Những ngày làm việc ở Đài Kiểm-soát phi trường tôi có thật nhiều thì giờ rảnh rỗi. Làm việc một ngày rồi nghỉ hai ngày. Những ngày đầu tiên phải làm việc một ngày hai mươi bốn giờ, tôi mệt lắm. Những ngày được nghỉ tôi chỉ ngủ.. Ngủ quên cả ăn… Ngủ li bì, đến nỗi những thằng nằm cùng phòng với tôi, tưởng tôi sắp chết. Lúc chúng nó đi làm về tiếng ồn ào đánh thức tôi dậy, nhưng cái mệt mỏi vẫn giữ tôi lại ở giấc ngủ nửa chừng. Tôi nghe rõ cả những tiếng xì xào nho nhỏ.
– Từ sáng tới giờ mà nó chưa dậy hay là nó ” ngỏm ” rồi?
Tôi cựa mình, xoay mặt vào tường để cho chúng nó biết rằng tôi vẫn còn có thể hưởng thụ được tứ khoái. Chiếc giường sắt kêu cót két. Một bàn tay nhè nhẹ sờ lên trán tôi. Tôi hơi cảm động, mở mắt nhìn :
– Mấy giờ rồi mầy?
– Mười hai giờ rồi đấy, con trai ạ…
Tôi uể oải ngồi dậv, đúng lúc tiếng còi hụ rú lên trên nóc hồ mrớc, báo hiệu giờ tan sở. Tôi chớp mắt, nhếch mép cười:
– Đỡ được mấy chục tiền ăn sáng.
Mấy thằng ở càng phòng với tôi reo ầm lên… Thì ra, từ nãy tới giờ, chúng nó tưởng tôi đau nặng nên đi lại rón rén, nói chuyện thì thầm… Bây giờ, chúng nó mới được cười lớn đề xả hơi :
– Sư mầy, ông tưởng mầy chết ông lại phải dọn sang phòng khác ngủ. Mầy còn sống, ông đã sợ mầy rồi, thì chắc lúc mầy chết, mầy phải ghê gớm lắm.
Rồi mấy đứa xúm lại, nói chuyện về những thằng bạn đã chết. Có nhiều chuyện chúng nó phịa. Như thằng Thắng kể về chuyện thằng Hưng, cái thằng trưởng xưởng, lái “tracteur” húc đầu vào cửa sắt, bị cái cửa sắt đập ngược trở lại vỡ ngực, chỉ ngáp được có vài cái, ưỡn mình lên, đi một đường về bên kia thế giới. Tiếng thằng Thắng hạ thấp hẳn xuống, cố làm ra vẻ bí mật:
– Một hôm tao trực đêm ỏ hăng-ga, nửa đêm, thấy tiếng xe chạy, tao lấy làm lạ, mở cửa ra ngoài thì thấy thằng Hưng lái xe “tracteur” chạy vù vù. Nó lại còn nhìn tao cười. Tao định vẫy nó đứng lại để bắt tay nó một cái thì nó biến mất… Chiếc “tracteur” đậu chình ình ở giữa hăng-ga, máy vẫn còn nổ, tao phải tắt máy rồi mới đi ngủ.
Tôi không thể tin được cái câu chuyện khó tin ấy, nhưng vẫn thấy lòng nôn nao một cách lạ. Khuôn mặt của thằng Hưng vừa thoáng hiện trong tôi. Tôi nhớ lại một buổi trưa đầy nắng trên sân đậu phi cơ khu trục. Nắng làm bốc hơi mặt nhựa, cuồn cuộn dâng lèn nhè nhẹ. Ngồi trên lầu gương nhìn xuống, tôi thấy mấy thằng hạn đang đùa rỡn trước cửa hăng-ga. Trên nóc hăng-ga, chiếc ống gió nằm yên ủ rủ như tương tư những chiều gió lộng thổi. Màu trắng, đỏ loang lổ. Chợt tiếng chuông điện thoại reo vang. Tôi uể oải cầm lên:
– Bốn chiếc Phụng-Hoàng xám, biệt phái đi Pleiku. Xin dùm điều kiện khí tượng quãng đường Biên-Hoà – Pleiku. Sẽ cho người tới lấy lúc hai giờ. Làm giùm cả phi chương nhé. Nếu khí tượng tốt thì cho cất cánh với điều kiện khí tượng “trời quang”.
Tôi đặt máy điện thoại xuống rồi lại nhấc lên gọi về Saigon. Biên chép một lúc, mồ hôi toát ra ướt đầm lưng áo, ướt đầm cả hai bên nách. Chiếc ống gió vần nằm im.
Tôi giao việc lại cho thằng Trọng rồi xuống nhà đi tắm. Vòi nước ở mãi tận phia hăng-ga khu trục. Những thằng bạn đang đùa rỡn hồi nãy, chắc cũng vừa nhận được điện thoại, nên sửa soạn xông ra ngoài nắng, coi lại phi cơ trước khi cất cánh. Thằng Hưng ngồi lái chiếc “tracteur” kéo từ chiếc phi cơ từ hăng- ga ra ngoài sân đậu. Có tiếng gọi với theo :
– Cho tao quá giang với…
Những thẳng lính thành phố vẫn ngại đi bộ. Từ hăng-ga ra chỗ phi cơ đậu, chừng ba trăm thước, nhưng ngồi xe vẫn khoái hơn. Chúng nó bám vào xe “tracteur”, như những con nhặng xanh bám chặt lấy cục đường. Chiếc xe chạy trên vỉ sắt rào rào. Thả chúng nó xuống, thằng Hưng lái xe chạy về hăng-ga thì một thằng có lẽ vừa nằm ở đây ngủ trưa chợt thức dậy, chạy ra, tay còn xỏ thắt lưng quần:
– Cho tao ra ngoài sân đậu đi mầy…
Nó lạch bạch chạy ra xe với đôi giầy chưa kịp buộc dây. Đôi giầy bật lên, bật xuống, một chiếc muốn văng ra làm nó phải ngừng lại, co chân lên, ngón tay trỏ thò xuống khoanh một vòng quanh gót. Khi nó gần tới xe, thằng Hưng đạp thêm một tí “ga” cho xe vọt về đằng trước. Thằng kia vừa đuổi theo, vừa chửi:
– Mẹ mày, cho tao đi với. Đừng có làm khó…
Nhưng khi chạy gần lới xe, thằng Hưng lại đạp thêm một tí “ga” rồi ngoảnh mặt lại đằng sau cười. Tới lần thứ tư thì “sầm” một tiếng, chiếc xe tông mạnh vào cửa sắt. Chiếc cửa sắt cao vòi vọi tung lên nhưng bên trên còn vướng nhiều bánh xe nên đập ngược trở lại, quật gãy tay lái và đập dập ngực thằng Hưng. Nó chỉ còn có ngáp được mấy cái rồi máu trong mồm ứa ra. Tôi đang tắm, không kịp mặc quần áo, chạy vội ra. Những tiếng la thất thanh vang lên trong hăng-ga và loãng ra ở sân đậu. Lũ bạn bè chạy lại, phải khó nhọc lắm mới kéo được thằng Hưng ra ngoài.
Buổi trưa ngày hôm đó, tôi cầm “micro”, nói chuyện với tàu bay mà nước mắt chảy đầm đìa. Hưng học trên tôi một khóa ở trường thợ máy Rochefort. Nhưng về nước tôi “phản bội” nghề thợ máy, đi học cái nghề ngồi ở trên cao. Nhiều lúc thấy mình thật cô đơn. Tôi đã không chịu đựng nỗi cái nghề, mỗi khi đi làm việc về, dù rửa tay thật kỹ, hết một bánh xà-bông mà những kẽ móng tay vẫn còn đen thui. Tôi ghét cái không khí tù túng trong một cơ xưởng. Tôi thích đứng trên cao nhìn tất cả phi trường. Tôi càng thấy mình cô đơn hơn khi nhìn thấy không gian mà không thoát được ra ngoài. Những ngày trời mưa, mây xuống thấp dần, vây lấy tôi, mù mù một màu đục, những sợi mưa đan nhau, xiêng ngang, chạy dọc như một cái lưới, vây lấy tôi, trói chặt tôi lại bằng một cái chán nản và u ám, thê lương.
Ngày đó, Biên-Hòa còn rợp bóng cây cao su cổ thụ. Ban đêm, tiếng tắc kè vang vang đối đáp nhau, từ chỗ thật gần, rồi xa, thật xa… Những đêm thao thức, tôi nằm nghe cao su đổ lá ào ào, những chiếc lá khô đuổi nhau xào xạc trên mái tôn.
Mùa nắng, cỏ hoa lau trắng xóa phi trường. Gần cuối mùa nắng, cỏ lau tàn tạ, lá cỏ xác xơ và chỉ cần một mồi lửa là phi trường bốc cháy, ngọn lửa thật cao. Tôi đã được hưởng cái sung sướng, của một kẻ châm mồi lửa vào đống cỏ khô. Lửa cháy, tôi đứng ngạo nghễ nhìn mà tưởng như mình là một bạo chúa, thiêu hủy cả một kinh thành. Lúc ngọn lửa từ từ nằm xuống, những đống tro đen nằm trải dài, lẫn màu với phi đạo lót bằng vỉ sắt PSP. Những buối tối, trèo lên Đài Kiểm Soát nhìn xuống, chỉ thấy một màu đen. Hai hàng đèn phi đạo như đôi riềm mi người con gái. Bên trái là rừng Tân-Phong tối mò.. Bên phải là sân đậu phi cơ, hai hàng phi cơ khu trục nằm yên lặng, bốn cái cánh chong chóng, cái thẳng đứng, cái nghiêng nghiêng nổi bật lên nền trời mờ mờ ánh sáng của khu Cứu hỏa đằng xa tít.
Về mùa mưa, những khoảng đất cháy đen như được rửa sạch. Màu đất đỏ ngời lên trên phi đạo Nam Bắc. Cỏ lại bắt đầu nhu nhú mọc. Vài ba con chó hoang chạy lầm lũi trong mưa, đuôi và tai cụp xuống, dáng ngơ ngác, thấy bóng người là lủi nhanh vào ống cống. Chiếc ống gió nằm trên nóc hăng-ga khu trục, quấn chặt vào cây trụ vì ướt nước mưa và vì gió đổi chiều luôn. Những ngày đó phi trường thật buồn. Sổ ghi hoạt động phi trường ít khi nào lên quá nửa trang giấy. Khi sân vỉ sắt loang loáng ướt nước mưa, chúng tôi thường có thói quen dặn tàu bay khi sắp chạm bánh xuống phi đạo : “Caution ! Runway is slippery !”…
Rồi tới những ngày về sau, tôi không thể nào ngủ được những giấc ngủ ban ngày. Chiếc nệm nằm trũng xuống ở giữa, hai bên nhô cao lên như ôm chặt lấy tôi. Mồ hôi dính nhem nhép ở lưng, ở cổ, ở nách, ở háng. Tôi xoay đủ kiểu nằm rồi đành phải dậy mặc quần áo, phóng xe về Sàigòn.
Cái thói quen về Sàigòn trong những ngày nghỉ, làm cho những ngày làm việc của tôi như dài ra. Về Sàigòn cũng chẳng làm gì.
Tôi đùa với lũ em, chơi chung với chúng nó tất cả những trò chơi lẩm cẩm. Đánh bi, đánh đáo, đánh “cát-tê” ăn búng tai. Nhìn ra ngoài cửa, tôi thấy một ông đi qua, đi lại hoài. Lũ em tôi bảo tôi:
– Đấy là ông liên gia trưởng.
Một ngày, tôi mất vài ba nụ cười duyên với ông Liên gia trưởng. Tôi làm việc một ngày, nghỉ hai ngày. Một tháng, tôi ở nhà đến hai chục ngày, thành ra tiêu phí rất nhiều nụ cười. Một ngày, ông Liên gia trưởng xông thẳng vào nhà tôi hỏi:
– Cậu ở trong nhà này ?…
– Dạ, thưa ông Liên gia trưởng, vâng ạ!
– Sao không thấy có tên trong sổ gia đình ?
Tôi vẫn lễ phép trả lời:
– Dạ, thưa ông Liên gia trưởng tôi ở xa mới về. Mà tôi tưởng rằng, việc hỏi sổ gia đình là việc của cảnh sát ?
Ông Liên gia trưởng hãm ngay nụ cười duyên. Cái thay đổi nét mặt của ông làm tôi lạnh người :
– Mà tôi có quyền… Cậu nhớ khai tên vào sổ gia đình. Mang cả thẻ kiểm tra, giấy khai sinh và bằng cấp lại nhà tôi, để còn làm giấy hợp lệ quân dịch.
Ngày hôm sau, tôi mặc quần áo lính, mang lon, đội mão tới trình diện… ông Liên gia trưởng. Lần này, tôi được hưởng một nụ cười toe loét chứ không phải nụ cười duyên như mọi hôm. Từ tiếng “cậu”, tôi đã được gọi bằng “ông”. Nhưng những cái đó đã làm cho tôi mất cái hứng đi về Sàigòn. Những ngày nghỉ, tôi nằm lại Biên-Hòa.
Chúng tôi, mấy thằng làm việc ở Lầu Gương đã rủ nhau dọn chung vào một phòng. Để ngủ cho yên tĩnh. Nhưng những giấc ngủ ban ngày vẫn đầy mộng mị. Tóc trên đầu đã lốm đốm vài ba sợi bạc. Những ngày tháng như rời ra, bóc đi một lờ lịch như bóc đi ở trong mình một ít tuổi trẻ. Nằm buồn, tôi ra ngoài đừng ngắm người ta đốn những gốc cao su cổ thụ. Mỗi cây cao su đổ xuống là cái chất hoang vu của Biên-Hòa lại bớt đi một ít. Tôi xúi những người lính Kiến Tạo :
– Ngồi nghỉ đã… Làm mẹ gì nhiều… Các cụ làm nhiều, cuối tháng có thêm được đồng lương nào không ?
Những người lính Kiến Tạo mỉm cười nhìn tôi. Tôi mỉm cười nhìn gốc cây cao su nham nhở vết búa. “Tao cố kéo dài đời sống cho mầy đấy!” Tôi bảo thầm với gốc cây như vậy, nhưng rồi lại thất vọng ngay khi thấy mấy người lính Kiến Tạo đứng vùng ngay dậy, vác búa chạy ra bổ vào gốc cây như điên. À thì ra ông trung sĩ Khỏe tới. Tôi thấy bực mình với cái thằng thường vụ này. Hắn nhìn tôi cười, mồm đầy răng vàng, phản chiếu ánh mặt trời chói mắt. Tôi hảo hắn:
– Nụ cười của cậu… sáng quá.
Hắn lại cười :
– Của để dành của tôi đấy, ông ạ.
Tôi chỉ hơn hắn có một lon nhưng mà hắn có vẻ kính trọng tôi đặc biệt. Hắn thấy những thằng “làm việc kỹ thuật” như chúng tôi lớn lắm. Lại còn đi Tây, đi Mỹ về. Nói chuyện với quan lớn, quan bé, không có một chút gì sợ sệt. Tôi thấy thương hắn. Tôi cũng chỉ là một loài cỏ. Như hắn, như mọi người… Dù cho có vươn lên cao hơn loài cỏ dại nhưng dù thành cỏ ống, cỏ hoa lau, cũng vẫn chỉ là loài cỏ.
Cây cao su đổ xuống thì cũng vắng đi tiếng tắc kè. Ban đêm, vắng hẳn tiếng gọi mấv thằng Bắc kỳ, Bắc kỳ… Bắc kỳ… Bắc kỳ… Chuyện khôi hài nhạt thếch của vài ba thằng răng sún. Có một ông vào làm phu đồn điền, buổi tối nghe tiếng tắc kè kêu, lấy làm ngạc nhiên: “quái, sao nó lại biết mình là Bắc kỳ mà nó gọi mình?”
Tiếng trung sĩ Khỏe :
– Chặt thêm mấy cây nữa, đủ khoảng trống để làm nhà che mấy cái máy phát điện.
Tôi bước, chầm chậm về phía Câu lạc bộ. Tiếng búa đuổi theo sau lưng rầm râp. Tôi ăn cơm vào lúc mười một giờ để lên thay phiên mười hai giờ cho thằng khác. Bữa cơm thật nhạt nhẽo. Ăn như cố tống cơm vào dạ đày. Thằng Trọng ngồi trước mặt tôi, cằn nhằn :
– Ngày thì ăn sớrn, ngày thì ăn muộn. Ngày thì ăn tới hai lần ăn sáng, ngày thì ngủ quên. Cứ cái sống như thế này, chẳng mấy chốc mà tao với mầy biết bay.
Tôi đặt bát cơm xuống bàn, nắn chỗ bắp thịt cánh tay. Không thấy một tí “con chuột” nào, mà chỉ thấy nhẽo nhèo nhèo như cái của quý của một con đĩ già. Thằng Trọng, trông lại càng thảm hại hơn. Lúc nó đứng làm việc, tay phải cầm “micro”, tay trái chống xuống mặt bàn, cái khuỷu tay cong vòng gập thành hình chữ V, làm cho tôi có cảm tưởng rằng chỉ cần đụng nhẹ cũng đủ gẫy. Nhìn cái cầu thang sâu hun hút, thằng nào cũng ngại leo lên và leo xuống. Mỗi lần đi tiểu, chúng nó đứng đằng sau đái tưới lên nóc nhà Ban Khí Tượng. Mái lợp “fibro”, chỗ tiếp giáp với Đài Kiểm Soát, rêu mọc xanh rì. Những thằng làm việc ở Ban Khí Tượng, rất khố sở khi nghe tiếng nước rơi lộp độp trong những trưa hè nắng chang chang. Những chiếc cầu vòng nước lung linh rơi trên mái dồn dập, tiếng động ở đằng sau lưng, ở trên đầu, rồi trước mặt, rồi ngắt quãng làm cho những thằng ngồi dưới muốn điên lên.
Buổi trưa, thường ít tàu bay. Từ mười hai giờ tới một giờ trưa, lác đác vài ba chiếc phi cơ về muộn, hối hả hạ cánh. Có nhiều phi công ăn cơm ở Câu lạc bộ, chỉ sợ về muộn, hết mất cơm, vừa hạ cánh đã quẹo ngay vào đường vận chuyển, chạy tất tả như mấy bà già nhà quê đuổi gà. Chiếc bánh đuôi gần như muốn nhấc lên khỏi mặt đất. Rồi từ khoảng một giờ, phi trường lại yên tĩnh cho tới hai giờ.
Cái thời gian một giờ ấy, thật quá ngắn cho một giấc ngủ trưa, nhưng lại thật dài cho một sự chờ đợi. Những cơn gió nóng bốc lên từ mặt đất. Tóc trên đầu khô quăn lại, tưởng như bẻ cũng gãy. Trọng ngồi chép sổ hoạt động phi trường. Tôi thì ngồi xếp lại những vỏ hoả pháo, xếp thành một chồng thật cao, lúc đổ xuống lại bắt đầu xếp lại. Trọng gấp cuốn sổ, than một câu thật cải lương:
– Thời gian như bóng câu qua cửa sổ… Chẳng mấy lúc mà già.
– Thôi mầy ! Câm mồm đi. Sao không lấy vợ đi? Lấy vợ rồi thấy thời gian đi lâu lắm. Nhất là những ngày cuối tháng.
Trọng trầm ngâm:
– Tao nhớ bốn câu thơ của Dương Khuê trong một hài hát nói nào đó:
“Ngày xưa Tuyết muốn lấy ông,
Ông chê Tuyết bé, Tuyết không biết gì.
Bây giờ Tuyết đã đến thì,
Ông muốn lấy Tuyết, Tuyết chê ông già”.
Đại khái như vậy, không biết tao nhớ có đúng không?…
Nhũng câu chuyện như vậv không thể nào lấp đầy được cái khoảng trống thời gian, nó khắc khoải và lê thê như thời gian của một con người đang hấp hối. Tôi và Trọng đã nghĩ rất nhiều cách để “giết” thời giờ. Những ngày nghỉ, hai thằng ra ngồi nơi nhà mát, trước tòa tỉnh trưởng Biên-Hòa, ngắm sông nước Đồng-Nai. Dòng sông mênh mông, nhìn thấy cái bao la phẳng lì trước mặt, lại thấy buồn thêm. Một hôm, một ý nghĩ đến với Trọng:
– Hay là tao với mầy đi kiếm một nghề gì học thêm. Rồi khi nào ra lính, mình có thêm một nghề nữa.
Chẳng biết làm gì, tôi gật đầu ưng thuận. Hai đứa chở nhau trên chiếc Vespa, phóng đi ngược đường về phía núi Bửu-Long. Chỉ thấy những xưởng sửa chữa xe hơi và đắp vá vỏ cao su. Không được mầy ơi. Tao đã chê cái nghề thợ máy tàu bay, lại vào đây học việc, chúng nó biết được chúng nó cười chết. Hai đứa lại phóng xe đi. Rồi chiếc xe ngừng lại ở một trường đánh máy chữ. Ông chủ trường đánh máy chữ tiếp hai thằng ka-ki không được niềm nở cho lắm. Trọng mở đề :
– Thưa ông chủ, chúng tôi muốn học đánh máy chữ.
Ông chủ trường nháy mắt, cười tình :
– Đừng rỡn mà, cha nội…
Hai thằng bèn tỏ thiện chí bằng cách đóng tiền học nửa tháng trướcc. Ông chủ trường xếp chỗ cho hai đứa ngồi. Chỉ vài ngày sau, hai đứa đã đánh máy như mưa rào, nhưng những chữ ấy phải chờ vài ba thế kỷ sau mới có người đọc nỗi. Cô nàng mắt lé ngồi trước mặt, ngước mắt nhìn thán phục. Trọng bảo tôi:
– Tao chán rồi, mầy ạ!
– Tao cũng chán rồi …
Hai thằng bỏ ra đằng trước nhà, ngồi lên bực lan can cao, ngắm người qua lại.
Thằng con trai ông chủ trường mới tám tuổi, ra gạ làm quen, sờ hai chiếc quần ka-ki :
– Tại sao chú đi lính hở chú?
Tôi nhăn mặt:
– Không biết nữa…. Một buổi sáng thức dậy chú bỏ nhà đi giang hồ. Người ta bắt chú phải mặc bộ quần áo này. Rồi mãi về sau, chú mới biết té ra là mình đi lính…
Thẳng nhóc con leo lên lan can, ngồi lọt thỏm ở giữa, đung đưa hai cái chân:
– Cháu cũng thích bỏ nhà đi như chú, nhưng qua đường một mình, cháu sợ má thấy, má mắng.
Tôi và Trọng cười vang, át cả tiếng gõ lách cách ở trong nhà. Hai đứa nhảy xuống, phóng xe Vespa về căn cứ Không quân. Không bao giờ trở lại trường đánh máy chữ. Không bao giờ còn thấy cô nàng mắt lé. Và may mắn làm sao là rũ sạch được ở trong đầu cái tư tưởng kiếm ăn bằng nghề đánh máy chữ.
Rồi một hôm có một “sự vụ văn thư” về lũ chó hoang: “Nhận thấy gần đây, chó chạy rất nhiều trên phi đạo. Một vật di chuyển trên phi đạo, dù rằng bé nhỏ, cũng dễ gây ra phản ứng, dễ xẩy ra tai nạn cho các phi công. Đài Kiểm Soát phải chịu hoàn toàn trách nhiệm trong việc đuổi chó”. Trọng reo lên:
– Có việc làm đỡ buồn rồi.
Tôi và Trọng đi lĩnh một cây súng. Đi lính, không bắn được Cộng sản thì đi… bắn chó. Buổi trưa, trong thời gian trống rỗng, hai thằng lấy xe cứu thương đi săn chó. Những con chó le lưỡi, thở hồng hộc, chạy như biến vào bụi rậm. Gần một năm trời đi săn, tôi bắn được hai con chó. Một con bị đuổi quýnh lên, chui ngay vào một ống cống cụt. Tôi sửa soạn một thế bắn nằm, ngắm vào giữa đôi mắt xanh lè, bắn vừa đúng mười phát đạn. Con chó còn cố bò ra khỏi miệng cống, nhìn tôi rồi gục xuống. Tôi lật xác con chó lên để xem thì thấy trúng được có… hai viên.
Con chó thứ hai, tôi hạ thật dễ dàng. Chó này không phải chó hoang vì khi tôi huýt sáo, nó chạy lại, đuôi ngoe nguẫy một cách thân thiện. Tôi để súng vào đầu chó, bấm cò. Chỉ có một phát… con chó giương đôi mắt oán hận nhìn tôi. Một thằng ở hăng-ga chạy ra:
– Sao mầy bắn chó tao.
– Tao tưởng là chó hoang…
– Chó của tao, nó mới chạy ở đường vận chuyển, đâu đã chạy ra phi đạo. Thế mà mầy nỡ bắn nó. Tao xin mãi mới được để nuôi cho đỡ buồn…
Tôi buồn bã, đi về Đài kiềm soát, mũi súng chúc xuống đất như những lần đi sau quan tài người chết. Dưới chân tôi, vỉ sắt PSP rập rình. Tiếng thằng bạn vẫn lải nhải : “Thèm thịt chó sao không vác mồm xuống Hố-Nai ?” Thì ra nó tưởng tôi thèm ăn thịt chó. Nhìn về phía Đài Kiểm Soát, đằng sau Ban Khí Tượng, đã thấy có khói bốc lên. Mấy ông cứu hỏa nhóm lửa, sửa soạn để thui chó. Bực mình, tôi bắn bâng quơ hai phát lên trời. Lũ hạn bè đang xúm xít bàn tàn về chuyện chó bỗng bỏ chạy ùng ùng như ma đuổi, vì chúng nó tưởng tôi phát điên. Mà may làm sao, tới tận bây giờ, tôi chưa phát điên. Nhưng tiếng “chưa” không phải có nghĩa là “không bao giờ”.
***
Trọng ơi,
Mầy đừng coi đây là một lá thư. Có bao giờ tao viết thư cho mầy đâu. Có lẽ chỉ có một lần, tao viết thư cho mầy, khi mầy còn ở bên Mỹ, tao nhờ mầy mua cho tao cái tẩu thuốc lá Dunhill.
Bởi vì không là một lá thư, thành ra mầy đừng tưởng rằng tao nhờ mầy mua cái gì. Với lại ở cái đất Pleiku của mầy hiện giờ, thì còn có cái gì để mà mua. Họa chăng chỉ có vài con ” gô-nô-cốc ” ở cái trung tâm khang lạc…
Mỗi lần mầy ở Pleiku về, mầy tìm đến tao, kể những chuyện ở Pleiku, rồi mầy rủ rê tao xin đổi lên trên đó với mầy. Tao đâu có phải là thằng dại. Đang là một thứ lính thành phố, tao dại gì mà bỏ thành phố ra đi, dù mầy có kể hàng ngàn chuyện như chuyện tắm suối chung với những người em Bản Thượng, tắm không mặc quần áo, lúc lên bờ mắc cỡ, mầy lấy chiếc mũ kết úp vào chỗ kín, bỏ cả hai tay ra mà chiếc mũ kết vẫn không rơi.
Tao viết cho mầy, bởi vì hồi này, tao thật khó ngủ. Y như cái ngày ở Biên-Hòa, đêm nằm, bao nhiêu tiếng tắc kè tắc lưỡi đã đếm hết. Tao nghĩ đến cái số phận chuyên viên già chúng mình mà một ông lớn đã kết tội trong một bài phỏng vấn : Những thằng chuyên viên già chỉ làm việc tà tà, chờ ngày giải ngũ.
Chúng tao đã ngồi, một lũ lính già, để “cảm khái” về câu nói đó. Thằng Dinh, học khóa hai Rochefort, thợ súng, to tiếng uất ức :
– Không hiểu sao lại chê những thằng chuyên viên già? Mỗi ngày trung bình tao vác một trăm cân bom đưa lên máy bay. Mầy thử làm một cái tính nhân, coi xem sơ sơ mười lăm năm nay, tao vác lên máy bay máy trăm tấn bom. Như vậy tao cũng có ích cho quốc gia đấy chứ…
Chúng mình đối với cái binh chủng này kể như là những kẻ ” khai quốc công thần “, thằng nào cũng đã gần mười lăm năm quân ngũ. Nhưng cái thâm niên quân vụ, kể từ thời Nguyễn-Khánh, nó đã hết là một thứ được kính nể vì rằng nó đâu có được lĩnh tiền. Gần đến lúc ăn tiền thâm niên quân vụ thiên hạ cho lên một cấp bậc là cái thâm niên ấy theo gió mà bay lên trời. Đi lính hơn mười năm, vẫn chỉ là lính mới.
Tao bước xuống bực thang… Trước phòng tuyển binh, đông đầy thanh niên xin vào lính mũ xanh. Tao gặp thằng con ông chủ trường đánh máy chữ, sắp theo học lớp phi công. Mầy ngạc nhiên lắm hay sao ? Mười năm rồi còn gì. Ngày đó, nó tám tuổi thì bây giờ nó mười tám tuổi. Đủ tư cách để đi học lái tàu bay lắm rồi…
Bây giờ, nó gọi tao bằng anh, chứ không gọi bằng chú như xưa nữa. Mức xưng hô đã tụt thang. Rồi ít lâu nữa mức xưng hô chắc sẽ còn tụt thang một cách thảm hại.
Tao ghi tiểu sử của nó vào trong một quyển sách tuyệt đẹp :
“Thuở mới lên tám tuổi, Người đã muốn thoát ly gia đình, nhưng Người sợ sang qua đường một mình, má thấy, má mắng… “
Tao cứ ghi vào đó… biết đâu ngày kia nó sẽ làm lớn. Phải, biết đâu một ngày kia nó sẽ làm lớn, phải, biết đâu…