!

- Ơ hay! “Cối thủng đói đời”, đói đâu một bữa, thầy nó lại bảo tôi tiếc?!

Sáng đã lâu mà sương giăng đầy. Màu trắng đục phủ lên thôn xóm. Gió xào xạc. Cánh đồng xào xạc rạ bay. Cây đề bên đường cũng xào xạc chia ly với những phiến lá vàng…

Cái Bến ngậm ngùi nhìn theo những cái đầu cúi thấp lầm lũi bước; những đôi vai xương xẩu nhô lên; những bước chân teo tóp; những manh quần vá đụp; những chiếc bị rách toòng teeng trên vai, bên trong là mo cơm nắm, dúm muối vừng và những manh áo mỏng…

Trước lúc bố đi, mẹ cởi chiếc khăn vuông đang đội đầu đưa cho bố. Bố đẩy ra. Mẹ cứ dúi vào tay bảo, ở nhà khối đồ cũ, đội gì cũng được. Đường xa, bố nó lại đi bộ lên tận xứ Bắc, đằng đẵng dặm dài, sương may, nắng quét, cần có chiếc khăn bịt đầu cho đỡ phong sương. Bố đang đội cái khăn đó. Hai ông kia đều đầu trần.

Đến đầu làng, ông Quen quay lại vẫn thấy đứa con gái lẽo đẽo theo. Bóng nó thanh mảnh. Khuôn mặt xương gầy. Áo quần cũn cỡn… Ông mủi lòng, dỗ dành:

- Con về, cho thầy và các bác đi.

- Con đi đến chỗ rẽ sang Quài rồi mới về.

Ông lắc đầu. Một lát, nó nghe bố gọi:

- À này Bến…!

Ông chậm lại, nắm tay con gái, chỉ về phía đồng:

- Mộ ông ở Càn Chùa kia kìa. Mộ bà thì bên Càn Ngận. Thanh Minh thầy vẫn chỉ, con nhớ không?

- Con nhớ! Mộ ông giồng cây sồi. Mộ bà, đầu càn đi lên.

Ông gật đầu:

- Đúng rồi, giỗ bà tháng Tám, còn lâu. Nhưng giỗ ông mười hai tháng Chạp. Mẹ con ở nhà chẳng có cơm canh cúng thì thôi, nhớ thắp mấy nén hương mộ ông, cho khỏi tội.

Nói xong, ông Quen chắp tay hướng về phía đồng xá mấy xá rồi bật khóc hu hu.

Cái Bến đưa chân bố đến chỗ rẽ thì đứng lại. Nó nắm lấy vạt áo bố thủ thỉ:

- Bao giờ về thầy đừng đeo sắn. Chỉ mấy củ là nặng, không mang được đâu. Thằng Buồm dặn, mặc nó. Chỉ mong thầy và các bác khỏe là bu và chúng con mừng. Lúc ấy chắc chị Sông cũng về.

Ông xoa mớ tóc đỏ quạch rối bù của đứa con gái, đôi mắt đỏ hoe chớp chớp:

- Ừ, mọi người sẽ về. Nhà lại đông vui.

Cái Bến chờ cho bố đi khuất vào làng bên mới quay về. Bỗng dưng nó nhớ đến lời bố dặn, mười hai tháng Chạp giỗ ông. Chỉ còn không đầy một hai tháng nữa. Mọi năm cúng vào buổi chiều, khi bố đi làm về. Mẹ nó ở nhà sắp xếp. Quét dọn bàn thờ. Đổ vợi gio ở bát hương. Lau sạch bụi mấy cây nến, ống hương cũ ký. Chẳng có gà qué giết, bu nó chỉ mua mớ cá diếc về nấu mấy bát canh bánh đa. Một đĩa đậu kho. Một bát rau cần xào. Đấy là những năm nhà đỡ túng. Thường thường chỉ thổi đĩa cơm nếp, kiếm nải chuối, thắp hương.

Nó vòng xuống thăm mộ ông. Cây sòi mộ ông đây rồi. Cháu là cái Bến, con bố Quen đây. Bố cháu vừa đi làm xa. Xa tận xứ Bắc. Ông có biết xứ Bắc ở đâu không? Từ nay, nhà chỉ còn ba mẹ con cháu thôi. Mùa này mất. Nhà ai cũng hết bữa ăn. Chỉ ông Chánh Tần, bà ký Khôi, ông phó Rỹ là sẵn thóc. Sẵn nhất là nhà ông Chánh, bốn lẫm với một kho. Ông Chánh lại không mượn theo theo trâu nữa, nên bố cháu phải đi làm xa. Cháu thương bố lắm. Bu cháu cũng thương. Chỉ thằng Buồm cứ như không! Nó còn bé, chưa biết nghĩa mới thế. Nếu không có bố mẹ, sao có chị em cháu, ông nhỉ?

Cái Bến vừa tỉa những chiếc lá sòi già xùm xòa, rữa nát trên mộ, vừa lầm rầm khấn khứa ông nó như vậy. Bỗng một cơn gió ào đến. Cây sòi ngả nghiêng. Lá đập soàn soạt. Một con ễnh ương từ trong bụi rậm vọt ra. Nó hết hồn! Người lớn vẫn nói, ở bãi tha ma, những lúc gió to là hồn người chết về. Có lẽ hồn ông nó về. Nó chỉ sợ ma. Chứ hồng ông thì không sợ. Ma quái mới bóp cổ trẻ con. Ông bà chẳng làm hại con cháu!

Gió vẫn tiếp tục réo. Mây đùn lên từ phía đông. Mặt trời vừa ló dạng đã bị che khuất. Mây càng dày, gió càng to, cây cối càng quẫy đạp. Thì ra, sắp mưa nên sinh gió. Không phải hồn ông nội về hay ma quỷ đến! Nhưng… Cái Bến chợt lo, bố và hai ông đã ra đến bến đò sông Cái chưa? Tối qua nghe bố kể, lên Bắc phải qua những sáu cái đò. Bến đò nào cũng rộng. Lậy giời đừng mưa và gió to để bố nó sang được qua đò. Mưa giữa sông, bố nó không có áo tơi sẽ ướt hết. Mà ướt là hay ốm. Ốm ở nhà, mẹ con nó tìm lá xông và rang cám đánh cảm. Ốm giữa đường, bố nhờ ai?!

Nó ngước nhìn về phía bố đi thấy mưa trắng trời. Chớp loang loáng và sấm ùng oàng. Một tiếng sét xé tai. Nó tối tăm mặt mũi. Mưa quật xuống ràn rạt. Đôi tay bé nhỏ của nó quàng lên che đầu. Khắp người ướt như chuột lột. Nó vẫn ngoái về phía bến đò gào:

- Qua sông chưa bố ơ…ơ…ơi?

*

 

Tháng Chạp mùa làm ăn sầm uất mà buồn thảm. Mưa rét lê thê. Xóm ngõ bùn đất ngập ngụa. Cỏ ven đường thối ra. Lá rụng thối ra. Thậm chí đôi chân con người dầm bùn lâu ngày cũng thối ra.

Làng vắng. Nhiều nhà đã bồng bế nhau đi cầu thực tha phương. Bỏ nhà, bỏ ruộng vườn cho cỏ mọc. Ngõ chỉ rấp một ngọn rào tre hoặc để thông thống. Nhà thông thống. Buồn cũng thông thống. Chằng còn gì đáng đồng tiền mà phải đậy khóa giữ gìn!

Mấy gian nhà tre của bà Quen cũng chẳng khác. Chỉ khác là còn có hơi người. Ngày đôi lần còn bập bùng ánh lửa, khi nấu niêu cháo, lúc luộc mớ khoai, hoặc cái Bến, thằng Buồm nướng con cua, con ốc.

Chồng con đi rồi, dù đói lòng bà cũng phải bám lấy vài sào ruộng cấy khoán. Biết rằng có được mùa thì hạt thóc về nhà cũng chẳng còn bao nhiêu, nhưng vẫn phải làm.

Mọi năm đi theo trâu, ông Quen thường xin bà Chánh cho buổi trâu, cầy bừa nháo nhào để cấy. Vụ này, hàng ngày mẹ con vừa phải đi xúc mớ tép, bắt con cua bán độ nhật, vừa phải đi cuốc ruộng. Ruộng đất gan gà. Những lưỡi cuốc cùn. Những cánh tay gày guộc yếu đuối. mỗi lần giơ thẳng cánh bổ, mặt ruộng chỉ bóc lên miếng đất bằng cái bàn tay. Một vỡ, hai vỡ, trống ngực đã đập thùm thụp, hơi tai phì phò. Lại phải nghỉ. Một ngày. Hai ngày. Rồi dăm bảy ngày. Như con mọt gặm gỗ lim. Rồi cũng cuốc xong mảnh ruộng.

Không có nắng, đất nằm ườn nửa tháng ngoài đồng tím thâm lại. Cỏ và lúa lẫy ngóc lên xanh rì. Đã cuối vụ, trời vẫn mưa rí rắc, mẹ con bà Quen bàn nhau kéo bừa ruộng để cấy. Thấy mẹ nói vậy, cu Buồm khoái chí:

- Bu cầm bừa. Tôi với chị Bến kéo (nó quen xưng tôi).

Bà lườm:

- Mày có kéo ba bát cơm, hai bát cháo.

- Tôi kéo hòn đá trục lúa nhà ông Đoàn đi băng băng.

- Trục tròn, lăn trên sân, chả đi nhanh thì sao. Kéo bừa nặng lắm. Con trâu khỏe thế mà phải gò lưng mới nhoai được!

Nó vẫn hí hửng:

- Nặng tôi cũng không sợ.

- Ừ, thế thì tao mừng. Mai đi kéo.

Nghe nói mẹ con bà Quen định mai kéo bừa, ông Canh, nhà liền bên sang:

- Có phải mai chị bừa cái hai sào không?

- Vâng, làm cấy cho kịp vụ, bác ạ.

- Mượn những ai?

- Mẹ con tôi làm lấy.

Ông Canh lắc đầu:

- Yếu không làm nổi đâu. Mai tôi sang cầm bừa cho. Chị đã làm bao giờ mà cầm bừa?

Đúng là bà chưa một lần cầm bừa. Nhưng… mượn bác ấy giúp, đồng công chưa nói, phải có bữa no. Mẹ con làm, có gì ăn nấy. Thấy bà tần ngần, ông Canh nói luôn:

- Chị đừng ngại. Anh ấy đi vắng, lại gặp lúc đói kém này, dây bầu phải quấn lấy giàn bầu để khỏi héo. Miếng ăn lúc này đúng là vàng, nhưng cái nghĩa ở với nhau còn quý hơn vàng. Sáng mai, tôi ăn cơm nhà rồi sang.

Bà Quen:

- Ấy chết! Bác có lòng giúp đỡ, thì sang ăn với mẹ con tôi bát cơm muối, tôi mới dám nhờ.

Ông Canh ngần ngừ:

- Thôi được. Tôi sẽ vác bừa sang. Chị chuẩn bị sợi chão dài. Mấy cái vỉ lót vai.

Bà Quen nở gan ruột. Sáng sau, mấy lần bà sang mời gọi, ông Canh vẫn không sang, vác luôn bừa lên đồng. Mẹ con bà ăn vội mấy củ khoai luộc, gói ghém hai nắm cơm mang đi.

Lên đến đồng, ông Canh sắp đặt công việc:

- Chị đi giữa. Hai cháu đi hai bên. Nếu thằng Buồm bé không lôi được thì cho về, đỡ quẩn chân.

Thằng Buồm giãy nảy:

- Tôi kéo. Không về.

- Kéo thì khoác chão vào vai. Vai kia! Thế, thế! Vỉ đâu, lót vào, không mai vai lại sưng bằng bắp chuối. Chị khoác cho con lớn đi. So dây chão thật bằng nhau. Ba mẹ con bá vai mà kéo.

Thằng Buồm định đi trước, ông Canh kêu lên:

- Không được lau hau! Phải đi ngang hàng.

Hai đứa bám vào lưng mẹ. Tôi cho bừa xuống.

Cánh đồng mênh mông bát ngát - sự bát ngất buồn tẻ. Chỗ đất đã vỡ. Chỗ còn bỏ hoang. Cỏ lút từng lùm. Nước đọng từng vũng. Những con giang, con sếu lò dò kiếm ăn. Có lẽ mồi đã bị con người săn bắt vợi, nên chúng uể oải từng bước.

Chốc chốc lại nghiêng ngó canh chừng sợ vấp phải bẫy, trúng phải tên. Chúng nhìn về phía những người kéo bừa, vỗ cánh bay sang khu đồng xa hơn.

Biết ba mẹ con yếu, ông Canh ý tứ không dám để răng bừa ăn sâu, chỉ nương nhẹ, gẩy cho đất đổ. Đất gan gà pha sét không tơi, mà quánh lại.

Lúc đầu, còn hơi hồ trong người, ba mẹ con bước còn vững vàng. Những cái chão siết vào vai chưa biết đau. Thỉnh thoảng còn nói đôi ba câu chuyện, Chỉ quẩn quanh chuyện làng xóm. Chuyện hết bữa ăn nhà kia nhà này. Chuyện bà lão bên cầu ốm mà con cái bỏ đi mỗi người một phương! Chuyện ông Ký Ri, tưởng khá giả, lại phải đem bán chiếc áo đoạn, lấy tiền mua khoai ăn! Chuyện những đứa trẻ theo bố mẹ theo bố mẹ đi kiếm ăn, chả biết bây giờ ở đâu, no đói thế nào? Mỗi xóm chỉ còn lại những đứa ốm o, gày yếu. Mũi thò lò, tai chảy nước. Áo quần dúm dó… Toàn chuyện buồn!

Sáng đã lâu mà vẫn không nắng. Chỉ sẵn gió. Gió từ phía sông Cái hun hút thổi về, qua những bụi tre làng cằn cỗi, những cây đề đang trút vội những mảnh lá vàng. Gió tràn xuống đồng đến tận chỗ mẹ con bà Quen kéo bừa.

Giữa chốn đồng không mông quạnh, thông thống bốn phía, gió bấc tha hồ tung hoành. Gió vuốt ve những bộ mặt tái xám, những chiếc chân lêu nghêu. Gió luồn qua tấm áo mỏng, những ống quần rách bươm, những cái mê nón phong phanh, châm vào da thịt. Bà Quen chít lại chiếc khăn bịt đầu vốn là mảnh áo rách của cu Buồm (chiếc khăn lành đã đưa chồng đội). Răng đập vào nhau lập cập. Bà thốt lên "Rét thể?". Cái Bến cũng thấy mảng sườn lạnh ngắt. Nó căn răng chịu. Coi như nó không rét, để mẹ khỏi lo. Nó thấy mẹ kéo nó và cu Buồm sát lại, đôi tay quàng ôm hai tấm lưng gày, cố rướn bước.

Có hơi mẹ, Bến cảm thấy ấm. Nó cũng ôm mẹ chặt hơn, vừa để bước cho vững, vừa muốn mang cái hơi ấm mỏng manh của mình "đền" lại mẹ. Ôi, mười bốn năm sinh con và nuôi dưỡng, bao lần sài đẹn, sởi đậu... Con còn sống được là nhờ hơi ấm từ mẹ truyền cho. Mong mẹ mạnh khỏe để chúng con nương dựa! Nó vẩn vơ nghĩ và cầu mong như vậy.

Càng về trưa, mẹ con nó càng thấm mệt. Chân tím bầm vì ngâm bùn lâu. Cổ đau, sườn càng đau bởi những dây chão luôn thít chặt. Chiếc bừa trong tay ông Canh vẫn nương nhẹ mà mẹ con nó thấy như những hòn đá được buộc thêm vào.

Chân mẹ nó loạng choạng. Cánh tay mẹ như lơi lỏng phía lưng. Bến hỏi:

- Bu nhọc lắm hử?

Bu nó vừa thở vừa nói:

- Khô... ông! Bu vẫn đi được!

Cái Bến dừng lại:

- Thôi bu lên bờ ngồi nghỉ. Để con với thằng Buồm kéo. Chúng con kéo quen rồi. Chỉ mấy lượt nữa là được, ông Canh nhỉ?

- Ừ, mấy lượt nữa thôi. Chị nghỉ đi. Để tôi và các cháu làm.

Rồi ông động viên:

- Cứ tưởng thằng Buồm ưỡn xác. Nào ngờ nó lại khỏe nhất.

Cu Buồm sướng:

- Tôi đã bảo kéo được mà. Bu đói thì giở cơm mà ăn trước. Chốc chúng tôi làm xong mới ăn.

Gió bấc lại thốc lên. Bà Quen ho rũ rượi. Biết chẳng cố được, bà phải để con dìu lên. Lại ho.

Tiếng ho nặng nhọc. Bà đỡ ngực, định khạc những cục đờm đang chẹn nơi cổ mà không được! Bà khậm khoạc. Rồi thở. Nước mắt, nước mũi đổ ra...

Gió vẫn ào ào. Mưa vẫn nặng hạt. Những cụm cỏ rạp xuống. Mặt nước ruộng váng đen. Hai dứa trẻ, hai cái mê nón, hai đôi chân khẳng khiu, những chiếc dây chão thít lấy cổ chúng. Ông trời đa đoan quá! Công việc chỉ dành cho con trâu, con bò làm, giờ phải khoác vào cổ trẻ thơ! Khổ lắm, các con ơi! Thương lắm, các con ơi! Nước mắt bà Quen lã chã!...

Sau buổi kéo bừa cực nhọc. Bà Quen đâm bệnh.

Thấy mẹ mấy ngày liền nằm còng queo trên chiếc ổ rạ, mặt mũi tái nhợt, Bến đến ngồi bên hỏi han, vuốt ngực, bóp đầu cho mẹ. Ngực mẹ giơ xuơng. Trán mẹ nóng bỏng. Tóc thì bù xù, rối rắm bên những cọng rạ nát. Ôi, đã có cả những sơi bạc!

Trưa nay, nó lúi húi dưới bếp một lúc, rồi hớn hở lên gọi:

- Bu ơi, dậy ăn cháo.

Bà quay ra thấy con gái để bát cháo ở đầu ổ, bốc hơi ngùn ngụt, thì hỏi:

- Làm gì có gạo mà nấu cháo?

- Con mới đong lưng bát ở chợ.

- Tiền đâu đong?

- Con cắt cỏ bán cho bà Hương Biền.

Bà nắm bàn tay gày nhỏ của Bến:

Bà nắm bàn tay gày nhỏ của Bến:

- Ôi, hơn chục tuổi đầu, con đã biết lo làm để chăm mẹ ốm.

Được khen, nét mặt nó tươi tỉnh lên:

- Để con nâng bu dậy.

- Không phải nâng. Bu dậy được.

Bà bưng bát cháo khẽ khàng húp. Cháo gạo nấu muối với hành mà ngon. Đã từ lâu nhà chỉ ăn cháo cám hoặc khoai ngô. Cháo cám, mỗi người cũng chỉ được một bát đàn. Đó là thứ cháo nấu bằng cám gạo hoặc cám ngô, bỏ muối và một chút vôi rồi đánh nát. Đó cũng là thứ cám các bà hàng sáo đã gằn sạch gạo và tấm ra để bán riêng chỉ còn lại vỏ gạo, vỏ trấu, lẫn cả sạn sỏi. Thứ đó, chỉ dành nấu cho lợn. Làng đói, ít nhà nuôi lợn, cám đem bán cho người nghèo ăn.

Nhà bà Quen thường đong loại cám này về nấu ăn. Bữa nào khi cháo múc ra, cu Buổm mắt cũng lấm lét tìm một bát đầy hơn:

- Tôi ăn bát này.

Bến lườm:

- Bát ấy phần bu!

- Kệ !

- Bà Quen nhìn thấy thằng con thèm thuồng liền bảo:

- Để cho nó bát đầy.

Cu Buồm cười hi hí:

- Đấy nhá. Bu cũng bảo vậy.

Nó bê bát cháo ra hè ngồi, chẳng thìa đũa, thè lưỡi liếm mấy nhát đã vơi đi quá nửa. Nó liếc sang chỗ mẹ. Bát của bà vẫn còn đầy. Lưỡi nó lại khoắng vài lượt nữa là hết. Thấy con còn thèm, bà Quen gọi:

- Ăn hộ bu chỗ này. Tao no rồi.

Cái Bến quát:

- Để cho bu!

Hôm nay vừa về đến nhà, mũi cu Buồm đã hít hít:

- Gì mà thơm thế?

- Thơm với tho gì? Cháo nấu cho bu ăn!

Nó nhìn thấy niêu cháo:

- Tôi ăn "mới" !

Bến nói ngay:

- Mày với tao ăn khoai luộc. Cháo để bu ăn cho chóng khỏe.

- Khoai cũng được. Đâu? À, tôi mang thuốc về cho bu đây.

   - Thuốc gì?

- Ông Canh cho rượu gừng, dặn ngày uống hai lần. Còn đây là tầm gửi chanh, cũng của ông ấy. Chị sắc để bu uống. Chỉ vài lần là khỏi ho ngay. Nhưng khoai luộc đâu?

- Ở cối xay ấy. Mày một củ. Tao một củ.

- Mỗi củ thôi à? Cho tôi vét niêu cháo!

- Bu đã ăn xong đâu mà vét?

Bà Quen ngửng lên:

- Cứ để nó vét. Được miếng cháo. Mát ruột quá!

Tối. Trời trở gió. Vẫn những cơn gió bấc tràn về. Rặng tre run rẩy. Mái rạ run rẩy. Những con người run rấy.

Gió thốc vào căn nhà tồi tàn của mẹ con bà Quen. Cột long chân. Vách đất rữa ra từng mảng.

Chẳng có cửa che đậy, mặc nắng mưa ra vào. Tháng Ba ruồi bay từng đàn. Muỗi thì tha hồ vo ve. Mưa tháng Tám, nước ngập bờ ao rãnh ngõ.

Rắn rết mất chỗ ở, luồn lách về kèo nhà, xó buồng, đẻ trứng ở đó, lột xác ở đó.

Mọi mùa sẵn rạ, trải được cái ổ dày. Nắng, giũ ra phơi. Năm nay, rạ ngắn lại ít. Mưa kéo dài.

Ổ mỏng và hôi. Người ngoài, bước lên hè đã thấy mùi hôi của rạ nát, của hơi người, của quần áo đụp vá lâu không giặt. Mẹ con bà Quen cũng thấy vậy là không sạch sẽ, nhưng áo quần đâu nhiều? Mỗi người vài mảnh. Mảnh nào cũng không thể nhận ra cái màu nguyên thủy của nó. Mụn đen trùm mụn đỏ. Mụn bé đắp mụn to. Mụn ngang đè mụn dọc. Chỗ khâu bằng chỉ, chỗ chằng bằng tơ...Chả rõ trên trái đất này, có vùng nào sản sinh ra được những bộ áo quần như thế không?

Ngay từ chiều, những giọt nắng hiếm hoi ngày cuối năm đã bị trời thu về. Mây chì đặc quánh úp xụp xuống xóm làng. Đàn "tí hâu" bay lượn lúc thấp lúc cao, kêu rít từng hồi. Ai cũng bảo, trời lại rét to!

Đợt rét trước, mấy chục người làng Hạ chết. Hai ông cháu ông Bàng. Anh Bi, chết với đứa con ba tuổi. Ai cũng chỉ một chứng ho và sốt. Nóng như hòn than. Ho như cuốc kêu, như muốn rách cổ, nổ hầu, như sắp vỡ toang cái lồng ngực vốn dĩ chỉ còn thở hi hóp vì kiệt sức. Thương nhất là đám hài nhi. Nhiều đứa chưa qua hóng chuyện, chưa biết lẫy bò… gặp rét đậm lăn ra ốm, ho không thành tiếng, khóc như xé vải, hàm cứng lại, bỏ bú, giật từng hồi, mắt trợn trừng, không bao giờ khép lại được, rồi trút hơi thở cuối cùng. Bà Quen cũng quị từ đợt rết ấy.

Thấy rét là sợ, ngay từ chiều, bà đã kéo tấm phên rạ che chuồng lợn về cửa. Lợn không nuôi chẳng cần phên. Phên ngắn, rạ xộc xệch, chỉ che được phía dưới. Trên vẫn trống, gió vẫn lùa.

Ba người chúi chung cái ổ rạ nát. Mẹ ôm con. Con quặp mẹ. Mong được cái hơi ấm tình mẫu tử truyền sang, may ra đỡ rét mướt. Bên ngoài giá thổi vu vú. Cây bòng vật và. Khóm dong vật vã.

Mái tranh xơ ra. Cái phên che chốc chốc lại đổ lật. Gió luồn vào da thịt. Xiên qua lỗ chân lông. Chui vào gan ruột. Xộc lên tận óc!...

Bà Quen quay ra quay vào, xuýt xoa. Cái Bến, thằng Buồm hai gối co lên tận cằm. Bà nghe tiếng con gái:

- Bu nằm vào giữa, để con nằm ngoài.

Chưa nói hết, nó đã lăn ra phía cửa. Thằng Buồm nói theo:

- Hay là ...tôi vơ rạ lên đốt cho ấm.

- Tối đun nấu gì mà có lửa?

Nghe chị nói, nó chợt nhớ, đã từ lâu, nhà nó tối không rấm lửa. Bếp gio lúc nào cũng lạnh. Nó bảo:

- Thằng Cân nói, nhà nó đắp bao tải. Nó chui vào giữa bao nằm, ấm lắm. Còn cái Xu thì kể, mẹ nó lấy nong, lấy nia đậy lên người mới ngủ được. Nhà ta nong nia không có, bao tải cũng không. Sao thầy không mua nhỉ?

Cái Bến:

- Mua. Cái gì cũng mua thì tiền đâu? Ít nữa đi làm về, thầy mua cho mỗi người một cái chăn bông. Tha hồ đắp!

Nói xong nó cười. Thằng Buồm "sì":

- Đét phải. Mua mỗi chiếc là đủ. Hôm nọ nhà ông Phó Đăng phơi cái chăn bông rộng lắm. Đắp kín cả mấy mẹ con mình.

Bà Quen:

- Chẳng chăn bông gối đệm gì. Cái Bến xuống vơ rạ lên đây.

- Đốt hả bu?

- Đốt gì? Phủ lên người cho ấm mà ngủ. Dễ quá canh ba rồi!

Cái Bến tung chiếu, kéo vội cái váy rách cũn cỡn xuống che đôi chân gày. Những mớ rạ được ôm lên. Mẹ kéo. Con kéo. Đắp lên đầu, lên chân.

Tuy chẳng là chăn mền, nhưng rơm rạ vốn là bạn muôn đời với nhà nông, với người nghèo, đã làm cho mẹ con tạm qua được cơn giá rét.

Ông lão chống gậy lò dò từng bước, đến điếm canh làng Hạ thì dừng lại. Ông nhìn quanh quẩn rồi ngồi xuống nghỉ.

Ông đã đi ba ngày. Ngày nào cũng thấy nườm nượp từng toán người. Họ đi vươt ông, khoác những chiếc áo tơi lá, những mảnh bao tải bẩn thỉu bù xù. Bị rách đeo vai. Chiều cũ quàng cổ. Bố cõng thằng con lớn. Mẹ gánh một bên đứa con nhỏ, một bên bát đĩa nồi niêu. Tất cả đi bộ, như ông.

Nghe họ nói, thì hết con đường này họ sẽ ra đến bến đò Tân Đệ, sang tỉnh Nam, vào Thanh Hóa, Nghệ An, hay ngược lên Hà Nội. Mỗi toán có một nơi định đến - nơi đã có thời họ làm thuê, hoặc nghe bè bạn, làng xóm kể là dễ làm ăn. Đến đó, nếu kiếm được cơm ăn thì trụ lại. Không sẽ đi tiếp.

Ông lão không sang phía Nam, cũng không lên Hà Nội. Ông xuống chỗ con gái lấy chồng tại miền biển, đã mấy năm nó không về thăm quê. Tiền rừng, biển bạc, chắc nó chẳng đến nỗi đói khát! Ở nhà, vợ chồng người con trai và mấy đứa cháu đã đưa nhau đi kiếm ăn. Ông không đủ sức theo. Ở lại thì "mó không ra, sà không thấy" thứ gì để sống, ông phải chống gậy đi. Thôi thì, bé cậy cha, già cậy con. Mong nhà nó đủ cơm ăn, để ông tá túc qua keo này. Đang nghĩ lan man thì nghe tiếng quát:

. - Ông già kia đi đâu mà ngồi đấy?

Lão quay ra:

- Tôi đi đến chỗ con gái.

- Đến đâu cũng được. Đây là điếm canh không ngồi được. Đi ngay.

Ông lão khẩn khoản:

- Tôi đi bộ đã hai ngày. Sức già chẳng còn bao nhiêu, nên mệt nhọc. Bác làm phúc để tôi ngồi một lúc rồi đi.

Người đó vẫn gắt gỏng:

- Chẳng phúc đức gì? Xéo! Kìa ông Trương Tuần đã ra. Chào ông Trương.

Người được gọi là ông Trương mặt khô khẳng đen đúa. Mắt sâu. Mồm rộng. Đôi tai rất nhỏ. Ông ta hỏi trống không:

- Gì thế này?

- Thưa ông, lão này ở dâu đến ngồi lì ở điếm, đuổi không đi.

- Đuổi! Lão chết ra đấy chúng mày phải chôn. Cái tạng lão cũng sắp chết rồi.

Nói xong, ông Trương toan bỏ đi, nhưng chững lại nhìn ông lão chằm chằm:

- Ông ở đâu?

- Dạ, tôi ở bên Diên Hà, Thần Khê.

Ông ta đến gần thêm:

- Cái áo đạ đang mặc ở đâu mà có?

- Áo của tôi, đi lính "khố đỏ" được phát.

- Áo đi lính, hay là ăn trộm?

Ông lão tuy mệt nhưng phải thanh minh:

- Chính áo của tôi. Đến Diên Hà hỏi ai cũng biết tôi là Binh Tâng mà.

Mặt ông Trương chau lại:

- Hơi đâu đi Diên Hà hỏi? Cởi áo đưa đây để trình ông Lý xem ngay hay giận?

Ông lão hai tay ôm lấy chiếc áo dạ đang mặc, ngực có hàng cúc đồng còn sáng.

- Không được lấy áo của tôi.

Trương tuần hùng hổ xông đến:

- Muốn sống thì bỏ ra. Ông cho mấy gậy thì bỏ đời quân ăn trộm.

Ông lão gào lên:

- Tôi không phải quân trộm cấp.

- Không phải này!

Trương tuần nhảy bổ vào đẩy ông lão ngã, lột áo đánh xoạt. Ông lão co dúm lại, kêu la thảm thiết. Một số người ở gần chạy ra thấy cảnh trái tai gai mắt thì bất bình và thương hại ông lão.

Một người mang cho chiếc áo cũ. Ông lão lồm cồm mãi không dậy được. Tiếng nói căm uất:

- Các ông chức dịch ác quá. Bắt dân nhổ lúa trồng đay, bắt bán thóc cho người Nhật, làm thóc lúa trong làng vơi cạn, lại gặp mất mùa, dân chết đói, mà các ông còn đang tâm "bóc áo, tháo cầy" của ông lão đáng tuổi bố mình!

Trương tuần:

- Đây tình nghi kẻ cắp mới phải lột áo về trình thầy Lý.

- Đúng là quân ăn cắp.

Trương tuần lẳng lặng vắt cái áo vừa lột được lên vai, quay lại dặn tuần đinh:

- Đuổi lão ra khỏi địa viện làng, nghe chửa?

- Thưa vâng.

Chẳng để tuần định phải đuổi, mấy người vào đỡ, mặc thêm áo cho ông lão rồi dẫn đi. Ông thập thểnh, hờ khóc.

Sáng sau, ông lão "Binh Tâng" nằm chết còng queo ngoài quán chợ, đầu gối co lên chạm chòm râu cằm.

*

Mấy hôm nay nhà Chánh Tần tát ao lấy cá bán và ăn Tết. Con rán. Con nướng. Con làm gỏi.

Kho một nồi to cho người làm, con ở ăn...

Những người nghèo trong làng ngóng vào chỗ tát ao, mong hôi được con tôm, con tép, mớ cá lẹp...

Nước đã tát cạn, gần phơi lòng ao. Bùn đen sánh và ngầu bọt. Người nhà chủ ne bắt những con cá lớn bỏ vào rổ. Rổ này đầy. Tiếp rổ khác. Cá chép vàng ươm, bụng căng phồng, vẩy loang loáng. Cá mè to như quạt mo, lườn núng nính mỡ. Cá quả, cá sộp đen sì. Cá măng dài ngoẫng... Quẫy ầm ầm. Người ta phải lấy những cái sàng đậy lên miệng rổ. Nước dồn, cá cũng đang dồn xuống lòng ao.

Chị em cái Bến cùng đám trẻ con ngồi chấu quanh bờ chờ "hôi lại". Đứa nào đứa ấy mặt mũi bợt bạt. Quần xắn trên đùi. Áo thắt thêm sợi dây chuối quanh bụng. Giỏ đeo hông... Chúng chăm chắm nhìn xuống đáy ao, xem có con gì con động dưới bùn mà người nhà chủ chưa phát hiện ra, lát nữa xuống bắt. Cái Bến và những người đã di hôi nhiều lần lại chú ý đến dưới những đám bèo rong, chỗ rễ tre tua tủa, gầm cây sung gù, gốc bụi dong mai… là những nơi trú ẩn của bầy cá trê, cá rô. Chúng thường rúc và chúi xuống tận bùn sâu. Bắt lướt qua, dễ bỏ sót.

Trong đám đi hôi, chỉ có Cần, con gái ông Canh là có da thịt. Nó hỏi Bến:

- Bác gái đã khỏe chưa?

- Bu tớ ngày càng yếu. Đi chợ cũng ngại. Tớ phải đi.

- Chợ mua những gì?

- Mua khoai, ngô với lại muối. Thỉnh thoảng đong lẻ gạo nấu cháo cho mẹ.

- Chị em cậu bữa nào cũng ăn khoai ngô thôi à?

Bến thành thật:

- Khoai ngô, cũng chẳng được no.

- Khổ nhỉ? Thảo nào dạo này thẳng Buồm gầy và xanh quá.

Bến buồn rầu:

- Nó đang sức ăn, mà bữa vài dảnh khoai, bữa lưng bát cháo cám, sao không gầy?

Nói xong nó thở dài. Lâu nay giống mẹ, nó hay thở dài. Tiếng thở dài của trẻ con nghe não ruột!

Có tiếng nói to:

- Tháo khoán!

"Tháo khoán" tức là nhà chủ không cấm giữ nữa, mọi người được xuống ao "hôi lại". Tức thì xung quanh bờ người ào xuống. Lội lọp bọp. Chen lấn nhau quanh một vũng nước. Người lội thật nhanh. Người lại chậm chạp đến cái nơi mà ban nãy đã nhìn thấy con gì động đậy. Cái Bến bình tĩnh, sờ nắn từng mảng bùn, lật từng cánh bèo để nhặt những chú cà niễng, anh rô don, cô diếc hoa... Lớn thì bùi, bé thì mềm. Đừng tham cá lớn, bỏ những con nhỏ. Đám trẻ khác, và cả thằng Buồm, chỗ nào cũng xông đến, sục tay thật sâu xuống bùn, tưởng sẽ "trúng quả", nhưng rồi tung hửng! Đứa nào, đứa ấy quần áo, mặt mũi đầu tóc trát đầy bùn mà chiếc giỏ xách theo chỉ toòng teng mấy con nhãi nhép. Bỗng cái Bến gọi:

- Cần ơi! Lại bắt hộ tớ con cá. Nó giẫy mạnh lắm.

Cả bọn nhớn nhác nhìn. Hai tay Bến dấn sâu đè con cá xuống. Cần chạy lại:

- Đâu, tao xem nào!

Nó cũng xục xuống chỗ tay bạn. Chật vật mãi hai đứa mới tổm được con cá giơ lên:

- Cá quả, chúng bay ơi!

Một thằng quác lên:

- Sướng con Bến nhá. Nó vớ cá to. Tao chưa được con "đết" nào!

Con quả đen sì, giấy phành phạch. Cần nổi to:

- Không vừa giỏ đâu. Cởi áo ra mà quấn.

Buồm đến giữ cá cho chị. Nó cũng sướng. Con này phải bán được dăm đồng. Bến cởi áo. Bộ ngực gầy. Da sởn gai ốc. Đôi núm vú nhu nhú.

Nó chưa biết ngượng, cứ "phơi phóng" ra!

Cái Bến ôm con cá như ôm cục vàng. Sướng mà run cẩm cập. Lên đến bờ, bỏ con cá xuống toan gói cho chặt hơn, thì Trương Tuần ở đâu xộc đến. Hấn được Chánh Tần giao trông nom việc tất ao và chuẩn bị Tết. Hắn giậm chân lên bọc cá của cái Bến:

- Để đấy. Cá to là của ông Chánh. Chúng bay chỉ được bắt cá lẹp thôi!

Cái Bến bàng hoàng như bị choang một gậy vào đầu, nó nằm xoài ôm lấy “cục vàng’ đang bị bàn chân Trương Tuần đè lên:

- Cá của tôi. Tháo khoán rồi tôi mới bắt được!

- Tháo khoán, vẫn là của ông Chánh. Chúng bay có thả đâu mà bắt?

Thằng Buồm xông lại:

- Đừng cậy nhớn bắt nạt. Chị tôi mò mãi mới được. Chẳng bắt trộm của đứa nào!

Trương Tuần trợn mắt:

- Mày gọi ông Chánh là đứa hử? Láo này. Láo này!

Hắn tát bôm bốp. Thằng Buồm uất, vớ chiếc gầu xông lên quật lại. Đám bạn bè cũng xúm lại đánh bênh. Đứa quăng giỏ. Đứa ném bùn... ầm ĩ một góc xóm. Thấy hỗn chiến, cái Bến định ôm cá chạy. Trương Tuần bỏ đám trẻ, vồ vội bọc cá, đạp cái Bến ngã quay.

Nó khóc như cha chết. Hờ giời, hờ đấi. Hờ ông, hờ bà. Gọi bố, gọi mẹ sao không đến bênh vực để nó bị bắt nạt thế này?

Trương Tuần mặt dạn, mày dầy tuồn ngay con cá vào chiếc giỏ to, rẽ xuống cánh đồng di vùn vụt, chẳng để ý đến tiếng khóc thảm thiết của cái Bến và những lời chửi tục tĩu của đám trẻ.

Cái Cần đến nâng Bến dậy, nhặt chiếc ao quấn cá Trương Tuần vất lại, đưa bạn:

- Thôi về. Khóc nó cũng không trả lại đâu.

Bà Chánh Ba ở lại thu dọn, từ nãy đã rõ nguồn cơn, toan phân phải trái, song thấy lời nói của mình không có sức nặng bằng mồm mép đứa tay sai của ông Chánh, nên thôi. Bà lại chỗ Bến:

- Cháu gái con nhà ai?

Thằng Buồm đang căm người nhà Chánh Tần, gườm gườm, nói cộc lốc:

- Con nhà giời!

Bà Ba mủm mỉm. Một đứa đứng bên nói:

- Nó con ông Quen, xóm Giữa!

Mắt bà chớp chớp:

- Ông Quen làm canh điền ấy à, cháu?

- Ừ!

Lát sau bà xách lại một cái bị rách đưa cho Bến:

- Cô cho con cá, mang về kho. Đừng khóc nữa.

Chị em đều ngỡ ngàng, đứng trân. Bà Ba lại bảo:

- Cô cho thật. Cầm lấy!

Thằng Buồm ngượng quay đi. Cái Bến đỡ lấy, nói li nhí:

- Cháu xin bà!

Cái bị nằng nặng, nó xách đi một quãng mới hé nhìn:

- Cá chép, Buồm a!

Thằng Buồm nhòm. Ừ nhỉ, con chép gần bằng con quả. Vẩy rất vàng!

Mọi năm, những ngày giáp Tết đường làng rậm rịch bước chân người. Kẻ tha phương, nhớ tiên tổ tầm về. Trong cái tay nải đeo bên vai thể nào cũng có mấy phong bánh khảo, hộp hương vòng, dăm cây nến. Có người còn mua những tờ tranh lợn, tranh gà, tranh thầy đồ Cóc, cho con; hộp dầu Cù Là để mẹ xoa đầu gối. Người ở làng, chỗ đánh đụng lợn, chỗ gói bánh chưng. Trẻ con được bố mẹ cho tiền ra chợ "húi đầu", hoặc mua chiếc vòng ngũ sắc đeo cổ. Áo quần lành lặn cũng được phô phang. Quê mùa, chẳng lụa to, nhung dạ, chỉ là tấm áo nhuộm màu da bò, cái váy đen nhấn sồng, ngày thường gói vào mảnh mo treo con sỏ nhà. Chúng khoe nhau về sự bảnh bao quần áo, khoe nhà sắp được ăn thịt và cả một ang mỡ rán để ăn dần đến tháng Ba! Nghèo hơn thì kho niêu cá diếc, nấu nồi xôi độn củ từ và mua rau cần về nấu canh bánh đa.

Dịp ấy bố cái Bến thường đến lấy công làm. Bà Chánh cả đong trả mươi đấu gạo tẻ, dăm đấu nếp, mấy đồng tiền. Ông hoan hỉ đưa vợ đi chợ sắm Tết, rồi xăng xái quét dọn bàn thờ, khua tâng mạng nhện chẳng chịt trên mái nhà; mang lọ ra ao "kín" nước đổ đầy chiếc cong vỡ miệng bên gốc cau và bắt lũ con nhổ hết những khóm cỏ gầu mọc lan đến tận đầu hè. Mẹ đi chợ còn mua gói vôi bột để bố đem rắc quanh sân, thành các hình nguệch ngoạc; bát quái, cái bừa và cung nỏ, cầu mong một năm mới phong đăng hòa cốc, vật thịnh nhân khang...

Chiều ba mươi Tết năm nay mưa dầm gió bấc. Đường ngõ lầy đọng. Đã hàng tháng, nắng chỉ lóe lên chốc lát, đường chưa kịp rõ bước chân, mưa lại đổ xuống. Lớp bùn cũ còn lõng bông đã nhào lên lớp bùn mới. Hôm trước, bùn dưới "mắt cá". Hôm nay ngập cổ chân. Cỏ bên đường không kịp ngóc, lướt đi, trộn lẫn với bùn. Ao tù váng nổi đen. Những con cá chết rét phơi bụng trắng hếu. Bèo cái rữa từ lâu. Bèo ong và rong trang lấn lướt. Mặt ao sặc lên một màu tối sấm. Kẻ đi xa chẳng ai về. Người bỏ đi lại nườm nượp. Mấy tháng qua, hầu hết các gia đình đều có tang. Cây hải đường ngoài miếu xóm chẳng đơm một cái nụ. Bòng bưởi, chanh chấp cũng ít hoa vì mưa rét làm thui chột. Trong vườn chỉ lác đác mấy bông dong riềng đỏ khé, cánh như lưỡi đao sắc lẻm khua khoẳng.

Bà Quen vẫn ốm nằm góc ổ. Cái Bến thành chủ gia đình. Nó giao thằng Buồm đem chỗ cá lẹp hôi được, kho mặn. Con cá chép bà Ba cho, nó đem chợ bán, đong đấu gạo, còn thì mua thẻ hương, bát muối, đọi dầu.

Nó quét dọn ban thờ, xới đặt lên đó hai lưng cơm, một đĩa cá kho, mấy bông hoa bưởi rồi thắp hương cúng. Chả biết bu nó lầm rầm khấn những gì. Cái Bến chấp tay mời ông bà về ăn bát “cơm vậy” và hưởng hương hoa. (Cơm vậy là cơm thổi toàn gạo, không độn thứ gì). “Cơm vậy” lúc này là “ cao lương mĩ vị” của người nghèo. Đã mấy tháng nhà nó đâu biết đến thứ cơm này! Nó cầu xin ông bà về phù hộ, Tết sang năm mọi người còn sống, sẽ cúng ông bà to hơn.

Bữa cơm chiều ấy đúng là bữa cơm hạnh phúc. Cái Bến xới ba bát đây. Trong nồi vẫn còn ngần ấy nữa. Thằng Buồm hít hà từ lúc chua cúng. Nó vồ lấy bát cơm chị đưa và ngấu nghiến, nhai trệu trạo, duỗi cổ nuốt. Chẳng cần gắp cá. Nó chỉ thèm cơm. Nghĩ, cả nồi cơm ấy, mình nó cũng "đánh bay". Ăn hết phần mình, nó nhón mấy con cá bỏ vào bàn tay ra ngồi bậu cửa nhấm nháp. Cá mặn, uống nhiều nước, càng no,

Cái Bến gắp cá bỏ bát mẹ và hỏi: "Bu ăn có ngon miệng không?".

Bu nó chậm rãi:

- Ngon lắm. Ngon hơn ăn giò nạc.

Giò nạc! Ngày bà nội còn sống, nó bốn tuổi, đã một lần được ăn giò nạc. Dạo ấy làng vào Hội. Bán nhiều bánh quà. Bà nội mua một chiếc bánh dầy con và lát giò nạc - lát giò bằng nửa chiếc lá đa mỏng mảnh, dúi vào tay nó:

- Đứng vào chỗ kín mà ăn, đừng cho đứa nào biết. Chúng đòi, bà không đủ tiền mua!

Đến nay, vừa chục năm, nó và cả nhà, chưa một lần có giò nạc ăn, mặc dầu nó vẫn nhìn thấy những khoanh giò nây mịn trên thúng bà "dầy giò" ở chợ.

Cái Bến bưng bát cơm nhưng chưa dám ăn ngay, mặc dầu chân răng đã ứa nước. Ăn chỉ một loáng, như thằng Buồm, là hết, sao thấy cái ngon, niềm hạnh phúc khi được bưng bát cơm đầy? Mỗi người một ngày, thậm chí vài ba ngày, có một bát cơm thế này mà ăn, thì làng nó không đến nỗi mới vài tháng đã hàng trăm người chết, và bỏ quê đi, bố nó không phải lận đận lên Bắc kiếm ăn, ông lão đi tìm con gái, không phải chết gục ở lều chợ! Bố nó vẫn nói, cơm gạo là của "ngọc thực", dù đầy cót, đầy bồ, thúng to, nong lớn cũng chớ phí phạm. Phải tích cóp từng hạt, dành dụm từng hạt, nhặt nhạnh từng hạt. Đời người chả biết lúc nào đầy, lúc nào vơi. Làng nó giờ đang ở vào lúc vơi lép!

Bến nhón đũa gắp từng hạt, từng hạt đưa lên miệng. Nhai rất chậm. Nuốt rất chậm. Nhai kỹ mới thấy miếng cơm vừa ngọt, vừa bùi. Vị ngọt ngấm vào chân răng, khóe lưỡi, xuống cuống họng. Râm ran nơi bụng rồi thấm vào mọi mạch máu, làm cho da bớt sạm, mặt bớt vêu vao, chân tay thêm đầy đặn, bước đi vững. Cuốc ruộng, kéo bừa đều khỏe. Lúa đồng hạt mẩy, bông dài. Thế là cót thóc lại đầy. Nấu nồi cơm to...Ôi, quí thay hạt gạo!

- Bu ơi, - nó gọi mẹ - sao bà Chánh Ba lại cho cá nhà ta?

- À, cô ấy là người tốt. Bố mày lại làm thuê cho ông Chánh. Người nghièo thường thương nhau.

- Nghèo, bà Ba lại mặc váy lụa?

- Bố mẹ nghèo, bán cô ấy cho ông Chánh lấy thóc trả nợ. Mặc váyy lụa nhưng nhà ông Chánh chỉ coi cô như người ở.

Cái Bến nói:

- Hay là, bu ơi! Ai mua, bu bán con và thằng Buồm. Thôi, chỉ bán mình con. Để thằng Buồm ở nhà làm đỡ thầy bu, lấy thóc về ăn cho khỏi đói. Con đi ở cũng khỏi đói.

Mẹ nó mắng:

- Đã cái Sông đi ở, giờ lại bán mày làm đứa ở cho người ta, để bố mẹ sống lấy một mình hả?

Nó không dám nói thêm. Bỏ bát đũa. Mẹ nó cũng chỉ ăn một lượt xới.

Có hạt cơm vào bụng, cả nhà mặt mày nở nang. Bà mẹ bớt phiền não. Cái Bến khen mãi bữa cơm ngon. Thằng Buồm không còn ghét bà Chánh Ba, nhưng lão Trương Tuần thì vẫn thù.

Ngọn đèn dầu được thắp lên. Căn nhà sáng sủa hơn mọi ngày. Tuần hương trên bàn thờ chưa cháy hết, cái Bến đã thắp tiếp. Nó bảo, sẽ thắp đến tận giao thừa. Còn bao nhiêu thắp thờ tiên tổ, ông bà hết ngày mùng Một.

Cái Cần, con ông Canh, lách cửa vào, chào mọi người rồi ngồi xuống ổ:

- Hương, bác mua đâu mà thơm thế?

- Cái Bến mua ngoài hàng. Mưa rét thế, cháu cũng sang chơi?

Cần đưa ra một cái gói:

- Tết năm nay bác giai đi vắng, chắc nhà không gói, bố mẹ cháu có đồng bánh chưng sang biếu bác thờ cụ.

Bà Quen đứng lên, tần ngần:

- Ông bà nghĩ đến hoàn cảnh bên này lại đem cho bánh. Nhà bác chả biết đến bao giờ mới đáp lại được.

Cần nói:

- Hôm rồi, bố cháu mang cái nồi Ba Mươi và chiếc ấm đồng sang bên Đoài cầm lấy dăm thùng thóc ăn. Tết này chỉ gói mươi đồng bánh, mua vài cân thịt làm cơm canh cúng cụ. Mang biếu bên bác một đồng, cho cô cháu một đồng.

- Khổ! Đã phải " cầm đồ, cố áo" để ăn, lại còn cho hàng xóm! Cho thì bác xin. Cám ơn ông bà và các cháu.

- Mọi năm nhà cháu có cót thóc đầy. Tết nhất, bố cháu còn giở ra đụng góc lợn, gói cái giò xào và nấu xôi chè. Năm nay túng, chước hết!

- Mất mùa, bên ông bà còn lo được vậy là phúc. Nhà bác thì... cháu biết đấy! À Cần ơi, có phải bên ông Khóa Niết đã có giầu xin cháu cho cậu con giai không?

Cần cười:

- Đồn thế chứ đã có gì đâu. Mấy lại, cháu mới mười lăm, chưa lấy chồng.

- Mười lăm, chỉ hơn cái Bến một tuổi mà lớn gấp rưỡi nó. Chả gì bằng đủ ăn, đủ mặc, Cần nhỉ.

Cái Cần lại cười rồi ôm bạn hỏi:

- Mặc phong phanh thế có rét không?

- Rét chứ, nhưng cũng quen đi.

- Tớ có cái này cho cậu.

- Gì thế?

- Yếm. Cái yếm nâu mới, chưa mặc lần nào.

Bến đẩy tay Bạn:

- Tớ chưa mặc yếm.

Cần dịch tay xuống ngực Bến, nói nhỏ:

- Bắt đầu mâu mẩu rồi. Phải mặc yếm. Hôm nay cậu cửi áo bọc cá, mà cứ coi như không ấy.

Bến bẽn lẽn:

- Lúc ấy mình chẳng nghĩ oì con cá!

Tuy thường chơi với nhau, nhưng Cần ít chú ý đến cách ăn mặc của bạn. Rách rưới, đụp vá là sự thường thấy của chúng bạn cùng trang lứa bấy giờ. Chỉ sáng nay Cần mới rõ.

Tuổi dậy thì của Cần đến từ năm mười ba tuổi. Bắt đầu ngực ngưa ngứa, có lúc hơi đau, rồi hồng lên. Cần lo. Dạo trước lên “bắp chuối”, đùi cũng mâng lên vậy, Em vào buồng ấn cho tẹt xuống. Bỏ tay, ngực lại đây lên. Cô chợt hiểu mình đã lớn. Đó là cặp vú đàn bà để sau này nuôi con. Đứa con sẽ ngậm vào đấy, cũng như anh chị em cô đã ngậm vào vú mẹ, mút chùn chụp, dòng sữa ngậy ngọt tứa đầy miệng. Anh em cô lớn lên từ dòng sữa đó. Dần dần, Cần cũng thấy thêm bầu ngực không những chỉ để nuôi dưỡng con cái, nó còn làm đẹp cho người con gái. Cho nên không thể buông tuồng. Phải che đậy, bảo vệ nó. Bến chưa nghĩ đến điều đó. Mình phải bảo. Chả biết nó có nghe không. Đã là bạn bè thân thiết mình cứ nói. Cần thì thào vào tai Bến:

- Con gái cần phải che kín ngực, đừng để bọn con trai nhòm, chúng chẳng nhòm không, còn... (nói rất nhỏ)...

- Khiếp thế?

Cần vẫn thầm thì:

- Thằng Quất rất đểu. Tớ đang chăn bò thì nó dắt trâu đến. Lúc đầu đứng xa, rồi xán lại vồ ngay vào ngực. Tớ đẩy nó ra và chửi. Nó cười hơ hớ, bảo bắt con cào cào chứ làm gì mà chửi? Rồi xòe tay. Con cào cào nhấy tanh tách thật!

Bà Quen quay ra:

- Cái gì mà các cô rúc rích vậy?

Mặt Cần vẫn còn đỏ:

- Chúng cháu nói chuyện vớ vẩn thôi!

Bà Quen thấy lòng lâng làng. Đã mấy tháng, căn nhà này mới được vui như hôm nay. Đèn sáng. Mùi thơm của những nến hương thờ, của đĩa hoa bưởi. Lại rả rích tiếng cười. Có lẽ đó là niềm vui của sự no nê, của tuổi trẻ và của một mùa xuân sắp sang.

« Lùi
Tiến »