Linh Ứng

Lượt đọc: 6177 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
TRỞ VỀ

Năm 2016.

Vợ chồng tôi về Sài Gòn, sau đó vài ngày thì nhận được điện thoại của Danh Huyền:

- Thầy Lư vừa báo anh Danh Hùng hẹn đúng ngày mùng một đầu tháng Tám âm lịch sẽ chỉ nơi an táng hài cốt.

Nhìn số điện thoại, tôi biết Huyền đang gọi từ Hà Nội:

- Cậu lại mới về à?

- Không. Chỉ hai thằng con đi, chứ tớ vẫn ở Hà Nội để chăm sóc anh Vân. Tớ đã báo sang Mỹ cho bố. Bố tớ rất xúc động, nói sẽ bay về ngay.

Tôi hỏi:

- Hai tháng vừa rồi, cậu có giục giã gì cậu Lư hay ông Bùi Tiến Quý?

- Tuyệt đối không. Thực ra, ở bên Mỹ, bố tớ sốt ruột từng ngày, liên tục hỏi thăm, nhưng tớ nhất định lấy sự kiên nhẫn chờ đợi làm thước đo chữ tín với thế giới tâm linh.

Tôi nói đùa:

- Cậu và tớ cùng không tin trên cõi dương này quá nhiều, giờ gây ô nhiễm cái “máu nghi ngờ” sang cả cõi âm, không chừng anh Danh Hùng giận không về.

- Nhưng hiện tại, tớ vẫn đang tin thầy Lư.

Cả hai đứa cùng lứa ngoài bảy mươi tuổi, vẫn “cậu cậu”, “tớ tớ”, nhưng trước sau, tôi chỉ gọi Nguyễn Văn Lư, chàng thanh niên ở tuổi ba mươi là “cậu”, lấp lửng giữa đẳng cấp “cậu thầy” và hàng “cậu em”. Trong khi Danh Huyền vẫn gọi Lư là “thầy” với giá trị thật. Có thể ở thời điểm này, Danh Huyền đã tin hoặc sợ thế giới tâm linh hơn tôi.

Vụ đi Phước Long theo thông báo của thầy Lư, vợ chồng tôi và Danh Huyền đã nhất trí chỉ làm trong phạm vi hẹp, vì việc tìm hài cốt người mất tích bằng năng lực ngoại cảm vẫn chưa hợp pháp. Song lý do chính vẫn là chuyện nhạy cảm: Anh Danh Hùng và bốn người đồng đội là lính Việt Nam Cộng hòa, cho đến bây giờ vẫn bị nhiều người coi là “ngụy”. Thực tế, chiến tranh đã chấm dứt gần nửa thế kỷ, người ở hai phía đều về đời sống hằng ngày, đã là một. Những đối địch hay mặc cảm đã dẹp sang một bên để hòa đồng, nhưng sự mất mát ở nhiều người trong cuộc chiến vẫn còn là vết thương đã lên da, nhưng lúc trái nắng, trở trời lại đau nhức. Trong khi bên “thắng cuộc” nhiều ông bà, bố mẹ, anh em vẫn đau buồn dìu dắt nhau đi khắp đất nước tìm hài cốt con em, thì việc tìm hài cốt của những người lính bên “thua cuộc”, tuy không còn phải giấu giếm, cũng không dám gây ồn ào. Tôi và Danh Huyền nhất trí phía nhà tôi chỉ có hai vợ chồng, còn nhà Huyền, thêm hai bác Quỳnh và cô Hoàn Trân. Việc thành hay không sẽ tính sau. Cả hai đều chỉ trời, chỉ đất, thề giữ kín hành trình như bí mật quốc gia.

Chủ trương là vậy, nhưng chuyện hệ trọng, lại pha màu sắc ly kỳ, huyền bí, giữa thời công nghệ thông tin hiện đại, làm sao giấu được. Đầu tiên là lũ con cháu trong nhà, con gái, con trai, con rể đều ở tuổi ba mươi, bốn mươi. Rồi lứa các em của hai vợ chồng như Vân, Dật, Dung, Liên, Lợi, Nga, Thắng, Hòa, lũ cháu thì hàng chục đứa biết bác Danh Hùng là bạn bác Khôi. Rồi đám hội đồng hương Hà Nội “hẹp”: Vợ chồng nhà văn Nguyễn Nguyên Bảy, Lý Phương Liên, họa sĩ Nguyễn Thị Hiền, Thanh Vân, Phạm Văn Lân, vợ chồng Nguyễn Kim Đan, bạn học hồi cấp hai và cấp ba từ Pháp về, vợ chồng Tôn Gia Khai cùng đoàn Thanh niên Xung phong Hà Nội ra Quảng Ninh… biết chuyện đều đòi đi: “Danh Hùng cũng là dân Hà Nội, tại sao chúng tớ lại không đi”. Cuối cùng là Thuận Ánh, con gái tôi, tổng cộng mười lăm người.

Trước ngày hẹn ba ngày, nhà Danh Huyền tôn trọng “bí mật quốc gia”, chỉ có bác Danh Quỳnh, cô Hoàn Trân từ Mỹ về, bác Quỳnh gái và Danh Huyền từ Hà Nội vào. Đám vợ chồng Bá Ninh, Bá Giang, vợ chồng hai con của bác Danh Quỳnh và cô Hoàn Trân, muốn về nhưng đều không cho về. Đám vợ chồng Danh Huy, Danh Vũ và các con thì bác Quỳnh gái không cho vào. Tôi phải xin lỗi Danh Huyền vì không hiểu sao, hai vợ chồng tôi cùng quyết giữ bí mật, mà vẫn có quá nhiều người biết. Danh Huyền cười nói:

- Vợ chồng cậu không lộ thì chỉ có anh Khôi hoặc anh Danh Hùng là thủ phạm.

Chơi với nhau từ hồi học lớp một đến nay, hai mái đầu cùng đã bạc, lần đầu tiên, tôi không bị Danh Huyền lườm nguýt. Trước khi xuất phát một ngày, bác Danh Quỳnh đưa đến nhà tôi bốn người khách lạ. Bác giới thiệu ông Hoàng Văn Dạo, tám mươi sáu tuổi, anh Hoàng Văn Du, năm mươi tám tuổi, là bố và em trai thiếu úy Hoàng Minh San; cụ bà Phạm Thị Chi, tám mươi hai tuổi, là mẹ của trung sĩ Trần Thiện Ý, cùng cháu ngoại Thu Hoài, hai mươi ba tuổi. San và Ý đều cùng anh Danh Hùng có mặt trên chiếc trực thăng bị bắn rơi ngày hai mươi ba tháng Năm năm 1970 ở Svay Rieng, Campuchia. Thì ra, từ năm 1970, khi còn hoạt động trong lòng Sài Gòn, bác Danh Quỳnh vẫn lặng lẽ liên hệ với bốn gia đình đồng đội của Danh Hùng, giúp tìm cho được hài cốt của cả năm người. Bác nói với tôi:

- Bác xin lỗi, vì đưa thêm mấy người bà con của đồng đội Danh Hùng vào đoàn mà không nói trước với cháu. Người thân của bốn người, khi bác liên hệ, chỉ gặp được có hai. Hai người còn lại, trung úy Nguyễn Hồng Thiên là con một, ông bà già ở Vĩnh Long đều qua đời và gia đình đại úy Phạm Phú Soái, không thấy liên hệ lại.

Rồi bác nói thêm:

- Hôm nay, bác chỉ đưa mấy bà con lên Sài Gòn sớm đến giới thiệu với cháu để cháu khỏi bất ngờ, khi ngày mai xuất phát, có thể sẽ có thêm vài người nữa.

Vợ tôi nói:

- Thực ra chúng cháu cũng sơ ý khi chỉ chú ý vào một anh Danh Hùng.

Sáng sớm hôm sau, trước giờ xuất phát, mới năm giờ, trời vừa hưng hửng, số thân nhân bốn người lính Việt Nam Cộng hòa trên máy bay trực thăng cùng anh Danh Hùng, không phải vài người như bác Danh Quỳnh nói, mà tới bốn chiếc xe Mercedes loại mười sáu chỗ ngồi, chật kín khách, đậu nối đuôi trước cổng nhà tôi.

Tôi hỏi Danh Huyền:

- Ai đã lộ ra?

Danh Huyền:

- Chỉ có bố tớ. Đã dặn cụ tuyệt đối bí mật rồi, vậy mà…

Tôi chỉ còn nước nói vui:

- Cuối cùng nhà tình báo vĩ đại, từng hy sinh tất cả để giữ đủ thứ bí mật đảm bảo cho chiến thắng nước Mỹ, về già thì cũng có điểm yếu.

Nhóm khách miền Tây xuống xe, quá nửa ở lứa ông già, bà cả và lứa trung niên, phần còn lại là đám trai thanh, gái lịch. Cả hai thế hệ đều ăn mặc như đi dự đại lễ ở đền chùa, nhà thờ hoặc đi du lịch Thái Lan, Hàn Quốc. Nhóm khách mới này, vừa chạm chân xuống đất đã coi ngay những người đến trước như người nhà, chào bác, chào cô chú, chào em rối rít. Hai bên xuề xòa vui vẻ.

Hai người quay camera gồm một nam, một nữ, với hai máy quay đời mới nhất, từ trên hai xe, chia nhau đón đầu đám đông một cách rất chuyên nghiệp, để thu hình đoàn đi ở nhiều góc quay, làm tăng sự chú ý của dân hàng phố.

Một cô chân dài, trong bộ áo váy thời trang, son phấn hơi đậm, dẫn theo một gã cỡ bốn mươi tuổi, tóc đầu đinh người thấp đậm, đi thẳng vào cổng nhà tôi, hỏi cậu bảo vệ bằng câu trống không:

- Ông Hai Danh Quỳnh đâu?

Bác Danh Quỳnh cùng bác gái và cô Hoàn Trân đứng ngay cổng:

- Tôi đây.

Cô gái reo:

- Ôi! Con chào ông. Con là Diệu Hòa, ở Vĩnh Long, là cháu của chú Ba Nguyễn Hồng Thiên, người đã tử trận trên máy bay trực thăng cùng với chú Danh Hùng bên Campuchia.

Rồi cô chỉ vào gã đầu đinh đi cùng:

- Đây là anh Phạm Phú Minh Dân, ở Cần Thơ, em ruột của đại úy Phạm Phú Soái, cùng chết với chú Ba của con. Đoàn của con có sáu mươi hai người, nghe nói hôm nay có vụ nhà ngoại cảm sẽ tìm được hài cốt chú Ba con và những người cùng trên máy bay hồi chiến tranh bằng lễ gọi hồn, ai cũng muốn đi coi. Con phải gạt bớt lại, nếu không gần trăm người theo con lên đây.

Phạm Phú Minh Dân gập người lễ phép dùng hai tay bắt chặt tay bác Danh Quỳnh:

- Con chào ông Hai.

Hai chiếc camera lập tức hướng về cuộc tiếp xúc giữa Minh Dân và bác Danh Quỳnh. Diệu Hòa nói tiếp về Minh Dân với bác Danh Quỳnh:

- Thưa ông! Anh Minh Dân đang là Tổng Giám đốc Tập đoàn Xuất khẩu Hải sản Minh Phương.

Bác Danh Quỳnh nhíu mày:

- Có phải ông nội cháu là Phương Minh?

- Thưa! Đúng ạ. Ông không biết con, nhưng con nghe kể về ông từ lâu. Ông nội con là Phạm Phú Minh Phương, còn ba con là Phạm Phú Minh Cường, thiếu tướng thời Việt Nam Cộng hòa, từng cùng trong trại cải tạo với ông hồi đầu giải phóng.

Bác Danh Quỳnh như sực nhớ ra:

- À… Tôi nhớ rồi.

Minh Dân vui vẻ hẳn:

- Ba con kể, hồi ở trại cải tạo trên Sông Bé, nhờ có ông trong ban đại diện, biết khi mềm khi rắn với cán bộ quản lý trại, mà các tướng tá bên mình, nhiều người được về sớm. Ba con là tướng do Mỹ đào tạo trăm phần trăm, nhưng chỉ phải ở trại có một năm.

Bác Quỳnh có ý nói lảng:

- Giờ ba cháu khỏe không?

- Ba con vẫn khỏe. Lẽ ra hôm nay, ba con cũng lên gặp ông, nhưng mắc đám giỗ bên thông gia, nên nhờ con chuyển lời hỏi thăm ông và có lời mời ông về quê con chơi. Nếu ông thu xếp được, con sẽ đưa ông về đợt này.

Bác Danh Quỳnh điềm đạm:

- Rất cảm ơn. Để xong vụ gọi hồn này, rồi tôi tính.

- Nhưng ông này…

Minh Dân ra hiệu cho hai camera hướng về bác Danh Quỳnh, rồi nói tiếp:

- Đây là chuyện cũ, mà giờ ở trong nước hay nói theo lời Thủ tướng Võ Văn Kiệt, “Khép lại quá khứ để vươn tới tương lai”, nhưng về ông, ba con và những người bạn bè cũ gặp nhau, người thì nói ông là Việt Cộng nằm vùng, người lại nói ông là thân cận của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, còn con là thế hệ chẳng dính gì chiến tranh, nhưng muốn biết sự thật. Ông có thể cho con biết thực sự ông thuộc phe nào?

Bác Danh Quỳnh cười:

- Đã khép lại quá khứ vươn tới tương lai rồi, cháu còn tò mò làm gì?

- Lịch sử chỉ có một sự thật. Ba con đã coi ông là ân nhân thì chúng con càng phải nhìn đúng về ông. Hồi trong trại cải tạo, thấy ông quan hệ tốt với cán bộ quản lý, nhiều người nghi ông là Việt Cộng nằm vùng, nhưng khi thấy ông đưa cả nhà đi Mỹ, thì lại khinh.

- Tại sao khinh?

- Ba con, sau khi cải tạo về, thuộc diện HO, do chính phủ Mỹ bảo lãnh, được đưa cả nhà xuất cảnh, nhưng ba con tuyên bố nghỉ chơi với Mỹ. Lúc có lợi thì hùng hùng hổ hổ đưa cả vạn lính sang, lúc bất lợi thì bỏ rơi đồng minh, chạy lấy người. Nếu quyết chạy, ba con đã chạy trước khi Sài Gòn thất thủ, nhưng ba con chọn ở lại để ra trình diện. Những người cũng nghĩ như ba con, đã không phục ông, khi nghe tin ông sang Mỹ.

Bác Quỳnh chỉ mỉm cười:

- Ba cháu và các bạn ba cháu nghĩ thế là đúng đấy.

Thấy camera chú ý quá nhiều vào cuộc tiếp xúc, bác Danh Quỳnh tỏ ra thận trọng:

- Camera này là của ai?

Minh Dân cởi mở:

- Thưa! Của con. Vụ hơn bốn chục năm mới tìm được hài cốt người thân mất tích trong chiến tranh, mang nhiều ý nghĩa, nên con đưa mấy em đi quay, trước hết là lưu làm tư liệu, nhưng cũng có thể đưa lên đài truyền hình. Xin tự giới thiệu với ông, ngoài kinh doanh chế biến và xuất khẩu hải sản, con còn là nhà hợp tác và tài trợ cho nhiều hãng sản xuất phim truyện truyền hình về đề tài chiến tranh.

Cô Hoàn Trân hỏi:

- Có điều kiện gì không?

Minh Dân:

- Con chỉ có điều kiện trung thực, khách quan và hấp dẫn. Vừa rồi, con hỏi ông thực ra ông thuộc bên nào, cũng không ngoài ba nguyên tắc ấy.

Bác Danh Quỳnh vẫn chỉ mỉm cười, có thể là thản nhiên, cũng có thể là độ lượng. Còn tôi thấy thương bác. Nói rõ bác là ai với Minh Dân chẳng khó khăn, nhưng vấn đề không phải sự thật là gì, mà là sự thật dùng làm gì? Nếu quá khứ đã trôi đi quá xa, và nó từng được yêu ghét thế nào trong mỗi người với vận mệnh đất nước, mới cần phải rõ ràng đen trắng, còn với thân phận từng cá nhân, hãy cứ để nó êm ả trong phẳng lặng còn hơn là dậy sóng.

Trong đoàn chúng tôi còn có nhà ngoại cảm bán chuyên nghiệp. Nhà văn Nguyễn Nguyên Bảy và cô em nghệ sĩ múa Thanh Vân. Vân “bói” nhận nhiệm vụ lo đồ lễ, sau đó, sẽ có bài cầu khấn thần linh. Còn Nguyễn Nguyên Bảy, có năng khiếu và tham vọng làm lãnh tụ đám đông từ hồi còn học tiểu học ở Hà Nội, chưa ai bầu, đã xung phong làm “Tổng tư lệnh” của đoàn. Anh và Lý Phương Liên đến trễ, vừa có mặt ở nhà tôi, thấy đông người tập trung, đã hỏi:

- Xuất phát sẽ là bao nhiêu xe?

Thuận Ánh nói:

- Xe mười sáu chỗ có bốn chiếc, xe bảy chỗ có sáu chiếc và xe bốn chỗ có năm chiếc ạ.

Nguyễn Nguyên Bảy lớn tiếng:

- Không được. Đi đông như thế sẽ cản trở giao thông, rồi người đến trước, người đến sau, thế nào cũng có người lạc đường. Chưa kể nơi an táng mấy chục năm qua yên tĩnh, êm ả, mình rầm rầm đi lên gây ồn, dân địa phương tò mò kéo đến lộn xộn, các vong hồn cảnh giác không hiện, là kiếm củi cả năm thiêu trong một giờ. Bây giờ tất cả dồn hết lên hai xe buýt cho nhanh gọn.

Minh Dân:

- Xe đoàn cháu đã trót lên rồi, chú để đoàn cháu đi tự do.

Nguyễn Nguyên Bảy trừng mắt:

- Cậu định đảo chính tôi đấy hả? Trừ một xe bảy chỗ lên đó để cơ động, còn các xe khác bỏ lại, dồn hết người lên hai xe buýt.

Nhiều người thắc mắc:

- Xe buýt đâu?

- Tôi có thằng cháu chủ hãng xe du lịch. Gọi một tiếng, chỉ nửa giờ, mười chiếc cũng có.

Đúng là chỉ chưa đầy nửa giờ sau, hai chiếc xe buýt sang trọng loại bốn mươi lăm chỗ ngồi đã đậu ngay trước cổng nhà tôi.

Mọi người vui vẻ lên xe. Chẳng có ai đứng ra thu xếp, nhưng nhóm bạn bè, gia đình tôi lại lên một xe. Hai bác Danh Quỳnh, cô Hoàn Trân và ruột thịt các cựu binh Việt Nam Cộng hòa lên xe sau. Do vợ tôi ngồi cùng Danh Huyền ở xe trước, tôi chuyển xuống ngồi với hai bác Danh Quỳnh và cô Hoàn Trân ở xe sau.

Trước khi lên xe, Danh Huyền mới như sực nhớ, nói với tôi:

- Tuấn này! Tớ quên mất, hôm thầy Lư gọi cho tớ, có nói muốn tìm anh Danh Hùng, phải gặp một người tên Tư Bông.

Cái tên Tư Bông khiến tôi giật nảy, không tin ở tai mình, nên hỏi lại:

- Gặp ai?

- Tớ nghe rõ là Tư Bông.

Tôi nói dứt khoát:

- Đây là con siêu lừa. Quên nó đi. - Nhưng tôi lại chột dạ. - Tớ tin chắc là cậu nghe nhầm. Để khi lên nghĩa trang, chờ cậu Lư liên lạc, tớ sẽ hỏi lại.

Tôi đỡ Danh Huyền lên xe trước, còn tôi trở lại lên xe sau.

Trời còn sớm. Chưa đến giờ cao điểm nên đường từ Sài Gòn theo Quốc lộ 13 lên Bình Phước khá thông thoáng. Nhưng một trăm bảy mươi hai kilômét vẫn là quãng đường dài. Những người già trên xe, sau chặng đầu háo hức đều lim dim mắt. Tôi ngồi cạnh bác Danh Quỳnh nhưng sẵn thói quen tận dụng mọi cơ hội khai thác những người mới gặp để tìm ra nhân vật, nên trò chuyện với Minh Dân về chuyện chế biến và xuất khẩu hải sản của các doanh nghiệp miền Tây. Bọn trẻ trên xe, sau một hồi hào hứng tự phát, có đứa phát hiện trên xe có micro và dàn karaoke, liền xin phép lái xe, rồi rủ nhau hát. Thế là suốt dọc đường vang rộn lời ca: “Cùng mắc võng trên đường Trường Sơn. Hai đứa ở hai đầu xa thẳm. Đường ra trận mùa này đẹp lắm. Trường Sơn Đông nhớ Trường Sơn Tây”, rồi “Năm anh em trên một chiếc xe tăng. Như năm bông hoa nở cùng một cội. Như năm ngón tay trên một bàn tay. Đã xung trận cả năm người như một…”, “Ai đã từng đi qua sông Cửu Long Giang, Cửu Long Giang sóng trào nước xoáy…”.

Cái mệt của người già cộng sự điềm tĩnh của nhà tình báo, khiến bác Quỳnh đã lim dim trên xe. Bác chắc hẳn cũng chú ý đến lời và nhịp điệu của bài hát mà tôi tin chắc những ngày sống trong vai thân cận Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, bác không bao giờ dám nghe, dù là nghe lén. Bác hỏi nhỏ:

- Những bài hát này thường xuyên dạy ở trường à?

Tôi nói:

- Theo cháu biết là không. Đây là những bài mà bọn trẻ rất hay hát ở các đám cưới, những tụ điểm sinh hoạt tập thể. Bây giờ ở trong nước, khi vui vẻ lạc quan, họ hay chọn những bài có tiết tấu nhộn nhịp, hào hùng, còn khi ưu tư, tình cảm, họ hát những bài bolero và những bản tình ca buồn của các nhạc sĩ Sài Gòn xưa.

Bác Quỳnh nói:

- Bác hỏi thế vì nghe chúng hát, bác bỗng thấy thời gian với tuổi già thật đáng sợ. Nếu ôm nặng quá khứ để ưu tư quá hay bay bổng quá, đều lỗi thời lạc lõng và biến động của đời sống hiện đại sẽ không đồng hành với mình.

Hai chiếc xe buýt chở chúng tôi đến cổng nghĩa trang liệt sĩ Phước Long lúc bảy giờ bốn mươi lăm phút. Cổng nghĩa trang đã mở rộng sẵn. Một đám đông già trẻ chừng ba bốn chục người đứng rải rác ở khoảng trống rộng trước cổng.

Hai con gái, một con trai, hai con rể của tôi lên Phước Long trước từ sớm, cùng quản trang Tư Quảng đã đón sẵn ở cổng.

Tôi rất ngạc nhiên khi thấy có mặt Huy Lạc. Vợ chồng tôi vừa xuống xe, còn hoa mắt trước cái nắng chói chang, anh Lạc đã ùa đến:

- Chào phóng viên báo Nhân dân kiêm kỹ sư cơ khí vùng mỏ Quảng Ninh. - Anh cũng hồn nhiên ôm cả vợ tôi. Rồi anh cười ha ha với tôi. - Chú có ngạc nhiên không?

Tôi hỏi:

- Sao anh đi một mình?

- Nếu thế, chú phải chúc mừng anh có lúc cũng thoát khỏi xiềng xích mới phải.

Anh chỉ nhóm thanh niên đang đứng phía sau mình:

- Đây là ba thằng con rể và hai thằng sắp con rể, cùng nhất trí với anh nói dối chị vào Bình Phước nhờ ông thầy Đông y nổi tiếng, vừa cúng, vừa cắt thuốc để vợ đẻ con trai, nên mới vào được đây, không có vợ đi cùng.

Tôi quay ra hỏi Danh Huyền:

- Cậu lộ cho anh ấy hả?

Danh Huyền cười:

- Chúng mình có còn thời trẻ con nữa đâu mà cứ phải chơi ú tim.

Anh Lạc nói:

- Đừng có trách Danh Huyền. Anh với Danh Hùng và anh Khôi nhà chú đã là ba trong một, Danh Huyền nó không lộ, anh cũng tự biết bằng thần giao cách cảm. Bây giờ, vụ tìm Danh Hùng đến đâu rồi?

Tôi chưa kịp trả lời, Lạc đã quay ra ôm chầm bác Danh Quỳnh, tay bắt mặt mừng với bác Quỳnh gái và cô Hoàn Trân. Khi sự niềm nở lắng xuống, anh mới quay lại tôi:

- Thế nào? Thầy ngoại cảm vào chưa?

Tôi nói:

- Nhà ngoại cảm hẹn đúng giờ, sẽ từ Hà Nam gọi hồn rồi truyền đạt vào.

Lạc trợn mắt:

- Chú đang nói đùa hay đang gặp bọn siêu lừa? Nghe cứ như các thầy bà giới tâm linh bây giờ cũng theo kịp công nghệ thông tin hiện đại có khả năng truyền hình trực tiếp.

Vợ tôi nói:

- Việc tìm hài cốt anh Danh Hùng được hay chưa được em không dám nói trước, nhưng vụ tìm anh Khôi, đúng là cậu Lư từ Hà Nam nhìn nhận được hết địa điểm, toàn cảnh nghĩa trang và ngôi mộ anh Khôi.

Lạc hạ giọng:

- Mấy năm nay, anh cũng có nghe đồn, nhưng đây là lần đầu tiên anh nghe chuyện này từ cái miệng vô thần của hai vợ chồng em.

Đúng lúc đó, nhà văn Nguyễn Nguyên Bảy từ trong nghĩa trang đi ra.

Huy Lạc reo:

- Ô! Mày cũng lên à?

Nguyễn Nguyên Bảy:

- Tao là “Tổng tư lệnh” vụ gọi hồn này. Mày từ sân bay Tân Sơn Nhất lên thẳng đây hả?

Hóa ra đất Hà Nội cũng chật. Huy Lạc và Nguyễn Nguyên Bảy biết nhau từ hồi đá bóng vỉa hè, thời học cấp hai.

- Tao vừa đằng vân, vừa độn thổ để có mặt ở đây đúng giờ, việc gì phải đi máy bay. Hai thằng Danh Hùng, Minh Khôi với tao là một, nên chúng nó ở châu Nam Cực, tao cũng đến. Bây giờ, vụ này đến đâu rồi?

- Xong hết rồi. Mày chỉ việc làm khán giả. Khi nào thấy hài cốt Danh Hùng nhớ rưng rưng nước mắt, chứ trái tim lũ quan văn chúng mày khô khan lắm.

Biết Nguyễn Nguyên Bảy nhầm, Huy Lạc không đính chính:

- Rồi. Mình tập trung ở đây rồi đi đâu?

- Đi đâu, phải chờ nhà ngoại cảm từ Hà Nam hướng dẫn vào, nhưng theo thằng Tuấn, khả năng sẽ từ đường Quốc lộ rẽ vào rừng cao su vài chục cây số nữa.

- Địa điểm đã biết chưa? Địa hình địa vật thế nào? Việc khai quật ra sao?

- Mày tưởng tao là nhà ngoại cảm hả?

- Tao biết mày là “Tổng tư lệnh” rồi. Nhưng tao làm nghề khảo sát địa hình. Đi hàng trăm người thế này vào rừng mà không chuẩn bị gì, vào đấy nhìn nhau tắm suối à? Nhỡ phải đào xới lâu, phải chờ đến chiều thì sao?

- Đám con thằng Tuấn lo ăn trưa, ăn chiều, nước uống rồi.

- Bây giờ đang cuối mùa mưa. Lại quá nửa là người già. Nắng quá thì nóng, mà mưa xuống thì bệnh, mày đã kêu dựng mấy cái nhà bạt chưa?

- Này, này, này… Mày tưởng chúng ta đang tổ chức đi du lịch trải nghiệm để quảng cáo trên ti-vi hả? Xin thưa, chúng ta đang đi tìm hài cốt người thân. Mấy chục năm nay, tao chưa từng thấy vụ tìm hài cốt nào giống như đi du lịch Vũng Tàu hay Phú Quốc. Thằng Danh Hùng và chiến hữu của nó từ năm 1970 đến nay, gần năm mươi năm, nằm trong lòng đất đen, nắng mưa, nóng lạnh dãi dầu, không thương, lại đi áy náy cho người đi tìm, cùng lắm là một ngày mưa nắng. Đã nói mọi chuyện đâu vào đấy rồi, mày còn vẽ nhà bạt, nhà tôn, chỉ để giải quyết khâu oai.

Hà Nội, quê tôi được hình thành nhờ đất lành chim đậu, không do tranh giành, lấn chiếm mà nên, đã tạo cho người Hà Nội xưa một truyền thống tự nhiên, hợp thì ở, không hợp thì đi, dù ở bất cứ đâu cũng không tranh giành, đấu đá và không có máu cạnh tranh nhằm đứng đầu thiên hạ. Cứ ba người phụ nữ khác tính nhau trở lên thì thành chợ Đồng Xuân, khi chỉ còn hai người thì lại là chị em thân thiết. Còn ba người đàn ông trở lên thì thành tri âm, tri kỷ, nhưng khi chỉ còn hai người, nhất định phải có một người giỏi hơn. Hai bên to tiếng không ai chịu ai, đến nỗi họa sĩ Nguyễn Thị Hiền phải dí dỏm lên tiếng:

- Đúng ra trước khi đi, chúng ta thành lập hội đồng, sẽ không mất công tranh luận.

Có sự tham gia của phụ nữ, kẻ luôn thấm nhuần nền văn hóa đại cách mạng Trung Quốc “nhất vợ, nhì trời” là Lạc, đành xuống nước:

- Rồi. Cậu có lý. Tôi nhất trí không thuê nhà bạt nữa.

Minh Dân, ông chủ trẻ miền Tây Nam Bộ thấy hai ông già Hà Nội hơn thua, liền ra hiệu cho hai camera thu hết vào ống kính, rồi chờ cho cuộc đấu tạm ngưng, bước đến bắt tay Huy Lạc. Trong tích tắc, hai bên đã “chú chú, con con”, thân tình như quen biết nhau từ lâu.

Đúng lúc đó, Danh Huyền vừa reo, vừa huơ chiếc điện thoại thông minh:

- Thầy Lư gọi rồi.

Huy Lạc nói như ra lệnh:

- Nhấn khuếch âm lớn lên cho mọi người cùng nghe.

Cả trăm người trong nghĩa trang và ngoài cổng, xúm lại vây quanh Danh Huyền.

Nguyễn Nguyên Bảy cáu kỉnh hét:

- Không được khuếch âm. Tất cả chú ý! Thế giới của vong là thế giới vô thanh, vô ảnh, không ồn ào khoa trương như cõi dương mình, nên chỉ mình Danh Huyền nghe, rồi truyền lại. Thứ hai, từ thời điểm này, ai không tin thì để trong lòng, hoặc rời cuộc chơi, tuyệt đối không nói ra lời những nghi kỵ, bất đồng, gây chia rẽ âm dương.

Huy Lạc ấm ức nói nhỏ vào tai tôi:

- Nói như nó thì cõi âm cũng không có dân chủ à?

Danh Huyền chăm chú nghe điện thoại từ Hà Nam, rồi quay sang nói gì đó với Nguyễn Nguyên Bảy. “Tổng tư lệnh” lại lớn tiếng:

- Nhà ngoại cảm nói, muốn biết mộ Danh Hùng phải gặp người tên Khôi, tức Nguyễn Minh Khôi, nên chúng ta phải vào đặt lễ ở đài tưởng niệm nghĩa trang này và mộ Nguyễn Minh Khôi, rồi mới lên đường.

Đa số coi đó là chuyện phải lẽ, nhưng nhóm thân nhân những người lính Việt Nam Cộng hòa tử trận, từ miền Tây lên, có vẻ ngơ ngác:

- Sao kỳ vậy?

- Hài cốt của nhà mình có ở đây đâu?

Minh Dân bức xúc hỏi Danh Huyền:

- Cô có nghe nhầm không đấy?

Bản lĩnh có thừa như nhà văn Nguyễn Nguyên Bảy cũng tỏ ra lúng túng, bảo Danh Huyền:

- Cô hỏi lại thầy Lư coi.

Danh Huyền nói:

- Thầy Lư có giải thích: “Anh Nguyễn Minh Khôi biết hướng chôn hài cốt anh Danh Hùng”. Mình qua đây, không rẽ vào anh ấy nói một lời là vô ý, nhỡ anh ấy tự ái làm khó.

Nguyễn Nguyên Bảy nói:

- Tóm lại lòng tự ái của người âm cũng lớn bằng quả núi. Giờ mời tất cả vào đài tưởng niệm và mộ ông Khôi, đặt lễ, để đúng chín giờ ba mươi phút xuất phát. Nên nhớ với cõi âm, sai một ly đi ngàn dặm, không có vụ giờ cao su, càng chậm trễ càng văn minh như cõi dương mình.

Nhóm “bên thắng cuộc” và số dân địa phương theo lệnh Nguyễn Nguyên Bảy một cách thoải mái, nhẹ nhõm, trong khi nhóm “bên thua cuộc”, vẫn có phần lấn cấn.

Bác Danh Quỳnh tinh ý, nhận ra điều nhạy cảm này, nói với tôi:

- Cháu cần phải thông cảm. Có những nhà như nhà cô Hoàn Trân rất nhiều mất mát, nên mình cũng phải tôn trọng những đau buồn không dễ quên của họ.

Một ông già ở tuổi ngoài bảy mươi bỗng đứng ra nói với đám đông:

- Đứa nào không muốn vào thì ở ngoài. Dưới cõi âm, lính hai bên đã ăn chung, nhậu chung từ lâu, sao ở cõi dương, tụi bay vẫn trùng trình?

Minh Dân khoát tay, nói với mấy người cùng trang lứa:

- Chuyện cũ không dễ quên, nhưng chuyện mới phải nhớ. Hài cốt của năm người thân mình có phải tự bay từ Campuchia về đây đâu.

Thế là sự ngần ngại giây lát được tan đi. Tất cả kéo nhau vào khu vực đài tưởng niệm và phần mộ anh Khôi.

Thanh Vân là người chủ trì việc đặt lễ và hành lễ. Cô không quên khấn to việc cảm ơn và xin anh Khôi chỉ dẫn việc tìm hài cốt anh Danh Hùng và bốn đồng đội theo danh sách bác Danh Quỳnh thu thập được từ hồi 1970.

Xong lễ, trời đang nắng bỗng đổ mưa. Mọi người nhốn nháo chạy ra xe để tránh mưa. Người thì nói đó là do hồn thiêng các liệt sĩ phù hộ. Người lại lo lắng, chắc có gì sơ sót nên ông trời nổi giận.

Rất kỳ lạ. Đúng lúc đó, cậu Lư gọi điện vào cho Danh Huyền:

- Xong lễ rồi, ra Quốc lộ, rẽ phải. Đi thẳng đến một ngã ba, tôi sẽ chỉ tiếp.

Lúc rời nghĩa trang, vợ chồng tôi, cùng hai bác Danh Quỳnh, cô Hoàn Trân, vợ chồng Nguyễn Nguyên Bảy, anh Huy Lạc cùng lên ngồi xe đầu với Danh Huyền và Nguyễn Thị Hiền, vừa vì nôn nóng, vừa muốn chính mình đến đích trước trong cuộc tìm kiếm. Tất cả đều quên ngồi xuống ghế, cùng nhấp nhổm vây quanh Danh Huyền, người độc quyền sử dụng chiếc điện thoại di động, nhận tin từ cậu Lư.

- A lô, - tiếng cậu Lư rất nhỏ từ điện thoại di động.

- Tôi nghe đây. - Danh Huyền đưa tay ra hiệu cho mọi người im lặng. - Xe đã rời nghĩa trang rồi.

- Hôm trước, tôi nói tìm một người tên Tư Bông. Đã gặp chưa?

Danh Huyền đưa mắt có ý hỏi tôi. Tôi khẽ xua ngón tay. Danh Huyền hiểu ý, nói vào điện thoại:

- Cả anh Tuấn và tôi không gặp được người này. Nhưng có sao không ạ?

Tiếng trả lời của cậu Lư không rõ.

Nguyễn Nguyên Bảy, sốt ruột, quên cả lệnh “cấm” của chính mình, bảo Danh Huyền:

- Em nhấn loa ngoài đi.

Danh Huyền:

- Chính anh nói kiêng mà?

- To quá thì mới kiêng.

Huy Lạc cười khẩy, nói nhỏ vào tai tôi:

- “Tổng tư lệnh” mà tiền hậu bất nhất.

Chiếc xe vừa đến ngã tư giao nhau giữa đường nhựa Quốc lộ và đường đất đỏ tỉnh lộ.

- Rẽ đây được chưa?

Danh Huyền vừa nói vào điện thoại, vừa nhấn phím khuếch âm. Tiếng của cậu Lư từ Hà Nam át cả tiếng máy ô tô, nhưng chẳng ai sợ xúc phạm vong linh:

- Ngã ba chứ không phải ngã tư.

Người trên xe ai nấy ngạc nhiên:

- Làm sao ông ấy biết là ngã tư?

- Rõ ràng Danh Huyền không nói.

Nguyễn Nguyên Bảy:

- Suỵt! Tôi đã dặn tuyệt đối không nói ra mồm sự nghi ngờ kia mà.

Nhưng rồi chính anh lại hỏi tôi:

- Ông thầy này độ bao nhiêu tuổi, có học trường lớp nào không?

Để củng cố niềm tin của Nguyễn Nguyên Bảy, hạn chế phân tâm vào lúc cần đồng tâm nhất trí, tôi nói:

- Cũng cỡ tuổi chúng mình. Nghe đâu tu ở tận Ấn Độ.

Trong xe yên tĩnh trở lại. Bên ngoài vẫn là tiếng mưa rào rạt.

Xe sắp đến ngã ba, người lái xe cho xe giảm tốc độ. Bên kia đường, góc ngã ba là căn lều không vách của ông già với thùng đồ sửa xe, tôi đã thấy lần trước. Vẫn ông già ấy đang loay hoay với chiếc xe gắn máy của một ông khách đang ngồi chờ.

- Rẽ phải. Rồi đi thẳng. - Tiếng cậu Lư từ điện thoại di động của Danh Huyền phát ra không khác gì tiếng một hướng dẫn viên trong bản đồ định vị.

Đây chính là con đường đất đỏ đi vào xóm dân cư, trong đó có dãy chuồng bò của gia đình Tư Bông. Vợ tôi kéo tay tôi, nói riêng:

- Nhỡ Tư Bông mà cậu Lư nói với Danh Huyền là Tư Bông này?

Tôi gạt đi:

- Không thể có chuyện ấy.

Nhưng rồi, tôi nắn lại:

- Nếu đúng, chắc chắn cậu ấy sẽ bảo xe dừng lại trước nhà cô ta.

Ba chiếc xe nối đuôi nhau đi vào con đường xuyên qua khu dân cư. Một số dân trong các nhà, thấy xe lạ, kéo nhau ra cửa với ánh mắt tò mò. Xe chạy đến cổng ngôi nhà có dãy chuồng bò, chính nhà của gia đình Tư Bông. Cổng nhà đang mở rộng. Ba con chó từ trong nhà lao ra thi nhau sủa ông ổng. Thằng bé chừng bốn, năm tuổi cũng phóng ra nhìn đoàn xe. Một phụ nữ vội lao ra theo, bế thốc thằng bé lên, rồi đứng ngóng theo xe. Tôi nhận ra đó chính là Tư Bông, nhưng hình ảnh cô ta và đứa con chẳng để lại trong tôi điều gì, ngoài thoáng nghĩ: “May mà cuối cùng mình cũng nhận ra đó là một con siêu lừa”.

Qua khu dân cư, xe bắt đầu đi giữa hai bên là rừng cao su bạt ngàn kéo dài đến tận chân dãy núi đất trải lên thẳng vùng cao nguyên. Đường đất đỏ được quy hoạch thẳng, rộng, nhưng do mưa dày hạt mờ mịt và đường trơn ướt nên xe buộc phải đi chậm, khiến càng đi càng thăm thẳm, không biết lúc nào mới đến đích. Gần một tiếng đi giữa rừng cao su. Trời bất ngờ hửng nắng.

Tiếng cậu Lư lại từ điện thoại của Danh Huyền:

- Rẽ phải vào con đường dọc con suối cạn, khoảng hai trăm mét là nghĩa trang. Bên bờ suối có một cái miếu. Đặt lễ rồi làm lễ cúng thần linh và các vong hồn, trong đó có bác Hùng. Rồi đợi tin tôi.

Ba chiếc xe rẽ phải. Đường từ đây hẹp lại nhưng vẫn thuộc loại đường quy hoạch ngang, dọc trong rừng cao su, nên dễ đi. Người lái xe căn trên đồng hồ báo cây số, đúng hai trăm mét thì dừng lại. Từ trên xe nhìn xuống và nhìn bao quanh, ngay bên bờ suối là một chuồng bò hai khoang, trong có bốn con bò đực đang trệu trạo nhai cỏ, còn cách bờ suối khoảng ba trăm mét theo con đường mòn dọc lề rừng cao su chỉ thấy ngôi nhà tôn ba gian lúp xúp. Cả người lái xe và Danh Huyền cùng nói:

- Không thấy nghĩa trang và cái miếu nào cả?

“Tổng tư lệnh” Nguyễn Nguyên Bảy nói:

- Ông thầy nói hai trăm mét, thì mình cứ xuống xe đúng chỗ hai trăm mét. Còn nghĩa trang và cái miếu nằm ở đâu, đi bộ vài chục bước cũng tìm được.

Tất cả lục tục xuống xe. Từ sáng sớm, rời Sài Gòn, lên đến nghĩa trang Phước Long tuy mệt, vẫn còn chút hào hứng, nhưng từ nghĩa trang vào sâu trong rừng cao su mấy chục cây số, lại gần trưa, cả già lẫn trẻ đều bải hoải. Đã vậy, trời đang nắng bỗng đổ mưa. Rồi đang mưa bỗng gắt nắng. Ngột ngạt rất khó chịu. Nhiều người tản vào trong rừng cao su, tránh được nắng, sự ngột ngạt lại tăng lên. Tràn ra khoảng trống duy nhất có gió thoáng là con đường đất đỏ chạy giữa bìa rừng và dòng suối cạn, người có dù dùng dù, người có mũ nón, dùng mũ nón. Cái đói và khát bắt đầu đánh tiếng.

Đúng lúc đó, bốn chiếc xe thùng vận tải chạy vào, đậu nối sau hai chiếc xe buýt của đoàn. Cả chục thanh niên mặc đồng phục nhảy từ thùng xe xuống. Một phụ nữ đẫy đà khoảng ngoài ba chục, rời ca bin chiếc xe đi đầu. Tôi nhận ra là cô chủ tiệm nhà bạt cơ động ở thị trấn Phước Bình đã bao việc dựng nhà bạt ở nghĩa trang Phước Long, do Huy Lạc thuê hôm giỗ anh Khôi. Trước trăm con mắt chú ý vào mình, cô chỉ đảo nhanh đôi mắt đã nhận ra Huy Lạc đang đứng với Nguyễn Nguyên Bảy và Minh Dân ở giữa đường, liền đi nhanh lại, nói với Huy Lạc:

- Trong rừng, cây dày lại mưa ướt, dựng nhà không tiện đâu chú.

Huy Lạc:

- Dựng ngay trên đường đi. Đường rẽ vào đây là đường nhánh, không có xe đâu mà sợ.

- OK!

Cô chủ cửa hàng nhà bạt quay ra nói với đám thợ lắp ráp đang đứng chờ bên dãy xe:

- Lắp ngay trên đường.

Nguyễn Nguyên Bảy càu nhàu với Huy Lạc:

- Đã nhất trí không lều liếc gì, sao cậu vẫn rắc rối?

- Nhưng cậu thấy trái ý “Tổng tư lệnh” là có lý chưa? Bây giờ không có nhà bạt, hàng trăm con người ở vào đâu lúc mưa, lúc nắng? Tôi đảm bảo với cậu tình hình này, có khi đến chiều chưa về được.

Hai người Hà Nội chưa kết thúc cuộc thi ai giỏi hơn ai, thì sáu nhà bạt loại lớn đã lắp xong. Mọi người mừng rỡ kéo nhau vào nhà bạt tránh nắng, rối rít khen tổng tư lệnh Nguyễn Nguyên Bảy biết nhìn xa trông rộng.

Một chiếc xe thùng vận tải nữa, từ ngoài đường lớn chạy vào đậu nối đuôi bốn chiếc xe của cửa hàng lều bạt. Gần chục nam, nữ nhân viên mặc đồng phục nhà hàng tiệc cưới nhảy xuống xe.

Nguyễn Nguyên Bảy:

- Lại thêm xe quái nào nữa?

Minh Dân:

- Nhìn thấy trước phải ăn chiều ở đây, nên con có nói với chú Huy Lạc để con kêu nhà hàng ở Phước Bình mang tiệc vào nấu. Coi như mình ăn dã ngoại, mừng tìm thấy hài cốt thân nhân các cựu chiến binh.

Nguyễn Nguyên Bảy:

- Vụ ăn uống, ngay từ đầu, tôi đã nói, đám con nhà Tuấn, Phương lo rồi, cậu không nghe hay cậu muốn cướp quyền tôi?

- Thưa! Con có nghe. Nhưng nhà chú Tuấn lo bữa trưa, còn con lo bữa chiều.

- Hừ! Thế thì cậu phải trao đổi với tôi, chứ sao lại trao đổi với ông Huy Lạc? Cậu làm trùm tập đoàn kinh tế lớn mà không biết điều tối thiểu, đám đông nào cũng chỉ có một người đứng đầu à?

Trong khi đó, đám thanh niên trai gái của cả bên “thắng cuộc” lẫn bên “thua cuộc” đã hòa làm một, theo lệnh Nguyễn Nguyên Bảy chạy túa đi khắp nơi, có đứa còn qua cả con suối cạn sang vạt rừng nguyên sinh bên kia suối, để tìm nghĩa trang và cái miếu theo lời cậu Lư. Cuối cùng đều lần lượt quay trở lại chỗ đậu xe, đứa nào cũng thở hổn hển:

- Chỉ toàn rừng cao su. Không thấy nghĩa trang nào.

- Chúng con hỏi mấy người chăm sóc cây, họ nói trong vòng bán kính mười kilômét, tính từ ngã ba ngoài kia, không hề có nghĩa trang.

- Miếu thờ càng không có.

- Không có nghĩa trang thì làm sao có miếu?

Hai nhà ngoại cảm không chuyên nghiệp Nguyễn Nguyên Bảy và Thanh Vân đầy phân vân.

Thanh Vân nói:

- Theo linh cảm của em, khu vực này âm khí khá nhiều và khá nhiễu, nên thầy Lư nói có nghĩa trang và miếu thờ là có lý.

Nguyễn Nguyên Bảy:

- Nhưng chúng ta đang đứng đúng chỗ ông ta chỉ, không chệch một mét.

Đang bế tắc thì Huy Lạc từ ngôi nhà tôn trong vườn cây cuối con đường mòn nhỏ, đi ra cùng với một người đàn ông và một phụ nữ, khoảng ngoài bốn chục tuổi, cùng mặc đồng phục bảo hộ lao động công nhân cao su. Từ xa, anh đã nói:

- Có Sơn thần, Thổ địa đây rồi.

Đưa hai người đến chỗ chúng tôi đứng cạnh chuồng bò, bên bờ suối cạn, anh nói:

- Đây là chú Thân và cô Dậu. Hai vợ chồng cùng làm bảo vệ rừng cho chủ trang trại. Ở đây có miếu và nghĩa trang hay không để họ nói.

Nguyễn Nguyên Bảy mừng rỡ, quên cuộc đua ai giỏi với Huy Lạc, hỏi người bảo vệ rừng:

- Miếu và nghĩa trang nằm ở đâu, chú em?

Người chồng nói:

- Chắc các ông, các bác nghe người ta chỉ lộn, chứ tụi tôi ở đây từ lúc có rừng cao su này, chưa bao giờ thấy nghĩa trang hay cái miếu nào. Đây toàn là đất mới khai hoang, không có dân làm sao có miếu và nghĩa trang.

Người vợ nói:

- Bên rừng cao su từ thời Tây có nghĩa trang, nhưng cách đây mấy chục cây số.

Tất cả cùng sững sờ.

Tôi nói với Danh Huyền:

- Cậu thử hỏi cậu Lư xem.

Rồi không chờ Huyền bấm máy, chính tôi dùng điện thoại của mình gọi cho cậu Lư:

- A lô!

- Chào bác!

Tôi nói:

- Xe dừng đúng chỗ cậu chỉ, nhưng người dân ở đây nói, khu này là rừng cao su mới trồng hai chục năm nay, chưa từng có nghĩa trang và miếu thờ vì không có dân ở.

Cậu Lư lặng đi cả chục giây, rồi nói:

- Khu vực đó, từ sáng đã khi mưa, khi nắng, thiên khí nhiễu nhòa, khó nhìn nhận, nhưng tôi nghĩ vong không nhầm… Hiện giờ, tình hình còn xấu hơn… Nếu thật chắc chắn, các bác cho tôi xin lỗi, để đón ngày thuận trời, tôi sẽ hẹn các bác sau.

Tôi như bị điểm đúng huyệt tắc thở, ngưng tim. Đám đông đứng quanh tôi, toàn những gương mặt từng trải, lõi đời, nghe lời cậu Lư qua phím khuếch âm, cùng lặng đi như bộ phim đang chiếu bị đứng hình.

“Tổng tư lệnh” Nguyễn Nguyên Bảy cố bình tĩnh, nhắc tôi:

- Ông nói với ông thầy, hiện chúng ta đang tập trung ở đây hàng trăm người. Giờ hoãn sang ngày khác, phải kéo nhau hơn hai trăm cây số như đoàn quân thất trận trở về, chỉ có khóc.

Tôi nói với mọi người:

- Tôi đã có kinh nghiệm với các nhà ngoại cảm. Những trường hợp bất thành này đều từ quan hệ với các vong, chứ chính họ cũng không muốn.

Tôi nhấn số điện thoại cho Tiến sĩ Bùi Tiến Quý ở Hà Nội. Rất may, chuông vừa reo, anh đã đáp ngay:

- Chào anh. Tình hình tốt chứ?

Tôi nói:

- Chúng tôi đang rơi vào tình trạng dở khóc, dở mếu, nên buộc phải cầu cứu anh, xem có cách nào tác động với cậu Lư. Hiện tại, chúng tôi hơn trăm người, từ Mỹ về, Hà Nội vào, miền Tây Nam Bộ, Sài Gòn lên, tập trung cả ở một rừng cao su trên Phước Long, thì cậu Lư từ Hà Nam gọi vào báo hoãn đến ngày khác.

Tiến sĩ Bùi Tiến Quý im lặng.

Tôi nói thêm:

- Tôi rất thông cảm những phát sinh từ thế giới tâm linh, mà các nhà ngoại cảm nhiều khi cũng không lường hết, nhưng bị rơi vào hoàn cảnh này đúng là sống dở, chết dở. Là người thông hiểu hơn chúng tôi trong lĩnh vực này, anh có thể trao đổi thêm với cậu Lư, tìm ra một lối thoát ngay trong ngày, có thể muộn đến tối cũng được, nhưng đừng để sang ngày khác.

Tiến sĩ Bùi Tiến Quý nói:

- Tôi sẽ nói chuyện ngay với cậu Lư. Anh em viện tôi cũng chọn vụ cậu Lư tìm hài cốt anh Danh Hùng và đồng ngũ làm đề tài giám định, nên chúng tôi cùng có trách nhiệm theo sát. Nhưng tôi biết chắc là khó. Tối hôm qua, khi nghe tôi hỏi về vụ này, cậu Lư lưỡng lự rồi nói, do trót hẹn đành theo, chứ có nhiều dấu hiệu không thuận. Tôi hiểu dấu hiệu này thuộc phía các vong. Các nhà ngoại cảm bị vướng với các vong đều rất khó gỡ.

Tôi nói:

- Có cần cầu cứu thêm nhà ngoại cảm khác? Tốn kém bao nhiêu, chúng tôi cũng chịu hết.

Im lặng một lúc, Tiến sĩ Bùi Tiến Quý nói:

- Tuy ở Hà Nội, nhưng tôi cũng hình dung đủ hoàn cảnh của các bác, các cô, các anh chị, trong ấy... Theo tôi, thông tin về sự trục trặc này, các anh đừng lộ ra vội, để tôi gặp cậu Lư xem. Cách phổ biến mà tôi biết là cậu ấy sẽ gọi hồn thêm lần nữa. Nếu hồn lên, kết quả thuận lợi, tôi sẽ báo các anh, coi như không có chuyện gì xảy ra. Nếu hồn không lên, đành chấp nhận vụ này thất bại… Gần hai chục năm nghiên cứu về thế giới tâm linh, riêng vụ tìm hài cốt bằng ngoại cảm, Việt Nam có khoảng hai chục nhà ngoại cảm xuất sắc, nhưng tổng kết lại, sự chính xác trong việc tìm mộ mất tích chỉ đúng bảy mươi phần trăm. Ba mươi phần trăm sai số, thuộc về chủ quan nhà ngoại cảm chỉ năm phần trăm, còn lại là lý do khách quan. Tôi rất không muốn sự sai số rơi vào trường hợp của mình, nhưng nếu không may, cũng mong các anh thông cảm.

Cúp máy với Tiến sĩ Bùi Tiến Quý, tôi thừ ra như người mất hồn. Đứng quanh vợ chồng tôi đang là Danh Huyền, bác Danh Quỳnh trai, Nguyễn Nguyên Bảy, Huy Lạc, Minh Dân, Dương Trọng Dật, Nguyễn Thị Hiền, những người mà từ điểm xuất phát Sài Gòn, suốt hành trình tới điểm đến là rừng cao su này, tự thấy mình có trách nhiệm trong chuyến đi và cũng muốn chia sẻ gánh nặng tổ chức, cùng chung nỗi lo với vợ chồng tôi. Trong khi đó, từ khi sáu nhà bạt được dựng suốt mặt đường trải từ đầu ngã ba đến dãy chuồng bò, đám đầu bếp và tiếp viên nhà hàng đặt các bếp ga, chế biến đồ ăn ngay trên bờ suối cạn, mùi thức ăn ngào ngạt trong gió, khiến không khí háo hức, bồi hồi, xen lẫn tò mò của buổi đi tìm hài cốt giảm bớt, nhường chỗ cho bầu không khí của bữa tiệc ngoài trời, không ai chú ý tình hình đang cực kỳ bi đát. Nếu có đôi người chú ý đến trục trặc thì cũng nghĩ chuyện đó đã có người lo rồi. Thực ra, lòng những người đang lo cùng chúng tôi đều như lửa đốt. Nếu như cuộc trao đổi giữa Tiến sĩ Bùi Tiến Quý ở Hà Nội và cậu Lư ở Hà Nam không thành, tức là hồn anh Danh Hùng không hiện, thì cuộc chơi giải tán, chắc chắn không ai nuốt nổi miếng cơm.

Nguyễn Nguyên Bảy, Huy Lạc và Minh Dân trở nên thân thiết với nhau từ lúc nào, thường xuyên đứng tụm ba, trao đổi, chốc chốc lại hỏi tôi:

- Có tin từ ông Bùi Tiến Quý hay thầy Lư chưa?

Bác Danh Quỳnh là người luôn lặng lẽ và điềm tĩnh, bỗng bước đến bên tôi:

- Chuyện tổ chức chuyến đi là của vợ chồng cháu và Danh Huyền. Giờ phát sinh trục trặc, bác nghĩ là không may. Nhưng cháu và Danh Huyền thử nghĩ lại từ đầu xem mình có sơ sót gì không? Theo kinh nghiệm của bác, những người làm nghề tâm linh đã thuộc loại có “thương hiệu” như thầy Lư, thường không mấy khi sai. Mà họ không sai, có khi mình sai.

Nguyễn Nguyên Bảy đứng gần đó, thêm vào:

- Bác nói có lý. Các ông, các bà trí thức, nghệ sĩ bây giờ hầu hết là tâm linh tập sự, mới chuyển từ vô thần sang, cứ trục trặc một chút là nghi thầy, chứ không tiên trách kỷ, hậu trách nhân.

Vợ tôi nói:

- Vụ nhờ cậu Lư tìm hài cốt anh Khôi, thắp nhang, cầu khấn thế nào thì vụ này nhà em cũng thắp đủ, khấn đủ.

Danh Huyền bỗng chột dạ:

- Có chi tiết này… Hôm từ Hà Nam, gọi điện vào lần đầu, rồi lúc xuất phát ở nghĩa trang liệt sĩ Phước Long, thầy Lư đều nói, muốn gặp anh Danh Hùng phải tìm người tên Tư Bông…

Nguyễn Nguyên Bảy gắt gỏng:

- Trời ơi! Sao bây giờ bà mới nói?

Danh Huyền đưa mắt cho tôi. Tôi nói:

- Tư Bông là một con siêu lừa, nên tôi cho là cậu Lư đã có sự nhầm lẫn.

Vợ tôi kể tóm tắt vụ vì sao chúng tôi biết Tư Bông, rồi bị cô ta lừa ra Huế tìm hài cốt anh Khôi ở một ngôi mộ dỏm, đưa về nghĩa trang gia tộc ở Sóc Sơn. Mọi người nghe xong, cùng lặng đi, dường như đồng tình với việc tôi trái ý cậu Lư là có lý. Minh Dân hỏi:

- Tại sao chú không báo công an bỏ tù con siêu lừa này, vì để tự do, nó sẽ còn lừa không biết bao nhiêu người.

- Khi chuyện xảy ra, chúng tôi rất phẫn nộ, đã ra Hà Nội báo công an truy bắt cô ta, nhưng rất bất ngờ, cô ta lại ở cách nghĩa trang liệt sĩ Phước Long, có hơn một cây số, và từ vụ lừa của cô ta mới dẫn dắt đến việc tìm ra mộ anh Khôi, nên chúng tôi bỏ qua vụ tố cáo.

Nguyễn Nguyên Bảy hỏi.

- Ông đến nhà cô ta chưa?

- Đương nhiên đến rồi.

Huy Lạc nói:

- Thật khó tin là có quá nhiều sự trùng hợp ngẫu nhiên.

Nguyễn Nguyên Bảy:

- Bây giờ, là sự trùng hợp ngẫu nhiên hay có sự sắp xếp vô hình nào đó, thì trước mắt cứ theo định hướng của thầy. Đây có thể là chuyện cầu may, nhưng cứ đến nhà con siêu lừa này đã.

Nguyễn Nguyên Bảy, Huy Lạc, Minh Dân, Danh Huyền, Thanh Vân, Nguyễn Thị Hiền, cùng vợ chồng tôi trưng dụng chiếc Toyota bảy chỗ của Dương Trọng Dật, chạy ngược ra nhà Tư Bông ở xóm dân cư gần Quốc lộ. Lúc đi vào, do trời mưa, đường lạ, tưởng xa, nhưng khi trở ra, trời nắng, đường quen, hơn chục kilômét, chỉ chạy mười lăm phút. Đến dãy chuồng bò ngoài mặt đường, cổng nhà Tư Bông mở rộng, người lái xe cho xe chạy thẳng vào sân. Lũ chó trong sân thấy khách lạ, nhâu nhâu sủa ầm ĩ. Tư Bông đang đứng bên ngoài chuồng bò, thả cỏ vào máng. Thấy có khách, cô ta rời chuồng bò xuống sân, nét mặt đầy lo lắng. Chỉ khi nhận ra vợ chồng tôi, sự lo lắng từ cô mới bớt đi.

Vợ tôi nói với Tư Bông:

- Chúng tôi được thầy ngoại cảm chỉ chỗ chôn hài cốt người bà con ở nghĩa trang, gần một ngôi miếu, nằm bên bờ suối cạn tít trong kia. Nhưng khi vào đến suối cạn, không thấy nghĩa trang và ngôi miếu. Vợ chồng chú bảo vệ ở đó nói vùng này chưa bao giờ có nghĩa trang và ngôi miếu, nên chúng tôi phải quay ra hỏi cô.

Tư Bông thất sắc:

- Cô chú cũng biết sau vụ lừa cô chú ra Huế tìm hài cốt bác Khôi, rồi anh Năm Được bị vong quật chết, con đã bỏ nghề rồi.

Nguyễn Nguyên Bảy:

- Nghề thì cô bỏ, nhưng nghĩa trang và ngôi miếu nằm ở đâu, cô cũng biết chứ?

Tư Bông:

- Con xin nói thật, xóm này là dân kinh tế mới, từ đây trở ra, thì con rành, còn từ đây trở vào chỉ dân trồng cao su mới thông thuộc. Ở đây mấy chục năm, chưa bao giờ con vào đến suối cạn.

Minh Dân móc túi, dúi vào tay Tư Bông hai tờ năm trăm ngàn đồng:

- Đừng quanh co nữa. Bây giờ em lên xe đưa các bác, các anh vào nghĩa trang, anh sẽ thưởng thêm.

Tư Bông thả hai tờ tiền xuống bàn:

- Chú có thưởng mười tờ, con cũng không dám nhận. Sự thật, con chưa từng biết nghĩa trang ấy ở đâu. Nếu các bác, các cô chú muốn tìm, con đưa cô chú vào xóm những người làm cao su.

Tôi nói với Nguyễn Nguyên Bảy:

- Chắc cô ta nói thật.

Thanh Vân chợt lên tiếng:

- Nhưng thầy Lư không nói sai. Bây giờ, mọi người ra ngoài hết, để mình em nói chuyện với cô ta.

Nguyễn Nguyên Bảy nói nhỏ:

- Anh cũng cho là con quái này đang làm giá để đòi thêm tiền. Em cứ thẳng thừng ngã giá với nó… Thà giá nào mình cũng theo còn hơn tay trắng về không.

Chúng tôi đưa mắt cho nhau, cùng bỏ ra sân, để một mình Thanh Vân ở lại bên bàn nước với Tư Bông.

Người ra cổng đầu tiên là Nguyễn Thị Hiền. Đúng lúc đó, một bà già tuổi ngoài bảy mươi đạp chiếc xe đạp cà tàng, tay cầm một xấp vé số, thấy trong nhà có khách, từ ngoài đường rẽ vào. Hai bên trao đổi, bà già chào khách mua vé số, còn Nguyễn Thị Hiền đồng ý mua. Sau đó là trò chuyện, hỏi thăm. Chúng tôi cùng đứng trong sân, không ai để ý. Bỗng Nguyễn Thị Hiền reo lên:

- Mọi người ơi! Bà cụ này nói ở trong xóm dân cao su cũng có một Tư Bông khác.

Chúng tôi cùng ùa hết ra cổng.

Nguyễn Thị Hiền kể:

- Lúc tôi mua vé số, bà cụ hỏi: “Các bác chắc từ thành phố lên?”. Tôi nói: “Chúng tôi lên đây tìm hài cốt người bạn ở nghĩa trang trong rừng cao su, nhưng vào trong đó, không tìm thấy nghĩa trang, nên quay ra tìm cô Tư Bông để hỏi thăm”. Bà ấy nói: “Nghĩa trang trong rừng cao su, mà hỏi con nhỏ dân kinh tế mới này làm sao nó biết”. Tôi nói: “Nhưng có người mách Tư Bông này biết”. Bà ấy bảo: “Trong khu dân cao su có ông Tư Bông ‘máy xúc’, có khi là ông ấy”.

Nguyễn Nguyên Bảy vội hỏi bà già:

- Ông ấy độ bao nhiêu tuổi?

- Cỡ tuổi tôi. Hồi trước, ông ấy làm máy xúc, đã nghỉ hưu trên dưới chục năm, nhưng nói Tư Bông máy xúc, ai cũng biết.

Nguyễn Nguyên Bảy chau mày, rồi quyết đoán:

- Có thể Tư Bông mà thầy Lư nói chính là ông này.

Anh nói với bà bán vé số:

- Bây giờ, tụi tôi mời bác lên xe, để bác dẫn vào trong xóm dân cao su, chỉ nhà ông Tư Bông, rồi xe lại đưa bác về đây.

Bà già nói:

- Giúp các bác, tôi đi cũng được, nhưng không cần đâu. Các bác cứ chạy vào thẳng đường, đến khúc rẽ vào khu dân cao su, hỏi nhà ông Tư Bông “máy xúc” ở đâu, là có người chỉ.

Minh Dân:

- Nếu đúng người tụi con cần tìm, thì má đúng là cứu tinh của bọn con. Bây giờ, biếu má chút quà trả ơn là xúc phạm má quá, nên con sẽ mua hết xấp vé số này, để hôm nay má về nhà nghỉ sớm cho khỏe.

Anh cầm luôn xấp vé số từ tay bà già, rồi dúi vào chiếc túi bà đeo bên vai hai tờ năm trăm ngàn đồng:

- Thế là xong rồi nghe má.

Bà già gỡ chiếc túi ra khỏi vai:

- Để tôi phải đếm coi bao nhiêu tiền. Hễ nhiều là tôi trả lại. Tôi làm nhiều, ăn nhiều, làm ít ăn ít chứ nhất nhất không lấy không của ai.

Minh Dân thân mật khoác vai bà già:

- Má ơi! Má không xin, mà con cũng không cho. Đây là con biếu má mà.

- Nếu chú nói vậy, thì tôi lên xe đưa các bác, các chú vào tận nhà ông Tư Bông, để không ai nợ ai.

Chỉ mười phút sau, xe chúng tôi đã rẽ vào khu dân cao su, đậu trước cánh cổng kiểu rào gỗ, chỉ cao cỡ hơn một mét.

Bà bán vé số đứng ngoài đường gọi với vào:

- Ông Tư à! Có khách từ thành phố lên đây tìm Tư Bông, có phải là ông không?

Từ cửa ngôi nhà một tầng, lợp tôn cũ kỹ, cách cổng chừng ba chục mét, một ông già khăn đóng, áo dài đen, vóc dáng còn nhanh nhẹn, đứng ngóng ra ngoài đường, nhận diện khách, rồi mới đi ra cổng.

Bà bán vé số hỏi:

- Ông đang định đi đâu?

Ông Tư Bông mở rộng cổng, vừa nói:

- Đêm qua, có ông thần báo mộng, hôm nay nhà có khách. Đám con cháu thấy tôi áo quần chỉnh tề, chờ suốt từ sáng, chúng nó còn giễu tôi hoang đường, mê tín… Chờ đến hơn hai giờ, tôi bắt đầu nghĩ: Hay mình hoang đường thật… Hóa ra thần báo đúng.

Ông niềm nở với chúng tôi:

- Mời các quý vị.

Rồi ông đưa chúng tôi vào nhà.

Nhà ông Tư thuộc loại nhà gạch ba gian, mái tôn, khá rộng, được xây hàng loạt, mỗi nhà cách nhau khoảng năm mươi mét, trên diện tích quy vuông chừng hai trăm mét vuông, theo quy hoạch của nông trường. Phía trước mỗi nhà ra đến cổng là khoảng đất trống, có nhà dùng làm sân, có nhà để làm vườn, có nhà thì trồng rau.

Gian giữa nhà ông Tư, dùng để đặt bàn thờ, phía trước là bộ xa lông gỗ gụ, mặt bàn lót kính. Nhìn giá trị bàn thờ, bộ xa lông và đèn quạt trong phòng, biết ông thuộc dạng có kinh tế ổn định.

Bước vào nhà, Nguyễn Nguyên Bảy và Thanh Vân vừa thấy bàn thờ, đã chắp tay vái. Rồi Thanh Vân nói với ông Tư:

- Con xin phép được thắp nhang.

Ông Tư Bông:

- Cô để tôi thắp nhang cảm ơn thần báo mộng, rồi ông và cô hãy thắp.

Ông ta lấy nhang châm lửa. Tất cả chúng tôi đều rút nhang theo ông, Nguyễn Nguyên Bảy và Thanh Vân, rồi cùng hướng về bàn thờ.

Do xa lông không đủ chỗ ngồi, ông Tư Bông phải sang phòng bên, có lẽ là phòng ngủ, lấy đủ ghế để mời khách:

- Mời các quý vị. Để tôi lấy nước. Ở trên này chỉ có nước lá vối.

Nguyễn Nguyên Bảy, vừa ngồi xuống chiếc ghế đối diện với ông Tư, đã nói:

- Xin phép ông cho tôi được vào chuyện ngay. Sáng nay, đoàn chúng tôi hơn trăm người đã vào đến ngã ba đụng với con suối cạn. Nói thẳng ra là chúng tôi được một nhà ngoại cảm đang ở ngoài Hà Nam chỉ vào tìm hài cốt của năm người lính Việt Nam Cộng hòa, tử trận từ hồi trước giải phóng, được chôn ở đây. Nhà ngoại cảm nói ở chỗ gặp suối cạn sẽ có ngôi miếu và một nghĩa trang, nhưng vào đến nơi, chúng tôi tìm không thấy. May sao có bà già bán vé số chỉ đến ông. Liệu ông có thể giúp chúng tôi.

Chúng tôi cùng hồi hộp hướng vào Tư Bông, chỉ sợ ông ta nói không biết.

Ông Tư Bông trịnh trọng:

- Thưa quý vị! Vụ này, tôi biết… Từ năm 1982, khi hài cốt năm người lính Việt Nam Cộng hòa được đội tìm kiếm hài cốt Tỉnh đội Phước Long đưa về nghĩa trang, chuyện này công khai, ai cũng biết, nhưng không ai nhang khói cho họ, nên thanh minh năm nào, cha tôi và tôi vẫn thắp nhang cầu thần linh chỉ dẫn cho thân nhân của họ đến tìm.

Nguyễn Nguyên Bảy:

- Ở khu chúng tôi vừa vào?

- Thưa, chính chỗ đó. Nghĩa trang là tên gọi từ xưa. Hơn hai chục năm nay, nó đã thành rừng cao su, chỉ người già ở đây mới nhớ, nhưng cái miếu vẫn còn.

Huy Lạc:

- Chúng tôi không thấy cái miếu nào.

Nguyễn Nguyên Bảy càu nhàu:

- Cậu đừng có ngắt lời. Cứ để bác ấy kể tiếp.

Ông Tư Bông:

- Cái miếu ấy, tôi cam đoan vẫn còn. Trước giải phóng, từ cái miếu trở vào toàn vùng núi đất, là đồn điền cao su của các chủ người Pháp. Còn từ miếu trở ra đến quốc lộ, trước là rừng tự nhiên, sau là đất hoang để ngăn hoạt động du kích Việt Minh xâm nhập vào các thị trấn, thị xã. Sang thời Việt Nam Cộng hòa vùng này tiếp tục bỏ hoang. Quân Mỹ còn rải chất độc phát quang, để ngăn hoạt động của quân Giải phóng. Hoàn cảnh như vậy, nên từ những năm 1930, 1940, phu đồn điền chết đều chôn ở chỗ ngã ba suối cạn, lâu năm thành nghĩa địa. Có nghĩa địa, dù là nghĩa địa tế bần, vẫn phải có miếu thờ là như vậy. Đến năm miền Nam giải phóng, Nhà nước lập nông trường, cũng chỉ trồng và khai thác từ nghĩa trang trở vào, như hồi Pháp thuộc. Từ năm 1990, có chủ trương cho tư nhân thuê đất mở rộng diện tích trồng cao su nên vùng đất từ nghĩa trang ra Quốc lộ mới được khai phá. Tôi trước là thợ cạo mủ, sau được đi học lái máy xúc. Toàn bộ vùng này do đội cơ giới hơn hai chục chiếc máy ủi, máy xúc của chúng tôi ngày đêm san bằng. Cái nghĩa trang bỏ hoang ấy, trước khi san lấp, ông chủ cũng cho cúng khấn ở miếu xin phép Thổ công, Thổ địa. Nhưng lúc khai quật, do chôn quá lâu ngày, quan tài toàn bằng gỗ tạp nên cả xương cũng biến thành đất, thế là san bằng hết. Riêng hài cốt năm anh em lính Việt Nam Cộng hòa đựng trong tiểu sành, mới chôn năm 1982, tôi và mấy anh em đội máy xúc xin được di đi chỗ khác. Xin cũng phải xin lén, chuyển cũng phải chuyển lén vì năm đó, dính vào lính chế độ cũ, chính quyền vẫn chưa thông cảm.

Nguyễn Nguyên Bảy:

- Khoan đã. Đào được tiểu rồi, các bác có mở nắp?

- Nói thật, vì tò mò và muốn biết bên trong có gì, chúng tôi cũng mở nắp một chiếc.

Danh Huyền:

- Tình trạng hài cốt thế nào?

- Không còn nhiều. Tất cả đều được bọc trong tấm ni lông xanh bạc màu, nặng chừng vài kilogam. Dây buộc ngoài là dây dù như thể gói bánh chưng. Đất đổ từ đáy lên chừng nửa tiểu, rồi đặt bọc hài cốt lên trên. Chính tay tôi gỡ dây cái bọc ra. Xương nâu đen có lẫn đất, có miếng vẫn còn hình dáng. Tôi lại buộc dây như cũ. À! Xin lỗi! Lồng vào sợi dây buộc là sợi dây chuyền đeo hai tấm thẻ bài đã xỉn gỉ, nhưng lau sạch thì rõ ra là bằng thép inox. Có khắc họ tên và nhiều chữ số…

Danh Huyền sốt sột:

- Bác có nhớ tên gì?

- Tôi chỉ biết vậy, chứ không chú ý ghi nhận, mà có ghi nhận cũng lâu rồi, làm sao nhớ. Tối về, tôi kể với ông già. Ba tôi nói: “Không biết thì không có tội. Giờ biết rồi mà bỏ người ta không chốn nương thân, sau này, mình chết, xuống cõi âm, ông trời cũng bắt mình như người ta. Bây giờ mình mày không lo được thì đưa tao vào đấy, tao tính… Họ là lính Việt Nam Cộng hòa, được là vua, thua là giặc, nhưng cũng toàn người Việt mình”. Tôi chạy xe gắn máy chở ông vào khu nghĩa trang. Ông thắp nhang, khấn ở miếu một hồi, rồi đi hai trăm bước, dọc bờ suối cạn vào bên trong, lúc dừng bước, cạnh gò đất lùm cao như nấm mộ, ông nói: “Chỗ này được rồi”. Nhưng khi kiểm tra kỹ mới biết ông đang đứng trúng ổ mối hoang lớn, đất rắn như đá. Tôi nói: “Chỗ này ngay bờ suối, cạnh đường đi, đất lại rắn, mình phải chôn những năm cái tiểu…”. Ba tôi nói: “Ngay bờ suối, cạnh đường đi, thì gia đình người ta mới dễ tìm. Còn đất rắn, mày không biết xịt nước cho mềm ra à?”. Tối hôm đó, nghe lời ông già, tôi huy động hơn chục đứa anh em, con cháu, vào khu nghĩa trang, di táng năm chiếc tiểu hài cốt năm người lính Việt Nam Cộng hòa vào đúng chỗ ba tôi chỉ.

Nghe đến đây, tất cả chúng tôi cùng thở phào.

Nguyễn Nguyên Bảy:

- Trước hết, chúng tôi vô cùng cảm ơn bác và gia đình. Bây giờ chúng tôi đưa bác vào khu nghĩa trang, bác có nhận ra chỗ an táng năm hài cốt những người lính Việt Nam Cộng hòa?

- Làm sao tôi lại không nhận ra nơi chính tay tôi chôn?

Minh Dân:

- Nếu ông thân sinh ra bác còn sống, con xin được lạy tạ ơn ông.

Ông Tư Bông:

- Tôi nói, xin quý vị đừng kêu tôi mê tín dị đoan. Ông già tôi bị bệnh thấp khớp di chứng vào tim, đi đủ thứ thầy thuốc Đông y, Tây y, ai cũng nói ổng không sống quá sáu mươi lăm tuổi, nhưng cuối cùng một trăm lẻ hai tuổi, ổng mới đi, mà đi rất nhẹ nhàng. Ai biết chuyện cũng nói là nhờ vụ ổng chu đáo với người đã khuất. Còn nhà tôi, từ vụ đó, kinh tế trở nên khá giả, con cái đứa nào cũng làm ăn thuận lợi. Trong khi mấy người can dự vào vụ phá nghĩa trang để trồng rừng cao su thì số phận đều không ra gì.

Tin chắc vụ tìm được hài cốt anh Danh Hùng trúng trăm phần trăm, tôi đi ra sân, định bấm điện thoại gọi cho Tiến sĩ Bùi Tiến Quý, thì điện thoại di động của tôi reo. Thật bất ngờ - chính là Tiến sĩ Bùi Tiến Quý.

- Trời! Tôi đang định gọi cho anh.

- Xin lỗi! Đoàn các anh đã rời Phước Long về Thành phố Hồ Chí Minh chưa?

- Đúng ra, chúng tôi về rồi. Nhưng khi ngồi kiểm lại toàn bộ quá trình lên Phước Long theo định hướng của cậu Lư, chúng tôi thấy sót một chi tiết. Khi cậu ấy bảo muốn gặp anh Danh Hùng, phải tìm một người tên Tư Bông, chúng tôi đã không nghe theo. Giờ tìm được người đó, và chính ông ta đã an táng hài cốt anh Danh Hùng và bốn đồng ngũ. Ngay bây giờ, ông ta sẽ đưa chúng tôi đến chỗ đó.

Tiến sĩ Bùi Tiến Quý hơi lặng đi, rồi nói:

- Cậu Lư cũng vừa gọi điện cho tôi, nói thiên khí trên Phước Long đang thoáng rồi, nhờ tôi báo các anh đừng về vội. Sau khi nghe anh kể về tình hình trên Phước Long, tôi có gọi cho cậu Lư. Cậu ấy nói: “Tình hình trên đó rất phức tạp. Nghĩa trang và ngôi miếu trên đó bị nhiễu vong từ nhiều năm, họ muốn phá không cho bác Danh Hùng về…”. Lẽ nào, ở trong đó các anh gặp được người tên Tư Bông thì việc cậu Lư gọi hồn anh Danh Hùng cũng thoáng ra?

Rồi ông Quý nói thêm:

- Vụ này, đối với tôi cũng có những bất ngờ, nên có gì mới, anh nhớ liên lạc ngay với tôi.

Tôi cúp máy với Tiến sĩ Bùi Tiến Quý cũng là lúc ông Tư Bông cùng cả hội khách từ trong nhà đi ra. Tất cả lên xe, rời khu xóm công nhân cao su, ra đường lớn rẽ trái đi về ngã ba suối cạn. Quãng đường chừng bảy kilômét. Lúc này đã hơn ba giờ chiều, trời giữa mưa và nắng không còn gay gắt, nên đội quân hơn trăm người đứng ngồi trong và ngoài những nhà bạt thanh thản, ung dung như đang trong cuộc cắm trại dã ngoại, không ai biết mà cũng không mấy ai quan tâm đến việc mấy người cầm đầu chúng tôi vừa trải qua một hành trình cân não thế nào.

Chiếc Toyota bảy chỗ ngồi dừng ở đầu ngã ba. Chúng tôi buộc phải xuống xe vì dãy nhà bạt được dựng suốt mặt đường lối rẽ phải.

Ông Tư Bông, đứng chống nạnh, nheo mắt nhìn bao quát xung quanh:

- Tôi là dân cả đời sống ở đây, nhưng chỉ vài tháng không đi là thay đổi không nhận ra.

Nguyễn Nguyên Bảy:

- Nhưng nghĩa trang và cái miếu, ông vẫn nhớ chứ?

Ông Tư Bông giải thích:

- Lúc ở nhà, tôi đã nói rồi. Toàn bộ mấy héc-ta rừng cao su bên phải đường này trước đây là nghĩa trang, chỉ những người dân cao su thế hệ tôi mới nhớ, chứ lứa bốn chục tuổi trở xuống, đâu có biết. Còn cái miếu cũng ở ngay đây thôi.

Ông Tư Bông dẹp đi những bỡ ngỡ ban đầu, nhập lại với những hình ảnh của quá khứ, đi thẳng đến bờ suối cạn, rẽ phải, theo dọc dãy nhà bạt, vừa đi vừa nói:

- Đường thì mở rộng ra. Rừng cao su đẹp hơn. Nhưng suối cạn vẫn vậy, nên có thay đổi thì với những người cũ chúng tôi cũng không lạ.

Đi quá chỗ chuồng bò chừng hai mươi mét, ông bỗng sững lại, ngơ ngác:

- Ủa! Cái miếu đâu rồi?

Nhìn quanh quẩn một lúc, ông nói:

- Cái miếu lẽ ra ở chỗ này.

Huy Lạc:

- Liệu có bị phá mất?

- Đố đứa nào dám phá miếu.

Rồi ông xem kỹ vùng đất mà ông nghĩ của cái miếu:

- Nếu bị phá, vẫn phải còn cái móng. Không lẽ Thổ công, Thổ địa hay ma quỷ làm nó biến mất?

Đúng lúc đó, anh nhân viên bảo vệ từ ngôi nhà tôn đi đến:

- Con chào ông Tư.

- Ủa! Mày làm gì ở đây?

- Con làm bảo vệ ở đây suốt từ hồi tụi thằng So nói rừng cao su có ma, không dám ở, ông Tư quên rồi à?

- Thằng So nghỉ cũng gần hai chục năm. Sao mày ở được lâu vậy?

- Có thờ có thiêng, có kiêng, có lành. Vợ chồng con chưa bao giờ thấy một bóng ma.

- Thế cái miếu thờ ở chính chỗ này, sao giờ, tao không thấy?

- Ông Tư nhớ nhầm cái miếu ở đâu, chứ từ hồi con ở đây, chưa thấy cái miếu nào, nên con phải đi mua một cái miếu thờ nhỏ đặt gần bàn thiên ở trước căn nhà bảo vệ.

Ông Tư Bông hơi ngẩn ra, rồi quả quyết:

- Tao tin chắc ở đây có cái miếu.

Rồi ông thanh minh với chúng tôi:

- Tôi tính sẽ thắp nhang cầu khấn thần linh phù hộ ở miếu, rồi ra chỗ an táng hài cốt. Nhưng giờ thì vụ cái miếu tính sau, mình ra chỗ hài cốt thắp nhang rồi khai quật luôn.

Ông nói với gã bảo vệ:

- Mày điện thoại cho đứa nào ở gần, chở dụng cụ tới, giúp các quý vị ở đây khai quật mấy ngôi mộ.

Ông Tư Bông xăm xăm đi trước. Bọn tôi hồi hộp và lặng lẽ đi theo. Nhiều người lúc đầu không chú ý, nay bắt đầu quan tâm, thành hai, ba chục người bám theo Tư Bông.

Điện thoại của tôi bỗng reo. Tôi cầm máy, nhận ra người gọi chính là cậu Lư.

- Ồ! Xin chào. Trước hết, tôi xin lỗi có sự hiểu lầm về người tên Tư Bông mà cậu nhắc hôm gọi hồn anh Danh Hùng.

Cậu Lư nói:

- Không có gì đâu, thầy Quý vừa nói các bác vẫn ở nghĩa trang trong rừng cao su Phước Long?

Tôi nói:

- Hiện giờ ông Tư Bông đang dẫn chúng tôi đến chỗ chôn hài cốt anh Danh Hùng do chính tay ông ấy chôn.

- Thế thì tốt rồi. Nếu có chuyện gì trục trặc, bác cứ gọi điện thoại cho tôi.

- Thực ra, hiện tại chưa hẳn thuận lợi. Do địa hình, địa vật thay đổi quá nhiều so với hồi chôn hài cốt, nên ông Tư Bông cũng có những lúng túng nhất định. Ví dụ, khu nghĩa trang nay đã thành rừng cao su, rồi cái miếu làm mốc để đánh dấu chỗ chôn nay không còn.

Cậu Lư nói:

- Nghĩa trang bị san bằng nhưng không hề được bốc hài cốt, nói không còn, thực ra là còn. Cái miếu người ta đã phá đi để làm chuồng bò. Bác đã thấy chuồng bò ở trên bờ suối cạn, ngay cạnh con đường đất đỏ? Miếu tuy mất nhưng nền vẫn còn.

Tôi sững sờ:

- Ở ngoài đó, chính cậu thấy, hay hồn anh Danh Hùng thấy?

- Tôi vẫn chỉ người trần mắt thịt thôi mà bác. Ông Tư Bông nhớ đúng chỗ chôn hài cốt thì thôi… Nếu ông ấy nhớ không đúng, nhờ bác nhắc, từ cạnh ngang nền ngôi miếu, đi dọc bờ suối vào bên trong ba trăm bước, trên có cây sung, đào sâu xuống ba mươi phân là đến nắp tiểu.

Tôi chữa lại:

- Ông Tư Bông nói từ cái miếu đến chỗ chôn hài cốt hai trăm bước chân. Bên trên có trồng khóm tre.

- Bác cứ để ông Tư Bông theo ý ông ấy, lúc nào trục trặc, bác nói ý tôi cũng được.

Cúp máy với cậu Lư, tôi đi nhanh để theo kịp Tư Bông.

- Bác Tư này! Nhà ngoại cảm vừa nói với tôi, nền chuồng bò ta vừa đi qua, chính là nền cũ của cái miếu.

Ông Tư Bông hơi ngẩn ra, rồi xăm xăm đi trở lại chuồng bò. Tiện trong tay có cây xẻng nhỏ, ông đâm mấy nhát xuống góc nền chuồng bò. Góc nền được tô bằng lớp hồ non vỡ ra, lộ bên dưới là mặt của loại gạch cổ mà ngày nay không còn.

Nguyễn Nguyên Bảy hỏi:

- Có đúng nền miếu?

Ông Tư Bông ngơ ngẩn:

- Ông thầy ngồi tận ngoài Bắc, làm sao biết cái nền miếu có từ những năm 1930, lại nằm dưới chuồng bò?

Nguyễn Nguyên Bảy:

- Rồi. Chuyện này xét sau, để nhường cho việc tìm đúng nơi chôn hài cốt.

Ông Tư Bông vẫn bần thần:

- Nếu ông thầy ở đây, tôi phải vái sống ông ấy.

Rồi ông nói tiếp:

- Tìm trúng cái nền miếu thì chỗ chôn hài cốt dễ rồi.

Dứt lời, ông sải bước, vừa đi vừa đếm. Một số người trong chúng tôi cũng vừa đi vừa đếm theo.

Đúng hai trăm bước, ông Tư Bông dừng trước một bãi tre gai dài rộng như rừng bao suốt dọc bờ suối cạn:

- Chỗ này, chính tôi đã trồng khóm tre, bây giờ nó thành cả bãi thế này.

Minh Dân nói:

- Bứng cả bãi tre khủng này, phải kêu máy xúc.

Huy Lạc:

- Làm cả đêm chưa chắc đã xong.

Nguyễn Nguyên Bảy:

- Biết chắc hài cốt ở đây rồi thì ba ngày cũng ở.

Ông Tư Bông bỗng thiếu tự tin, nói với tôi:

- Từ một khóm tre, giờ thành rừng ở chỗ khác là tự nhiên, nhưng ở đây, nhỡ nó là tre ma thì sao? Hay bác thử hỏi thầy ngoại cảm xem ý thầy thế nào?

Tôi nói:

- Thực ra ông thầy bảo, từ nền miếu đi vào trong ba trăm bước, trên bờ suối cạn có một cây sung, mới là chỗ chôn hài cốt.

Ông Tư Bông nói:

- Vô lý. Vô lý. Hai trăm bước chân là ý ông già tôi, chứ không phải ý tôi. Với lại hai trăm bước với ba trăm bước cách nhau rất xa… Tôi không nghĩ mình nhớ sai… Nhưng bãi tre này có dọn cũng phải để mai mới kêu được máy xúc. Ông thầy này rõ ràng là thiêng, nên cứ thử theo thầy trước đã.

Ông chủ động vừa đi vừa đếm bước chân, đến đúng chỗ cây sung thì dừng lại:

- Ba trăm bước là chỗ này.

Nhiều người đi theo cùng nói:

- Đúng ba trăm bước.

- Đúng chỗ cây sung.

Một số người nhìn cây sung đường kính thân chừng hai mươi centimét:

- Cây sung non này không thể cùng thời gian chôn hài cốt.

- Nhiều nhất là mười năm tuổi.

Tôi bảo:

- Cậu Lư nói chỉ đào sâu ba mươi phân là thấy nắp tiểu.

Ông Tư Bông nhìn đám cỏ tranh và cây dại rậm rì từ gốc sung lan khắp bờ suối cạn, nói với đám thanh niên trong xóm đi theo ông:

- Mỗi đứa cùng tao thắp một cây nhang, xin phép thần linh và hương hồn năm ông ở đây, rồi hãy phát quang, đào đất.

Lúc này, cả đoàn đã biết việc khai quật, kéo hết đến chỗ cây sung, đứng vòng trong, vòng ngoài. Nhiều người cũng chắp cây nhang đang cháy giữa hai bàn tay, nhưng nhiều người làm dấu thánh của đạo Thiên Chúa. Một số người thì quỳ phục, ngửa mặt lên trời cầu Thánh Allah. Lúc này tôi mới nhận ra chỉ hơn trăm thân nhân của năm người lính Việt Nam Cộng hòa, đã theo năm dòng đạo. Đương nhiên mỗi dòng đều chỉ tôn thờ một “Thượng đế” của mình. Tôi rất muốn gọi điện thoại hỏi Tiến sĩ Bùi Tiến Quý hoặc cậu Lư, về phát sinh bất ngờ này, có khiến việc gọi hồn không thuận? Nhưng thấy không kịp, nên tôi ghé tai nhà ngoại cảm không chuyên, kiêm “Tổng tư lệnh” Nguyễn Nguyên Bảy:

- Liệu mỗi người cầu một “Thượng đế” thế kia, có dẫn đến sai lạc?

Nguyễn Nguyên Bảy:

- Ông không tin thầy Lư à?

- Không phải không tin, mà vụ tìm hài cốt này, tôi thật sự ú ớ… như lâm vào ma trận.

- Tại vì ông chuyện gì cũng cứ phải giải thích chứng minh rồi mới tin, chứ tôi quá quen với việc nhìn nhận từ niềm tin. Cũng giống như quanh chúng ta, mỗi người một Thượng đế, nhưng mỗi bộ hài cốt được tìm thấy chỉ có của một gia đình, thì họ theo đạo nào cũng có sao đâu. Ở đây có năm bộ hài cốt, người trực tiếp chôn chỉ một nơi, còn ông thầy ngồi ở tận Hà Nam lại chỉ nơi khác. Nhưng trước khi có đáp số, mình nên tin ai? Nhiều người sẽ tin ông Tư Bông vì ông ấy có đủ bằng chứng không thể chối cãi. Còn tôi và nhiều người khác lại tin thầy Lư, chỉ đơn giản ông ấy là thầy có tín nhiệm.

Đám thanh niên trong xóm nhà ông Tư Bông ào ào, cắt chặt đám cây cỏ dại, trong chốc lát đã phát quang diện tích chừng ba chục mét vuông từ cây sung xuống hết bờ suối cạn, rồi dùng cuốc, thuổng xắn xuống đất. Phần trên chừng nửa gang tay nhờ trận mưa đất mềm, có chỗ còn nhão, dễ đào, nhưng xuống sâu hơn, lớp đất đỏ ba-dan bắt đầu rắn như đá.

Người trong đoàn bắt đầu hồi hộp.

Ông Tư Bông lẩm bẩm:

- Tôi ngờ ông thầy sai.

Nguyễn Nguyên Bảy hỏi:

- Sao bác lại không tin mình nhớ đúng?

- Vì ông thầy đã nói đúng cái nền miếu, còn tôi đã từng thấy cái miếu mà lại không biết nó ở đâu… Nhưng giờ, tôi tin chắc năm bộ hài cốt ở bãi tre.

Rồi ông nói với đám thanh niên:

- Ông thầy bảo chỉ đào ba mươi centimét, thì đào trước một hố nhỏ, quá ba mươi centimét một chút, không thấy thì về bãi tre cho đỡ mất công.

Đám thanh niên thấy có lý, liền chỉ để hai người dùng thuổng, xà beng đào trước một hố tròn đường kính chừng bốn mươi centimét. Để đất mềm, một cậu còn múc nước ở vũng đọng dưới suối đổ vào.

Bỗng từ đáy hố phát ra tiếng “cạch”, do lưỡi thuổng xấn vào một vật rắn. Ông Tư Bông reo:

- Hình như đụng nắp tiểu.

Hai tay camera của Minh Dân vội lao đến, hết quay toàn cảnh lại cận cảnh vào đám đông đang vây quanh khu vực khai quật.

Miệng hố được cả đám thanh niên tập trung nhanh chóng khui rộng ra. Năm nắp tiểu sành, nắp nọ cách nắp kia cách nhau ba mươi centimét đúng như cậu Lư nói.

Ông Tư Bông run rẩy:

- Chắc chắn tôi không chôn dày thế này.

Nhưng rồi, ông như bị hút xuống chỗ năm chiếc tiểu. Những thân nhân của bốn người lính Việt Nam Cộng hòa, từ hồi hộp căng thẳng chuyển sang òa khóc, gào thét. Một số người giằng lấy xà beng và thuổng của đám thanh niên, tự cậy nắp tiểu người nhà mình. Có nắp chỉ bẩy nhẹ, bật ra ngay, nhưng cũng có nắp phải mất công… Cuối cùng, các nắp tiểu được mở ra hết. Những gói ni lông bọc hài cốt vẫn còn nguyên hình dáng lúc bọc, nhưng đều bị nuốt vào số đất đổ vào nửa thể tích tiểu, đụng mạnh để nhấc lên là đất mủn ra. Rất may trên các gói ni lông đều buộc sợi dây chuyền lồng theo hai tấm thẻ bài màu nâu xỉn. Cầm tấm thẻ bài lên, kéo theo cả sợi dây dù buộc gói hài cốt, khiến nó có chiều hướng bung ra, nên những người đang xúc động vội vàng phải chùng tay lại.

Ở trên bờ nhiều người nhắc:

- Gỡ thẻ bài nhè nhẹ không bung hết hài cốt.

- May quá, vẫn còn nguyên thẻ bài. Lau sạch đi để biết hài cốt nào của ai?

Phạm Phú Minh Dân nhảy từ trên bờ xuống, đón miếng thẻ bài từ tay một thanh niên vừa gỡ ở một gói hài cốt trong chiếc tiểu ở giữa, lau vào quần, rồi đọc lớn:

- Nguyễn Danh Hùng! Ông nội ơi! Con trai nội đây rồi.

Bác Danh Quỳnh đã bủn rủn từ lúc nhìn thấy nắp tiểu lộ ra, vừa nghe Minh Dân nói, lập tức bất tỉnh. May bác Quỳnh gái và cô Hoàn Trân như đoán trước việc sẽ xảy ra, đứng hai bên đỡ kịp, khiến ông chỉ khuỵu xuống chứ không ngã lăn xuống đống đất vừa được hắt lên.

Huy Lạc và Nguyễn Nguyên Bảy lao đến khiêng bác Quỳnh ra đường.

- Lái xe đâu? - Nguyễn Nguyên Bảy la lớn. - Đưa bác ấy đi bệnh viện nào gần nhất.

Người lái xe của Lạc nhanh nhảu chạy tới:

- Để mình em đỡ bác ấy được rồi.

Huy Lạc hét xuống chỗ Danh Huyền đang đứng bên chiếc tiểu đựng hài cốt Danh Hùng:

- Danh Huyền! Để anh Danh Hùng đấy anh lo. Em lên đưa bố đi bệnh viện. Nhớ nói với giám đốc bệnh viện, đây là bậc lão thành cách mạng, anh hùng lực lượng vũ trang thời chống Mỹ.

Không rõ do cơn đột quỵ chỉ thoáng qua, hay liều thuốc “nổ” của Lạc vượt quá sức từng trải của nhà tình báo, khiến bác Quỳnh tỉnh táo lại, mở mắt, xua tay:

- Không cần phải đi bệnh viện đâu. Tôi chỉ nằm một lúc là hết thôi.

Nhờ mỗi bộ hài cốt đều buộc theo dây chuyền có hai tấm thẻ bài bằng thép không gỉ, khắc tên, đơn vị, quê quán, nhóm máu mà cả năm gia đình đều nhanh chóng nhận đúng hài cốt người thân của mình, nhưng dù rất ý thức nhẹ tay, nâng niu, tất cả xương đều vụn lẫn một màu nâu đen với đất. Từ năm 1970 đến năm 2016, những bốn mươi sáu năm, gần nửa thế kỷ...

Ai nấy đều muốn rước hài cốt người thân mình về quê. Nhưng thầy Lư nói: “Bác Danh Hùng bảo cả năm anh em đều nhất trí, thời gian họ sống cùng nhau, chết cùng nhau còn nhiều hơn thời gian sống trên quê hương mình, nên họ vẫn muốn ở cùng một nơi. Hãy gửi cả năm bộ hài cốt vào ngôi chùa Xá Lợi ở quận 9, Sài Gòn”.

Nhà văn Nguyễn Nguyên Bảy thì khuyên: “Tìm được hài cốt nhờ thầy, thì an táng ở đâu cũng nên nghe lời thầy. Mỗi nhà sẽ lấy một phần đất trong tiểu mang về an táng tại quê nhà, ý nghĩa cũng không mất”.

Cuộc tìm kiếm chính xác hài cốt anh Danh Hùng và bốn đồng ngũ, nhờ những tấm thẻ bài trong các tiểu, không có ai nghi ngờ vai trò của nhà ngoại cảm Nguyễn Văn Lư và Tiến sĩ Bùi Tiến Quý, nhưng vẫn để lại trong lòng những người trong cuộc, trong đó có tôi, một thắc mắc: “Tại sao ông Tư Bông và những người làm chứng tin chắc năm bộ hài cốt được chôn một nơi, mà nhà ngoại cảm lại chỉ đúng ở một nơi khác?”. Tất nhiên sẽ có nhiều giả định được đặt ra, nhưng chắc chắn sẽ là những cuộc tranh luận không bao giờ đến đích, nếu có ai đó hỏi: “Bằng chứng đâu?”. Vì thế, tôi không có ý định khai thác những cuộc tranh cãi bất tận này.

« Lùi
Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của nguyễn mạnh tuấn