Lai như lưu thủy hề, thê như phong
Bất tri hà xứ lai, hà sở chung
Ma giáo kinh
Mấy hôm nay, trời tự nhiên lành lạnh… Những thằng con trai đã được hưởng bốn mùa miền Bắc, kêu ầm lên là nhớ Hà-Nội quá. Có nhiều thằng khi rời Hà-Nội, mới bé tí xíu, trí thông minh còn chưa ghi rõ được con đường Cổ-Ngư, cũng nhìn ra ngoài trời rồi làm thơ. Hình như có một tí ti mưa phùn, một vài giọt gió bấc, lòng hoài Bắc của con người như được dịp vùng dậy để làm dáng cho văn nghệ.
Tôi ngồi trong một cái quán đặc biệt Saigon. Cũng có một cô bán hàng, người chật ních như muốn phá vỡ chiếc áo mỏng, ngồi lơ đãng đọc một tuần báo, chuyên viết về những mối tình của các cô đào cải lương. Bên tai vẫn văng vẳng tiếng ra-dô mở lớn hết cỡ … Cái ồn ào của nhiều âm thanh pha trộn, đã không làm đưọc lòng người lắng xuống để phẳng lặng một chút tương tư.
Ngồi cạnh tôi là một chàng ca sĩ về già. Tiếng ca của anh chàng, không còn làm cho những nàng Mị-Nương tân thời, ở lầu Tây thổn thức. Tôi hỏi hắn:
– Chuyện cơm áo bây giờ ra sao ?
Hắn chán nản :
– Bây giờ, tao ca cho Việt-Cộng nghe…
Trong một nơi đầy chất hỗn tạp, chung quanh có nhiều người làm đủ các thứ nghề, bắt buộc tôi phát cáu hắn :
– Thôi mày, định đi ở ấp hay sao mà ăn nói bậy bạ vậy?…
Hắn thản nhiên :
– Thì tao là ca sĩ chiêu hồi, tao không ca cho Việt-Cộng nghe hay sao? Mầy thì lúc nào cũng sợ hãi. Ca sĩ chiêu hồi còn mong Việt-Cộng nó nghe. Nó mà không nghe thì còn biết chiêu hồi ai ?
Hắn đưa cả hai chân lên ghế, ngồi trong một tư thế bó gối chờ thời. Chỉ còn thiếu cái cần câu, là hắn đã thành một ông Lã-Vọng ngồi câu cá chờ công danh. Kết quả là công danh chẳng bao giờ tới.
– Hòa bình rồi mầy sẽ làm gì ?…
Tự nhiên, hắn trở nên mơ mộng :
– Tao sẽ đưa các con tao về thăm quê nội. Quê tao ở miền Hà-Đông. Mầy còn nhớ chiếc xe điện kêu leng keng đi qua mặt chúng mình, khi chúng mình ngồi uống cà phê Giảng ?.. Đó, chiếc xe điện đó đi về Hà- Đông đấy…
Rồi hắn say sưa kể lại về những kỷ niệm Hà-Đông với những miền nổi tiếng địa linh, nhân kiệt. Chùa Trầm âm-u với đường dài hun hút. Đường ngược lên Sơn-Tây, êm như câu thơ Trần-Quang-Dũng viết về em gái Ba-Vì.
Tôi mơ hồ nhắc lại :
– Về quê… Rồi một chiều anh về quê…
Từ sau cái chết của Phạm-Phú-Quốc, hai chữ về quê đã bị thiên hạ xuyên tạc.Về quê có nghĩa là đi một đường sơ-mi gỗ. Ồ, mầy muốn về quê ? Tôi nghe vang đâu đây tiếng hát:”Trời sinh ra ta, ta là cát, đời đưa ta đi,đi về đất”. Tôi chưa muốn về quê. Tôi hãy còn yêu đời. Đi ngủ với giun, xét ra lúc này chưa cần thiết. Lúc nào thấy cần thì cũng nên làm một phát về quê. Như vậy có lẽ yên chuyện, khỏi phải ganh đua, khỏi phải lo lắng về những vấn đề công danh sự nghiệp.
Nhưng ít ra cũng phải làm một cái gì thì ra về mới thơ thới, hân hoan. Tôi gọi thêm hai chai la-đe, rồi hỏi :
– Tại sao mầy phải đưa lũ con mầy về thăm quê nội ?…
– Vì tao đau khổ khi nhìn thấy các con tao hát một bài dân ca, trong đó có câu : “Trên con đê dài, vài ba con trâu càỵ”… Tao phải hét tướng lên, lũ con tao mới chịu im, không hát nữa. Mầy nghĩ coi, con đê ở miền Bắc chúng mình, đưa trâu lên trên đê để ăn cỏ còn bị cấm, sợ vết chân trâu làm lở đê. Vậy mà nó cho trâu cày trên con đê dài, thì chịu sao nỗi!
Hắn rót bia ồng ộc vào trong ly để bọt sủi lên trắng xóa. Bọt trắng xóa gợi lên hình ảnh những con sóng bạc đầu mênh mông của sông Hồng, sông Luộc. Tiếng trống ngũ liên, tiếng mõ liên hồi trong những mùa nước lớn, khi đê bị lở, bi sạt. Những cành nhãn mọc la đà đưới chân đê, những năm nào sai quả là y như nước lớn. Đã lâu rồi, chúng tôi đã gần như quên hẳn cái thảm cảnh nước lụt, vì sống ở nơi đây quanh năm chỉ có bia và nước đá.
Hắn hỏi tôi:
– Quê mầy ở đâu?…
– Quê tao ở Thái-Bình.
Tôi có rất ít kỷ niệm về quê hương… Bây giờ, tôi chỉ nhớ lờ mờ cái huyện lỵ nhỏ xíu, nằm cạnh quốc lộ số 39. Có một điều vô duyên nhất là cái huyện đó không có một con sông nào chảy qua, mà tên huyện lại là Duyên-Hà. Nơi đây, chỉ có một điểm đặc biệt là sản xuất ra một ông sĩ phu kiêu ngạo vào bậc nhất lịch sử là ngài Lê-Quí- Đôn. Và bây giờ thì có… tôi. Còn ngoài ra, chẳng có gì đáng nói.
Có nên ghi vào đây một chuyện lạ của quê hương tôi hay không? Cạnh làng tôi là làng Kim-Sơn, Lập-Bái. Cả làng sống bằng nghề đi gắp phân. Việc hành nghề tổ truyền đó, coi như là bắt buộc cho tất cả dân làng, dù giàu hay nghèo. Mỗi người phải hành nghề ít nhất một năm.
Tôi vẫn còn nhớ hình ảnh của một người mặc áo tơi mưa, chống cái cặp tre, đứng ở đầu ruộng chờ lúc tôi đang hưởng cái thú thứ nhì sau cái thú làm quận công. Dù cho bao nhiêu năm qua đi trong đời, tôi vẫn không quên được câu đối huênh hoang, khoác lác mà một anh đồ nho đã tặng dân làng đó.
” Thân đảm nhất nhung y, trí thế gian chi đại sự ”
“Thủ trì tam xích kiếm, thâu thiên hạ chi nhân tâm “.
Hắn nghe kể tới đây, thì gật gù cái đầu :
– Hay! Hay thật!… Tả một anh gắp phân mà như thế thì tuyệt. Im để tao thử dịch xem nào. Thân mang một “trai-di “, biết chuyện lớn thế gian. Tay cầm ba thước kiếm, thu lòng người thiên hạ. Nhất rồi, thế thì nhất rồi. Quê của mầy cũng đẹp đấy chứ. Nếu có hòa bình mầy cũng nên đưa lũ con mầy về thăm quê nội.
Tôi thở dài:
– Tao chẳng còn gì ở nơi ấy cả. Nếu còn tình hoài hương thì tao nhớ cả miền Bắc, nhớ như mỗi lần đọc ca dao .
Bên ngoài nắng lại lên rồi. Cái nóng lại như bốc hơi từ mặt đường nhựa. Ông trời chỉ cho người ta vài giờ lành lạnh trong một năm, để những thằng nhớ Bắc, kể cho nhau vài ba kỷ niệm. Hết còn không khí hoài hương, chúng tôi đứng dậy chia tay nhau.
Tôi trở về tòa soạn. Những cái bàn trơ trẽn không người ngồi. Chỉ còn thui thủi ngồi trong góc nhà, có một mình thằng Hĩm. Hắn là thợ vẽ nhưng bây giờ lại nổi hứng, thích viết.
Như thế có nghĩa là hắn đã tung hê cái sở trường mà khư khư ôm giữ lấy cái sở đoản. Bắt đầu bước vào nghề viết văn, hắn viết phóng sự.
– Tao muốn đi vào con đường độc đáo, viết văn theo lối biền ngẫu, câu nào câu nấy đối chọi nhau chan chát. Như vậy may ra mới ăn khách. Thỉnh thoảng thêm vài ba tiếng ôi, tiếng ô hô, cho có tính chất cổ . Tao đã học thuộc cả một quyển Tố-Tâm, đọc hết những bài văn “mẹ khuyên con lúc về nhà chồng”, của ông Lê-Qúy-Đôn. Chuyến này, không chừng những thằng viết phóng sự ở cái đất nước này, thấy tao viết hay quá, sẽ giải nghệ hết…
Hắn lạc quan, viết một giòng chữ lớn : “Giang hồ lệ sử”. Và nắn nót, viết một câu thơ: “Giang hồ rượu ấy, còn pha lệ người”. Xong xuôi, hắn bắt đầu thiên phóng sự bằng hai chữ “than ôi”, và tịt mít, mặt nghệt ra như mặt ngỗng đi ị. Tôi đẩy một câu cho giòng văn hắn thêm dầu mỡ :
– Viết đi !… Than ôi! Mây tán, tuyết tiêu, hoa tàn, nguyệt khuyết!
Hắn mừng quá, viết thêm được tám chữ… Và giòng văn lại táo bón, cố gắng mới thêm được một câu : “Em ơi, sự sống chết tới như nước chảy, biến như gió bay, biết từ đâu tới biết tới đâu là hết”… Tôi chửi ngay :
– Sư mầy, đây là bài ca của Ma giáo mà nàng Hân-Ly đã ca mê sảng trong gió biển.
Nó bừng tỉnh:
– Ừ nhỉ.
Rồi nó đặt bút xuống bàn nói chuyện về Cô Gái Đồ Long. Làng báo xứ này, có một thằng viết phơ-ơ-tồng hay cáo lỗi nhiều nhứt mà các anh chủ báo cóc dám đuổi, cóc dám gọi người thay thế, mầy có biết là ai không ? Đó là ông bạn Kim-Dung. Cáo lỗi là cứ tùm lum mấy thằng viết báo mình, tuy cáo lỗi nhiều nhưng đâu bằng xừ lủy.
Nếu vẽ Cô Gái Đồ Long có lẽ không gì tốt bằng mướn thằng Hĩm vẽ. Tên nó là Hĩm, thì chỉ cần vẽ mặt nó, là thành mặt Cô Gái Đồ Long.
Buổi trưa, nắng chiếu vào mái tôn vừa bắt cái nóng hừng hực vào căn phòng tòa soạn. Hai thằng làm một màn thoát y rất ngoạn mục, không cần khán giả. Bỗng giật mình vì có tiếng đẩy cửa bước vào. Tưởng là một “nữ độc giả thân mến”, không ngờ lại là một ông nhà văn lớn.
Nhà văn lớn thấy có tới hai người nơi tòa soạn nghĩa là cùng đã thuộc số nhiều, vội khoe ngay :
– Tao sắp in một cuốn sách cỡ nặng. Cần phải có một chân dung tác giả. Thằng Hĩm vẽ cho tao đi.
Rất ngoan ngoãn như một nàng dâu hầu hạ mẹ chồng, cu Hĩm lấy giấy bút ra, hí hoáy vẽ. Nó bắt thằng nhà văn lớn phải đứng im… Cứ hễ định nhếch cười cho đẹp trai hay ra vẻ khinh bạc của một người làm văn nghệ, là bị thằng Hĩm hãm thắng ngay lại.
Trong mười lăm phút thằng Hĩm dơ ra tấm chân dung tác giả. Nhưng thay vì cái mặt đẹp trai, thì lại là cái đầu chó. Nhà văn lớn bèn chửi:
– Mẹ mầy thằng đểu !
Tôi phụ họa ngay :
– Giống đấy chứ…Nó vẽ mầy giống đấy chứ. Mầy cứ thử soi gương, nhìn lại mặt mày coi.
Thằng Hĩm tố thêm:
– Mầy muốn có một tấm hình chân dung thì việc cóc gì phải mời tao vẽ… Cứ việc tới trước cổng một cái nhà nào lớn, gở tấm bảng sắt treo ngoài cổng, là mầy có ngay một bức chân dung. Cứ mang đi làm bản kẽm, in ngay đầu cuốn sách là đủ rồi.
Thằng nhà văn lớn hầm hầm bước ra cửa. Sàn gác rung rinh dưới gót chân văn nghệ. Chúng tôi tiễn đưa nó bằng một tràng cười hể hả. Lâu lắm mới vui được như hôm nay.
Dạo này, thời giờ của tôi thật trống rỗng, vô vị. Công việc viết lách đối với tôi lúc này, mệt nhọc như một công việc tạp dịch nặng. Không còn hứng thú đọc lại những hàng chữ mình viết. Muốn từ bỏ tất cả, chối bỏ tất cả những vướng víu quanh mình.
Những lúc thấy day dứt về vấn đề cơm áo, ngộp thở vì đuổi theo tiện nghi nơi thành phố, tôi lại xin được một chuyến công tác xa, thật xa… Thường thì tôi thích đi về miền Trung, vì nơi ấy gần giống quê hương tôi, nghèo nàn đói khổ. Thời tiết cũng giống như miền Bắc, có lá rụng mùa Thu, có mưa lạnh mùa Đông, và về Xuân cũng có những cảnh phơi phới của tháng giêng, cỏ non…
Những lần đi miền Trung về tôi thấy yêu quê hương đất nước này hơn. Chuyến đi này tôi đi Đà-Nẵng, Quảng-Ngãi và Huế. Theo các biệt đội, làm vài ba chuyến tải thương, chuyên chở đồng bào ti nạn CS từ những vùng hẻo lánh Quế-Sơn, Bồng-Sơn về Tam-Kỳ.
Tôi muốn ở lại miền Trung. Trời miền Trung, ngày tôi tới, chưa hết mùa hạ. Những cành hoa phượng tơi tả không còn giữ được mầu đỏ ối làm nổi bật những tà áo trắng thướt tha in bóng nước sông Hàn, sông Hương. Trời nóng kỳ lạ làm tôi nhớ mùa hè Hà-Nôi, thèm ngọn gió như thèm môt món ăn ngon. Núi trùng điệp chặn tầm mắt tôi nhìn về phía chân trời. Núi ngăn gió từ Lào thổi qua. Núi ngăn gió từ biển thổi vào. Ngồi trên cao nhìn đồi núi chập chùng, tôi thấy đất miền Trung thật khô cằn, đến nỗi rừng cũng không mọc nổi những cây cao.
Tôi xin đi dự một phi vụ di tản đồng bào tị nạn. Hạ cánh xuống đồn Quế-Sơn heo hút. Hạ cánh thẳng đứng rồi cất cánh thẳng đứng, không dám lượn vòng, sợ trúng đạn từ dưới bắn lên. Tai tôi ù đi, nhìn bàn tay của anh xạ thủ, cho đạn vào nòng cây đại liên, kéo cò súng, mà không nghe thấy tiếng lách cách của viên đạn lên nòng. Một đám mặc áo đen, nổi bật trên màu vàng cỏ úa. Tôi kéo tay từng người lên. Có những bà cụ già, lên tới phi cơ là nằm dài xuống sàn sắt lạnh, có những em nhỏ, bàn tay mềm nhủn, chân khẳng khiu, mắt ngây dại nhìn chúng tôi. Những chiếc áo rách, bạc trắng như muối ở lưng, ở bả vai, những chiếc quần mặc cốt chỉ để che đậy. Cánh quạt quay nhanh, gió lùa vào thân tàu thật nhiều, nhưng vẫn thấy nặng mùi. Một đứa trẻ nít đái ra ghế… Đứa chị nó, chỉ chừng 8 tuổi, ôm chặt lấy em, nhìn tôi sợ hãi. Tôi cố gượng mỉm cười nói lớn vào tai cháu : đừng có sợ, cháu !… không có sao ! Tàu bay này là của cháu mà. Đứa nhỏ nhìn tôi, cũng mỉm cười.
Rời bỏ thành phố lúc này, tôi mới biết mình vẫn còn là kẻ sung sướng… Ở thành phố, tôi thấy khổ sở, thiếu nhiều tiện nghi cho đời sống, là vì tôi để ý quá nhiều đến tiện nghi… Những người trước mặt tôi đây, có lẽ coi những tiện nghi thành phố như những chuyện thần thoại, chỉ có ở trong những chuyện cổ tích : có ông trời, có bà tiên cầm chiếc đũa thần… Một bà già mếu máo định nhảy xuống tàu bay vì thấy mấy chiếc nồi, mấy chiếc chổi cùn chưa được mang lên. Tôi chặn ngay tay vào thành cửa, vẫy mấy người lính đứng gần đó, chỉ vào cái đống đồ đạc ấy ra hiệu để quẳng lên phi cơ… Bà cụ già móm mém cười tươi ngay được… Lòng người dân nước tôi thật dễ dãi chất phác, gần như ngây thơ. Tôi hỏi một đứa nhỏ:
– Ngày cháu ăn mấy bữa cơm?
– Dạ, con ăn hai bữa.
Tôi lại hỏi thêm :
– Con ăn cơm với gì?
– Dạ, con ăn cơm với gạo.
Tôi vụt bàng hoàng. Ăn cơm với gạo ? … Ăn cơm với gạo? … Tiếng nói từ chiếc miệng xinh xắn hồn nhiên, vụt mang tới tôi một chút xót xa và nao nao trong dạ. Tàu bay chợt nhấc bổng lên, tiếng động cơ ầm ầm. Tôi nhìn xuống để quên đi câu chuyện cháu nhỏ, và chút xót thương quê hương lầm than, đói khổ. Vẫn còn một người áo đen, rưng rưng nước mắt nhìn lên, vì tưởng bị chúng tôi bỏ rơi. Những chuyến đầu, chúng tôi cho đàn bà những người già và con nít đi trước.
Buổi sáng ngày hôm ấy, trời đầy sương mù. Anh xạ thủ lại lên cò súng. Tôi đóng bớt chiếc cửa để gió bớt lùa vào thân tàu. Chúng tôi bay về Tam-Kỳ.
Ngồi trong chiếc trực thăng đảo như múa lân để tránh đạn, tôi cứ bâng khuâng nghĩ về những con người thành phố, có bao giờ được nghe những tiếng khóc, nhìn những người vợ trẻ, những đứa con thơ ôm lấy những tấm xác đẫm máu của cha, của chồng, không muốn rời ra. Những đứa trẻ thơ “ăn cơm với gạo”. Còn nhiều, nhiều nữa. Tôi làm sao mà kể hết được những cái thê thảm của chiến tranh.
Những ngày ở Huế tôi đi chơi với Trịnh-Công-Sơn, tới dự những buổi sinh hoạt văn nghệ của sinh viên. Giữa tiếng hát thê thiết, tiếng ngâm thơ kéo dài buồn thảm, tôi hỏi một anh sinh viên :
– Sắp khai trường, chắc anh về Saigon để tiếp tục học ?.
Anh sinh viên lắc đầu :
– Tôi không thể bỏ được Huế. Tôi ở lại đây, chờ tới khi trường Đại Học Huế mở cửa lại. Tôi ở lại đây, để thương yêu quê hương, đất nước nầy luôn. Tôi sinh ra ở miền Trung thì chết cũng phải ở miền Trung.
Quê hương, hai tiếng này tôi nghe văng vẳng ở khắp mọi nơi. Từ thành phố về tới nơi đây. Tiếng hát của Trịnh-Công-Sơn “một ngàn năm nô lệ người Tàu, một trăm năm nô lệ người Tây, hai mươi năm nội chiến…” Có phải quê hương tôi đấy hay không?..
Thành phố Huế chưa lấy lại được phong độ của một cố đô cổ kính. Cái trầm lặng như trầm lặng hơn. Cầu Tràng-Tiền gãy hai nhịp đang thời kỳ tái thiết. Tôi hỏi một người dân xứ Huế :
– Thưa ông, xứ này đã khôi phục được mấy phần?
– Được chừng một nửa…
Tôi thấy người dân xứ Huế như ngơ ngác… Chợ Đông-Ba thêm nhiều người ăn xin mặc áo dài.
Chỉ còn có lò bún Huế là vẫn còn giữ được chất ngọt, chất cay. Cái vắng lặng của sân bay Thành-Nội làm tôi nghĩ tới những khoảng đất không còn nước, ngàn đời chẳng thể nở hoa.
Tôi cứ đi sâu vào lòng quê huơng, qua nhánh sông của sông Hương, hình như sông Bao-Vinh thì phải, một bên bờ có lũy tre, có đền chùa uy nghiêm, một bên bờ thì nhộn nhịp ngựa xe dập dìu. Từ bên bờ Huỳnh-Thúc-Kháng nhìn qua sông, thấy những người con gái ngồi giặt quần áo mà tưởng như những nàng con gái giặt lụa bến Trữ-La thôn.
Buổi tối, tôi nằm dưới đò… Tôi muốn đi tìm một quê hương miền Bắc ở miền Trung mà không thấy quê hương. Hỏa châu vây chung quanh tôi. Tôi nằm nhìn trời, thấy trời như ít đi những vì sao. Không có một không khí của Tỳ-bà-hành, nên thuyền trăng giải nước trôi lạnh lùng. Chỉ thấy vương vào không khỉ rất nhiều hương chiến tranh.
Tất cả nằm im, ngủ kỹ, như sáu ngôi mộ nằm trên bến Phú-Vân-Lâu. Tôi nằm sấp xuống sạp thuyền, ngó lục bình trôi… Ngày mai, tôi về Saigon.
Thằng Hĩm thì thào bên tai tôi:
– Sắp Tết rồi đấy, mày ạ…
Tự nhiên tôi đâm cáu kỉnh:
– Tết thì Tết chứ ăn nhậu gì ?… Mầy làm như từ nhỏ tới giờ, mầy chưa biết cái Tết là cái gì.
– Tao đang chán nản. Hồi này, đứa con gái lớn của tao đã biết mặc xì-líp, xú-cheng. Bữa qua, mẹ nó mua cho nó một cuộn băng vệ sinh. Chả mấy lúc mà thành ông ngoại, trong lúc đó nhìn ngày tháng qua đi mà chẳng làm được…mẹ gì.
Tôi biết làm sao an ủi nó. Thời gian biết nó từ đâu tới, biết nó tới đâu là hết. Thì thôi, cứ chờ ngày nào “về quê”, lúc đó hẳn hay. Còn bây giờ, cứ biết sống được ngày hôm nay đã…