LÍNH BẮN TỈA MỸ

Lượt đọc: 7203 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 7
ngập trong rắc rối * trên đường phố

Cậu nhóc nhìn tôi với tâm trạng lẫn lộn, vừa phấn khích vừa hoài nghi. Cậu là một lính thủy đánh bộ trẻ, háo hức nhưng khá căng thẳng bởi trận đánh mà chúng tôi vừa tiến hành suốt tuần qua.

“Cậu có muốn trở thành một tay súng bắn tỉa không?” tôi hỏi cậu ta. “Luôn và ngay?”

“Muốn quá đi chứ!” rốt cuộc cậu ta trả lời.

“Tốt,” tôi nói khi đưa khẩu súng Mk-11 của tôi cho cậu ta. “Đưa khẩu M-16 của cậu cho tôi. Cậu lấy khẩu súng trường bắn tỉa của tôi. Tôi sẽ đi ra phía cửa trước.”

Và thế rồi tôi tiến về phía đơn vị mà chúng tôi vẫn đang sát cánh và bảo họ tôi sẽ giúp họ tấn công những ngôi nhà đó.

Suốt mấy ngày qua, bọn phiến quân đã thôi trò tấn công chúng tôi. Tỉ lệ người bị giết theo các ca gác đã giảm đi. Tất cả những tên xấu xa đều cố thủ ở bên trong, vì bọn chúng biết nếu ra ngoài sẽ bị chúng tôi bắn chết.

Chúng không bỏ cuộc. Thay vào đó, chúng giữ chỗ bên trong những ngôi nhà, phục kích và chiến với Lính thủy đánh bộ trong những căn phòng và hành lang hẹp. Tôi thấy rất nhiều người của chúng tôi đang được khiêng ra và đưa đi cấp cứu.

Ý tưởng di chuyển xuống phố đã nảy ra trong đầu tôi một thời gian trước khi ra quyết định cuối cùng là sẽ thực hiện nó. Tôi đã chọn ra một trong số những tay bất trị từng giúp đội quân bắn tỉa. Cậu này có vẻ là một chàng trai khá, với rất nhiều tiềm năng.

Một phần lý do tôi muốn xuống phố là bởi tôi thấy buồn chán. Lý do lớn hơn là tôi cảm thấy mình có thể làm tốt hơn việc bảo vệ lực lượng Lính thủy đánh bộ, nếu tôi ở bên họ. Họ đang tiến vào cửa trước của tòa nhà này và bị đánh văng ra. Tôi đã quan sát lúc họ vào trong, nghe tiếng súng nổ, và rồi điều tiếp theo mà tôi biết là họ đang đưa người nào đó ra ngoài trên chiếc cáng vì anh ta vừa bị dính đạn. Điều đó làm tôi tức điên lên.

Tôi yêu đám Lính thủy đánh bộ, nhưng sự thật là những anh chàng này chưa bao giờ được dạy việc quét sạch các căn phòng như tôi. Đó không phải chuyên môn của Lính thủy đánh bộ. Tất cả bọn họ đều là những lính chiến kiên cường, nhưng họ phải học nhiều về chiến đấu trong thành phố. Phần lớn đều là những trò đơn giản như: cầm sting như thế nào khi bạn tiến vào một căn phòng để người khác khó mà chộp được; vào phòng rồi thì di chuyển thế nào; làm thế nào để chiến đấu với kẻ thù ở xung quanh mình 360 độ trong thành phố; toàn những điều mà các SEAL học kỹ đến mức nhắm mắt chúng tôi cũng có thể làm được.

Đơn vị không có sĩ quan; hạ sĩ quan có cấp bậc cao nhất là một hạ sĩ, tương đương cấp bậc E6 bên Lính thủy đánh bộ. Cấp bậc của tôi là E5, thấp hơn anh ta, nhưng anh ta thấy không vấn đề gì khi để tôi kiểm soát việc tấn công. Chúng tôi từng làm việc với nhau một thời gian, và tôi nghĩ tôi đã giành được sự tôn trọng nhất định. Hơn nữa, anh ta cũng không muốn quân của mình ăn đạn thêm nữa.

“Này, tôi là một SEAL, còn các anh là Lính thủy đánh bộ,” tôi nói với bọn họ. “Tôi không giỏi giang gì hơn các anh. Khác biệt duy nhất giữa tôi và các anh là tôi có nhiều thời gian được chuyên biệt hóa và được huấn luyện trong chuyện này hơn các anh. Hãy để tôi giúp các anh.”

Chúng tôi đã huấn luyện thêm một chút trong giờ nghỉ. Tôi đưa chất nổ của mình cho một thành viên có kinh nghiệm về chất nổ trong đơn vị. Chúng tôi cũng diễn tập một chút về cách làm nổ tung các ổ khóa. Cho đến thời điểm đó, họ có ít vật liệu nổ đến mức chủ yếu là họ xô cửa để vào, tất nhiên việc này mất thời gian và khiến họ dễ bị tấn công hơn.

Thời gian nghỉ kết thúc, chúng tôi bắt đầu tiến vào phía trong.

Ở BÊN TRONG

Tôi đảm trách việc dẫn đầu.

Lúc chờ đợi ở bên ngoài căn nhà đầu tiên, tôi nghĩ về tay lính mà tôi thấy đang bị lôi ra ngoài.

Tôi không muốn là một trong số bọn họ.

Dẫu vậy, tôi có thể như họ.

Thật khó để loại bỏ ý nghĩ đó ra khỏi đầu. Tôi cũng biết rằng tôi sẽ gặp rắc rối lớn nếu bị thương, lao xuống phố chiến đấu không phải nhiệm vụ mà tôi phải thực hiện, ít nhất là từ quan điểm chính thức. Việc này hoàn toàn đúng đắn - việc mà tôi cảm thấy phải làm - nhưng nó lại làm cho đám sĩ quan cấp cao tức điên.

Nhưng đó chỉ là vấn đề nhỏ nhất trong số những vấn đề mà tôi gặp phải nếu tôi bị bắn, phải vậy không?

“Làm đi,” tôi nói.

Chúng tôi phá toang cửa ra. Tôi mở đường theo bản năng và những gì được đào tạo dẫn dắt. Tôi dọn sạch căn phòng phía trước, bước sang một mé và bắt đầu dẫn đường. Tốc độ di chuyển nhanh và tự động. Một khi mọi thứ đã khỏi động và tôi bắt đầu di chuyển vào trong nhà, có gì đó choán lấy trong tôi. Tôi không còn lo lắng về thương vong nữa. Tôi không nghĩ về bất kỳ điều gì ngoài cánh cửa, ngôi nhà, căn phòng, tất cả chúng là quá đủ rồi.

Đi vào trong một căn nhà, ta không bao giờ biết mình sẽ thấy cái gì. Ngay cả khi đã dọn dẹp an toàn các phòng ở tầng một mà không gặp bất kỳ trở ngại nào, ta cũng không thể đương nhiên coi phần còn lại của ngôi nhà là an toàn. Lên đến tầng thứ hai, ta có thể bắt đầu có cảm giác rằng các căn phòng đều trống hoặc ta sẽ không gặp vấn đề gì trên đó, nhưng đó là một cảm giác nguy hiểm. Ta không bao giờ thực sự biết điều gì sẽ xảy ra ở đâu. Mỗi căn phòng đều cần phải dọn cho sạch, và thậm chí ngay sau đó ta vẫn phải cảnh giác. Rất nhiều lần sau khi chúng tôi chiếm được ngôi nhà, chúng tôi đã hứng nhiều băng đạn và lựu đạn từ bên ngoài.

Trong khi nhiều ngôi nhà đều nhỏ bé và chật chội, chúng tôi cũng mở đường qua một khu vực khá giả của thành phố khi cuộc chiến tiếp diễn. Ở đây đường phố được lát đá, và nhìn từ bên ngoài, các tòa nhà trông giống như những cung điện thu nhỏ. Nhưng khi băng qua vẻ ngoài giả tạo đó và nhìn vào bên trong các phòng, hầu như đều là những đống đổ nát. Bất kỳ người Iraq nào có của đều đã chạy trốn hoặc bị giết.

Mỗi lúc giải lao, tôi đều đưa đám Lính thủy đánh bộ ra ngoài để tập luyện với họ. Trong khi các đơn vị khác đang ăn trưa, tôi dạy họ mọi điều tôi đã được học về việc dọn dẹp an toàn các căn phòng.

“Này, tôi không muốn mất thêm một người nào nữa!” tôi la lên với họ. Tôi không ở đó để tranh luận. Tôi bắt họ làm việc và thúc vào mông họ trong khi lẽ ra họ được nghỉ ngơi. Nhưng có một điều với đám Lính thủy đánh bộ, bạn đánh họ gục xuống, họ trở lại để hứng thêm.

Chúng tôi đột nhập vào một ngôi nhà có phòng khách rộng. Chúng tôi sửng sốt khi bắt gặp người sống ở đó.

Nhưng tôi còn ngạc nhiên hơn khi xông vào, tôi thấy một đám đàn ông đứng đó trong bộ đồ ngụy trang sa mạc, những món đồ cũ màu nâu sô cô la của Chiến dịch Bão táp Sa mạc, từ cuộc Chiến tranh Vùng Vịnh lần thứ Nhất. Tất cả bọn chúng đều đeo vũ khí. Chúng đều là người Caucasus, trong đó có một hoặc hai tên có mái tóc vàng, rõ ràng chúng không phải người Iraq hay người Ả Rập rồi.

Cái mẹ gì thế này?

Chúng tôi nhìn nhau. Có gì đó vụt qua óc tôi, tôi bóp nhẹ cò khẩu M-16, hạ gục bọn chúng.

Chỉ cần nửa giây do dự thôi, tôi có thể thành cái xác máu me be bét nằm trên sàn. Hóa ra bọn chúng là đám người Chechnya, bọn Hồi giáo hình như được tuyển mộ cho cuộc chiến tranh thần thánh chống lại phương Tây. (Chúng tôi đã tìm thấy hộ chiếu của bọn chúng sau khi lục soát ngôi nhà.)

LÍNH GIÀ

Tôi không biết là chúng tôi đã hạ bao nhiêu dãy nhà, lại càng không nhớ nổi bao nhiêu ngôi nhà nữa. Lính thủy đánh bộ bám theo đúng kế hoạch, cứ đến giờ ăn trưa chúng tôi phải có mặt ở một địa điểm nhất định, sau đó tiếp cận mục tiêu khác trước khi đêm xuống. Toàn bộ lực lượng xâm chiếm đã di chuyển xuyên qua thành phố theo trình tự được tính toán sẵn, để chắc ăn rằng không có lỗ hổng hay sơ suất nào khiến bọn phiến quân có thể dùng để luồn ra sau và tấn công chúng tôi.

Thỉnh thoảng chúng tôi băng qua một tòa nhà vẫn còn vài gia đình đang trú ngụ trong đó, nhưng đa phần chúng tôi chỉ thấy bọn phiến quân.

Chúng tôi phải rà soát từng ngôi nhà một. Trong một ngôi nhà, chúng tôi đã nghe thấy tiếng rên rỉ yếu ớt khi đi xuống tầng hầm. Có hai người bị treo trên tường bằng dây xích. Một người đã chết; người kia cũng gần như vậy. Cả hai đều bị tra tấn dã man bằng chích điện và có Chúa mới biết còn những trò gì nữa. Cả hai đều là người Iraq, có vẻ đã bị làm cho tê liệt tinh thần, bọn phiến quân muốn đảm bảo rằng họ không nói gì được với chúng tôi, nhưng trước đó chúng còn mang họ ra nghịch nữa.

Người đàn ông thứ hai chết khi quân y của chúng tôi đang cứu chữa.

Có một tấm băng rôn màu đen trên sàn nhà, theo kiểu mà những kẻ cuồng tín thích đưa ra trên các video của chúng khi chặt đầu người phương Tây. Tay chân bị chặt vung vãi, và máu me nhiều đến mức bạn không thể tưởng tượng được.

Chỗ ấy bốc mùi kinh khủng.

Sau vài ngày, một trong số những tay súng bắn tỉa thuộc lực lượng Lính thủy đánh bộ quyết định đi cùng tôi, hai chúng tôi bắt đầu dẫn đầu những cuộc chiến đấu trực tiếp.

Chúng tôi chiếm một ngôi nhà ở phía bên phải đường, rồi sau đó chạy sang bên trái và chiếm ngôi nhà đối diện bên kia phố. Cứ chạy qua chạy lại ngang phố như thế. Tất cả việc đó mất rất nhiều thời gian. Chúng tôi phải đi vòng qua cổng, áp sát cửa ra vào, phá cửa và xông vào. Bọn cặn bã ở bên trong có đầy thời gian để chuẩn bị. Chưa kể đến việc dù tôi đã góp thêm nhưng lượng thuốc nổ của chúng tôi cũng sắp hết rồi.

Chiếc xe bọc thép của Lính thủy đánh bộ chiến đấu cùng chúng tôi chạy xuôi phố vào trung tâm theo bước tiến của chúng tôi. Chiếc xe này chỉ có một khẩu súng máy 50 li, nhưng giá trị đích thực của nó chính là ở kích cỡ xe. Không một bức tường Iraq nào có thể chịu nổi sức công phá của nó khi nó đã lấy được đà.

Tôi đến chỗ viên chỉ huy.

“Nghe này, tôi muốn các anh làm việc này,” tôi nói với anh ta. “Chúng tôi sắp hết thuốc nổ rồi. Hãy lao qua bức tường phía trước tòa nhà và xả khoảng năm băng đạn của khẩu 50 li qua cửa trước. Rồi lùi lại còn chúng tôi sẽ làm tiếp từ đó.”

Vậy là chứng tôi bắt đầu thực hiện theo cách này, tiết kiệm thuốc nổ và di chuyển nhanh hơn nhiều.

Lao xộc lên và xuống cầu thang, chạy lên mái nhà, quay trở xuống, rồi đánh vào ngôi nhà kế tiếp; ở đó, chúng tôi đã đánh chiếm được khoảng 50 đến 100 ngôi nhà mỗi ngày.

Lính thủy đánh bộ không có thời gian để thở nữa, còn tôi giảm được gần mười cân trong thời gian khoảng sáu tuần gì đó ở Fallujah. Phần lớn việc giảm cân là xả qua việc đổ mồ hôi lên mặt đất. Quả là công việc làm người ta kiệt sức.

Đám Lính thủy đánh bộ trẻ hơn tôi rất nhiều, thực tế vài tay trong số họ còn ở tuổi thanh niên. Tôi đoán rằng tôi có một khuôn mặt khá trẻ con, bởi lúc chúng tôi ngồi nói chuyện, vì lý do nào đó tôi nói cho họ biết tuổi của mình, họ nhìn chằm chằm vào tôi và thốt lên, “Anh đã ngần ấy tuổi rồi á?”

Tôi đã ba mươi tuổi. Một bác già ở Fallujah.

MỘT NGÀY NHƯ MỌI NGÀY

Khi lính thủy chiếm đến gần rìa phía Nam thành phố, hoạt động mặt đất trong khu của chúng tôi giảm dần. Tôi đã quay trở lại các mái nhà và bắt đầu trở lại nhiệm vụ canh gác, với suy nghĩ rằng từ chỗ đó mình có thể nắm bắt được nhiều mục tiêu hơn. Tình hình chiến sự đã xoay chiều. Quân đội Mỹ gần như giành được quyền kiểm soát thành phố từ kẻ xấu, giờ đây chỉ là vấn đề thời gian trước khi sự phản kháng bị đánh bại. Nhưng đang ở trung tâm của cuộc chiến, tôi không thể chắc chắn được điều gì.

Biết chúng tôi coi nghĩa trang là một nơi rất thiêng liêng nên bọn phiến quân thường dùng nghĩa trang để cất giấu vũ khí và thuốc nổ. Có lúc chúng tôi đã nấp để quan sát qua tường rào của một nghĩa trang lớn nằm ngay trung tâm thành phố. Nghĩa trang này có chiều dài vào khoảng ba lần chiều dài của sân bóng và chiều ngang rộng gấp hai lần, nó là một thành phố bằng xi măng của những người đã mất, được lấp đầy bằng bia đá và lăng mộ. Chúng tôi đặt chốt trên một sân thượng gần tháp cầu nguyện và nhà thờ Hồi giáo, nhìn xuống nghĩa trang.

Sân thượng mà chúng tôi đặt chốt trông khá cầu kỳ. Bao quanh mái là lan can gạch, ngắt quãng bằng những lưới sắt, cho chúng tôi vị trí bắn tuyệt vời. Tôi nằm xuống và đặt khẩu súng trường chĩa nòng qua khe lưới sắt, nghiên cứu những lối đi len qua các phiến đá cách đó vài trăm mét. Có rất nhiều cát và bụi trong không khí, tôi phải đeo kính bảo hộ. Tôi cũng đã học được ở Fallujah cách buộc chặt mũ bảo hiểm, thận trọng với các mảnh vữa và bụi xi măng bay mù mịt từ phần nề của những ngôi nhà bị đập nát trong cuộc đọ súng.

Tôi chọn ra được vài bóng người đang di chuyển qua sân nghĩa trang. Tôi nhắm vào một tên và bắn.

Chỉ trong vài giây, chúng tôi chìm ngập hoàn toàn vào một cuộc đọ súng. Bọn phiến quân liên tục nhoi lên từ phía sau những tảng đá, tôi không biết ở đó có đường hầm hay chúng mò ra từ đâu. Viên đạn đồng đã bay ra từ khẩu súng gần đó.

Tôi nắn nót từng phát đạn của mình trong khi đám Lính thủy đánh bộ xung quanh nã đạn xối xả. Tất cả mọi thứ họ làm chìm dần vào hậu cảnh khi tôi dồn hết tâm trí vào một mục tiêu, ngắm chắc vào phần giữa cơ thể, rồi nhẹ nhàng siết cò. Khi viên đạn vọt ra khỏi nòng, nó gần như một sự bất ngờ.

Mục tiêu của tôi gục xuống. Tôi lại nhắm vào một tên khác. Và một tên khác nữa. Và cứ như thế.

Cho đến khi không còn một tên nào nữa. Tôi đứng dậy di chuyển thêm vài mét đến một chỗ mà bức tường hoàn toàn che chắn cho tôi từ phía nghĩa trang. Ở đó tôi tháo mũ bảo hộ ra và dựa lưng vào tường. Sân thượng văng đầy vỏ đạn đã bắn ra, hàng trăm vỏ nếu không muốn nói là hàng nghìn.

Ai đó đã chia nhau một chai nhựa nước lớn. Một trong số những anh chàng Lính thủy đánh bộ thì kéo ba lô ra để làm gối đánh một giấc. Những người khác thì đi xuống tầng dưới, đến cửa hàng ở ngay tầng trệt của tòa nhà. Đó là một cửa hàng bán thuốc lá, rồi quay trở lại với những thùng các tông thuốc lá thơm. Họ châm vài điếu, có mùi thơm của anh đào lẫn với mùi nồng nặc luôn bao phủ Iraq, một mùi của cống rãnh lẫn với mồ hôi cùng mùi xác chết.

Một ngày như mọi ngày ở Fallujah.

Đường phố tràn ngập những mảnh vụn và vô số đống đổ nát. Thành phố, chính xác chưa bao giờ là một tủ kính bày hàng, mà là một đống hoang tàn đổ nát. vỏ chai nước bị bóp bẹp nằm giữa đường bên cạnh những đống gỗ và kim loại méo mó. Chúng tôi chiến đấu trong một dãy các tòa nhà ba tầng, ở tầng trệt đầy các cửa hiệu. Từng mái hiên của những cửa hàng đều phủ một lớp bụi dày, biến màu sắc sáng sủa của các lớp son mặt tiền thành một lớp mờ bẩn thỉu. Các tấm lá chắn kim loại che kín hầu hết các cửa hàng; chúng lỗ chỗ vết đạn. Một số dán truyền đơn chỉ ra những tên phiến quân đang bị chính quyền hợp pháp truy nã.

Tôi có một vài bức ảnh chụp ở thời điểm đó. Ngay cả trong những hoàn cảnh bình thường và ít kịch tính nhất thì các hiệu ứng cũng rất rõ ràng. Thỉnh thoảng cũng có dấu hiệu của cuộc sống bình thường trước chiến tranh, một thứ gì đó chẳng liên hệ gì đến chiến tranh, như đồ chơi của trẻ con chẳng hạn.

Chiến tranh và hòa bình dường như không bao giờ đi cùng lúc với nhau.

CÚ BẮN TỈA ĐỈNH NHẤT

Lực lượng Không quân, Lính thủy đánh bộ và Hải quân đang thực hiện các chuyến bay hỗ trợ trên đầu chúng tôi. Chúng tôi tin tưởng vào họ đủ để có thể gọi những vụ không kích các căn nhà ngay cuối dãy.

Một tay lính thông tin đang chiến đấu dưới phố cùng một đơn vị đang dính hỏa lực ác liệt từ một tòa nhà đầy bọn phiến quân ở khá xa chúng tôi. Cậu ta dùng máy vô tuyến gọi cho Lính thủy đánh bộ xin phép được gọi một cuộc không kích. Ngay sau khi đề nghị được chấp thuận, cậu ta nối máy với một phi công và cung cấp cho phi công địa điểm và các chi tiết.

“Nguy hiểm đến gần!” cậu ta cảnh báo qua điện đài. “Hãy ẩn nấp”

Chúng tôi núp vào bên trong tòa nhà. Tôi không biết quả bom được ném xuống lớn cỡ nào, nhưng vụ nổ đã làm rung chuyển cả các bức tường. Người bạn của tôi sau đó cho biết, vụ ném bom đã giết chết hơn ba mươi tên phiến quân, số lượng về những kẻ muốn giết chúng tôi chính là chỉ dấu cho biết tầm quan trọng của việc hỗ trợ bằng không lực.

Phải nói rằng tất cả những phi công bay trên đầu chúng tôi thực hiện công việc của họ rất chuẩn xác. Trong rất nhiều tình huống, chúng tôi yêu cầu dội bom và tên lửa vào chỗ cách chúng tôi chỉ vài trăm mét. Đó là cự ly gần kinh khủng khi nói về hàng tấn chất công phá. Nhưng chúng tôi không hề gặp bất cứ sự cố nào, và tôi tin chắc rằng họ có thể giải quyết tốt công việc.

Một hôm, một nhóm Lính thủy đánh bộ gần chúng tôi phải đương đầu với hỏa lực bắn ra từ ngọn tháp của một nhà thờ Hồi giáo cách đó vài dãy nhà. Chúng tôi có thể thấy tay súng đó từ đâu bắn ra, nhưng chúng tôi không thể bắn trả. Hắn có một vị trí hoàn hảo, có thể kiểm soát được phần lớn góc phố phía bên dưới.

Trong khi đó, thường thì bất cứ thứ gì liên quan đến nhà thờ Hồi giáo đều không được đụng chạm đến, nhưng sự hiện diện của tay súng bắn tỉa đã biến nó thành một mục tiêu hợp pháp. Chúng tôi gọi một cuộc không kích vào tòa tháp có mái vòm cao với cửa sổ trên đỉnh và hai lối đi bộ chạy quanh, trông giống như một tháp kiểm soát không lưu. Mái được làm bằng những tấm kính, có đỉnh nhọn.

Chúng tôi nhào xuống đất khi máy bay bay vào. Một quả bom băng ngang bầu trời, lao vào đỉnh của tòa tháp, và rơi thẳng qua một trong những tấm kính lớn trên đỉnh tòa tháp. Rồi nó lại rơi tiếp xuống một cái sân cắt ngang con hẻm cụt. Ở đó, nó đã rơi xuống tầm thấp rồi nổ tung mà không có ảnh hưởng gì nhiều.

“Nhọ thật,” tôi nói. “Cậu ta ném trượt rồi. Nào, chúng ta tự đi xử lý thằng chó đẻ kia vậy.”

Chúng tôi xuôi xuống vài dãy nhà và vào tòa tháp rồi leo lên chiếc cầu thang dường như dài vô tận. Bất kể lúc nào chúng tôi cũng phải đảm bảo không bị tay súng yểm trợ cho tay bắn tỉa hoặc chính tay bắn tỉa kia sẽ xuất hiện ở phía trên và nã đạn vào chúng tôi.

Không có điều gì xảy ra. Khi leo lên đến tận đỉnh, chúng tôi đã hiểu vì sao. Tay súng bắn tỉa, chỉ có một mình trong tòa nhà, đã bị cụt đầu bởi quả bom bay qua cửa sổ.

Nhưng đó không phải là tất cả những gì quả bom đó đã làm được. Thật tình cờ, con hẻm cụt nơi quả bom rơi xuống đầy bọn phiến quân; ngay sau đó chúng tôi đã thấy xác và vũ khí của bọn chúng.

Tôi nghĩ đó là một cú bắn tỉa đỉnh nhất mà tôi từng thấy.

SẮP XẾP LẠI

Sau khi tôi làm việc với đại đội Kilo được khoảng hai tuần, các chỉ huy đã triệu tập tất cả những tay súng bắn tỉa SEAL lại để có thể tái sắp xếp chúng tôi vào những vị trí mà chúng tôi cần có mặt.

“Cậu đang làm ‘quặc’ gì ngoài đó vậy?” một trong những SEAL đầu tiên tôi gặp hỏi. “Bọn tớ nghe thấy cái quái gì đó như là cậu sẽ xuống chiến đấu trên đường phố à.”

“Đúng thế, tớ sẽ đến đó. Chẳng có ai chịu ra chiến đấu trên đường phố cả.”

Cậu ta kéo tôi sang một bên rồi nói, “Cậu đang làm trò khỉ gì thế hả? Cậu có biết là nếu sĩ quan chỉ huy của chúng ta phát hiện ra cậu đang làm việc này thì cậu sẽ bị tống cổ khỏi đây ngay không.”

Cậu ta nói đúng, nhưng tôi đã phớt lờ ý kiến của cậu ta đi. Từ trong thâm tâm, tôi biết mình phải làm gì. Tôi cũng cảm thấy khá tin tưởng viên sĩ quan chỉ huy trực tiếp của tôi. Ông là một người ngay thẳng và nắm rõ việc nào là việc cần phải làm dứt điểm.

Chưa nói đến thực tế là tôi đã mất liên lạc khá lâu với chỉ huy cấp cao của mình nên sẽ mất khối thời gian để họ phát hiện ra điều đó, chưa kể đến việc ban bố các lệnh để loại tôi ra khỏi đội hình.

Nhiều người khác cũng đã đến và đều đồng ý với tôi: dưới phố là nơi chúng tôi cần phải có mặt. Tôi không biết họ quyết định cuối cùng thế nào; nhưng về mặt chính thức, đương nhiên tất cả bọn họ vẫn đóng trên mái nhà và bắn tỉa.

“À này!” một anh chàng đến từ các tiểu bang phía Đông nói, “thay vì dùng khẩu súng M-16 của Lính thủy đánh bộ, tôi có mang theo khẩu M-4. Anh có thể mượn nếu muốn.”

“Thật chứ?”

Tôi nhận khẩu súng đó và rốt cuộc đã giết được cả đống kẻ thù nhờ nó. Cả hai loại súng M-16 và M-4 đều là loại vũ khí tốt; Lính thủy đánh bộ thích model M-16 mới nhất vì nhiều lý do khác nhau liên quan đến cách họ chiến đấu. Tất nhiên, ưu tiên của tôi trong trận đánh giáp mặt là khẩu nòng ngắn M-4, và tôi rất vui khi mượn được khẩu súng của anh bạn trong suốt thời gian còn lại ở Fallujah.

Tôi được giao nhiệm vụ làm việc với Đại đội Lima đang hoạt động cách Đại đội Kilo chỉ vài dãy nhà. Đại đội Lima có nhiệm vụ giúp bịt các lỗ hổng, tức là tiêu diệt các ổ phiến quân đã len lỏi vào đâu đó hoặc bị bỏ sót. Họ có rất nhiều việc phải làm.

Tối hôm đó, tôi đã qua gặp và trao đổi với chỉ huy của đại đội trong một ngôi nhà mà họ vừa chiếm được buổi sáng hôm đó. Viên trung tá Lính thủy đánh bộ đã nghe kể về những việc tôi làm với Đại đội Kilo và sau khi chúng tôi nói chuyện một lát, ông hỏi tôi muốn làm việc gì.

“Tôi muốn được tham gia chiến đấu trên đường phố với tất cả các anh.”

“Thế thì được rồi.”

Đại đội Lima đã chứng tỏ là một đội của các chiến binh tuyệt vời.

ĐỪNG MÁCH MẸ EM

Vài ngày sau, khi chúng tôi đang càn quét một dãy nhà thì tôi nghe thấy có tiếng súng nổ ở một con phố kề bên. Tôi nói với đám Lính thủy đánh bộ đang cùng chiến đấu là cứ ở yên tại chỗ, tôi chạy qua bên kia xem có thể giúp gì được không.

Tôi thấy một nhóm khác của Lính thủy đánh bộ tiến vào một con hẻm và vấp phải một nhóm hỏa lực mạnh. Họ đang rút lui thì đúng lúc tôi đến bọc lót.

Một cậu lính trẻ không may bị thương. Cậu ta đang nằm ngửa cách đó vài mét và kêu trong đau đớn.

Tôi vừa rạp xuống tránh đạn vừa chạy đến tóm lấy cậu ta và kéo về phía sau. Khi tóm được cậu ta, tôi thấy cậu đang trong tình trạng khá tồi tệ, bị lòi ruột. Tôi đặt Sling xuống và luồn cánh tay của mình dưới cánh tay cậu ta, sau đó kéo mạnh cậu ta về phía sau.

Bằng cách nào đó, tôi xoay xở để vừa đi vừa kéo cậu ta theo. Tôi ngã ngửa về phía sau, cậu ta ngã đổ lên người tôi. Đến lúc ấy, tôi quá mệt và đứt hết cả hơi, tôi cứ nằm đó vài phút, trong khi các làn đạn vẫn bắn tứ tung.

Cậu lính trẻ đó chừng mười tám tuổi và đang bị thương rất nặng. Tôi có thể nói rằng cậu ta sắp chết đến nơi rồi.

“Làm ơn đừng mách mẹ em là em chết trong đau đớn nhé,” cậu mấp máy môi.

Khỉ thật, cái cậu này, tôi nghĩ, thậm chí tôi còn không biết cậu là ai nữa thì làm sao tôi có thể mách mẹ cậu điều gì được.

“Được rồi, được rồi,” tôi nói. “Đừng lo. Đừng lo. Tất cả mọi người sẽ cho đó là một cái chết rất vĩ đại. Thực sự vĩ đại.”

Người lính trẻ chết ngay sau đó. Cậu ta thậm chí không thể sống thêm chút nữa để nghe hết lời nói dối của tôi rằng mọi việc sẽ ổn cả.

Một nhóm Lính thủy đánh bộ đã đến. Họ nhấc cậu ta khỏi người tôi và đặt cậu ở phía sau chiếc xe Hummer. Chúng tôi đã yêu cầu một cuộc tấn công bằng bom và xóa sổ những vị trí có súng bắn ra, ở đầu bên kia của con hẻm.

Tôi trở lại dãy nhà của mình và tiếp tục chiến đấu.

LỄ TẠ ƠN

Tôi nghĩ về những thương vong mà mình từng chứng kiến, thực tế là tôi có thể là người tiếp theo bị đưa đi trên cáng. Nhưng tôi sẽ không bỏ cuộc. Tôi sẽ không ngừng lao vào những ngôi nhà và tiếp tục yểm trợ cho họ từ trên mái nhà. Tôi không thể bỏ rơi những người Lính thủy đánh bộ trẻ mà tôi đã gắn bó.

Tôi tự nói với mình, Tôi là một SEAL. Tôi được kỳ vọng sẽ trở nên kiên cường hơn và giỏi giang hơn. Tôi sẽ không bao giờ bỏ họ.

Điều đó không có nghĩa là tôi nghĩ mình kiên cường hay giỏi giang hơn họ. Nó chỉ có nghĩa là tôi hiểu cách thức người ta trông đợi ở chúng tôi. Và tôi không muốn để những người đó thất vọng. Tôi không muốn thất bại trong mắt họ, hay chính trong mắt tôi nữa.

Đó là dòng suy nghĩ đã gõ vào tâm trí chúng tôi: Chúng tôi là lực lượng tốt nhất trong số những lực lượng tốt nhất. Chúng tôi là bất khả chiến bại.

Tôi không biết mình có giỏi nhất trong số những người giỏi nhất hay không, nhưng tôi biết rằng nếu bỏ cuộc, tôi sẽ không nằm trong số những người đó.

Và tôi chắc chắn cũng có cảm giác mình là bất khả chiến bại. Tôi phải là như vậy: tôi đã trải qua tất cả các kiểu hiểm nguy mà không bị giết... cho đến giờ.

Lễ tạ ơn trôi qua nhanh như phát đạn trong khi chúng tôi vẫn đang ở trong cuộc chiến.

Tôi nhớ mình đã nhận được suất ăn ngày lễ Tạ ơn. Họ tạm dừng cuộc tấn công trong chốc lát, có lẽ khoảng nửa tiếng, và mang thức ăn đến cho chúng tôi trên mái nhà nơi chúng tôi đang cắm chốt.

Gà tây, khoai tây nghiền, nhân nhồi gà và đậu xanh cho mười người, tất cả đựng trong một chiếc hộp lớn.

Tất cả được để lẫn với nhau. Không có hộp riêng, không có ngăn cách gì cả. Tất cả thành một đống.

Cũng không có đĩa, dĩa, dao, muỗng.

Chúng tôi phải dùng tay và ăn bốc. Lễ Tạ ơn của chúng tôi như thế đó.

So với lương khô[*] mà chúng tôi vẫn thường ăn thì như vậy là tươm lắm rồi.

Chu thich: Nguyên văn là MRE, viết tắt của “Meal, Ready-to-Eat”, loại đồ ăn sẵn đóng hộp chuyên dùng trong quân đội Mỹ.

TẤN CÔNG ĐẦM LẦY

Tôi đã ở Đại đôi Lima trong khoảng một tuần, rồi quay trở lại Đại đội Kilo. Thật khủng khiếp khi phải nghe tin về những người đã bị thương và đã mất trong thời gian tôi đi.

Cuộc tấn công sắp kết thúc, chúng tôi được giao nhiệm vụ mới: thiết lập một chuỗi đồn bốt để đảm bảo bọn phiến quân không thể quay lại được. Khu vực của chúng tôi nằm cạnh sông Euphrates, ở phía Tây của thị trấn. Từ thời điểm đó, tôi lại trở thành một tay súng bắn tỉa. Và theo tính toán, các phát súng của tôi bây giờ hầu hết có phạm vi xa hơn, tôi đã dùng lại khẩu .300 Win Mag.

Chúng tôi đóng quân trong một tòa nhà hai tầng nhìn xuống sông cách cầu Nước Đen (Blackwater Bridge) vài trăm mét. Khu vực ngay bên kia sông là một đầm lầy mọc toàn cỏ dại. Gần đó là một bệnh viện mà bọn phiến quân đã biến thành tổng hành dinh trước khi có cuộc tấn công của chúng tôi, và ngay cả đến tận bây giờ, khu vực này giống như một thỏi nam châm thu hút những hoạt động tàn ác.

Đêm đêm chúng tôi cử một người thâm nhập để thăm dò khu vực đó. Hằng đêm, tôi sẽ bắn tỉa, hạ gục được một hoặc hai tên, đôi khi còn nhiều hơn nữa.

Quân đội mới của Iraq có một doanh trại gần đó. Nhưng những tên đần đó lại ngồi trong doanh trại ấy và bắn về phía chúng tôi. Hằng ngày. Chúng tôi đã treo một bảng biến tần VF (Variable Frequency) trên chốt của chúng tôi - một chỉ dấu cho biết chúng tôi là bạn bè, nhưng súng vẫn tiếp tục nã. Chúng tôi đã đánh điện đài cho chỉ huy của họ. Súng vẫn cứ bắn. Chúng tôi gọi lại và chửi rủa chỉ huy của họ. Súng vẫn tiếp tục bắn sang. Chúng tôi tìm mọi cách để họ ngừng bắn, kể cả một cuộc gọi không kích bằng bom.

THẰNG HÈN TRỞ LẠI

Thằng hèn cùng tôi gia nhập lại Đại đội Kilo. Đến giờ thì tôi đã bình tĩnh và ít nhiều giữ phép lịch sự, dù cảm xúc của tôi với hắn ta không hề thay đổi.

Tôi nghĩ, Thằng hèn cũng chẳng hề thay đổi. Thật là thảm hại.

Hắn ta ở trên mái nhà với chúng tôi trong cái đêm mà chúng tôi bắt đầu hứng những phát súng của bọn phiến quân từ đâu đó.

Tôi chúi người nấp sau bức tường chu vi khoảng 120 cen ti mét. Khi tiếng súng ngớt, tôi liếc qua mái nhà và tìm xem tiếng súng bắn ra từ đâu, mặc dù lúc đó trời rất tối.

Tiếng súng lại nổ nhiều hơn. Mọi người lại chúi xuống. Tôi thò người ra ngoài thấp hơn chút nữa, hy vọng có thể nhìn thấy một ánh sáng lóe lên từ họng súng khi có đợt bắn tiếp theo. Tôi không thể nhìn thấy gì cả.

Tôi nói, “Này, các phát súng đều không chính xác. Chúng đang bắn từ chỗ nào ấy nhỉ?”

Không có câu trả lời nào từ Thằng hèn cả.

“Thằng hèn này, hãy tìm ánh sáng lóe lên từ họng súng đi,” tôi nói.

Tôi không nghe thấy câu trả lòi. Hai hay ba tiếng súng nữa lại tiếp tục, mà tôi không có cách nào tìm ra những phát súng đó đến từ đâu. Rốt cuộc, tôi quay sang để hỏi xem hắn ta có thấy gì không.

Nhưng chẳng thấy Thằng hèn đâu cả. Hắn ta đã đi xuống cầu thang, theo tất cả những gì tôi biết, điều duy nhất có thể ngăn hắn ta là cánh cửa bị chặn lại nơi những Lính thủy đánh bộ đang cố gắng đảm bảo an ninh.

“Tôi có thể đã bị giết ở trên đó,” hắn nói khi tôi đuổi kịp hắn ta.

Tôi để hắn ta ở tầng dưới, yêu cầu cử một trong những người Lính thủy đánh bộ đang đảm bảo an ninh đến chỗ hắn ta. Ít ra thì tôi cũng biết rằng hắn sẽ không chạy trốn.

Cuối cùng Thằng hèn đã được chuyển đến nơi nào đó mà hắn ta sẽ không tham gia chiến đấu. Hắn ta đã sợ hết hồn. Hắn ta phải tự kéo mình ra khỏi nỗi sợ đó. Việc đó tạo ra sự bối rối, nhưng nó đã có thể tồi tệ đến mức nào? Hắn ta đã mất thời gian thuyết phục người khác là hắn không phải đồ thỏ đế, trong khi mọi người đều thấy rõ rành rành.

Từng là một chiến binh vĩ đại, Thằng hèn đã tuyên bố với Lính thủy đánh bộ rằng các SEAL và những tay súng bắn tỉa đang bị sử dụng uổng phí trên các trạm canh gác bắn tỉa.

“Các SEAL không nên ở đây. Đây không phải là một nhiệm vụ tác chiến đặc biệt,” hắn nói với họ. Nhưng vấn đề không chỉ là các SEAL, như hắn đã sớm làm rõ. “Những tên Iraq này sẽ tái hợp và lấn át chúng ta.”

Dự đoán của hắn ta hóa ra cũng có phần đúng. Nhưng này, hắn ta đã có thể có một tương lai sáng sủa khi là một chiến lược gia quân sự.

ĐẦM LẦY

Vấn đề thực tế của chúng tôi là bọn phiến quân đã dùng đầm lầy bên kia sông làm nơi che chắn. Bên bờ sông vô số những cù lao nhỏ đầy cây cối và bụi rậm. Đây đó là một lớp hoặc một đống bùn đất được nạo vét đổ đống cùng sỏi đá xen giữa những bụi cây.

Bọn phiến quân có thể xuất hiện bất ngờ từ những hàng cây, nổ Sling, rồi lẩn vào bụi rậm nơi ta không thể nhìn thấy bọn chúng. Cây cối rậm rạp đến mức bọn chúng có thể tiến không chỉ tới con sông mà còn tới gần chúng tôi nữa, thường trong vòng khoảng một trăm mét mà không bị phát hiện. Thậm chí bọn Iraq có thể tấn công từ khoảng cách đó.

Mọi thứ càng trở nên phức tạp hơn, một đàn trâu nước sống trong đầm lầy, chúng đạp qua đó thường xuyên. Bạn có thể nghe thấy tiếng động hoặc nhìn thấy vạt cỏ chuyển động và không biết đó là một tên phiến quân hay là một con vật nữa.

Chúng tôi thử sáng tạo, yêu cầu đánh bom napalm vào đầm lầy để thiêu rụi đám cây cối.

Ý tưởng này bị bác bỏ.

Nhiều đêm trôi qua, tôi nhận ra rằng số lượng bọn phiến quân đang tăng lên. Rõ ràng tôi đang bị thăm dò. Cuối cùng, bọn phiến quân có thể tập trung đủ lục lượng khiến tôi không thể giết hết được chúng.

Điều đó không có nghĩa là tôi không còn hứng thú để cố gắng.

Lực lượng Lính thủy đánh bộ điều một máy bay xác định mục tiêu FAC (Forward Air Controller), để định vị các vụ không kích chiến thuật chống lại bọn phiến quân. Người được họ cử đến là một lính không quân thuộc lực lượng Lính thủy đánh bộ, một phi công, đang làm việc luân phiên trên bộ. Đã vài lần anh ta tìm cách định vị đường bay cho các cuộc không kích, nhưng những yêu cầu không kích thường bị các cấp chí huy cao hơn từ chối.

Lúc bấy giờ, tôi nghe nói rằng có quá nhiều sự tàn phá trong thành phố đến mức họ không muốn có thêm thiệt hại ngoài dự kiến nào nữa. Tôi không biết liệu việc thiêu rụi đám cỏ dại trong đầm lầy có làm cho Fallujah trông tồi tệ hơn như nó vốn đã thế hay không, nhưng khi đó tôi chỉ là một SEAL và rõ ràng không hiểu hết những vấn đề phức tạp đó.

Dù sao, bản thân viên phi công đó là một người tốt. Anh đã không hành động hợm hĩnh hay ngạo mạn; bạn sẽ không nhận ra được anh ấy là một sĩ quan. Chúng tôi đều rất quý và tôn trọng anh ấy. Và để chứng tỏ rằng không có ác cảm gì, chúng tôi thường để anh sử dụng súng trường và canh chung. Anh chưa hề bắn phát nào cả.

Ngoài FAC, lực lượng Lính thủy đánh bộ cũng phái đến một đon vị được trang bị vũ khi hạng nặng, thêm nhũng tay súng bắn tỉa, rồi cả những tay súng cối. Những tay súng cối mang theo một số quả đạn pháo phốt pho trắng, họ tìm cách phóng nhũng quá đạn này nhằm thiêu rụi các bụi rậm. Thật không may, chúng chỉ phát hỏa được những phần nhỏ trên đầm lầy, cháy được một ít, rồi xẹp xuống và tắt ngấm vì ở đó quá ẩm ướt.

Cố gắng tiếp theo của chúng tôi là ném lựu đạn cháy. Lựu đạn cháy là một thiết bị gây cháy có thể đốt nóng lên đến 2.200 độ C và có thể xuyên thủng loại thép dày khoảng hơn 0,6 cen ti mét chỉ trong vài giây. Chúng tôi đi xuống phía con sông và phóng những trái lựu đạn này sang bên kia.

Nhưng điều đó cũng không có tác dụng gì lắm, vì vậy chúng tôi bắt đầu tự chế vũ khí của mình. Trong nhóm súng bắn tỉa của lực lượng Lính thủy đánh bộ và các tay súng cối có những bộ óc sáng tạo tuyệt vời, đã tập trung vào cái đầm lầy đó. Trong tất cả các kế hoạch, một trong những vũ khí tôi khoái nhất liên quan đến việc sử dụng một cách sáng tạo loại thuốc phóng có hình dạng giống như “pho mát” mà những tay súng cối thường sử dụng. (“Pho mát” được dùng để phóng những viên đạn súng cối. Khoảng cách phóng đạn có thể được điều chỉnh bằng thay đổi lượng “pho mát” được dùng để phóng.) Chúng tôi đẩy một ít “pho mát” vào một cái ống, thêm một cuộn ngòi nổ, một ít dầu diesel, cộng với một kíp nổ chậm. Rồi chúng tôi liệng vật kỳ cục này sang bên kia sông và xem chuyện gì sẽ xảy ra.

Chúng tôi cũng có một ít lựu đạn gây lóa, nhưng chẳng có gì chúng tôi đưa ra hoạt động thực sự hiệu quả cả.

Giá mà chúng tôi có một khẩu súng phun lửa...

Đầm lầy vẫn là một “môi trường nhiều mục tiêu” với đầy bọn phiến quân. Chắc tôi đã tiêu diệt được khoảng mười tám hay mười chín tên trong tuần đó; nếu tính cả của những người khác thì tổng số lên đến khoảng ba mươi tên hoặc nhiều hơn.

Con sông hình như có một sức quyến rũ đặc biệt đối với bọn xấu. Trong khi chúng tôi đang tìm đủ mọi cách khác nhau để thiêu rụi cây cối trên đầm lầy, bọn chúng cũng tìm mọi cách để vượt qua.

Điều kỳ cục nhất liên quan đến những quả bóng màu sặc sỡ để chơi trên bãi biển.

NHỮNG QUẢ BÓNG BÃI BIỂN VÀ NHỮNG PHÁT SÚNG TẦM XA

Vào một buổi chiều, khi đang quan sát từ trên mái nhà, tôi phát hiện ra một nhóm khoảng mười sáu tên phiến quân được vũ trang đầy đủ xuất hiện từ nơi ẩn nấp. Bọn chúng mặc áo giáp toàn thân và trang bị đủ phụ kiện đi kèm. (Sau đó, chúng tôi phát hiện ra bọn chúng là người Tunisia, có vẻ như được một trong các nhóm tham chiến tuyển mộ để chiến đấu với người Mỹ ở Iraq.)

Chẳng có gì bất thường cả, ngoại trừ việc chúng còn mang theo bốn quả bóng biển rất to và đầy màu sắc.

Tôi thực sự không tin vào những gì mình đang nhìn thấy, bọn chúng chia ra thành các nhóm nhỏ và xuống nước, cứ bốn người một quả bóng biển. Sau đó, chúng dùng những quả bóng biển để nổi lên mặt nước, rồi chúng bắt đầu bơi qua sông.

Nhiệm vụ của tôi là không được để chuyện đó diễn ra, nhưng điều đó cũng không có nghĩa là tôi nhất thiết phải bắn từng tên một trong số chúng. Mẹ kiếp, tôi còn phải tiết kiệm đạn dược cho những cuộc chiến trong tương lai nữa chứ.

Tôi bắn vào quả bóng đầu tiên. Bốn tên bắt đầu chói với tìm cách bám vào ba quả bóng còn lại.

Tách.

Tôi bắn quả bóng số hai.

Thật là một trò vui.

Mẹ kiếp, đúng là cực vui. Bọn phiến quân bắt đầu đánh lẫn nhau, kế hoạch ranh ma của bọn chúng để giết người Mỹ giờ quay ra chống lại chính bọn chúng.

“Các cậu ra xem cái này đi,” tôi nói với đám Lính thủy đánh bộ khi bắn vào quả bóng số ba.

Họ trèo sang phía bên kia của mái nhà và theo dõi khi những tên phiến quân đánh nhau để bám vào quả bóng cuối cùng. Những tên nào không thể bám vào sẽ nhanh chóng chìm xuống và chết đuối.

Tôi theo dõi chúng đánh lộn thêm chút nữa, rồi bắn vào quả bóng cuối cùng. Lính thủy đánh bộ giải thoát những tên phiến quân còn lại khỏi nỗi đau khổ của chúng.

Đó là những phát súng kỳ lạ nhất của tôi. Những phát súng tầm xa nhất của tôi diễn ra cùng trong khoảng thời gian đó.

Một hôm, một nhóm gồm ba tên phiến quân xuất hiện trên bờ phía thượng lưu con sông, ngoài tầm bắn, trong phạm vi khoảng 1.400 mét. Trước đây đã có vài tên cố đứng đó, biết rằng chúng tôi sẽ không thể bắn chứng được vì khoảng cách quá xa. Quy tắc Tham chiến cho phép chúng tôi được bắn, nhưng khoảng cách quá lớn khiến cho việc nổ súng thực sự chẳng có ích gì. Có vẻ nhu biết là mình sẽ được an toàn, bọn chúng bắt đầu giễu chúng tôi hệt như một lũ tội phạm vị thành niên.

FAC bay qua và bắt đầu cười tôi khi tôi nhắm chúng qua kính ngắm.

“Chris, cậu sẽ không bắn tới chỗ bọn chúng đâu.”

Được rồi, tôi không nói là mình sẽ cố thử, nhưng lời nói của anh ta đã biến thành một lời thách thức. Một vài Lính thủy đánh bộ khác cũng đến và nói với tôi những thứ đại khái như vậy.

Bất cứ khi nào có ai nói tôi không thể làm điều gì đó, nó lại khiến tôi nghĩ rằng tôi có thể làm được. Nhưng 1.400 mét là khoảng cách xa đến mức kính ngắm của tôi không thể chỉnh sang chế độ ngắm bắn được. Vì vậy, tôi đã làm một phép tính nhẩm trong đầu và điều chỉnh tầm ngắm của tôi với sự hỗ trợ của một cái cây phía sau một trong số những tên phiến loạn ngu ngốc đang nhe răng ra cười nhạo chúng tôi.

Tôi đã bắn.

Cả trời, đất lẫn quỷ thần đều hợp lại. Chúa đã thổi vào viên đạn, và tôi đã có một cú bắn trời giáng vào tên đần độn đó.

Hai tên bạn của hắn cắp đít chạy vội khỏi đó.

“Trúng rồi, trúng rồi!” đám Lính thủy đánh bộ kêu lên. “Bắn chúng đi.”

Tôi đoán là lúc đó mọi người nghĩ là tôi có thể hạ gục bất cứ thứ gì dưới gầm trời này. Nhưng sự thật là tôi cũng chỉ ăn may khi bắn trúng cái tên mà tôi đã nhắm tới; nếu bắn vào những tên đang chạy thì tôi cũng chẳng có cửa nào.

Đó hóa ra là một trong những lần được công nhận là phát bắn xa nhất của tôi trên chiến trường Iraq.

QUAN NIỆM SAI LẦM

Mọi người nghĩ rằng lúc nào những tay súng bắn tỉa cũng có những phát bắn xa không tưởng như vậy. Trong khi chúng tôi bắn những phát súng có tầm xa hơn nhiều người lính khác trên mặt trận, thực ra thì tầm xa của những phát súng đó ngắn hơn rất nhiều so với mọi người vẫn nghĩ.

Tôi chưa bao giờ thử đo xem mình có thể bắn được xa bao nhiêu. Khoảng cách thực tế còn phụ thuộc vào tình huống cụ thể. Trong thành phố, nơi tôi thực hiện hầu hết các cú bắn tỉa, ta sẽ chỉ bắn ra mọi nơi trong khoảng cách từ gần 200 đến gần 400 mét. Đó là chỗ của mục tiêu mà ta nhắm tới, vì vậy phát súng của ta sẽ chỉ bay tới đó mà thôi.

Còn ở vùng nông thôn thì lại khác, về cơ bản, những phát súng vùng này sẽ nằm trong khoảng từ hơn 700 đến hơn 1.000 mét. Đó là nơi mà những khẩu súng tầm xa như khẩu .338 rất hữu ích.

Có người từng hỏi tôi đâu là cự ly bắn mà tôi ưa thích nhất. Câu trả lời của tôi đơn giản là: càng gần càng tốt.

Như tôi đã nói ở trên, một quan niệm sai lầm khác mà mọi người nghĩ về những tay súng bắn tỉa chúng tôi là luôn nhắm bắn vào đầu. Đối với cá nhân tôi thì gần như chẳng bao giờ tôi nhắm bắn vào đầu, trừ phi tôi hoàn toàn chắc chắn rằng mình sẽ bắn trúng. Và bắn vào đầu là điều rất hiếm trên chiến trường.

Tôi thường hay nhắm vào vị trí trung tâm hơn, bắn vào phần giữa của cơ thể. Tôi sẽ có đầy chỗ để bắn. Bất kể tôi bắn vào chỗ nào, hắn ta sẽ bị hạ gục.

TRỞ LẠI BAGHDAD

Sau một tuần chiến đấu trên bờ sông, tôi đã được rút ra, đổi chỗ với một SEAL khác đã bị thương trước đó ít lâu trong chiến dịch và sẵn sàng quay trở lại chiến đấu. Tôi đã thu hoạch khá đủ số địch bị tiêu diệt với nhiệm vụ là một tay súng bắn tỉa; đã đến lúc để cho người khác kiếm thành tích.

Bộ chỉ huy điều tôi trở lại Doanh trại Fallujah trong vài ngày. Đó là một trong những lần nghỉ phép giữa cuộc chiến mà tôi thực sự hào hứng. Sau những cuộc chiến dồn dập trong thành phố, tôi cực kỳ sẵn sàng cho một kỳ nghỉ phép ngắn ngày. Những bữa ăn nóng hổi và được tắm táp khiến tôi cảm thấy thật tuyệt vời.

Sau khi xả hơi vài ngày, tôi được lệnh quay lại Baghdad để họp tác với GROM lần nữa.

Khi đang trên đường đến Baghdad, chiếc xe Hummer của chúng tôi đụng phải thiết bị nổ IED chôn trên đường. Thiết bị nổ tự chế này nổ tung ngay phía sau chúng tôi; tất cả mọi người trong xe đều hoảng hồn, trừ tôi và một người nữa đã từng ở Fallujah kể từ khi bắt đầu cuộc tấn công. Chúng tôi nhìn nhau, nháy mắt, sau đó nhắm mắt lại và ngủ tiếp. So với những vụ nổ lớn hơn và những điều tồi tệ khác trong tháng đó, quả mìn này chẳng thấm vào đâu.

Trong khi tôi đang ở Iraq thì trung đội của tôi đã được điều đến Philippines để làm nhiệm vụ đào tạo quân đội địa phương chống lại quân khủng bố quá khích. Đó chắc chắn không phải là nhiệm vụ thú vị nhất rồi. Cuối cùng, sau khi hoàn thành nhiệm vụ, họ được điều động trở lại Baghdad.

Tôi cùng một số SEAL khác ra sân bay để đón tiếp họ.

Tôi rất mong đợi một cuộc chào đón nồng nhiệt, cuối cùng gia đình của tôi cũng đã đến đây.

Vừa ra khỏi máy bay họ đã chửi tôi.

“Chào tên khốn.”

Và nhiều từ còn tệ hơn thế nữa. Giống như mọi việc khác họ làm, các SEAL đều giỏi nói bậy cả.

Ghen tị thôi mà, tên của họ là SEAL.

Tôi ngạc nhiên là tại sao tôi chưa nghe được bất cứ tin tức gì từ họ trong mấy tháng qua. Thực ra, tôi đang tự hỏi tại sao họ lại ghen tị nhỉ, như những gì tôi được biết thì họ cũng chưa nghe được gì về việc tôi đã làm cơ mà.

Hóa ra, chỉ huy của tôi đã chiêu đãi họ bằng những báo cáo tổng kết trận đánh về việc bắn tỉa của tôi ở Fallujah. Họ thì ngồi quanh để hướng dẫn đám người Philippines và chán ngán, trong lúc tôi lại có tất cả những trò vui.

Họ biết cả rồi. Rốt cuộc, họ còn yêu cầu tôi thuyết trình chút ít về những gì tôi đã làm, bằng cách sử dụng bút chỉ laser và sơ đồ. Lại thêm một cơ hội nữa sử dụng PowerPoint.

VUI VẺ VỚI NHỮNG PHÁT BÚNG LỚN

Bây giờ họ đã ở đây, tôi gia nhập cùng họ và bắt đầu thực hiện vài cuộc chiến đấu trực tiếp. Bộ phận tình báo tìm ra kẻ sản xuất thiết bị nổ IED hoặc có thể là một kẻ hỗ trợ tài chính, rồi cung cấp tin tình báo để chúng tôi tiến vào và nhổ tận rễ. Chúng tôi thường đánh vào buổi sáng sớm, đạp bay cánh cửa, đột nhập vào nhà và tóm gọn hắn ta trước khi hắn có cơ hội ra khỏi giường.

Việc này kéo dài trong khoảng một tháng. Đến giờ, những cuộc chiến đấu trực tiếp đó đã trở thành một nếp cũ rích; tình hình ở Baghdad ít nguy hiểm hơn ở Fallujah nhiều.

Chúng tôi sống ở gần sân bay quốc tế Baghdad (Baghdad International Airport hay gọi tắt là BIAP), và xuất quân từ đây. Một hôm, chỉ huy của tôi đến với nụ cười của một vị thủ trưởng.

“Cậu phải làm một vài việc vui vui, Chris ạ,” ông nói với tôi. “Cậu cần thực hiện một nhiệm vụ PSD nho nhỏ.”

Ông ấy dùng kiểu châm chọc của SEAL. PSD là viết tắt của “Personal Security Detail”, nghĩa là nhiệm vụ của vệ sĩ. Trung đội được giao nhiệm vụ đảm bảo an ninh cho các quan chức cấp cao của Iraq. Bọn phiến loạn đã bắt đầu bắt cóc họ, tìm cách lật đổ chính quyền. Đó là một kiểu công việc khá nhạt nhẽo. Cho đến tận bây giờ, tôi vẫn tìm cách để trốn tránh nó, nhưng hình như việc tránh né đã bị khui ra rồi. Tôi phải chuyển sang phía bên kia của thành phố và Vùng Xanh. (Green Zone là một khu vực ở trung tâm Baghdad đã được thành lập để tạo ra một vùng an toàn cho quân đồng minh và chính phủ mới của Iraq. Khu vực này được ngăn cách với phần còn lại của thành phố bởi các bức tường xi măng và dây thép gai. Chỉ có vài lối ra vào và những lối này đặt dưới sự kiểm soát nghiêm ngặt. Đại sứ quán của Mỹ và của các nước đồng minh cũng như các trụ sở của chính quyền Iraq đều được đặt ở đây.)

Tôi đã ở đó cả tuần.

Những người được gọi là quan chức cấp cao của Iraq nổi tiếng với việc không bao giờ tiết lộ cho đoàn hộ tống về lịch trình của họ hay cung cấp chi tiết những người dự kiến sẽ tháp tùng họ. Bảo đảm mức độ an ninh ở Green Zone là một vấn đề quan trọng.

Tôi hoạt động như “tiền trạm”. Nghĩa là tôi phải đi trước đoàn hộ tống chính thức, đảm bảo chắc chắn là tuyến đường đã an toàn và sau đó đứng ở trạm kiểm soát an ninh và nhận dạng cho các phương tiện của phái đoàn đi qua. Bằng cách này mà các xe của Iraq có thể đi qua các trạm kiểm soát một cách nhanh chóng mà không trở thành mục tiêu.

Một hôm, tôi đi tiền trạm cho một phái đoàn gồm có phó tổng thống của Iraq. Tôi đã kiểm tra các tuyến đường và đến một trạm kiểm soát của lực lượng Lính thủy đánh bộ bên ngoài sân bay.

Sân bay quốc tế Baghdad nằm ở phía bên kia của thành phố so với Green Zone. Trong khi những khu vực này an toàn thì những vùng xung quanh nó và đường cao tốc dẫn đến cổng sân bay vẫn thường có nổ súng. Đó là mục tiêu ưu tiên của bọn khủng bố, vì bọn phiến quân có thể xác định được bất cứ ai ra vào khu vực này đều ít nhiều dính dáng đến nguôi Mỹ hoặc chính quyền mới của Iraq.

Tôi liên lạc điện đài với một trong số mấy cậu lính trẻ của tôi trong đoàn xe hộ tống. Cậu ta đã cho tôi biết những chi tiết về người trong đoàn, chúng tôi có bao nhiêu xe, các vấn đề đại loại như vậy. Cậu ta cũng nói với tôi rằng chúng tôi có một chiếc xe Hummer quân sự dẫn đầu và một chiếc khóa đuôi, đó là những dấu hiệu đơn giản để tôi có thể theo sát được đoàn bảo vệ.

Đoàn xe hộ tống chạy vụt qua, chiếc Hummer dẫn đầu. Chúng tôi đếm các xe và kia, chiếc Hummer cuối cùng đi khóa đuôi.

Tất cả đều ổn.

Đột nhiên, có hai chiếc xe nữa xuất hiện phía sau đoàn theo kiểu bám đuổi ráo riết.

Đám Lính thủy đánh bộ nhìn tôi.

“Hai chiếc đó không phải do tôi phụ trách,” tôi nói với họ.

“Anh muốn chúng tôi làm gì bây giờ?”

“Dừng chiếc Hummer của các anh lại và nhắm khẩu .50 vào bọn chúng,” tôi hét lên, lôi khẩu M-4 ra.

Tôi nhảy ra đường, giơ súng lên, hy vọng sẽ khiến họ chú ý.

Nhưng bọn họ không dừng lại.

Phía sau tôi, chiếc Hummer đã dừng lại, và tay súng với súng đã nạp đạn và chốt mục tiêu. Nhưng không chắc là tôi có đang đối mặt với một vụ bắt cóc hay đó chỉ là những chiếc xe chạy lạc thôi, tôi bắn một phát súng cảnh cáo.

Những chiếc xe chuyển hướng và lao sang đường khác.

Một vụ bắt cóc đã được ngăn cản? Những tên đánh bom liều chết đã mất tinh thần?

Không. Hóa ra, đó là hai người bạn của vị phó tổng thống. Ông ấy đã quên nói cho chúng tôi về họ.

Ông ta không hài lòng chút nào. Ban chỉ huy của tôi cũng vậy. Tôi bị đuổi khỏi công việc PSD, điều này chẳng có gì là tệ, ngoại trừ việc sau đó tôi phải ngồi không cả tuần kế tiếp ở Green Zone.

Chỉ huy trung đội của tôi tìm cách đưa tôi trở lại những cuộc chiến đấu trực tiếp. Nhưng lãnh đạo cấp trên thì quyết định giữ tôi lại thêm chút nữa mà không giao cho việc gì. Đó là hình thức tra tấn tồi tệ nhất đối với một SEAL - đặt ra ngoài vòng chiến đấu.

Thật may họ không treo giò tôi quá lâu.

PHỐ HAIFA

Tháng mười hai năm 2005, Iraq đã tổ chức các cuộc bầu cử toàn quốc, đó là lần bầu cử đầu tiên kể từ khi chính quyền Saddam sụp đổ, và đó cũng là những cuộc bầu cứ tự do và công bằng đầu tiên được tổ chức từ trước đến nay trên đất nước Iraq. Bọn phiến quân tìm mọi cách để ngăn chặn những cuộc bầu cử này. Các công chức tổ chức bầu cử cả cánh tá lẫn cánh hữu đều bị bắt cóc. Những người khác thì bị hành quyết ngay trên đường phố.

Đấy là chỉ nói về khía cạnh tiêu cực của chiến dịch bầu cử.

Phố Haifa ở Baghdad là một nơi đặc biệt nguy hiểm. Sau vụ ba công chức tổ chức bầu cử bị giết ở đó, Lục quân đã phải cùng lên kế hoạch bảo vệ các công chức trong khu vực.

Chiến dịch huy động lính bắn tỉa làm nhiệm vụ canh gác.

Tôi là một tay súng bắn tỉa. Tôi luôn sẵn sàng. Thậm chí tôi không cần phải giơ tay xung phong.

Tôi đã tham gia vào một đơn vị quân đội của Lực lượng Vệ binh Quốc gia bang Arkansas (Arkansas National Guard), một tổ chức gồm toàn những chàng trai trẻ đều là các chiến binh.

Những người đã quen với sự tách biệt mang tính truyền thống giữa những quân chủng khác nhau có thể nghĩ thật bất thường khi một SEAL hợp tác với bên Lục quân hoặc với Lính thủy đánh bộ để thực hiện nhiệm vụ. Nhưng các lực lượng đó thường hợp đồng tác chiến tốt trong suốt thời gian tôi ở Iraq.

Bất kỳ một đơn vị nào đều có thể đưa ra một RFF (Request for Forces - yêu cầu bổ sung lực lượng). Sau đó, những yêu cầu này sẽ được đáp ứng bằng bất cứ nguồn lực quân dịch nào đang sẵn sàng. Do vậy, nếu một đơn vị cần những tay súng bắn tỉa, như họ đã yêu cầu trong trường họp này, bất kể quân chủng nào đang có sẵn những tay súng bắn tỉa sẽ phải điều quân đến đó.

Luôn có sự luân chuyển tới lui giữa các thủy thủ, bộ binh và lính thủy đánh bộ. Nhưng tôi thấy giữa các quân binh chủng khác nhau đều có sự tôn trọng lẫn nhau, ít nhất là trong chiến đấu. Đương nhiên, tôi thấy hầu hết những người lính thủy đánh bộ và bộ binh mà tôi đã tác chiến đều ưu tú.

Bạn đã thấy những trường hợp ngoại lệ, nhưng nếu vậy thì bạn cũng thấy cả những ngoại lệ ở Hải quân nữa.

Ngày đầu tiên tôi báo cáo về nhiệm vụ mới của mình, tôi nghĩ tôi cần một người phiên dịch. Vài người thích gièm pha về giọng nói vùng Texas của tôi, nhưng những giọng điệu này thật là vớ vẩn. Thông tin quan trọng xuất phát từ những sĩ quan cấp cao và sĩ quan bình thường vốn vẫn nói tiếng Anh phổ thông. Còn theo những gì tôi biết, đám lính trơn và những gã bậc trung sĩ nhập ngũ từ những miền xa xôi hẻo lánh có thể nói được cả tiếng Trung Quốc nữa ấy chứ.

Chúng tôi bắt đầu tác chiến trên đường phố Haifa, ngay gần nơi ba vị công chức tổ chức bầu cử đã bị giết. Lực lượng Vệ binh Quốc gia sẽ đảm bảo an ninh một tòa nhà để làm nơi ẩn náu. Sau đó tôi đến tòa nhà, chọn ra một căn hộ và dựng chốt tại đó.

Đường phố Haifa đương nhiên không phải là đại lộ Hollywood, nhưng nếu bạn là một gã tồi, nó sẽ hệt như vậy. Con phố chạy dài hơn ba cây số, từ cổng Assassin ở cuối Green Zone ngược lên phía Tây Bắc. Đó là hiện trường của hàng loạt những trận đánh và các cuộc đọ súng, tất cả các cuộc tấn công bằng thiết bị nổ IED, những vụ bắt cóc và những cuộc ám sát, bạn tha hồ kể về những chuyện như vậy đã xảy ra trên phố Haifa. Lính Mỹ đặt cho nó cái tên đại lộ Purple Heart[*].

Chu thich: Nguyên văn: “Purple Heart Boulevard”, nhái theo tên huân chương Purple Heart được trao cho binh sĩ Mỹ bị thương hoặc hy sinh.

Tòa nhà chúng tôi dùng để đặt các trạm canh gác là một tòa nhà cao khoảng mười lăm, mười sáu tầng và có tầm nhìn bao quát con đường. Chúng tôi di chuyển xung quanh để mở rộng hết mức có thể, và đổi vị trí liên tục để đám phiến quân không biết đâu mà lần. Có vô số chỗ ẩn náu trong những tòa nhà thấp phía sau đường cao tốc cạnh bên, từ đầu phố cho tới cuối phố. Những tên xấu xa đó không thể dễ dàng đi lại để tác chiến được.

Bọn phiến quân ở đây là một đám ô họp thật sự; vài tên là những Mujahideen[*], có những tên là cựu thành viên của đảng Baath hoặc của quân đội Iraq. Những tên khác trung thành với tổ chức al-Qaeda ở Iraq hoặc bọn Sadr hoặc là những tên cuồng tín ngớ ngẩn ngoài kia. Lúc đầu, bọn chúng mặc đồ màu đen và thỉnh thoảng quàng khăn màu xanh, nhưng khi nhận ra là trang phục khiến chúng tách biệt, chúng đã mặc quần áo dân thường như bao người khác. Chúng muốn trà trộn vào đám thường dân để chúng tôi khó phát hiện ra bọn chúng là ai. Chúng là những tên hèn nhát, những kẻ không chỉ núp sau phụ nữ và trẻ em, mà còn hy vọng chúng tôi sẽ bắn vào đám phụ nữ và trẻ em ấy, vì trong đầu chúng nghĩ rằng việc khiến chúng tôi trở nên tồi tệ hơn sẽ giúp cho sự nghiệp của bọn chúng.

Chu thich: Mujahideen là số nhiều của mujahid, chỉ người tham gia vào cuộc thánh chiến (jihad). Trước đây, nó chỉ những đơn vị quân sự kiểu du kích của các chiến binh Hồi giáo Afghanistan trong cuộc chiến của Liên Xô tại Afghanistan, nhưng đến nay nó thường được dùng để chỉ những lực lượng tham gia thánh chiến khác ờ nhiều quốc gia.

Một buổi chiều nọ, tôi theo dõi một đứa trẻ tuổi teen đang đợi xe buýt ngay con phố phía dưới tôi. Khi xe buýt đến, một nhóm teen lớn hơn một chút cùng những gã đàn ông trẻ xuống xe. Đột nhiên cậu bé mà tôi đang để ý đó quay đi và bước nhanh về hướng đối diện.

Nhóm người đuổi kịp cậu bé rất nhanh. Một trong số bọn chúng lôi ra một khẩu súng lục và tay hắn bóp nghẹt cổ cậu bé.

Ngay khi hắn vừa hành động tôi đã nổ súng. Đứa trẻ mà tôi bảo vệ đã được giải thoát. Tôi đã bắn được khoảng hai hay ba tên định bắt cóc cậu bé, còn những tên khác thì bỏ chạy.

Con cái của những công chức tổ chức bầu cử là một mục tiêu được ưa thích. Phiến quân thường sử dụng gia đình để gây áp lực buộc các công chức phải bỏ cuộc. Hoặc nếu không thì chúng sẽ giết chết các thành viên trong gia đình để cảnh cáo những người khác không được giúp chính quyền tổ chức bầu cử hoặc thậm chí là đi bỏ phiếu.

DÂM Ô VÀ SIÊU THỰC

Một tối, chúng tôi đóng trong một căn hộ mà chúng tôi nghĩ là bị bỏ hoang, vì khi chúng tôi đến nó trống trơn. Tôi đến thay phiên cho một tay súng bắn tỉa khác, và trong khi chưa đến phiên trực, tôi đã săn lùng xung quanh xem có gì tôi có thể dùng để ẩn nấp thoải mái hơn không.

Trong ngăn kéo để mở của một chiếc tủ, tôi thấy toàn là quần áo lót phụ nữ đầy khêu gợi. Những chiếc quần lót không có đũng, áo ngủ, những món đồ cực kỳ gợi tình.

Nhưng đó không phải là kiểu của tôi.

Thường có một sự pha trộn kỳ lạ, gần như là siêu thực, các thứ bên trong những tòa nhà, các món đồ dường như lạc lõng trong những tình huống tốt đẹp nhất. Như chiếc lốp xe chúng tôi tìm thấy trên mái nhà ở Fallujah, hoặc con dê chúng tôi tìm thấy trong phòng tắm của một căn hộ trên phố Haifa.

Hễ thấy cái gì là sau đó tôi lại mất cả ngày tự hỏi câu chuyện đằng sau đó là gì. Sau một thời gian, những điều kỳ dị xuất hiện như một việc tự nhiên.

Không có gì ngạc nhiên về những chiếc TV và chảo vệ tinh. Chúng xuất hiện khắp mọi nơi. Thậm chí cả trên sa mạc. Nhiều lần chúng tôi đột kích một khu định cư của dân du mục với những chiếc lều thay cho ngôi nhà mà tài sản chẳng có gì ngoài một cặp gia súc và mảnh đất bao la xung quanh. Nhưng họ vẫn có đầy những chiếc chảo vệ tinh của máy thu hình.

GỌI ĐIỆN VỀ NHÀ

Một tối, tôi đang trong phiên trực và mọi thứ rất yên tĩnh. Đêm ở Baghdad trôi đi chậm chạp như thường lệ. Bọn phiến quân thường không tấn công lúc này, bởi vì chúng biết rằng chúng tôi có lợi thế về mặt công nghệ, bao gồm những thiết bị nhìn trong bóng đêm và cảm biến hồng ngoại. Vì vậy, tôi nghĩ mình sẽ tranh thủ vài phút gọi điện về nhà cho vợ, chỉ để nói rằng tôi đang nhớ cô ấy.

Tôi lấy máy điện thoại vệ tinh ra và gọi về nhà. Hầu hết những lần trò chuyện với Taya, tôi đều nói với cô ấy là tôi đã trở lại căn cứ, mặc dù thực tế là tôi đang canh gác hoặc trên mặt trận nào đó. Tôi không muốn làm cô ấy lo lắng.

Đêm nay, vì lý do nào đó mà tôi lại nói với cô ấy là tôi đang làm việc.

“Vậy có nói chuyện được không?” cô ấy hỏi.

“Có chứ, mọi thứ đều ổn mà,” tôi trả lời. “Không có gì xảy ra cả đâu.”

Ôi, có lẽ tôi vừa nói thêm được hai hay ba câu nữa thì có kẻ nào đó bắt đầu bắn vào tòa nhà từ phía đường phố.

“Cái gì vậy?” cô ấy hỏi.

“Ô, không có gì đâu,” tôi nói một cách thờ ơ.

Tất nhiên, tiếng súng nổ dập dồn át cả những lời tôi nói.

“Chris?”

“Này, anh nghĩ là anh phải đi ngay bây giờ,” tôi nói với

cô ấy.

“Anh ổn chứ?”

“Ừ, anh ổn mà. Mọi thứ đều ổn cả,” tôi nói dối. “Không có chuyện gì xảy ra đâu. Nói chuyện với em sau nhé.”

Ngay sau đó, một phát đạn chống tăng RPG bắn vào phía ngoài bức tường ngay gần chỗ tôi. Một số mảnh vỡ của tòa nhà quất vào mặt tôi, để lại vài vết lằn đẹp đẽ và những hình xăm tạm thời nhờ bọn phiến quân.

Tôi vứt điện thoại xuống và bắn đáp trả. Tôi phát hiện một số tên ở dưới phố và bắn vào một hay hai tên gì đó; những tay súng bắn tỉa khác đang cùng chiến đấu với tôi đã hạ được một lũ trước khi những tên còn lại thoát khỏi đó.

Cuộc chiến kết thúc, tôi nhấc điện thoại lên. Máy đã hết pin nên tôi không thể gọi lại được nữa.

Công việc bận rộn trong suốt mấy ngày, đến tận hai hoặc ba hôm sau tôi mới có dịp gọi lại cho Taya để hỏi xem cô ấy thế nào.

Cô ấy đã bật khóc ngay khi trả lời điện thoại của tôi.

Hóa ra là tôi đã chưa tắt hẳn điện thoại trước khi đặt nó xuống. Cô ấy đã nghe hết toàn bộ cuộc đấu súng, toàn bộ tiếng súng và những lời chửi rủa, trước khi điện thoại cuối cùng cũng hết pin. Tất nhiên, nó hết pin đột ngột, càng làm tăng thêm mối lo lắng của cô ấy.

Tôi cố tìm cách trấn an Taya, nhưng tôi không tin những gì tôi nói thực sự xoa dịu tâm trí cô ấy.

Cô ấy là người có tinh thần độ lượng, luôn khăng khăng rằng tôi không cần phải giấu cô ấy bất cứ điều gì. Cô ấy khẳng định rằng trong trí tưởng tượng của cô ấy đầy những thứ tồi tệ hơn bất cứ điều gì thực sự có thể xảy ra với tôi.

Tôi không biết điều đó.

Trong các đợt dàn quân, mỗi khi trận đánh tạm lắng xuống, tôi lại gọi vài cuộc về nhà. Tình hình chiến sự nói chung vẫn căng thẳng và diễn ra không ngừng nên cũng không có cách nào khác. Nếu đợi đến khi tôi quay trở lại doanh trại mới gọi điện có nghĩa là tôi phải chờ đến một tuần hoặc hơn. Chừng nào có thể gọi được thì tôi sẽ gọi luôn lúc ấy, nhưng nó cũng khá phập phù.

Tôi đã quen với những trận chiến. Bị bắn trả cũng chỉ là một phần công việc. Một phát đạn chống tăng RPG ư? Hệt như một ngày nữa ở văn phòng.

Cha tôi có kể một câu chuyện, về một hôm, sau một thời gian dài tôi không gọi về, ông nghe giọng nói của tôi đúng lúc tôi đang tác chiến. Ông nhấc điện thoại lên và ngạc nhiên khi nghe thấy giọng tôi.

Ông còn càng ngạc nhiên hơn nữa khi thấy tôi đang thì thầm.

“Chris, tại sao giọng con lại thì thào như vậy?” ông hỏi.

“Con đang thi hành nhiệm vụ bố ạ. Con không muốn bọn chúng biết con đang ở đâu.”

“Ồ, thế à,” ông trả lời, giọng run run.

Tôi không chắc là mình đang ở gần kẻ thù đến mức chúng có thể nghe thấy điều gì đó, nhưng cha tôi thề là chỉ vài giây sau đó có tiếng súng nổ xa xa.

“Con phải đi đây,” tôi nói, trước khi ông có cơ hội phát hiện ra âm thanh đó là gì. “Con sẽ gọi lại cho bố sau.”

Theo lời của cha tôi, hai ngày sau tôi đã gọi lại để xin lỗi vì đã ngắt máy đột ngột. Khi ông hỏi có phải ông đã nghe thấy tiếng nổ bắt đầu trận đánh không, thì tôi lảng sang chuyện khác.

XÂY DỰNG NỀN DÂN CHỦ ĐẠI DIỆN

Đầu gối của tôi vẫn còn đau từ đợt bị kẹt dưới đống gạch đổ nát hồi ở Fallujah. Tôi đã thử tiêm cortisone[*] nhưng không đỡ. Tôi không muốn bị đẩy vào tình huống khó khăn: tôi sợ bị loại khỏi cuộc chiến vì chấn thương của mình.

Chu thich: Cortisone dùng để tiêm thường bao gồm một loại thuốc corticosteroid và gây tê cục bộ. có thể giúp giảm đau và viêm trong một khu vực cụ thể của cơ thể, phổ biến nhất ở các khớp như: mắt cá chân, khuỷu tay, hông, đầu gối, cột sống, vai và cổ tay.

Thỉnh thoảng, tôi dùng thuốc Motrin[*] và chườm đá; đó là những gì tôi đã làm. Trong lúc chiến đấu, tất nhiên tôi cảm thấy ổn, khi đó adrenaline tăng lên và bạn không cảm thấy gì hết.

Chu thich: Motrin là một thuốc giảm đau kháng viêm, được sử dụng để giảm sốt, hỗ trợ giảm đau khi đau răng, và với cả tiểu thương tích.

Ngay cả phải chịu đau, tôi vẫn thích những gì tôi đang làm. Có thể chiến tranh thực sự chẳng hay ho gì, nhưng tôi thực sự thích thú nó. Nó phù hợp với tôi.

Đến lúc này, tôi đã có một chút tiếng tăm về bắn tỉa. Tôi có nhiều kỹ năng đã được khẳng định. Đến giờ, số lượng quân địch bị tôi tiêu diệt thực sự là một con số đáng kể, dù đạt được trong một thời gian ngắn ngủi như vậy, hay trong bất cứ thời gian nào dài hơn thế.

Ngoại trừ những người trong cùng đội với tôi, mọi người thực sự không biết mặt hay biết tên tôi. Nhưng cũng có những lời đồn đại đây đó, và sự có mặt của tôi ở đây đã làm tăng thêm cho danh tiếng đó.

Có vẻ như ở đâu tôi cắm chốt, tôi đều có một mục tiêu. Điều này bắt đầu khiến cho những tay súng bắn tỉa khác thấy bực mình, bọn họ có thể mất cả ca trực hoặc thậm chí cả ngày mà không thấy ai cả, chứ đừng nói là thấy một tên phiến quân nào.

Một hôm, Smurf, một đồng đội SEAL của tôi, theo sau tôi khi vào một căn hộ.

“Anh định cắm chốt ở đâu?” cậu ta hỏi.

Tôi quan sát xung quanh và tìm ra một địa điểm mà tôi nghĩ là thuận lợi nhất.

“Ngay kia thôi,” tôi nói với cậu ta.

“Tốt. Biến ra chỗ khác đi. Tôi sẽ lấy chỗ đấy.”

“Này, cậu cứ lấy chỗ đó đi,” tôi nói với cậu ta. Tôi đi ra và tìm được một chỗ khác, và ngay lập tức hạ được một tên từ đấy.

Có một dạo, có vẻ như bất cứ việc tôi làm đều không quan trọng, mọi việc cứ diễn ra ngay trước mắt tôi. Tôi không tạo ra các sự cố, tôi có các nhân chứng cho tất cả những vụ nổ súng của tôi. Có thể là tôi nhìn xa hơn một chút so với mọi người, có thể tôi lường trước được những rắc rối tốt hơn người khác. Hay hơn hết cả, tôi chỉ gặp may mà thôi.

Bị cho là một mục tiêu đối với những kẻ muốn giết mình cũng có thể được coi là may mắn.

Một lần, chúng tôi đang ở trong một ngôi nhà trên phố Haifa, nơi chúng tôi có quá nhiều tay súng bắn tỉa đến mức chỉ có một nơi duy nhất có thể nấp và bắn ra là một chiếc cửa sổ nhỏ phía trên nhà vệ sinh. Tôi đã phải đứng suốt cả buổi.

Thế mà tôi vẫn hạ được hai tên.

Tôi chỉ là một tên khốn may mắn mà thôi.

Một hôm, chúng tôi nhận được tin tức tình báo cho biết bọn phiến quân đang sử dụng một nghĩa trang bên rìa thành phố gần Doanh trại Độc lập ở sân bay làm nơi cất giấu vũ khí và chuẩn bị cho các cuộc tấn công. Cách duy nhất tôi có thể quan sát được nơi đó là leo lên trên chiếc cần cẩu rất cao. Khi leo lên tới đỉnh, tôi phải bước ra một chỗ đứng làm bằng lưới mỏng.

Tôi không biết tôi đã leo lên cao được bao nhiêu. Tôi không hề muốn biết. Độ cao không phải là thứ tôi ưa thích, chỉ nghĩ về nó thôi đã làm tôi thọt dái lên cổ rồi.

Chiếc cần cẩu đã cho tôi một vị trí quan sát nghĩa trang thật tuyệt vời, chỉ cách chỗ tôi khoảng hơn 700 mét.

Tôi chưa bao giờ bắn từ vị trí như thế. Tôi không nhìn thấy bất cứ cái gì khác ngoài những người khóc lóc và những đám tang. Nhưng nó cũng đáng để thử.

Ngoài việc tìm kiếm những tên mang bom nổ tự tạo, chúng tôi còn phải canh chừng chính những quả bom nữa. Chúng ở khắp mọi nơi, có khi ở ngay trong các tòa nhà chung cư nữa. Một buổi chiều nọ, một đội đã thoát được trong gang tấc khi vụ nổ bùng lên, tòa nhà đổ sập xuống ngay sau khi họ vừa rời khỏi tòa nhà.

Lực lượng Vệ binh sử dụng loại xe Bradley để rà soát xung quanh. Chiếc Bradley trông hơi giống xe tăng, vì nó cũng có một tháp pháo và súng ở trên đầu, nhưng thực chất nó là một xe vận tải cá nhân và phương tiện trinh sát, tùy thuộc vào cấu hình của nó.

Tôi cho rằng chiếc xe được thiết kế để chứa sáu người bên trong. Chúng tôi vẫn cứ cố nhồi nhét khoảng tám đến mười người. Trong đó rất nóng, ngột ngạt và cuồng cẳng. Nếu không ngồi cạnh bệ pháo, bạn không tài nào nhìn thấy cái gì hết. Bạn bị xóc lên xóc xuống và cứ ngồi đợi đến chỗ nào được xuống xe.

Một hôm, chiếc Bradley đến đón chúng tôi sau khi hoàn thành nhiệm vụ. Chúng tôi vừa mới rời khỏi Haifa để đi vào phố bên cạnh, đột nhiên có tiếng nổ bùm. Chúng tôi đã va phải một thiết bị nổ IED to tướng. Phía sau xe bị tung lên cao rồi dội mạnh xuống. Trong xe khói bay mù mịt.

Tôi có thể thấy anh chàng đối diện tôi miệng mấp máy, nhưng tôi không thể nghe thấy một từ nào: vụ nổ đã làm ù cả hai tai tôi.

Điều tiếp theo tôi biết là chiếc Bradley lại tiếp tục di chuyển. Thật là kiên cường. Trở về đến căn cứ, viên chỉ huy nhún vai coi thường.

Ông ta nói, “Thậm chí nó còn chẳng làm lũ chúng mày trật bánh.” Giọng ông có vẻ đầy thất vọng.

Nói thì có vẻ sến sáo, nhưng đúng là như vậy, tình bạn được trui rèn trong chiến tranh. Và rồi hoàn cảnh đã thay đổi bất ngờ. Tôi trở thành bạn thân với hai người trong đơn vị của Vệ binh, những người bạn tốt thực sự; tôi tin tưởng họ trọn đời.

Hôm nay tôi không thể tiết lộ tên của họ vì cuộc đời tôi phụ thuộc vào điều đó. Tôi thậm chí còn không chắc rằng có thể mô tả họ theo cách nào đó để chỉ cho bạn biết tại sao họ lại đặc biệt như vậy.

Tôi và những chàng trai đến từ Arkansas có vẻ rất hợp nhau, có thể bởi chúng tôi đều là những chàng trai vùng quê.

Vâng, họ đều là những người miền núi. Họ cũng là nông dân như tôi, rồi họ cũng có giọng nói bị coi là sinh vật lạ nữa.

TIẾP DIỄN

Cuộc bầu cử đã diễn ra và kết thúc.

Truyền thông ở Mỹ đưa tin rầm rộ về cuộc bầu cử của chính phủ Iraq, nhưng nó là một sự kiện không có kết cục như dự kiến đối với tôi. Thậm chí hôm đó tôi còn không ra ngoài; tôi biết tin về nó trên ti vi.

Tôi không bao giờ tin rằng người Iraq sẽ biến đất nước họ trở thành một nền dân chủ có khả năng vận hành thực sự, nhưng tôi nghĩ đến một lúc nào đó nó sẽ có cơ hội. Tôi biết tôi không tin là nó đến ngay bây giờ. Đó là một đất nước đầy rẫy tham nhũng.

Nhưng tôi không mạo hiểm cuộc đời tôi để mang lại nền dân chủ cho Iraq. Tôi đã mạo hiểm mạng sống của mình cho những người thân thiết, để bảo vệ bạn bè và những người đồng xứ sở với tôi. Tôi tham gia cuộc chiến vì đất nước tôi, chứ không phải vì Iraq. Đất nước tôi đã cử tôi đến đây, vì vậy, những điều nhảm nhí không được phép tìm đường cập bến bờ nước Mỹ.

Tôi chưa từng một lần chiến đấu vì những người Iraq. Tôi thậm chí còn có thể chửi bỏ mẹ tất cả bọn họ.

Một thời gian ngắn sau cuộc bầu cử, tôi được điều động trở lại trung đội SEAL của mình. Thời gian còn lại của chúng tôi ở Iraq ngắn dần và tôi bắt đầu mong đợi được trở về nhà.

Khi đóng trong doanh trại ở Baghdad, tôi có một phòng nhỏ của riêng mình. Tư trang của tôi chất đầy trong bốn hay năm chiếc va li chuyên để di chuyển, hai chiếc lớn hiệu Stanley có bánh xe, còn lại là những chiếc ba lô. (Va li chuyên dụng là kiểu dáng hiện đại của chiếc hòm vẫn đặt cuối giường ở ký túc xá hay doanh trại; nó không thấm nước và dài khoảng 90 cen ti mét.) Khi chuyển quân, chúng tôi mang đồ rất nặng.

Tôi cũng có một chiếc ti vi. Và tất cả những bộ phim mới nhất đều là các đĩa DVD lậu bản quyền bán trên các đường phố của Baghdad với giá năm đô la. Tôi đã mua một bộ đủ các phim về James Bond, một số phim của Clint Eastwood, John Wayne, tôi rất thích phim của John Wayne, đặc biệt là những bộ phim cao bồi của ông, tôi nghĩ nó rất có ý nghĩa. Tôi cũng rất thích bộ phim Rio Bravo.

Ngoài phim ảnh tôi còn dành thời gian chơi trò chơi điện tử, Command and Conquer trở thành trò chơi điện tử ưa thích của tôi. Smurf có một bộ PlayStation, chúng tôi cùng chơi trò Tiger Woods.

Tôi đã thắng cậu ta.

THAM CHIẾN TRỰC TIẾP, MÁY BAY LÊN THẲNG VÀ ĐỘ CAO

Khi tình hình Baghdad ổn định, ít nhất trong thời điểm này, ban chỉ huy quyết định mở một căn cứ của SEAL tại Habbaniyah.

Habbaniyah cách Fallujah của tỉnh Anabar khoảng 20 ki lô mét về phía Đông. Đó không phải là nơi thuận lợi cho bọn phiến quân như ở Fallujah, nhưng đó cũng không phải là San Diego. Đó là vùng mà trước cuộc Chiến tranh Vùng Vịnh lần thứ Nhất, Saddam đã xây dựng các nhà máy hóa chất để hỗ trợ việc sản xuất vũ khí hủy diệt hàng loạt, như khí độc thần kinh và các tác nhân hóa học khác. Không có nhiều người ủng hộ Mỹ ở đó.

Dù đã có một căn cứ của Lục quân Mỹ được điều hành bởi Trung đoàn 506 nổi tiếng, còn được gọi là Band of Brothers. Họ chỉ vừa mới chuyển quân từ Hàn Quốc đến, và nói một cách lịch sự thì họ chẳng biết quái gì về Iraq cả. Tôi đồ rằng mọi người phải tìm hiểu một cách rất khó khăn.

Habbaniyah hóa ra là một khu vực khó nhằn thực sự. Chúng tôi được giao cho một tòa nhà bỏ hoang, nhưng nó chẳng có gì phù hợp với thứ mà chúng tôi cần. Chúng tôi phải thiết lập một TOC (Tactical Operation Command - Tư lệnh Hành quân Chiến thuật) để chứa tất cả các máy tính và hệ thống thiết bị chỉ huy hỗ trợ chúng tôi làm nhiệm vụ.

Tinh thần của chúng tôi sa sút. Chúng tôi sẽ không làm được bất thứ thứ gì có ích cho cuộc chiến; chúng tôi đang làm việc như những tay thợ mộc. Đó là một nghề cao quý, nhưng không phải là nghề của chúng tôi.

TAYA:

Trong đợt dàn quân lần này, các bác sĩ đã kiểm tra, và vì lý do nào đó đã nghĩ Chris mắc bệnh lao. Các bác sĩ đã nói với Chris rằng cuối cùng anh ấy có thể sẽ chết vì căn bệnh này.

Tôi nhớ là đã nói chuyện với Chris ngay sau khi anh ấy biết tin này. Anh coi đó như một định mệnh. Anh đã chấp nhận rằng mình sẽ chết và anh muốn chết ở đó chứ không phải chết ở nhà vì một căn bệnh mà anh không thể đánh lại bằng một khẩu súng hay nắm đấm của mình.

“Không sao đâu,” anh nói với tôi. “Anh sẽ chết và em sẽ tìm được một người khác. Lúc nào mà ở đây chẳng có người chết. Những người vợ của họ vẫn tiếp tục sống và tìm người khác thôi.”

Tôi cố giải thích với anh ấy rằng đối với tôi anh là một người không ai có thể thay thế được. Khi điều đó có vẻ chẳng làm anh ấy bận tâm, tôi đã thử tìm một lý do khác có giá trị tương tự. Tôi nói với anh, “Nhưng anh còn có con trai của chúng ta nữa mà.”

“Thế thì sao nào? Em sẽ tìm người khác và người đó sẽ nuôi dạy con mà.”

Tôi nghĩ anh ấy coi cái chết quá đỗi bình thường đến mức anh ấy bắt đầu tin rằng ai cũng có thể thay thế được.

Điều đó làm tim tôi tan nát. Anh ấy thực sự tin điều đó. Tôi ghét nghĩ như vậy.

Anh ấy cho rằng chết trên chiến trường là vĩ đại nhất. Tôi cố nói với anh theo một cách khác, nhưng anh ấy không chịu tin.

Các bác sĩ kiểm tra lại lần nữa và Chris không hề nhiễm bệnh. Nhưng thái độ của anh với cái chết vẫn không thay đổi.

Khi doanh trại đi vào ổn định và chúng tôi bắt đầu thực hiện nhiệm vụ chiến đấu trực tiếp. Chúng tôi đã được thông báo tên và vị trí của một tên phiến quân bị tình nghi, đánh thẳng vào nhà hắn giữa đêm, rồi quay trở lại và trao trả hắn cùng bất cứ bằng chứng nào chúng tôi thu thập được tại DIF (Detention and Interogation Facility - Phòng Giam giữ và Thẩm vấn), thực tế là một nhà tù.

Chúng tôi chụp ảnh trên đường đi. Chúng tôi không ngắm cảnh; chúng tôi đang bảo vệ chính những cái mông của chúng tôi, và quan trọng hơn nữa là bảo vệ mông các chỉ huy của chúng tôi nữa. Những bức ảnh chứng tỏ rằng chúng tôi không đánh đập hắn te tua.

Hầu hết những hoạt động đó đã trở thành nếp, không có rắc rối gì nhiều và hầu như không có sự kháng cự nào. Dẫu vậy có một đêm, một trong số người của chúng tôi đột nhập vào một căn nhà, nơi một tay súng Iraq lực lưỡng không chịu đi theo chúng tôi một cách ngoan ngoãn, hắn đã chống cự quyết liệt.

Bây giờ, nhìn từ góc độ của chúng tôi, một tay SEAL đã đá hắn ta đến vãi đái. Còn nhìn theo điều trần của SEAL, hắn ta bị trượt chân ngã nhưng không đến mức nguy hiểm.

Tôi nghĩ các bạn có thể diễn giải nó theo bất cứ cách nào mình muốn. Tất cả chúng tôi xông vào và tóm cổ tên béo phị đó trước khi hắn có thể gây ra nhiều tổn thất. Anh bạn béo của chúng ta bị gãy xương sườn vì “cú ngã”.

Trong hầu hết những nhiệm vụ này, chúng tôi đều có ảnh của kẻ xấu mà chúng tôi phải xử lý. Trong trường họp đó, phần nhiệm vụ của bộ phận tình báo thường tương đối chính xác. Kẻ tình nghi hầu như luôn ở đúng nơi tình báo phán đoán, và mọi việc diễn ra theo như kế hoạch chúng tôi đã vạch ra.

Nhưng có vài trường hợp diễn ra không mấy thuận lợi. Chúng tôi bắt đầu nhận ra rằng nếu chúng tôi không có một bức ảnh, bộ phận tình báo sẽ nghi ngờ về nghi phạm. Khi biết người Mỹ sẽ bắt kẻ bị tình nghi, bọn người ấy sẽ sử dụng mánh lới để làm dịu mối bất bình hay thù địch. Họ sẽ nói với bên Lục quân hoặc cơ quan có thẩm quyền nào đó, để xóa tội và đòi thả một kẻ đang giúp bọn phiến quân hoặc phạm vào tội ác nào đó.

Những kẻ mà chúng tôi bắt giữ đương nhiên cảm thấy việc này quá vãi, nhưng tôi không cố giải quyết công bằng vốn chỉ làm rối mọi việc lên. Đó chỉ là một ví dụ nữa để thấy rằng đất nước này hỗn loạn đến mức nào.

LẦN THỨ HAI PHÁN ĐOÁN

Một hôm, Lục quân yêu cầu một lính bắn tỉa canh gác cho đoàn xe hộ tống 506 sắp đến căn cứ.

Tôi đi cùng với một nhóm nhỏ và chúng tôi chiếm một tòa nhà ba hay bốn tầng gì đó. Tôi lập chốt ở tầng trên cùng và bắt đầu quan sát toàn khu vực. Ngay sau đó đoàn hộ tống đổ vào phố. Trong khi tôi đang theo dõi khu vực đó, một gã đàn ông xuất hiện từ một tòa nhà bên đường và bắt đầu thận trọng tiếp cận về hướng đoàn hộ tống đang tiến vào. Hắn có một khẩu AK.

Tôi bắn hắn. Hắn gục xuống.

Đoàn hộ tống tiếp tục đi qua. Một toán người Iraq khác xuất hiện và tụ tập xung quanh gã vừa bị tôi bắn, theo quan sát của tôi thì không ai có bất cứ hành động nào đe dọa đối với đoàn hộ tống hoặc trông có vẻ đang trong tư thế tấn công, nên tôi đã không nổ súng.

Vài phút sau, tôi nghe trên điện đài rằng Lục quân đang cử một đơn vị đến đó để điều tra tại sao tôi lại bắn hắn ta.

Hả?

Tôi đã nói với chỉ huy Lục quân qua điện đài về những gì xảy ra, nhưng tôi lại quay lại điện đài và nhắc lại việc đó. Tôi rất ngạc nhiên, họ đã không tin tôi.

Một chỉ huy xe tăng xuất hiện và phỏng vấn vợ của người đàn ông đã chết. Bà ta nói với họ rằng chồng mình đang trên đường đến nhà thờ với một cuốn kinh Koran trên tay.

Ừm. Câu chuyện thật nực cười, nhưng viên sĩ quan mà tôi đoán là ở Iraq chưa được bao lâu, đã không tin tôi. Những người lính bắt đầu nhìn xung quanh để tìm khẩu súng, nhưng lúc đó có quá nhiều người ở đó, nên khẩu súng đã biến mất từ lâu.

Vị chỉ huy xe tăng đã chỉ vào vị trí của tôi rồi hỏi người phụ nữ. “Có phải đạn xuất phát từ đây không?”

“Đúng, đúng,” người phụ nữ nói, tất nhiên bà ta không biết tiếng súng phát ra từ đâu, bởi bà ta không hề có mặt ở bất kỳ chỗ nào gần đó cả. “Tôi biết anh ta ở Lục quân vì anh ta mặc đồng phục của Lục quân mà.”

Bây giờ, tôi ở sâu trong phòng với một màn hình trước mặt, mặc áo khoác màu xám trùm lên áo giáp SEAL. Có thể vì bà ta bị ảo giác trong nỗi đau, hoặc có thể bà ta chỉ nói bất kỳ điều gì mà bà ta nghĩ là sẽ làm tôi đau đớn.

Chúng tôi được lệnh trở lại căn cứ và toàn trung đội tạm dừng hoạt động. Người ta nói tôi chưa “sẵn sàng thực thi nhiệm vụ”, tôi bị tạm giữ trong căn cứ trong khi đoàn 506 tiếp tục điều tra vụ việc.

Viên đại tá muốn thẩm tra tôi. Có sĩ quan của tôi đi cùng.

Tất cả chúng tôi đều tức giận. Quy tắc Tham chiến đã được tuân thủ; tôi có đầy người làm chứng. Chính bọn họ là lũ “điều tra viên” của Lục quân đã chơi tôi.

Tôi không thể ngậm miệng được. Lúc đó, tôi đã nói với viên đại tá Lục quân, “Tôi không bắn những người cầm kinh Koran, dù tôi rất muốn làm thế, nhưng tôi không làm.” Tôi nghĩ mình đã hơi nóng nảy.

Rồi sau đó ba ngày, chỉ có Chúa mới biết có bao nhiêu “vụ điều tra” khác nữa, rốt cuộc Chúa cũng nhận ra rằng đó là một vụ hạ thủ đáng giá và bỏ qua sự việc. Nhưng khi ban chỉ huy yêu cầu làm thêm nhiệm vụ canh chừng, chúng tôi đã bảo họ biến mẹ nó đi.

“Cứ mỗi lần tôi bắn ai đó, các anh sẽ chỉ xét xử rồi hành quyết tôi,” tôi nói. “Không đời nào.”

Dù sao, chỉ còn khoảng hai tuần nữa chúng tôi sẽ được trở về nhà. Ngoài vài vụ chiến đấu trực tiếp, tôi dành phần lớn thời gian đó chơi game, xem phim con heo và tập luyện.

Tôi hoàn thành đợt triển khai quân lần đó với số lượng đáng kể những kẻ được xác nhận là bị tiêu diệt vì bắn tỉa. Hầu hết đều là ở Fallujah.

Carlos Norman Hathcock II, tay súng nổi tiếng nhất trong giới bắn tỉa, một huyền thoại thực sự và là một người tôi rất ngưỡng mộ, có tới 93 mạng được xác nhận là do ông giết suốt ba năm chiến đấu trong Chiến tranh Việt Nam.

Tôi không nói là tôi cùng đẳng cấp với ông ấy, trong thâm tâm tôi, ông luôn luôn và mãi là tay súng bắn tỉa vĩ đại nhất từ trước tới nay, nhưng chí ít về mặt con số đơn thuần, tôi đã tiến gần đến mức để mọi người bắt đầu thấy rằng tôi đã làm tốt việc này.

« Lùi
Tiến »