Làng Xưa

Lượt đọc: 1623 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
- 2 -
mùa xuân năm ất dậu (1945)

Mùa xuân nào trời cũng đẹp. Sáng mưa rải bụi, rồi trời hửng. Mây vén lên để lộ ra những khoảng trời xanh. Gió phơ phất. Không còn cái rét cắt thịt da như dạo Đông Chí, Đại Hàn.

Cây vườn bao la chồi mới. Những cái búp nhỏ xíu mềm mại, đựng đầy nước mưa, rung rinh rung rinh. Hoa bưởi nở trĩu trít. Màu trắng khoe trên cành. Màu trắng rơi đầy đất. Những quả bưởi non chưa rụng núm, nhờn nhơ. Rặng xoan bắt đầu phun ra những chùm hoa li ti, chưa nở đã dênh dang sắc tím. Cây cau nào cũng khẳng khiu, bạc phếch, bụng phinh phính. Chưa rõ nửa tháng hay hơn, cái tàu cau già kia sẽ nứt, bung ra một buồng non. Cỏ xước, cỏ gà cũng te tái đơm nụ, tận dụng xuân hồng, rắc gieo giống nòi.

Mười Rầm tháng Giêng hội Cọi. Mồng tám tháng Hai hội Làng. Hội Cọi có kéo chữ, múa lân, đánh cờ và vật võ. Hội làng thì rước thánh, tế Bài Ban, hát nhà tơ, diễn chèo... Trò gì cũng vui, cũng cuốn hút.

Ngay từ sáng, trống đình rung ba hồi chín tiếng. Mỗi tiếng trống, kèm theo tiếng chiêng. Tùng... Bi li... Chỉ cần hết hồi thứ nhất, trẻ con các xóm đã ào ào chạy đi. Mẹ gọi cũng mặc. Cơm xới rồi cũng bỏ. Chúng ra tranh chỗ đứng xem rước Thành Hoàng.

Cờ ngũ hành phấp phới dọc đường. Tít trên ngọn gạo là cờ Đại, to bằng tấm cái chiếu. Xung quanh lớp xanh, lớp vàng. Ở giữa cái nền đỏ rực, có một chữ Nho to, người lớn bảo là chữ Thần.

Chỉ một cơn gió, cờ Đại đã rung phẩm phập, giữa xóm còn nghe thấy.

Ba cỗ kiệu. Một long đình, đều sơn son thiếp vàng, đầu rồng đuôi phụng. Đòn dọc dài. Đòn ngang ngắn. Mỗi kiệu mười tám "phu" khiêng. Người nào cũng áo nậu, khăn điều, thất lưng xanh. Phu nữ áo mớ ba, yếm đào, khăn tím, khuyên bạc, quần lụa. Đức thánh ông kiệu Rồng. Thánh bà kiệu Võng. Đám trẻ con nhí nháu bảo nhau " Thánh cũng có ông bà? ". - "Như nhà mình có thầy bu ấy!". Rồi cười rúc rích.

Kiệu Ông rất thiêng. Phu cất lên vai là "bay". Bay ngược, bay xuôi. Bay lên, bay xuống. Đến đâu, người đi xem sợ hãi chạy dạt. Đến gần kiệu Bà, ông vòng quanh mấy lượt rồi cọ vào tay đòn. Phu kiệu nữ hết hồn, dịch sang bên. Kiệu Ông lại đến. Sợ hãi, các cụ bà vái lia lịa: " Xin ngài bớt lôi đình, tha cho. Dân con xin hóa thêm vàng bạc! " Ý chừng Ngài chưa hài lòng, vẫn xoay tít, xuýt nữa đẩy kiệu Bà xuống ruộng! Một nữ phu kiệu trôi mất dép, quát the thé: "Chớn vừa chứ!". Một cụ đi bên bịt mềm cô " Không được hỗn!". Đám phu nam cười bả lả, đưa kiệu Ông " bay lên". Hôm sau, có người hỏi, sao dám hỗn hào, cô gái vẫn chưa hết tức giận:

- Mấy đứa con giai cọ vào bọn tôi. Kiệu bay gì?

Tế xong thì giáp nào, giáp ấy khiêng xôi lợn về làm cỗ, chia phần. Cỗ các cụ và người lớn có bát nấu giả trâu, giả cầy; có đĩa phay, đĩa nạc, và đĩa lòng đầy. Cỗ bọn thằng Buồm, bốn đứa, hai bát chiết yêu xáo xương, cả những xương cục băm nhỏ, đĩa thịt và đĩa lòng mỏng. Nhiều nhất là rau diếp thái nhỏ, bốc bỏ gần đầy mặt mâm. Chúng đơm rau đầy bát, rưới nước xáo, lùa phúng phính, húp xụp xoạp. Năm chỉ một lần, người lớn trẻ con được ăn cỗ hàng giáp " ngon" như vậy. Bu nó và cái Bến không ăn được. Đàn ông mới được vọng vào giáp.

Ba tối diễn chèo sân đình. Sân khấu là hai cái phản gỗ kê liền nhau, xung quanh quây liếp. Chẳng phông màn. Cái hòm đựng đồ của phường, lúc làm ngai vàng, lúc làm quán nước, lúc lại là thành quách... Hai ngọn đèn "ba dây" vặn hết cỡ, muội bám đen, khói nghi ngút. Ông lý cầm chầu. Trương Tuần giạt đám. Người thổi kèn, kéo nhị, vỗ trống cơm... ngồi ngay cạnh phản. Đánh giặc, khóc than, vinh quang, ly hợp của tích chèo, đào kép cũng xoay trở trên hai cái phản gỗ ấy.

Cái Bến, thằng Buồm cùng chúng bạn thường nhận chỗ rất sớm, ngay từ khi ông lý và đào kép chưa ra. Chúng nghếch cổ lên phần để nhìn rõ bộ râu giả của ông tướng đánh trận bị rơi, và cô đào chân đầy đất mà vẫn xỏ vào đôi hài thêu kim tuyến. Chúng phục sát đất ông Trương Phi chỉ hét mà đổ được cầu, thương Nghi Xuân, Tiến Lực, cha đi đánh giặc phương xa, bị dì ghẻ ác đánh đuổi khỏi nhà, cảm động cảnh nàng dâu xẻo thịt cánh tay nấu cho mẹ chồng ăn khỏi đói... Những tích chèo hay đã làm bọn trẻ thơ sớm biết những vơi đầy của cuộc đời, biết quý điều Thiện, ghét điều Ác. Tiếng đàn nhị réo rắt, giọng ca lâm ly, trầm bổng... cũng nuôi dưỡng tâm hồn chúng khỏi cằn khô…

Vậy mà, Mùa Xuân này... Rằm tháng Giêng, đình làng Cọi cửa đóng im ỉm. Mồng tám tháng Hai hội Làng, thì mồng một, ông quan viên mang nậm rượu, đĩa xôi ra lễ tuần, thấy đình hoang lạnh, không một nén hương cháy, một tiếng chuông rung. Nền đình nhớp nháp. Sàn đình mốc meo. Tìm khắp nơi không thấy cụ Từ!

Cụ Từ hơn sáu chục tuổi nhưng lưng đã còng. Nhà nghèo, vợ con không còn, thân thích ai lo phận nấy, cụ xin ra nương cửa Thánh, sớm tới thắp nhang, thỉnh chuông. Tuần rằm, mồng một kiếm chút lộc biếu của người ra lễ. Làng cũng để cho cụ một sào rưộng " thần từ" cấy lấy thóc độ nhật. Vụ vừa qua, trời làm mất mùa, Cụ Từ chỉ thu được một thúng thóc. Làng đói, việc lễ lạy chểng mảng. Đã hàng tháng, cụ bữa nối, bữa đứt cũng chẳng ai để tâm. Người thân, ruột thịt còn sơ khoáng ngó ngàng, huống hồ cụ Từ ngoài đình?

Khi ông quan viên mở cửa hậu cung, thì cụ Từ đã chết, nằm gầm bệ thờ, đã nặng mùi. Ông hoảng hốt kêu làng. Tiếng khóc hờ, kêu than lâu nay nghe đã quen, chẳng làm ai sửng sốt. Chỉ vài tiếng thở dài, không chỉ vì thương cảm mà còn lo cho phận mình, gia đình mình rồi sẽ ra sao? Hôm nay mình còn khật khừ đi trên ngõ xóm, khật khừ lo tìm miếng ăn... Nhưng ngày mai, cũng có thể chỉ tối nay, cái thân thể khật khừ này sẽ rụng xuống, rữa ra như cụ Từ!

Riêng trẻ con vẫn háo hức được xem Hội. Đêm mùng Bảy tháng Hai, nhiều đứa ngóng chờ được nghe những hồi trống chiêng rung để ào ra mà xem cờ bay, kiệu rước, ngắm hàng bánh hàng quà.

Chị em cái Bến ra đến cửa đình ngẩn ngơ nhìn ngó. Lá cờ Đại không thấy bay trên ngọn gạo, mà lác đác mấy cái nụ gật gà trước gió. Trên cùng là chiếc tổ quạ xơ xác đen sì.

Ao đình bập bềnh trang súng và bèo bồng, không có trò chơi bắt vịt, chở thuyền hát đò đưa. Bãi cỏ liền bên vốn là xới vật, giờ hoang lạnh, cỏ mọc xùm xòa. Những niềm vui cỏn con của tuổi thơ đã bị nạn đói tước bỏ!

Một người đàn bà gánh khoai vụt qua. Đầu phủ chiếc khăn vuông đã bạc màu. Tóc lòa xòa bên thái dương. Mặt đẫm mồ hôi. Lưng áo cũng đẫm mồ hôi. Cái Bến quay sang bảo em:

- Ai như cô Châu?

- Cô Châu bán khoai lang, chứ ai!

- Ối giời - Bến kêu lên.

Hội Làng năm kia, cô Châu còn làm chủ tế nữ quan. Khăn nhiễu đỏ. Áo thụng lam. Đi hài hoa. Quỳ chiếu mạnh bái. Má cứ ứng lên như cô Tiên. Ai cũng khen. Mà giờ như vậy?

Cu Buồm lơ đãng. Nó đang nghĩ, giá làng mở Hội, các giáp có lợn tế thánh, trẻ con sẽ được bữa cỗ xáo xương và rau diếp!...

Là nghĩ vậy. Làm gì có cỗ ăn lúc này? Chị em nó phải đi tìm bữa trưa. Vừa rồi, chúng đã cuốc nốt mấy gốc dong non, củ bằng ngón tay, trắng ởn, ăn nhạt thếch. Rau lang cũng đã róc tới những chiếc lá già. Muống đầu năm chưa nảy. Cũng chẳng có nơi trồng. Dân cùng đinh, chỉ có dăm thước đất dựng túp nhà, một khoảnh vườn con trồng dong riềng và chuối hột.

Mẹ chúng bảo, củ chuối cũng nấu ăn tốt, nhưng để dành, hãy bòn bới bên ngoài về, khi "bói không ra, sà không thấy" mới ăn đến " của nhà". Ngon nhất là " anh rau má". Má ăn không hao người, đỡ cồn ruột, lại có chất "bổ dưỡng".

Hai chị em lên càn Con Voi đào má. Đây là nơi có nhiều rau má mọc. Cây chỉ là là mặt đất. Rễ lan tới đâu, nhánh đua tới đấy. Lấy liềm nạy lên từng búi. Về rửa sạch, thái nhỏ ghế lẫn với gạo, thành cơm độn rau má. Không có gạo, bỏ luộc kỹ, chấm nước cáy, ăn đỡ đói lòng.

Gần đến càn, chúng đã thấy hàng chục người lố nhố trên đó. Phần nhiều trẻ con. Thằng Buồm hý hửng, đông thế thì vui! Bỗng nghe một thằngng cao kều ở trên quát:

- Hai đứa đi đâu?

- Chúng tớ đào rau má.

Cái cuốc trong tay thằng kia giơ lên:

- Cút xéo ngay. Càn này bọn "bố" nhận từ sáng cơ!

Cái Bến:

- Sao lại nhận càn của làng?

- Sao giăng "đét" gì? Nhận là nhận! Chúng bay phải đi nơi khác. Bước lên đây, bố... bố cho... cho mấy nha... át cuốc, chết bỏ đời!

Thằng ấy gào đến đấy thì ho liên hồi. Cổ ngẳng ra. Nước mắt giàn giụa. Buồm hỏi chị:

- Thằng nào "hắc" thế nhỉ?

- Thằng Cốm, con ông Hồng, chết chôn hôm nọ đấy.

- Thế thì để tôi bảo nó. Cốm ơi, tao là Buồm và chị Bến xóm Giữa đây!

- Bến với Buồm lên mà đào tranh rau má, các bố cũng tẩn chết.

Thằng Buồm tiu nghỉu. Mới dạo nọ thằng Cốm đánh khăng với nó ở Cầu Tây. Nó lẻn vào vườn một nhà vặt được mấy quả ổi chín, còn cho Cốm một quả. Sao nay nó " ăn độc" thế? Chẳng ai trả lời!

Mặt trời ló ra khỏi đám mây. Nắng đầu mùa rát rạt. Thằng Buồm nhìn lên cần. Bọn trên ấy đứa nào cũng đầu trần. Mặt vêu vao đen cháy. Mồ hôi ròng ròng...

Có chỗ sẵn thì bọn kia chiếm mất, bọn chúng đông, mình chả đánh lại được. Thôi đành đi nơi khác. Chị em Buồm quay lại tìm kiếm ở từng con bờ. Bờ chỉ rặt cỏ. Cỏ chỉ, cỏ xước, cỏ gừng, cỏ lông lợn... Một vài chỗ có phèn đen, thòm bóp, mảnh cộng... Thứ không ăn được. Thứ chưa ăn bao giờ. Không dám đào!

Mặt trời lên cao. Mồ hôi đẫm áo quần. Mặt mày nhem nhuốc, mà chiếc rổ chị em chúng mang theo mới được rổng rểnh. Chúng ngồi bệtt xuống vệ cỏ, dưới bóng cây đa rụt. Bụng chị em đều réo sôi. Nước bọt như đặc lại. Chúng chóp chép miệng, chân răng vẫn khô. Mắt lại đổ "hoa cà, hoa cải". Thẳng Buồm ngáp liền mấy cái kêu " đói quá". Bến toan mắng, song nhìn sự mệt mỏi của đứa em cũng thương, chỉ bảo:

- Hay nhặt cả rau diếp dại, mảnh cộng, thòm bóp về luộc, chắc ăn được!

- Ừ, bờ thấp tìm đâu ra rau má? Ơ chị Bến, có nghe thấy tiếng gì róc rách không?

- Đâu?

- Ở dưới này!

Bến lắng nghe:

- Ừ nhỉ. Hay cá rô?

- Không biết. Để tôi lội xuống xem.

Một hy vọng lóe lên, thằng Buồm quên hết mệt mỏi, tụt xuống vũng nước trước mặt. Nước tới đầu gối, trong veo, chả thấy tôm cá. Nó lại nghe:

- Tiếng động bên trong. Chị đưa tôi cái cuốc.

Cái Bến cũng te tái:

- Mày cuốc ra. Tao lấy liềm moi.

Chị em hì hục làm. Tiếng róc rách ở phía trái. Cuốc hướng về phía ấy. Khi đào rộng bằng cái thúng thì lộ ra một lỗ mạch có nước đục, Buồm reo:

- Nhất định cá. Chị móc liềm sâu vào!

Đất rơi tùm tũm. Đàn đỉa nghe động và ngửi thấy mùi máu, bơi loằng ngoằng. Đỉa lớn, đỉa bé. Con nào cũng đen trũi, trơn nhãy, hướng cái vòi về phía hơi người. Bến sợ đỉa, chạy tóc. Thằng Buồm lại nhơn nhơn. Nó nhỏ bọt ra tay quẹt vào miệng những con đia đang bám lằng nhằng, tức thì đỉa co rúm lại. Nó tóm lấy quăng ra xa. Đàn đỉa vẫn nhâu nhâu bơi. Bám vào đùi, vào chân, bò trên váy áo. Thăng Buồm thấy ngứa chỗ cạp quần, vạch ra. Hai con đỉa bám chặt dưới bụng!

Lỗ mạch được đào rộng thêm. Bến thục tay vào khoắng, lôi ra con cá trê vàng ươm. Mắt Buồm sáng lên:

- Còn không? Tôi bắt cho!

- Nhều!

Chị em thay nhau móc sâu vào. Hai... ba... rồi năm con. Có cả hai chú lươn dài đưỡn. Con nào con ấy nần nẫn, vàng rượi. Thằng Buồm cửi quần. Bến lột áo dúm cá. Đã có chiếc yếm Cần cho, chả sợ ngượng.

Về nhà, chúng khoe rối rít. Bà Quen nức nở khen con gặp may, không được rau lại được cá ngon. Cái Bến toan bỏ lọ " sống" để bán đong gạo. Cu Buồm "ứ", bắt được phải nấu ăn. Trưa hai con. Tối hai con. Bỏ lẻ gạo vào hầm, sụp sọa cho sướng. Ừ thôi, theo ý nó. Lúc trên đồng, mặt nó tái đi vì đói, Bến cũng thương.

Bốn bữa cháo lươn, cháo cá; chẳng mỡ màng, hạt tiêu, thảo quả mà váng nổi như mỡ gà, húp vừa ngọt, vừa ngậy. Đúng là "đại tiệc". Đã nhiều lần bắt được cá, chưa lần nào nấu ngon như hôm nay. Sau bữa tiệc "cơm vậy" hôm Ba mươi Tết thì đây cũng là bữa ăn nhớ đời! Mai kia, Buổm sẽ kể cho bổ nghe chuyện này. Chả biết mấy tháng qua, bố có được ăn bữa nào ngon vậy không?

Buổi tối vừa năm ấm chỗ, cái Bến thấy đau ở dưới, nó sờ rồi kêu lên:

- Bu ơi, con đỉa!

- Đỉa ở đâu?

- Nó bám ở " chỗ ấy". Kinh quá bu ơi. Bắt hộ con đi. Ối trời!

Bà Quen mở chiếu dậy:

- Cha bố mày. Dịch vào tao xem nào!

Bà lần sờ một lúc, tóm được con đỉa, dứt phứt một phát. Máu tứa dẫm đùi cái Bến. Mặt nó xanh như tàu lá, run cầm cập. Bà gí tay vào đầu nó:

- Con gái con lứa đi hôi, đi mò về phải xem kĩ đằng trước đầng sau. Đồng đỉa như trấu. Giống đỉa đui cắn lại êm. Nó mà chui vào, sinh nở lúc nhúc trong đó, thì bỏ đời con ạ. Ngày xưa bà Quét, đỉa chui vào bụng mấy tháng. Vài ngày lại ngóc ra một con. Ở trong ấy, nó hút hết máu rồi chết, đĩ ạ.

Cái Bến càng hết hồn!

Chuyện bắt được cá, được lươn và những bữa tiệc ngon, thằng Buồm đi khoe mọi nơi. Nhiều người khen may, lúc đói khát trời lại cho lộc.

Một ông hỏi:

- Cá bắt được ở chỗ nào?

- Nghe đâu ở cái ruộng đầu Cánh Giộc.

- Chỗ có rẫy mộ hả?

- Chắc thế!

Ông kia vỗ đùi đánh đét:

- Thôi chết. Lươn cá rúc trong mộ ăn thịt người rồi, chứ lúc này tìm đâu ra lươn dài, cá béo như vậy?

Nhiều người ồn ào. Chuyện đến tai Bến. Mặt nó tái mét. Đúng là chúng đã móc được cá ở bên rẫy mộ! Bụng nó cuộn lên. Họng như có đàn giun ngọ nguậy. Nó oẹ. Muốn nôn ra thật hết những con cá đã mút thịt người. Ối giời, buồn nôn quá. Nó lại ọe. Chẳng có gì để nôn. Nó vật ra giường. Mẹ hỏi không nói. Em hỏi cũng không nói. Nó không muốn để mẹ và em cũng sợ như nó.

*

 

Sang tháng Hai, ông Cách, người cùng đi làm trên Bắc với ông Quen, trở về. Quần áo tả tơi.

Xương vóc hom hem. Ông khoác chiếc bao tải vào đến tận sân mà thằng con không nhận ra:

- Ông sang ngõ khác mà xin. Đây không có gì!

Ông Cách bỏ chiếc mê nón xuống, nhìn con nói:

- Thầy đây, cu Nhớn ạ. Thầy đi làm về dây.

Bà vợ từ trong nhà chạy ra, kêu lên:

- Ối giời, thầy nó! Sao đến nông nỗi này?

Ông nói như hụt hơi:

- Để tôi vào nhà rồi nói chuyện. Mệt lấm. Bu nó xem còn gạo, nấu tôi xin bát cháo. Hai ngày nay chỉ uống nước lã. Chả có gì vào bụng.

Đứa con dắt bố vào nhà:

- Thầy cửi cái bao ra. Khoác bức lắm.

- Ấy vậy mà người vẫn lạnh. Nhà ta còn chu toàn cả chứ?

- Tôi với bu, với cái Mẽ vẫn còn. Chỉ đói!

- Đói cả thiên hạ, đâu riêng mình. Hàng xóm thì sao?

Bà Cách vừa chụm củi cho niêu cháo, vừa kể:

- Từ dạo thầy nó đi, để tôi tính. Nhà Cuông một, nhà Bòng là hai... nhà... nhà... Cả thảy năm nhà chết chẳng còn ai. Ông Quyền ngày nọ khỏe thế cũng lăn ra chết. Rồi mẹ con chị Dằm, vợ chồng nhà Cổn... Ôi giời, chết lỉ chết lúc cả. Thầy nó nghỉ ngơi rồi đi mà xem. Xóm nào, xóm ấy, nhà thì giỡ bán, vườn thì bỏ cỏ mọc. Mà sao cái thức ăn sống người chẳng mọc mũi sủi tăm lên được. Cỏ thì như hóa ra. Ngõ xóm có chỗ phải lách chân mới đi được. Rắn rết, chuột bọ sinh sôi vô kể.

Thằng con chen vào:

- Hôm nọ ông Thạnh bị rắn cắn chết. Anh Lộ rắn luồn vào chỗ nằm, thấy lạnh và nhớt, anh ấy run bắn, nhưng cắn răng nằm, không dám đụng đậy để rắn bò qua bụng. Có phải hễ động đậy rắn mổ chết không, thầy?

Ông Cách:

- Ừ, mổ chết. Nhưng, rắn chuột nhiều thế, sao không bảo nhau bắt ăn cho đỡ đói?

Bà Cách:

- Rắn, con nào con ấy dài như cái đòn càn, cổ bạnh ra, phun phè phè, trông đã chết khiếp, ai dám bắt? Ở miếu, còn có đôi rắn thần mới về, to như cột nhà, mắt đỏ mào xanh... kinh lắm. Đã lâu chả ai dám ra miếu. Ông bảo bắt chuột hử. Chả như chuột ngày xưa chỉ ăn thóc, ăn gạo. Giờ chuột khoét mắt, cắn tai người chết đói. Ai dám ăn thịt? Cụ Từ ngoài đình chết, chuột khoét ăn hết hai mắt, không ai biết!

Ông Cách thở hắt ra:

- Đi chưa đầy vài tháng giời mà làng xóm tan tác vậy!

Bà vợ chẹp miệng:

- Bao giờ trông thấy hạt lúa tháng Năm mới chắc sống. Tôi bắc cháo lên, thầy nó ăn.

Niêu cháo nhỏ, nhưng ông Cách húp thấy người tỉnh lại. Ông bảo:

- Một miếng cháo của bu nó nấu ngon hơn mười bát cơm đi làm thuê. Tôi về được nhìn thấy bu nó và các con, dù có chết cũng không oán thán gì. Hôm vừa rồi, cứ tưởng ốm không lết đi được. Tôi vừa đi, vừa cầu tổ tiên phù hộ, vừa nghĩ tới làng xóm, vợ con. Vậy mà dần dà cũng đến được nhà.

Chiều hôm ấy, bà Quen sang hỏi tình hình. Ông Cách ngồi dậy kể:

- Bác giai và ông Dong vẫn khỏe. Chúng tôi đi bộ sáu ngày thì tới Bắc. Ông Dong dẫn đến chỗ làm cũ. Họ sắp xếp công việc ngay. Chẳng làm vương tướng gì. Chỉ đào ao, vượt thổ. Vất vả nhưng no. Khoai sắn thì đầy. Thích ăn cứ nướng, cứ luộc. Nhưng đã no cơm tẻ, chả ai thiết!

Cái Bến nuốt nước bọt. Giá nhà nó có được rổ sắn, thúng khoai thì đỡ đói.

Nó hỏi:

- Bác có mang về được nhiều sắn không?

- Không! Ốm lại đi đường vã, sao mang nặng được!

- Bố cháu và ông Dong sao không về cùng?

- À... các ông cố làm đến giáp mùa gặt mới về. Dặn mẹ con đừng lo!

- Bố cháu có gửi gì cho mẹ con cháu không?

- Không gửi gì. Chỉ dặn vậy.

Bà Quen bảo con:

- Đi làm vài tháng đủ sống là tốt, bố làm gì đã có tiền gửi?

Ông Cách:

- Kể ra cũng đã có chút ít, nhưng dành dụm để khi về.

Cái Bến về mà bụng vẫn băn khoãn. Hôm tiễn chân, ông Cách là người có sức vóc nhất, vững chãi hơn cả bố và ông Dong. Vậy mà ông Cách phải bỏ việc! Bố ơi, ông Cách ốm phải về. Bố cứ ở đó mà làm. Chứ về bây giờ sẽ phải đói như bu và chúng con. Mai kia có mùa, bố về nhà ta sẽ no nê. Con sẽ xới cho thằng Buồm bát cơm thật đầy có ngọn, để nó khỏi ao ước. Nhà ta sẽ trả hết nợ. Sẽ lợp lại mái nhà. Mua chung một góc bò (1/4). Bố chẳng phải làm canh điền thuê nữa. Mấy lại, bố cũng yếu rồi, sao làm thuê mãi được? Thằng Buồm lớn sẽ làm thay bố. Vừa rồi, nó kéo bừa khỏe lắm. Lúc ấy, con và thằng Buồm sẽ sang học buổi tối ở nhà cụ Đồ Uẩn để biết chữ quốc ngữ. Cái Cần, con bác Canh học có mấy tháng mà sách nào cũng đọc vanh vách. Kể được cả Kiều. Nó bảo đời cô Kiều khổ lắm. Khổ thì khổ nhưng cũng chẳng bằng nhà ta và những người làng Hạ trong keo đói này. Chúng con thích được học lắm. Cái Cần bảo, có học mới biết điều phải lẽ hay. Không học thì ngu dốt tối tăm, phải không bố? À cái Cần nó vừa đọc cho con nghe một bài ca nói về cảnh chết đói, sầu thảm lắm. Con đã nhẩm thuộc. Mỗi lần nhẩm, nước mắt con lại chảy ra. Lại thương bố với chị Sông phải bỏ nhà đi kiếm ăn; thương mẹ gầy ốm; thương thằng Buồm đang sức ăn, sức lớn, nhiều bữa phải nhịn chay. Bài ca ấy như vầy:

"Áo con là mảnh giẻ nhơ

Áo che thân mẹ là cờ lông công.

Ngày nay lòng đói đạ không

Đêm nay nhà ở cánh đồng hay đâu?

Đầu con, là sọ hay đầu?

Mặt mẹ, là mặt hay tàu lá xanh?

Con nhay vú mẹ thất thanh

Mẹ nhìn con mắt rơi nhanh lệ sầu

Lệ sầu rơi xuống mặt sầu

Đầu lâu ghé sát đầu lâu khóc oà

Dúm xương bọc dưới dúm da

Mẹ là dúm lớn, con là dúm con".

Nhiều người bảo, bài ca lan truyền mọi nơi. Người ta chỉ nhẩm thuộc, chứ không ai hát thành lời. Vui gì mà hát? "Áo con là mảnh giẻ nhơ. Áo che thân mẹ là cờ lông công". Thật đúng với cảnh nhà mình. Áo ai cũng lua tua như lá chuối rách. Thằng Buồm từ hôm có nắng, toàn cửi trần, đen tựa cột nhà cháy. Nhất là cái câu "Dúm xương bọc dưới dúm da..." thì không sai tí nào. Giờ ra đường gặp ai cũng da bọc xương!...

Bà Quen về rồi, ông Cách mới bàng hoàng nghĩ lại đường trường ba anh em đi. Ai cũng mệt nhọc và buồn. Bước thấp bước cao. Mắt mũi ngơ ngác. Đâu cũng đồng đất quê người. Qua một con đường, một dòng sông, một cổng làng... đều tựa tựa con đường, dòng sông, cống làng mình, mà lại không phải. Rất quen mà rất lạ. Chạnh nhớ những nét mặt thân thương cha mẹ, vợ con, anh em và bạn bè. Chốc chốc lại thấp thoáng thấy rồi lại nhòà nhạt đi. Ngày đi là hôm nay. Ngày về là hôm nào? Bây giờ ở đây. Lát nữa đến đâu? Ngày mai, ngày kia tới chỗ nào? Cái nơi mình đến còn phải bao lâu nữa? Mưa đêm và nắng ngày cứ bào mòn sức lực, bào mòn dần niềm tin vào những ngày sắp tới. Thôi, đã trót sa chân, thì phải dấn bước. Cầu mong Tiên Tổ, Phật Thần độ trì cho đi đến nơi, về được đến chốn.

Dọc đường gặp không ít làng mạc ủ ê xơ xác. Những mảnh ruộng cằn cõi. Những con đường đầy cỏ. Những mái gianh cùn cộc. Và cũng gặp không ít những đoàn người ngược xuôi dắt díu nhau đi kiếm ăn.

Thế rồi, cái nơi định đến, đã đến. Đó là một vùng đồi núi. Đá xếp cheo leo. Cây cối um tùm. Nơi trồng sắn. Chỗ ương khoai và những mảnh lúa bậc cao, bậc thấp. Nhà ở thưa thớt. Con người thưa thớt, nhưng đều mạnh khỏe. Nơi đây, có lẽ không biết đến nạn đói...

Mệt nhưng mừng. Ba người nghỉ một ngày rồi vay nhà chủ vài đấu gạo nấu cơm ăn no cho bõ những ngày lận đận đường trường, lúc ăn xêu, khi ăn vớt. Ai ngờ, chưa ăn còn mệt ít. Ăn vào, bụng tấm tức, mồ hôi vã ra, chỉ ngồi chống tay thở. Lại phải nghỉ thêm mấy ngày, mới dám mó đến cái cuốc, cái mai. "Ăn đấu, làm khoán". Công việc thổ mộc đâu đùa! Những thép mai phải nhấn sâu. Những tảng đất lật lên nặng như cối đá đại. Người bốc lò ráng sức. Người vác đất càng phải ráng sức, chân mới thập thễnh dò qua được những đoạn cầu ván chênh vênh và trơn nhẫy…

Rồi bất thần ông Quen đổ bệnh. Nóng như bếp lò. Rét run đổ giường chiếu. Bỏ cơm. Khát nước. Nhà chủ đun lá xông, cho uống thuốc tễ cũng không chuyển. Mới ốm ba ngày, mắt đã thụt sâu, da tái nhợt, nói chẳng thành lời. Môt buổi tối, ông Quen nắm tay người bạn đồng hành thểu thào:

- Hai anh về... nói lại... lại sự thể với... nhà tôi. Cũng tưởng sẽ cùng nhau sống trăm năm đầu bạc. Ngờ đâu... đâu nửa đời, nửa... đoạn vợ chồng đã phải chia ly. Mình ơi, Sông ơi, Bến và Buồm ơi... Tôi thương... thương tất cả, nhưng nông... nông nỗi này... tôi không còn làm gì được. Thôi, các anh... anh ở lại...!

Cục đờm đã chẹn lấy cổ. Ông Quen không dặn dò được thêm điều gì, rồi trút hơi thở cuối cùng!

Cái chết và những lời trăn trối của bạn khiến hai ông bàng hoàng. Mai táng xong ông Quen chưa bao lâu thì ông Dong lại ốm. Mặt bủng, da chì. Bụng tự nhiên to. Lại ho như cuốc kêu. Lo sợ chết nơi đất khách, ông Dong đòi về, mặc ai khuyên cũng quyết không ở. Ông Cách buộc lòng phải thôi việc, mặt khác cũng chán nản, nên gắng dìu bạn về. Lúc dắt tay, khi xốc nách, hai người lò dò đi. Ngày đầu, hai người còn đi được mươi lăm cây số. Sau sút dần. Đến ngày thứ mười - lẽ ra đã đến nhà, nhưng mới được già nửa đường, ông Dong không thể lê bước được. Cũng chẳng ăn uống. Bụng càng chướng lên. Phải đưa ông vào cái quán bỏ không bên đường. Nửa đêm ông Dong phát buồn, không dặn đò một câu, rồi lịm đi. Chút nước mắt hiếm hoi của ông Cách chắt ra. Vài tháng trước ba người còn hăm hở đi. Giờ, hai người nằm lại xứ người! Ông Cách vào xóm mượn mai cuốc, đào nông ngay bên gốc cây bằng, đặt bạn nằm lại. Cũng chẳng có một nén hương để thắp. Ông xá bạn hai lần, nhìn kỹ lại nấm mồ hai lần, phòng sau này dẫn vợ con bạn đi tìm, còn nhớ!

Ông Cách dặn vợ:

- Đường trường chúng tôi đi làm ăn là như vậy. Bu nó không được hé răng nói với ai. Qua keo đói khát này, tôi sẽ lựa lời kể dần...

*

 

Chợ làng nằm bên đường cái quan. "Đường cái quan" cũng chỉ là đường đất, rộng vài ngũ. Khác với đường làng ngõ xóm của dân là rộng hơn một chút, thỉnh thoảng có quan huyện, quan tây, "quan thừa", " quan lục" lại qua bằng ngựa hoặc xe kéo tay.

Chợ làng cũng chẳng to tát, đẹp đẽ gì. Những dãy lều lùn thấp, bốn bề trống hoác, bốn cọc tre làm trụ, phủ mỏng trên là lớp rạ mủn. Có mái lợp bằng mo cau, bẹ măng hoặc manh chiếu tua na những sợi đen xỉn. Quán lều dặt đẹo. Cơn gió đã rung. Mưa bóng mây đã giột, giống như những người chủ nó ngồi bên dưới.

Tháng chợ hợp hơn chục phiên. Phiên nào cũng chỉ nhoáng nhoàng một lúc sáng. Mặt trời lên vài con sào, kẻ bán người mua đã tản mát về. Bỏ lại những đống vỏ khoai, bã mía, lá bánh và những mớ rạ, những hòn gạch vỡ kê ngồi. Duy một bà lão còng ngồi nấn lại sau, dưới tán đa, mong có người còn chậm chân đến mua đồ hàng của mình. Đó là những dúm mắm tôm sền sệt bọt và nước, gói trong chiếc lá ngái. Đó là vài đấu vừng, những gói hạt cải, hạt đay. Mấy quà ổi ương, táo rụng. Phẩm tím làm mực cho học trò. Phẩm xanh bôi đầu chốc trẻ con... Phía đằng kia, một con chó mực gầy nhằng, của ông lão bán nước vối, ra la liểm lá bánh, vỏ khoai...

Buổi chiều, chợ thật buồn. Cửa liếp những gia đình trú ngụ xung quanh đóng im ỉm. Dãy lều trổng trơ, cô quạnh. Hun hút không một bóng người. Nắng quái quét xuống mái nhà, lều chợ, ngọn cây một màu đỏ như tiết đọng. Gió hu hú, những cọng rạ trên mái xơ ra. Lá đa già trút xuống, bay lả tả. Loáng sau, mặt trời đã chìm xuống chân làng. Tất cả xám ngắt trong màn sương đục.

Dằng dặc năm này qua năm khác. chợ làng vẫn tẻ buồn, rệu rã như vậy. Chẳng đổi thay, nếu có chỉ là những quán lều xiêu vẹo thêm, rách nát thêm và những mặt người nhăn nhúm thêm.

Từ cuối nằm Thân, mọi người đã nhìn thấy nạn đói rình rập, đe dọa thì chợ làng có vẻ sôi động hơn. Trên đường cái quan, từng đoàn người từ bốn phương tám hướng dắt díu nhau qua, cứ tới cái chợ này lại dừng bước, rẽ vào một túp lều nào đó nghỉ chân, trú qua đêm, để mai đi tiếp.

Tháng Hai năm Dậu, chợ đông hơn. Không chỉ đến họp, đi qua ghé vào, mà nhiều người nằm lại hẳn, chờ xin ăn, hoặc gục chết ở đó. Xác người chết không thể để mãi, những nhà gần, sáng ra nhìn thấy thì kêu lên, rồi do chính mình, vợ con mình hoặc thuê thêm người, kéo cái xác ấy đi một quãng xa, để tuần đinh làng đem vùi đâu thì vùi. Dân phố chợ giao ước, hợp lực với nhau, chiều tối mang gậy ra đánh đuổi kẻ định vào quán nằm!

Đồ hàng cũng bán nhiều hơn, những mớ ốc, mớ hến vừa nhặt từ ruộng lên, còn dính bùn. Mẹt khoai luộc, củ gầy như ngón tay, người mua đút cả vào miệng nhai ngấu nghiến, không bóc vỏ. Rồi bánh đúc nấu bằng tấm gạo, pha chút nước vôi, chẳng cần hành mỡ, dần mỏng ra sàng. Bánh ngô vàng khé, múc bát để nguội, lật sấp xuống những mảnh lá chuối. Bánh bèo xùm xụp như những bàn tay khum ngửa. Rồi cháo kê, cháo hến, củ chuối nấu mỡ...

Ngày trước đi chợ ăn quà, đàn bà thường dùng nón hoặc che chiếc khăn vuông sụp kín mặt. Nay những cái mặt hốc hác cứ phơi ra giữa chợ. Lúc này có miếng ăn để được sống thêm một ngày, là niềm hạnh phúc, việc gì phải che đây? Họ ngồi bệt ngay bên những mẹt bánh, rổ khoai... ăn ngon lành.

Một người ăn thì hai ba người đứng chầu, mắt hau háu thèm khát. Tay chìa xin. Miệng rên rẩm kể lể. Có những người vốn là họ hàng, làng xóm, đã cùng cấy một cánh đồng, tát chung nhong nước. Nay người sa cơ, lỡ vận; người còn kiếm được miếng đút mồm. Mặc! Người ăn cứ cúi xuống húp xụp xoạp, nhai nhóp nhép, nuốt ừng ực. Coi như không nghe thấy, chẳng biết kẻ đang chìa tay xin là ai! Khi những mớ lá bánh quăng ra đất, chiếc bát đặt xuống mẹt... đám người kia xúm lại, có lúc tranh nhau, kẻ húp vội chút nước còn sót bát, kẻ giỡ tung đám lá bánh ra từng mảnh, xem còn gì dính không!

Những ngày đầu, đám người này chỉ đứng xin. Đứng mãi, đứng mãi cũng không được gì. Chính người mua cũng đang đói. Họ bán mớ ốc, mớ hến vừa mò lên, ra chợ ăn vụng vợ, vụng chồng, còn đâu mà hào phóng, sẻ nhường? Người đi xin liền đổi cách. Thôi kể lể van nài. Họ lấm lét nhìn những mẹt bánh, bắp ngô, củ khoai... rồi thình lình nhao lại quắp lấy đút miệng. Trước còn cướp những thức ăn chín. Sau họ cướp đến gạo, ngô, cám và khoai sống. Cướp được họ tống thật nhanh vào miệng để khỏi bị giàng móc ra. Rồi cũng chẳng chạy. Còn sức đâu mà chạy? Họ sụp xuống, lăn ngay ra đất. Mặc người mất của xông đến đánh đấm không thương xót.

Để đối phó, người bán liền gói những chiếc bánh ruột bằng đất bày lên mẹt. Bánh thật, giấu dưới thúng. Ai mua mới đưa ra. Các loại thức ăn khác, một người bán, một người cầm gậy đứng bên hộ vệ, phòng bị vồ cướp!

Phía cuối dãy, một ông đứng canh cho vợ bán cám, thấy có mụ đàn bà gầy quắt queo, khoác bao tải rách, quần xoạc lưng đùi, thò đôi chân như hai thanh tre đen nhèm. Mụ lừ đừ lại gần, mắt la mày lét, bất chợt úp mặt xuống thúng của bà, tay quơ cám vào miệng. Tức thì, người chồng xông, lại, thẳng cánh quật đòn gánh xuống "Đốp... đốp!". "Con kẻ cướp" lăn ra quằn quại. Có người can:

- Đừng đánh nữa, nó thôi rồi!

Mặt bà kia tím lại, dậy vội thúng cám, vừa chửi vừa xỉa xói:

- Con chết đâm, chết chém. Không chịu làm mà hốc. Lại đi ăn cướp. Thế mới sướng đời!

"Con chết đâm" bị đánh duỗi cổ ra vì nghẹn, lăn lộn trên đất. Bà hàng cám lườm mụ đàn bà "ăn cướp", toan chửi thêm một thôi nữa, bỗng sững lại:

- Ai như...?

Bà cúi xuống nhìn lần nữa rồi kêu lên:

- Cái Tép hả?

Mụ đàn bà cổ vẫn ngắc ra, không nói được.

Lần này thì bà khóc:

- Đúng là cái Tép. Khổ thân mày: Sao đến nông nỗi này, em ơi!

Rồi bà ôm lấy cái thân hình rách mướp hôi hám ấy, khóc hu hu. Người chồng bỏ đòn gánh. Nhiều người xúm đến. Người đó đúng là cô Tép, con ông chú ruột bà, lấy chồng mãi làng Rỗ. Đã lâu chị em không gặp nhau. Chỉ nghe nói cảnh người em cũng túng quẫn. Ai ngờ…!

Bà xốc dậy, nhưng người em chỉ mở đôi mất vô hồn ra nhìn, không đứng lên được...

Nhà ông Canh đi bán khoai, gia đình này vốn chăm chỉ làm lụng, đủ ăn từ vụ nọ đến vụ kia. Mất mùa, ông đã phải mang đồ đạc đi cẩm cố, nhưng ăn tiêu chẳng được bao lâu. Người con trai tên Cải, tham gia vào đội bảo an của làng, phải đi luyện tập, canh gác. Bà cùng con gái mua khoai về bán.

Hai mẹ con bày lên mặt rổ mớ khoai luộc, củ tím, củ vàng. Một vài người mặt bủng beo lượn lờ. Thấy vậy, bà Canh úp cái sàng lên mặt rổ khoai, đề phòng.

Thằng Buồm dạo này hay đi chợ. Nó định bắt chước mấy thằng xóm trên đi vồ cướp ăn cho đỡ đói. Nhưng lo bị đòn. Khối đứa bị đòn rất đau. Nó chỉ đứng dựa cột quán nhìn. Có tiếng gọi:

- Buồm ơi!

Nó quay lại, nhận ra Cần:

- Chị gọi tôi?

Cần thì thào với mẹ. Bà gật đầu. Liền gọi tiếp:

- Lại đây chị bảo.

Cần đưa cho Buồm củ khoai luộc to. Nó nhìn Cần, lại nhìn bà Canh. Bà bảo:

- Chị cho cứ cầm lấy.

Có lẽ nó đã rõ:

- Tôi xin!

Cũng chả nói thêm lời nào, cu Buồm cầm củ khoai ăn tắp lự. Nó chẳng bóc vỏ, cũng chẳng kì rửa đôi tay đầy đất cát. Ăn hết củ khoai, nó mới sực nhớ mẹ từ chiều qua cũng chưa có gì ăn! Nhưng khoai hết rồi! À, sáng chị nó bảo đi mò ốc bán đong gạo, có lẽ chị đã lên chợ?

Nó vòng ra hàng gạo, hàng cám, đến dãy hàng cua ốc cũng không thấy chị, liền lộn lại phía đầu chợ. Ở đây, nhiều người xúm xít quanh chỗ bán đồ cũ, đó là thứ hàng mới xuất hiện ở chợ mấy tháng qua. Giường thờ, tràng kỷ, lọ độc bình, bát hương, cây đèn, hòm xiểng, nồi đồng, chậu thau, cối đá, bát sứ, bát đàn. Cả những cỗ khảm, cỗ ỷ thờ. Thứ mới, sáng chóe sơn son, thiếp vàng, Thứ cũ, long mộng sứt sẹo. Đó là "gia bảo" của những nhà trước đây khá giả như nhà ông Lý Song, bác Trương Hỗ, ông Phó Đài, cụ Hội Mậu..., nhiều năm sa sút vì rượu chè, tổ tôm, xóc đĩa, thuốc phiện, cô đầu, nhà tơ... Họ đã bán dần tư điền, tư thổ để chơi và trả nợ. Nay "thần đói" về hoành hành, không loại trừ ai, kể cả các "quan viên" này!

Cái Bến đi mò rất sớm, để mang cua ốc bán lấy tiền đong gạo, mua khoai. Mẹ ốm nằm đấy. Cu Buồm thì lang thang đây đó tối ngày. Bến trở thành người kiếm ăn chính cho cả nhà, chẳng dám lơ đễnh.

Nó xắn váy thật cao cho dễ làm, nếu bị đĩa bám thì biết ngay. Hôm mò cá trê, bị đỉa cắn, nó nhớ đời!

Mò chán trên đồng lại lội xuống mương, Mọi khi sà xuống đâu cũng gặp ngay từng chùm ốc vặn, ốc đá bám vào cây lúa, ngọn cỏ, chỉ việc nhặt bỏ giỏ. Nắng mới đã làm đồng ruộng cạn khô, lại nhiều người mò, cua ốc chẳng kịp sinh sôi. Mặt trời lên cao, mà cái giỏ con chỉ được lưng lửng, nó vội vàng đem lên chợ.

Chợ đã vãn người. Nó rênh mớ ốc từ đầu đến cuối chợ, chả ai hỏi. Nó chìa vào chỗ cô hàng xén mời mọc và bảo "Cháu lấy rẻ". Cô hàng xén lắc đầu. Nó lại tới bà hàng vải: "Ốc vặn béo. Bà mua cho cháu?". Bà ta cau mặt: " Xéo đi, ốc toàn bùn!". Nó ngó nghiêng thấy mọi người đang sắp xếp quang gánh ra về, thì lo. Không bán được ốc, lấy gì ăn? Đâu ăn vã ốc mãi được?

Mồ hôi đẫm khuôn mặt gầy gò và lo âu, cái Bến kéo vạt áo lên quẹt. Chân thất thểu bước, mắt ngó ngênh chờ một tiếng gọi hoặc một cái vẫy tay của ai đó.

Nó tới hàng cơm lão Rậng. Mùi xào nấu bay ra thơm điếc mũi. Nó đứng lại hít hà và ước... Thấy lão, nó liền hỏi:

- Ông mua ốc?

Lão nhìn gườm gườm, rồi bảo:

- Xem nào!

Nó mừng rỡ bước lên cửa. Lão lấy tay bới khoắng rồi chê:

- Gầy bỏ mẹ!

Cái Bến nói như van nài:

- Cháu bán rẻ!

- Rẻ tao cũng không mua. Mày có bằng lòng thì nói. Mày ế ốc. Tao ế hàng. Đổi ốc lấy thức ăn, ưng không?

Mắt nó ngước lên dò hỏi. Lão Rậng nói luôn:

- Tao xúc cho mày một bát thịt nấu củ chuối. Mày để mớ ốc cho tao luộc. Được chứ?

Nó gật đầu, đưa rổ ốc ra. Lão xé mảnh lá chuối to, múc thịt gói lại, nước thịt chảy tong tong. Nó tiếc, ghé miệng hít sụp soạp!

Thằng Buồm về đến nửa đường, bỗng nghe tiếng mõ. Hỏi, người lớn bảo, chùa cúng lập hạ. Thế nào cũng có đồ lễ. Vào xem sao? Nó vừa được chị Cần cho củ khoai ăn, nhưng mẹ nó còn đói, lại chẳng gặp chị Bến. Vào đây nếu không xin được gì, thì cũng phải kiếm chút gì mang về cho mẹ. Gần đây nó đã biểt thương mẹ. Không tào lao như trước. Bà hàng xóm vẫn kể những sáng mùa đông rết mưới, bu nó vẫn phải dậy rất sớm, vỗ cho chị em nó ngủ, rồi dặn bà nếu nghe khóc thì chạy sang dỗ dành hộ. Bố nó dạo ấy đi làm vắng. Bu nó phải lội xuống những con mương sâu để xúc tép. Xúc thật nhanh. Mặt trời mọc, tép sẽ rúc hết xuống dưới. Hôm nào quần áo bu nó cũng ướt đầm đìa, mặtt tái mét, vì lạnh và sinh bệnh ho từ đấy. Thuốc chẳng có. Cũng chẳng thể kiêng khem, bệnh mỗi ngày một nặng. Từ sau lần đi kéo bừa, bu nó càng ho nhiều, sốt nhiều. Lại đói! Nó hãy vào đám cúng trong chùa, may га…!

Mọi khi cửa chùa mở toang, đón khách thập phương và các chư già làng ra lễ Phật. Từ dạo đói, người tứ xứ kéo vào chùa xin ăn rất đông. Của Từ Bi lẽ ra không thể thấy chúng sinh tuẫn nạn mà không cứu giúp. Nhưng chùa nghèo, sư và thủ hộ đều già, tiểu còn non, quanh năm chỉ đủ cơm với tương cà, chả lấy gì cứu hộ được. Vì vậy, sư ông ban ngày cũng như đêm phải đóng chặt cửa chùa. Nghe gọi, nếu đúng người đến lễ, chủ tiểu mới được rút then cổng.

Thằng Buồm quen thuộc từng lối đi, chỗ thờ, thậm chí từng ông Bụt ngồi trên bệ trong chùa. Đã không ít lần nó lẻn vào vườn chùa, lúc vặt trộm ổi, khi lấy bòng ăn. Bu nó biết, chửi và đe, lấy trộm của Bụt sẽ phải tội lồi mắt. Khi chết, quý sứ dưới âm phủ sẽ rạch miệng. nhổ răng. Nghe mẹ dọa, nó vẫn nhơn nhơn. Ăn trộm mấy lần mà mắt nó vẫn tinh tường như thường đấy thôi.

Lần này, nó chẳng cần đi lối cổng. Vì có vào, với hình dạng nó lúc này cũng sẽ bị tống ra. Nó tìm một chỗ giậu thưa, lách vào vườn. Nó thấy những quả ổi xanh, chùm khế chua đung đưa. Chả thiết. Nó phải vào chùa, may ra kiếm được thứ gì đó mang về cho mẹ?

Ngày cúng lập hạ năm nay không đông. Mấy "thí chủ" thấy nó tưởng người nhà chùa. Sư ông thì mắt kém. Chỉ sợ chú tiểu nhìn thấy.

Chú tiểu khoảng mười chín, đôi mươi. Người cao thanh. Mắt sáng. Lông mày đen. Hay cười. Bộ quần áo nâu tuy cũ nhưng luôn được giặt sạch... Cu Buồm mắt la mày lét. Nép vào cây nhãn. Rẽ qua hàng cau rồi bám vào tường chùa. Cửa chùa chỉ mở hé. Không thấy bóng ai. Chuông mõ kinh coong phía nhà Tổ. Mọi người đang ở đó? Nó vụt nhanh. Lách qua. Trong chùa tối om. Mấy nén hương lập lòe. Nó dần nhìn rõ. Ông Hộ Pháp ngổi một mình, to ơi là to. Một tay để lên đùi. Tay kia giơ cao ngang mặt. Bàn thờ Phật, thờ Hộ Pháp đều có oản chuối. Những phẩm oản nếp ngày đói, không to bằng dạo trước. Chuối quả chín, quả ương. Bé, nhưng được chén cũng sướng. Hương đã cháy quả nửa. Có lẽ Phật ăn rồi. Nó sẽ lấy trộm một ít. Phật đừng chọc nó lòi mắt! Nó chi ăn trộm ngày đói. Mai kia thôi... ăn trộm của chùa, giá có lộ, sư chắc không đánh đau như đi vồ cướp ngoài chợ?

Thằng Buồm nghe ngóng thêm. Vẫn im ắng. Nó sẽ trèo lên mấy bệ trên. Không nên lãy lễ vật bên dưới, người ta dễ biết. Lấy ở đâu, cũng chỉ nhặt mỗi nơi một vài thứ. Tham lấy cả, lộ ngay...

Nó đang định thực hiện âm mưu đó thì có tiếng nói ở phía ngoài. Buồm liền thụt vào gầm bệ. Vòm quấn nhỏ và thấp. Rất nhiều mạng nhện. Nó chui vào đó, thò đầu ra quan sát.

Chú tiểu đi trước. Cô gái trẻ đi sau. Cười rúc rích. Nó thấy tiểu nói:

- "Thí chủ" vào trong này. Tôi hạ lễ mà mang về.

- Con đứng ngoài.

Chú tiểu đỡ cô gái bước qua bậu cửa:

- Cứ vào đi. Tôi đã bảo đừng xưng con. Tôi với thí chủ chỉ ngang tuổi. Tôi mười chín. Thí chủ bao nhiêu?

- Con mười bảy.

- Xưng em thôi! Có phải em là Lan, con cụ Hương Hai không?

Cô gái cười:

- Sao chú biết?

- Em đã lên chùa nhiều lần, sao tôi không biết? Bố mẹ đã nhận giầu gà Lan cho ai chưa?

Má cô gái đỏ lên:

- Em chưa muốn lấy chồng.

Tiểu nắm tay cô gái:

- Em xinh lắm!

- Chú đừng làm thế. Sư ông biết thì chết.

- Ông còn bận dưới nhà Tổ. Mấy lại, tôi cũng sắp được ông cho về nhà rồi.

Mắt cô chăm chắm:

- Chú về nhà chơi, hay không ở chùa nữa.

- Tôi về hẳn. Tôi đã ở chùa năm năm. Buổn lắm. Tôi về lấy vợ rồi đi làm thợ sơn như bố tôi. Làm thợ được đi dây đi đó. Đi tu, quanh năm chỉ quét lá, thỉnh chuông và đọc kinh. Lại hay bị sư ông dánh.

Cô gái ngạc nhiên:

- Sao bảo người đi tu hiển?

- Sư ông hay cáu, thường lấy dùi mõ nện vào đầu, có lần chảy mẫu. Tôi không ở chùa nữa. Tôi định...

Tiểu ngập ngừng, nhìn vào đôi mất long lanh của cô gái:

- Tôi định sẽ sang hỏi... hỏi Lan làm vợ. Chả biết em… em bằng lòng không?

Cô gái cúi xuống, nói nhỏ:

- Em không biết. Nhưng chú về thật à?

- Về thật đấy. Tôi yêu Lan đã lâu. Về làm bạn với tôi nhá?

Tiểu nắm tay cô gái. Cô gượng nhẹ gỡ ra:

- Trước cửa Phật, làm vậy phải tội!

Tiểu cười. Hàm răng trắng lóa:

- Bụt nhân từ chỉ độ trì. Chứ không bắt tội ai. Lan bằng lòng chứ?

- Sang hỏi thầy bu em ấy.

Chú tiểu âu yếm ôm lưng cô gái. Cô đứng yên. Hai người kéo nhau vào chỗ tối thì thẩm.

Họ say mê chuyện trò, Buồm thấy cần phải hành động chóng vánh. Họ hạ lễ, khóa cửa chùa lại thì toi đời! Nó nhẹ nhàng nhoi ra. Họ vẫn mê rì rầm và cười. Nó với tay lên bệ thờ gần nhất nhặt oải chuối bỏ túi và giắt vào cạp quần, rón rén định chuồn.

Có tiếng sư gọi. Tiểu vội rời cô gái vào hạ lẽ. Buồm thở phào. Chờ hai người đi khỏi, nó lách ra. Lại chuồn phía vườn. Một loáng đã thấy nó chui ra đường cái. Vừa đi, nó vừa nghĩ cách nói thế nào để bu nó khỏi chửi về tội lấy trộm của Chùa.

*

Lão Rậng mở hàng cơm ở chợ. Chủ yếu bán thức ăn chín như lòng lợn, tiết canh, thịt luộc, thịt rán, giả cầy và cả món thịt nấu củ chuối bán cho người ít tiền ăn.

Lão vốn linh lợi, xoay xở. Khi buôn thuốc lào. Lúc bán bánh đa. Rồi ai giết con lợn, con chó lão đến chọc tiết, pha lọc, nấu nướng giúp. Lý dịch hay nhà giầu trong làng, cưới con hoặc làm ma mẹ, chẳng gọi, lão cũng đến. Tay dao, tay thớt lão định món, tính mâm đâu vào đấy.

Làng đói, chẳng ai bầy ra cỗ bàn. “Thất nghiệp", lão Rậng quay mở hàng ăn. Lúc này miếng ăn là thứ nhất!

Lúc đầu, chỉ vài cái chõng, mấy chiếc mâm gỗ mộc, chồng bát chiết yêu và những đôi đũa tre. Nhờ " bán được", lão sắm thêm mâm son, bát sứ, " oách" hơn một số hàng ăn khác. Khách ra vào đủ loại. Sang, là những người buôn chuyến, rẽ vào uống rượu, nhắm thịt. Xoàng, là loại người thiếu đói, đồng một bát củ chuối nấu mỡ, ăn cũng mát ruột.

Lúc này, đắt nhất là thóc gạo, lương thực. Các loại thịt lại rẻ. Con lợn, con gà nuôi choai choai đã phải bán tống, bán táng, để chúng khỏi ăn lạm của người. Lão Rậng tha hồ mua. Có hôm hàng lão thịt pha hàng rổ. Mấy chiếc nồi bộng sôi lục bục suốt ngày. Lòng luộc chín tới, xoa mỡ, quấn quanh ống bương, nướng thơm phức, hơn cả " mộc tồn".

Gần đây lão còn mua dê về giết. Thịt dê đắt. Khách thật sang mới ăn. Đó là những thầy chánh, thầy lý đang đảm trách việc tổng, việc làng. Tư điền hàng chục mẫu. Thóc chứa mấy gian. Là những "cậu ấm" con nhà giàu, đang đua đòi ăn chơi, đĩ bợm!

Thỉnh thoảng lão Rặng lại đến nhà Chánh Tần:

- Thưa ông. Con mới chuốc được thứ này rất quí. Mang đến ông.

- Gì vậy?

Lão đặt mâm xuống bàn:

- Thưa, đây là tiết dê. Ông muốn tiết canh, con đánh. Hoặc đổ rượu vào, uống dần. Đây là cật dê - ta vẫn gọi bồ dục. Luộc ăn hoặc ngâm rượu thì thưa, ông chánh, cứ là... bà Ba sinh ngay quí tử!

Chánh Tấn cười hề hề:

- Của thật hay của giả?

- Bẩm ông. Con làm sai sẽ chết một đời cha, ba đời con!

- Thôi được! Nói cho vui. Tôi vẫn tin anh. Hết bao nhiêu, vài hôm nữa, lấy tiền có tiền; lấy thóc, tôi gạt cho về mà ăn.

- Vâng, thưa ông Chánh, cho gì cũng được!

Vậy mà gần đây người ta đồn lão Rậng cả gan chế biến cả những món ăn " mờ ám", nấu bằng thịt người. Chẳng rõ thực hư ra sao...

Cái Bến đã một phen kinh sợ bởi ăn cá trê và lươn, nay lại mấy lần mua củ chuối nấu của hàng lão Rậng. Đêm nào nó cũng mơ thấy những cảnh khiếp đảm, rùng rợn. Kêu ú ớ. Vùng dậy chạy. Mẹ nó lúc lay gọi, lúc phải túm áo lôi lại. Nó nằm bẹp một chỗ, không đi mò cua, bắt ốc được!

Nhà có hai lao động chủ lực đi bòn bới kiếm ăn, thì ốm, chẳng có chút gì đút miệng. Thằng Buồm phải sục sạo kiếm thứ bỏ vào cái dạ dày đang trống rỗng. Hơn mười tuổi đầu, nó chẳng biết làm gì, ngoài việc đi xin ăn hoặc lấy trộm. Đi xin lúc này khó lắm. Ăn trộm thì mẹ nó chửi. Nó cũng biết trộm cấp là xấu, nhưng gặp lúc đói khát này, biết làm gì khác?

Đêm đến nó lại lần mò. Đường thì vắng. Những nhà khá giả cổng ngõ đều đóng kín. Những con chó dữ, thấy động hoặc thấp thoáng bóng người là tru lên. Chỉ những con chó lười, chúi đầu vào đống rơm ngủ mới không sủa. Nhà giàu còn có những thúng "gạch củ đậu" choang ra, hoặc phun nước ớt đựng trong chiếc bong bóng trâu, khiến kẻ gian tối tăm mặt mũi không chạy được!

Thằng Buồm cũng biết đi ăn trộm là nguy hiểm, song "bụng đói, đầu gối phải bò". Nó phải đi. Và nó nghĩ là cứ vào nhà Chánh Tần. Nhà ấy, sẵn thóc gạo, ngô khoai. Lần ra trạn bắt may ra vớ được bát cơm nguội, mấy cái đầu cá ăn dở, cũng tốt!

Nó lách qua đoạn giậu ruối. Ruối cành cứng, lá ráp cứa toạc cả cổ. Mặc! Nó qua lối chuồng xí bẩn thỉu, ít người chú ý. Vừa đến bên bụi chuối thì nghe "roạt" một tiếng. Tim nó thót lại, chờ một bàn tay hộ pháp tốm lấy cổ! Nhưng không! Một con mèo mướp vọt qua, gào lên những tiếng thống thiết! Hoàn hồn, nó lại rón rén đi.

Nó sẽ vào bếp. Thế nào ở đó cũng có thứ gì ăn được. Chưa đến bếp, đã đến nhà xay giã. Hãy vào đây trước. Thế nào trong cối cũng còn sót chút thóc chưa chảy hết hoặc nắm gạo, nắm cám. Nó không biết đấy còn là nơi bà Ba nằm. Cái giường kê tận góc cùng. Phía ngoài để mấy bao trấu.

Một tiếng động mành nhẹ. Bà Ba choàng tỉnh. Lâu này, cứ sau tiếng động mành là ông Chánh xuống. Lúc ấy, bà cũng chẳng biết là nên vui hay nên buôn? Phận lẽ mọn phải "ăn cơm nguội nằm nhà ngoài" dù ông Chánh có vồ vập, cũng chỉ là lén lút vụng trộm, chẳng sung sướng. Ngày mai, bà Cả biết lại mặt xưng mày xỉa, chửi bới.

Bà Ba căng mắt nhìn. Cái bóng đen nhỏ thó. Không phải ông Chánh, mà một thằng bé con. Nó vào làm gì? Bà khẽ khàng dậy, ngồi sát vào tường, để nó không trông thấy. Trống ngực bà vẫn rộn lên, quan sát. Bà lờ mờ nhận ra, thằng con nhà bác Quen. Chả mấy ngày bà không gặp nó lang thang ngoài đường. Đầu tóc bù xù kín tai. Mặt quắt queo. Áo toạc vạt và chiếc quần lửng...

Cu Buồm lần ra cối giã gạo. Cúi xuống vét. Chả được gì. Nó nhích vào trong. Bỗng nó ngửi thấy mùi gì ngầy ngậy, ngai ngái. Nó bò chậm chạp. Giáp tường, thấy một chiếc nồi to, Thò tay vào, thức nấu trong nồi đã vẹt đi một nửa. Nữa còn lại vẫn âm ấm. Nó mút tay.

Bà Ba vẫn chăm chú theo dõi. Từ lúc xác định được nó con nhà ai, bà thấy động lòng. Ông Quen khoẻ mạnh chân chất. Đã mấy lần giã gạo đỡ bà, giờ lại đi làm xa! Nhà bà, vợ chồng ông anh cũng cảnh nghèo túng. Mấy tháng qua, không biết anh chị đưa nhau đi đâu? Phận lẽ mọn như cánh bèo đang trôi dạt. Bà lại là cánh bèo chớm úa, dạt vào đâu cũng dễ gãy nát, chẳng tốt đẹp gì. Dạo trước anh bà lại nói, thời thế rồi sẽ thay đổi, không mãi như thế này đâu, cô ạ. Ừ cũng có thể như vậy, " chẳng ai nắm tay thâu ngày đến tối", nhưng với bà, chẳng ngưỡng vọng gì về sự đổi thay. Thôi chết, bà suýt kêu lên, thẳng bé đang bốc cám lợn ăn. Nó nuốt hết miếng này, đến miếng khác. Nó còn bốc cám bỏ túi nữa! Bà tưởng nó sẽ xách cái nồi đồng thì phải chặn lại. Mất nồi, tội ở bà. Không đòn roi thì cũng là những lời chửi mắng, nhiếc móc. Nhưng không. Nó đang len lén bò ra cửa. Có tiếng chó sủa phía sân trên và tiếng khậm khoạc của Chánh Tần. Thấy nó nhấp nhổm định lách qua mành ra, bà gọi khẽ:

- Thằng "con nhà giời", tao bảo đã!

Thằng bé hoảng, toan vọt ra. Bà túm vội lấy. Nó lạy:

- Con xin bà tha.

- Im. Chạy ra, họ bắt được thì mày tan xương!

- Con không dám lấy gì!

- Biết rồi. Để tao đưa ra lối này.

Thằng Buồm đã nhận ra người hôm nào cho cá nhưng vẫn run.

Bà ngó lại động tĩnh. Khẽ mở mành. Kèm ép nó bên sườn, phòng ai thấy, tưởng bà dậy ra ngoài. Qua vườn chè, tới chỗ giậu trống, bà đẩy nó vào đó. Thằng Buồm chui tọt ra ngoài, vẫn ngỡ ngàng. Hai túi nó còn đựng đầy cám lợn.

*

 

Cái Bến ốm mấy ngày rồi bò dậy. Chả thang thuốc gì. Hình như việc thang thuốc giời chỉ bắt những người giầu phải tìm. Nghèo như nhà nó, ai cũng vậy, "ốm no rồi bò dậy". Quá lắm, người ốm chỉ được uống bát nước tiểu trẻ con, nhai miếng gừng hoặc tìm mấy lá bưởi hơ nóng chườm vào chỗ đau.

Gần đây, bu nó ngày một ốm nặng. Cái ổ rạ nát đã được bốc ra sân phơi. Hai mẹ con chung giường. Cu Buồm nằm cái võng rách. Nằm bên, cái Bến mới thấy da mẹ lúc nào cũng nóng như nồi than. Chân lại lạnh - lạnh từ đầu gối trờ xuống. Gân xanh chằng chịt. Mắt trũng sầu.

Chiều qua luộc khoai, bu nó ăn mãi mới hết củ con. Khoai luộc, cháo cám, thính rang, sung xanh và củ chuối nấu nước cáy, người khỏe ăn còn chán miệng, huống hồ người ốm? Cái Bến nghĩ, phải tìm thứ gì ngon miệng để mẹ ăn. Có ăn mới mau khỏe. Tháng Ba. Lúa ngoài đồng không tốt, nhưng chắc. Mấy sào ruộng cấy rẽ, có lẽ đã có "nhấn". Chỉ hơn tháng nữa, lúa sẽ chín. Mọi nhà sẽ có cơm ăn. Bố nó và chị Sông sẽ về. Bu nó sẽ lành bệnh. Nhà lại đông vui.

Cái Bến lại đi mò. Đàn bà, con gái làng Hạ chỉ quen mò cua, bắt ốc. Một nghề chẳng cần phải tập luyện, làm rồi sẽ biết, sẽ thạo. Nó chưa thạo, nhưng nhìn đã biết chỗ nào có tôm, có cá. Đã sục tay xuống bùn, không được con nọ, cũng được con kia.

Bán mớ ốc, Bến mua mớ khoai và cái bánh giò. Bánh giò bà Đức bột giã kỹ, bên trong có miếng mỡ to. Đã lâu không ăn, hẳn bu nó mừng! Nó hớn hở đặt mớ khoai xuống chân cối xay, xăm xăm lên nhà:

- Bu ơi!

Bà Quen quay ra:

- Bến đấy à. Đi đâu lâu vậy? Lúc nãy khát quá, gọi chà thấy ai. Thăng Buồm thì đi biền biệt, chả thấy mặt đâu.

- Sáng con đã bảo đi mò rồi lên chợ bán, chữ đi đâu!

Bà Quen chợt nhớ ra điều gì, hỏi:

- Hôm nay bao nhiêu nhỉ?

- Mười bẩy tháng Ba.

Bà chẹp miệng:

- Mới tháng Ba thôi à? Hôm đi, thầy bảo chậm lắm sang tháng Tư có lúa sẽ về. Vây mà mới giữa tháng Ba!

Bà nhắm mắt lại. Bến ngồi cạnh giường, bóc bánh:

- Bánh giò bà Đức nhân hành mỡ. Bu ăn đi.

Bà cầm lấy miếng bánh, lại để xuống:

- Rót cho bu hớp nước. Chỉ khát nước thôi. Không muốn ăn.

Bến lo lắng:

- Hay bu ăn cháo, ăn cơm, con vay gạo về nấu?

Bà lắc đầu:

- Bu không muốn ăn gì!

- Mấy hôm nay bu không ăn gì. Không ăn thì chết mất!

Tiếng bà thầm thĩ:

- Dạo nọ... nọ thì thèm cơm thèm cháo, thêm cám, thèm khoai. Lắm lúc ước được bát canh mồng... mồng tơi, húp... húp cho mát ruột. Nhưng làm gì có? Giờ thì chẳng còn thêm khát gì nữa. Khéo, bu sắp chết!

Bến kêu lên:

- Ối, sao bu lại nói vậy. Qua ốm rồi bu khỏi. Rồi thày cũng sẽ về...

Bà rờ rẫm lên đôi vai gầy guộc của Bến:

- Mấy tháng qua, ốm nằm, bu nghĩ ngợi nhiều. Sống chết là số trời định. Năm nay bu bốn hai, tuổi Mão. Hạn to lắm. Bà Khoai, ông Kiểu, cô Chút và nhiều người cùng tuổi với bu đều dã chết. Bu sống sao được?

Bến nức nở:

- Đói khát thì chết, chứ hạn gì? Nhà mình mà có ruộng cấy, đủ gạo ăn thì việc gì thầy phải "ngược Bắc", bu con mình phải đói khát, bệnh tật thế này?

Bà thở dài:

- Ừ, ừ, đói lắm. Chả bao giờ cả làng lại đói như năm Dậu này. Các cụ vẫn nói: " qua Ngọ, sang Mùi, mới biết Thân!". Thân qua rồi, càng đói.

Bàn tay bà vẫn sờ lên mớ tóc bù xù và đôi má đầy nước mắt của đứa con gái:

- Bến ơi!

- Dạ!

- Bu thương thầy lận đận nghèo túng suốt đời, thương chúng bay đang thì lớn mà phải đói cơm, rách áo. Còn bu... thân cò lặn lội, chẳng nói làm gì. Chỉ dặn con, thầy về thì bảo số bu đã hết. không trọn đời vẹn kiếp với thầy được!

Hai tay Bến đập xuống chiếu:

- Giời ơi, bu đừng nói như vậy.

Tiếng bà vẫn nhỏ to:

- Để bu… cứ để bu nói nốt. Bảo, bu dặn là thầy đừng đánh thằng Buồm. Nó có lớn mà chưa có khôn. Hãy bảo ban, khuyên nhủ để nó nên người. Gần đây nó sinh hư, nhặt nhạnh thứ này thứ khác của người ta. Thế là hư đốn tội to lắm.

- Bu ơi, con vẫn bảo nó đừng làm như thế. Nó lại nói "đói mới phải làm liều", mai kia cơm no. ăn trộm làm gì?

- Ừ, bu cũng biết. Nó vốn không phải đứa hư. Nhưng " đói cho sạch, rách cho thơm" con ạ. Còn mày cũng lớn rồi. Vài năm nữa, ai hiền lành tử tế thì làm bạn với người ta. Nhưng phải biết đường ăn nhẽ ở. Chồng nóng, thì vợ bớt nhời. Như bu ở với thấy ấy.

- Ơ, bu nghĩ làm gì những chuyện xa xôi ấy?

Bà Quen:

- Biết chẳng sống được, bu nghĩ nhiều lầm. Giờ… giờ chẳng nói hết được. À... từ dạo đói đến giờ, bên bác Canh cũng giúp đỡ nhà ta thứ này, đận khác. Bố con phải ăn ở với bác ấy thế nào cho phải, đừng để lân bang hàng xóm mất lòng...

Bến cúi nhìn mẹ. Da sạm. Những nét nhăn nhúm chằng chịt trên mặt. Mắt trũng sâu, đờ dẫn. Nó sụt sịt:

- Bu đã chết đâu mà dặn dò mãi?

- Bu biết mình chẳng còn lâu nữa.

Bến khóc to. Những giọt nước, mắt nhạt nhòa:

- Bu... bu chết, thầy về tìm bu ở đâu?

- Cứ chỉ ra cái đống đất ngoài Càn Mả ấy.

Bến sụp xuống ôm lấy mẹ. Hơi thở mẹ đến quãng. Bà quờ quạng nắn vai đứa con gái đã chín tháng mười ngày mang nặng đẻ đau, ba năm nâng niu bú mớm, giờ khôn lớn nên người, bà phải bỏ nó mà đi. Bà thảng thốt:

- Thằng Buồm đâu?

Bến mếu máo:

- Ngày nào nó chả đi từ sáng tới tối.

Bà gọi:

- Buồm... buồm ơi! Bu sắp chết mà mày cứ biền biệt?

Từ lúc đó bà nằm quay mặt vào vách, không nói gì. Hơi thở hi hóp. Cái bánh giò bóc, lại gói vào, để đầu giường. Bến chạy ra, chạy vào bồn chồn.

Khi bóng nắng đổ xiên xuống sân, Bến vào, thì bà không nói được nữa. Thỉnh thoảng mắt lại trợn lên, như tìm kiếm ai. Tay lúc rứt tóc, lúc lại cấu xé áo quần. Bến gọi. Chỉ có tiếng gọi. Không một lời đáp. Nó hốt hoảng kêu khóc:

- Ối bu ơi, bu bỏ chúng con đi thật à? Ối Buồm ơi, bu chết rồi. Từ nay chúng con ở với ai?

Em ôm lấy xác mẹ, vật vã.

Tiếng khóc làm náo động hàng xóm. Mấy người chạy sang. Bố con ông Canh nhìn quang cảnh đau buồn, mắt nhòa lệ. Đời người sao chóng vánh? Mới hôm nào kéo bừa. Nay ruộng chưa được gặt người đã mất! Ông kéo vạt áo chấm mắt, bảo con:

- Bác "đi" rồi. Cần dìu cái Bến ra ngoài, để thầy và các bác tính công việc. Bến níu chặt xác mẹ, khóc rũ rượi:

- Bu ơi, bu chết thật à? Thầy ơi, thầy có biết cảnh đau đớn này không? Ối, chị Sông, ơi Buổm về với bu đi!

Giữa lúc ấy thì thằng Buồm ở đâu về. Ông Canh bảo:

- Mẹ mày đợi mày cho tới lúc chết, mắt không nhắm lại được. Vào vuốt mắt cho mẹ đi.

Nó rón rén như người sợ. Mắt mẹ vẫn trừng trùng. Nó lay gọi:

- Tôi mang bắp ngô về cho bu ăn đây. Sao bu lại chết? Bu ơi!

Nó chẳng biết vuốt mắt cho mẹ, chẳng biết kể kể, chỉ "bu ơi" gào!

Hàng xóm đặt bà Quen lên chiếc chiếu rách bó tròn lại rồi lấy lạt tre thít ba nút chặt chẽ. Manh chiếu đúm lại, nhỏ quắt. Mấy tháng Thần Đói bào nạo da thịt, hút hết khí huyết, chỉ để lại cho bà một dúm xương khô.

Từ dạo đói, người chết lúc nào chôn ngay lúc đó. Chẳng ai để lại hôm sau. Chẳng đặt tên hèm. Chẳng cúng lế, thổi kèn thờ, phát tang, phát phục. Đâu cần đợi người thân đi xa về mở tấm giấy phủ mặt nhìn lần cuối. Cũng chẳng có họ hàng, thân thuộc đến phúng viêng, chia buồn. Thậm chí, không cả tiếng hờ khóc. Mấy tháng qua đã hàng chục lần hờ khóc. Nước mắt đã cạn, còn chút nào thì ngấm vào tim gan, đọng ở đấy cho tới lúc chính mình chết. Thượng Đế đã hào phóng ban phát nỗi buồn đau và sự chia cách cho hầu hết người làng Hạ này!

Đám tang chỉ có mấy người. Khoanh chiếu bó xác được buộc vào chiếc đòn tre. Ông Canh và một người nữa khiêng. Ông khác, tay xách chiếc mai, tay cầm bó đuốc cháy chập chờn. Cần dìu Bến. Thằng Buồm lủi thủi đi, chốc chốc lại "bu ơi", nghe như nó gọi mẹ hôm đi chợ về! Không đứa nào có mảnh khăn trắng trên đầu.

Đây còn là một đám tang đông. Nhiều đám chỉ duy nhất một người đưa. Người ấy tròng cái thừng vào xác người chết, kéo đi dọc đường. Chẳng đèn đuốc, chỉ một cái mai, thậm chí chiếc cuốc cùn. Ra đến mảnh ruộng gần nhất, người đó đào vài nhất mai rồi vùi xác xuống. Chỗ nào thi thể còn trồi lên mặt ruộng thì lấy chân giậm cho chìm kín. Sáng sau, đi thăm đồng, người ta còn nhìn rõ những tua chiếu rách lơ phơ trên mặt đất!

Bến khóc hờ mẹ từ chiều. giờ rũ ra như con gà đã cắt tiết. Nó cháng còn kể lể gì, chỉ đi theo sự dìu đỡ của Cần. Nó chẳng biết là mình đi đâu. Đi làm gì. Nhiều lúc như vô cảm. Cứ bước. Cứ di. Đường đêm gặp ghềnh, chỗ cao, chỗ thấp. Chốc chốc lại ngã khụyu. Cần phải nâng dậy.

Tối từ lúc nào. Mấy bóng người nhập nhòa trong ánh đuốc. Tới khu rưộng cao. Ông Canh ra hiệu dừng lại. Đuốc vẫn lập lòe. Bó thây người được đặt xuống bờ. Đào huyệt. Một lượt mai rồi bốn năm lượt. Chẳng ai nỡ vùi nông một người hàng xóm hiền lành. Bến ngồi bệt xuống bờ. Cần vẫn phải ôm vai bạn cho khỏi đổ ra. Bến chẳng còn hơi sức lê lại để nhìn lần cuối khi mọi người đặt mẹ xuống huyệt. Em chăm chắm nhìn đoạn dây thùng ròng xác mẹ xuống. Khi những tảng đất rơi rào rào trên mặt, trên lưng mẹ thì em kêu lên một tiếng thật to "Ối, bu ơi", rồi vật ra bất tỉnh. Mọi người hoảng hốt, giật tóc mai, lay gọi "Hú ba hồn chín vía Lê Thị Bến ở đâu thì về!" Tiếng hú loang vào đêm đen. Giữa làng cũng nghe rõ.

Rất lâu Bến mới ú ớ. Ông Canh bảo con:

- Cần cõng bạn về nhà ta. Nấu cho nó bát cháo. Thằng Buồm cũng theo chị về. Các bác còn đắp điếm thêm cho mẹ cháu.

Đêm ấy Bến vẫn lúc mê lúc tinh. Cần lấy gừng giã nhỏ xoa khắp người cho bạn. Gần sáng thấy Bến mở mắt, Cần hỏi:

- Cậu tỉnh hẳn rồi chứ?

- Rồi! Nhưng khát nước.

Cần mang vào bát nước. Bến uống từng ngụm rồi hỏi:

- Thằng Buồm đâu, Cần?

- Nó ngủ với thầy tớ ngoài kia!

*

 

Mẹ chết ba ngày, thằng Buồm bảo chị:

- Chị ở nhà. Tôi đi đây!

Bến hoàng hốt:

- Mày đi đâu?

- Tôi đi kiếm ăn.

- Kiếm ở đâu?

- Đâu có thì kiếm. Ở nhà, bu chết, tôi sợ ma lắm. Mình chị ở bên bác Canh thôi. Cơm đâu mà nuôi cả hai đứa? Tôi đi tìm thầy, bảo thầy may cho cái quần. Quần tôi rách lắm!

Bến mắng:

- Quần rách thì đưa tao vá. Mặc tạm, thầy về hãy may. Thầy đi, biết đâu mà tìm?

- Chị mà biết vá?

- Từ dạo bu ốm, tao không vá lấy thì ai vá? Đừng có mà đi. Vài hôm nữa, tao cũng về nhà mình

Nó nguẩy đầu:

- Đừng về, ma bóp cổ.

- Làm gì có ma?

- Ma bu và ma những người chết ấy. Hôm nọ vừa nhắm mắt, tôi đã thấy bao nhiêu ma kéo về. Con thì lưỡi xanh, mắt đỏ. Con mồm ngựa, sừng bò. Con tóc trắng, mặt đen. Kinh lắm!

Bến vẫn át đi:

- Đừng huyên thiên. Không đi đâu cả!

Nó hứ một tiếng rồi chạy vụt đi. Bến gọi theo:

- Buồm!

*

Qua Lập Hạ, thời tiết ngày càng oi nồng. Mở mắt ra đã thấy trời cao tít tắp, xanh ngăn ngắt. Những sợi mây lễnh loãng chả làm nên một bóng râm. Bảnh mắt, người ta đã ra ao giội nước. Những gáo nước đục ngầu và âm ấm. Quạt mo phành phạch luôn tay. Trưa, trời càng thiêu đốt. Tiếng ve rít liên hồi. Ngọn tre không động dậy. Thỉnh thoảng một cơn gió Tây ào về. Mọi thứ như lại được rang nấu lên cho sôi sùng sục, cho giòn tan ra, Chiều tà, mặt trời đỏ như bát máu. "Máu" giội trên mái nhà, oà xuống mặt đất, đỏ lựng.

Nắng bức làm cho những vuông sân đất cũng phải nóng ran. Cỏ gấu, cỏ gừng đang mơn mởn giăng dài, bò vào tận đầu hè, giờ co lại, vàng khé, lụi đi từng đám. Dây bầu, dây bí héo rũ, thui chột những mầm quả vừa nhú. Hoa vàng, nhị thơm không còn. Chẳng còn gì để mời gọi con ong, cái bướm.

Nước ao cạn dần. Trơ những mành cầu tre cao lênh khênh. Người ta cúi rạp xuống mới múc lên những gáo nước đục lờ tắm gội, kì cọ. Vỗ đồm độp những mành quần đụp vá, đầy mồ hôi và đất cất. Liền bên, người khác vẫn vo gạo, rửa rau, vẫn "kín" những lọ nước về ăn uống. Chẳng làm gì có nước sạch như thị thành. Cũng không nốt những khẩu giếng khơi trong mát. Từ đời này qua đời khác, người làng Hạ chỉ sống với những chiếc ao tù hãm. Bốn mùa nước đục lờ, tanh lợm.

Mọi khi ruồi nhạng đã nhiều. Năm nay thì vô kể. Ruồi đen đặc mọi chỗ. Bám vào mặt, vào đầu, vào những chỗ chốc lở của trẻ con, những bải phân chó ỉa đường, những con chuột chết, đống rác thối ngoài vệ ao và bám vào cả những xác người chết đói chôn nông ngoài đồng.

Bữa ăn dọn ra. Làm gì có " lồng bàn" hoặc rổ rá úp đậy. Ngửi thấy hơi cơm, hơi khoai là ruồi nhặng kéo đến đen nghịt. Người ta cẩm quạt mo khua phẩy, đập đen đét. Chúng u u dẫn ra, loáng lại u u ào đến, đậu lên bát cơm, lăn xuống tô canh loãng và chết vào bát nước chấm mặt chát.

Có người nói. Lắm ruồi nhặng là tai họa trời đọa ra. Cũng như dạo còn rét, trời sai thần CHẤY RẬN xuống hút máu con người. Đầu ai cũng đầy chấy. Chấy mén. Chấy nhỡ. Chấy kềnh. Trứng chấy bám trắng đầu. Thấy buồn buồn ngưa ngứa chỗ nào, thò tay lên véo được ngay vài chú chấy đen trũi. Một hôm cái Bến vớ chiếc lược thưa gỡ mái đầu tổ quả, chấy rụng xuống rào rào. Mẹ nó cầm lược dày cào thêm, những vẩy đầu rơi ra và chấy lăn xuống từng chùm, bò lổm ngổm mặt đất; giết chẳng xuể, phải đốt rơm hơ, chấy nổ lép bép.

Rận cũng sinh sôi nẩy nở. Con người thì teo tóp đi. Rận lại béo mẫm. Trời hảnh nắng. Mẹ con cái Bến mang đám quần áo đụp ra hè bắt. Ối giời, bu ơi, nhiều rận lắm. Bu xem này, nó chìa cho mẹ coi. Đàn rận con nào con nấy to như hạt gạo nếp, mẩy như trứng cà cuống, xếp từng hàng, đầu chúi vào những mảnh vá, đường khe tà, đít chĩa ra. Hai người nhặt. Lúc đầu còn bỏ vào mồm nhấm "mày cắn tao thì tao cẩn mày". Sau nhiều quá, máu đỏ cả mồm, lại tanh lợm. Không ai dám "nhấm". Bà Quen trải áo ra đầu hè, mang vỏ chai xiết, như xiết đậu xanh!

Mẹ chết. Ông Canh đón cái Bến về nhà mình, tuy bữa cơm, bữa khoai nhưng no lòng, lại có Cần ríu rít chuyện trò, nỗi đau trong em nguôi ngoai đôi chút. Tình thương mẹ thì vẫn đầy ắp trong lòng.

Chiều chiều, hôm một mình, hôm em cùng Cần ra đồng thăm mộ mẹ. Lần đầu, em chẳng nhớ chỗ nào. Ngày mẹ chết. Cánh đồng thì rộng. Đêm lại khuya. Bến cứ lăn lóc đi theo bạn, chả nhớ xa gần. Giờ, cánh đồng nào cũng nhiều mộ mới, chả biết đâu tìm. Cũng chẳng có dấu tích gì để phân biệt. Cái để dọc. Cái để ngang. Ngôi trên càn. Ngôi dưới ruộng. Chỗ nào cũng đào vội vùi nông. Chẳng phải người đào huyệt vô tình, làm tắc trách mà một tay họ nay chôn người này, mai chôn người khác. Chôn sáng. Chôn chiều. Chôn đêm. Chôn anh em mình, họ hàng nhà mình, bạn bè và làng xóm. Vừa đào huyệt chôn người khác, vừa nghĩ lo cho thân phận mình. Chả biết ngày mai, ngày kia đến lượt mình nằm xuống, thì ai chôn?

Bến ngồi sụp xuống bên mộ mẹ, tay rờ rẫm lên những hòn đất mới đắp tưởng như đang nắm cánh tay, đang sờ lên khuôn mặt gầy guộc của mẹ. Khóc thảm thiết. Bu ơi, sao không về nhà, lại ra đây nằm sương, gối đất? Mấy ngày qua, nửa giường không có bu nằm, không thấy bóng bu ra ao vào bếp. Thằng Buồm cũng bỏ nhà đi. Con đi, con về chỉ thui thủi một mình. Thế là nhà ta năm người, giờ chỉ còn lại mình con thôi!

Những giọt nước mắt thương nhớ của Bến thánh thót rơi xuống nấm mồ. Nắng chiều giội lên cánh đồng hoang lạnh một màu vàng vọt. Cỏ dại bơ phờ. Giun dế rên rỉ. Bến tìm một cây dứa dại trồng lên mồ mẹ:

- Bu dặn chôn tại Càn Mả, nhưng xóm giềng lại để bu nơi đây. Con giồng cây dứa để nhớ. Mai thầy vế, con đưa ra đây tìm bu.

*

Thằng Buồm cùng mấy đứa bạn làm cuộc "phiêu lưu" kiếm ăn. Nó nghĩ. Bố đi vắng. Mẹ chết. Chị chẳng có quyền cầm bắt. Bằng tuổi nó, nhiều đứa đã phải tự kiếm ăn từ lâu rồi. Vậy nó phải đi. Có thể đi tìm bố. Không phải để xin tiền may quần, mà cùng bố làm thuê. Nó đã kéo bừa được thì cũng có thể làm một số việc khác.

Nó sang thành phố Nam Định. Người thành phố không đói, nhưng người đói đến thành phố rất nhiều. Từng toán lang thang. Bị rách và áo đụp, dúm dó ngồi đầu phố, góc chợ. Họ đi xin ăn và cả những kẻ đi vồ cuớp, chẳng khác mấy cảnh chợ làng. Cảnh sát xua đuổi, bắt bớ, dồn từng toán lên ô tô đem đổ tận phương xa. Cha con, vợ chồng, anh em mạnh ai nấy chạy tan tác, như di vỡ tổ. Xe bò, xe cút kít suốt ngày lăn bánh cồng cộc, chở người chết đói đi chôn. Họ quăng cái xác này, quăng tiếp xác kia lên xe. Đàn ông, đàn bà, người già, trẻ con lẫn lộn. Mỗi xe nhặt một chỗ. Hễ đầy lại cồng cộc kéo đi. Mùi hôi thối, tanh lợm quẩn khắp phố xá. Bọn "ma cà bông" (bụi đời) thì đấm đá những kẻ mới đến... thảm hơn cảnh ở làng.

Sang ngày thứ hai, mấy đứa chán, rủ nhau về. Thằng Buồm tắt ý định đi tìm bố. Chẳng biết bố ở đâu mà tìm! Quay về, lại khổ, lại đói... Chúng thất thểu vừa đi, vừa nghĩ. Chưa tìm ra kế sách nào tốt đẹp hơn!

Đến chỗ rẽ ra bờ sông, thằng Buồm nhìn thấy ngút ngàn màu xanh. Nó nheo mắt quan sát. Trời ơi, sao làm ngô vậy? Ngô trồng từ chân đê ra tới mép nước, chạy dài hàng cây số. Nó bỗng nảy ra ý định không về vội, liền quay lại bảo bọn bạn:

- Chúng mày về. Tao phải đi tìm bố.

- Bố mày đi Bắc cơ mà?

- Ừ, tao cũng đi Bắc. Chị Bến hỏi, chúng bay cứ nói vậy.

Bọn kia cũng chẳng rủ rê, chèo kéo. Đứa nào thích đi đâu thì đi. Ở hay về, còn hay mất, chết hay sống lúc này đáng kể gì?

Buồm ngồi xuống mặt đê. Cỏ êm và gió mát. Nó phác trong đầu một kế hoạch "làm ăn". Phải bám cánh bãi sông này. Ở đây kiếm dăm bảy bắp ngô để tồn tại thêm một ngày chẳng khó. Bãi ngô trập trùng sẽ giúp nó "trường sinh".

Nó đứng lên nhìn. Bóng chiều đã ngả. Gió nam lồng lộng. Lá ngô rì rào. Những bắp ngô đung đưa. Nó phanh bộ ngục gày. Mát! A, hình như cứ một quãng lại có một chòi canh ngô. Chòi cao. Bốn bề quây cót. Đứng trên đó có thể nhìn ra một khoảnh rộng. Khó khăn đây. Cần tránh xa những chòi canh.

Nhân lúc đê vắng, cu Buồm vút một phát xuống bãi sông, luồn sâu vào trong. Ngô cao gấp đôi người nó. Chả cúi cũng chẳng ai thấy. Bãi ngô dầy, không có nắng soi. Gió lại luồn hun hút. Trước mặt, sau lưng, bên phải, bên trái những ngô là ngô. Bắp bằng bụng chân, bắp như cái chày. Bắp nào cũng thích mắt. Nó bẻ. Một tiếng "cấc" phát ra khô giòn. Bẻ tiếp bắp nữa... "Cấc" liên hồi. Nó cũng chẳng sợ. Ai vào giữa ruộng mà tìm?

Buồm vơ những là ngô già kê chỗ ngồi. Nó bóc một bắp, ăn sóng. Ngô đang đông sữa. Hạt đều tăm tắp. Múp tận đầu. Nó gặm sồn sột. Ngọt ơi là ngọt. Có lẽ ngọt hơn cả sữa bò. Mẹ cha chúng bay - Nó chửi thầm máy đứa cùng đi, ở lại như tao có hơn không? Về, có gì mà ăn? Cứ thế, nó chén liên tiếp năm sáu bắp, thấy no. Nó ngả lưng ngày trên "tấm thảm ngô" ấy mà ngủ. Mấy ngày vào thành phố, ăn ít, ngủ cũng ít. Hai ba đứa chen một đoạn vỉa hè. Đứa giãy. Đứa gác chân. Chốc chốc còi ô tô lại hét lên. Xe bò lịch kịch. Người đi nói chuyện oang oang. Người thành phố không ngủ hay sao mà chả mấy lúc không thấy họ đi đường? Ở đây yên ấng, chẳng ai quấy rầy, sướng thật!

Nó ngủ rất say. Ngáy rất to. Đồng ngô đã rộng lại thoáng. Lúc nào cũng gió. Lá ngô quẫy rào rào. Cây cọ vào nhau xào xạc. Như bản nhạc du dương. Tha hồ ngáy.

Mở mắt ra, nó thấy xung quanh tối om. Có lẽ đêm đã khuya. Không nhìn rõ trời. Chỉ tiếng cây ngô khua và cóc nhái kêu mọi chỗ. Chắc là loại nhất to mới kêu vang như vây. Ở nhà, thỉnh thoảng nó đi câu nhái. Một miếng mồi giun móc vào lưới câu, nhử nhử quanh cụm khoai nước, bên bụi có gà hay khóm đành dành, là các "cu cậu" nhảy ra đớp. Vút một cái. Lưỡi câu móc vào mép. Chân "cu cậu" giãy đạp. Đừng hòng thoát! Nó tóm, đút ngay vào giò. Nhái ở nhà bé và hiếm. Đồng bãi nhiều, lại to. Câu được nhái về băm nướng chả, ăn rất khoái. Có lần, bu nó còn chặt nhái rồi bỏ kho với lá lốt, cũng ngon. Giấc ngủ vừa rồi nó mơ thấy mẹ còn sống. Mẹ mặc áo the nâu, giống như bà Chánh Ba, lại đi dép. Tai không đeo khuyên bạc, chỉ nhét một đoạn cuống chiếu. Mẹ đưa nó đi tìm thầy. Chả rõ chỗ ấy có phải "Bắc" không mà tối tăm lắm. Không thấy thầy. Chỉ gặp tên quý sứ mặt xanh, răng dài đang mài dao soàn soạt. Nó sợ quá. Mồ hôi toát khắp người. Chạy!... Tỉnh dậy, nó không thấy quỉ sứ đâu, nhưng vẫn nghe tiếng sột soạt của những cây ngô đang cọ vào nhau!

Bụng còn no. Nó ngủ tiếp cho đến sáng bạch. Ngày hôm sau nó lại tha hồ nằm chơi và nhai ngô sống. Vẫn ngọt. Tội gi không ăn? Ăn thế này, chỉ mươi hôm nó sẽ béo và trắng ra, vì không phải giãi nắng. Về, khéo chị Bến và chúng bạn sẽ không nhận ra nó! Chốc nắng to, nó sẽ lẻn xuống sông tắm. Nhất định khoái. Nó chưa tắm sông lần nào. Chỉ bơi ở ao Giáp Nam và ao Đình, vừa bơi lặn, vừa "trồng cây chuối", rất sướng. Tháng này, mọi năm, làng nó đã có người thả diều. Nó vẫn còn chiếc diều cánh cốc giất mái nhà. Mẩy hôm nữa về sẽ thả. Diều to nhất là của cụ Lý Tích, dài dây ba gian đình. Mỗi lần thả, cụ phải nhằm lúc trời nắng bền, gió nam lồng lộng như hôm nay. Cụ làm vài mâm cơm thịt đãi bạn bè và những người đến buông diều. Sáo của cụ to bàng chiếc thùng gỗ gánh nước, kêu ì ì. Còn phần nhiều chỉ chơi diều trên dưới một ngũ, đóng sáo bộ ba, kêu u u. Trẻ ranh như nó chơi diều nhỏ, không sáo, chỉ bóc một cái màng tre mỏng, căng ra như chiếc cung. Gặp gió, ve ve như tiếng dế.

Tắm xong mát mình, cu Buồm lại nhoai lên ruộng ngô nằm chơi. Từ hôm qua, những người canh chưa ai phát hiện ra. Nó tha hồ ăn. Tha hồ chơi. Tha hồ ngủ. Mấy tháng đói khát, dịp này nó thấy sướng nhất.

Gần tối, hình như trở giời. Gió lặng, cóc nhái kêu om. Muối vo vo. Bức sừng sực... Cu Buồm phanh áo ngực. Mồ hôi vẫn rịn ra.

Tối đã lâu, nó vẫn trằn trọc không ngủ được. Bụng óc ách, đau râm ran. Chợt nhớ, có lần mẹ nó bảo, ăn ngô non dễ bị lạnh bụng. Vài ngày qua, nó đã gặm bao nhiêu ngô sống, lại uống nước lã. Khéo nó bị như mẹ nói!

Bụng mỗi lúc một sôi to. Chưa qua cơn này đã tiếp cơn đau khác. Bụng quặn lên như có chiếc dùi xiên vào rốn, chọc sang mạng sườn. Rồi buồn "đi ngoài". Nó kéo vội quần, bụng nó tóa ra như lọ nước giội. Lại buồn nôn. Oẹ một phát. Mọi thứ trong gan ruột ộc ra. Nó nhọc. Nó thở, và muốn lăn ra đất.

Phía đông chớp nhay nháy. Sấm ùng ục. Bụng nó cũng sôi ùng ục. "Đi ngoài" một lần rồi hai lần! Nó ước có một miếng gừng nướng, một ngụm nước vối nóng, như có lần bị "đi ngoài" mẹ đã làm cho uống. Bụng sẽ ấm lại. Bu ơi, bụng tôi đau lắm! Nhưng nó chợt nhớ, người ta đã mang mẹ nó đi chôn. Nó lại gọi chị Bến. Chị cũng ở xa, sao nghe thấy? Chỉ có gió. Gió thốc lên từng hồi. Sấm ùng oàng. Chớp kéo nhì nhằng từ đông sang tây, từ nam sang bắc. Trời như ụp xuống. Đen đặc. Tràn ngô quẫy đảo. Nó nghe những người canh ngô gọi nhau che chắn chòi. Ở giữa cánh bãi, nó chẳng có ai mà gọi, chẳng có chòi mà trú ẩn! Hay là, liều chạy vào một nhà phía trong để ẩn nấp. Nó toan đứng lên. Lại buồn "đi ngoài" và nôn. Chân tay nó bủn rủn. Rét run cầm cập. Rét hơn cái đêm ba mẹ con nó phải vơ rạ ủ lên người. Lại khát! Bu ơi, cho tôi ngụm nước! Chẳng ai trả lời. Chỉ nghe tiếng nước vỗ ì oạp ngoài xa. Mấy lần toan đứng dậy, lại rụi xuống. Nó nằm vật ra đất, lịm đi. Chả biết nằm như vậy bao lâu, bỗng nó nghe vẳng bên tai "Trống ngực đã đập nhanh!". Rồi một bàn tay vỗ vào lưng nó:

- Dậy đi. Trưa trật rồi. Ngủ mãi.

Thằng Buồm bàng hoàng, không hiểu "đầu cua tai nheo" ra sao? Nó ngủ bao giờ? Ở đâu? Ai gọi? Không phải tiếng mẹ. Cũng không phải chị Bến! Mắt nó chớp chóp. Bỗng một cánh tay lực lưỡng luồn xuống lưng xốc dậy. Nó lảo đảo ngồi lên. Trước mắt nó là những luống ngô đầy bắp. là mặt đất nhớp nháp nước, là tiếng sóng từ xa vọng vào và mấy người la mặt!...

Một người hỏi:

- Mày ở làng nào?

Nó tỉnh hẳn. Chợt nhớ lại những gì đã diễn ra vài ngày qua. Chết rồi, đây là những người canh ngô. Tóm được mình, họ sẽ trói, dong về điếm cùm, rồi tra khảo. Nó nhớ đến cái tay thước lim của ông phó lý ở làng, to hơn đòn gánh. Chỉ cần họ nện một đòn là xương gãy vụn. Sợ lắm! Nó chấp tay vái:

- Lạy... lạy các... các ông. Con chỉ ăn trộm mấy bắp ngô thôi!

- Chúng tao biết rồi. Nhưng mày ở đâu mới được chứ?

Ánh mắt nó van lơn:

- Con... con ở Thái Bình, bên kia sông. Làng con đói lắm. Nhà con cũng đói lắm. Con mới phải liều...

Một ông nói:

- Mày tưởng dân Nam Định no lắm hả? Chết vô khối người rồi. Chúng tao cũng là những người đói, phải đi canh thuê ngô cho cụ Tổng đây. Đói thì làm mướn. Không ai mượn, đi xin mà ăn. Đừng giở trò trộm cắp, họ bắt được thì tan xác, nghe chửa? Mày lên mấy mà như con cua kềnh thế?

- Con mười một!

Người đó dằn giọng:

- Mười một, bằng tuổi thằng con tao. Hôm nay phúc tổ gặp được chúng tao, chứ mày gặp đứa khác bắt được kẻ ăn trộm thế này, thì toi đời, con ạ. Thôi, tỉnh rồi thì xéo đì. Ngồi lì dây, người nhà cụ Tổng ra, lại bỏ bố. Sao mày nhăn nhó?

Nó ôm bụng:

- Bụng con sôi. Đau lắm!

Người đó lườm:

- Đánh đẫy ngô sống vào, đau bụng là phải. May mà không thượng thổ, hạ tả đấy. Ở đây chẳng có thuốc thang gì. Vào qua đê, đến rặng ổi đầu xóm, rứt nắm búp nhai sống. Chát cố mà nuốt. Thuốc tiên chữa "đi đồng" đấy.

Thằng Buồm thập thễnh lê bước. Đi một quãng, nó ngoái lại nhìn những người canh ngô tốt bụng...

*

Giữa lúc làng Hạ đang lâm vào thời kỳ cam go nhất thì một niềm vui bừng lên. Không phải người chết được sống lại, người đi trở về, mà nhiều người không chết đói nữa. Đó là, Chánh Tần phải "vỡ" kho thóc cho dân vay. Nhà ít một thúng, nhà nhiều vài thúng. Một thúng thóc lúc này giá sáu chục đồng bạc, có thể mua được căn nhà gỗ xoan ba gian!

Vợ chồng Chánh Tần không phải vì thương dân mà làm việc đó. Đã mấy tháng qua chuyện Việt Minh nổi lên ở mạn ngược, đánh lại người Pháp, người Nhật, lập chính quuyền dân chủ, đã lan truyền về làng. Tổng lý đều sợ. Cứ tưởng còn ở xa, nào ngờ cái tổng An Lãng này cũng đã có Việt Minh! Việt Minh chẳng phải là những người có ba đầu sáu tay, võ nghệ cao cường, nhảy một phát lên nóc đình và súng bắn vào da không thủng, như người ta đồn thổi. Mà là, ông Cánh hương sư, ông phó lý Bân bên Thượng, ông Biểu Rãng bên Đoài. Cả anh Đơn, em ruột bà chánh Ba, và anh Cải con ông Canh làng này.

Thì ra, mấy tháng qua những người này đã đón thầy về dậy võ cho thanh niên, lập đội Bảo An, sắm gậy gộc, giáo mác, giữ trị an cho làng xóm. Họ còn đến những nhà khá giả vận động quyên góp tiền gạo giúp người đói. Chính họ đã bắt Lý Tòng bên Đoài, bỏ ra gần trăm thúng thóc cho dân vay. Giờ đến lượt nhà Chánh Tần.

Việt Minh không mang súng hoặc giáo mác đến đe dọa, mà cử người đến vận động. Một lần chưa được thì hai ba lần. Chánh Tần đã gặp các ông giáo Cánh, phó Bân, những người từng quen biết đến thuyết phục, vận động. Họ nói, chế độ thực dân phong kiến, sắp sụp đổ. Cách mạng sẽ về. Dân đứng lên làm chủ đất nước. Lúc này nhà giàu không được vít thóc lại để dân chết đói thêm. Phải bỏ ra cho dân vay. Nếu không, dân sẽ phải nổi lên cướp phá, tình hình sẽ phức tạp.

Mặt khác, bà chánh Ba, theo sự chỉ dẫn của em trai, đã dùng lời lẽ phải trái để thuyết phục chồng. Em bà định nhân hội này sẽ "giải phông" cho chị. Nhưng bà Ba lại nói, số trời đã thắt buộc, chị đành phải như vây. Tuổi xuân đã xế. Đường đời còn lại không dài. Vả lại, “ông Chánh" vẫn đối xử tử tế, nên chị ở lại, chỉ mong được ăn ở riêng, tự làm, tự sống, là mãn nguyện. Biết tình thế không thể thay đổi, Chánh Tần phải chấp nhận mở kho cho dân vay; đồng thời, gạt mười thùng thóc, cho ba gian nhà ngói để bà Ba ra ở riêng.

Niềm vui tràn ngập xóm ngõ. Cười nói râm ram. Bước chân rậm rịch... Đã lâu chỉ thấy những mớ khoai, mớ cám; hoặc nếu có gạo, cũng một đấu, một lưng. Nay từng thúng, từng thúng thóc gánh về, ai cũng bốc chúng lên xem ngắm. Thóc ơi, lúc này mày quý hơn vàng, hơn ngọc. Có mày bố mẹ ta, vợ chồng con cái ta sẽ thoát được chết đói. Việt Minh bảo, thóc này là mồ hôi nước mắt của ta mà có. Ta đã gánh đến trả nợ, nộp tô cho Chánh Tần, qua vụ này vụ khác, năm này năm khác. Thóc này cũng do ta đi nắng, về sương nhổ mạ, cấy lúa, làm cỏ, bón phân; thậm chí cả đóng lên lẫm, quây lên kho cũng do ta làm. Nhà Chánh Tần có ai động chân, động tay đến?

Cái Bến hồ hởi đội thúng thóc về, rủ Cần xay chung. Nhà ông Canh cũng được hai thúng. Cối xay để rỗi lâu, mọt bảm và mạng nhện chằng. Chúng quét cối, quây lại "áo" cho kín rồi đổ thóc.

Hai đứa bám chung cái giằng. Cối ù ì quay. Nhìn gạo rơi trắng nia, hai đứa hát:

"Ù ì út ít

Đổ ít vào xay

Đổ đầy thì nặng

Gạo rơi trăng trắng

Trấu bay vàng vàng

Tay sẩy tay sàng

Ù ì út ít..."

Tiếng cối xay, cối giã rậm rịch khắp làng, vui hơn cả tiếng nhị, tiếng đàn tấu bài "hành vân", "lưu thủy" trong ngày vào đám. Nhạc điệu của cối nói lên sự no lòng trở lại, sự hồi sinh của người. Đã mấy tháng, xóm thôn sống trong im lìm của chết chóc, đói khổ, không một tiếng cối quay, vắng cả chim kêu, gà gáy. Giờ mới bừng lên chút niềm vui.

Sau nhạc điệu của cối, của chày là nhạc điệu của tiếng gạo vo. Những nếp nhăn dãn ra, những miệng cười tươi tắn của người này, người kia đem gạo ra cầu ao vo, sau đó là tiếng vỗ rá đổ nồi, tiếng lửa bập bùng trên bếp. Mái rạ xác xơ ẩm ướt, hôm nay đã có khói bay. Khói ngoằn ngoèo trên mái bếp chiều, lửng lơ lưng trời, bay sang hàng xóm, quyện quanh bụi tre, gốc mít. Mơ ước bao đời của người làng Hạ: ngày được hai lần đỏ lửa, hai lần khói bếp bay, hai lần ngồi quanh mâm và hai lần có bát đũa "rách" để rửa, đã trở lại.

Ngoài đồng lúa đã xấp xáo lá vàng. Bông thóc bắt đầu gục ngọn. Nay mai mọi người sẽ liềm hái ra gặt lúa về. Đường làng lại sực hương rơm tạ. Sân có thóc vàng hong. Cối được tiếp tục quay. Tiếng giã gạo thậm thịch đầu hôm ban sớm. Việt Minh về. Người làng Hạ thoát khỏi đói khổ.

Cái Bến, cái Cần cùng chúng bạn rủ nhau ra con ngõ đầy đất cát chơi đùa. Hố khăng được đào. Bàn luyến lại vạch chằng chịt mặt ngõ. Những cái cần câu buộc dây tơ chuối, mồi sâu râm bụt lại đem nhử quanh bụi dong mai, bên cụm bèo bồng và giật lên những chú cá sặc cờ vẩy ngũ sắc.

Cái Bến túm áo bọn con gái chơi "dung dăng dung dẻ". Chúng nô. Chúng cười. Và hát om

xóm. Cuộc vui của lũ trẻ được kéo dài mãi tới khi nghe bố mẹ gọi về ăn cơm, chúng mới về...

« Lùi
Tiến »