Ta thấy trên ti vi suốt. Có tiếng gỗ ở cửa ra vào. Và ngoài cửa là ai đó đang chờ để báo ta nghe cái tin làm đảo lộn mọi thứ. Trên ti vi, thường là một sĩ quan cảnh sát hay một nhân viên cứu hỏa, cũng có thể là một sĩ quan mặc quân phục của lực lượng vũ trang. Nhưng khi tôi mở cửa - khi tôi hiểu ra mọi thứ sắp đảo lộn với mình - thì người đưa tin không phải là cảnh sát cũng chẳng phải thanh tra liên bang mặc quần hồ cứng. Chỉ là một cô bé mười hai tuổi mặc bộ đồ bóng đá. Đầy đủ bảo hiểm ống chân các thứ.
“Cô Michaels?” nó nói.
Tôi lưỡng lự trước khi trả lời - đúng kiểu thường thế mỗi khi có người hỏi có phải tôi đó hay không. Phải mà cũng không phải. Tôi vẫn chưa đổi họ. Tôi là Hannah Hall suốt ba mươi tám năm trước khi gặp Owen và không thấy có lý do gì mình nên biến thành người khác sau khi gặp anh. Nhưng tôi và Owen đã kết hôn được hơn một năm. Và trong khoảng thời gian ấy, tôi đã học được rằng người ta gọi tên nào thì cũng không nên sửa. Bởi họ chỉ muốn biết có phải tôi là vợ Owen không mà thôi.
Nhất định cô bé mười hai tuổi đang muốn biết điều đó, nói đến đây, tôi lại phải giải thích vì sao mình lại biết chắc con bé lên mười hai như thế, dù suốt đời tôi chỉ chia con người thành hai loại: trẻ con và người lớn. Sự thay đổi này có được sau một năm rưỡi, là những gì tôi học được từ tuổi mười sáu khép kín đến hãi hùng của con gái chồng tôi là Bailey. Là kết quả do một sai lầm của tôi, khi lần đầu gặp mặt Bailey đang hết sức cảnh giác lại nhận xét rằng con bé trông trẻ hơn tuổi. Không gì tệ hơn được nữa.
Tệ thế nhưng có lẽ vẫn chỉ đứng hàng thứ hai. Tệ nhất chắc là khi tôi cố sửa chữa sai lầm bằng cách nói đùa ước gì có ai đó đoán mình trẻ hơn tuổi. Bailey không chấp nhận tôi suốt từ đó tới giờ, cho dù tôi đã hiểu đừng bao giờ đùa cợt bất cứ kiểu gì với ai mười sáu tuổi. Hoặc tóm lại là đừng cố gắng quá mức thành ra nói quá nhiều.
Thôi, quay lại với cô bạn mười hai tuổi đang đứng trước cửa, đổi hết chân này sang chân kia trong đôi giày đá bóng lấm lem đất.
“Chú Michaels nhờ cháu đưa cô,” con bé nói.
Rồi nó chìa tay ra, trong lòng bàn tay là một tờ giấy màu vàng gập gọn. Chữ HANNAH viết ở mặt ngoài, chữ của Owen.
Tôi nhận tờ giấy gập tư và nhìn vào mắt con bé. “Cô xin lỗi,” tôi nói. “Cô chưa hiểu. Cháu là bạn của Bailey à?”
“Bailey là ai ạ?”
Tôi không nghĩ nó sẽ nói vâng. Giữa tuổi mười sáu và tuổi mười hai là cả một đại dương rộng lớn. Nhưng tôi không hiểu ra sao cả. Sao Owen không gọi điện cho tôi? Tại sao phải phiền đến con bé này? Phỏng đoán đầu tiên của tôi là đã xảy ra chuyện gì đó với Bailey và Owen không thể dứt ra được. Nhưng Bailey đang ở nhà, tránh mặt tôi như thường lệ, tiếng nhạc ầm ĩ (lựa chọn cho hôm nay: Beautiful: Nhạc kịch Carole King ) nện thình thình xuống tận dưới nhà, lặp qua lặp lại như nhắc nhở tôi đừng dại thò đầu vào phòng nó.
“Cô xin lỗi. Nhưng cô không hiểu... cháu gặp chú ấy ở đâu?”
“Chú ấy chạy qua cháu ở sảnh,” con bé nói.
Trong một thoáng, tôi tưởng nó nhắc đến sảnh nhà tôi, khoảng không gian ngay sau lưng tôi. Nhưng thế thì vô lý quá. Chúng tôi sống trong nhà nổi trên vịnh, kiểu mà trừ ở Sausalito này, người ta hay gọi là nhà thuyền, ở đây có cả một cộng đồng nhà như thế. Bốn trăm cả thảy. Ở đây, chúng được gọi là nhà nổi - toàn tường kính mở rộng thoáng tầm nhìn. Vỉa hè nhà chúng tôi là cầu tàu, còn tiền sảnh chính là phòng khách.
“Nghĩa là cháu gặp chú Michaels ở trường?”
“Cháu vừa nói thế mà.” Nó nhìn tôi kiểu, còn ở đâu nữa? “Cháu với bạn Claire đang trên đường ra sân tập. Chú ấy nhờ bọn cháu chuyển tờ giấy. Cháu nói phải xong buổi tập mới đi được, chú ấy bảo không sao. Rồi chú ấy đưa bọn cháu địa chỉ của cô.”
Nó giơ một mảnh giấy khác lên như bằng chứng.
“Chú ấy còn cho bọn cháu hai mươi đô la nữa,” nó nói thêm.
Nó không giơ tiền lên. Chắc sợ tôi lấy lại.
“Điện thoại chú ấy hỏng hay sao đó nên không gọi được cô. Cháu không biết. Chú ấy hầu như không chậm chân lại chút nào.”
“Nghĩa là... chú nói điện thoại chú hỏng sao?”
“Không thì làm sao cháu biết?” con bé nói.
Rồi điện thoại nó kêu - hoặc tôi tưởng là điện thoại cho đến khi nó rút từ cạp quần một thứ trông giống máy nhắn tin kỹ thuật cao. Giờ người ta lại dùng máy nhắn tin rồi ư?
Các bài hát trong vở nhạc kịch về Carole King. Máy nhắn tin kỹ thuật cao. Lại một lý do nữa cho thấy vì sao Bailey không đủ kiên nhẫn với tôi. Cả một thế giới tuổi thanh thiếu niên tôi hoàn toàn mù tịt.
Con bé gõ nhoay nhoáy trên thiết bị của nó, Owen và nhiệm vụ hai mươi đô la đã là dĩ vãng. Tôi miễn cường để nó về dù vẫn không hiểu chuyện gì đang xảy ra. Có lẽ đây là một trò đùa kỳ quái chăng. Có thể Owen thấy buồn cười. Tôi thì không. Dù sao thì, vẫn chưa.
“Chào cô,” con bé nói.
Rồi nó theo cầu tàu ra về. Tôi nhìn theo nó nhỏ dần, mặt trời đã lặn sau vịnh Richardson, đường chân trời sẩm tối của San Francisco rọi đường cho con bé.
Tôi bước hẳn ra ngoài. Tôi có phần hy vọng Owen (Owen đáng yêu ngốc nghếch của tôi) sẽ nhảy ra từ mé bên cầu tàu và các thành viên còn lại trong đội bóng đá cười khúc khích sau lưng anh khi cả hội lừa tôi mắc phải trò đùa tinh quái mà rõ ràng tôi không hiểu. Nhưng không thấy Owen. Không thấy ai.
Vậy là tôi đóng cửa trước. Rồi nhìn xuống tờ giấy màu vàng vẫn gấp gọn trong tay. Tôi còn chưa mở nó ra.
Trong tĩnh lặng, tôi chợt nhận ra mình hoàn toàn không muốn mở nó ra. Tôi không muốn biết trong đó nói gì. Một phần trong tôi vẫn muốn níu giữ khoảnh khắc cuối cùng này - khoảnh khắc khi ta vẫn tin đây chỉ là một trò đùa, một nhầm lẫn, một chuyện không đâu; khoảnh khắc trước khi ta biết chắc một chuyện gì đó đã bắt đầu mà mình không thể ngăn được.
Tôi mở tờ giấy.
Tin nhắn của Owen rất ngắn. Một dòng duy nhất, một câu đố.
Bảo vệ nó.