Linh Ứng

Lượt đọc: 6176 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
SỰ THẬT KHÓ TIN

Năm 2015.

Mười một giờ ba mươi phút đêm hôm đó, vợ chồng tôi và vợ chồng anh Huy Lạc cùng cháu Linh Hoa mới trở về Sài Gòn trên Quốc lộ 13 thăm thẳm tối mờ, thênh thang và vắng ngắt. Hành trình suốt một ngày dài quá sức đối với những người ở tuổi bảy mươi. Sáng, từ Sài Gòn đi nghĩa trang Phước Long một trăm bảy mưoi hai kilômét. Suốt buổi sáng đến quá trưa trong trời nắng như đổ lửa cùng gia đình làm giỗ anh Khôi ở nghĩa trang. Hơn năm mươi kilômét trở về Thành phố Đồng Xoài, vừa ăn trưa xong, chưa kịp nghỉ, lại phải chạy hơn năm mươi kilômét quay lại nghĩa trang Phước Long, gặp vợ chồng Huy Lạc đến gần nửa đêm, với toàn chuyện xúc động nghẹt thở muốn vỡ tim, tưởng trên đường về, hai vợ chồng phải nằm lịm trên xe …

Nhưng vợ tôi bỗng hỏi:

- Anh đang thức hay ngủ?

- Mệt quá, nhưng chỉ lim dim, chứ không sao ngủ được.

- Vì chuyện gì?

- Vụ Vinh nói hai đứa con trai sinh đôi của Danh Huyền giống anh Khôi như ba giọt nước.

- Em cũng đang nghĩ về chuyện ấy. Anh có hỏi chú Vinh, hai đứa khoảng bao nhiêu tuổi?

- Vừa nghe anh đã choáng, nên quên không hỏi.

- Hoặc chú Vinh trông gà hóa cuốc, nói quá lên cho giật gân, hoặc anh Khôi trước khi vào chiến trường, đã gặp Danh Huyền chia tay, và chuyện đó đã xảy ra.

- Anh Khôi vào Nam năm 1967, là năm phong trào “Ba khoan” ở miền Bắc đang ở cao trào, với lại những năm đó, trai gái Hà Nội yêu nhau, vẫn “nam nữ thụ thụ bất thân”. Ngày nay bị coi là cổ hủ, lạc hậu, còn hồi đó gọi là trong sáng, đến muốn cầm tay nhau cũng run lẩy bẩy không dám. Chưa kể anh Khôi rất “Bolshevik” trong chuyện này.

- Anh Khôi “Bolshevik” nhưng bà Danh Huyền không thì sao? Bà ấy là họa sĩ. Con gái Hà Nội là nghệ sĩ thì từ hồi Hồ Xuân Hương, chưa yêu đã “nam nữ thụ thụ hữu thân”. Đằng này lại là yêu sắp cưới, rồi anh Khôi đang là tráng sĩ ra đi có thể mãi mãi không trở về.

- Anh nghĩ Danh Huyền không phải như thế, nhất là thời điểm đó, Huyền đã là vợ anh Bá Vân.

- Anh nhớ trong Thép đã tôi thế đấy có chi tiết Pavel ở trong tù, cô gái trẻ cùng phòng giam, có cảm tình với anh, không muốn mất trinh tiết vào tay bọn Bạch vệ, đã tình nguyện dâng hiến cho anh.

- Nhưng Pavel khước từ.

- Pavel ở Nga năm 1917, thời Cách mạng tháng Mười, thì khước từ, nhưng Pavel Việt Nam, năm 1967, sẽ nghĩ cô gái kia khao khát dâng hiến để có được giây phút hạnh phúc trước khi hứng nhận đau khổ ô nhục trong tay bọn Bạch vệ, và nếu chỉ coi đây là chuyện thể xác, mà khước từ để giữ thanh cao cho mình, sẽ là sự ích kỷ, thậm chí, nhẫn tâm.

- Tóm lại, em đồng tình với việc Danh Huyền đã có chồng, phạm luật với người yêu cũ là anh Khôi, vì anh ấy có thể chết trong chiến trường, là có thể thông cảm? Nhưng hệ quả chuyện này là đẻ ra hai thằng con trai. Và vì vậy, hôn nhân giữa Bá Vân với Danh Huyền đổ vỡ?

- Đây lại là sự hy sinh khác. Bá Vân đương nhiên rất đau buồn, nhưng em nghĩ Danh Huyền sẽ không hối hận.

- Có một điều anh vẫn băn khoăn. Nếu chuyện xảy ra năm 1967, hai thằng con trai sẽ sinh năm 1968, đương nhiên chúng sẽ là cháu ruột anh. Bố còn sống, cụ sẽ rất mừng, vì một trong hai đứa sẽ là cháu đích tôn. Nhưng như vậy đến năm nay hai đứa phải đều bốn mươi bảy tuổi. Danh Huyền dám đưa chúng về tận Phước Long viếng bố, lẽ nào không công khai với gia đình mình?

- Ở tuổi ấy, chúng đều có vợ, có con. Sẽ không bình thường nếu bà Danh Huyền chỉ đưa hai đứa về.

Sự bế tắc của cuộc trao đổi bổ sung vào sự mệt mỏi khiến lời qua, tiếng lại loãng dần, hai vợ chồng cùng ngủ thiếp trên xe. Lúc về tới nhà, cậu lái xe đánh thức, mở mắt nhìn đồng hồ, đã hơn ba giờ sáng.

Hai hôm sau, vợ chồng tôi bay ra Hà Nội.

Bác Quỳnh gái không còn ở ngõ Liên Trì, mà ở một căn hộ khá khang trang ở tầng mười bốn, khu chung cư Trung Hòa - Nhân Chính hiện đại, mới xây dựng. Ra mở cửa là một người giống hệt anh Khôi, áo thun cộc tay, quần short jean, nhưng chỉ ở lứa ngoài ba mươi, chứ không ngoài bốn mươi như vợ chồng tôi “tư duy logic”. Tuy nhiên, chỉ riêng sự giống anh Khôi đến kỳ lạ, cũng khiến đường đời dày dạn như chúng tôi phải lúng túng như đang sống trong chuyện hoang đường.

- Bác là bác Tuấn trong Thành phố Hồ Chí Minh ra?

Riêng chuyện sẽ có cả một thế hệ trẻ ra đời sau chiến tranh, không còn gọi Thành phố Hồ Chí Minh là Sài Gòn, cũng đủ cho chúng tôi thấy nếu quá lưu luyến với quá khứ, cũng chẳng có cách nào kéo lùi được tương lai.

Tôi hỏi:

- Cháu là con mẹ Danh Huyền?

- Dạ! Mời hai bác.

- Mẹ cháu đâu? Hôm qua, trước khi ra, bác có gọi điện cho mẹ cháu.

- Mẹ cháu có nói. Nhưng sáng nay, mẹ cháu và em cháu phải vào bệnh viện với bố cháu, nên bảo cháu ở nhà đón hai bác. Gần trưa, mẹ cháu sẽ về.

- Bà cháu đâu?

- Bà cháu đang ở nhà cậu Danh Vũ ngay bên cạnh. Để cháu kêu bà về ngay bây giờ.

Tiện chiếc điện thoại di động thông minh đang cầm, cậu ta nhấn số luôn:

- A lô, bà! Bác Tuấn ra rồi.

Chưa đầy nửa phút sau, bác Quỳnh gái ở tuổi trong ngoài chín mươi đã hấp tấp bước vào phòng:

- Đâu! Tuấn đâu?

Cả bác lẫn tôi cùng sững lại. Bác vẫn còn nhiều nét không thể mất theo thời gian và lịch sử của các bà, các mẹ Hà Nội để tôi nhận ra, còn tôi thì có lẽ đã nằm ngoài hình dung của bác. Tôi xa bác từ năm 1960, khi lên học cấp ba ở trường Chu Văn An, cũng là thời điểm chấm dứt chân chạy giao len, rồi nhận áo do bác đan, mang về cho chị Tâm. Từ đó đến nay, năm 2015, hai bác cháu mới gặp nhau. Cả hai cùng bị thần thời gian và bụi đời làm bạc tóc. Tuy nhiên, sau phút ngỡ ngàng, bác run rẩy khóc òa, ôm chầm lấy tôi:

- Con ơi! Tuấn môi cong, đầu to ơi! Nhìn thấy con, sao bác chỉ mong được sống lại những ngày rất đẹp của các con hồi ở ngõ Tư Đường, Trần Nhật Duật.

Chừng nửa tiếng sau, Danh Huyền và con trai thứ hai về. Vừa bước vào nhà, nhìn thấy tôi, Huyền đã vui vẻ:

- Trời ơi! Chào Tuấn, Phương. Chúng mình cùng đã già hết rồi.

Tôi nói:

- Nhưng tính tình vẫn như trẻ con. Tại sao vào Sài Gòn, cậu không đến nhà tớ?

Lần đầu tiên gặp vợ tôi nhưng Huyền như quen thân từ lâu:

- Phương có công nhận chồng em vẫn trẻ con nên mới chưa chi đã giận? - Rồi Huyền nói. - Tớ chỉ ở Sài Gòn được buổi sáng, đinh ninh sẽ gặp vợ chồng cậu ở nghĩa trang Phước Long, nhưng khi anh Lạc ra, mới biết các cậu lên trễ.

- Điện thoại đâu? Nếu được báo trước một hôm, thì sáng sớm tớ cũng có mặt ở Phước Long được.

- Cậu quên chúng ta vẫn đang giận nhau à?

Tôi bước lại ôm chặt Huyền một lúc mới rời ra:

- Cho tớ xin lỗi. - Rồi tôi nói với vợ. - Mơ ước từ ngày cùng học lớp một đến nay, gần bảy mươi năm, anh mới lần đầu tiên được ôm bạn gái đấy.

- Cậu là nhà văn mà không biết chuyện này, càng thanh minh càng lạy ông tôi ở bụi này à.

Bác Quỳnh:

- Đúng như hồi chúng nó còn ở ngõ Tư Đường.

Hai thằng bản sao hình ảnh anh Khôi chỉ đứng cười lạc lõng với thế hệ già.

Danh Huyền nói:

- Chúng nó sẽ không bao giờ hiểu được thế hệ chúng ta, nên bây giờ phải đuổi chúng đi. - Rồi Huyền giới thiệu vợ chồng tôi với hai con. - Bác Tuấn là em ruột bác Khôi, hôm qua mẹ nói với các con rồi. Còn đây là bác Phương, vợ bác Tuấn. Cả hai bác đối với nhà ta đều như người nhà.

Hai đứa cùng khoanh tay lễ phép với chúng tôi một cách rất châu Á:

- Con chào hai bác.

Danh Huyền nói tiếp:

- Hai bác còn ở Hà Nội vài ngày nên sẽ còn gặp mẹ và các con, nhưng bây giờ sang chuyện người lớn, và bố ở trong bệnh viện đang cần các con, nên hai đứa dắt nhau vào bệnh viện với bố đi.

Hai bản sao của anh Khôi như chim sổ lồng, chào vội chúng tôi rồi vọt luôn khỏi nhà.

Bác Quỳnh biết ý, nói với chúng tôi:

- Bác biết các con sẽ nói chuyện gì, nên bác về bên Danh Vũ. Nhưng trưa nay, hai đứa cùng sang ăn cơm bên đó đấy.

Tôi nói đùa:

- Bọn cháu càng lớn tuổi càng xấu tính, nên có ai mời là quen ăn nhiều và kén đồ ngon, bác sẽ tốn tiền đấy.

- Này, thời đan len và rửa bát cho hàng cơm, hàng phở nhặt từng đồng qua lâu rồi. Bây giờ, ăn đã có vợ chồng Danh Vũ lo. Bệnh, thuốc bổ và đi du lịch có vợ chồng Danh Huy và con anh Danh Hoàng bao. Còn đãi bạn học cũ và sinh hoạt trong hội dưỡng sinh, bác có lương hưu và tiền dịch sách.

Tôi thân mật quàng vai bác:

- Cháu hỏi thật, có lúc nào bác buồn về một thời quá khứ đầy thua thiệt?

- Nếu nói đó là một thời vui vẻ hay tự hào là nói dối. Nhưng đất nước hòa bình, thống nhất rồi thì thua thiệt của mình chẳng nghĩa lý gì so với nhiều người, nhiều gia đình khác. Mình thì cuối cùng, chồng vẫn trở về. Mặc dù sau gần hai chục năm xa cách, cả hai đều trở thành đồ cổ, rồi chồng mình đã thuộc về người đàn bà khác, nhưng tình nghĩa vẫn còn thì tâm mình vẫn yên bình. - Rồi bác cười. - Cũng có một lúc nào đó thoáng buồn, bác cứ đổ hết tội cho chiến tranh, giống như các tác phẩm văn học nước ta trong thời kỳ đổi mới.

- Bác vẫn dành thời gian đọc sách?

- Đọc chứ. Một ngày của người già cũng hai mươi tư giờ như người trẻ. Ngủ tối đa chỉ được năm giờ, ăn uống, tắm rửa tối đa hai giờ, còn thừa những mười bốn giờ thì dành thời gian để đọc, xem ti-vi, giao lưu con cháu, bạn bè, thích việc gì làm việc đó, cũng là phương pháp dưỡng sinh, vừa để cho ngũ quan, đầu óc phải vận động, không lười biếng, vừa giải trí và nạp kiến thức để mình không bị lỗi thời trong đời sống hiện đại luôn biến động khôn lường. Cháu nên nhớ các cháu và Danh Huyền cùng già rồi đấy. Cháu có biết người già cần phải biết mình già để làm gì không? Để biết mình đang thật sự là ai, để không cay cú với quá khứ thời trẻ của mình và khe khắt với thời trẻ của thế hệ sau mình.

Vợ tôi đứng dậy, ôm bác Quỳnh, nói trong xúc động:

- Con sợ chính chúng con đang “cay cú” với hiện tại của mẹ. Thời trẻ của chúng con cũng trải qua chiến tranh, nên bây giờ chúng con luôn nghĩ mình phải được gì, trước khi biết mình mất gì. Còn mẹ rõ ràng đã mất quá nhiều, nhưng vẫn nghĩ những kẻ được nhiều phải là người khác.

Danh Huyền tiễn mẹ ra cửa, cẩn thận khóa chốt, rồi quay vào xa lông với vợ chồng tôi, sự vui vẻ tắt phụt. Tôi hiểu ra sự vui vẻ vừa rồi của cô là để dành cho mẹ, chứ không phải cho chúng tôi:

- Tôi biết vợ chồng cậu ra đây về chuyện gì? Chắc Vinh đã cho các cậu biết về hai thằng con tớ?

Tôi nói:

- Đó là chuyện chúng tớ rất cần biết, nhưng chuyện này nói qua điện thoại cũng được.

- Thế thì ra làm gì?

Tôi nói:

- Có cơ sở để tớ ngờ rằng hài cốt anh Danh Hùng đang ở Việt Nam chứ không còn ở Campuchia, nên phải ra gặp cậu để bàn trực tiếp.

Danh Huyền thoáng sững sờ:

- Cơ sở đó thế nào?

- Ông Mười Cao, người trong đội quy tập hài cốt liệt sĩ từ khu bệnh xá và căn cứ tỉnh ủy Phước Long tại khu rừng ở Svay Rieng bên Campuchia hiện đang sống ở Phú Quốc, nói chắc chắn đã khai quật năm ngôi mộ lính Việt Nam Cộng hòa trên một chiếc trực thăng bị bắn rơi trong khu vực, về Việt Nam. Do ông này không phải người đưa đi chôn nên không biết rõ địa điểm.

- Có gì để căn cứ một trong năm người đó là anh Danh Hùng?

- Bác Quỳnh nói anh Danh Hùng được Mỹ đào tạo là sĩ quan trực thăng vũ trang. Năm 1970, anh ấy cũng tham gia chiến dịch tổng tấn công của quân Mỹ và Việt Nam Cộng hòa, trên toàn tuyến biên giới Tây Nam phần miền Đông Nam Bộ. Tìm hiểu qua những người tham gia chiến dịch, bác cũng biết chiếc máy bay có mặt anh Danh Hùng bị bắn rơi ở khu vực bệnh xá và căn cứ của tỉnh ủy Phước Long ở rừng Svay Rieng. Suốt từ năm 1970, sau khi chiến dịch chấm dứt, rồi sang cả thời miền Nam được giải phóng, bác đã nhờ và thuê người đi tìm hài cốt ở khu vực này, nhưng không được.

Danh Huyền rất bình tĩnh:

- Nếu chỉ một chiếc trực thăng bị bắn rơi thì khả năng một trong năm người mất là anh Danh Hùng rất sát, nhưng nhỡ hơn một chiếc bị rơi thì sao?

- Bác Quỳnh nói những chiếc khác, trước khi rút quân, đều được phía Mỹ và Việt Nam Cộng hòa kịp đưa người bị thương và chết về căn cứ.

Danh Huyền nhắm nghiền mắt và ngửa mặt, lặng đi. Hai giọt nước mắt ứa từ hai khóe mắt rồi lăn xuống má.

- Bây giờ, Tuấn tính sao?

- Trên máy bay trước và sau khi bị bắn rơi chỉ có năm người hay hơn? Cứ cho năm người được chôn, rồi hài cốt được đưa về Việt Nam, là chính xác, thì vẫn có thể có người thứ sáu, thứ bảy, hay hơn nữa bị tan xác, bị biến dạng, thành than, khi máy bay bị cháy hoặc vì những lý do khác không được chôn cất, trong đó có anh Danh Hùng? Như vậy sai số sẽ rộng ra? Đúng không?

Nước mắt trên mặt Danh Huyền bỗng đầm đìa. Cô ào sang ôm vợ tôi:

- Cho tớ ôm Phương một cái. Không ngờ các cậu đã quá tốt và quá thương anh tớ. Bố tớ mỗi lần nói đến anh Danh Hùng đều nhắc đến anh Khôi, sau đó lại nói: “Số mệnh của đất nước dẫn đến chiến tranh, rồi số mệnh chiến tranh dẫn đến anh em cùng một nhà đối địch nhau ở hai bờ chiến tuyến. Đã là số mệnh thì muốn cố tránh cũng không tránh được, nhưng suốt từ khi biết tin thằng Khôi vào chiến trường miền Nam, trong khi ở Sài Gòn, vì sự an toàn cho mình, phải đẩy Danh Hùng vào quân ngũ, bố ngày đêm chỉ cầu mong số mệnh không đẩy hai anh con đến chỗ bắn giết nhau”. Bây giờ nghe cậu phân tích, hai người chết cùng ngày hai mươi ba tháng Năm năm 1970, tại chiến dịch ác liệt ở chính vùng bệnh xá và căn cứ tỉnh ủy Phước Long ở rừng Svay Rieng, bên Campuchia… - Danh Huyền ôm mặt, nức lên. - Thế thì rõ ràng họ đã đối địch nhau. Trời ơi! Tớ chỉ cầu mong cho hai người không nhìn thấy nhau… Bố tớ nói, đã là số mệnh thì khó tránh… nhưng tại sao ông trời lại nghiệt ngã quá! Cả anh Danh Hùng lẫn anh Khôi đều là người rất tốt mà.

Vợ chồng tôi cùng không cầm được nước mắt.

Chờ cho cơn xúc động của cả ba tạm lắng xuống, tôi nói với Danh Huyền:

- Cậu thì cầu trời cho hai anh không nhìn thấy nhau, còn tớ lại cầu trời ngược lại, vì nếu hai người nhìn thấy và nhận ra nhau thì chắc chắn sẽ không ai bắn và như vậy sẽ không ai chết, để đến hôm nay, sau gần năm mươi năm, chúng ta cùng hàng vạn, hàng triệu người dân Việt không phải lặn lội khắp nơi để tìm hài cốt người thân.

- Rồi. Cậu nói vậy thì tớ không khóc nữa.

- Vấn đề chính hôm nay, khiến chúng ta gặp nhau là còn nước còn tát để ráng tìm cho được hài cốt anh Danh Hùng.

- Bố mẹ tớ cũng đều mong như vậy. Các cụ cùng nói, không tìm được anh Hùng, thì ra đi không nhắm được mắt.

- Vậy tớ nói thẳng nhé, vợ chồng tớ tìm được hài cốt anh Khôi nhờ một nhà ngoại cảm, sau khi đã đi một ngàn lẻ một con đường khác nhưng đều thất bại.

Danh Huyền ngắt lời tôi:

- Khoan đã. Bố mẹ tớ và Danh Vũ cũng nghĩ tới con đường này. Tớ nghe nhiều người nói, rồi đọc một số tài liệu, báo chí về khả năng tìm mộ và giao lưu với người âm của các nhà ngoại cảm không chỉ Việt Nam mà cả ở nước ngoài. Tớ không nói đó là chuyện bịa và cũng không lao vào tranh luận đó là chuyện thật hay không, mà chỉ nghĩ thế giới tâm linh là nơi hàng ngàn năm nay, con người hướng về để tin sự công bằng, sự trong sáng và tươi đẹp, nơi có một ông Trời, ông Phật hay Thượng đế là tác giả nhào nặn nên các số phận ở hiền sẽ gặp lành, cả trên trời lẫn dưới đất, nhưng sao càng sống, tớ chỉ càng thấy ở hiền dường như ít gặp lành. Cậu thấy rõ tớ, rồi cả nhà tớ hay cả nhà cậu cũng vậy… Nên nếu cậu định dẫn tớ vào con đường tâm linh để tìm anh tớ, thì đừng bàn nữa vì tớ nhất định không theo.

Vợ tôi nói:

- Kể cả việc nhà em tìm thấy anh Khôi là sự thật?

- Tớ tin nhà mình tìm thấy mộ anh Khôi là đúng, nên ba mẹ con mới vào tận Phước Long dự giỗ anh ấy. Nhưng ngay kết quả nghiên cứu của các trung tâm nghiên cứu tâm linh và tiềm năng con người nhiều năm qua cũng tổng kết sự chính xác trong việc tìm hài cốt bằng khả năng ngoại cảm chỉ đạt bảy mươi phần trăm. Như vậy ba mươi phần trăm sai số lại nằm ở anh Danh Hùng thì sao? Nhưng tớ không tranh luận về chuyện này, mà chỉ nói thế giới tâm linh thực chất là gì? Cậu là nhà văn có thể đọc tới 1001 cuốn sách về tâm linh, thì tớ, tuy chỉ biết đọc, biết viết nhưng cũng đọc 999 cuốn. Thế giới tâm linh có thiên đường nhưng cũng có địa ngục, có thiên thần nhưng cũng có quỷ dữ, và thánh thần cũng đủ thứ đẳng cấp, các vong hồn cũng có vong hồn no đủ, vong hồn đói khát không nơi cư trú… Tất cả cũng chỉ là mặt khác của đời sống cõi trần, đi theo nó sẽ gặp đủ mọi hỉ nộ ái ố như cõi trần, chứ chưa chắc đã siêu thoát hơn, nên tớ nhất định không theo.

- Tranh cãi về lĩnh vực tâm linh khi cả tớ lẫn cậu cùng chỉ cảm mà không nhận thì đến khi trái đất ngừng quay vẫn không ngã ngũ. Cậu không theo, tớ vẫn không nói cậu sai. Nhưng tìm hài cốt anh Danh Hùng, chắc chắn cậu vẫn tìm?

- Đương nhiên.

- Vậy tớ nói thế này: Chúng ta sẽ không nói chuyện tin hay không tin vào tâm linh nữa, mà vì tình bạn giữa chúng ta, cậu hãy nhắm mắt lại, nắm lưng áo tớ. Tớ đi đâu, cậu theo đó để tìm bằng được anh Danh Hùng. OK chưa?

- Cậu nói vậy thì tớ đồng ý.

- Bây giờ sang chuyện thứ hai. Chúng ta không còn thời nhóc con, học cùng lớp ở trường Đỗ Hữu Vị và phổ thông cấp hai và ba Hà Nội nữa, mà đều là ông già, bà già rồi, nên không có gì phải ý tứ quanh co. Hồi yêu anh tớ, hai người có ngủ với nhau lần nào không?

- Cậu nhận là người già để cho mình cái quyền được hỏi câu lẩm cẩm ấy à? Thời chúng mình, về yêu thì mãnh liệt còn hơn bọn trẻ bây giờ, vì phải vượt qua biết bao rào cản, nhưng chỉ nghĩ đến chuyện cầm tay nhau, mặt đã nóng bừng bừng, làm sao dám ngủ?

- Nóng bừng bừng vì sợ hay xấu hổ thì đúng là không dám, nhưng bừng bừng vì yêu thì vẫn có thể, nhất là đứa có máu liều như cậu.

- Này! Chấm dứt chuyện này đi, không cậu lại giống như anh Bá Vân. Anh Khôi trước khi đi chiến trường đã về Hà Nội nhờ Bá Vân thay anh ấy chăm sóc tớ. Đây là sự xúc phạm, khiến tớ quyết định chia tay, cho anh ấy ra đi được thanh thản, nhưng đó là chuyện khác. Tớ nhắc lại chuyện này, để nói, tớ và anh Khôi đã ngủ với nhau rồi, thì anh Khôi là hạng người gì khi giao vợ cho Bá Vân? Thứ hai, tớ với anh Khôi chia tay năm 1967, từ đó, anh ấy ở trong Nam, còn tớ ngoài Bắc, nhưng hai thằng nhóc thì đến năm 1977 mới ra đời, chúng tớ có là thiên thần, cũng không thể có chuyện đứa bay ra, đứa bay vào, ngủ với nhau ở giữa đường được.

- Điều cậu vừa nói, ai cũng biết. Nhưng thực tế, hai đứa lại giống hệt anh Khôi, thì sẽ chẳng ai tin.

- Thôi thôi. Nếu cậu vẫn luẩn quẩn quanh mấy câu tại sao thì tớ nói thẳng là tớ cũng không biết tại sao, và từ khi hai đứa ra đời, tớ với anh Vân đã cày nát hai tiếng “tại sao” đến mức chia tay rồi. Anh ấy biết thừa tớ đến với anh ấy vẫn còn nguyên vẹn. Anh ấy cũng biết thừa đi thử ADN là chuyện vô lý, nhưng vẫn đưa hai đứa đi thử, kết quả cả hai đứa đều mang gen anh ấy. Rồi anh ấy bảo, ở với anh ấy, nhưng lòng tớ vẫn dành cho anh Khôi. Thậm chí, lúc hai đứa ngủ với nhau, nhưng cảm xúc vẫn là với anh Khôi, nên mới ra hai đứa. Chưa hết, anh ấy còn mời đủ các thứ thầy tử vi, kinh dịch, ngoại cảm tư vấn về lĩnh vực tâm linh. Mỗi thầy phán một cách, đa số đều cho là vong anh Khôi hiện về lúc giao hợp, nên phải cúng để trục anh ấy đi.

- Có cúng không?

- Rồi. Nhiều là khác. Cúng nhiều đến mức hai đứa cứ nhìn thấy nhau là thấy anh Khôi ở giữa, nên phải ngủ riêng. Nói thêm chuyện này thì hai cậu hiểu vì sao tớ rất dị ứng với lĩnh vực tâm linh rồi chứ?

Tôi hỏi:

- Liệu có phải do những ngày giỗ anh Khôi ở nhà tớ ngoài Hà Nội, cậu vẫn đến thắp nhang?

- Toàn anh Bá Vân nhớ ngày này rủ tớ đi. Nhưng từ khi hai thằng nhóc ra đời cũng thôi rồi. Tớ rất phiền và chịu nhiều tai tiếng về chuyện này. Không biết bao nhiêu lần, tớ đã vừa khóc, vừa kêu trời: “Hãy tha cho tôi đi! Tôi không biết tại sao! Không biết tại sao! Không biết tại sao!”. Và đấy cũng là lý do tớ quyết định đưa hai đứa theo bố tớ đi định cư ở Mỹ. Mẹ tớ cùng vợ chồng Danh Vũ và thằng cháu Danh Huy cũng ủng hộ.

Trưa hôm đó, vợ chồng tôi có bữa cơm vui vẻ với bác Quỳnh gái và Danh Huyền. Theo như bác Quỳnh nói lúc sáng, bữa cơm này sẽ có mặt cả mấy nhà vì đây là dịp gặp gỡ hiếm hoi khi có mẹ con Danh Huyền từ Mỹ về, và vợ chồng tôi từ Sài Gòn ra. Cuối cùng, vợ chồng Danh Vũ và vợ chồng Danh Huy cùng không có mặt với lý do làm việc thông tầm 14* , không về được. Bốn đứa cháu, con nhà Danh Vũ, Danh Huy cũng không dự vì không muốn chúng nghe chuyện người lớn. Nhưng đến Bá Ninh, Bá Giang, hai con trai Danh Huyền, bận chăm sóc bố ở bệnh viện cũng vắng, thì chúng tôi hiểu, hoặc bác Quỳnh, hoặc Danh Huyền, muốn bữa trưa này là thế giới riêng của những người trong cuộc một thời thân thương, không nên có thêm bất cứ kẻ ngoài cuộc nào. Và những người ngoài cuộc trong gia đình chắc cũng hiểu điều này. Bữa trưa đã kéo dài đến tận ba giờ chiều. Bốn chúng tôi cùng nói ít. Nhưng nước mắt lại nhiều. Riêng tôi không khóc vì như bác Quỳnh trai nói: “Nước mắt chảy vào trong”.

14* Thời gian làm việc liền mạch thành một buổi, không chia thành hai buổi sáng chiều.

Rời nhà bác Quỳnh, thay vì về khách sạn, tôi bảo Danh Huyền đưa vợ chồng tôi đến bệnh viện Bạch Mai thăm anh Bá Vân. Thoạt đầu Huyền lưỡng lự không muốn, nhưng rồi cũng đồng ý, kèm theo lời thanh minh:

- Đang là một người thất bại gặp lại bạn bè cũ, nhất là những người thành đạt, anh ấy hay tủi thân rồi gây sự, nên tớ hơi lấn cấn chứ không có ý gì.

Tôi cười:

- Tất cả chúng ta cùng đang đi trên đường, không ai dám nghĩ mình đã tới đích cả.

Bệnh viện Bạch Mai ở khu xây dựng mới, có những phòng điều trị dịch vụ hiện đại tiêu chuẩn quốc tế, không khác gì căn hộ khách sạn năm sao. Bá Vân là bệnh nhân đang được hưởng chế độ điều trị ấy.

Tôi bảo với Danh Huyền:

- Ở đây quá tốt.

Danh Huyền nói:

- Từ Mỹ về, tớ mới đưa anh ấy vào đây.

Lúc vợ chồng tôi và Danh Huyền bước vào, trong phòng chỉ có mình Bá Vân đang ngồi dạng chân trên giường nệm chuyên dụng của bệnh nhân, tay cầm bút chăm chăm phết màu lên bức tranh đang vẽ dở đặt trên giá bằng kim loại mạ kền, có thể linh động điều chỉnh phù hợp với thế ngồi của họa sĩ, đặt ngay trên giường.

Vẫn là một Bá Vân gầy nhỏ, giờ ở tuổi ngoài bảy mươi còn gầy hơn, để thêm chòm râu thưa trắng. Vẫn đầu đội chiếc mũ nồi đen, đã cũ sờn, phủ lên trên mái tóc dài, ngày xưa đen, còn ngày nay bạc. Vẫn khoác ngoài đúng chiếc áo ka-ki đen dài dơ dáy dính đầy các vệt sơn dầu xanh, đỏ… Phòng điều trị vuông vức, sang trọng diện tích khoảng bốn mươi mét vuông, đầy đủ tiện nghi. Ngoài giường chuyên dụng dành cho bệnh nhân, còn một giường nệm đôi phủ drap trắng tinh dành cho thân nhân, một bộ xa lông bọc nỉ mốt mới nhất và cả ti-vi 50 inch, dàn nghe nhạc. Nhưng tất cả đều bị nuốt đi, át đi bởi khắp nơi treo và bày đầy các bức tranh sơn dầu đủ loại khổ, đủ kiểu khung. Trên sàn gạch men sạch bóng cũng đủ loại giấy trắng, giấy màu có hình vẽ, tờ còn nguyên, tờ bị xé hoặc vò nhàu. Nếu không ý thức trước, chắc chắn nhiều người có cảm giác bước vào nơi để tranh tồn kho của một khu triển lãm, lâu ngày không có người để mắt dọn dẹp. Hiện trạng này khiến tôi nhớ lại căn hầm của anh ở đường Hàn Thuyên, vào tháng Tám năm 1963, khi anh Khôi từ Lào Cai về Hà Nội, đưa tôi đến ngủ nhờ và tâm sự, trước khi tiễn tôi vào cuộc đời Thanh niên Xung phong.

Biết có người vào, Bá Vân dường như không quan tâm, vẫn mải mê vẽ. Danh Huyền định đánh động với Vân, nhưng tôi ra hiệu hãy tôn trọng sự tập trung sáng tác của anh. Và lúc đó, tôi mới nhận ra bàn tay cầm bút của anh run lẩy bẩy, miệng hơi méo, hai mắt cố nhướng lên sau cặp kính lão xệ xuống sống mũi, cổ nghiêng đi, cả thân người phải cứng lên, để làm chủ một cách khó khăn những quệt màu trên nền tác phẩm chưa ra hình hài. Không phải anh chỉ già yếu mà còn đang phải chịu hậu quả của ít nhất một lần căn bệnh tai biến mạch máu não. Tự nhiên tôi thấy thương cho Huyền và cũng thầm trách anh Khôi, khi anh không bao giờ nghĩ, một phụ nữ đầy sinh lực như Huyền phải sống bên một người đàn ông gầy yếu thiếu sinh khí như Bá Vân, thì dù anh cao cả và vĩ đại đến đâu, tình yêu giữa hai người đẹp đẽ đến đâu, thì Huyền cũng không thể có hạnh phúc.

Mấy chục bức tranh sơn dầu đủ mọi khổ, treo đặt khắp trong phòng hóa ra đều là những tác phẩm chưa hoàn chỉnh. Có bức, cả tranh lẫn khung, để quăng quật như đồ bỏ đi. Nhiều nhất, khoảng hơn hai chục bức là chân dung Danh Huyền hồi trẻ. Phải yêu Huyền lắm, anh mới dành quá nhiều ưu ái cho cô. Nhưng bức nào cũng khiếm khuyết. Bức thiếu tai, bức thiếu mắt, bức xong hết phần mặt, nhưng bộ răng chưa có, bức hoàn chỉnh từng chi tiết chân dung, nhưng bộ tóc vẫn ở dạng phác thảo bằng chì đen. Số những bức tranh lập thể, thoạt nhìn màu sắc và hình khối thấy bắt mắt, nhưng cũng dễ phát hiện là những bức chưa vẽ xong.

Tôi thì thầm hỏi Danh Huyền:

- Tại sao?

Huyền thì thầm lại:

- Cố ý.

Rồi cô đi đến bên Bá Vân, vỗ nhẹ vai anh:

- Anh có khách này.

Bá Vân ngừng vẽ, ngoảnh ra, dùng cán bút đẩy mắt kính lão lên đúng tâm mắt, nhìn kỹ tôi.

Huyền hỏi:

- Anh có nhận ra ai không?

Bá Vân buông luôn cả bút lẫn bảng màu xuống giường, ấn hai tay vào nệm mới xoay được thế ngồi, quay ra đối diện với tôi:

- Trông quen quen.

Tôi nói:

- Tôi là Tuấn, em anh Khôi...

Tôi đang háo hức muốn nhắc lại kỷ niệm đẹp đã từng cùng anh Khôi ngủ lại căn hầm của anh ở Hàn Thuyên. Cũng đêm đó, anh có hành xử tuyệt vời, khi lóc cóc đạp xe đến ngõ Liên Trì, chở Danh Huyền về Hàn Thuyên, cho anh Khôi gặp Huyền, còn anh đi ngủ nhờ nhà bạn… Nhưng tôi chưa kịp mở đầu, Bá Vân đã ngắt lời một cách rất thản nhiên:

- Khi anh đang vẽ, bố mẹ đẻ, anh cũng quên, nên chú đừng nhắc anh phải nhớ thằng nào, con nào. - Anh chau mày nhìn hai vợ chồng tôi. - Đã dám đến với anh Bá Vân, hai đứa có hiểu gì về hội họa không?

Danh Huyền nói:

- Tuấn là nhà văn, còn Phương, vợ Tuấn, là nhà báo.

- Nhà văn, nhà báo bây giờ cũng đều là lũ mù họa. Nhưng chị Danh Huyền đã dẫn đến là có chọn lọc. Giờ hai đứa đi xem tranh của anh, chờ anh vẽ thêm vài nét cho hết màu, rồi nói chuyện.

Tôi nói:

- Từ lúc vào, thấy anh mải tập trung sáng tác, Danh Huyền đã cho tụi tôi xem và giới thiệu tranh anh rồi.

- Giới thiệu thế nào?

Tôi thật thà:

- Tất cả các tranh ở đây đều được anh cố ý không hoàn thành.

Bá Vân lập tức đùng đùng nổi giận với Danh Huyền:

- Cố ý là thế nào? Cố ý bỏ đi? Cố ý dở ông, dở thằng? Hay cố ý lười biếng? Tại sao em không dám nói đây là một trường phái mới, như anh đã nói với em cả trăm lần?

Anh nói với vợ chồng tôi:

- Anh đang tâm huyết sáng tạo ra trường phái Dở dang. Tất cả những sự hoàn chỉnh, hoàn hảo trên cõi đời này đều là hoang tưởng trong giả dối và nhàm chán, trong khi thực tế đời sống toàn nhân loại, không ai, không có gì không dở dang. Như cuộc đời anh, yêu hết mình, thành vợ thành chồng rồi, nhưng trái tim người mình yêu lại thuộc kẻ khác. Đến con mình giao hợp đẻ ra, ADN rõ ràng của mình, vậy mà hình hài lại của người khác… Cho nên sự dở dang mới là chân lý sáng tạo mà loài người cần vươn tới và đi mãi không hết, còn mọi sự hoàn chỉnh đều là kết thúc, đều là cáo chung của nghệ thuật sáng tạo. Chỉ có lũ ngu và hấp hối, mới tự nhận mình là hoàn hảo.

Danh Huyền cố dịu giọng:

- Anh có thôi đi không? Sao hôm nay bỗng nhiên anh như bị ma ám thế?

Bá Vân chỉ mặt Huyền:

- Anh cho em nói lại. Anh hay là chính em đang bị ma ám?

Thấy Danh Huyền làm thinh, Bá Vân nói tiếp:

- Em cứ việc tự do ngôn luận để kết tội anh, nhưng phải nói có sách, mách có chứng. Cấm suy diễn.

Danh Huyền cố nuốt nước mắt, nhẫn nhịn:

- Em xin lỗi. Từ nay, em sẽ thừa nhận Dở dang là một trường phái mới trong hội họa. Anh ngồi vẽ tiếp đi, để em đưa Tuấn và Phương xem tranh.

Cô (thực ra là bà) bước lại khoác nách Bá Vân:

- Để em đỡ anh ngồi quay lại.

Bá Vân gạt tay Huyền:

- Không cần. Mẹ con em từ Mỹ về được hơn tháng nay… Vậy những ngày, tháng, năm, còn lại, một mình anh vẫn sống, vẫn vẽ, vẫn sáng tạo, thì ai đỡ?

Anh (thực ra là ông) chống hai tay xuống nệm, thuần thục, nâng người, xoay sang thế ngồi trực diện với giá vẽ. Đã cầm bút và bảng màu lên, nghĩ thế nào, anh lại quay qua vợ chồng tôi:

- Anh nói với hai đứa điều này, không thì lát nữa, hai đứa xem tranh xong, anh lại quên: Ngay hôm nay, anh biết thừa không chỉ người anh yêu nhất là Danh Huyền, mà cả Hà Nội, cả nước Việt Nam, thậm chí, cả thế giới, coi anh là thằng gàn, thằng bị ma ám, nhưng một trăm, một ngàn năm sau, tất cả đều sẽ phải ghi nhận trong lịch sử hội họa tên tuổi Bá Vân và trường phái Dở dang là bất tử. Vì sao? Vì mọi sự hoàn hảo, hoàn chỉnh, đều là hoang tưởng. Chỉ dở dang mới là chân lý.

Nói xong, Bá Vân lại ngay tức khắc tập trung vào bức tranh đang vẽ, như quên ngay sự có mặt của chúng tôi.

Danh Huyền như người có lỗi:

- Tuấn, Phương về được rồi. Cảm ơn hai người đã đến thăm anh ấy.

Tôi nói:

- Nhưng đã nói chuyện được gì đâu?

Huyền cười gượng:

- Thế là nhiều rồi. Vì anh ấy quên ngay ấy mà.

Lúc Huyền tiễn chúng tôi xuống thang máy, rồi ra cổng bệnh viện, vợ tôi hỏi:

- Trước khi vào bệnh viện, anh ấy ở đâu?

Huyền nói:

- Trước khi ly hôn, hai vợ chồng có ngôi nhà ở mặt tiền đường Cửa Đông. Tầng hầm ở Hàn Thuyên dùng làm kho chứa tranh. Sau hai lần đi thêm bước nữa, rồi ly hôn, anh ấy về lại căn hầm. Nói cách nào, anh ấy cũng không nghe, nên mình mua thêm nửa còn lại, khi người chủ cũ đi nơi khác.

Tôi hỏi:

- Mấy chục năm qua, anh ấy sống bằng gì?

- Lúc bắt đầu nghỉ hưu, do bán được tranh, anh ấy tuyên bố không ăn vào tiền thuế của dân, tức không nhận lương hưu. Không may chuyển sang thời tranh không bán được, rồi cũng không hợp thời, anh ấy sống rất cực. Mình từ Mỹ, phải đưa tiền, nhờ mấy người bạn đến mua tranh anh ấy cất kho, để anh ấy có tiền sống.

Vợ tôi nói:

- Anh Tuấn và em từng sang Mỹ, thấy đời sống Mỹ chẳng phải thiên đường cho tất cả mọi người. Chị cũng lớn tuổi rồi, có cần phải hy sinh cho anh ấy nhiều thế không?

Danh Huyền cười nhẹ:

- Anh ấy chưa bao giờ nghĩ xấu hay nói xấu về anh Khôi, kể cả lúc xung khắc giữa mình và anh ấy lên đến cao điểm. Rồi sau anh Khôi, mình cũng rất yêu anh ấy. Cho đến hôm nay, anh ấy vẫn chưa hết yêu mình. Chúng mình cũng đã là vợ chồng, có chung hai đứa con. Và trên hết, anh ấy từng là người thầy của mình. Từ anh Khôi và anh ấy, mình mới đi vào con đường hội họa. Tình yêu và hôn nhân giữa mình với anh Bá Vân là một kết cục buồn, rất buồn và rất đau, nhưng vẫn phải thừa nhận anh ấy là một tài năng thật sự. Đánh giá đúng về một người tài rất khó, nên cần phải rộng lượng. Mình thuộc loại ít tin ở tâm linh, nhưng đã có lúc mình nghĩ hình như anh ấy bị ma ám. Bây giờ ngẫm sâu hơn, bình tĩnh hơn, mình cho là sự nghiệp của anh ấy thất bại thảm hại bởi sự tâng bốc quá đáng của người đời. Không biết Tuấn, Phương, cùng giới văn nghệ, có thấy điều này không?

Tôi nói:

- Thú thật, tớ ít hiểu biết về hội họa, cũng không chơi rộng với giới họa sĩ, nhưng quan điểm của tớ, đã dấn thân vào con đường nghệ thuật, nơi có bao nhiêu vinh quang, cũng có bấy nhiêu khắc nghiệt, cần phải quen và tỉnh táo trước những tâng bốc lẫn phê phán quá đáng từ đủ thứ trình độ và động cơ sạch sẽ lẫn không sạch sẽ của người đời. Đồng thời muốn đi được đường dài và sống được bằng nghề, hãy cố mà làm nhiều, nói ít. Dù Bá Vân có những nhược điểm này khác, tớ vẫn quý những người tốt đẹp của một thời.

Vợ tôi nói:

- Em với chị cùng là phụ nữ, nên em nói thẳng. Sự hy sinh và chịu đựng đau khổ vô bờ bến của người phụ nữ có thể làm nguyên liệu cho tình yêu, nhưng đừng dùng tình yêu làm nguyên liệu cho ước lệ thời thượng của đời sống hiện đại. Rồi chỉ thấy hạnh phúc trong lời thơ, tiếng hát của người đời.

Đúng lúc đó, Bá Ninh và Bá Giang, hai “bản sao” của anh Khôi từ ngoài cổng đi vào. Cả hai cùng giống hệt anh Khôi từ thần thái đến dáng đi, khiến chúng tôi chỉ thấy thương Bá Vân và không thể trách anh điều gì nếu anh vẫn không sao mặn mà với Danh Huyền và hai con. Thấy chúng tôi, cả hai chào rất lễ độ.

Danh Huyền nghiêm mặt:

- Các con đi đâu mà để bố một mình?

Bá Ninh miễn cưỡng:

- Bố đuổi chúng con đi để ngồi vẽ.

Bá Giang nói:

- Bố còn không cho các y bác sĩ vào phòng.

Nhìn hai thằng con đi khuất vào thang máy, Danh Huyền than thở:

- Các cụ ngày xưa nói: “Một giọt máu đào hơn ao nước lã”. Nhưng không rõ từ đâu, máu cứ dần loãng ra. Lần này về nước, bảo hai đứa đưa cả vợ và các con về chào bố. Tuy nghe mẹ, nhưng chúng nó nhất định chỉ về một mình. Chúng lý sự: “Gặp gỡ mà tình hình xấu đi, tốt nhất là không cho về”. Chúng đã đúng, khi rõ ràng anh Bá Vân không có tình cha con với chúng. Thế thì thêm một thế hệ nữa, không chừng nước lã còn hơn máu đào.

Tối hôm đó, về khách sạn, tôi gọi điện cho Tiến sĩ Bùi Tiến Quý. Sáng hôm sau, theo đúng hẹn, vợ chồng tôi đưa Danh Huyền đến gặp anh ở Viện Khoa học Hình sự, Bộ Công an. Anh vẫn tiếp chúng tôi ở phòng làm việc, nơi chúng tôi gặp anh sáu năm trước. Mở đầu cuộc tiếp xúc, tôi nói:

- Có một điều tôi vẫn thắc mắc, sau vụ anh và cậu Lư giúp tôi tìm được mộ anh Khôi, rất nhiều lần, tôi gọi điện thoại, vừa để nói lời cảm ơn, vừa muốn hỏi thêm một số điều cần sáng tỏ, nhưng không bao giờ gọi được. Ban đầu, tôi cho rằng có thể do vấn đề kỹ thuật, cũng có thể do mình gọi vào lúc máy phía anh và cậu Lư bận hoặc tắt máy, nhưng không thể có chuyện gọi vào nhiều ngày khác nhau, với hàng chục cuộc gọi vẫn không liên lạc được.

Tiến sĩ Bùi Tiến Quý nói:

- Không phải mình anh có thắc mắc này. Đã có lúc, người trong ban nghiên cứu chúng tôi đặt nghi vấn: “Liệu có sự tham gia của các vong vào đường dây liên lạc trong công nghệ thông tin không?”, vì thực tế đã có những cuộc gọi, có người nhận, có giao tiếp hẳn hoi, nhưng người nói lại không ở máy xuất phát… Cái khó của dấu hỏi này là nếu đi tới cùng để tìm cho ra kết luận thì lại là vấn đề nằm ngoài khả năng hiểu biết và kỹ thuật hiện có, nên chúng tôi chỉ dừng ở sự ghi nhận để tìm hiểu thêm, chứ không thiên về quyết tâm khám phá sự thật.

Nghe anh nói vậy, tôi đành đi vào chuyện chính của cuộc gặp gỡ:

- Bây giờ là phiền anh về trường hợp rất khó giải thích của họa sĩ Danh Huyền.

Tôi đưa ông Bùi Tiến Quý ba bức ảnh khổ 12 x 19 centimét. Một bức đen trắng chụp anh Khôi ở tuổi mười lăm, hai bức còn lại là ảnh màu, chụp Bá Ninh và Bá Giang, con trai Bá Vân và Danh Huyền cùng tuổi mười lăm. Tôi hỏi:

- Liệu có vấn đề tâm linh ở đây?

Anh Quý vừa cầm ba tấm ảnh, đã thốt lên:

- Quá giống.

Danh Huyền giải thích thêm một cách yếm thế:

- Hai cháu giờ đều đã ba mươi tám tuổi, có khác đi nhiều so với hồi còn bé.

Tiến sĩ Bùi Tiến Quý chăm chú xem kỹ từng tấm:

- Giống nhau không chỉ từng đường nét mà cả thần thái. - Rồi anh nói với Danh Huyền. - Tối qua, anh Tuấn đã nói rất kỹ với tôi qua điện thoại về trường hợp của chị. Thực tế, trên thế giới đã ghi nhận nhiều trường hợp đứa trẻ được sinh ra không giống bố hoặc mẹ là hai người quan hệ trực tiếp, mà lại giống người thứ ba ngoài cuộc hoàn toàn. Thí dụ, ở Tây Tạng, có đứa trẻ được sinh ra giống hệt đức Đạt Lai Lạt Ma, lớn lên cậu bé này chưa từng đi học đã biết đọc, biết viết, thông thuộc hết kinh Phật. Ở Ấn Độ, đất nước đạo Phật là quốc đạo, rất nhiều đứa trẻ sinh ra không giống bố mẹ mà giống Đức Phật hay Quan Âm Bồ Tát. Còn ở nước ta, tại những vùng sùng đạo Thiên Chúa, có những bé gái có gương mặt và thần thái giống Đức Mẹ Maria. Giải thích về hiện tượng này, các nhà khoa học cho rằng do ảnh hưởng rất mạnh từ đức tin của người mẹ, nhưng cũng có xu hướng cho rằng từ mối liên hệ truyền kiếp. Quan điểm này, tuy hệ quả rõ ràng nhưng phần chứng minh thì chỉ có cách quy về… tâm linh. Trường hợp của chị, tôi chỉ chia sẻ những đau khổ mà chị phải chịu đựng, chứ có giải thích cũng chỉ nói giả thiết, mà nói giả thiết thì chúng ta sẽ tranh cãi đến vô cùng, nên chuyện này, tôi xin phép chỉ ghi nhận, rồi cử chuyên gia theo sát, vừa tìm hiểu vừa nghiên cứu, chứ chưa thể có phân tích hay kết luận chính thức nào.

Danh Huyền tỏ ra thông cảm:

- Tôi hiểu. Dù sao cũng cảm ơn anh.

Tôi nói:

- Chuyện thứ hai, chúng tôi muốn nhờ cậu Nguyễn Văn Lư làm lễ gọi hồn, tìm mộ anh Danh Hùng, anh ruột chị Danh Huyền. Tôi với cậu Lư đã là chỗ quen biết, có thể nói trực tiếp, nhưng có chút vướng mắc, anh Danh Hùng là sĩ quan phía Việt Nam Cộng hòa, không biết cậu Lư có nhận giúp, nên phải hỏi ý kiến anh?

Tiến sĩ Bùi Tiến Quý đáp:

- Theo tôi, cậu Lư thuộc thế hệ trẻ, sẽ không có sự phân biệt bởi những định kiến quá khứ. Tuy nhiên, trong những người liên quan, chắc chắn sẽ có người nói ra, nói vào, khiến cậu ấy dao động. Nhưng theo tôi được biết, hai ngày nữa, cậu ấy cùng hai nhà ngoại cảm Việt Nam lên đường sang Thái Lan dự một hội nghị châu Á chuyên đề về thế giới tâm linh, không biết cậu ấy có thu xếp gặp các vị được không.

Tôi nói:

- Nếu không gặp được thì quá tiếc và đành để dịp khác. Nhưng chị Danh Huyền ở Mỹ về, lại sắp phải đi ngay, còn vợ chồng tôi vì muốn giúp Danh Huyền nên mới ra ngoài này gặp anh và cậu Lư.

- Để lát nữa tôi nói chuyện với cậu ấy. Nếu cậu ấy thu xếp được, tôi sẽ gọi cho các vị. Nhưng bàn thờ có ảnh anh Danh Hùng đặt ở Sài Gòn hay Hà Nội?

Danh Huyền nói:

- Đặt tại nhà mẹ tôi ở Hà Nội.

- Vậy từ tối nay, chị với bà chịu khó thắp nhang và cầu khấn thần linh và anh ấy phù hộ.

Lúc tạm biệt để về, Danh Huyền bắt tay Tiến sĩ Ngô Tiến Quý:

- Lúc ở nhà, tôi với Tuấn tranh luận về tâm linh, cậu ấy nói: “Chúng ta sẽ không nói chuyện tin hay không tin nữa, mà vì tình bạn giữa chúng ta, cậu hãy nhắm mắt lại, nắm lưng áo tớ. Tớ đi đâu, cậu theo đó để tìm bằng được anh Danh Hùng”. Vì thế, tôi mới theo cậu ấy đến đây gặp anh. Vậy tôi xin hỏi anh, một nhà khoa học từng nghiên cứu lâu năm về tâm linh và ngoại cảm: Nếu thế giới tâm linh có thật thì con người làm chủ số phận hay số phận làm chủ con người?

Tiến sĩ Bùi Tiến Quý cười:

- Đây là câu hỏi thuộc cõi dương, nhưng cũng đa nguyên như thế giới tâm linh, mà vì nhiều lý do, chúng ta chưa thể có một giải đáp nhất quán. Nhưng tôi tin, nếu thế hệ chúng ta còn dùng dằng trong thời kỳ khai phá, thì thế hệ con cháu chúng ta sẽ làm sáng tỏ được, để mỗi người đều có thể làm chủ được số phận của mình.

Ngay sáng hôm sau, vợ chồng tôi và Danh Huyền lấy xe hơi của công ty Danh Huy, lên đường đi Hà Nam. Bác Quỳnh gái nhất định đòi đi, thậm chí, còn muốn chúng tôi đưa cả vợ chồng Danh Vũ và Danh Huy đi cùng, vì tối qua, lúc thắp nhang trên bàn thờ, Danh Huyền không thể giấu mẹ. Nhưng chúng tôi nhất định khuyên bác ở nhà. Đụng vào lĩnh vực tâm linh, sự sáng suốt và u mê chỉ cách nhau trong gang tấc, rất dễ bị xúc động mạnh, trong khi bác quá lớn tuổi và đời bác đã quá nhiều chấn động bởi phong ba bão táp. Nhưng chúng tôi hứa sẽ kín đáo ghi âm và ghi hình đầy đủ để mang về cho bác và cả nhà xem.

Do trên xe có bản đồ định vị, nên chúng tôi trở lại thôn Đồng Mật, xã Lê Hồ, huyện Kim Bảng, Hà Nam tìm đến nhà cậu Lư tương đối dễ dàng. Vẫn lối rẽ cũ từ cao tốc Pháp Vân - Cầu Giẽ, vẫn con đường làng trải bê tông, nhưng lối vào cổng vắng vẻ, khiến chúng tôi ngờ ngợ, nghi bản đồ định vị có sự nhầm lẫn, phải dừng xe hỏi một người trong làng đang đi ngược chiều.

Vợ tôi nói:

- Lần trước đi từ khách sạn ở đường Lê Thạch, Hà Nội, hình như được anh Khôi phù hộ, nên xuống cửa đã gặp ngay cậu lái xe cùng thôn với cậu Lư, nên đầu xuôi, đuôi lọt.

Danh Huyền nói:

- Không chỉ tối qua, mà sáng hôm nay, trước khi đi, tớ với mẹ tớ cũng cùng dậy sớm thắp nhang khấn anh Danh Hùng.

Hóa ra bản đồ định vị chỉ đúng, nhưng đoạn đường rẽ chạy thẳng vào cổng nhà quen thuộc, lần trước có các xe hơi đậu và bãi để xe gắn máy, hàng quán nước chè, người đứng ngồi chờ, giờ vắng hoe. Chuyện gì đã xảy ra?

Vừa vào sân, chúng tôi đã gặp chị giúp lễ ngồi bên cậu Lư trước bàn thờ hôm chúng tôi đến gọi hồn. Chị không nhận ra chúng tôi, nhưng vẫn nhanh nhảu:

- Các bác trong Thành phố Hồ Chí Minh ra?

Tôi nói:

- Năm 2009, chúng tôi đã ra đây.

- À! Thế thì cậu Lư đang đợi các bác trên điện thờ.

- Sao hôm nay nhà không có khách?

- Thưa! Do ngày mai phải đi Thái Lan dự đại lễ, nên cậu nghỉ tiếp khách hai tuần, tính từ hôm kia. Cậu có dặn em ở đây đón rồi đưa các bác lên điện.

Theo người phụ nữ lên điện, tôi ra hiệu thêm cậu Phan, lái xe của Danh Huy, làm nhiệm vụ lén ghi âm và ghi hình, lên theo. Đến điện đã thấy cậu Lư ngồi xếp bằng tròn, tay lần tràng hạt, đang nhập tâm trước bàn thờ, đối diện với tượng Phật Bà Quan Âm.

Bốn chúng tôi tự động ngồi hàng ngang phía sau cậu. Còn người phụ nữ ra sau bàn thờ, bật thêm đèn, quạt cho điện thờ sáng hơn và bớt nóng, rồi ngồi xuống cạnh cậu Lư làm phụ lễ.

Vẫn là một cậu Lư ăn mặc giản dị: chiếc sơ mi trắng dài tay, chiếc quần tây màu ghi nhạt rộng và cũ. Gương mặt vuông vức có vẻ già dặn hơn lần gặp trước, nhưng vẫn chỉ ở lứa tuổi ba mươi. Cậu biết chúng tôi vào từ đầu, nhưng xong phần tâm niệm, mới quay lại:

- Chào các bác. Thầy Quý nói từ tối qua, nên sáng sớm, tôi đã phải dậy chuẩn bị điện thờ, để các bác đến là gọi hồn ngay, không mất công chờ.

Tôi hỏi:

- Cậu có nhận ra vợ chồng tôi?

- Xin lỗi hai bác. Tôi chỉ ngờ ngợ chứ không nhớ. Với người cõi dương, mỗi ngày, tôi tiếp xúc hàng trăm, nên những ai lâu không gặp, trí nhớ tôi không tốt lắm.

- Hôm nay gặp lại, trước hết tôi rất cảm ơn cậu đã giúp tôi tìm được hài cốt anh tôi.

- Anh bác là liệt sĩ Nguyễn Minh Khôi hiện ở nghĩa trang liệt sĩ Phước Long?

- Tại sao lúc đang tìm, tôi gọi điện thoại cho cậu bất cứ lúc nào cũng được, nhưng sau khi xong việc, tôi muốn gọi điện cảm ơn, không cách nào gọi được?

- Nhiều người được tôi giúp cũng nói như bác, nhưng tôi hoàn toàn không biết tại sao. Nếu chuông reo vào lúc máy không bận, bất cứ ai gọi, tôi cũng đều nhấc máy.

- Hôm nay, gặp cậu, nói được lời cảm ơn, tôi cũng bớt áy náy. Bây giờ chúng ta nên ưu tiên cho bà bạn tôi, họa sĩ Danh Huyền từ Mỹ trở về.

Cậu Lư:

- Hôm qua, thầy Quý cũng nói sơ rồi.

Danh Huyền:

- Trước hết, tôi rất cảm ơn thầy đã nhận lời giúp. Song tôi cũng xin nói thật, trước khi đến đây, niềm tin của tôi vào việc tìm hài cốt những người thân nhờ khả năng của các nhà ngoại cảm gần như không có. Việc tìm hài cốt anh tôi, bố tôi đã bỏ ra mấy chục năm bằng rất nhiều con đường, đều thất vọng, nay vừa nghe lời khuyên của vợ chồng anh Tuấn, vừa không còn con đường nào khác, nên đành tìm đến thầy.

Cậu Lư nói:

- Tôi rất thông cảm với bác. Trước khi các bác đến, tôi đã chuẩn bị điện thờ đâu vào đấy. Bây giờ, để tránh lạc đề, xin bác cho tôi biết thông tin về bác Danh Hùng.

- Thầy cần những thông tin gì?

- Tất nhiên càng nhiều càng tốt. Nếu không, chỉ cần bác cho biết họ, tên, năm sinh, quê quán, ngày mất.

Danh Huyền nói:

- Anh tôi là Nguyễn Danh Hùng, sinh năm 1942, quê quán Hà Nội, ngày mất hai mươi ba tháng Năm năm 1970. Riêng nơi mất, bố tôi nói chắc chắn ở Svay Rieng, Campuchia, nhưng hài cốt hiện ở đâu không rõ?

Cậu Lư nói:

- Không cần. Nếu hồn về trực tiếp gặp bác là tốt nhất. Hồn về chỉ gặp riêng tôi, tình hình vẫn không xấu. Nhưng vì nhiều lý do như bận ở đâu đó, như còn những khúc mắc với người đang sống, vì nơi an táng có vấn đề gì đó… khiến hồn hẹn lúc khác hoặc do buồn giận, hay đang chịu hình phạt, không về, thì coi như cuộc gọi hồn hôm nay không thành.

Danh Huyền:

- Tôi hiểu.

- Giờ xin phép các bác.

Cậu Lư xoay người ngồi quay mặt về phía bàn thờ, nhắm mắt, miệng lẩm nhẩm, tay lần tràng hạt, gương mặt biến sắc dần.

Người phụ nữ phụ lễ dường như quen với những thời khắc được thể hiện trên gương mặt thầy, lúc thắp thêm nhang, lúc chỉnh lại nến, lúc lật trang cuốn kinh đặt trên giá gỗ thấp, cạnh chiếc mõ trước mặt thầy. Tôi kín đáo ra hiệu cho cậu Phan phải thường xuyên di chuyển để lấy được nhiều góc quay có hiệu quả ở gương mặt và động tác của ông thầy.

Quá nửa tiếng, khi chúng tôi bắt đầu sốt ruột, cậu Lư mới lên tiếng, nhưng mắt vẫn nhắm:

- Bác Danh Hùng vẫn ở rất xa, nhưng anh bác là Danh Hoàng đang đứng ngay trước mặt tôi. Bác này từ Lai Châu về, hiện đang ở Hà Nội chứ không phải Sài Gòn? Bác ấy có đi cùng vợ và một đứa con gái.

Danh Huyền thất sắc, thì thầm với tôi:

- Làm sao thầy biết được?

Tôi đưa ngón tay trỏ lên miệng ra hiệu cho Danh Huyền im lặng.

Cậu Lư vẫn nói:

- Bác Danh Hoàng đang kể, bố là Danh Quỳnh, hiện đang ở rất xa, còn mẹ là Bình Giao đang ở Hà Nội… Bác Danh Hùng đến trước mặt tôi rồi... Bác ấy di chuyển và nói khó khăn vì bị thương nặng. Hai chân dập nát. - Cậu Lư nói chậm rãi như thể phiên dịch lại lời của người đang kể với cậu. - Trên máy bay trực thăng có bảy người. Bác Danh Hùng là trung tá chỉ huy, ngồi bên người lái. Khoang sau có năm người. Các máy bay trực thăng đánh vào một căn cứ Việt Cộng trong rừng. Họ đánh trả rất quyết liệt. Hai người lính trên máy bay trúng đạn rớt khỏi máy bay. Máy bay chỉ còn lại năm người, sau đó bốc cháy rơi xuống đất, rất gần khu nhà lá ẩn trong rừng rậm. Hai người bị thương trong đó có bác Hùng bò được ra khỏi máy bay. Bác chỉ kịp nhận ra những người từ trong các nhà chạy ra dập lửa và cứu người có người mặc blouse trắng, nên đoán họ đã đánh vào một bệnh xá. Ngày đó là ngày hai mươi ba tháng Năm năm 1970.

Trong khi Danh Huyền nghẹn ngào trong nước mắt thì vợ tôi thì thào:

- Đúng nơi anh Khôi điều trị và cũng đúng ngày anh Khôi mất.

Cậu Lư vẫn nói:

- Hài cốt của bác Hùng chắc chắn đã được những người lính Việt Cộng đưa về Việt Nam. Hồi được an táng ở Campuchia, do trên máy bay có định vị, nên biết điểm máy bay rơi ở đâu, từ đó dò ra được nơi an táng, nhưng từ khi đưa về Việt Nam, không biết chỗ nào. Hồi ở Campuchia, nơi an táng gần với căn cứ Việt Cộng, nên vẫn được người phía Việt Cộng khi đi thắp nhang cho người phía mình, cũng sang thắp nhang cho năm người các bác, vong hồn hai bên nhìn thấy nhau, nên bác vẫn thấy bác Khôi, người hai bên vẫn vẫy tay chào, nhưng không gặp và nói chuyện với nhau được. Từ khi về Việt Nam, không ai nhang khói, nên rất lạnh lẽo. Tuy nhiên, lâu lâu bác và bác Khôi vẫn thấy nhau, nhưng cách xa lắm. Bác vẫy bác Khôi, mà không thấy bác Khôi vẫy lại. Không rõ tại sao. Danh Huyền cũng đang ngồi cạnh à? Trời ơi! Từ khi về Việt Nam, không hiểu sao, chỉ năm đứa chúng tôi nói chuyện được với nhau, còn với người khác, toàn như những ảo ảnh câm. Nhờ nói lại với Huyền: Danh Hùng vẫn rất yêu nó, yêu bố mẹ và các anh em.

Khi cậu Lư ngồi im, Danh Huyền bật khóc nức nở, ôm mặt chạy ra khỏi điện.

Tôi vội ra nhanh theo:

- Cậu có sao không?

Lặng đi một lúc, Huyền mới nói:

- Tớ quá yếu đuối phải không? Chúng mình quyết định không để mẹ tớ đi là đúng, vì chính tớ đầy bản lĩnh mà cũng tưởng muốn vỡ tim. Nếu giao lưu giữa người dương và người âm có thật như thế này thì rõ ràng cõi trần chúng ta có rất nhiều điều phải xem lại mình… Còn những người có khả năng như thầy Lư nên ít thôi… Thật kinh hoàng.

Tôi bảo:

- Cậu có nói ngược không thế? Tớ tưởng phải càng nhiều càng tốt chứ?

- Cậu với tớ đều cùng sống đủ lâu trên cõi đời này, sao cậu không nhận ra những gì thay đổi quá nhanh và đốt cháy giai đoạn, chưa ương đã chín, đều dẫn đến đại bi kịch?

Tôi và Danh Huyền quay vào, đúng lúc cậu Lư chuyển sang thế ngồi đối diện với khách, thần sắc trở lại bình thường.

Danh Huyền nói:

- Tôi xin lỗi đã ra ngoài một lúc vì quá xúc động.

- Tôi cũng xin lỗi các bác. Có thể do linh lực của tôi còn thiếu nên không thuyết phục được vong bác Danh Hùng gặp bác.

Tôi hỏi:

- Cậu có nhìn nhận được tình trạng anh Danh Hùng?

- Bác Hùng bị dập nát hai chân, cả ngực và bụng, bị bỏng toàn thân. Bác ấy và một người nữa ra khỏi máy bay mới chết nên xương cốt vẫn còn. Ba người chết cháy trong máy bay, hình hài biến dạng. Khả năng giao lưu của hồn với người cõi dương phụ thuộc vào trạng thái và tính cách. Bác Danh Hùng năng lực xuất sắc, tính cách thông thoáng, nhưng chỉ thuần phục người tài hơn mình, gặp được thầy cao tay hơn tôi, chắc bác ấy sẽ gần gũi và thoải mái hơn.

Danh Huyền:

- Hôm nay, với những điều tôi được nghe và chứng kiến đã là quá nhiều. Vậy, tiếp theo sẽ thế nào?

Cậu Lư:

- Bác Danh Hùng nói, hài cốt của bác hiện ở Việt Nam là chắc chắn, nhưng chính xác ở đâu, bác không biết. Hồi mới về còn ở nghĩa trang, gần một con suối, chỉ mùa mưa mới có nước, còn mùa khô thì cạn, nhưng giờ, bác ấy mất phương hướng. Trước đây, bác ấy nghĩ ông Danh Quỳnh sẽ tìm được mình, nhưng nhiều năm nay, bác ấy hết hy vọng. Nay biết được bác Danh Huyền đang tìm, bác ấy sẽ ráng tìm hiểu vị trí hài cốt, đến ngày mùng một tháng Tám âm lịch tới, tìm được hay không, bác ấy sẽ báo cho tôi. Nhưng bác ấy cũng ra điều kiện, nếu không cùng đưa được hài cốt cả bốn đồng ngũ của bác ấy cùng đi thì đừng mất công tìm bác ấy.

Danh Huyền:

- Tính cách anh Danh Hùng đúng như vậy. Chỉ phục bố, anh ấy mới chịu theo bố vào Nam, dù bố đi theo địch. Và đã xuống cõi âm rồi vẫn cứ anh Khôi, anh Khôi. - Huyền thở dài. - Hôm nay mới cuối tháng Năm âm lịch. Phải hơn hai tháng nữa mới đến hẹn...

- Đó là ngày bác Danh Hùng hẹn trả lời có tìm được nơi chôn hài cốt hay không. Nếu bác ấy không hoặc chưa tìm được thì có thể sẽ thêm một cái hẹn khác.

Rồi cậu Lư nhìn tôi:

- Lần hai bác ra đây và lần hai bác ở nghĩa trang Phước Long gọi điện cho tôi về việc tìm mộ bác Khôi, tôi nói bác Khôi có nhắc một người tên Hùng hay Phùng mà bác Tuấn biết, chính là Hùng này?

Tôi ngờ ngợ vài giây mới nhớ ra:

- Do tôi tưởng anh Khôi nói về một đồng đội tên Hùng, nên tôi nghĩ cậu nhầm lẫn, vì tôi không biết một Hùng nào cùng đơn vị của anh.

- Kinh nghiệm của riêng tôi thì vong khi suy luận có nhiều điều khác với người dương mình, nhưng họ không bao giờ nhìn nhận sai về con người, thời gian và sự việc. Bây giờ, nếu tìm được hài cốt bác Danh Hùng, thì bác Khôi đã đúng khi nhắc đến việc bác biết bác Hùng, vì rõ ràng, bác đã là cầu nối giữa cả nhà ông Danh Quỳnh.

Danh Huyền thở phào:

- Vô cùng cảm ơn thầy. Dù chưa đi đến đích nhưng tôi vẫn tin sẽ tìm được anh tôi.

Tôi nói với cậu Lư:

- Nhân cậu nói “vong không bao giờ nói sai”, tôi hỏi một chuyện dù đã cho qua rồi nhưng vẫn thắc mắc, là cả hai lần nhờ tìm mộ anh Khôi, cậu đều nói khi ở bệnh xá trong căn cứ, anh tôi đã gặp người vợ là y tá tên Minh, nhưng trên thực tế, anh tôi chưa từng có vợ. Còn nếu anh cưới vợ tại chiến trường, thì trong hồ sơ liệt sĩ tại Sư đoàn 9 phải có ghi nhận chứ… Tuy nhiên, dù không tin, chúng tôi vẫn nghe cậu, mỗi lần lên Phước Long thắp nhang cho anh Khôi, khi đốt vàng mã, chúng tôi vẫn gửi quần áo, giày, dép, nữ trang và cả bồ kết cho chị ấy. Như vậy, thực hư chuyện này thế nào?

Cậu Lư trầm tư một lúc, không rõ để nhớ lại hay tìm cách lý giải, rồi mới nói:

- Giải thích chuyện này không khó, vì thực ra, tất cả lời của các nhà ngoại cảm đều từ các vong truyền lại. Trường hợp bác Khôi cũng có cái khó… Như việc tìm vong linh bác Danh Hùng là các bác đều muốn mọi thỏa thuận với nhà ngoại cảm phải rõ ràng thì mới tin. Cũng do chưa tin ở tôi mà bác Khôi không chịu gặp người nhà. Khi các bác đến đây lần đầu, khi tôi nói lại lời bác Tuấn, hỏi vong bác Khôi: “Bác có muốn về nghĩa trang ở quê Sóc Sơn, Hà Nội?”. Bác Khôi đã nói: “Tôi còn nợ đồng đội một cuốn sách, chưa viết xong, nên tôi không thể về”.

- Hôm đó, cậu có truyền đạt như vậy.

- Không gặp, làm sao tôi biết bác Khôi viết văn. Nhưng những người có khí chất riêng như vậy, nói gì thì mình nghe nấy, không thể đi đến cùng được. Nhưng lần này gặp lại hai bác, tôi lại nghĩ, mấy năm qua, các bác và con cháu thường xuyên thờ phụng, thăm viếng, nhất là cũng quan tâm chăm sóc bác Minh, có khi bác Khôi nghĩ lại, tôi sẽ gọi hồn bác ấy thêm lần nữa, chắc bác ấy sẽ nói rõ về vụ bác Minh.

Vợ tôi nói:

- Nếu được như vậy thì quá tốt. Theo cậu, chúng ta nên chọn vào dịp nào?

- Nếu bình thường, ngay ngày mai cũng được, nhưng tôi sắp phải đi công chuyện. Nếu các bác không sốt ruột, để dịp gặp lại bác Danh Hùng. Có khi hai người tri kỷ, ngang tính gặp nhau, tâm lý vui vẻ, chuyện gì giấu trong lòng cũng tuôn ra hết, thì nguyên nhân từ đâu mà có y tá Minh giữa chiến trường ác liệt cũng là chuyện nhỏ.

Danh Huyền:

- Dám ông Khôi không muốn về quê chẳng phải vì nợ sách, mà là nợ tình.

Chúng tôi và cậu Lư cùng bật cười, nụ cười thoải mái tưởng gần như không bao giờ có ở ông thầy ngoại cảm trẻ.

không còn là ẩn số

Năm 2016.

Chúng tôi trở về Sài Gòn. Chuyện về việc tìm hài cốt Danh Hùng bị đời sống với bao nhiêu công việc và biến động làm nhạt đi. Sự sốt ruột hằng ngày có lẽ chỉ còn ở Danh Huyền và hai bác Danh Quỳnh. Đến một hôm, tôi nhận được điện thoại của chị Tâm từ Hà Nội:

- Chú Lương ở quê gọi điện ra báo, sắp đến ngày Thương binh Liệt sĩ hai mươi bảy tháng Bảy, Ủy ban Nhân dân xã Minh Trí họp với các ban ngành và các cụ phụ lão có uy tín ở xã nhìn nhận: Nghĩa trang liệt sĩ của xã vì nhiều lý do nên chưa có những liệt sĩ hồi đánh quân Khơme Đỏ trong chiến tranh biên giới Tây Nam sau 1975 và liệt sĩ chống quân xâm lược Trung Quốc sau năm 1979, nay tiếp tục an táng bổ sung. Rồi thời gian đi các nơi tìm hài cốt các liệt sĩ là người của xã thời chống Pháp 1946 - 1954 và chống Mỹ 1955 - 1975, thấy nhiều người chỉ còn là đất hoặc vụn xương nên đã không đưa vào nghĩa trang. Giờ các đại biểu nhất trí những trường hợp ấy cũng được quy tập tượng trưng về nghĩa trang của xã. Nhân cơ hội này chú Lương đã đặt vấn đề đưa hài cốt của Khôi từ nghĩa trang gia tộc vào nghĩa trang liệt sĩ của xã. Ủy ban xã đã đồng ý. Giờ em phải thu xếp ra Hà Nội, về quê gặp lãnh đạo xã để đưa Khôi về đó.

Tôi nói ngay:

- Chị quên đấy là mộ dỏm à? Mấy năm qua, mình lờ chuyện này đi không cho ai biết. Nếu vì lý do gì đó, chuyện lộ ra, cũng là chôn ở nghĩa trang gia tộc, các cụ biết mình bị lừa cũng tha thứ. Giờ đưa về đấy, trước hết là không tôn trọng các liệt sĩ khác là hài cốt thật, sau nữa, có ai biết, rồi tố cáo mình phạm pháp là không oan đâu.

- Chị cũng nói thật với chú Lương, nhưng chú ấy gạt phắt: “Mấy chị em chúng mày học cao mà không hiểu thế nào là tượng trưng à? Đã tượng trưng thì đất nào cũng là đất, miễn mình có lòng thành”. Rồi chú ấy nói: “Thằng Khôi, cháu tao là liệt sĩ thật, nhưng bảng đá vinh danh các liệt sĩ dựng ở đài tưởng niệm không có tên nó, mỗi lần ngày Tết, ngày lễ, có khi lãnh đạo tỉnh, rồi Trung ương về dự, trang trọng dâng hoa, dâng hương, không thấy nó trong danh sách, tao như có tội với cháu tao”. Em ở xa không biết thế nào, chứ nghe chú ấy nói, chị cũng xót cả ruột cho Khôi. Rồi chú ấy nói: “Hôm đưa hài cốt của thằng Khôi về nghĩa trang gia tộc, cả xã đều biết, lãnh đạo Ủy ban xã cùng tới dự, giờ có điều kiện, mình không đưa về nghĩa trang liệt sĩ chắc chắn sẽ có người nghi, mà thật thà khai, ‘tôi không đưa về vì đó là mộ giả’, thì cả họ mình đào đất chui xuống cũng không hết nhục”.

Ông chú Lương nhà tôi có một tiểu sử mà viết tiểu thuyết ngàn trang cũng không hết sự phong phú. Chú là con trai của ông Ba Bào: Nguyễn Hữu Bào, trong khi bố tôi: Nguyễn Hữu Lược, con trưởng của ông Cả Thiện: Nguyễn Duy Thiện, cùng chung ông nội Tổng Định: Nguyễn Hữu Định, người đứng đầu dòng tộc Nguyễn Duy. Hai ông Cả Thiện và Ba Bào theo cha, rời quê gốc vùng đồng bằng Thụy Hà, Bắc Hồng, Đông Anh, Hà Nội lên mở ấp ở Lập Chí, Kim Anh, Phúc Yên, là vùng trung du, đồi và rừng nhiều hơn ruộng. Năm 1946, khi kháng chiến toàn quốc bùng nổ, quân Pháp tạm chiếm, biến cả vùng thành vành đai trắng để ngăn cách với các tỉnh thuộc chiến khu Việt Bắc. Đất mới chưa kịp được giàu đã nghèo đi, nên thời cải cách ruộng đất, bi kịch đấu tranh giai cấp của dân quê tôi so với các tỉnh đồng bằng ít khốc liệt hơn nạn đói. Ông chú Lương của tôi lại có bi kịch riêng. Do từ nhỏ đã có năng khiếu bướng bỉnh, lại không thích việc đồng ruộng, nên khi được ông Ba gửi ra Hà Nội học. Chú bỏ ngang, xin tập sự rồi thành y sĩ ở bệnh viện Bạch Mai. Lúc làng quê bước vào cuộc cải cách ruộng đất long trời lở đất, ông Ba đã bệnh mất từ mấy năm trước, nhà chỉ toàn chị em gái, bỏ nhà, bỏ ruộng chạy hết về nhà chồng. Ủy ban xã cử người lên tận Hà Nội, dụ ông Lương về quê nhận lại ruộng đất, nếu không sẽ bị quy tội bỏ trốn. Thế là chàng y sĩ mới hai mươi mốt tuổi, thoát ly đồng ruộng từ năm mười hai tuổi, chẳng biết gì về cày bừa hay mùa màng, trở thành địa chủ. Mà đã địa chủ thì phải là đối tượng cho bà con nông dân đấu tố, đánh đổ. Hồi đó, Hà Nội bị Pháp chiếm. Người nhà quê ra Hà Nội làm việc, ở làng, với chín mươi phần trăm dân mù chữ, gọi những người đó là làm việc cho Tây, có người cho là sang trọng, nhưng cũng có người miệt thị. Giờ chàng là địa chủ, thì thời gian ở Hà Nội đương nhiên là tay sai cho địch, mặc dù bệnh viện Bạch Mai chỉ toàn ta. Đã là địa chủ thì phải bóc lột bần cố nông. Địa chủ phải có cả hiếp dâm người ở gái. Cán bộ cải cách cũng là người làng, từ chiến khu về thương chàng, bảo: “Cứ thành khẩn nhận hết thì tội nhẹ, không chịu nhận, là địa chủ ngoan cố, tội càng nặng, sẽ bị xếp vào loại phản động”. Chàng ngậm ngùi nhận hết. Nên quanh chàng tối đen như mực. Ruộng đất không biết làm thì không sao, vì đã được chia hết cho bà con nông dân. Nhưng đói thì đầu gối phải bò. Chàng y sĩ làm việc cho Tây, kiêm địa chủ, biến thành Thạch Sanh, hằng ngày phải vào rừng Đồng Đò, chặt củi gánh ra chợ Phúc Yên bán lấy tiền đong gạo nuôi mẹ già và mấy đứa cháu nheo nhóc, con mấy bà chị, cô em đang lang bạt tứ xứ. Hồi đó, cả xã đói, nên con gái lãnh đạo xã cũng phải vào rừng chặt củi. Cô gái này là con một Bí thư Đảng ủy xã khác, đã gặp Thạch Sanh y sĩ trong rừng. Biết hoàn cảnh của Thạch Sanh, đến chặt củi đem bán cũng vụng, nên quên bẵng quan điểm giai cấp, đem lòng yêu, thỉnh thoảng lén lấy gạo, khoai, sắn của nhà, dúi cho người tình. Ông bố và cả họ quyết liệt ngăn cấm, nhưng cô cứ yêu. Cuối cùng, nhân chính sách “sửa sai” sáng suốt của Đảng và Nhà nước, chú Lương tôi được phù phép “nâng cấp” từ thành phần địa chủ lên thành phần trung nông lớp trên yêu nước, để cuộc hôn nhân thành gần môn đăng hộ đối. Nhưng do vợ chú liên tục đẻ sáu đứa con trong thời gian ngắn, ở xã mới lập bệnh xá, đang thiếu nhân sự, nhưng người ta lại không cần y sĩ từng làm cho Tây, nên hoàn cảnh nào chú cũng đói. Hồi tôi đi Thanh niên Xung phong ở Quảng Ninh, có lần cùng chị Tâm về quê ăn giỗ, sang nhà chú thăm, thấy tối mịt chú mới mồ hôi mồ kê nhễ nhại vác một bao tải nặng, vừa về đến nhà đã ném uỵch xuống sân gạch, rồi ngồi bệt ở thềm, thở không ra hơi. Tôi hỏi:

- Chú vừa đi đâu về?

- Đào trộm khoai của hợp tác xã. Cả nhà đều đói rã họng, không trộm cắp lấy gì mà ăn.

- Chú không sợ bị bắt à?

- Sợ cái gì? Đang chui lủi trong ruộng, lúc đầu, thấy một bóng đen trước mặt, sợ vãi đái, nhưng giáp mặt, hóa ra toàn người làng, thế là nhăn răng cười hì hì với nhau.

- Cả làng ăn cắp, sản lượng sẽ thấp, hợp tác xã họ phải biết chứ?

- Ồi dào. Mỗi người làm việc bằng hai, để cho chủ nhiệm mua đài, mua xe. Mỗi người làm việc bằng ba, để cho chủ tịch xây nhà, xây sân. Muốn năng suất cao để lấy thành tích, chúng nó sửa báo cáo, hơi đâu tốn công lo mất cắp lúa, khoai. Nhưng chú chỉ kể với cháu chứ trong nhà tuyệt đối không cho đứa nào biết. Các con biết bố là thằng ăn cắp thì nhà này loạn. Nếu có thêm cuộc cải cách ruộng đất lần hai, chúng nó mà tố thì mình phải nhận tội thật chứ không phải nhận tội giả như hồi lần một.

Ông chú Lương của tôi là như vậy. Không biết sáu đứa con của chú có biết tội quá khứ của bố thời cả làng đều đói, nhưng lớn lên, chúng đều lương thiện, kinh tế khá giả. Riêng với chú, nghề y sĩ thì mai một, nghề làm nông không tiến bộ, nên cuối đời, chú mở một lều sửa và bơm vá xe đạp ở mặt tiền đường làng, giữa thời xe máy nhiều hơn xe đạp. Trong khi lứa trẻ ở vùng quê nghèo chúng tôi tung cánh bay cao, bay xa đi khắp bốn phương trời, người thành công, kẻ thất bại rồi già đi ở những phương trời ấy… Mỗi khi về quê, một làng quê mỗi ngày một hiện đại hóa, đến không còn nhận ra dư ảnh của quá khứ, dù tỉnh lẻ Phúc Yên ghép tên với thủ đô Hà Nội, vẫn không bao giờ mất đi những ông bà già lứa chú Lương. Hình ảnh gian khổ của họ mãi mãi không thay đổi theo thời gian và lịch sử, nhưng tình yêu quê hương của tất cả chúng tôi cộng lại cũng không bao giờ bằng một người trong họ. Từ ngày vào Sài Gòn, mấy năm, khi có việc ở Hà Nội, tôi mới ghé về quê một lần. Ông Lương già và yếu đi nhiều, nhưng vẫn vô tư với công việc làng xã, loại công việc dân gian gọi là “ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng”, và giờ đây ông được coi là một trong số ít những người già uy tín lớn ở xã, vì ngày xưa đã từng làm việc với Tây.

Nhiệt tình của ông Lương với anh Khôi, nói rộng ra là với cả gia đình tôi, trong vụ chuyển hài cốt của anh về nghĩa trang liệt sĩ, khiến chúng tôi rất cảm động và biết ơn, nhưng không thể thực hiện. Tôi nói với chị Tâm:

- Ý của chú Lương, chị đừng nói thêm với bất cứ ai nữa. Em sẽ lên nghĩa trang liệt sĩ Phước Long, nói với ông quản trang cho lấy đất ở mộ anh Khôi, đưa về nghĩa trang liệt sĩ xã Minh Trí. Như vậy, mình vẫn làm đúng với chủ trương của xã, vừa không mang tiếng dối trá, không xúc phạm và tổn thương hương hồn anh Khôi.

Chuyện tiếp theo, chúng tôi xin phép anh Khôi được lấy đất từ mộ anh ở nghĩa trang liệt sĩ Phước Long về đặt ở mộ giả của anh tại nghĩa trang gia tộc. Sau đó, ông Lương sẽ “đạo diễn” chuyển sang nghĩa trang liệt sĩ xã Minh Trí với nghi lễ trang trọng và nhanh gọn trong nội bộ gia tộc, có sự chứng kiến của Ủy ban xã và mấy ông bà cùng trong Hội Phụ lão xã.

Ngày Thương binh Liệt sĩ hai mươi bảy tháng Bảy năm đó, một ngày nắng đẹp, được Ủy ban xã tổ chức long trọng hơn hẳn những năm trước vì tấm bảng đá hoa cương đen, chữ vàng, đặt trước đài tưởng niệm trung tâm nghĩa trang có bổ sung thêm tên của hai mươi mốt liệt sĩ mới được đưa hài cốt về, trong đó có tên anh tôi: Nguyễn Minh Khôi. Vợ chồng tôi và nhóm thân với nhau suốt từ những năm cùng cắp sách đến trường: Vợ chồng nhà văn Nguyễn Nguyên Bảy - Lý Phương Liên, họa sĩ Nguyễn Thị Hiền, chủ khách sạn Lotus, Phạm Văn Lân, bay ra từ Thành phố Hồ Chí Minh... Bạn bè đang ở Hà Nội: Vợ chồng nhà văn Chu Lai - Vũ Thị Hồng, vợ chồng nhà văn Trần Dũng, rồi các nhà văn Nguyễn Khắc Phục, Vũ Từ Trang, Chử Văn Long, Nguyễn Bảo… Các bạn học của vợ tôi thời Đại học Tổng hợp Hà Nội như Tôn Phương Lan, Nguyễn Hồng Kim… đều biết vợ chồng tôi vẫn tìm anh Khôi mấy chục năm qua, nay nghe anh được đưa về ở quê, tuy chúng tôi chỉ chủ trương làm “nội bộ”, cũng kéo nhau về dự. Không khí nghĩa trang suốt buổi sáng nắng đẹp, nghi ngút mùi nhang khói. Rồi hoa. Rồi tiếng cười xen lẫn tiếng khóc, quyện trong tình của những người đi xa, ở gần.

Về hình thức và nội dung, một ngày lễ như thế là thành công. Những người lãnh đạo địa phương và dân xã Minh Trí chúng tôi như thế là tự hào và trọn vẹn nghĩa tình với những người con mấy thế hệ của xã đã hy sinh xương máu suốt các thời chống những đội quân xâm lược hùng mạnh hàng đầu thế giới: Pháp, Nhật, Mỹ và Trung Quốc.

Trong họ tộc, ông Lương là người phấn khởi nhất, vì ông vừa góp phần tổ chức ngày lễ, vừa là người tận tình và có công lớn nhất với dòng tộc, khi đưa được cháu ông và cũng là anh tôi: Nguyễn Minh Khôi, Lập Chí, Minh Trí, Kim Anh, Vĩnh Phúc, vào bảng vàng vinh danh những người có công với nước. Ai đến, ông cũng đưa đến tấm bảng đá đen ở đài tưởng niệm, chỉ vào tên anh Khôi: “Nguyễn Minh Khôi là cháu tôi. Nó hy sinh ngày hai mươi ba tháng Năm năm 1970, ở Svay Rieng, Campuchia”. Ông nói theo hồ sơ lưu trữ của Sư đoàn 9. Như vậy là sai, vì theo hồ sơ này, anh phải là: Nguyễn Duy Khôi, quê quán Thụy Hà, Bắc Hồng, Đông Anh, Hà Nội. Tôi nói điều này với ông. Ông cười hề hề: “Nguyễn Duy Khôi với Nguyễn Minh Khôi vẫn là một, rồi Sóc Sơn (Kim Anh) cũng về Hà Nội thì sai ở chỗ nào?”.

Còn vợ chồng tôi, mỗi khi đưa bạn bè đến trước tấm bia có tên anh mình, đều tự hào không kém gì ông Lương, nhưng là niềm tự hào và niềm vui không trọn vẹn, vì thực ra trong mộ chỉ có đất. Dù là đất ở ngôi mộ của anh tôi đưa từ Phước Long về. Không biết anh Khôi biết chuyện này có buồn? Và cũng không biết hồn anh ấy có về?

Quá trưa, tan lễ, sau khi tiễn khách, họ hàng, bạn bè về rồi, vợ chồng tôi còn ở lại nhờ ông Lương đưa đến gặp người quản trang, giới thiệu hai bên với nhau để chúng tôi nói lời cảm ơn và theo thói quen, tặng ông món quà nhỏ. Ông quản trang tên là Lê Văn Vầu, khoảng ngoài sáu mươi tuổi, là thương binh thời chống Mỹ, cụt chân trái, phải đi tập tễnh bằng chân giả đoạn từ đầu gối trở xuống, nhưng khá nhanh nhẹn, tính tình xởi lởi. Sau khi chú Lương giới thiệu, tôi bắt tay ông và thấy ông ít tuổi hơn, tôi gọi ông là “chú”:

- Buổi sáng đã gặp chú rồi, nhưng thấy chú bận tiếp khách, bây giờ mới có dịp nói chuyện. Trước hết là cảm ơn chú đã hằng ngày chăm sóc cho các liệt sĩ ở nghĩa trang, trong đó có anh tôi.

Vợ tôi nói tiếp:

- Sau là chúng tôi, những đứa con quê hương ở xa về, có chút quà, tặng chú gọi là có trước có sau.

Vợ tôi đưa ra tấm phong bì. Ông Vầu nói:

- Tôi biết trong phong bì có tiền và tôi lúc nào cũng cần tiền, nên rất cảm ơn. Nhưng tôi mà nhận, đêm nay, thế nào đám đồng đội trong mộ cũng lên vặn cổ. Hai bác cất đi cho.

Ông Lương cười xuề xòa:

- Hai cháu nó đã có lòng, chú cứ nhận, coi như tiền chè thuốc. Bây giờ trong đồng đội của chú ở nghĩa trang có thằng Nguyễn Minh Khôi, cháu tôi, hễ có đứa nào lời ra tiếng vào về chuyện nhỏ này, nó sẽ can.

Ông Vầu vẫn nhất định không nhận:

- Tiện mồm, tôi nói vậy, chứ chẳng ai nói ra nói vào, lòng mình cũng xấu hổ. Cụ là người có công từ ngày đầu xây dựng nghĩa trang, còn tôi là người đêm nào cũng ngủ với anh em ở đây. Ban ngày thức dậy làm việc này việc nọ không sao, nhưng tối đến, cứ đặt lưng xuống giường là các liệt sĩ lại hiện về. Ai bị trúng đạn ở đâu, tình trạng thương tật thế nào, tôi thấy hết. Toàn người trong xã. Quá nửa là con cháu và bạn bè. Lứa cùng quê nhưng đi xa như bác Khôi, cỡ gần một nửa, không quen nhưng ở lâu rồi cũng thành thân. Càng ở lâu, tôi càng thấy mình còn sướng hơn họ vì chỉ bị mất có một chân. Tôi biết tôi không nhận thì hai bác ấy buồn, nên nhờ cụ nói giúp cho hai bác ấy thông cảm.

Ông Lương liền cầm tấm phong bì từ tay vợ tôi:

- Chú không nhận thì tôi nhận thay chú.

Rồi ông nói với vợ chồng tôi:

- Hai cháu an tâm. Chú sẽ có cách để chú ấy nhận sau.

Tôi nói riêng với chú Lương:

- Trước khi tìm thấy anh Khôi ở nghĩa trang Phước Long, vợ chồng cháu đã đi hơn chục nghĩa trang liệt sĩ ở Sài Gòn và các tỉnh miền Đông Nam Bộ, giờ đến đây nữa, đều thấy các quản trang là cựu chiến binh như sống chung với các linh hồn liệt sĩ. Các cụ và lãnh đạo Ủy ban có quan tâm đến điều này?

Ông Lương nói:

- Biết rồi. Quan tâm rồi. Cũng cho đi khám đủ cả bác sĩ Tây y rồi thầy thuốc Đông y rồi. Người nói là dấu hiệu tâm thần. Người cho là hội chứng chiến tranh. Người nói mê tín dị đoan. Nhưng chỉ có các cựu chiến binh mới chịu ở lâu và do có tình nghĩa sâu nặng với những người đã khuất, nên họ chu đáo với từng ngôi mộ. Điều quan trọng là người ta vẫn sức khỏe bình thường, hoàn thành tốt nhiệm vụ và việc không vất vả, lại không xin chuyển thì nếu chuyện giao lưu giữa người dương và người âm có thật, nghĩ cho cùng, cũng tốt chứ sao.

Tôi hỏi:

- Vậy chú có tin không?

- Nói thật với các cháu. Hồi trẻ, chú chẳng tin cái gì. Chúa, Phật, thánh thần chú cũng chẳng tin. Muốn kiếm đủ miếng ăn đút miệng, mình phải tin mình. Muốn sống nên người, vẫn phải tin kính bố mẹ. Niềm tin này, các cụ gọi là giữ đạo. Chú chỉ vì từ nhỏ đã chống lại bố mẹ, bỏ quê hương lên Hà Nội, đạo không ra đạo, đời không ra đời, nên suốt đời lận đận, lúc về già, ngộ ra chân lý, cố gắng sửa thì đã muộn. Còn việc có tin chuyện giao lưu giữa người dương với người âm hay không, theo chú: tin thì có, không tin thì không có. Như chú, chỉ chục năm gần đây, khi ngủ mới hay gặp hương hồn các ông bà và cả bố, mẹ cháu từ ngoài mộ gia tộc đi vào.

Chia tay với chú Lương, vợ chồng tôi chưa về mà ở lại chụp hình ngôi mộ anh Khôi và một số hình ảnh nghĩa trang, để về Sài Gòn chia sẻ với anh em, con cháu. Trong nghĩa trang còn một số gia đình vẫn ở lại lưu luyến với người thân trong mộ.

Khi đứng trước tấm bảng đá hoa cương đen khắc tên ba trăm mười lăm liệt sĩ, người của xã hy sinh trong các cuộc chiến tranh, chúng tôi cùng đọc lại tên từng người. Do lúc sáng, khách đông, lại nhiều bạn bè, chúng tôi đến trước tấm bảng nhiều lần, nhưng chỉ đọc lướt trong trạng thái vui vẻ và thấy tên anh mình là chính. Giờ chỉ có hai vợ chồng, cùng với sự tĩnh tâm, chúng tôi mới đọc kỹ tên từng người, kèm theo ngày sinh, quê quán, đơn vị, chức vụ, ngày mất, nơi mất... Hóa ra trong danh sách có cả tên Nguyễn Xuân Trường, bộ đội địa phương Tây Ninh, hy sinh năm 1974, trong trận đánh ở Dầu Tiếng, con bác Thao, chị ruột bố tôi. Hồi đầu giải phóng, thằng Hà, con anh Trường bỏ mấy tháng vào miền Nam quyết tâm tìm mộ bố, có ghé vào nhà tôi nhờ giúp đỡ nhưng vô vọng. Một số tên khác, do thời gian dính líu với quê quá ít, tôi chỉ thấy quen quen trong linh cảm, chứ không biết chính xác là ai.

Tôi nói với vợ:

- Lát nữa, có chú Lương ở đây, phải nhờ chú ấy nói những ai trên bảng là họ hàng. Đúng là mình cũng đơn giản và vô tình, nên chỉ chú tâm vào anh Khôi. Lúc còn sống vì nhiều lý do xa cách không biết nhau đã đành, nhưng để người cùng dòng tộc với mình nằm dưới mộ, mình đến viếng tận nơi, nào hoa, nào nhang và khấn cúng long trọng, mà vẫn không biết ai với ai, là dở.

Một linh tính khác thường khiến mắt chúng tôi cùng dừng lại trước cái tên Lê Thị Sính. Vợ tôi phát hiện ra trước, đọc:

- Sinh năm 1945, y tá, hy sinh ngày hai mươi ba tháng Năm năm 1970 tại Campuchia. Như vậy cùng ngày mất và nơi hy sinh với anh Khôi.

Đúng lúc đó, ông Vầu, từ chỗ mấy gia đình còn ở lại phía bên trong nghĩa trang đi ra.

Tôi hỏi ông:

- Chú có biết về liệt sĩ Lê Thị Sính?

Ông Vầu nói:

- Bà này là con cụ Thái, cháu ruột cụ Lộc, suýt nữa là chị dâu của tôi.

Cái tên Sính dính đến “cụ Lộc”, tức u Khướu, vú nuôi của tôi, khiến tôi biết ngay đây là ai. Trong tôi như có dòng điện chạy loang khắp cơ thể. Chuyện đã qua quá nhiều năm, đã trôi vào quên lãng từ lâu, nhưng khi điểm nhạy cảm của ký ức được chạm vào, nỗi nhớ thức dậy rất nhanh. Đó là ngày hai, tháng Chín năm 1966, khi biết tin anh Khôi sẽ cưới vợ ở quê, tôi đã đạp xe từ Quảng Ninh về quê gặp bố tôi hỏi cho ra lẽ, rồi sang nhà u Khướu, và bất ngờ gặp chính cô Sính này.

Tôi cố trấn tĩnh, hỏi ông Vầu:

- Chú cho tôi biết kỹ hơn về bà Sính được không?

Ông Vầu mời chúng tôi vào ngôi nhà ngói nhỏ chừng hai mươi mét vuông dành cho người quản trang, kế bên trong cổng nghĩa trang, được ngăn đôi bằng vách gỗ, phần trong có lẽ để ngủ nghỉ, phần ngoài kê bộ bàn nước nhỏ. Sau khi mời chúng tôi ngồi, ông pha ấm nước chè mới, rồi kể:

- Chuyện ông Khôi nhà bác và ông Tre nhà tôi, cùng lấy bà Sính hồi đó ly kỳ lắm. Thầy u tôi, cùng họ Nguyễn, nhưng là dòng Nguyễn Văn, theo ông bà từ Đông Anh lên đây lập nghiệp sau dòng Nguyễn Hữu của cụ Cả Định ba năm, do ở trong rừng tre, nên đặt tên con toàn tre nứa. Anh Tre là con đầu, đến tôi là Vầu, con em kế tôi là Giang, con em út là Nứa. Chiến tranh chống Mỹ xảy ra, anh Tre đi bộ đội trước, vào chiến trường miền Nam, tôi đi sau một năm, thuộc đơn vị pháo cao xạ, đóng ngay ở sân bay Đa Phúc, gần nhà. Năm 1966, anh Tre bị thương hai mắt, được điều trị ở bệnh viện quân y trên Thái Nguyên. Ông bác ruột tôi là Hạt, lúc đó là Phó Chủ tịch huyện Kim Anh, thấy bà Sính khỏe mạnh nết na, là y tá ở Thanh niên Xung phong, được xuất ngũ sớm một năm để về học đại học, liền nhờ người làm mối cho ông Tre. Ông Tre người cùng làng, để ý bà Sính từ hồi chưa nhập ngũ, yêu đương chưa tới, nhưng chắc cũng có đong đưa nên đồng ý ngay. Khi bà mối bên này sang ngỏ lời, bà Sính từ chối, vì đã có ông Khôi. Cụ Lộc biết chuyện, gặp và nói thẳng với cụ Hạt là bà Sính đã làm lễ ăn hỏi, đăng ký kết hôn với ông Khôi, con cụ Cả Lược, ngày cưới cũng chọn rồi. Thế là từ làm mối chuyển sang ép duyên. Trong họ, có người khui ra ông Cả Lược có đủ thứ chuyện xấu về chính trị ngoài Hà Nội, nên bị áp về quê quản thúc, ai nghe cũng sợ. Chưa kể hồi đó, cái dớp “trâu ta ăn cỏ đồng ta” còn nặng nề. Nhà cụ Cả Lược bỏ quê từ lâu, mới về được mấy năm, nên vẫn bị coi là “trâu đồng ngoài”, thế là cả họ bên này tìm cách đăng ký kết hôn cho ông Tre và bà Sính.

Vợ tôi nói:

- Đã hủy đăng ký kết hôn của bà Sính với ông Khôi chưa?

- Ồi trời! Hồi đó phép vua thua lệ làng. Ông Mầm, em ruột ông Hạt, chú ruột tôi, là Chủ tịch xã Minh Trí cho gọi cụ Lộc và bà Sính lên Ủy ban nói: “Ông Khôi ở bên Hưng Yên là tội phạm, lập lò võ huấn luyện bọn thanh niên bất mãn, âm mưu gây dựng lực lượng quân sự, nhằm lật đổ chính quyền, bị công an Hưng Yên bắt, vừa được tạm tha. Lãnh đạo xã bên này do mất cảnh giác, đã cho bà Sính đăng ký kết hôn, nên giấy đăng ký kết hôn không hợp pháp”. Bà Sính cậy mình là y tá Thanh niên Xung phong từ chiến trường về, bướng bỉnh: “Tôi hiểu anh Khôi hơn các ông, các bà, nên các ông nói không hợp pháp, tôi vẫn cứ lấy”. Cụ Lộc thì nói: “Tôi nhà quê ít học, chẳng hiểu thực hư ra sao. Để tôi gọi con tôi đang đóng quân ở Quảng Bình về nói chuyện với các chú. Chứ hai họ đã làm lễ ăn hỏi, đã đăng ký kết hôn rồi. Giờ thất tín là có tội với ông bà, tổ tiên”. Sự việc chỉ được dứt khoát khi cụ Thái, mẹ bà Sính từ Lai Châu về, quyết định bà Sính phải lấy ông Tre. Người nuôi không bằng người đẻ nên cụ Lộc phải chịu. Thế là bà Sính cùng lúc có hai đăng ký kết hôn, người trong xã còn đặt câu vè cho trẻ con hát “Hai ông mà lấy một bà. Đẻ ra con chuột hay là con dơi?”, “Một bà mà lấy hai ông. Đẻ ra cắc ké, kỳ nhông không đầu”. Mặc người chê trách, kẻ gièm pha, thầy u tôi vẫn háo hức chuẩn bị lễ cưới.

Mọi chuyện đâu vào đấy, thầy tôi mới viết thư báo tin ngày cưới cháu đích tôn cho cụ nội tôi. Cụ là người cùng lứa cụ Cả Thiện, bố ông Lược; cụ Ba Bào, bố ông Lương. Hồi kháng chiến chống Pháp, người ta kéo nhau lên chiến khu Việt Bắc, thì cụ đưa cả nhà ra quê vợ tận Trà Cổ, Móng Cái. Nhận được tin, cụ mừng lắm, đưa cả nhà về quê sớm để dự đám cưới. Ông Tre từ bệnh viện quân y Thái Nguyên được đón về. May mà bệnh viện họ cứu được một mắt. Tôi đóng quân gần nhà, cũng về. Trong cuộc họp gia đình trước ngày cưới, khi biết cháu dâu tương lai suýt là con dâu cụ Cả Lược, cụ nội tôi truy hỏi đầu đuôi. Hồi đó, vì nhiều lý do, làng xã ta xảy ra quá nhiều sai lầm, nhưng cái chất thật thà như đếm người nhà quê vẫn còn nhiều. Cụ Hạt, Phó Chủ tịch huyện, cụ Mầm, Chủ tịch xã và thầy tôi phấn khởi thay nhau kể công họ Nguyễn Văn nhà mình đã thắng lợi lớn trong cuộc chiến giành giật nàng dâu vàng từ tay họ Nguyễn Duy. Nghe xong, cụ nội tôi cầm cả ấm tích cổ, đập xuống nền gạch, vỡ tan tành, định hét lên nhưng do cứng hàm, cụ chỉ lắp bắp: “Phản phúc, phản phúc… Đồ phản phúc…”. Tiếng lắp bắp lịm dần. Rồi cụ bất tỉnh. Cả nhà hết hồn, xúm lại võng cụ đi bệnh viện thị xã Phúc Yên. Sáng hôm sau, được đưa về nhà, tuy vẫn còn mệt, cụ vẫn gọi thầy u tôi lại, nói: “Tối qua, chúng mày có hiểu vì sao, tao mắng chúng mày cho con cướp vợ của con cụ Cả Lược là phản phúc không?”.

Ở làng quê tôi, chỉ khi tức giận đến cạn tàu ráo máng, bố mẹ mới “mày, tao” với con cái, còn bình thường vẫn gọi “anh, chị” hay gọi theo tên. Thấy thầy u tôi đứng im, cụ nói tiếp: “Nguyễn Hữu hay Nguyễn Văn vẫn cùng họ Nguyễn, không nhường nhịn được nhau cũng cấm không được thù ghét nhau… Chưa kể cụ Cả Định là người lập ra cái làng này, là người dọn cỗ, dòng Nguyên Văn nhà mình lên sau chỉ việc ngồi ăn. Nếu không loạn lạc, sau khi cụ ấy khuất, dân làng phải lập đền thờ tôn cụ ấy làm Thành hoàng. Ngày nay đền không ở trên đất, vẫn còn ở trong đầu, trong lòng, đó là đạo. Trong đầu, trong lòng đứa nào không có đạo, tức là vô phúc, là phản phúc”.

Ông Tre cũng có mặt ở đó, nói: “Ở quân y viện, con tưởng cô Sính chưa có ai, nên đồng ý. Tối qua về đây mới biết cô ấy đã nhận ăn hỏi bên cụ Cả Lược. Con không biết và cũng không gặp anh Khôi bao giờ, nhưng anh ấy cũng là bộ đội đang đóng tại Mai Siu. Lấy cô Sính là cướp vợ của đồng đội, con xin rút lui”.

Cụ nội tôi vẫn chưa hết bức xúc: “Bây giờ chúng mày đang phá đền chùa, coi chuyện tâm linh là mê tín dị đoan nhưng tao vẫn nói. Chúng mày mà ép thằng Tre và con Sính cưới nhau, thế nào cũng có ngày cụ Cả Định về vặn cổ”.

Nhưng chuyện không thành thì họ Nguyễn Văn ê chề như quân Pháp thua Việt Minh ở Điện Biên Phủ. May thay, ông Lộc con cụ Lộc lại từ Quảng Bình về. Ông ấy nghĩ ra cách đơn giản nhất là cho bà Sính nhận lệnh đột xuất nhập ngũ vì chiến trường đang cần nhiều y tá, bác sĩ. Việc nước quan trọng hơn việc nhà, nên đám cưới buộc phải hoãn lại là có lý, có tình. Chuyện thủ tục, ông Lộc cùng trong quân đội, lại là trung tá, chỉ lên huyện đội Kim Anh nói mấy câu là xong. Cả họ Nguyễn Văn hơi hụt hẫng nhưng cùng thở phào, như Mỹ và Việt Nam ký được hiệp định hòa bình Paris 1973.

Tôi hỏi:

- Khi bổ sung đợt hài cốt liệt sĩ mới vào nghĩa trang, các vị Ủy ban xã có chú ý ngày hy sinh và nơi mất của bà Sính và ông Khôi, cùng hai mươi ba tháng Năm năm 1970 và cùng ở Campuchia?

Ông Vầu:

- Biết thì có biết, nhưng chú ý chắc không. Vì người cùng xã, chết cùng một nơi, cùng một ngày, ở mặt trận, đâu phải chuyện hiếm. Nhưng cái chính là chuyện một bà, hai ông xảy ra năm 1966. Hài cốt liệt sĩ hy sinh ở Svay Rieng, Campuchia được đưa về nghĩa trang Phước Long năm 1982, không có tên ông Khôi. Giấy báo tử của ông Khôi ghi năm 1977, an táng ở Mặt trận miền Đông Nam Bộ. Giấy báo tử của bà Sính ghi năm 1980, an táng ở Campuchia, đến năm 1982, hài cốt được đưa về Việt Nam, mới báo lại ở Phước Long, nhưng tên là Lê Thị Minh. Xã báo lên huyện, huyện báo lên tỉnh, tỉnh báo lên Bộ Quốc phòng: Xã Minh Trí không có Lê Thị Minh. Chuyện này, mãi về sau, khi ông Lộc, con cụ Lộc giải ngũ, trong lúc trà dư, tửu hậu, kể ra, mọi người mới vỡ lẽ. Khi ông Lộc đề xuất với chỉ huy Huyện đội Kim Anh cho bà Sính lệnh nhập ngũ để hoãn cưới, Huyện đội đồng ý, nhưng về sau lại sợ dòng họ Nguyễn Văn của cụ Hạt thế lực đang mạnh, sẽ kiện tụng lôi thôi, nên bàn thêm với ông Lộc và bà Sính đổi tên. Bà Sính liền đổi tên là Lê Thị Minh. Có người nói chữ Minh gần với chữ Sính, dễ sửa. Cũng nhiều người nói Minh là tên đệm của ông Nguyễn Minh Khôi. Chuyện này thực hư thế nào, chỉ bà Sính còn sống, chịu nói ra mới biết. Cũng vì vụ khác tên này, mà mấy đời Ủy ban xã cử người vào Phước Long nhận hài cốt bà Sính đều thất bại. Khi biết Lê Thị Sính và Lê Thị Minh là một, Ủy ban xã lập một đoàn hơn chục người trong đó có cả cụ Thái mẹ bà Sính, ông Lộc, ông Tre và tôi vào nhận hài cốt. Phía phòng Thương binh và Xã hội Phước Long cũng tổ chức bàn giao trang trọng.

Vợ tôi hỏi ngang:

- Ông Tre cũng có mặt trong đoàn?

- Đã có vợ và ba con, nhưng ông ấy nói: “Tao vẫn yêu bà Sính, lại cùng là cựu chiến binh, đã đăng ký kết hôn. Bản đăng ký kết hôn, tao vẫn giữ. Chỉ vì chiến tranh chống Mỹ là trên hết, mà không ở với nhau. Giờ chồng đi tìm vợ là phải đạo, đứa nào không cho tao đi, tao sẽ kiện lên tận Trung ương”. Lúc vào nghĩa trang Phước Long, đến trước mộ gắn tấm bia có tên Lê Thị Minh hẳn hoi. Bên giao, bên nhận có mặt đầy đủ, lúc mở nắp tiểu, trong lọ Penicillin chứa tờ giấy ghi tên liệt sĩ lại là Võ Thanh Nam, ngày mất trùng với bà Sính, nhưng quê quán tận Mỹ Tho. Nguyên nhân vì sao lẫn lộn? Năm đó, hai người Tỉnh đội Phước Long trực tiếp chuyển hài cốt liệt sĩ từ Campuchia về cũng có mặt. Người thì nói, lúc đưa được hài cốt lên, đang làm thống kê thì bọn tàn quân Khơme Đỏ tấn công. Người lại nói, từ lúc đào mộ đến lúc đưa về được Việt Nam, đều mưa tầm tã, đội đi tìm hài cốt ít người, phần nhiều là lính trẻ… Nhưng cũng có ông già nhà gần nghĩa trang nói, nhiều liệt sĩ thương đồng đội, không muốn về quê, cố ý gây ra lẫn lộn, nên phải cúng… Giờ chỉ còn cách đào hết hơn hai chục ngôi mộ thuộc loại “chưa biết tên” lên, chắc chắn sẽ tìm ra bà Sính, nhưng đó là chuyện không thể… Đến năm nay, sau cả nửa thế kỷ, xương bao nhiêu liệt sĩ mình đã biến thành đất, thì đất nào cũng thiêng, mới nhất trí mang đất về thờ, để ít nhất tên liệt sĩ cũng được ghi nhận trên bảng vàng tưởng niệm ở nơi chôn rau cắt rốn…

Rồi ông Vầu hít sâu, thở nhẹ:

- Nhưng cũng nhờ vậy, mới biết được chuyện ghê gớm, cuối cùng, bà Sính đã tìm được ông Khôi ở tận nơi cùng trời, cuối đất. Khi biết được hai ông bà ở cùng một nơi, hy sinh cùng một ngày, đi tìm hiểu, mới biết thêm bà Sính là lính địa phương, biên chế thuộc Tỉnh đội Phước Long, nên khi mất, có tên trong danh sách liệt kê. Còn ông Khôi và một số lính thuộc bộ đội chủ lực đang hành quân qua, hoặc bị thương được gửi tạm điều trị, chưa kịp được bệnh xá ghi nhận, thì địch tấn công. Thế là địch đến thì cùng đánh, nhưng hy sinh thì những người này, trong đó có ông Khôi, thuộc loại “chưa biết tên”.

Nghe đến đây, có thể coi là đoạn kết cuộc trò chuyện của người quản trang già, một cựu binh đã bỏ lại một chân trong cuộc chiến bảo vệ vùng biên giới phía Bắc Tổ quốc vào năm 1979, nước mắt của vợ chồng tôi cùng chảy vào trong.

Chiều muộn hôm đó, về lại Hà Nội, tôi gọi điện thoại cho Tiến sĩ Bùi Tiến Quý. Kinh nghiệm gọi điện thoại cho những người liên quan đến lĩnh vực ngoại cảm, tôi ngại nhất là vụ không bắt máy, vì nghi có sự can thiệp của lực lượng vô hình. Rất may, chuông vừa reo, anh Bùi Tiến Quý bắt máy ngay:

- Xin chào.

- Chúng tôi vừa dự lễ nhân ngày Thương binh Liệt sĩ hai mươi bảy tháng Bảy, ở quê ra. Nếu anh rảnh, chúng ta gặp nhau được không?

Tiến sĩ Bùi Tiến Quý, có lẽ luôn giữ nguyên tắc của một công chức mẫu mực:

- Ngày mai là Chủ nhật. Có chuyện gì, để thứ Hai mời anh chị đến gặp tôi ở viện.

- Nhưng chiều mai chúng tôi đã bay về Sài Gòn.

Lưỡng lự giây lát, anh nói:

- Vậy sáng mai, bảy giờ rưỡi, chúng ta gặp nhau ở cà phê Thủy Tạ. Ngồi ở đó, có thể trông sang đền Ngọc Sơn, giữa Hồ Hoàn Kiếm.

Sáng hôm sau, tại cà phê Thủy Tạ, vợ chồng tôi thay nhau kể lại cho anh Bùi Tiến Quý nghe về chuyện nhà ngoại cảm Nguyễn Văn Lư hẹn gặp lại Danh Huyền sau khi có tin từ anh Danh Hùng. Chuyện này, tuy chưa kết thúc, nhưng chúng tôi tin sẽ có kết quả tốt như vụ tìm thấy hài cốt anh Khôi. Còn nghi ngờ cuối cùng về vụ anh Khôi không hề có vợ, nhưng thầy Lư hai lần xác định anh Khôi gặp vợ ở chiến trường, cũng đã có đáp số, khi chúng tôi cùng về quê hôm trước. Hai người có yêu thương nhau, có lễ ăn hỏi giữa hai gia đình, có cả đăng ký kết hôn trước khi cả hai cùng ra chiến trường. Và thật vô cùng kỳ lạ, từ năm 1966, xã Minh Trí, huyện Kim Anh, tỉnh Vĩnh Phúc, quê tôi, đến năm 2016, đã biến thành huyện Sóc Sơn, Hà Nội. Qua không biết bao nhiêu khóa lãnh đạo Ủy ban xã, bao nhiêu thứ hồ sơ lưu trữ bị hủy, bị thất lạc vì nhiều lý do chính dáng và không chính đáng, nhưng hai bản lưu đăng ký kết hôn của bà Lê Thị Sính với ông Nguyễn Minh Khôi và ông Nguyễn Văn Tre vẫn còn. Chúng tôi xin mua lại hai bản đăng ký đã ố vàng, chữ viết bằng mực xanh và hình dấu đỏ của chính quyền xã đều phai nhạt, để lưu niệm. Chủ tịch xã bốn mươi mốt tuổi, tức ra đời đúng năm 1975, tên Tuệ, cũng họ Nguyễn, nhưng là Nguyễn Quang, không băn khoăn gì nhiều, tặng luôn. Kể xong chuyện, tôi đưa Tiến sĩ Bùi Tiến Quý xem hai bản đăng ký kết hôn đã cẩn thận ép plastic trong suốt, rồi hỏi:

- Anh nghĩ về chuyện này thế nào?

Nhà khoa học nghiên cứu lâu năm về thế giới tâm linh, tắt máy ghi âm, ngắm nghía hai vật chứng “lịch sử”:

- Hai bản đăng ký này đều không còn hợp pháp, không hiểu sao lại được lưu ở văn phòng của Ủy ban cấp xã từ 1966 đến 2016, chỉ có thể nói vui là cuối cùng nó cũng không vô ích. - Anh chau mày suy nghĩ cả phút, mới nói tiếp. - Có thể đời sống trên cõi dương phong phú nhiều lần hơn cõi âm. Nhưng câu trả lời chính xác có lẽ vẫn phải để thế hệ sau chúng ta, với đủ thứ kỹ thuật khảo nghiệm hiện đại hơn hiện nay, giải đáp. Hiện tại, tôi chỉ ghi nhận và tiếp tục nghiền ngẫm.

« Lùi
Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của nguyễn mạnh tuấn