Lính Thành Phố

Lượt đọc: 4910 | 6 Đánh giá: 9,3/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
- 3 -
lên một cái dốc, xuống một cái dổc

Đời tôi đã qua rất nhiều những cuộc di chuyển. Từ phi trường nọ tới phi trường kia, từ căn cứ này tới căn cứ khác. Thỉnh thoảng cũng có những cảnh biệt ly có nước mắt : ôi, cái cảnh biệt ly sao mà buồn vậy!… Có nhiều khi reo lên mà đi, vui sướng mà đi, trước khi còn “phát xia” vào cái nơi mình rời bỏ, để tỏ ra một sự chán ngấy đến tột cùng. Trong những năm đầu đi lính, tôi long đong vất vả như một con mèo hoang. Cũng may là ngày đó tôi chưa có một mối tình lớn. Nếu có tôi đã biết làm thơ. Tôi cứ ân hận mãi mà chưa làm được môt bài thơ nào dù là một bài thơ có con ngựa đái tồ tồ hay là hiếp dâm mặt trời. Người ta nói rằng muốn làm thơ thì phải yêu đàn bà mà điều cần thiết để yêu đàn bà là phải có đàn bà. Cái thế giới của tôi thì lại không có đàn bà, mà chỉ có khỉ.

Chả là vì hồi đó tôi phải đồn trú ở một miền núi. Đã lâu lắm rồi tôi không nhớ tên, hình như Cà-Ná hay Cà-Nắc gì đó thì phải… Một cái đài trắc giác nhỏ xíu, cột ăng-ten cao nhú lên khỏi ngọn cây mà khi tới mùa đông, cây hết lá, thì lẫn vào những cành trơ trụi. Chẳng cần phải ngụy trang, cũng làm cho người ta lầm với cành cây đen sì. Buổi chiều tôi nhìn cành cây khô mà nhớ tới bài thơ ” Trời mùa đông Paris ” của ông xếp tôi. Mỗi lần tôi ngâm bài thơ đó thì thằng Trọng lại chửi thề :

– Mẹ kiếp! Nó ngồi ở cái chỗ coi về trời mưa, trời nắng, suốt ngày đo mực nước mưa lên xuống, ghi vào sổ những đám mây Cu lớn Cu nhỏ mà nó làm được bài thơ đọc lên nghe “mùi thấy bà nội”. Nằm ở cái chỗ buồn như thế này, mà sao chúng mình không làm thơ được nhỉ ?

Rồi thằng Trọng làm thơ. Ôi, những bài thơ của nó hay quá, chẳng dám chép ra đây. Vì nếu chép ra đây thì Lý-Bạch, Đỗ-Phủ nằm trong mộ, chắc phải phẫn nộ mà lồm cồm ngồi dậy. Hãy để cho người chết nằm yên!…

Buổi chiều cây trơ trụi lá. Mùa đông trời lạnh nên mặt trời ngủ sớm. Những thằng người rừng chúng tôi, ngủ cùng với mặt trời. Sáng tới chín giờ mới bừng con mắt dậy. Nằm cố nán lại để đùa với muỗi. Đưa cái gót chân đến gần, con muỗi mon men tới chích, cái gót chân khô cứng quá, muỗi chích gẫy kim, lại bay đi. Thằng Trọng uể oải ngồi lên mở cửa sổ, dụi mắt rồi reo lên :

– Sao lá cây mọc nhiều mà mau thế này ?

Tôi nhìn ra và cũng thấy lạ. Chiều hôm qua, cây chỉ còn cành khô mà hôm nay đã đen đặc. Nhưng tôi chớp mắt nhiều lần để nhìn cho rõ thì thấy không phải lá cây mà chỉ toàn là khỉ. Khỉ ở đâu kéo về đông quá bám đầy vào cành cây, co ro rét mướt, thoạt trông như những bụi cây đầy lá. Đấy, thế giới của tôi đấy. Như vậy tôi còn có gì để mà tạo nên những mối tình có đàn bà, có trăng sao hoa bướm, để mà làm thơ ?

Cái ngày sung sướng nhất trong mấy năm đầu quân ngũ, là ngày mà tôi được đổi về Biên-Hòa. Thằng Trọng nó khóc, các cụ ạ. Còn tôi thì cười tươi hơn hớn. Nó hỏi tôi :

– Mầy có cổ cánh to lắm hay sao mà được lôi về Biên-Hòa thế ?

Tôi gắt nhặng lên :

– Ông có cổ cánh mà ông phải nằm đây với mầy gần một năm trời à? Ông được đổi về là vì ông được đổi về… Chỉ có vậy thôi, chẳng có gì lạ cả…

Thằng Trọng thì cứ yên chí là tôi có quen thân một ông lớn nào. Cái thằng đó, nó bi quan về cuộc đời lắm. Theo như nó, muốn sống ở đời thì cổ phải thật cao, cánh phải thật dài thì mới hòng bay lên tột đỉnh của đài danh vọng. Nó dặn dò tôi phải làm sao lôi kéo được nó rời khỏi cái xứ khỉ này. Nó nghẹn ngào :

– Mầy ở gần mặt trời mà!

Gần mặt trời là… cái mẹ gì. Biên-Hòa ở gần Sàigòn, quanh năm trời nóng, không cần tới cái áo “bạc đờ xuy cô lô nhần”. Trời nóng là vì gần mặt trời chăng? Tôi chùi ngay đôi giầy đầy bùn vào chiếc áo dạ, không tiếc thương, đá một phát cho nó vào nằm trơ trẽn ở một góc nhà. Muỗi bay loạn lên, rồi lại trở về góc tối, bây giờ thêm một cái nệm ấm. Tôi ra đi với cái va-ly nhẹ nhõm và lòng thênh thang. Thằng Trọng dặn tôi:

– Mầy nhớ ghé vào Dốc-Sỏi nhé.

Nó nắm đầu gối tôi lắc lắc :

– Ừ, còn chặt lắm. Tao mong rằng tới lúc gặp mầy, đầu gối mầy chưa lỏng. Để tao lái xe đưa mầy ra bến xe đò.

Tôi đứng nhìn con đường đất đỏ cứng, lổn nhổn đất đá mà cũng thấy môt chút bâng khuâng. Đằng sau nhà, khói lam bốc lên nhè nhẹ. Chúng nó đã nấu cơm trưa. Mấy thằng định giữ tôi lại ăn một bữa cơm tiễn biệt nhưng thằng Trọng đòi ăn với tôi ở thị trấn. Cánh cửa Đài Trắc Giác mở tung, máy phóng thanh vặn hết cỡ để khi tầu bay gọi thì chạy vào. Nhưng từ lâu, chẳng có cái tầu bay nào gọi cái đài này cả. Cái đài đánh dấu nửa đường Saigon – Đà Nẵng, dù cho có dẹp bỏ cũng chẳng hề gì. Mà đỡ cho mấy thằng thoát khỏi cảnh đi đầy. Nhiều khi chúng nó cố phá, đưa tầu bay sang cái xứ đầy chùa, phi công nhìn xuống chỉ thấy những mái nhà cong vút. May là thời ấy còn là thời Tây, nên không có sự la hoảng về biên giới. Mấy cái thằng phi công Tây bảo nhau không thèm gọi. Thỉnh thoảng có tiếng ồm ồm trong máy phát thanh, chắc mấy thằng mới sang chưa biết, hay là mấy ông “xi-vin” tôn trọng luật lưu thông.

Tôi đang đứng với thằng Trọng thì có tiếng ề à gọi thử máy vô tuỵến. Tôi giục Trọng trở vào để trả lời. Nó văng tục :

– Kệ mẹ nó! Cho nó gọi, cho chết cha nó luôn…

Tôi khuyên nó một câu:

– Thôi mầy! Đừng có nổi gai rồi nó phạt mầy.

Thằng Trọng vung một cánh tay vào không khí:

– Phạt, phạt cái gì bây giờ. Cùng lắm thì nó đổi tao đi… Mà mầy nghĩ xem, ngoài cái chỗ này thì nó còn đổi tao đi chỗ nào nữa. Tới chỗ này là tận cùng của trái đất rồi…

– Còn nữa chớ mầy. Hãy còn một chỗ nữa…

Thằng Trọng trố mắt nhìn ngạc nhiên. Nhưng nó chợt hiểu ra. À, phải rồi, còn một chỗ nữa. Đó là đảo Hoàng-Sa, Tây-Sa. Thằng Lý đã tả cái thời kỳ nó làm chúa đảo, nó kể chuyện với bộ mặt sợ hãi như thuật lại một cơn ác mộng. Cái đảo nhỏ tí xíu với sáu thằng coi Đài Khí Tượng, mỗi sáng thứ hai ngồi chờ tàu chở gạo với mắm muối ra mà thấy mình xa cách hẳn với cuộc đời. Cả sáu thằng ít khi để ý tới dung nhan… Lũ Tây, lúc bàn giao, có để lại cho một con đầm bằng cao su, chia đều mỗi thằng ngủ với em một tối. Thổi cho căng phồng lên, nằm ôm em, với những khu lồi lõm giả tạo, dù giàu tưởng tượng cách mấy cũng không thể nào nguôi được nỗi nhớ vợ, nhớ người yêu. Ban ngày, sáu thằng chúa đảo để em ở một góc nhà, đi qua, thằng nào cũng sờ ngực em một cái, hôn lên má em một cái. Em vẫn đứng trơ, nhoẻn miệng cười…

– Thằng Lý bây giờ cũng ở Biên-hòa… Nó nghiện ba-xi-đế từ ngày ở Hoàng-Sa về đấy, mầy ạ !…

Thằng Trọng bâng khuâng:

– Có chỗ nào hơn chỗ Hoàng-Sa nữa không mầy nhỉ ?

Tôi vẫn bình tĩnh trả lời :

– Vẫn còn, còn chứ ! Chỗ đó là địa ngục, có ông Diêm-Vưong mặt đen thui với lũ quỷ sứ.

Thằng Trọng leo lên xe, ngồi vào tay lái. Nó nghiến răng sang số kèn kèn kẹt. Địa ngục, cái chỗ đó chắc xa lắm và chắc cũng gần lắm. Ừ, có lẽ chỉ còn xuống đó là yên chí, không còn ai đổi mình đi đâu được nữa. Nó quẹo một cái cua thật gắt, vừa đạp thắng vừa quẹo, cho bánh xe dính xuống mặt đường. Chiếc va-ly của tôi chạy giang hồ khắp sàn xe phía sau. Đột nhiên thằng Trọng cười vang. Bụi với lá khô đuổi theo xe, đầu hai thằng đỏ lên vì bụi. Nó hỏi tôi:

– Sao lại gọi là Dốc-Sỏi nhỉ ? Tao thấy chẳng có hòn sỏi nào ở cái dốc đó cả.

Thế ra nó vẫn ám ảnh về chuyện tôi đổi về Biên-Hòa. Dốc-Sỏi ! Xứ của đĩ, nơi có những mối tình lớn của những chàng lính tàu bay xứ Bưởi.

Tôi bỏ thằng Trọng ở lại với rừng núi Cao-nguyên. Không hiểu rằng say như thế nó làm sao mà về được tới “nhà”. Trong bữa ăn, nó chỉ nói về địa ngục. Về địa ngục cũng chỉ là một cuộc thuyên chuyển, một cuộc thuyên chuyển cuối cùng của đời quân ngũ.

***

Tôi bò lên được hết cái Dốc-Sỏi. Tiếng gọi ơi ới chung quanh tôi. Tiếng ca vọng cổ của hai em nằm gác chân lên bộ ván loang lở nghe chối tai. Em ơi em, có tiền lẻ cho anh mượn năm… ư… ư… tì. Hai tì anh mua tờ báo còn ba tì thì anh mua bốn điếu thuốc Ru-By. Đây là Dốc-Sỏi… nơi nổi tiếng của xứ Bưởi. Những thằng Tây đi đến đâu lập căn cứ là phải kéo theo một đội binh đàn bà. Tân-Sơn-Nhứt có khu Lăng Cha Cả. Nha-Trang có khu Colona. Còn xử Bưởi nầy thì có Dốc-Sỏi.

Một vài thằng lính tàu bay đang chổng mông lấy gân, đạp xe lên dốc. Nhìn thấy tôi xách va-li đang hì hục leo, cái đầu đưa về đằng trước, có thằng reo lên :

– Lính mới, chúng mầy ơi!…

– Thầy Đội mới ở đâu về thế ? Trông thầy Đội ngáo quá. Gửi va-li ở nhà em Dốc-Sỏi đi . Vào tay không có phải sung sướng hơn không?…

Tôi đặt chiếc va-li xuống, đứng nhìn vào bên trong phi trường, có hoa lan trắng xóa dưới tháp. Nhiều căn nhà gạch, chiếc cao, chiếc thấp, ẩn hiện trong vườn cao-su xanh um. Con đường tàu, đầy giấy nhật trình trắng xóa, chạy mất hút vào trong căn cứ. Nắng càng sáng, càng tỏ rõ bộ mặt tang thương của Dốc-Sỏi. Những căn nhà tranh nằm nghèo nàn nhưng bên trong thì có xa-lông, có tủ, có giường trải nệm trắng muốt. Các em trông mệt mỏi dã dượi, đầu tóc khô cứng như rơm. Những chiếc khăn lông phơi đầy trên giây. Góc sàn, cả chục chiếc chậu thau nằm chồng lên nhau. Ban ngày xóm đĩ nào cũng buồn. Nhiều căn nhà tranh, mái thấp hơn mặt đường. Dọc theo hai bên đường, con nít ngồi hai ba đứa, thản nhiên làm cái công việc thú vị thứ nhì, sau cái thú làm quận công.

Tôi lại xách va-li đi xuống dốc. Qua cổng Căn Cứ, tôi gặp ngay thằng Thắng đang làm hạ sĩ quan trực. Nó hỏi tôi:

– Mới về hả ?…

– Ừ, mới về…

Nó mừng rỡ túm ngay lấy áo tôi:

– Hồi này, bên ấy ra sao ?… Em Jacqueline, em bé bán táo ở đường 14 Juillet, lưỡi còn dài như ngày xưa không?… Thằng quản Ghèn có dễ chịu không?… Đi phép có còn phải…

Nó hỏi tôi liên miên như một thứ “tha hương ngộ cố tri”. Tôi phải ngắt lời nó, bảo cho nó biết rằng tôi vừa ở Cao-nguyên về, chứ không phải từ bên Tây về. Thằng Thắng thất vọng ra mặt. Nó ngắm lại tôi rồi hạ giọng:

-Ừ, thảo nào trông mầy đúng là “mọi da vàng”. Coi chừng không sốt rét ngã nước. Chờ tao một chút, tao ký sổ rồi về ở chung phòng với tao.

Tôi đã gần cảm động về sự săn sóc của nó nhưng nó nói toạc ngay sự thật ra. Phòng nó có một cái giường trống, tụi khốn nạn thường dùng nơi đó làm nơi tụ họp, đánh bài và tán nhảm, ồn ào quá, ngủ không đưực. Tôi về chiếm cái giường đó thì chúng nó hết chỗ họp hội đồng. Nhưng dù sao tôi cũng cám ơn thằng Thắng. Nó chửi um lên :

– Cám ơn, cám ơn là cái… mẹ gì. Cái tiếng cám ơn làm gì có trong tự điển…

Rồi nó đá vào cái va-li của tôi một cách phũ phàng :

– Ông ghét những thằng lính nào đi đâu xách theo cái va-li. Cho tất cả vào cái túi quân trang, vác lên vai có phải là tiện không?… Va-li, va-li. Cứ y như là du khách. Ông báo cho mầy biết, đây là xứ “mọi da vàng”, không phải là mẫu quốc, nơi có những thằng mọi da trắng, “tóc vàng, sợi nhỏ, chờ mong chín đỏ trái sầu “…

Tôi thương chiếc va-li quá. Tôi vẫn còn giữ cái mơ mộng của Nguyễn-Tuân : “Nếu sau này tôi chết, xin người ta thuộc da tôi để làm cái va-li”. Nhưng bây giờ, cái va-li đang bị chửi. Máu giang hồ sách vở của tôi bị xẹp xuống như một trái bóng bị xì hơi.

Rồi Thắng bảo tôi xách va-li ngồi đng sau chiếc xe đạp. Nhìn chiếc xe đạp, tôi ngập ngừng vì trông nó tã quá, chỉ có cái khung, hai cái bánh và cái “poọc ba-ga”. Thằng Thắng giục :

– Leo lên đi mầy !… Xe của tao chở thằng Tây hơn một trăm kí-lô còn không sao mà. Với lại từ đây về phòng, đường xuống dốc, không phải đạp.

Nó leo lên xe, rồi lại làm một cuộc triết lý rẻ tiền. Tại sao xe phải đạp hộc xì dầu ra mà chúng nó gọi là xe máy…Tôi ngồi đằng sau xe. Chiếc xe, đầu nhẹ tếch, đằng sau nặng, loạng choạng chạy xuống như thằng say rượu. Mỗi lần vấp phải hòn đá, xương mông tôi lại chạm vào mấy thanh sắt kêu lục cục. Nhưng rồi cũng về đến nơi. Vừa tới cửa phòng, thằng Thắng đã la lên đuổi đám bạc:

– Giường có chủ rồi ! Giải tán hết…

Cả bọn nhìn tôi, rồi la lớn :

– A cái thằng phản bội nghề nghiệp, chúng mầy ơi!

Lúc đó, tôi chợt nhớ ra mình là thằng phản bội nghề nghiệp. Tôi học nghề thợ máy tàu bay ở bên Tây. Nhưng khi về nước, tôi lại xin học thêm nghề khác, rồi không bao giờ làm nghề thợ máy. Tôi chê mấy thằng cầm mỏ-lết ; lúc làm việc xong dù rửa tay bằng mấy bánh xà bông cũng không sạch được mấy cái kẽ móng tay. Bàn tay đó mà nắm tay người yêu thì mất hết thẩm mỹ. Trông những thằng thợ máy ở hăng-ga thì thật là thiểu não. Kìm, mỏ-lết, tuộc-nơ-vít gài chung quanh người, có thằng cho vào thùng xách đi như anh chàng thợ cạo rong. Bộ quần áo xanh thợ máy bạc phếch, hở nách, vá nhiều miếng. Không còn một nét hào hoa. Ấy thế mà ra khỏi căn cứ là thằng nào cũng đầy chất phong nhã. Tôi quát lại:

– Ừ, thì ông phản bội nghề nghiệp. Nhưng ông còn giữ được nhiều chất Khổng-tử. Không phải như những thằng làm thợ máy mà ra ngoài, cứ đấu với các em là phi công, ông cũng không bao giờ làm cái lon Đội doãng ra nhiều để cho người ta trông nhập nhoạng cứ tưởng là thiếu úy. . Thằng nào mà chê tao thì thằng đó coi chừng, tao sẽ kể hết cho đàn bà con gái xứ này nó nghe, thì chúng mầy chỉ còn ế vợ.

Dân lính tầu bay hồi đó chỉ có vài trăm ngoe, nên thương yêu nhau lắm. Không như bây giờ. Tôi theo thằng Thắng ra ngoài Dốc-Sỏi ăn cơm. Thằng Thắng nói:

– Vừa ăn vừa đấu tiếng Tây bồi với mấy em cũng khoái lắm.

Đường lên dốc, phải đổi người đạp xe tới hai lần.Thằng Thắng đạp lên tới nửa dốc, tôi đạp tiếp theo một nửa. Lúc xuống dốc thì tôi là cái máy hãm. Khi nào nó hô “tới nơi rồi” là tôi nhảy xuống chạy theo chiếc xe, kéo giật trở lại. Hai đứa cười vui thích chí. Vừa rời ghế nhà trường mấy năm nên vẫn còn nhiều chất tinh nghịch của học trò. Nhưng cũng vướng phải mất ít nhiều chất lính. Vừa vào đến nhà, Thắng đã ồn ào. Nó hỏi bà chủ nhà :

– Hôm nay, bà chủ nhà có cho ăn cái món thịt người xào lông nách không?…

Bà chủ nhà cười toe toét. Thắng kể cho tôi nghe một giai thoại. Một hôm, ăn phải món thịt xào dai quá, nó hỏi thịt gì, bà chủ nguýt một cái muốn lệch cả mặt đất:

– Thịt người đấy !…

Rồi một lúc sau, nó lại thấy lẫn một sợi lông dèn dẹt, cong queo. Lông gì đây, bà chủ? Bà chủ lúng túng trong một giây, rồi cười tỉnh :

– À, à, lông nách…

Thế là món đó thành món thịt người xào lông nách. Thằng Thắng kể chuyện một cách thản nhiên mà sao tôi cứ thấy ghê. Bàn bên kia cũng có mấy em ăn kịch liệt.

Em húp canh soàn soạt. Nhai rau sống cứ rau ráu. Thỉnh thoảng lại quay sang đấu với mấy chàng lính tàu bay. Và ly kỳ hơn nữa, ở bàn bên cạnh lại có hai thằng Tây đang cuộn bánh tráng ăn, chấm mắm nêm. Tôi bảo Thắng :

– Tao muốn tìm tới thăm thằng Lý…

– Lý nào ? Lý thư ký, Lý vũ khí hay Lý khí voi ?

– Thằng Lý làm khí tượng.

Thằng Thắng “à” lên một tiếng :

– Nó cũng ở gần đây. Nó sống chung với em Bích đen. Nhưng mầy tới chơi với nó buổi trưa thì lại là lúc hai đứa chúng nó đấu võ. Hai đứa chúng nó đánh nhau, làm ái tình với nhau, chửi nhau rồi lại âu yếm nhau, trông sốt ruột lắm. Ăn đi rồi tao dẫn mày đi tới nhà thằng Lý với em Bích đen.

Những cái tên ở Dốc-Sỏi bao giờ cũng kèm theo một cái tên kép để dễ phân biệt. Nói tới em Bích thì phải kèm theo là Bích đen, Bích trắng, Bích què hay Bích lẻ… Còn nhiều, nhiều nữa. Bích đen là một em đĩ đang sống chung với thằng Lý khí tượng, cái thằng đã một thời kỳ làm chúa đảo Hoàng-Sa.

Hai đứa đi vào con đường đất nhỏ. Nắng bốc lên mùi khó chịu từ những bụi cây hai bên đường. Chỉ một quãng ngắn mà thấy như xa cách hẳn với thành phố. Có tiếng đàn bà léo nhéo cãi nhau ở một căn nhà tranh. Thắng bảo :

– Nhà thằng Lý đấy !…

Tôi ngập ngừng:

– Có nên vào không ?

– Vào chứ… Vào xem đả lôi đài. Ở đây, lúc nào chúng tao buồn, vẫn tới nhà nó xem kịch khỏi tốn tiền.

Lối xóm ở đây thản nhiên với những vụ to tiếng ở nhà thằng Lý. Có những vụ đánh nhau thật lực rồi yêu nhau thật lực.

Thằng Thắng bình thản vào nhà, kéo ghế ngồi hút thuốc, cứ y như là một thứ quen thuộc lắm. Tôi theo nó vào. Thằng Lý nằm ở phòng trong chửi vọng ra. Con Bích đen ở nhà ngoài nói chõ vào. Em phân trần :

– Tôi bảo nó làm giá thú rồi nhận đứa con, có phải thêm được hơn ngàn bạc nữa không… Nó không chịu nghe. Lương thầy Đội sơ đẳng, hơn ba ngàn đồng bạc mà nó uống rượu gần hết thì… bà tè ra cho mà uống…

Tiếng thằng Lý ở trong nhà vọng ra :

– Sư mầy, đừng có hỗn. Ông làm giá thú với mầy để ông “đời tàn trong ngõ hẹp” à ? Chửi ông, ông “uýnh” thấy mẹ!…

– Không những bà chửi mày, mà bà còn tống cổ mầy ra đường. Uống gì mà uống lắm thế. Lúc nào cũng uống, không đưa tiền thì bà cho uống… nước tiểu.

Rồi em bỏ ra đầu nhà, thản nhiên ngồi xuống, tụt quần, đứa cái mông trắng hếu ra. Tiếng vòi nước xối mạnh vào chân vách. Thằng Lý bị một câu nói đau quá, bước xuống giường, chạy lịch bịch ra ngoài. Một tiếng huỵch nặng nề, tiếng vòi nước đang xối vào đất bị cắt đứt phũ phàng. Em Bích đen lồm cồm bò dậy, rít lên :

– À, mầy đánh bà à ?…

Rồi em xông vào. Một cú đấm nện thẳng vào mặt em lại đẩy em ra. Đầu tóc rũ rượi, em gào lên rồi lại xông vào. Một cái lên gối tàn bạo. Thằng Thắng vẫn ngồi hút thuốc lá, coi như không có chuyện gì xảy ra. Tôi định nhảy vào can, nhưng Thằng ngăn lại :

– Mầy vào là ăn đòn của cả hai đứa. Chúng nó đánh nhau một lúc, mệt, là tự nhiên giảng hòa, rồi lại yêu nhau…

Cuộc chiến đang diễn ra sôi nổi. Em Bích đen đã tiến vào thế nhập nội. Thằng Lý đã túm được tóc em, nhưng đột nhiên hét lên một tiếng hãi hùng :

– Chết tao rồi ! …

Bàn tay túm tóc nới lỏng. Chân nó định lên gối một phát nữa, nhưng được nửa chừng lại rơi xuống. Con Bích nghiến răng:

– Biết tay bà chưa….

Thằng Lý hổn hển :

– Biết… rồi ! Thôi tao lạy mầy, anh lạy em, bỏ anh ra.

Tôi đứng lên định vào gỡ hai đứa nó ra, vì trông mặt thằng Lý tái mét như không còn chút máu. Nhưng thấy tôi vừa đứng lên con Bích đã đe:

– Đứa nào vào đây, tao bóp nát… mẹ nó ra.

Điếu thuốc lá trên môi thằng Thắng vẫn lập loè thản nhiên. Tôi ngồi vào ghế để ngắm nhìn bộ điệu khổ sở của thằng Lý. Mỗi lần con Bích đen day day cái tay, thì thằng Lý lại nhăn mặt đau đớn. Hành thằng Lý một lúc nữa rồi Bích đen mới nhẹ nhàng kéo nó vào trong nhà, bỏ tay ra:

– Thôi, bà tha cho mầy.

Bích đen bỏ đi ra ngoài Dốc-Sỏi vì cũng sợ đòn của thằng Lý khi nó tỉnh dậy. Thằng Lý nằm ngay ra đất… Nó vuốt bụng xuôi xuống, rồi khuôn mặt dần dần lấy lại màu đỏ. Lúc đó nó mới nhìn thấy tôi, run run đưa tay ra bắt gượng gạo mỉm cười. Nó thều thào bảo tôi và Thắng :

– Hai thằng đỡ tao ngồi dậy.

– Mấy hết đau chưa ?

– Hết đau rồi!

Rồi nó tức bực :

– Lần nào đánh nhau với nó, tao cũng thua…

– Thế thì mầy ở với nó làm gì ? Bỏ đi có được không ?

Lý buồn buồn trả lời:

– Tao đã thử bỏ vào trại rồi. Hai ngày là nhớ nó chịu không nổi, tao lại bò ra. Rồi về sống với nhau, ngày nào cũng chỉ đấm đá nhau chỉ vì tờ giấy giá thú. Nó cứ mang cái cớ thêm tiền hàng tháng ra, nhưng tao biết nó thiếu gì tiền. Có lẽ tao đến phải lấy nó thật mất thôi…

– Mầy lấy nó thế nào được…

-Tại sao lại không được. Lấy vợ là lấy một người đàn bà nào mình chẳng có thể lấy làm vợ. Nó cũng là đàn bà. Tao hỏi mầy, thế nó có phải là đàn bà không ?

Tôi im lặng không dám trả lời. Cuộc đời đến như vậy là hết rồi. Tôi không thể nào có được khuôn mặt không còn cảm giác như thằng Thắng. Buổi trưa ở đây yên lặng quá. Có tiếng chó sủa bâng quơ. Tiếng chuông bán cà rem mãi từ ngoài đường nhựa, leng keng vọng vào. Lý hỏi tôi :

– Mày về đây đã có chỗ ở chưa ?…

Thắng trả lời :

– Nó ở chung phòng với tao.

– Tao tưởng nó chưa có chỗ ở thì tao làm mối nó cho con Ngọc ni-cô. Con đó nhờ tao làm mối vì nó xui thấy mẹ, đụng vào thằng nào thì thằng đó lụn bại.

– Vậy mà lại định giới thiệu cho tao…

Lý thản nhiên trả lời:

– Cái số của tao và mầy thì nó xui quá rồi. Biết đâu, hai cái xui gặp nhau, nó lại thành một cái hên. Như mội bài toán Đại số. Hai dấu trừ nhơn chia với nhau, lại thành dấu cộng…

Thắng cười:

– Nhưng lỡ nó không phải là tính nhân tính chia mà lại là tính cộng thì nó lại thành một dấu trừ lớn hơn.

Lý cãi :

– Nhưng biết đâu với thằng khác thì lụn bại, nhưng với thằng này nó lại ăn nên làm ra không biết chừng, hai tam giác vuông góc có hai cạnh bằng nhau, thì bằng nhau; nhưng ngược lại khi hai tam giác có hai cạnh bằng nhau mà chưa hẳn là hai tam giác vuông góc…

Cái lối nói chuyện của chúng nó vẫn thế. Tôi muốn đứng dậy đạp cho mỗi thằng một cái. Những cái lẩm cẩm, rẻ tiền của chúng nó, không biết có phải rằng vì ảnh hưởng của Dốc-Sỏi? Như cây quít mang từ Hoài-Nam sang trồng bên xứ Hoài-Bắc. Nhưng chúng tôi, những thằng mới chỉ hai mươi tuổi, nhiều lúc thấy mình già nua cằn cỗi như sắp sửa được hưu trí cuộc đời…

Tôi đã quen thuộc dần với Dốc-Sỏi. Tôi đã không còn lạ mắt với cái cảnh, những buổi sáng sớm tinh sương, các em làm một cuộc triển lãm mông ở dọc đường tàu, mặc cho xe cộ, người đi làm rầm rập trên đường. Những lúc như vậy, có lẽ là những phút thần tiên của các em Dốc-Sỏi.

Phi trường Biên-Hòa ngày đó vẫn còn tính chất hoang vu. Chỉ có một phi đạo Nam Bắc bằng đá đỏ, một đầu là con đường đi Cấp, ĐàLạt, xe cộ dập dìu đi lại. Một đầu là rừng Tân-Phong âm u. Buổi chiều, hết phi cơ, tôi lấy ống nhòm nhìn về phía Hố-Nai đầy bóng thánh giá, quay đi một vòng trước mặt theo những con đường mòn, bắt gặp bóng dáng lủi thủi của vài ba người lính gác, súng mang đủ kiểu, đi về phía vòng đai phi trường. Đất nước thanh bình như đang ở trong một mùa xuân dài. Nắng vàng nhẹ và trong. Gió thổi rạp đầu cỏ hoa lau. Phi đạo thênh thang, một chiếc phi cơ, một mình một chợ, nên bay biểu diễn những đường hạ cánh và cất cánh kềnh càng. Thằng Văn Cò cất cánh chiếc tàu bay “tớp tớp” bằng hai bánh xe, một bánh đằng trước với bánh đuôi, trông như xe đạp. Thằng Nguyễn hạ cánh, nhảy trên sàn đủ mười cái. Chín cái hay mười một cái, nó sẽ trả tiền ăn sáng cho mấy cái thằng Đài Kiểm Soát. Không khí vui nhưng lặng lẽ trong những buổi chiều, bóng dài chênh chếch.

Những buổi chiều như vậy, nếu tàu bay có gọi thì thằng nọ đùn thằng kia. Tàu bay gọi ơi ới trong lúc chúng nó đẩy nhau :

– Thằng Hoàng trả lời đi !…

– Tới phiên thằng Bửu chứ. Tao mới cho xuống hồi nãy hai chiếc tàu bay. Thằng Bửu trả lời đi mầy!

Cái thằng mà không thể nào từ chối được thì uể oải cầm ống nói: Bây giờ, bạn nghe tôi thế nào, trả lời!”. Nó dằn mạnh tiếng ‘”Bây giờ” ra cái điều là đã trả lời từ hồi nãy nhưng máy radio hư nên tàu hay không nghe thấy. Thằng lái tàu hay đâu có biết được, nên cũng nhắc lại: bây giờ tôi nghe bạn rõ lắm !… Có nhiều khi nó để cho tàu bay gọi hết hơi, đợi cho tàu bay sắp hạ cánh, bắn một phát hỏa pháo màu xanh. Cũng vẫn cứ êm xuôi như thường.

Cuộc đời cứ thế mà trôi để rồi mòn đi. Ý chí đua tranh cứ lần hồi mất dần. Nhiều thằng than phiền:

– Tinh thần tao hồi nầy ọp ẹp như cái xe díp của phòng Tuyên-úy.

Cái xe díp của phòng Tuyên-úy là cả một lịch sử đáng yêu. Khi nào những thứ gì quá tã, kể cả con người, đều được đẩy qua phòng Tuyên-úy. Cái xe díp cũng vậy. Nó yếu quá, leo lên cái dốc một cách lặc lè, đáng thương. Các ông Tuyên-úy lái xe kém nên thường lên một nửa cái dốc là chiếc xe nhất định nằm ỳ. Ông Tuyên-úy bước ra xe, hì hục đẩy. Chiếc áo đen quét lê mặt đường. Một thằng lính, rồi vài ba thằng lính nữa xúm lại, vái chào, cười rất tươi, lễ phép :

– Thưa cha, hôm nay xe của cha lại hư ở Dốc-Sỏi.

Rồi chúng quay lại bảo nhau :

– Xe của cha hư ở Dốc-Sỏi đấy. Chúng mầy giúp cha một tay đi.

Cả lũ xúm quanh lại cái xe như đàn kiến bám vào cục đường. Một thằng đề nghị:

– Sao không cho nó xuống đốc?

Nó cầm tay lái vặn một vòng. Chiếc xe vòng lại, xuống dốc chạy phăng phăng, cả lũ reo ầm lên. Thằng này gài số, thả chân “ăm bờ-ray-a “. Chiếc xe nổ máy lịch kịch. Nó nhường chỗ ngồi cho cha Tuyên-úy.

– Cám ơn các ông nhé.

Cả lũ nhao nhao chào lại. Chiếc xe vòng lại, ì-ạch bò lên dốc, tới nửa dốc lại tắt máy, không thèm chạy nữa. Lần này tiến bộ hơn hai thước. Mấy thằng lính tàu bay “ồ” lên môt tiếng:

– Lại hư nữa. Cái Dốc-Sỏi này tệ thật. Hay là cha vào quán này ngồi uống nước, chờ tụi tôi sửa xe cho cha.

Ông Tuyên-úy lắc đầu một cách dữ dội :

– Không… không! Các ông xúm lại đẩy đùm cũng được rồi.

– Thưa cha, lần này đẩy xuống dốc hay lên dốc !… Lên dốc thì nặng lắm thưa cha. Thôi lại cho nó xuống dốc đi.

Lại xuống dốc, lại nổ máy, lại tắt máy!..Cứ như vậy, loay hoay cả giờ đồng hồ mà không qua được cái Dốc-Sỏi. Tiếng reo hò thật náo nhiệt. Các em cũng chạy qua cửa đứng nhìn. Màu áo đen nổi bật giữa đám quần áo ka-ki. Chúng vừa đẩy, vừa hát: “Con kiến mà leo cành đa, leo phải cành cộc, leo ra leo vào. Con kiến mà leo cành đào, leo phải cành cộc, leo vào, leo ra”…

Cảnh Dốc-Sỏi, vui một cách lạ. Bởi vậy nhiều thằng rình xe díp của các ông Tuyên-úy lên dốc là xúm lại… Có nhiều thằng bỏ cả uống nước chạy vội ra khi nghe thấy tiếng nói lễ phép:

– Bạch thầy, hôm nay xe của thầy lại hư ở Dốc-Sỏi?…

Rồi lại náo nhiệt, tưng bừng. Tôi nghĩ thầm cái vui hồn nhiên ầy không biết giữ được tới bao giờ. Có lẽ phải tới cái lúc không còn Dốc-Sỏi.

Tết năm ấy, tôi phải ăn một cái Tết ở Dốc-Sỏi. Chả là vì khi gặp bốc thăm phiên trực, số tôi khốn nạn quá, bốc đúng phải lá thăm trực đêm giao thừa! Tôi không buồn mà cũng không vui. Ngày Tết không còn gì để mà vui nữa. Thêm một tuổi hay bớt đi một tuổi, điều đó không quan trọng.

Cai Thạch-Suon có nhà ở trong Căn Cứ, thương hại bảo tôi:

– Hay là ông về nhà tôi ăn Tết? Nhưng nghèo, nên ngày Tết chỉ có vài bưa “cuc khô”…

Ý của nó muốn nói là ngày Tết cũng chỉ là vài bữa cực khổ. Nhưng nó nói bằng một giọng không bỏ dấu nên tôi không thể nào về nhà nó, mấy ngày Tết mà chỉ ăn có “cức khô”. Tôi xé lá thăm, thả cho bay bay như những cánh bướm lạc lõng mùa Đông. Thẫn thờ bước xuống thang lầu, tôi đi uống rượu.

Tôi ngồi trong cái tịch mịch ban đêm. Chiếc đồng hồ trước mặt tôi, lấy giờ quốc tế nên cái thời gian của tôi ở mãi bên kia trái đất. Mười hai giờ đêm là bảy giờ sáng. Lúc khoảng chín giờ tối một chiếc C 47 lang thang bay qua, mở máv vô tuyến, tần số của Đài, nói câu chúc mừng đầu năm.

– Chúc mừng năm mới !…

Chỉ có hai câu đối thoại cho những giờ phút cuối năm. Tôi ngồi nhớ mưa phùn gió lạnh Hà-Nội.

Buổi sáng, tôi không muốn về nhà ai. Sợ mang theo cái không may tới nhà người ta cả năm dài. Đi qua Dốc-Sỏi, có tiếng gọi tên tôi. Tôi thấy em Ngọc ni-cô đang ngồi tán chuyện với mấy em nữa, vẫy tôi rối rít :

– Vào đây anh!…

Tôi hỏi :

– Tết, các cô có làm ăn không ?

Ngọc ni-cô nhí nhảnh :

– Em vừa “đi” với một thằng nhóc. Nó trả một trăm bạc, toàn giấy một đồng với năm đồng mới tinh.

Cả bọn reo lên :

– Con Ngọc ăn dỗ tiền lì xì của con nít rồi…

Tôi thấy tiếng cười làm sáng rực những bông hoa mai vừa nở. Con Ngọc rũ tôi :

– Về nhà em ăn Tết đi.

– Nhưng em còn làm ăn…

– Đâu có… Chọn giờ tốt, mở cửa hàng một chút xíu rồi lại đóng cửa hàng như các chú Ba ở Chợ-Lớn ấy mà. Đâu có cần mua bán gì. Bây giờ, em… đóng cửa hàng. Về nhà em đi.

Tôi theo Ngọc ni-cô về nhà. Cái duyên số của tôi nó vậy. Nhưng không ngờ, Tết năm đó, tôi đã ăn một cái Tết vui nhất. Có đủ các thứ, kể cả đàn bà. Buổi tối, nằm cạnh tôi, Ngọc ni-cô thì thầm :

– Lấy em đi… cũng hạnh phúc chán. Anh có thấy như anh Lý với con Bích đen đấy… Đâu có chuyện gì. Mà anh có bằng Cao-đẳng, lương nhiều hơn anh Lý. Chúng mình sẽ hạnh phúc nhiều hơn…

Em thuộc quy chế nhà binh còn hơn cả tụi tôi. Tôi mỉm cười trong bóng tối. Ừ thì lấy, sợ gì.

Tôi ôm lấy Ngọc ni-cô mà thấy rằng cái khoảng đồi núi trống trải, không còn lý do gì mà mang lại sự lụn bại được nữa.

Tết năm đó, tôi bắt đầu biết làm thơ…

« Lùi
Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của dương hùng cường