SỐNG ĐỂ KỂ LẠI

Lượt đọc: 2546 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 4

Hồi ấy, Bogota còn là một thành phố xa ngái và buồn thảm nơi cơn mưa bụi vương vất từ đầu thế kỷ XVI vẫn còn rơi chưa dứt. Tôi để ý thấy trên đường phố có rất nhiều đàn ông bận đồ đen như tôi khi mới tới và đội mũ cứng, đi lại vội vàng. Ngược lại, tôi hầu như không thấy bóng dáng người phụ nữ nào để an ủi, vì họ bị cấm không được vào các quán cà phê mờ ảo trong các khu thương mại, như quán của các thầy tu mặc áo chùng thâm đồng phục. Trên tàu điện và nhà vệ sinh công cộng đều có dòng chữ buồn bã: “Nếu bạn không sợ Chúa Trời thì hãy biết sợ hãi bệnh giang mai”.

Tôi kinh ngạc thấy những chiếc xe chở bia kéo theo những khung mắc áo khổng lồ, những tia lửa nhiều màu tóe ra khi tàu điện đổi hướng chạy ở góc phố và cảnh người ta dồn lại chật cứng để nhường bước cho những người đi bộ trong đám tang dưới trời mưa.

Thật sầu thảm khi thấy chiếc xe tang sang trọng do những con ngựa phủ trên mình khăn nhung đen kéo và trên đó có những thi hài của những người chắc là thuộc hàng danh gia vọng tộc đã hành xử cứ như mình là người sáng tạo ra cái chết vậy. Ở cổng nhà thờ Las Nieves, từ trên xe taxi tôi nhìn thấy người phụ nữ đầu tiên ở ngoài đường phố. Bà ta cao, thanh mảnh và kín đáo với một vẻ rất đỗi uy nghiêm, cứ như nữ hoàng tang tóc vậy, nhưng tôi chỉ ghi lại được dấu ấn của phân nửa ảo mộng vì bà mang chiếc khăn che kín hết mặt.

Đó là sự sụp đổ tinh thần. Căn nhà tôi qua đêm tuy rộng rãi và đủ tiện nghi nhưng tôi thấy nó đầy vẻ ma quái với mảnh vườn âm u trồng hoa hồng thẫm màu với cái lạnh thấu xương tủy. Đó là gia đình của ông Torres Gamboa, họ hàng của bố tôi và mặc dù tôi đã biết họ nhưng vẫn thấy rất xa lạ khi họ mặc quần áo ngủ trong bữa ăn tối. Ấn tượng mạnh nhất là khi chui vào chăn tôi đã hét lên kinh hoàng vì cảm thấy như nằm trong nước lạnh buốt. Họ phải giải thích cho tôi hiểu đó chỉ là cảm giác lúc ban đầu, dần dần tôi sẽ quen với những điều kỳ lạ của thời tiết. Tôi khóc thầm mấy tiếng đồng hồ trước khi có được giấc ngủ bất hạnh.

Đó cũng là cảm giác của tôi bốn ngày sau khi vội vã đi trong cái rét cắt da và dưới cơn mưa phùn để đến Bộ Giáo dục xin đăng ký thi tuyển nhận học bổng quốc gia. Hàng người bắt đầu từ trước phòng đăng ký học bổng của Bộ Giáo dục ở tầng ba, dài rồng rắn suốt hành lang, cầu thang xuống tới tận cửa ra vào chính trong tòa nhà. Cảnh tượng thật là ngán ngẩm. Khoảng mười giờ sáng, khi trời vừa tạnh, hàng người còn kéo dài thêm hai dãy phố nữa trên đại lộ Jimenez de Quesada và còn nhiều ứng cử viên đang trú mưa dưới các hiên nhà. Tôi cảm thấy mình sẽ chẳng kiếm được gì trong cảnh chụp giựt này.

Khoảng đầu giờ chiều, tôi bỗng thấy có ai đập nhẹ hai lần vào vai. Đó chính là “Người đọc không biết chán” ở trên tàu thủy. Anh đã nhìn thấy tôi đứng gần cuối hàng, còn tôi thì mãi mới nhận ra anh. Anh kinh ngạc hỏi tôi:

- Mẹ kiếp, anh làm gì ở đây?

Tôi nói mục đích của mình với anh.

- Sao có chuyện nực cười thế nhỉ? Anh vừa nói vừa cười sặc sụa.

- Thôi đi theo tôi mau - anh khoác tay tôi đi vào nhà Bộ Giáo dục. Đến lúc đó tôi mới biết anh là Tiến sĩ Adolfo Gomez Tamara, Vụ trưởng Vụ học bổng quốc gia của Bộ Giáo dục.

Đó là một sự ngẫu nhiên hết sức hiếm hoi mà tôi may mắn được hưởng. Với giọng hài hước của sinh viên, Gomez Tamara giới thiệu với các trợ lý của mình về tôi như là một danh ca hát điệu bolero rất tình. Họ mời tôi uống cà phê và ghi tên tôi vào bảng đăng ký mà không phải làm thủ tục gì cả, nhưng cũng giải thích cho tôi biết là việc làm này không vi phạm các quy định của cơ quan mà chẳng qua chỉ là để tôn vinh những vị thần ngẫu nhiên mà thôi. Họ thông báo cuộc sát hạch sẽ được tiến hành vào thứ Hai tới ở trường San Bartolomé. Người ta ước tính có khoảng một ngàn thí sinh trong cả nước chọi nhau giành ba trăm năm mươi suất học bổng nên cuộc chiến sẽ lâu dài và khó khăn, và có thể sẽ là một đòn đánh mạnh vào ảo tưởng của chính tôi. Một tuần sau đó, người ta sẽ công bố danh sách những người trúng tuyển kèm tên trường được theo học. Điều này bấy giờ tôi mới biết và cũng làm cho tôi khá lo lắng vì nếu trúng tuyển có thể người ta sẽ gửi tôi đến học ở Medellin hoặc el Vichada. Người ta giải thích cho tôi rằng việc gửi đi học ở các trường theo kiểu bốc thăm là nhằm khuyến khích trao đổi văn hóa giữa các vùng. Khi làm xong thủ tục, Gomez Tamara bắt chặt tay tôi và nồng nhiệt như khi chúc mừng tôi vừa hát xong bài bolero.

- Cố lên nhé! - anh nói với tôi - bây giờ cuộc đời của anh nằm trong chính tay mình rồi đó.

Rời khỏi trụ sở Bộ Giáo dục, thì một người đàn ông nhỏ thó với dáng vẻ thầy tu đến gạ tôi bỏ ra năm mươi đồng peso, ông ta sẽ lo cho một suất học bổng mà không phải thi cử gì cả. Số tiền đó là cả một gia tài đối với tôi, nhưng tôi tin rằng nếu có chắc tôi cũng sẵn sàng chi ra để tránh nỗi sợ hãi phải vào phòng thi. Mấy ngày sau, tôi nhận ra ông ta qua bức ảnh được đăng trên báo, hóa ra ông ta cầm đầu một băng lừa đảo chuyên đội lốt thầy tu để hành nghề buôn bán bất hợp pháp ở các cơ quan nhà nước.

Tôi vẫn chưa hết băn khoăn vì việc có thể bị gửi đi học ở bất cứ nơi nào. Sự bi quan đã tạo cớ cho tôi vào ngay đêm trước hôm thi, đi cùng với đám nhạc công trên tàu đến một quán rượu cực kì dơ bẩn ở khu Las Cruces. Mỗi lần hát xong một bài, chúng tôi được thưởng một cốc vại chicha, thứ nước ngô lên men tuyệt hảo mà những kẻ say xỉn thường bỏ thêm thuốc súng vào cho tăng độ phê. Vì thế mà tôi đến phòng thi bị chậm, với cái đầu u u minh minh không nhớ mình đã ở đâu và ai đã đưa mình về nhà trong đêm hôm trước. Nhưng dù sao thì người ta cũng ban ơn, đón tiếp tôi trong một căn phòng lớn chật cứng thí sinh. Liếc qua các câu hỏi, tôi biết mình sẽ thất bại hoàn toàn. Để tránh sự tò mò của các giám thị, tôi đành chú mục đến phần khoa học xã hội với các câu hỏi ít đánh đố hơn cả. Bỗng niềm cảm hứng lóe sáng hớp hồn khiến tôi đưa ra những câu trả lời đáng tin và may mắn đến không ngờ, dĩ nhiên trừ phần toán học mà dù Thượng đế có phù hộ tôi cũng chịu thua. Bài thi môn hội họa, tuy làm vội nhưng khá đẹp là nguồn an ủi cho tôi. “Đó có lẽ là nhờ tác động kỳ lạ của nước chicha đó”, các bạn nhạc công nói với tôi như vậy. Dù sao thì tôi cũng hoàn thành bài thi và quyết định viết thư cho bố mẹ giải thích lý do sẽ không về nhà.

Một tuần sau, tôi thực hiện quyền của mình là đòi xem điểm. Chắc là đã phát hiện thấy dấu hiệu gì đó trong số báo danh của tôi nên cô tiếp tân đã dẫn ngay tôi lên gặp Vụ trưởng. Anh tiếp tôi với dáng vui vẻ và lịch duyệt, chiếc áo sơ mi dài tay trắng bong và hai dây kéo quần màu đỏ sặc sỡ. Anh xem xét điểm các bài thi của tôi một cách chuyên nghiệp, hai hoặc ba lần tỏ vẻ lưỡng lự, nhưng cuối cùng thì thở phào.

- Không đến nỗi tệ lắm - anh như nói một mình. - Ngoại trừ môn toán. Nhưng anh đã thoát trong gang tấc nhờ năm điểm môn hội họa.

Anh ngửa người trên ghế và hỏi tôi dự định học trường nào.

Đó là một trong những bất ngờ lịch sử trong đời tôi, nhưng tôi không hề đắn đo khi trả lời:

- Trường San Bartolome ở ngay thành phố Bogota.

Anh đặt tay lên một đống giấy trên bàn.

- Tất cả đống giấy này là những bức thư nặng ký nhờ can thiệp cho con em, hoặc người nhà được học ở các trường tại thủ đô - anh nói. Anh cũng nhận ra ngay là không nên nói ra điều đó, và tiếp tục: - Nếu anh cho phép tôi giúp đỡ thì trường phù hợp nhất đối với anh chính là trường phổ thông công lập Zapaquirá, cách đây một giờ đi bằng tàu hỏa.

Điều duy nhất mà tôi biết về thành phố lịch sử đó là nó có mỏ muối. Gomez Tamara giải thích cho tôi là trường này có từ thời thuộc địa và mới đây được tịch thu từ một cộng đồng tôn giáo trong đợt cải cách của phái tự do và bây giờ có một đội ngũ giáo viên trẻ tuyệt vời với tư duy rất hiện đại. Tôi nghĩ là mình phải có trách nhiệm báo cho anh ấy rõ.

- Bố tôi là godo (từ khinh bỉ chỉ những người thuộc phái bảo thủ - ND) - tôi nói.

Anh ấy bật cười.

- Anh không cần phải tỏ ra nghiêm trọng - anh nói. - Tôi nói tự do đây là theo nghĩa rộng trên lĩnh vực tư tưởng.

Ngay sau đó, anh trở lại phong cách thường ngày và quyết định để cho số phận đưa tôi đến tu viện cũ kĩ từ thế kỷ XVII đã được biến thành trường học giữa thị trấn mộng mơ nơi không có thú tiêu khiển gì ngoài việc học tập. Ngôi trường này đúng là đã tồn tại bất di bất dịch với thời gian. Ở thời kỳ đầu, ngay cổng ra vào bằng đá có khắc dòng chữ: “Nguyên lý của sự hiểu biết là nỗi sợ của Chúa Trời” . Nhưng phương châm này đã được thay bằng quốc huy của Colombia ngay sau khi chính phủ thuộc phái tự do của Tổng thống Alfonso Lopez Pumarejo quốc hữu hóa nền giáo dục vào năm 1936. Ở tiền sảnh, sau khi trút bỏ hòm đồ xuống, tôi chán nản nhìn mảnh vườn nhỏ bao bọc bởi những vòng cung bằng đá được xây từ thời thuộc địa với những bao lơn bằng gỗ sơn màu xanh treo các giỏ hoa đượm buồn. Tất cả như bị gò theo một trật tự bất di bất dịch mà hơn ba trăm năm qua chưa hề bị bàn tay của người đàn bà nào làm thay đổi. Được giáo dục trong môi trường phóng khoáng không có luật lệ ràng buộc của vùng ven biển Caribe, tôi rùng mình lo sợ phải sống bốn năm quyết định của tuổi thiếu niên giữa bầu không khí tê cóng ấy.

Lúc ấy tôi không thể hình dung ra căn nhà hai tầng bao quanh mảnh vườn im ắng và một tòa nhà ở phía sau có thể đủ chỗ cho văn phòng và chỗ ở của hiệu trưởng, phòng hành chính, nhà bếp, nhà ăn, thư viện, sáu lớp học, phòng thí nghiệm vật lý và hóa học, nhà kho, các nhà vệ sinh và các phòng ngủ có giường sắt cho gần năm mươi học sinh lê lết từ những địa phương buồn bã nhất nước đến đây, và rất ít học sinh là người thủ đô. Cũng may, chính hoàn cảnh lưu đày đó là ân huệ mà ngôi sao chiếu mệnh đã dành cho tôi. Nó đã giúp tôi sớm hiểu rõ về đất nước mình. Một tá học sinh đến từ vùng ven biển Caribe chúng tôi tập hợp lại với nhau ngay từ khi mới tới và làm nên sự khác biệt với nhóm học sinh bản địa.

Đám học sinh tụ tập thành từng nhóm đứng ngồi rải rác trong vườn ngay buổi tối đầu tiên đã là một biểu hiện nhiều màu sắc của dân tộc. Không có kình địch gì dù mỗi người giữ lãnh địa của mình. Những mối quan hệ đầu tiên của tôi là với những người đến từ vùng ven biển Caribe, vốn nổi tiếng là ồn ào, thích kết bạn và cuồng nhiệt trong nhảy múa. Tôi là một ngoại lệ, nhưng ngay sau đó Antonio Martinez Sierra, một người múa rumba giỏi ở thành phố Cartagena đã dạy tôi các điệu nhảy đang được ưa thích trong các buổi tối rảnh rỗi. Ricardo Gonzalez Ripoll, tòng phạm với tôi trong những cuộc tình chớp nhoáng, sau này là một kiến trúc sư nổi tiếng, tuy nhiên không bao giờ bỏ lửng một bài hát mà thường lẩm nhẩm và nhảy múa một mình.

Mincho Burgos, một nhạc công đàn piano bẩm sinh, sau này trở thành nhạc trưởng dàn nhạc quốc gia, đã lập ngay ban nhạc của trường, dạy tôi chơi một vài nhạc cụ và hát bè trầm trong các điệu bolero.

Humberto Jaimes là một học sinh chuyên cần, không bao giờ quan tâm đến các điệu nhảy, thường hy sinh các ngày lễ cuối tuần để ở lại trường tiếp tục tự học. Anh ta chưa bao giờ thấy trái bóng nào và cũng không bao giờ đọc các bài báo về các trận đấu bóng đá.

Nhưng sau khi tốt nghiệp kỹ sư ở Bogota, anh vào làm phóng viên thể thao ở tòa báo El Tiempo, lên đến chức Trưởng phòng thể thao của tòa soạn và là một trong những tay bút cừ khôi nhất nước về đề tài bóng đá.

Nhưng một trong những trường hợp kỳ lạ nhất là Silvio Luna, sau khi tốt nghiệp luật sư, học tiếp lên thành bác sĩ và trước khi tôi mất liên lạc với anh, còn chuẩn bị học tiếp một ngành thứ ba nữa.

Daniel Rozo - Pagocio - được coi như một người hiểu biết uyên thâm về khoa học xã hội và thần học ở trong lớp cũng như khi ra chơi. Chúng tôi thường đến hỏi anh ta về tình hình thế giới trong thời kỳ chiến tranh thế giới lần thứ hai mà chúng tôi chỉ biết láng máng, vì người ta không cho phép đưa báo hoặc tạp chí vào nhà trường, còn chiếc đài thì chúng tôi chỉ dùng để nghe nhạc trong các buổi khiêu vũ. Chúng tôi không biết Pagocio đã lấy đâu thông tin về những trận đánh thắng lợi của quân đồng minh.

Sergio Castro có lẽ là học sinh xuất sắc nhất vì từ khi vào trường luôn được điểm cao. Bí quyết của anh, như Martina Fonseca đã khuyên tôi thời kỳ còn học ở trường San Jose là: không bao giờ bỏ sót một lời nào của thầy giáo và phát biểu của các bạn ở trên lớp, ghi chép cẩn thận từng hơi thở của các thầy giáo vào vở một cách khoa học nhất. Có lẽ nhờ vậy mà anh ấy không mất nhiều thời gian chuẩn bị cho các bài kiểm tra, cuối tuần có thể ngồi đọc sách phiêu lưu mạo hiểm trong khi chúng tôi học mướt mồ hôi.

Người bạn gần gũi nhất của tôi trong những giờ rảnh rỗi là Alvaro Ruiz Torres, dân thủ đô Bogota chính hiệu. Hai chúng tôi thường trao đổi tin tức hàng ngày về các cô người yêu. Anh thường về nhà ở Bogota những ngày cuối tuần và khi trở lại trường thường mang theo nhiều thuốc lá và những mẩu chuyện về các cô gái. Chính anh là người khích lệ tôi mắc hai thói xấu đó trong thời gian cùng học với nhau nhưng cũng chính anh trong hai năm vừa qua đã cho tôi mượn những kỷ niệm tốt nhất để tôi viết những trang hồi ký này.

Tôi không hiểu đã học được gì trong thời gian bị giam cầm trong trường phổ thông công lập này, nhưng bốn năm sống hòa thuận với tất cả mọi người lúc ấy đã cho tôi một cái nhìn nhất quán về dân tộc; tôi phát hiện ra đất nước mình đa dạng biết bao và hiểu chúng tôi phải làm gì để phục vụ cho Người, và tôi cũng học được một điều rằng sự tổng hợp mọi cá thể của chúng tôi lại sẽ là tất cả đất nước. Có lẽ đó chính là điều mà ở Bộ Giáo dục người ta nói với chúng tôi rằng xuất xứ từ các địa phương chỉ là tương đối. Khi đã có tuổi, một lần trên chuyến bay xuyên đại dương tôi được mời vào phòng lái máy bay, lời đầu tiên mà viên phi công hỏi tôi là quê ở đâu. Chỉ nghe giọng anh ấy nói, tôi đã có thể trả lời:

- Tôi cũng dân miền biển như quê anh ở vùng Sogamoso.

Đúng là anh ta có cùng cốt cách, cùng cử chỉ, chất giọng của Marco Fidel Bulla, bạn học ngồi cạnh tôi trong suốt năm thứ tư của trường trung học. Chính năng lực trực giác này đã dạy tôi cách vượt qua, dù không có la bàn và ngược dòng, những vùng đầm lầy của những cộng đồng người bất chợt, và có lẽ đó cũng là chiếc chìa khóa vạn năng trong nghề viết văn của tôi.

Tôi cảm thấy như sống trong giấc mơ, bởi vì, trước đó tôi không dám ước mong được học bổng, không chỉ để tiếp tục học mà còn được sống độc lập không phụ thuộc vào gia đình. Với ba bữa ăn được bảo đảm hàng ngày cũng đủ cho bọn tôi thấy sống ở trong trại tế bần này vẫn còn sướng hơn ở gia đình mình, và dưới chế độ tự chủ có kiểm soát này vẫn còn dễ chịu hơn sự áp đặt ở nhà. Ở phòng ăn hình thành một hệ thống thị trường cho phép mỗi người vận dụng suất ăn của mình theo cách phù hợp nhất. Ở đó đồng tiền không có giá trị gì. Hai quả trứng trong bữa ăn điểm tâm là đơn vị trao đổi được yêu thích nhất, vì nó có thể được hoán đổi lấy một trong ba bữa ăn hàng ngày. Mỗi thứ đều có vật tương đương, không có gì có thể làm xáo trộn được những cuộc buôn bán hợp pháp đó. Và tôi nhớ là không hề có một cuộc cãi vã, kiện cáo gì trong suốt bốn năm ở nội trú.

Giáo viên ăn ở bàn khác ngay trong phòng ăn nên cũng không lạ gì chuyện đổi chác của học sinh. Phần lớn giáo viên chưa vợ hoặc sống xa vợ và lương của họ cũng ít ỏi như mức phụ giúp của gia đình gửi cho chúng tôi. Họ cũng than phiền về bữa ăn như chúng tôi, đã có lúc suýt nữa chúng tôi cùng họ âm mưu làm một cuộc tuyệt thực. Chỉ khi nào nhận được quà hoặc có khách thăm người ta mới cho phép chúng tôi thưởng thức những món ăn khoái khẩu - một việc có thể làm hỏng nguyên tắc bình đẳng giữa mọi người. Đó là sự việc đã xảy ra vào năm thứ tư khi vị bác sĩ của nhà trường hứa cho chúng tôi một quả tim của con bò để học môn giải phẫu. Ngày hôm sau, ông ấy gửi trái tim còn tươi nguyên và đỏ máu vào tủ lạnh của nhà bếp, nhưng khi bọn tôi đến lấy để đưa về học thì nó không còn ở đó nữa. Sau khi xác minh người ta mới rõ ra là, vào giờ chót, do không có tim bò, người thầy thuốc phải lấy trái tim của một người thợ nề bị trượt chân rơi từ tầng bốn xuống tan xác. Vì không đủ cho tất cả mọi người nên các đầu bếp đành chế biến cái mà họ tưởng là tim bò thành món nước sốt tuyệt ngon dành cho mâm các thầy giáo. Tôi tin rằng mối quan hệ thầy trò khá trôi chảy hồi đó có liên quan đến cuộc cải cách giáo dục mới đây, tuy không để lại nhiều dấu ấn trong lịch sử nhưng cũng giúp chúng tôi đơn giản hóa nhiều nghi thức ứng xử. Khoảng cách về tuổi tác đã giảm bớt, việc đeo cà vạt cũng bớt nghiêm ngặt hơn và không ai hốt hoảng trước việc thầy và trò cùng ngồi uống rượu và tối thứ Bảy cùng đi khiêu vũ.

Bầu không khí này chỉ có được khi có những người thầy giáo chịu chấp nhận những mối quan hệ cá nhân dễ dàng. Thầy dạy toán, với sự hiểu biết rộng và tính hài hước thô bạo đã biến những tiết học thành một lễ hội đáng sợ. Thầy tên là Joaquin Giraldo Santa và là người Colombia đầu tiên có học vị tiến sĩ toán học. Chỉ có điều đáng tiếc là dù đã rất cố gắng và được thầy tận tình giúp đỡ tôi không bao giờ theo kịp trình độ ở lớp của thầy. Người ta thường nói năng khiếu thơ ca giao thoa vào toán học, đến mức tôi không những tin điều đó mà còn lặn ngụp trong đó nữa. Nhờ vào uy tín văn chương của nó mà hình học có lẽ là môn dễ thương hơn. Ngược lại, số học thì luôn có thái độ hoàn toàn thù địch. Đến tận bây giờ, khi cần tính nhẩm một phép cộng tôi phải tháo bung các con số ra thành từng phần đơn giản hơn, nhất là hai số bảy và chín thì tôi không tài nào nhớ được kết quả phép tính cộng giữa chúng với nhau. Giả dụ, phải cộng bảy với bốn, tôi phải trừ hai trong số bảy rồi cộng với bốn sau đó mới cộng tiếp số hai để thành ra mười một. Phép nhân thì tôi thường xuyên làm sai vì không thể nhớ bảng cửu chương. Riêng đại số thì tôi toàn tâm toàn ý học hơn cả không chỉ vì nó thuộc loại cổ điển mà còn vì sự yêu mến và sợ hãi thầy dạy. Nhưng thật vô ích. Học kỳ nào tôi cũng bị cảnh cáo, bị thi lại hai lần và cả lần thi vớt bất hợp pháp mà vì thương hại thầy đã tổ chức thêm tôi cũng rớt luôn.

Ba người thầy tận tụy khác là những người dạy ngoại ngữ. Người đầu tiên dạy tiếng Anh là thầy Abella, một cư dân vùng Caribe chính hiệu nhưng lại nói giọng đặc sệt xứ Oxford và là một người mê tín cuồng nhiệt bộ từ điển Webster’s, đến mức thường ngâm vịnh từng câu chữ với đôi mắt nhắm nghiền. Người thay cho thầy Abella là Hector Figueroa, một giáo viên trẻ giỏi giang và rất say mê điệu bolero nên chúng tôi thường hát với nhau trong giờ ra chơi. Tôi đã cố hết sức vượt qua cơn buồn ngủ trong lớp cũng như kỳ thi cuối khóa, nhưng tôi tin rằng điểm khá của tôi không nhờ nhiều vào Shakespeare mà vào Leo Marini và Hugo Romani, những người đã tạo ra bao nhiêu thiên đường và gây ra bao vụ tự sát vì tình. Thầy giáo dạy tiếng Pháp trong năm thứ tư, ông Antonio Yelá Alban đã thấy tôi bị ngộ độc vì các cuốn tiểu thuyết hình sự. Những giờ học của ông cũng làm tôi chán ngán như của tất cả các thầy khác, nhưng những câu trích dẫn rất thích hợp của ông về tiếng Pháp đường phố đã giúp tôi mười năm sau không bị chết đói ở thành phố Paris.

Phần lớn các thầy giáo được đào tạo tại trường Cao đẳng sư phạm dưới sự chỉ đạo của thầy hiệu trưởng, nhà tâm lý học, tiến sĩ Jose Francisco Socarras, người đã cố công thay đổi nền sư phạm của giới tu sĩ suốt một thế kỷ chính phủ bảo thủ bằng chủ nghĩa duy lý nhân đạo. Thầy Manuel Cuello del Rio là một người theo chủ nghĩa Marx triệt để nhưng có lẽ cũng khâm phục cả Lin Yutang và tin vào việc người chết tái sinh. Thư viện riêng của thầy Carlos Julio Calderon bắt đầu bằng tiểu thuyết Vòng xoáy của người đồng hương Jose Eustasio Rivera, rồi đến các tác giả cổ điển Hy Lạp, những tác giả viết về đề tài bản địa và những nhà văn lãng mạn khắp thế giới. Nhờ các thầy đó mà số ít ỏi những học sinh ham đọc sách như chúng tôi được đọc tác phẩm của San Juan de la Cruz hoặc Jose Maria Vargas Vila, kể cả các nhà văn đi tiên phong của cách mạng vô sản. Ngay trong phòng riêng của mình, thầy dạy khoa học xã hội Giáo sư Gonzalo Ocampo có một kho sách chính trị được lưu hành đến tận lớp học của các học sinh lớn tuổi, nhưng tôi không hiểu tại sao những cuốn như Nguồn gốc gia đình, tài sản tư nhân và Nhà nước của Federic Engels lại chỉ được học ở các buổi chiều khô khan của môn kinh tế chính trị mà không ở các lớp văn học như là một chiến công của cuộc phiêu lưu của nhân loại. Guillermo Lopez Guerra trong giờ ra chơi đã đọc Chống Dühring, cũng của Engels do thầy Gonzalo Ocampo cho mượn. Nhưng khi tôi hỏi mượn đọc để có thể bàn cãi với Lopez Guerra, thì Giáo sư Gonzalo Ocampo lại nói là không thể cho tôi đọc một cuốn ghi chép rất cơ bản đối với sự tiến bộ của nhân loại nhưng lại quá dài và dễ chán nên khó có thể đi vào lịch sử. Những thay đổi nho nhỏ về tư tưởng như vậy có lẽ đã tạo nên tiếng xấu về trường này như là nơi thử nghiệm của sự hư hỏng về chính trị. Tuy nhiên tôi phải mất nửa đời người mới nhận thấy rằng đó có thể là một kinh nghiệm thực tế để xua đuổi những kẻ hèn yếu và để chủng ngừa cho những người mạnh mẽ chống lại tất cả mọi biểu hiện của chủ nghĩa giáo điều.

Tôi thường xuyên có mối quan hệ trực tiếp với giáo sư Carlos Julio Calderon, thầy dạy tiếng Tây Ban Nha trong những năm đầu tiên, dạy văn học thế giới trong năm thứ tư, văn học Tây Ban Nha trong năm thứ năm và văn học Colombia trong năm thứ sáu. Và có điều hơi lạ là ông lại thích thú và được đào tạo theo một chuyên ngành khác hẳn: kế toán. Sinh ra ở thị xã Neiva thuộc tỉnh Huila, giáo sư luôn tuyên bố là mình quý trọng nhà văn Jose Eustasio Rivera. Ông đã phải bỏ học y khoa và giải phẫu, điều mà mỗi khi nhớ lại ông vẫn coi là nỗi thất vọng lớn trong đời, nhưng ông không thể cưỡng lại nổi tình yêu nghệ thuật và văn học. Ông là người thầy đầu tiên đã làm tan nát những bản thảo của tôi qua những lời nhận xét xác đáng.

Mối quan hệ thầy trò lúc đó hết sức tự nhiên, không chỉ trên lớp mà đặc biệt là trong giờ nghỉ ngoài vườn sau bữa ăn tối. Chúng tôi được đối xử khác hẳn lối thông thường trước đây và đó chính là bầu không khí tôn trọng và bạn bè mà may mắn chúng tôi được sống.

Tôi còn có chuyến phiêu lưu dễ sợ liên quan đến cuốn Toàn tập của Freud lúc đó vừa về đến thư viện. Đương nhiên là tôi không hiểu gì về những phân tích lằng nhằng của ông, nhưng lại say sưa theo dõi các dẫn chứng về bệnh hoạn đến tận trang cuối tập sách không kém gì những tác phẩm kỳ diệu của Julio Verne. Trong giờ học tiếng Tây Ban Nha, thầy Calderon yêu cầu chúng tôi viết một truyện ngắn với đề tài tự do. Tôi bỗng nghĩ đến trường hợp một bé gái bảy tuổi bị bệnh tâm thần và đặt đầu đề cho truyện hoàn toàn ngược với chất thơ: “Một trường hợp bệnh tâm thần ám ảnh”. Thầy cho đọc truyện này trên lớp. Aurelio Prieto, ngồi cạnh tôi kịch liệt phản đối việc viết truyện về một đề tài khó hiểu mà không có hiểu biết gì về khoa học và văn học. Tôi bực bội giải thích rằng đã lấy nguyên mẫu từ một trường hợp bệnh nhân được Freud nhắc đến trong hồi ký của ông và mục đích duy nhất của tôi là dùng nó cho bài tập này. Trước những lời chỉ trích gay gắt của một số bạn học, có lẽ rất cảm thông nên trong giờ ra chơi thầy đã gọi riêng tôi ra nơi khác để động viên tôi cứ theo đường đó mà tiếp tục đi. Ông chỉ rõ đúng là khi viết truyện này tôi chưa biết kỹ thuật sáng tác hiện đại nhưng lại có năng khiếu bẩm sinh và khát vọng. Ông thấy truyện đó viết hay và tối thiểu cũng bộc lộ ý thức tìm kiếm một điều gì đó độc đáo. Lần đầu tiên ông nói với tôi về tu từ học. Ông bày cho tôi một số mẹo luật thực tiễn về đề tài và thi pháp để làm thơ được dễ dàng và kết luận là tôi phải tiếp tục viết không chỉ những câu chuyện về bệnh tâm thần. Đó là buổi mở đầu cho nhiều buổi nói chuyện dài vào giờ ra chơi hay vào giờ rỗi với ông trong thời gian tôi học ở trường, nhờ vậy mà tôi tích lũy rất nhiều kiến thức cho đời viết văn của mình.

Đó là một bầu không khí lý tưởng đối với tôi. Ngay từ thời ở trường San Jose tôi đã nhiễm thói xấu là ngấu nghiến tất cả những gì có trong tay vào giờ rỗi cũng như một phần trong giờ lên lớp. Vào tuổi mười sáu tôi vẫn còn đọc lại được những bài thơ học từ thời bé ở trường San José. Tôi đọc đi đọc lại không theo một thứ tự nào và thường là đọc lén trong giờ học. Tôi tin là đã đọc hết cả thư viện trường kể cả những thứ ít công dụng hơn: tuyển tập văn bản chính thức, tài liệu kế thừa của những thầy giáo đã nghỉ dạy. Tôi không thể quên những cuốn trong bộ sách Làng quê của nhà xuất bản Minerva do ông Daniel Samper Ortega chủ xướng và được phân phối vào các trường thuộc Bộ Giáo dục. Có đến một trăm cuốn vừa hay vừa dở bao gồm những gì người ta đã viết ở Colombia, và tôi đã có ý định đọc theo thứ tự cho đến khi tâm hồn mình còn chịu đựng được. Bây giờ nhớ lại tôi còn rùng mình vì chỉ trong hai năm cuối thời kỳ phổ thông tôi đã gần hoàn thành chỉ tiêu đó rồi, và trong thời gian còn lại của cuộc đời tôi cũng không thể khẳng định là điều đó có phục vụ gì cho tôi nữa hay không.

Những buổi bình minh nơi ký túc xá mang dáng vẻ đáng ngờ của hạnh phúc ngoại trừ tiếng chuông kêu như tiếng còi báo động vào lúc sáu giờ sáng. Chỉ có hai hoặc ba kẻ yếu đuối về tinh thần là vội nhảy ra khỏi giường đến giành những chỗ đầu tiên trong sáu vòi nước lạnh cóng trong phòng tắm chung của ký túc xá. Số còn lại, chúng tôi cố vắt nốt những giọt mơ ngủ cuối cùng cho đến khi thầy trực ban đi vào phòng lật tung từng chiếc chăn lên. Chúng tôi có khoảng một giờ rưỡi cho những công việc cá nhân để sắp xếp lại quần áo, đánh giày, vừa tắm nước lạnh buốt trong tiếng kêu thất thanh vừa chọc tức người bên cạnh, moi bí mật tình ái của nhau, móc ráp làm ăn, buôn bán trao đổi, kiện cáo xảy ra ở buổi ăn sáng. Đề tài bàn bạc vào buổi sáng sớm thường là chương sách vừa đọc đêm hôm trước.

Mỗi khi có thể, một số trong chúng tôi tìm cách lẩn trốn ra ngoài vào buổi sáng sớm tinh mơ để đến nơi hẹn hò những ngày cuối tuần. Chỉ trừ những ngày trong tuần, còn thì cuối tuần không có thầy giáo trực ban cũng như các thầy coi ký túc xá. Người canh cửa ra vào vĩnh cửu của nhà trường, anh Riverita, thường nửa thức nửa ngủ suốt những giờ anh phải làm nhiệm vụ hàng ngày. Anh sống ngay trong một phòng ở cửa ra vào và luôn làm tốt công việc của mình, nhưng về ban đêm, chúng tôi có thể tháo chốt cửa nhà thờ rồi ra ngoài hưởng giấc ngủ đêm ở nhà người khác và trở về vào trước khi trời sáng từ những đường phố rét buốt. Không bao giờ người ta biết được chính xác có thực Riverita ngủ say như chết hay đó là cách ứng xử tế nhị của anh để trở thành tòng phạm với bọn trẻ. Không có nhiều những người dám lẻn ra phố, và những bí mật về chuyến đi đó đã tàn lụi trong trí nhớ của những tên tòng phạm trung thành. Tôi quen biết một số người đi đêm thường xuyên, một số chỉ dám mạo hiểm đi một lần rồi trở về kiệt sức vì sợ hãi. Chúng tôi biết là không có ai bị phát hiện cả.

Điều bất tiện duy nhất của tôi trong mối quan hệ xã hội ở trong trường nội trú chính là những cơn ác mộng kèm theo những tiếng hú như từ thế giới bên kia vọng về mà tôi được di truyền từ mẹ. Những người nằm cạnh giường tôi thì đã quá rõ, họ chỉ sợ hãi bởi tiếng hú kinh hoàng đầu tiên vào sáng sớm. Thầy giáo trực ngủ ở phòng nhỏ bên cạnh giật mình đi như mộng du từ đầu này đến đầu kia khu ký túc xá cho đến khi yên tĩnh trở lại. Đó không chỉ là những giấc mơ không kiểm soát được mà còn là điều gì đó liên quan đến ý thức kém bởi vì có hai trường hợp xảy ra với tôi ở những căn nhà trụy lạc. Những cơn ác mộng này cũng rất khó hiểu vì không phải chỉ là những giấc mơ khủng khiếp, mà ngược lại, là những câu chuyện hạnh phúc với một số người hoặc ở những nơi thông thường nhưng rồi bỗng một đôi mắt vô tư báo cho tôi một chi tiết đáng sợ nào đó. Mẹ tôi cũng từng đã có một cơn ác mộng tương tự khi đang co quắp đầu vào lòng mình ngủ thì bỗng thấy bị bôi thuốc diệt trứng và chấy sợ quá không sao ngủ được. Tiếng hú của tôi có khi không phải là vì sợ hãi mà thỉnh thoảng lại là tiếng cầu cứu để ai đó làm ơn đánh thức mình dậy. Trong ký túc xá không có đủ thời gian để làm mọi việc, nên khi tôi vừa kêu là đã có một loạt chiếc gối từ các giường xung quanh quăng đầy vào người tôi. Tỉnh dậy tôi vẫn thở hổn hển, nhưng tim tôi thì đập rộn ràng vì niềm hạnh phúc được sống.

Điều hay nhất của trường nội trú là những buổi đọc truyện nghe chung trước khi ngủ. Khởi nguồn việc này là sáng kiến của thầy Carlos Julio Calderon cho đọc to một truyện ngắn của Mark Twain mà sáng sớm hôm sau học sinh năm thứ năm phải học chuẩn bị cho bài kiểm tra đột xuất. Từ trong phòng ngủ của thầy giáo trực, thầy Calderon đã đọc to bốn trang giấy cho những học sinh chưa có thời gian xem truyện này ghi chép lại ý chính. Lần đọc truyện đó làm học sinh rất thích thú nên trường đã quyết định giữ lại thói quen tối nào cũng tổ chức đọc truyện trước khi ngủ. Lúc đầu, việc này cũng không dễ vì thế nào cũng có thầy giả nhân giả nghĩa nào đó đòi chọn sách này hoặc bỏ sách kia, làm cho học sinh bực bội, phản đối nên cuối cùng phải theo ý kiến của học sinh lớn tuổi.

Bắt đầu với nửa giờ. Thầy giáo trực đọc từ phòng đầu ký túc xá, lúc đầu chúng tôi tìm cách phản đối bằng tiếng ngáy, giả vờ hay cố ý. Sau đó kéo dài đến một tiếng đồng hồ tùy theo truyện hay hay không. Về sau, người đọc không còn là các thầy nữa mà được thay bằng học sinh chia nhau trực từng tuần một. Những truyện hấp dẫn tất cả chúng tôi khởi đầu bằng bộ Nhà thờ Đức BàNgười đàn ông đeo mặt nạ bằng sắt. Có điều tôi vẫn chưa lý giải được là sức hấp dẫn tuyệt vời của bộ Ngọn núi kỳ diệu của Thomas Mann, đến mức thầy hiệu trưởng phải can thiệp buộc chúng tôi không thức thâu đêm để chờ nụ hôn giữa Hans Castorp và Clawdia Chauchat. Hoặc cảnh tất cả chúng tôi ngồi chồm hổm trên giường để nghe không sót một lời nào từ cuộc đấu khẩu đầy chất triết lý giữa Naptha và người bạn Settembrini. Buổi đọc tối hôm ấy phải kéo dài hơn một tiếng đồng hồ và kết thúc bằng loạt vỗ tay vang dội cả ký túc xá.

Đối với tuổi thanh niên của tôi, một trong những ẩn số lớn nhất chính là thầy hiệu trưởng - ông Alejandro Ramos - mà tôi được gặp khi mới đến trường. Ông là người khô khan và cô độc lúc nào cũng đeo cặp kính dầy như người bị mù và mỗi lời nói của ông đều có quyền uy như một nắm đấm bằng sắt. Hàng ngày vào lúc bảy giờ sáng, từ chỗ trú ẩn của mình, ông đi xuống kiểm tra việc vệ sinh cá nhân của chúng tôi trước khi bước vào phòng ăn. Ông thường mặc bộ đồ màu sặc sỡ rất nghiêm chỉnh, cổ cồn như những ngôi sao điện ảnh với cà vạt bắt mắt và giày da bóng lộn. Phát hiện bất cứ một thiếu sót nào trong việc vệ sinh cá nhân của chúng tôi ông đều bắt quay về ký túc xá làm lại. Thời gian còn lại trong ngày ông lại tự giam mình trong văn phòng ở tầng hai và chúng tôi chỉ có thể thấy ông lần nữa vào đúng bảy giờ sáng hôm sau hoặc thấy ông đi mười một bước từ văn phòng đến phòng học của lớp sáu nơi ông sẽ lên lớp dạy môn toán ba lần một tuần. Học sinh của thầy nói ông là một thiên tài toán học và một người rất dí dỏm khi giảng bài; chúng vừa kinh ngạc về sự hiểu biết uyên thâm của ông vừa lo sợ trước những bài kiểm tra của môn toán học.

Không lâu khi đến trường tôi phải soạn một bài diễn văn khai mạc một cuộc mít-tinh chính thức của trường. Đại bộ phận giáo viên thông qua đề tài của tôi, nhưng đều thống nhất là lời cuối cùng trong những trường hợp này phải là thầy hiệu trưởng. Ông ở phòng cuối cầu thang trên tầng hai, nhưng tôi đau khổ thấy quãng đường đến đó dài như chuyến đi vòng quanh thế giới. Tối hôm trước tôi đã trằn trọc mãi mới ngủ, sáng sớm phải đeo cà vạt và chẳng còn bụng dạ nào thưởng thức bữa điểm tâm. Tôi gõ cửa văn phòng hiệu trưởng rụt rè đến mức mãi lần thứ ba ông mới ra mở và nhường bước cho tôi vào mà không hề chào hỏi câu nào. Cũng may, vì tôi sẽ không còn đủ giọng nói để đáp lại, có lẽ một phần vì ông cứ im lặng nhưng cái chính là vì vẻ uy nghi, ngăn nắp và những nét đẹp của văn phòng. Thầy hiệu trưởng từ tốn chờ cho tôi trấn tĩnh lại. Sau khi chỉ cho tôi ngồi vào chiếc ghế trước bàn làm việc, ông ngồi vào chỗ của mình.

Tôi đã chuẩn bị những lời giải thích về cuộc viếng thăm của mình cẩn thận không khác gì bài diễn văn. Ông im lặng lắng nghe, gật đầu sau từng đoạn, nhưng vẫn chưa nhìn thẳng vào tôi mà chỉ quan sát tờ giấy đang run bần bật trên hai tay tôi. Đến đoạn vui vẻ tôi cố trình bày thật hay để mong thầy mỉm cười, nhưng thật vô ích. Không những thế tôi còn tin chắc là thầy đã biết trước mục đích việc đến thăm của tôi nhưng ông vẫn cứ bắt tôi phải làm thủ tục tự giải thích lấy.

Khi tôi nói xong, ông liền giơ hai tay qua bàn đón lấy bản thảo. Ông bỏ kính ra để chăm chú đọc và chỉ dừng lại để dùng bút máy sửa hai chỗ. Ông đeo lại cặp kính rồi không nhìn vào mắt tôi, nói với giọng khô khan làm tim tôi giật thót:

- Ở đây có hai vấn đề - ông nói. - Em viết: “Hòa hợp với cây trái phong phú dồi dào (exhuberante) của đất nước chúng ta mà thế giới đã được biết đến nhờ nhà bác học người Tây Ban Nha Jose Celestino Mutis trong thế kỷ XVIII, chúng ta đang sống trong bầu không khí thiên đường (paradisíaco) ở ngôi trường này”. Nhưng chữ exuberante phải viết không có chữ h và chữ paradisiaco không mang dấu trọng âm.

Tôi cảm thấy nhục nhã. Tôi không có câu trả lời đối với nhận xét đầu nhưng ở nhận xét thứ hai thì tôi tin là mình đúng. Tôi lập tức dùng hơi sức còn lại trả lời:

- Thưa thầy hiệu trưởng, xin thầy tha lỗi, nhưng từ điển cho phép chữ paradisíaco mang dấu trọng âm hoặc không cũng được, nhưng em thấy mang trọng âm ở âm tiết thứ ba từ dưới lên đọc vang hơn.

Chắc là ông cũng thấy bị xúc phạm như tôi nên dù chưa nhìn tôi nhưng ông với tay lấy cuốn từ điển và không nói năng gì. Tim tôi đập thình thịch vì tôi thấy đó là cuốn Atlas của ông ngoại nhưng mới hơn và sáng bóng, có lẽ vẫn chưa được dùng đến. Ngay lần giở đầu tiên, ông đã tìm đúng chỗ, đọc đi đọc lại rồi hỏi tôi mà mắt vẫn nhìn vào trang từ điển:

- Em đang học năm thứ mấy?

- Năm thứ ba ạ - tôi trả lời.

Ông gập mạnh cuốn từ điển và lần đầu tiên nhìn thẳng vào mắt tôi:

- Khá lắm - ông nói. - Cứ thế mà tiến nhé.

Từ hôm đó, chỉ còn thiếu điều là các bạn cùng lớp phong tôi làm anh hùng và từ đó gọi đùa tôi là “anh chàng vùng biển nói chuyện được với hiệu trưởng”. Tuy vậy, điều tệ hại trong cuộc tiếp kiến này là một lần nữa tôi phải đối mặt với bi kịch cá nhân về quy tắc chính tả. Tôi chưa bao giờ nắm chắc được quy tắc này. Có thầy giáo cố trấn an tôi khi nói rằng người anh hùng Simon Bolivar đạt được vinh quang tột đỉnh không phải là nhờ vào trình độ kém cỏi về chính tả của ông ấy. Những người khác thì an ủi rằng đó cũng là điểm yếu của nhiều người khác. Thậm chí đến tận ngày hôm nay, với mười bảy cuốn sách đã được xuất bản, tôi vẫn vinh hạnh được những người sửa mo-rát coi lỗi chính tả của tôi là lỗi của người đánh máy mà thôi.

Các cuộc vui ở thị trấn Zipaquirá nói chung là theo sở thích và cách sống của từng người. Những mỏ muối là điểm đến hấp dẫn của khách du lịch trong những ngày cuối tuần. Còn những đứa học sinh nội trú quê ở vùng biển như chúng tôi không chỉ xứng danh là bọn to mồm và quậy phá còn nổi bật vì tài khiêu vũ như những nghệ sĩ thực thụ và rất giỏi trong những trò yêu đương cuồng nhiệt.

Hôm có tin đại chiến thế giới kết thúc chúng tôi ào cả ra đường mang theo biểu ngữ, cờ xí chào mừng thắng lợi. Ai đó mời một tình nguyện viên lên phát biểu và tôi không hề đắn đo gì liền đứng trên ban công của câu lạc bộ đối diện với quảng trường lớn và ứng khẩu một bài diễn văn mà mọi người cứ tưởng là đã học thuộc lòng từ trước.

Đó là bài diễn văn ứng khẩu duy nhất trong quãng thời gian đầu tiên trong đời tôi. Tôi kết thúc bài nói bằng những lời biết ơn xúc động dành cho Bốn vĩ nhân, trong đó người được chú ý nhất đối với thính giả ở quảng trường là vị Tổng thống Mỹ đã chết trước đó không lâu: “Franklin Delano Roosevelt, cũng như el Cid Campeador (nhân vật chính trong bản anh hùng ca dân gian Tây Ban Nha - ND) vẫn biết giành thắng lợi ngay sau khi đã chết”. Câu nói đó đã bay lơ lửng trong thị trấn suốt mấy ngày, được viết lại trong các biểu ngữ ở đường phố và dưới tranh ảnh của Roosevelt treo trong tủ kính ở một số cửa hàng. Như vậy thành tích trước công chúng đầu tiên của tôi không phải như là một nhà thơ, hay một nhà văn mà là một nhà diễn thuyết và tệ hơn nữa lại là một diễn giả chính trị. Từ đó trở đi không có cuộc mít-tinh nào ở trong trường mà người ta không bắt tôi lên bục nhưng với những bài diễn văn đã được viết sẵn và sửa chữa đến phút cuối cùng.

Cùng với thời gian, sự dạn dĩ đến trơ trẽn ấy đã giúp tôi giảm bớt nỗi sợ sân khấu dù ở trong những đám cưới lớn cũng như ở các quán nhậu của người địa phương mà bao giờ chúng tôi cũng kết thúc bằng việc bò lê bò càng dưới đất; dù ở nhà của Berenice - một cô bé xinh đẹp và may mắn đã không kết hôn với tôi vì đã yêu điên cuồng người khác - hay ở nhà cô nhân viên điện tín Sarita mà tôi không bao giờ quên được vì đã truyền theo cách trả chậm những bức điện khốn khổ của tôi mỗi khi bố mẹ chưa kịp gửi phụ cấp. Cô gái tốt bụng đó đã nhiều lần ứng tiền trước giúp tôi qua cơn hoạn nạn. Tuy nhiên người tôi ít nhớ nhất, không phải là tình yêu của ai mà là nàng tiên của những kẻ nghiện thơ ca. Cô tên là Cecilia Gonzalez Pizano, một phụ nữ thông minh tuyệt đỉnh, có cảm tình cá nhân và tư tưởng tự do, sinh trưởng trong một gia đình bảo thủ nòi và có một trí nhớ siêu nhiên đối với thơ ca. Cô sống với bà dì quý phái không chồng trong một căn nhà kiểu thuộc địa giữa vườn cây vòi voi đối diện với cổng lớn của nhà trường. Lúc đầu, mối quan hệ chỉ bó hẹp trong các cuộc thi thơ, nhưng sau đó Cecilia trở thành người bạn quý thực sự của tôi, người thường cười ngặt nghẽo đến chết ngất và hay lẻn vào lớp học văn của thầy Calderon với sự tòng phạm của tất cả mọi người.

Thời ở Aracataca tôi đã từng mơ ước có cuộc sống tốt đẹp được ôm chiếc đàn phong cầm đi hát từ hội chợ này qua hội chợ khác và tôi cứ nghĩ đó là cách thức xưa nhất và hạnh phúc nhất để kể một câu chuyện. Nếu mẹ đã phải từ bỏ chiếc piano để có con và bố đã phải xếp chiếc đàn violon để có thể làm việc quần quật nuôi nấng chúng tôi thì tất nhiên đứa con lớn của hai người phải biết tấm gương đó để tránh bị chết đói vì âm nhạc. Việc tôi thỉnh thoảng tham gia vào ban nhạc của trường như là một ca sĩ hoặc là nhạc công chơi đàn ghi ta chẳng qua chỉ chứng tỏ rằng tôi có đôi tai biết thưởng nhạc để học đàn tốt hơn là thanh nhạc.

Không có một dịp kỷ niệm ngày lễ yêu nước hoặc một cuộc mít tinh trang trọng nào ở trường mà không có sự tham gia của tôi, cho dù dưới bất cứ hình thức nào. Đương nhiên, người cộng sự đắc lực của tôi bao giờ cũng là Guillermo Quevedo Zornosa, nhạc trưởng nổi tiếng của dàn nhạc thị trấn, tác giả của bài hát “Hoa mồng gà” được giới trẻ lúc bấy giờ rất yêu thích và không bao giờ thiếu trong mục lục của các đêm nhạc. Chủ nhật nào sau lễ Misa tôi cũng là một trong những người đầu tiên đi qua công viên để tham dự buổi hòa nhạc ngoài trời của ông mà thường bắt đầu bằng bản “La gazza ladra” và kết thúc bằng tiết mục đồng ca bản “Il trovatore” . Không bao giờ nhạc sĩ Quevedo được biết và tôi cũng không bao giờ dám nói với ông rằng ước mơ lúc bấy giờ của tôi là được như ông.

Khi nhà trường cần người xung phong đi học một lớp nhập môn âm nhạc thì Guillermo Lopez Guerra và tôi là những người đầu tiên giơ tay. Lớp học được tổ chức vào buổi sáng thứ Bảy do giáo sư Andres Pardo Tovar, nhạc trưởng của chương trình nhạc cổ điển đầu tiên của đài phát thanh Tiếng nói của Bogota phụ trách. Cả lớp không chiếm đến một phần tư phòng ăn có điều hòa nhiệt độ, nhưng ngay lập tức chúng tôi bị mê hoặc bởi đôi môi của một vị thánh. Ông là một người thực sự thanh lịch với bộ vét màu đen, giọng nói uốn lượn và cử chỉ chậm rãi. Chiếc máy hát quay tay, mà nếu xuất hiện bây giờ thì sẽ được coi là một thứ đồ cổ kỳ lạ, đã được ông điều khiển rất thành thạo với tình thương của một chuyên gia dạy hải cẩu. Vì coi chúng tôi như là những người mù nhạc, ông bắt đầu bằng bản Ngày hội hóa trang của những con vật của Saint-Sans với những lời giảng giải rất uyên thâm về cách sống của từng loài thú. Sau đó ông đánh những nốt nhạc Pedro và con sói của Prokófiev. Điều tệ hại của ngày hội sáng thứ Bảy ấy là nó đã dạy cho tôi rằng âm nhạc của những nhạc sĩ vĩ đại là một trò chơi bí ẩn và tôi phải mất nhiều năm nữa để không so sánh cực đoan giữa âm nhạc hay và âm nhạc dở.

Tôi không có dịp nào được tiếp xúc với thầy hiệu trưởng cho đến tận năm sau khi ông dạy môn hình học ở lớp thứ tư. Mười giờ sáng ngày thứ Ba đầu tiên ông bước vào lớp, nháy mắt chào nhưng không nhìn ai cả, dùng giẻ lau bảng sạch hết mọi bụi phấn. Rồi quay lại phía chúng tôi, chưa điểm danh đã hỏi ngay Alvaro Ruiz Torres:

- Thế nào là một điểm?

Trò chưa kịp trả lời thì vị giáo sư môn khoa học xã hội đã mở cửa thông báo với thầy hiệu trưởng là có điện khẩn của Bộ Giáo dục. Thầy hiệu trưởng vội đi trả lời điện thoại và không quay trở lại lớp học. Không bao giờ nữa, vì đó là cú điện thoại báo đã có người thay vị trí hiệu trưởng của ông, chức vụ mà ông đã đảm nhiệm một cách xuất sắc trong suốt năm năm.

Vị hiệu trưởng mới là nhà thơ Carlos Martin, người trẻ nhất trong số các nhà thơ tài ba thuộc nhóm Đá và Trời mà trước đây Cesar del Valle đã giúp tôi phát hiện ra khi còn ở Barranquilla. Ông mới ba mươi tuổi và là tác giả của ba cuốn sách mới được xuất bản. Tôi đã biết khá nhiều bài thơ của ông và đã một lần nhìn thấy ông trong một hiệu sách ở Bogota, nhưng lúc đó tôi không có cớ gì để hỏi chuyện ông và cũng không có sách của ông để xin chữ ký. Một hôm, vào thứ Hai, ông bỗng xuất hiện vào giờ nghỉ ăn trưa. Chúng tôi không nghĩ là ông sẽ đến sớm như vậy. Trông ông giống một luật sư hơn là một nhà thơ với áo sọc, trán cao và ria mép rậm như vẻ thơ của ông. Ông đi thẳng đến nhóm học sinh gần nhất, chìa tay cho chúng tôi:

- Xin chào, tôi là Carlos Martin.

Vào thời đó tôi rất say sưa đọc văn xuôi trữ tình mà Eduardo Carranza thường in trên chuyên mục văn học của báo El Tiempo và trên tạp chí Sabado. Tôi cho rằng thể loại này chịu ảnh hưởng của cuốn Con lừa Platero và tôi của Juan Ramon Jimenez (1881-1958, Nhà thơ Tây Ban Nha, giải Nobel văn chương năm 1956 - ND) lúc đó rất được các nhà thơ trẻ yêu chuộng. Nhà thơ Jorge Rojas nhờ được thừa hưởng một gia tài nho nhỏ nên đã bỏ tiền in các tập thơ của các nhà thơ khác và tập hợp họ thành một nhóm.

Các mối quan hệ ở trong trường cũng có thay đổi về cơ bản. Hình ảnh kỳ quái của thầy hiệu trưởng trước đã được thay bằng sự hiện diện mới cụ thể hơn tuy vẫn giữ một khoảng cách nhất định. Ông hủy bỏ những cuộc kiểm tra thông thường về những chuyện vệ sinh cá nhân và những quy tắc vô bổ khác và thỉnh thoảng còn nói chuyện với học sinh trong giờ nghỉ ban đêm.

Phong cách mới đã đặt tôi vào đúng phương hướng của mình. Có lẽ thầy Calderon đã nói về tôi với thầy hiệu trưởng nên ngay những đêm đầu tiên ông đã thăm dò mối quan hệ của tôi với thơ ca và tôi đã xổ hết tất cả những gì có ở trong đầu. Ông hỏi tôi đã đọc Kinh nghiệm văn chương chưa, một tác phẩm của Alfonso Reyes đang gây được tiếng vang lớn trên văn đàn. Tôi thú nhận là chưa và thế là ngày hôm sau ông đưa cho tôi. Tôi đọc ngấu nghiến phân nửa cuốn sách trong ba buổi học trên lớp liên tục và phần còn lại thì trong giờ nghỉ ở sân bóng đá. Tôi vui mừng thấy rằng một nhà phê bình văn học uy tín như vậy mà dành thời gian nghiên cứu kỹ lời các bài hát của Agustin Lara cũng ngang những bài thơ cổ điển của Garcilaso và chính ông đã nói như thế này: “Những bài hát được nhân dân ái mộ của Agustin Lara không phải là những bài hát dân gian”. Tôi như được gặp những bài thơ hòa tan trong món xúp của đời sống hàng ngày.

Martin đã bỏ phòng hiệu trưởng sang trọng và lập văn phòng của mình với cánh cửa rộng mở ngay trong vườn chính, gần hơn với những cuộc đàm đạo văn chương của chúng tôi sau bữa ăn tối. Một thời gian dài ông sống với vợ và các con trong một ngôi nhà cũ kỹ xây từ thời thuộc địa nhưng được giữ gìn bảo quản tốt ngay ở góc phố của quảng trường chính. Thư phòng của ông chứa đầy sách mà những độc giả quan tâm đến xu hướng đổi mới thời đó phải mơ ước. Những ngày cuối tuần bạn bè từ Bogota, đặc biệt những người thuộc nhóm Đá và Trời thường đến thăm ông tại ngôi nhà này. Một lần vào Chủ nhật tôi và Guillermo Lopez Guerra có việc phải đến nhà ông. Lúc này Eduardo Carranza và Jorge Rojas - hai ngôi sao tỏa sáng trên bầu trời thi ca, đang có mặt ở đó. Thầy hiệu trưởng ra hiệu nhanh cho chúng tôi ngồi xuống để không làm ngắt quãng cuộc nói chuyện. Hai chúng tôi ở đó suốt nửa giờ mà không hiểu một lời nào vì các nhà thơ đang bàn luận về cuốn sách của Paul Valéry - người mà trước đó chúng tôi chưa hề được nghe nói đến. Tôi đã thấy Carranza một lần ở hiệu sách và ở quán cà phê tại Bogota, tôi nhận ra ông ngay qua âm sắc và cách nói lưu loát rất hợp với phong cách của một nhà thơ trong bộ quần áo ngầu ngầu và bụi. Ngược lại, tôi chưa thể nhận ra ngay Jorge Rojar vì cách ăn mặc và dáng dấp của vị bộ trưởng, cho mãi đến khi Carranza gọi tên ông tôi mới biết. Tôi mong được chứng kiến một cuộc thảo luận về thơ ca giữa ba nhà thơ lớn nhất, nhưng việc đó đã không xảy ra. Cuối buổi nói chuyện, thầy hiệu trưởng đặt tay lên vai tôi và nói với các vị khách của ông:

- Đây là nhà thơ lớn của chúng ta.

Tất nhiên đó chỉ là lời tán dương lịch sự của ông nhưng tôi vẫn cảm thấy đột ngột. Carlos Martin bảo chúng tôi chụp bức ảnh chung với hai nhà thơ lớn, và đúng là ông đã chụp nhưng tôi không có lấy một tin tức gì về bức ảnh cho đến tận nửa thế kỷ sau tôi mới được thấy nó ở nhà bên bờ biển xứ Catalán nơi ông lui về hưởng những năm tháng hưu trí hạnh phúc.

Một làn gió đổi mới đã làm đảo lộn mọi thứ vốn được coi là nguyên tắc trong nhà trường. Đài thu thanh, thứ mà trước đây chúng tôi chỉ được dùng để mở nhạc phục vụ cho các cuộc khiêu vũ giữa đám đàn ông với nhau, nay dưới thời của Carlos Martin đã trở thành một phương tiện tuyên truyền xã hội và lần đầu tiên bọn tôi được nghe và bàn bạc về bản tin đài phát về đêm. Hoạt động văn hóa cũng được tăng cường với việc mở một trung tâm văn học và xuất bản một tờ báo. Khi chúng tôi lên danh sách những ứng cử viên có năng khiếu văn chương thì được một con số mà chúng tôi dùng đặt tên cho nhóm: trung tâm văn học Mười ba. Chúng tôi coi số này là một vận may vì nó thách thức với quan niệm mê tín bấy lâu nay. Đám học sinh này có sáng kiến quy định mỗi tuần chỉ gặp gỡ nhau một lần để nói chuyện về văn chương nhưng trên thực tế thì chúng tôi chẳng làm gì khác ngoài việc này mỗi khi có thời gian rỗi. Mỗi người tự mang những gì mình có đến đọc và để mọi người góp ý kiến. Tôi thường đọc các bài soneto (bài thơ xônê mười bốn câu và hai đoạn ba câu - ND) được ký dưới bút danh Javier Garcés không phải để chơi trội mà để tự giấu mình. Đó chỉ là những bài tập về kỹ thuật thơ ca không có cảm hứng và tham vọng gì cả, và cũng bởi không chắp cánh từ tâm hồn nên nó không có giá trị văn chương. Khởi đầu tôi chỉ bắt chước thơ của Quevedo, Lope de Vega và cả của Garcia Lorca - những tác giả của loại thơ tám chữ rất tự nhiên nên chỉ cần mào đầu xong là nó cứ tuôn ra tuồn tuột theo quán tính. Tôi đi khá xa trong chuyện bắt chước này đến mức tự đặt kế hoạch nhại lại theo thứ tự từng bài một cho đủ bốn mươi bài soneto của Garcilaso de la Vega. Tôi còn viết các bài thơ theo yêu cầu của các bạn học sinh nội trú để họ có quà tặng người yêu ngày Chủ nhật. Một trong những cô gái ấy còn cảm động đọc cho tôi nghe những vần thơ mà người tình đã tự nhận là viết tặng riêng cho cô.

Thầy Carlos Martin còn cho chúng tôi một nhà kho nhỏ trong vườn thứ hai của trường có cửa cài kín đáo. Chúng tôi gồm năm thành viên có nhiệm vụ chuẩn bị cho cuộc họp sắp tới. Không có ai trong số bốn người theo con đường văn chương sau này nhưng khi đó chúng tôi cũng hăm hở thử khả năng của từng người. Chúng tôi thảo luận về tác phẩm của người khác và tranh cãi quyết liệt, chọc tức nhau cứ y như trong một trận đá bóng. Một hôm, Ricardo Gonzalez Ripoll phải bỏ cuộc cãi vã đi ra ngoài thì gặp thầy hiệu trưởng đang ghé tai vào cửa lắng nghe cuộc tranh luận ồn ào. Chắc là ông tò mò vì trước đó ông không tin rằng chúng tôi dành thời gian rỗi cho văn học.

Cuối tháng Ba chúng tôi được tin thầy cựu hiệu trưởng - ngài Alejandro Ramos - đã tự sát bằng viên đạn bắn vào đầu mình ở Công viên quốc gia Bogota. Không ai tin là chỉ vì tính thích cô độc hay vì lý do mắc bệnh trầm cảm mà thầy đã tự tử ngay dưới tượng đài Tướng quân Rafael Uribe Uribe, một chiến binh đã từng tham gia bốn cuộc nội chiến và là một chính khách theo phái tự do đã bị một kẻ cuồng tín dùng rìu sát hại ngay ở vườn trong trụ sở Quốc hội. Một đoàn đại biểu của trường do thầy hiệu trưởng mới dẫn đầu đã tham gia tang lễ của thầy Alejandro Ramos. Sự kiện này được đánh dấu như lời chia tay với một thời kỳ đã qua.

Trong trường nội trú người ta ít quan tâm đến nền chính trị quốc gia. Hồi ở nhà ông bà ngoại, tôi thường nghe nói rằng sự khác nhau duy nhất giữa hai đảng sau cuộc chiến tranh Một ngàn ngày là những người theo phái tự do thì đi lễ Misa vào lúc năm giờ để không ai nhìn thấy còn những người bảo thủ đi lễ Misa vào lúc tám giờ để mọi người tin rằng họ sùng đạo. Tuy nhiên, sự khác nhau thực sự bắt đầu được thấy rõ ba mươi năm sau đó khi đảng Bảo thủ mất chính quyền và các vị tổng thống thuộc phái tự do đầu tiên tìm cách mở cửa đất nước cho luồng gió mới của thế giới thổi vào.

Đảng Bảo thủ, bị đánh bại vì chính quyền độc đoán của họ đã trở nên gỉ sét, tìm cách quét dọn và sắp xếp lại giang sơn của họ dưới ánh hào quang xa vời của Mussolini ở Italia và dưới bóng sương mù của tướng Franco ở Tây Ban Nha; trong khi đó ở nhiệm kỳ đầu tiên, tổng thống Alfonso Lopez Pumarejo với đội ngũ trợ lý trẻ trung thông thái, đã cố gắng tạo điều kiện cho chủ nghĩa tự do hiện đại phát triển mà có lẽ cũng không hình dung ra rằng họ đã hoàn thành thuyết định mệnh lịch sử chia chúng tôi thành hai nửa giống như cách chia của thế giới vậy. Đó là điều không thể chối cãi được. Trong một cuốn sách do các thầy cho mượn tôi tìm thấy một câu nói được cho là của Lênin: “Nếu bạn không tham gia vào chính trị thì cuối cùng chính trị cũng lôi bạn vào”.

Tuy nhiên, sau bốn mươi sáu năm bá quyền trong hang động của các vị tổng thống bảo thủ, lúc này hòa bình mới có thể được bắt đầu thiết lập lại. Ba vị tổng thống trẻ trung với đầu óc hiện đại đã mở ra triển vọng tự do có thể xóa tan được làn sương mù của quá khứ. Alfonso Lopez Pumarejo - nhân vật xuất sắc nhất trong ba vị tổng thống - là người có tư tưởng cải cách triệt để và được tái cử nhiệm kỳ hai vào năm 1942 mà tưởng như không có gì có thể làm thay đổi được nhịp độ những người lãnh đạo mới này. Như vậy là trong năm đầu tiên của tôi ở trường, lũ chúng tôi bị bưng bít mọi tin tức về cuộc chiến tranh ở châu Âu và chỉ luẩn quẩn với những thành tựu của nền chính trị quốc gia. Báo chí không bao giờ thâm nhập được vào trong giảng đường của chúng tôi, trừ những trường hợp đặc biệt bởi vì chúng tôi không có thói quen nghĩ đến nó. Lúc đó không có đài bán dẫn, và chiếc đài thu thanh duy nhất có tiếng là cổ lỗ sĩ, lại ở trong phòng của các thầy giáo và chỉ mở với âm lượng thật to vào lúc bảy giờ tối để mọi người khiêu vũ mà thôi. Còn lâu chúng tôi mới nghĩ được rằng chính lúc đó cuộc chiến tranh đẫm máu nhất của đất nước chúng tôi đang được ấp ủ.

Làn gió chính trị đã bất ngờ ập vào trong từng ngóc ngách của trường. Chúng tôi chia làm hai nhóm tự do và bảo thủ, và lần đầu tiên chúng tôi mới biết ai ở về phái nào. Lúc đầu, việc gia nhập nhóm này xảy ra trong nội bộ của trường và diễn ra khá thân mật nhưng dần dần đã xuất hiện dấu hiệu của tình trạng chán nản về tâm lý. Những căng thẳng đầu tiên ở trong trường rất khó nhận biết, nhưng rõ ràng là ảnh hưởng của đội ngũ các thầy giáo vốn không hề che giấu tư tưởng của mình do Carlos Martin đứng đầu là khá lớn. Nếu thầy hiệu trưởng mới không bộc lộ rõ ràng mình thuộc đảng nào thì tối thiểu ông cũng cho phép mở to đài thu thanh cho mọi người nghe tin tức buổi tối và từ đó tin tức chính trị được nghe nhiều hơn chương trình nhạc nhảy. Người ta còn nói, tuy chưa được kiểm chứng, là trong phòng làm việc của thầy hiệu trưởng còn treo ảnh chân dung của Lênin hoặc của Marx.

Kết quả của bầu không khí kỳ lạ đó lại là trái đắng duy nhất - một cuộc nổi loạn đã xảy ra trong trường. Từ trong ký túc xá, một trận mưa gối và giày sổ ra ào ào. Tôi không xác định được nguyên nhân từ đâu, nhưng nhớ lại - và một số bạn học thời ấy cũng đồng ý - là do một vài trích đoạn trong cuốn tiểu thuyết Cantaclaro của Romulo Gallegos được đọc to trong buổi tối hôm đó. Đúng là một cuộc chiến cãi lộn kỳ quặc.

Được cấp báo, thầy Carlos Martin bước vào ký túc xá, đi từ đầu này đến đầu kia mấy vòng. Tất cả chìm trong im lặng từ khi ông xuất hiện. Sau đó, nổi cơn độc đoán, một điều ít thấy ở ông, Carlos Martin ra lệnh cho tất cả chúng tôi mặc quần áo ngủ phải ra khỏi ký túc xá tập hợp xếp hàng trong sân trường giá lạnh. Ở đó, ông tuôn ra trước chúng tôi một bài phát biểu dài lòng thòng và sau đó cho phép chúng tôi lần lượt về ký túc xá ngủ tiếp. Đó là vụ lộn xộn duy nhất thời học ở trường phổ thông mà tôi còn ghi nhớ mãi.

Mario Convers, một học viên năm thứ sáu, rủ chúng tôi làm một tờ báo khác hẳn với loại báo thông thường ở các trường khác. Một trong những người đầu tiên mà anh ta tiếp xúc chính là tôi và tôi tự thấy nên chấp thuận lời đề nghị làm trưởng ban biên tập dù chưa hình dung ra công việc sẽ ra sao. Công việc chuẩn bị cuối cùng cho ngày tờ báo ra đời lại trùng hợp với sự kiện tổng thống Lopez Pumarejo bị một nhóm sỹ quan cao cấp thuộc Lực lượng vũ trang bắt giam ngày 8 tháng 7 năm 1944 khi đang đi thăm chính thức các tỉnh phía Nam. Câu chuyện do chính ông kể lại sau đó cho những nhà nghiên cứu là rất hấp dẫn vì chính ông cũng chỉ biết việc mình bị bắt cóc sau khi đã được thả tự do. Thực như đời thật nên vụ đảo chính ở Pasto được coi là một trong vô số những sự kiện khôi hài nhất trong lịch sử Colombia.

Alberto Lleras Camargo, trên cương vị tổng thống tạm quyền bằng giọng nói ngọt nhạt thông qua Đài phát thanh quốc gia đã ru ngủ cả nước trong mấy tiếng đồng hồ cho đến khi tổng thống Lopez Pumarejo được thả tự do và lập lại trật tự. Tình trạng giới nghiêm với việc kiểm duyệt báo chí khá gắt gao đã được thiết lập triệt để. Những dự báo về tình hình đất nước rất mù mờ. Những thế lực bảo thủ đã cầm quyền từ khi đất nước giành được độc lập từ Tây Ban Nha năm 1819 vẫn không chứng tỏ sẵn sàng tự do hóa đất nước. Những người thuộc phái tự do với nòng cốt là trí thức trẻ đang say sưa với quyền lực mà điển hình là Jorge Eliecer Gaitán, một nhân vật có máu tự do triệt để nhất. Ông là một trong những người anh hùng chống lại vụ đàn áp ở vùng trồng chuối mà thời niên thiếu tôi đã từng khâm phục. Bà ngoại tôi rất kính phục Gaitán nhưng hơi băn khoăn vì thấy quan điểm của ông trùng hợp với quan điểm của những người cộng sản. Tôi đã đứng ngay sau lưng ông trên ban công ở quảng trường Zipaquirá khi ông đọc bài diễn văn làm choáng váng lòng người. Hồi đó, tôi rất có ấn tượng về cái đầu hình quả dưa hấu, mái tóc cứng và làn da đặc trưng của dân thổ cư cùng với giọng nói vang vọng có âm hưởng của dân Bogota rất khó quên của ông. Trong bài diễn văn của mình, ông không hề nhắc đến phái tự do hay bảo thủ, cũng không hề nói về kẻ bóc lột và người bị bóc lột như những nhà chính trị gia khác mà chỉ nói về những người nghèo khổ và những tập đoàn tư bản lũng đoạn. Đó là những từ ngữ mới lần đầu tiên tôi được nghe thấy nhắc đi nhắc lại trong từng câu và sau đó tôi phải vội tìm nghĩa trong từ điển.

Jorge Eliecer Gaitán là một luật sư tài năng, người học trò xuất sắc của nhà nghiên cứu, chuyên gia tội phạm học người Italia Enrico Ferri. Ở đó ông cũng học được nghệ thuật diễn thuyết của Mussolini và một chút ít về phong cách kịch khi đứng trên bục diễn thuyết. Đối thủ trong cùng đảng của ông là Gabriel Turbay - một bác sĩ y khoa có kiến thức hiểu biết uyên thâm và lịch duyệt - người vẫn thường đeo đôi kính gọng vàng nhỏ nhắn có dáng vẻ thư sinh như diễn viên điện ảnh. Trước đó không lâu, trong một đại hội của đảng Cộng sản ông đã ứng khẩu một bài diễn văn làm khán giả vô cùng ngạc nhiên và khiến không ít thành viên cùng đảng tư sản với ông lo lắng. Nhưng ông vẫn tin rằng mình không phát ngôn hay làm điều gì trái với phương hướng mục tiêu của phái tự do cũng như hệ ý thức quý tộc của mình. Sự gần gũi của ông đối với nền ngoại giao Nga đã manh nha từ năm 1936 khi ông đang là đại sứ của Colombia ở Italia mà ở đó ông đã thiết lập mối quan hệ với Liên Xô. Bảy năm sau, khi đang là đại sứ của Colombia ở Mỹ ông đã chính thức hóa mối quan hệ với Liên Xô.

Ông có mối quan hệ tốt với đại sứ quán Liên Xô tại Bogota và có một số người bạn đang giữ vị trí lãnh đạo trong đảng Cộng sản Colombia đến mức có thể lập liên minh bầu cử với phái tự do, điều mà người ta nói khá nhiều lúc bấy giờ nhưng chưa bao giờ thành sự thật. Cũng vào thời gian ông đang làm đại sứ ở Mỹ, có khá nhiều tin đồn rằng ông là người yêu của một nữ minh tinh màn bạc tầm cỡ ở Hollywood - có lẽ là Joan Crawford hoặc là Paulette Goddard - nhưng không bao giờ ông chịu từ bỏ cuộc sống độc thân.

Giữa những người ủng hộ Gaitán và những người ủng hộ Turbay đã có thể tạo thành một đa số thuộc phái tự do và có thể mở một hướng mới trong đảng này, nhưng riêng trong một nhóm đơn độc thì không thể nào đánh bại được đảng bảo thủ đoàn kết và được vũ trang.

Tập san văn học của chúng tôi xuất hiện đúng vào những ngày đen tối nhất. Chúng tôi đã in xong số đầu tiên với tám trang khổ lớn khá đẹp. Carlos Martin và Carlos Julio Calderon là những người hăng hái nhất và trong giờ nghỉ hai người vẫn còn bàn luận về một số bài viết. Bài quan trọng nhất là do Carlos Martin viết theo yêu cầu của chúng tôi trong đó thầy hiệu trưởng đặt vấn đề cần phải có ý thức chống lại tệ buôn bán quyền lợi Nhà nước, chống lại những chính khách dây leo và đầu cơ đang ngăn trở bước tiến tự do của đất nước. Bài này được chúng tôi cho in cùng tấm ảnh lớn của ông trang trọng ngay trên trang nhất.

Trong tập san đó còn có bài viết của Convers viết về tính Tây Ban Nha trong văn hóa và một bài văn xuôi trữ tình của tôi với bút danh Javier Garcés. Convers còn thông báo với chúng tôi là bạn bè của anh ở Bogota rất hăng hái và có khả năng họ sẽ tài trợ thêm để tập san của chúng tôi ngày một thêm lớn mạnh và có khả năng trở thành một tờ báo chung giữa các trường.

Số đầu tiên chưa kịp phát hành thì xảy ra vụ đảo chính ở Pasto. Đúng hôm người ta tuyên bố tình trạng khẩn cấp thì ông thị trưởng của Zipaquirá dẫn đầu một trung đội vũ trang ập vào trường, tịch thu toàn bộ số báo chúng tôi đã chuẩn bị phát hành.

Hành động đó không khác gì một cuộc tấn công trong phim, có thể là do một đơn tố cáo nào đó từ trong trường về tờ báo có nội dung lật đổ chế độ. Cùng ngày hôm đó, từ văn phòng tổng thống nước Cộng hòa gửi công văn xuống báo là tờ báo đã được in ra mà không thông qua các cơ quan kiểm duyệt khi đất nước đang trong tình trạng thiết quân luật và Carlos Martin đã bị cách chức hiệu trưởng mà không có lý do.

Quyết định này được coi là ngu xuẩn vì nó khiến cho chúng tôi cảm thấy bị hạ nhục và hoàn toàn bất lực. Số lượng báo in ra chưa đến hai trăm bản chỉ vừa đủ tặng bạn bè, nhưng họ giải thích với chúng tôi là vẫn phải qua kiểm duyệt vì hiện tình hình đất nước đang hết sức rối ren. Giấy phép bị rút lại chờ cho đến khi có lệnh mới mà thực tế là không bao giờ có nữa.

Phải hơn năm mươi năm sau Carlos Martin mới nói với tôi để đưa vào cuốn hồi ký những bí mật của sự kiện vô lý đó. Đúng hôm Tập san văn học bị tịch thu thì Carlos Martin bị chính vị Bộ trưởng Bộ Giáo dục - Antonio Rocha - người đã bổ nhiệm ông trước đây, gọi lên văn phòng ở Bogota và yêu cầu ông phải từ chức hiệu trưởng. Carlos Martin thấy ông ta có một bản tập san văn học được đánh dấu bằng mực đỏ tất cả những câu có hàm ý muốn lật đổ chế độ. Bài xã luận của Carlos Martin, của Mario Convers và thậm chí một số bài thơ của tác giả nổi tiếng khác cũng bị nghi là viết dưới dạng mật mã. “Nếu bị gạch dưới theo dụng ý xấu xa kiểu này thì đến Kinh thánh cũng có thể mang hàm ý ngược lại ý nghĩa đích thực của nó”, Carlos Martin giận dữ nói to đến mức vị Bộ trưởng dọa sẽ cho gọi cảnh sát đến. Carlos được bổ nhiệm làm giám đốc tạp chí Thứ bảy mà một người trí thức như ông có thể coi là lên chức. Tuy nhiên, ông vẫn có cảm tưởng mình là nạn nhân của một âm mưu thuộc phái hữu. Ông còn bị mưu sát trong một quán cà phê ở Bogota và suýt phải bỏ mạng. Sau đó, vị Bộ trưởng mới đã bổ nhiệm ông vào chức vụ luật sư trưởng phòng pháp chế của bộ và ông đã hoàn thành xuất sắc sự nghiệp của mình để được thanh thản hưởng những năm tháng hưu trí giữa rừng sách trong căn nhà tĩnh lặng của mình ở Tarragona.

Dù không liên quan đến cuộc đảo chính Pasto và sự kiện Tập san văn học, nhưng Carlos Martin vẫn bị cách chức hiệu trưởng và người thay thế ông là thầy Oscar Espitia Brand, một nhà giáo chuyên nghiệp, một nhà vật lý có uy tín. Sự thay thế này gây nên nhiều mối hoài nghi trong trường nội trú. Sự dè dặt của tôi đối với ông được thể hiện ngay từ lời chào đầu tiên vì tôi cảm thấy rờn rợn khi ông có vẻ để ý đến mái tóc dài kiểu thi sĩ và bộ ria mép người rừng của tôi. Ông tỏ vẻ cứng rắn và nghiêm khắc mỗi khi nhìn thẳng vào mắt người khác. Tôi càng giật mình hơn khi biết tin ông sẽ là thầy dạy môn hóa hữu cơ của lớp tôi.

Một chiều tối thứ Bảy, khi chúng tôi vừa xem được nửa cuốn phim thì từ loa phóng thanh có tin báo một học sinh của trường bị chết. Vì quá xúc động nên tôi không còn nhớ tên phim là gì. Người chết là một học sinh năm thứ hai, mười bảy tuổi, vừa mới đến từ thành phố Pasto xa xôi, gần biên giới giáp nước láng giềng Ecuador. Anh ta đột ngột bị tắt thở khi đang chạy - một hình phạt của thầy giáo thể dục đối với những học sinh lười biếng. Đó là trường hợp học sinh bị chết duy nhất trong suốt thời gian tôi ở trường và gây nên cú sốc lớn không chỉ trong nhà trường mà cả toàn thành phố. Bạn học chọn tôi là người đọc điếu văn trong lễ an táng. Ngay buổi tối hôm đó, tôi xin gặp thầy hiệu trưởng mới để đưa ông duyệt bài điếu văn và khi bước vào văn phòng của ông, tôi lại rùng mình y như lần gặp thầy cựu hiệu trưởng đã chết. Thầy Espitia đọc bản thảo của tôi với nét mặt buồn thảm và thông qua mà không hề có ý kiến gì, nhưng khi tôi đứng lên định bước ra thì thầy lại ra hiệu ngồi xuống. Thầy đã đọc các bài văn và thơ của tôi trong số rất nhiều bài mà lũ bạn bè tôi vẫn chuyền tay nhau trong giờ nghỉ giải lao và bản thân ông cũng đã từng nhìn thấy một số bài đáng được đăng trong một phụ trương văn học. Tôi vừa định cố lấy lại bình tĩnh thì ông đã nói rõ mục đích của mình. Ông khuyên tôi sửa lại mái tóc thi sĩ vì nó không phù hợp với những người đứng đắn, tỉa tót lại bộ ria và không mặc áo chim cò sặc sỡ - những thứ chỉ phù hợp với lễ hội hóa trang mà thôi. Tôi chưa bao giờ chờ đợi lời khuyên tương tự và may mà tôi đủ bình tĩnh để không đáp lại ông bằng một lời hỗn xược nào. Ông lấy giọng của kẻ bề trên để giải thích cho tôi hiểu về nỗi lo sợ của mình là cách ăn mặc của tôi, một học sinh có tiếng là lãng mạn hệt như thi sĩ, có thể khiến các em học sinh nhỏ tuổi hơn bắt chước. Bước ra khỏi văn phòng ông hiệu trưởng, lòng tôi vẫn còn đầy ấn tượng về sự hiểu biết của ông đối với các thói quen cũng như với tài làm thơ của tôi và trong buổi lễ tang trịnh trọng này, tôi cũng sẵn sàng thay đổi bộ dạng, cách ăn mặc của mình để làm vui lòng thầy hiệu trưởng. Chính vì vậy tôi coi việc gia đình đề nghị hủy bỏ các nghi thức tang lễ là một thất bại của cá nhân mình.

Phút cuối thật là rùng rợn. Ai đó đã phát hiện ra rằng phía trong tấm kính đậy nắp quan tài đang để ở thư viện trường hình như có nước đọng lại. Theo đề nghị của gia đình, Alvaro Ruiz Torres đã mở tấm kính lên và xác nhận mặt phía trong kính có đọng nước. Khi dò tìm hơi nước thoát ra từ đâu trong hòm được bịt kín mít, ngón tay của anh ta ấn nhẹ vào ngực và xác chết bỗng phát tiếng kêu than ghê rợn. Gia đình liền cho rằng chàng trai trẻ vẫn còn sống cho đến lúc bác sĩ giải thích rằng khi phổi bỗng bị tắc nghẹn đường hô hấp thì nó vẫn giữ bên trong một lượng hơi nhất định và nó sẽ bị đẩy bật ra ngoài nếu ta ấn tay vào ngực. Mặc dù có cách chẩn đoán đơn giản như vậy hoặc chính vì điều đơn giản này mà có một số người lại sợ rằng anh thanh niên sẽ bị chôn sống. Và cuối năm thứ tư, tôi đi nghỉ hè trong tâm trạng như vậy, tôi muốn thuyết phục để cha mẹ cho phép thôi không đi học nữa.

Về đến thành phố Sucre dưới làn mưa phùn mỏng tang, tôi nhận thấy hình như bến cảng có nhiều thay đổi so với ký ức của tôi. Quảng trường nhỏ hơn và trần trụi hơn so với hình ảnh trong trí nhớ của tôi, nhà thờ và những hàng cây bàng bị chặt trụi cành vàng vọt dưới ánh đèn điện. Những dây hoa đủ màu sắc treo khắp phố báo hiệu mùa Giáng sinh sắp đến, nhưng tôi xao xuyến như mọi khi và tôi không nhận ra ai quen biết trong số những người ít ỏi che dù đứng đợi ở bến tàu cho mãi đến khi tôi đi qua bên cạnh một người bỗng nghe thấy giọng nói thân quen không thể lẫn vào đâu được:

- Chuyện gì thế này?

Đúng là giọng bố tôi, chỉ có điều ông hơi gầy đi một chút. Ông không còn vận bộ đồ vải thô màu trắng thời trai trẻ nữa mà mặc chiếc quần giản dị với chiếc sơ mi ngắn tay và đội chiếc mũ rộng vành. Cùng đi có em Gustavo chín tuổi phổng phao khiến tôi không nhận ra.

Căn nhà vẫn giữ nguyên vẻ nghèo hèn ngày xưa, và bữa ăn tối dọn ra sớm sủa hình như để báo cho tôi biết đây chính là nhà mình, ngoài ra không còn một căn nhà nào khác. Bên bàn ăn, tim mọi người muốn vỡ ra khi biết tin em Ligia đã trúng xổ số. Câu chuyện - do chính em kể - bắt đầu khi mẹ mơ thấy ông ngoại bắn chỉ thiên một phát súng để đuổi tên trộm định vào ăn cắp ở nhà cũ của chúng tôi tại Aracataca. Mẹ kể lại giấc mơ này vào buổi sáng, trong bữa điểm tâm theo thói quen của gia đình và đề nghị mua một vé số có số cuối là bảy vì con số này trông giống khẩu súng lục của ông ngoại. Tờ vé số đó mẹ phải mua chịu, định bụng sẽ dùng ngay tiền thưởng để trả nợ, nhưng nó lại không trúng. Ligia, lúc đó mười một tuổi, xin bố ba mươi xu để trả nợ tấm vé số không trúng và thêm ba mươi xu khác để thử vận may lần nữa trong tuần tiếp theo với một số lạ: 0207.

Em Luis Enrique đã giấu tấm vé số đi để hù dọa Ligia, nhưng chính anh chàng lại rơi vào cảnh vô cùng hoảng sợ vì ngày thứ Hai tuần lễ tiếp theo cô em gái chạy về nhà hét toáng lên như một con điên là mình đã trúng xổ số. Trò đùa nghịch của Luis Enrique đem lại hậu quả hết sức tai hại là chính nó lại quên không nhớ đã giấu tấm vé số ở đâu, và trong cuộc kiếm tìm mù quáng, mọi người đã phải lục tung tủ đựng quần áo, tất cả mọi hòm xiểng, dốc ngược cả nhà lên từ phòng khách đến các phòng vệ sinh. Nỗi lo lắng dâng cao đến tột đỉnh khi biết rằng phần thưởng lên đến 770 peso.

Còn tin xấu chính là việc bố mẹ đã đưa em Luis Enrique đến trường cải tạo Fontidueno - ở Medellin - mà hai người cứ tin đó chỉ là trường để giáo dục trẻ em hư hỏng chứ đâu có biết trên thực tế nó chính là một nhà tù để cải tạo bọn tội phạm thanh thiếu niên và những kẻ bị coi là đối tượng nguy hiểm với cộng đồng xã hội.

Chính bố là người đưa ra quyết định cuối cùng, sau cái lần sai đứa con trai bướng bỉnh đi thu nợ của một hiệu thuốc, nhưng thay vì đưa tám đồng peso mà người ta trả về nhà thì nó lại mua một chiếc đàn ghi ta thuộc loại tốt và học chơi đàn rất thành thạo. Bố không nói gì khi thấy chiếc đàn ở nhà, nhưng vẫn nhắc Luis đi đòi nợ còn nó thì luôn miệng nói là bà chủ cửa hàng thuốc không có tiền trả. Hai tháng sau, Luis Enrique thấy bố vừa đàn vừa hát một bài tự sáng tác: “Nhìn đây này, ta đang chơi chiếc đàn giá tám đồng peso”.

Không bao giờ chúng tôi biết được vì sao bố tìm ra nguồn gốc của chiếc đàn và tại sao bố làm ngơ trước trò lừa đảo của đứa con trai, nhưng Luis đã phải trốn khỏi nhà cho đến khi mẹ xoa dịu được cơn giận của bố. Vào thời gian ấy, lần đầu tiên chúng tôi nghe thấy bố đe dọa sẽ gửi Luis Enrique đến trường cải tạo ở Medellin, nhưng không ai chú ý đến những lời này vì trước đó bố cũng đã từng tuyên bố là sẽ gửi tôi vào học ở chủng viện Ocana, không phải vì muốn trừng phạt tôi mà chỉ để gia đình vinh hạnh có một linh mục. Nhưng chưa kịp thực hiện bố đã quên phắt ý định đó rồi. Tuy vậy, chiếc đàn ghi ta mà Luis mua là một giọt nước làm tràn ly.

Để vào được trường cải huấn bắt buộc phải có quyết định của thẩm phán chuyên xét xử trẻ vị thành niên. Nhưng bố đã giải quyết được việc này qua việc nhờ vả bạn bè, tức là nhờ cha Garcia Benitez, Tổng giám mục thành phố Medellin viết cho bức thư giới thiệu. Trong khi đó, Luis Enrique một lần nữa lại tỏ ra là đứa trẻ ngoan ngoãn khi vui vẻ để người ta đưa đi như đi dự hội vậy.

Nghỉ hè mà không có Luis Enrique thì thật vô vị. Em có thể chơi đàn như nhạc công chuyên nghiệp trong một dàn nhạc với Filadelfo Velilla - anh thợ may tài ba đồng thời là một tay chơi ghi ta cự phách và tất nhiên cả với nhạc sĩ bậc thầy Valdes. Khi rời khỏi những buổi khiêu vũ của đám người giàu có, bọn nhạc công chúng tôi thường bị một đám đông các cô gái từ bóng tối của công viên ào ra tấn công bằng những lời mời mọc hấp dẫn. Khi đi gần một cô, mà chắc là không phải thuộc nhóm trên đây, tôi hỏi lầm là có chịu đi với mình không và cô đã đáp lại bằng câu trả lời hợp lý đến mẫu mực là không thể được vì chồng đang ngủ ở nhà. Tuy vậy, hai đêm sau cô báo cho tôi là sẽ không cài then cửa ra vào nhà một tuần ba lần để tôi có thể vào mà không cần bấm chuông vào những lúc chồng cô không có nhà.

Tuy vẫn nhớ họ và tên, nhưng tôi thích gọi cô bằng cái tên thuở ấy: Nigromanta. Đến lễ Giáng sinh thì cô vừa tròn hai mươi tuổi. Cô có vóc dáng của người Etiopia với nước da màu ca cao. Cô là người tình vui vẻ trên giường, dễ lên cơn cực khoái gập ghềnh đau đớn và có bản năng yêu đương không giống con người tý nào mà đó chính là một dòng sông nổi loạn cuồn cuộn thác. Ngay từ trận chiến đầu tiên, chúng tôi đã gần như là những kẻ điên rồ trên giường. Chồng của cô - giống như Juan Breva - có thân hình khổng lồ và giọng nói của bé gái. Trước đây ông ta là thượng sĩ của lực lượng cảnh sát ở miền Nam Colombia và đã khét tiếng là kẻ giết người thuộc phái tự do không hề run tay chỉ để trình độ bắn súng của mình không bị xuống cấp. Họ sống trong một căn phòng được chia đôi bằng một tấm vách ngăn với một cửa ra vào trổ ra phía đường phố và một cửa khác hướng ra phía nghĩa địa. Những người hàng xóm than phiền rằng cô ta thường khuấy đảo bầu không khí yên tĩnh của nghĩa trang bằng tiếng rên của con chó cái sung sướng, nhưng tiếng rên càng mạnh mẽ bao nhiêu thì những người chết càng hạnh phúc bấy nhiêu vì đã được cô làm cho xốn xang cả lên.

Trong tuần đầu tiên tôi đã phải trốn khỏi phòng vào lúc bốn giờ sáng vì chúng tôi tính đã nhầm ngày bởi viên sĩ quan có thể trở về bất cứ lúc nào. Tôi đi ra bằng cái cửa trổ ra phía nghĩa địa dưới ánh lửa chập chờn và tiếng chó sủa bệnh hoạn. Ở chiếc cầu tre thứ hai tôi thấy một hình khối khổng lồ đang tiến lại mà tôi chỉ nhận biết khi chúng tôi vượt qua nhau. Đúng là viên thượng sĩ. Nếu chỉ lưu lại thêm năm phút thôi là ông ta đã bắt gặp tôi ở ngôi nhà đó rồi.

- Xin chào, anh bạn da trắng - ông ta thân mật nói với tôi.

Tôi bối rối đáp lại:

- Xin Chúa phù hộ cho ông, thưa ngài thượng sĩ.

Ông ta dừng lại để xin lửa. Tôi quẹt diêm và đứng sát vào ông ta để che lửa. Khi điếu thuốc đã cháy, ông ta lùi ra rồi nói với tôi đầy vẻ khó chịu:

- Người cậu sặc mùi đĩ thõa vẫn chưa tan hết.

Nỗi sợ hãi kéo dài ngắn hơn thời gian mà tôi chờ đợi, vì thứ Ba tuần sau đó tôi lại ngủ quên và khi vừa mở mắt ra tôi đã thấy tình địch đang đứng ở chân giường im lặng nhìn tôi. Nỗi sợ hãi khủng khiếp làm tôi ngột thở. Cô tình nhân của tôi cũng trần như nhộng đang định đứng chắn lối giữa ông ta và tôi, nhưng viên thượng sĩ đã dùng nòng súng rulô gạt cô ta sang một bên.

- Cô không được can dự vào đây - ông ta nói. - Cuộc tranh chấp trên giường phải giải quyết bằng đạn chì.

Ông ta đặt khẩu súng rulô lên bàn, mở nắp một chai rượu rum và để nó bên cạnh khẩu súng rồi chúng tôi ngồi đối diện nhau cùng uống mà không nói lời nào. Tôi không hình dung ra mình phải làm gì, nhưng nghĩ rằng nếu ông ta định giết mình thì đã làm luôn rồi chứ việc gì phải vòng vo như thế này. Một lát sau, Nigromanta xuất hiện, người quấn tấm vải trải giường, vẻ dương dương tự đắc như đi hội. Ông ta chĩa súng vào phía cô ta.

- Đây là một cuộc quyết đấu giữa hai người đàn ông - ông ta nói với cô.

Cô ta nhảy lùi về phía sau và biến mất sau tấm vách.

Khi chúng tôi uống hết chai rượu đầu tiên thì cơn mưa lớn cũng vừa ập đến. Ông ta mở nắp chai thứ hai, dí nòng súng ngắn vào chính thái dương mình và trân trối giương cặp mắt lạnh tanh nhìn tôi. Ông bóp cò thật, nhưng chỉ nghe tiếng lẩy cò khô khốc. Cố lắm tôi mới giữ hai tay khỏi run để đón nhận khẩu súng do ông ta đưa.

- Bây giờ tới lượt mày - ông nói với tôi.

Đây là lần đầu tiên tôi cầm một khẩu súng và rất ngạc nhiên thấy nó nặng và nóng đến như vậy. Tôi không biết phải làm gì.

Người toát mồ hôi lạnh và bụng thì nóng cồn lên. Tôi muốn nói một điều gì đó, nhưng không làm sao mở miệng ra nổi. Tôi không có ý định bắn ông ta mà chỉ muốn trả lại súng cho ông ấy mà không hiểu ra rằng đó là cơ hội duy nhất của mình.

- Sao, mày ỉa ra quần rồi à? - Ông ta hỏi với vẻ khinh miệt hả dạ. - Đáng lý mày phải cân nhắc kỹ việc này trước khi đến đây.

Lẽ ra tôi đã phải nói với ông ta rằng thằng đàn ông nào chẳng có lúc ỉa ra quần, nhưng tôi tự thấy mình không đủ dũng khí chơi cái trò đùa chết người ấy. Ông ta liền tháo ổ đạn móc ra một vỏ đạn vứt lên bàn. Tôi chẳng thấy nhẹ nhõm đi chút nào mà chỉ thấy vô cùng xẩu hổ và nhục nhã.

Đến bốn giờ thì trời bớt mưa. Cả hai chúng tôi đều mệt bã người vì căng thẳng nên không thể nhớ được vào lúc nào thì ông ta lệnh cho tôi mặc quần áo và tôi đã tuân theo với vẻ trịnh trọng của cuộc thách đấu. Chỉ khi tôi ngồi xuống mới thấy chính ông ta đang khóc. Cả một bể nước mắt,không có vẻ gì ngượng ngập gì, cứ như thể ông ta muốn khoe hồ nước mắt của mình trước thiên hạ. Cuối cùng ông ta lấy mu bàn tay lau nước mắt và dùng hai ngón tay hỉ mũi rồi đứng dậy.

- Mày có biết tại sao mày còn sống nhăn để ra về không? - ông hỏi tôi. Và ông tự trả lời - Bởi vì bố mày là người duy nhất đã chữa khỏi cho tao căn bệnh lậu chó má mà suốt ba năm trước không ai làm được.

Ông đưa bàn tay đàn ông vỗ vào lưng và đẩy tôi ra phố. Trời vẫn mưa, cả thị trấn chìm trong nước nên tôi phải đi trong dòng suối ngập đến đầu gối và ngây ngất trong niềm vui vì vẫn còn được sống.

Tôi không rõ vì sao mẹ lại biết cuộc cãi lộn vừa qua, nhưng những ngày sau đó, mẹ bắt đầu chiến dịch ngăn không cho tôi đi khỏi nhà vào ban đêm. Mẹ đã dùng cách dò la không mấy hiệu quả để ngăn tôi cũng như đã từng ngăn bố. Mẹ tìm mọi dấu hiệu chứng tỏ tôi đã cởi quần áo khi ở ngoài phố, ngửi dò mùi nước hoa ở những nơi không có; nấu cho tôi những món khó tiêu trước khi đi ra phố theo quan điểm mê tín dân gian cho rằng người chồng và con trai không dám làm tình khi bụng đầy anh ách. Cuối cùng, vào cái đêm mà không còn lý do gì để giữ tôi ở nhà được nữa, mẹ liền ngồi trước mặt tôi rồi nói:

- Người ta nói là con đang quấn quýt với vợ một tay cảnh sát nên ông ta thề là sẽ cho con một phát đạn vào đầu.

Tôi cố thanh minh là chuyện đó không đúng, nhưng tin đồn này vẫn tiếp tục râm ran. Nigromanta vẫn nhắn tôi là cô ấy ở nhà một mình, rằng chồng đi công vụ, rằng lâu lắm không thấy ông ấy về nhà. Tôi luôn tìm mọi cách tránh mặt ông ta, nhưng ông ấy lại thường chào tôi từ xa với một động tác mà tôi có thể hiểu là thể hiện ý định hòa giải, cũng có thể hiểu là một lời đe dọa. Trong kỳ nghỉ năm sau đó tôi gặp ông ấy lần cuối cùng trong một đêm nhảy múa và ông đã mời tôi một ly rượu rum mà tôi không dám từ chối.

Tôi không hiểu vì trò ma thuật gì mà trước đây các thầy giáo và bạn học vẫn coi tôi là một học sinh ngơ ngơ ngẩn ngẩn thế mà vào năm thứ năm họ lại bắt đầu nhìn tôi như một nhà thơ bất đắc dĩ rơi rớt lại của bầu không khí thân tình thời hiệu trưởng Carlos Martin. Không biết có phải vì để cho mình giống với hình ảnh đó không mà tôi bắt đầu hút thuốc lá, từ lúc mười lăm tuổi khi còn ở trong trường trung học. Lần hút đầu tiên thật là kinh khủng. Tôi mất nửa đêm cho chó ăn chè trên sàn nhà vệ sinh. Sáng dậy người rã rời, nhưng cơn mệt mỏi vì say thuốc không làm tôi kinh sợ mà lại khiến tôi thèm hút tiếp. Và thế là tôi bắt đầu nghiện thuốc lá đến mức không thể nghĩ ra một câu nào nếu trong miệng nhạt phèo không khói thuốc. Ở trường trung học lũ chúng tôi chỉ được phép hút thuốc trong khi ra chơi, nhưng tôi cứ phải xin đi tiểu hai hoặc ba lần trong mỗi buổi học để hút cho đã cơn nghiền. Đã có lúc một ngày tôi hút hết ba bao thuốc lá, và có khi đến bốn bao tùy theo công việc vào ban đêm. Đã có thời kỳ, sau khi tốt nghiệp phổ thông, tôi đã cảm thấy phát cuồng lên vì họng thì khô, xương cốt thì nhức mỏi. Tôi đã quyết chí bỏ thuốc lá nhưng chỉ được không quá hai ngày là đâu lại hoàn đó.

Tôi không biết có phải vì chính lý do đó không mà tôi đã nhúng tay vào văn xuôi với nhiệm vụ ngày càng mạo hiểm của giáo sư Calderon và vào các cuốn sách lý luận văn học mà ông bắt tôi đọc. Ngày hôm nay, khi ôn lại đời mình, tôi nhớ lại rằng quan niệm về truyện ngắn của tôi khá đơn giản, sơ đẳng mặc dù lúc đó tôi vô cùng kinh ngạc khi đọc Nghìn lẻ một đêm. Tôi đã nghĩ rằng những điều kỳ lạ mà nàng Sêhêrazat kể là có thật trong đời thường vào thời đó, và sau này không còn xảy ra nữa vì người ta không tin và cũng vì sự hèn nhát của phái hiện thực chủ nghĩa của các thế hệ tiếp theo. Cũng vì lẽ đó, tôi thấy ngày nay khó có ai lại tin rằng mình có thể ngồi trên các tấm thảm bay qua các thành phố và núi rừng, hoặc là tin có những người nô lệ bị phạt nhốt trong chai suốt hai trăm năm trừ phi tác giả của truyện ngắn đủ khả năng làm độc giả tin vào điều mình viết như vậy.

Tôi chán ngán tất cả các giờ học, trừ môn văn - mà tôi đã học thuộc lòng - và phó thác kết quả việc học hành cho may rủi. Tôi có được bản năng bẩm sinh để có thể linh cảm thấy những điểm lạnh giá của từng môn học và gần như đoán trước được những gì các thầy quan tâm để bỏ qua không học những môn khác. Trên thực tế, đó là vì tôi không hiểu rõ tại sao phải hy sinh tài năng và thời gian vào những môn học mà mình không đam mê và chẳng phục vụ gì cho một cuộc sống không phải là của chính mình.

Tôi nghĩ rằng phần lớn các thầy giáo đã chấm điểm cho tôi vì lối sống hơn là vì thực lực qua các bài kiểm tra. Họ đã cứu những câu trả lời ngẫu hứng, những việc điên rồ và những bịa đặt vô lý của tôi. Tuy vậy, khi kết thúc năm học thứ năm, đứng trước những bước nhảy học vấn mà mình tự cảm thấy không thể nào vượt qua được, tôi nhận ra những mặt hạn chế của mình. Những năm học cấp ba của tôi là quãng đường phủ đầy những điều kỳ diệu, nhưng trái tim nhắc nhở tôi rằng cuối năm học thứ năm sẽ có bức tường lớn chờ đợi tôi. Sự thật là tôi bắt đầu thiếu ý chí, nguyện vọng, mệnh lệnh, tiền bạc và hiểu biết chính tả để có thể đi hết sự nghiệp đèn sách. Nói đúng hơn: năm tháng bay qua nhanh và tôi chưa hề có một ý niệm tối thiểu nào về công việc mà mình sẽ làm trong đời, rồi sẽ phải trải qua rất nhiều thời gian nữa để tôi mới có thể nhận thức được rằng tình trạng thất bại này là hoàn toàn phù hợp, bởi vì không có điều gì trong thế giới này và thế giới bên kia mà không có ích đối với một nhà văn.

Tình hình đất nước cũng không có gì cải thiện. Bị sức ép của phe đối lập hung bạo thuộc các lực lượng bảo thủ phản động, Alfonso Lopez Pumarejo phải tuyên bố từ chức tổng thống vào ngày 31 tháng 7 năm 1945. Ông Alberto Lleras Camargo được Quốc hội cử ra đảm nhiệm chức tổng thống năm cuối cùng của nhiệm kỳ. Trong bài diễn văn nhậm chức, với giọng nói khô khan và giọng văn đầy cá tính, ông Lleras đã bắt đầu làm nhiệm vụ rất ảo tưởng là làm dịu tâm trạng bực tức của nhân dân cả nước để chuẩn bị cho cuộc bầu cử tổng thống mới.

Qua sự trung gian của Đức ngài López Lleras - em họ vị tổng thống mới - thầy hiệu trưởng của trường được yết kiến tổng thống với mục đích xin chính phủ giúp đỡ trường tổ chức chuyến du khảo nghiên cứu ở vùng bờ biển Đại Tây Dương. Tôi không hiểu tại sao thầy hiệu trưởng lại chọn tôi cùng đi với điều kiện phải tỉa tót lại bộ tóc rối và bộ ria rậm. Những người được mời khác là Guillermo Lopez Guerra - người quen của tổng thống và Alvaro Ruiz Torres - cháu họ của Laura Victoria, một nữ thi sĩ nổi tiếng với những vần thơ mạnh bạo thuộc thế hệ Những người Mới, trong đó bao gồm cả tổng thống Lleras Camargo. Tôi không còn lựa chọn nào khác: trong cái đêm mà Guillermo Granados đọc một cuốn tiểu thuyết không liên quan gì đến tôi, thì một anh chàng với trình độ thợ học cắt tóc ở năm thứ ba đã cắt cho cho tôi một mái tóc kiểu tân binh và tỉa cho tôi bộ ria của giới nghệ sĩ tango. Suốt cả tuần lễ tôi phải cố nín nhịn trước những lời trêu chọc của các bạn trong và ngoài trường nội trú về kiểu râu tóc mới. Chỉ nghĩ đến việc đặt chân vào Dinh tổng thống tôi đã cảm thấy máu trong người đông cứng lại, nhưng đó chỉ là sai lầm của con tim, bởi vì dấu hiệu duy nhất biểu hiện bí ẩn của quyền lực mà chúng tôi thấy ở đó chỉ là sự im lặng như trên thiên cung. Sau một lát chờ đợi ở phòng chờ, chúng tôi được một viên sĩ quan mặc quân phục dẫn đến văn phòng của tổng thống.

Lleras Camargo không giống lắm với ảnh. Tôi rất ấn tượng với chiếc lưng hình tam giác khoác bộ áo vải gabadin Anh quốc rất đẹp với đôi gò má cao, làn da trắng xanh, hàm răng của những đứa trẻ nghịch ngợm mà các họa sĩ hài thường vẽ, với cử chỉ chậm rãi và cách bắt tay nhìn thẳng vào mắt khách của tổng thống. Tôi không nhớ là trước đó tôi đã hình dung các vị tổng thống ra sao, nhưng tôi thấy có lẽ không phải tất cả các vị đó đều giống như ông Lleras Camargo. Sau này, khi đã hiểu về ông hơn, tôi nhận ra là có lẽ chính ông cũng không bao giờ biết rằng mình chỉ là một nhà văn bị lạc lối.

Sau khi chăm chú lắng nghe thầy hiệu trưởng đưa ra những lời bình luận phù hợp, tổng thống vẫn chưa vội quyết định mà tiếp tục nghe ý kiến của ba học sinh. Ông vẫn chăm chú như vậy. Và chúng tôi rất thích vì được ông đối xử thân mật và tôn trọng như đối với thầy hiệu trưởng. Chỉ hai phút sau cùng cũng đủ cho chúng tôi tin chắc rằng ông hiểu về thơ ca sâu hơn việc đi tàu trên sông và đúng là ông thích thơ ca hơn.

Ông đã đáp ứng tất cả những đề nghị của chúng tôi và ngoài ra còn hứa bốn tháng sau sẽ về dự lễ bế giảng năm học của trường nữa. Và đúng là ông đã về dự như tham gia một hoạt động nghiêm túc khác của chính phủ, và ông là người cười nhiều hơn ai hết khi chúng tôi diễn tặng ông vở hài kịch. Trong buổi chiêu đãi cuối cùng, ông cũng vui chơi thoải mái như một học sinh với một hình ảnh hoàn toàn khác, và ông cũng không cưỡng lại nỗi ham thích kiểu học trò được bước một chân vào con đường dẫn đến với những ly rượu dù mới trước đó ông còn muốn lẩn tránh.

Với niềm hứng khởi của lễ bế giảng năm học, sau năm học thứ năm tôi về nghỉ hè với gia đình. Cùng lúc đó tôi nhận được tin vui đầu tiên là em Luis Enrique cũng đã được về nhà sau một năm và sáu tháng ở trại cải huấn. Một lần nữa tôi lại kinh ngạc vì tính tình của nó. Nó không hề oán giận bất cứ ai về việc đã bị đưa đi cải huấn và kể lại những nỗi khổ ải ở đó với giọng điệu khôi hài vui vẻ. Trong thời gian ở trại, nó suy nghĩ kỹ và đi đến kết luận là việc bố mẹ gửi nó đến trại cũng vì mục đích tốt đẹp. Tuy được vị giám mục bảo vệ nhưng nó cũng không thoát khỏi những thử thách khắc nghiệt của đời sống hàng ngày trong nhà tù, rất may là điều này đã không làm nó hư hỏng thêm mà ngược lại còn làm phong phú thêm cá tính và khiếu hài hước của nó.

Công việc đầu tiên sau khi Luis Enrique trở về là chức thư ký của tòa thị chính Sucre. Thời gian sau, ông thị trưởng bị một cơn rối loạn tiêu hóa bất ngờ và ai đó khuyên ông dùng một toa thuốc thần diệu mua ở ngoài chợ Alkaseltzer. Ông thị trưởng quên không hòa nó vào trong nước mà lại uống như các thứ thuốc thông thường khác và may phúc là ông đã không bị ngạt thở vì tình trạng sủi bọt khủng khiếp trong dạ dày. Mặc dù chưa hết sợ, nhưng ông vẫn phải nghỉ mấy ngày. Vì lý do chính trị, người ta đã không chọn những vị phó hợp pháp lên tạm thay ông mà lại cho em tôi giữ chức quyền thị trưởng. Vì điều kỳ cục này - một người chưa đủ tuổi theo quy định - mà Luis Enrique được ghi vào lịch sử thị trấn như vị thị trưởng trẻ tuổi nhất.

Trong kỳ nghỉ đó, điều duy nhất làm tôi thực sự băn khoăn chính là việc gia đình thực lòng đặt tương lai của cả nhà vào tôi và chỉ có tôi mới biết chắc chắn kỳ vọng đó là hoàn toàn ảo tưởng. Chỉ hai hoặc ba câu mà bố vô tình nói ra giữa buổi ăn cơm cũng đủ cho tôi thấy ông muốn nói rất nhiều về số phận chung của chúng tôi và mẹ thì vội vàng khẳng định lại điều đó. “Nếu mọi việc cứ tiếp diễn như thế này - mẹ nói - thì sớm hay muộn chúng ta phải quay về Cataca thôi” . Nhưng một ánh mắt nhìn thật nhanh của bố đã làm mẹ sửa lại:

- Hoặc sẽ phải đến bất cứ nơi nào.

Thế là rõ: khả năng lại di chuyển đến bất cứ nơi nào đã là một đề tài được lên kế hoạch sẵn trong gia đình và không phải do nguyên nhân bầu không khí đạo đức mà vì tương lai mở rộng hơn cho con cái. Cho đến lúc đó, tôi vẫn tự an ủi với ý nghĩ là mình có thể đóng góp cho thị trấn, cho mọi người và kể cả cho gia đình để vượt lên những thất bại vẫn thường đeo bám. Nhưng nỗi bức xúc của bố lại một lần nữa cho tôi thấy là bao giờ người ta cũng có thể gặp được một kẻ làm lỗi để cho bản thân mình không mắc phải.

Điều mà tôi linh cảm thấy trong bầu không khí gia đình còn nặng nề hơn. Hình như mẹ chỉ còn biết quan tâm đến sức khỏe của Jaime, đứa con út vẫn chưa vượt qua được tình trạng sinh thiếu tháng. Phần lớn thời gian trong ngày mẹ nằm với nó trên võng trong buồng ngủ, mệt lả vì nỗi buồn và cái nóng hầm hập. Cả nhà cũng như lây căn bệnh ủ rũ mệt mỏi của mẹ. Các em tôi không còn được mẹ chăm sóc chu đáo như thường ngày. Thứ tự các bữa ăn giờ đây linh động đến mức chúng tôi có thể ăn bất cứ lúc nào thấy đói mà chẳng cần theo giờ giấc gì nữa. Bố, vốn là người quan tâm đến gia đình nhất trong số những người đàn ông, thì suốt ngày ngắm quảng trường thị trấn từ trong hiệu thuốc của mình và buổi chiều tối thường chơi mấy ván bi-da ở câu lạc bộ. Đến một ngày không chịu nổi sự căng thẳng, tôi đến ngồi bên cạnh mẹ trên võng và hỏi bà về điều bí ẩn gì đang bao trùm bầu không khí trong nhà. Mẹ nén tiếng thở dài để giọng nói khỏi run và cởi hết tâm hồn với tôi:

- Bố con có một đứa con hoang ngoài đường phố đấy.

Nhận thấy vẻ thanh thản trong giọng nói của mẹ tôi hiểu ngay bà đã mong chờ câu hỏi của tôi biết bao lâu nay. Mẹ phát hiện ra sự thật nhờ vào linh cảm của lòng ghen tuông khi nghe đứa con gái vừa về đến nhà đã xúc động báo là đã thấy bố đang nói chuyện điện thoại ở ngoài trạm điện tín. Với một người phụ nữ hay ghen thì chỉ cần thế là đủ. Cả thị trấn có duy nhất một chiếc điện thoại và chỉ dùng để gọi đường dài, phải đăng ký trước rồi chờ đợi khá thất thường, giá cả lại rất đắt nên người ta chỉ dùng trong trường hợp thật khẩn cấp. Mỗi cú điện thọai, dù đơn giản đến đâu cũng làm cái cộng đồng tinh quái trong thị trấn phải tò mò. Khi bố trở về nhà mẹ theo dõi từng li từng tý nhưng không nói câu nào cho đến khi bố lấy trong túi rồi xé nát một tờ giấy đòi kiện ông ra tòa vì tội lạm dụng nghề nghiệp. Mẹ chờ đúng dịp này để hỏi ông đã nói chuyện với ai qua điện thoại. Câu hỏi quá rõ nên bố phải nói ngay sự thật:

- Anh nói chuyện với một vị luật sư.

- Việc đó thì em biết rồi - mẹ nói. - Cái mà em cần là anh phải thẳng thắn nói sự thật vì em xứng đáng được biết điều đó.

Sau này mẹ thú nhận rằng lúc đó chính bà là người rất sợ cái sảy nảy cái ung, rằng bố dám nói ra sự thật bởi vì tưởng là mẹ đã biết hết. Hoặc là bố buộc phải kể hết ra.

Bố tự thú là đã nhận được tin có người kiện ông về tội lạm dụng trong khi khám bệnh cho một nữ bệnh nhân nghiện ma túy bằng cách tiêm quá liều morphin. Việc này đã xảy ra ở một vùng hẻo lánh nơi ông chỉ đến chữa bệnh cho những người nghèo trong một thời gian ngắn. Và ngay lập tức, ông tự chứng tỏ mình là người thành thật: màn kịch về chất gây mê và hiếp dâm chỉ là thủ đoạn bẩn thỉu của kẻ thù, nhưng đứa bé trai thì đúng là con ông và việc thụ thai diễn ra trong hoàn cảnh thông thường.

Mẹ không dễ dàng dẹp bỏ được vụ bê bối bởi vì trong bóng tối một kẻ nào đó có quyền lực đang điều khiển âm mưu này. Đã có tiền lệ là trường hợp hai anh chị Abelardo và Carmen Rosa, con riêng của bố cũng đã từng sống chung với chúng tôi đôi ba lần và được tất cả mọi người yêu mến. Nhưng dù sao thì họ cũng đã sinh ra trước khi mẹ kết hôn với bố. Tuy vậy, mẹ cũng đã vượt qua lòng căm ghét tầm thường để cố nuốt trôi quả đắng về vụ đứa con mới và vụ ngoại tình của chồng. Bà đã sát cánh cùng chồng và kiên trì chiến đấu cho đến khi đánh tan âm mưu vu cáo hiếp dâm của đám tiểu nhân.

Sự bình yên đã trở lại với gia đình. Tuy nhiên, không lâu sau từ vùng xa xôi đó lại dậy lên những tin đồn về một đứa con gái của một bà mẹ khác mà bố cũng đã chấp nhận là con mình và hiện đang sống trong hoàn cảnh hết sức nghèo khổ. Mẹ không để mất thời gian trong việc kiện tụng hay nghi ngờ mà đấu tranh quyết liệt để đưa bằng được đứa bé gái đó về nhà mình. “Thì cũng như bà ngoại đã làm với bao nhiêu người con mà ông ngoại để vương vãi khắp nơi - mẹ nói - và bà đã không bao giờ phải hối hận”. Và mẹ đã tự mình tìm mọi cách buộc người ta phải gửi đứa bé gái đến mà không gây ra điều tiếng ầm ỹ công khai gì vì mọi việc được giải quyết xong trong nội bộ gia đình đông đúc này rồi.

Những chuyện này cũng chìm vào quá khứ cho đến khi, trong một đám hội ở một thị trấn khác, em Jaime gặp một cậu bé giống hệt Gustavo, một đứa em khác của tôi. Đó chính là đứa con hoang của bố trong vụ kiện ngày nào nay đã lớn trong vòng tay mẹ nó. Mẹ tôi lại làm mọi cách để đưa được nó về sống chung một mái nhà - khi gia đình chúng tôi đã có đến mười một người. Mẹ đã giúp nó học nghề và tự kiếm sống. Lúc ấy, tôi không giấu nổi sự ngạc nhiên, một người phụ nữ hay ghen bóng ghen gió lại làm được những việc như vậy. Chính mẹ đã đáp lại tôi bằng một câu nói mà từ thời đó đã được tôi coi như vàng như ngọc:

- Đó là dòng máu của cha các con nên không thể để nó sống lay lắt ở đâu đó được.

Tôi chỉ gặp các em mình trong các kỳ nghỉ cuối năm học. Sau mỗi chuyến đi tôi lại càng khó nhận ra chúng. Ngoài tên khai sinh, tất cả chúng tôi đều có tên khác để hàng ngày dễ gọi trong gia đình. Ngay từ khi mới sinh tôi đã có tên Gabito - tên tắt bất quy tắc của Gabriel - và tôi luôn nghĩ đó là tên cúng cơm của mình.

Tuy là người rất phóng khoáng, nhưng mẹ lại có thái độ ngược lại với hai đứa con gái lớn, Margot và Aida. Với các em gái này, mẹ áp dụng quyền uy của mình hết sức ngặt nghèo hệt như bà ngoại đã làm với mẹ trong mối tình bướng bỉnh với bố trước đây. Mẹ cũng muốn chuyển cả gia đình đi thị trấn khác. Bố vốn là người không cần nghe nói đến lần thứ hai chuyện chuyển nhà đã chuẩn bị xong hành lý và sẵn sàng rong ruổi trên mọi nẻo đường, nhưng lần này thì ngược lại, ông không chịu đi. Phải mấy ngày sau tôi mới biết lý do của mẹ đó là do chuyện yêu đương của hai cô con gái lớn, họ đang yêu say đắm hai người đàn ông, tất nhiên là khác nhau nhưng lại trùng một tên Rafael. Khi được bố mẹ báo tin, tôi không nén được cười và nhớ lại ngay thiên tiểu thuyết kinh hoàng mà hai người đã phải chịu đựng trước đây; tôi liền nói điều đó với mẹ.

- Không hề giống nhau - mẹ nói với tôi.

- Thì cũng hệt như vậy thôi - tôi nhấn mạnh.

- Ừ, thì giống - mẹ chép miệng - nhưng lại hai đứa cùng một lúc cơ chứ.

Cũng giống như chuyện tình trước đây của mẹ, lý do và mục đích đều không có ý nghĩa gì cả. Không hiểu tại sao bố mẹ lại biết chuyện bởi vì em nào cũng cố tìm mọi cách đề phòng không để bị lộ. Nhưng cả hai lại không thể ngờ nhân chứng chính là những người em thơ ngây mà thỉnh thoảng họ dẫn đi cùng. Điều kinh ngạc nữa là bố cũng tham gia vào việc theo dõi, tuy không phải là trực tiếp, nhưng cũng với thái độ chống đối thụ động như trước đây ông ngoại đã từng làm với con gái của mình.

“Chúng tôi đi khiêu vũ và bố tôi sẵn sàng kéo chúng tôi về nhà ngay nếu phát hiện thấy có bóng dáng các anh Rafael ở đó”, Aida Rosa đã kể lại như vậy trong một cuộc họp báo. Bố mẹ không cho phép hai em đi chơi ở miền quê hoặc là đi xem phim, hoặc phải sai người đi kèm không rời mắt một bước. Mỗi em lại cố bịa ra những cớ khác nhau, dù là vô ích để đi đến nơi hò hẹn yêu đương, và ở đó thế nào cũng có một bóng ma vô hình theo dõi rồi tố giác chúng. Ligia, em gái ít tuổi hơn hai chị chính là đứa đã theo dõi và tố giác, nhưng chính nó lại tự bào chữa bằng lý do là sự ghen tuông giữa anh chị em cũng là biểu hiện khác của tình thương yêu.

Trong kỳ nghỉ đó tôi cố thuyết phục bố mẹ đừng lặp lại sai lầm của ông bà ngoại trước đây đối với mẹ, và họ luôn tìm được lý do khó mà chấp nhận đề nghị ấy. Vấn đề đáng sợ nhất là những tờ rơi kích bác để lộ những bí mật ghê sợ - thật hoặc là bịa đặt - ngay trong những gia đình ít ngờ nhất. Người ta kể ra những chuyện ông bố có con rơi con vãi, những vụ ngoại tình trơ trẽn, chuyện chăn gối - những chuyện mà mọi người đều tỏ tường bằng con đường dễ dàng là những tờ rơi. Nhưng chưa bao giờ thấy có ai lên án điều mà mình không biết dù nó được che giấu kỹ lưỡng đến đâu hoặc là sớm muộn gì cũng xảy ra. “Những tờ rơi là do chính mỗi tự người làm ra”, một trong những nạn nhân đã nói như vậy.

Điều mà bố mẹ không lường trước được chính là hai cô con gái đã dùng đúng cái cách thức của các bậc tiền bối để tự bảo vệ mình. Bố mẹ đã gửi em Margot đi học ở thị trấn Montería và em Aida thì tự quyết định đi Santa Marta. Cả hai đứa đều ở trường nội trú, và trong những ngày tự do vẫn có người được nhờ từ trước đi theo giám sát hai chị em, nhưng thường chúng đều tìm được cách để bắt liên lạc với hai anh chàng Rafael ở nơi xa. Tuy nhiên, mẹ đã đạt được mục tiêu trong việc dạy hai cô con gái cái điều mà ông bà ngoại trước đây đã không làm được với mẹ. Aida đã phải trải qua gần nửa cuộc đời trong tu viện, ở đó em đã sống những ngày dài nhạt nhẽo đến mức tự cảm thấy mình được cứu thoát khỏi lũ đàn ông. Margot và tôi vẫn tiếp tục giữ mãi những kỷ niệm tuổi thơ chung khi tôi phải canh chừng người lớn để em được ăn đất thoải mái. Cuối cùng, em Margot trở thành như người mẹ thứ hai của tất cả chúng tôi, đặc biệt là đối với Cuqui là đứa cần đến em nhất và ở bên cạnh nó đến tận hơi thở cuối cùng.

Cho đến tận hôm nay tôi mới nhận thức được rằng tình trạng tâm lý của mẹ và những mối quan hệ căng thẳng trong gia đình lúc đó là hậu quả của các điều kiện chết chóc trên đất nước, tuy không bộc lộ ra ngoài nhưng vẫn âm ỉ tồn tại. Tổng thống Lleras đáng lý phải tổ chức cuộc tuyển cử vào năm tới, nhưng tương lai lại rất mù mịt. Những người bảo thủ đã đánh đổ được tổng thống Lopez và họ lại chơi trò hai mặt với người thay thế ông này: nịnh hót tính không thiên vị kiểu toán học của ông nhưng lại kích động sự bất hòa giữa các tỉnh để tạo điều kiện cho họ giành lại chính quyền bằng con đường hợp pháp hoặc bằng vũ lực.

Trước đây thị trấn Sucre đã từng nằm ngoài vòng xoáy bạo lực, và một vài vụ việc xảy ra khiến người ta còn nhớ đến thì đều không liên quan gì đến chính trị. Trước tiên phải kể đến vụ giết hại Joaquín Vega, một nhạc công chơi kèn bombardino (một loại kèn đồng kiểu cổ - ND) rất được hâm mộ trong các dàn nhạc địa phương. Hôm đó họ đang biểu diễn suất bảy giờ tối trước cửa ra vào của rạp chiếu phim, thì một người họ hàng của địch thủ đã cho Vega một nhát dao duy nhất vào cổ, đúng lúc đang phồng to vì thổi kèn. Nạn nhân ngã vật ra máu tươi trào ra lênh láng trên sàn. Cả hung thủ và nạn nhân đều được mọi người trong thị trấn yêu mến và cách giải thích duy nhất, tuy không được xác minh, là vì chuyện danh dự. Cũng đúng giờ đó, mọi người đang tổ chức sinh nhật cho em Rita của tôi, và tin xấu gây chấn động này đã phá tan buổi liên hoan vốn được dự định kéo dài trong nhiều giờ.

Một cuộc thách đấu khác, xảy ra trước và để lại dấu ấn không phai mờ trong trí nhớ của người dân trong thị trấn là giữa Plinio Balmaceda và Dionisiano Barrios. Plinio Balmaceda là thành viên của một gia đình theo lối sống cổ, rất đáng kính. Ông là một người cao lớn và bảnh bao, nhưng thường gây gổ với người chung quanh mỗi khi quá chén. Khi tỉnh táo, ông có dáng vẻ và cái duyên dáng lịch thiệp của một hiệp sĩ, nhưng một khi đã uống rượu quá đà thì trở thành một tay khoái chơi vũ khí và với chiếc roi quất ngựa ông ta sẵn sàng đánh vào bất cứ ai thấy gai mắt. Đến cảnh sát cũng phải lánh xa ông ta. Các thành viên của gia đình khả kính ấy, quá mệt mỏi vì phải lôi ông ta về nhà sau những bữa nhậu không còn biết trời đất là gì, cũng phó mặc ông ta cho vận may rủi.

Dionisiano Barrios thì ngược lại hẳn: là một người nhút nhát và nghèo khó, ghét cãi lộn và không nhấp môi vào ly rượu từ khi lọt lòng. Ông chưa bao giờ có chuyện mắc mớ với bất cứ ai, cho đến khi Plinio Balmaceda bắt đầu khiêu khích, nhục mạ tình cảnh nghèo khó của ông. Nhưng ông cố tránh mặt cho đến ngày Balmaceda gặp ông trên đường, lấy roi quất vào mặt ông chỉ vì thích làm như vậy. Dionisiano vượt qua tính nhút nhát, tật gù lưng và số phận hẩm hiu của mình đối mặt với kẻ gây hấn. Đó là một cuộc thách đấu tức thì, cả hai đều bị thương nặng sau đó Dionisiano bị chết.

Nhưng cuộc thách đấu lịch sử ở thị trấn là vụ gây ra hai cái chết gần như cùng lúc của chính Plinio Balmaceda và Tasio Anamías, viên thượng sĩ cảnh sát có tiếng là liêm khiết, người con mẫu mực của Mauricio Ananías, nhạc công chơi trống trong chính cái dàn nhạc mà Joaquin Vega thổi kèn. Đó là một cuộc đấu súng chính thức, diễn ra ngay trên đường phố làm cả hai bị trọng thương và cùng trong tình trạng hấp hối kéo dài. Plinio tỉnh lại trước và lập tức quan tâm đến số phận của Ananías. Ông này, về phần mình cũng rất xúc động khi biết Plinio đang lo lắng cầu nguyện cho ông. Mỗi người đều bắt đầu cầu Đức Chúa đừng để đối phương bị chết, và gia đình phải thường xuyên thông báo tin tức của nhau khi họ còn tỉnh táo. Cả thị trấn hồi hộp theo dõi, tìm mọi cách để kéo dài hai cuộc sống đó.

Sau bốn mươi tám giờ tranh đấu với tử thần, trong thị trấn vang lên tiếng chuông nhà thờ cầu hồn cho một người phụ nữ vừa qua đời. Cả hai kẻ hấp hối đều nghe thấy tiếng chuông, mỗi người nằm trên giường mình lại nghĩ rằng tiếng chuông đó là lời nguyện hồn cho người kia. Ananías đau buồn, trút hơi thở cuối cùng vì ý nghĩ về cái chết của Plinio. Biết được tin này, hai ngày sau đó, Plinio cũng chết luôn vì khóc thương thượng sĩ Ananías.

Trong một thị trấn gồm toàn bạn bè hòa khí như ở Sucre, nạn bạo lực trong những năm đó được thể hiện trong một dạng ít gây chết chóc nhưng cũng không kém phần tác hại: đó là những tờ rơi. Sự khiếp sợ còn nặng nề hơn trong những gia đình lớn mà cứ mỗi sáng mai lại chờ đợi xuất hiện một tờ rơi nói về nhà mình y như trò xổ số của số phận. Ở những nơi ít ngờ nhất, cứ sáng ra người ta lại thấy có dán một tờ giấy trừng phạt, mà một số cảm thấy nhẹ người vì nó không đả động gì đến mình và thậm chí có kẻ còn vui mừng ngấm ngầm vì nó nói về người khác. Bố tôi, người mà tôi cho là hiền lành nhất trong số những người quen biết, đã lau dầu khẩu súng ngắn chưa bao giờ nhả đạn, đã thốt lên ngay giữa phòng chơi bi-da:

- Kẻ nào dám động đến bất cứ đứa con gái nào của tao - ông thét to - thì sẽ được hưởng một viên đạn chì.

Một số gia đình đã phải chuyển đi nơi khác vì sợ rằng những tờ rơi sẽ là khúc dạo đầu của làn sóng bạo lực do cảnh sát phát động trên khắp các thị tứ trong nước để làm cho phái chống đối phải hoảng loạn.

Căng thẳng đã trở thành chuyện thường ngày ở huyện. Lúc đầu người ta còn tổ chức các đội dò la không hẳn là để tìm ra tác giả của tờ rơi mà chủ yếu là để biết nội dung trước khi nó bị xé bỏ vào buổi sáng sớm hôm sau. Nhóm qua đêm của chúng tôi đã gặp một nhân viên thị trấn đang ngồi uống nước giải khát ở cửa nhà mình vào lúc ba giờ sáng, thực ra ông ta đang rình những kẻ đi dán tờ rơi. Em tôi nói vài câu bông đùa với ông ta nhưng những người khác thì nói thật. Ông ta liền rút súng ngắn ra, nhắm thẳng vào cả đám chuẩn bị bóp cò:

- Nhắc lại xem nào!

Lúc đó chúng tôi mới biết tối hôm trước có kẻ đã dán tờ rơi nói xấu đứa con gái chưa chồng của ông ta. Mặc dù những tình tiết nói trong tờ rơi mọi người đều biết cả, nhưng ngay trong nhà cô ta người duy nhất không biết gì chính là ông bố.

Lúc đầu rõ ràng những tờ rơi do một người viết, với nét bút và loại giấy giống hệt nhau, nhưng trong khu thương mại nhỏ ở quảng trường chỉ có một cửa hàng bán giấy bút mà ông chủ thì đã chứng minh được sự vô tội của mình. Ngay từ thời đó tôi đã biết rồi thế nào mình cũng sẽ viết được một cuốn tiểu thuyết không phải về nội dung của những tờ rơi vì đó là chuyện nhảm nhí ai cũng biết cả mà về tình hình căng thẳng mà nó đã gây nên trong mọi gia đình.

Trong Giờ xấu, cuốn tiểu thuyết thứ ba được tôi viết hai mươi năm sau đó, những sự việc cụ thể và chính xác đã không được sử dụng đơn giản vì lý do lịch sự, mặc dù một số sự kiện có thật còn ly kỳ hấp dẫn hơn những chuyện tôi bịa ra nhiều. Hơn nữa việc này cũng không cần thiết bởi vì tôi luôn luôn quan tâm đến sự kiện xã hội chứ không phải là chuyện đời riêng của các nạn nhân. Chỉ sau khi cuốn tiểu thuyết đã được xuất bản, tôi mới biết rằng ở vùng ngoại ô nơi chúng tôi - những công dân khu trung tâm thị trấn vốn được coi là những kẻ hư hỏng - sinh sống, việc xuất hiện nhiều tờ rơi lại là lý do của những đêm hội.

Sự thật là những tờ rơi chỉ được tôi dùng như điểm xuất phát của cốt truyện bởi vì khi viết ra tôi cũng đồng thời chứng minh rằng gốc rễ vấn đề những tờ rơi là chính trị chứ không đơn thuần đạo đức như người ta vẫn tưởng. Thời đó tôi luôn nghĩ rằng người chồng của Nigromanta sẽ là một hình mẫu tốt cho viên quận đội trưởng trong Giờ xấu, nhưng trong quá trình xây dựng nhân vật này tôi cứ bị cám dỗ, lôi cuốn theo con người thật của ông ta nên không có lý do gì để giết chết nó; bởi vì tôi đã phát hiện ra rằng một nhà văn nghiêm túc không thể giết chết một nhân vật nếu không có lý do đủ sức thuyết phục và viên quận đội trưởng ấy không rơi vào trường hợp này.

Ngay bây giờ tôi nhận thấy chính cuốn tiểu thuyết này đã có thể là một cuốn khác. Tôi viết nó khi đang ở trong một khách sạn dành cho sinh viên trên đường Cujas trong khu La-tinh của thành phố Paris, chỉ cách đại lộ Saint Michel có một trăm mét, vào những ngày khốn khổ đợi chờ tấm séc không bao giờ đến. Viết xong, tôi liền cuộn lại và dùng ba chiếc cà-vạt của thời hoàng kim của mình buộc nó lại rồi chôn nó dưới đáy tủ đựng quần áo.

Hai năm sau khi đã ở thành phố Mexico tôi không còn nhớ nó ở đâu nữa thì được người ta mời gửi nó đến dự thi giải thưởng tiểu thuyết của hãng Esso Colombia với tiền thưởng là hai ngàn đô la, một gia tài lớn vào thời đó. Người nhắn tin chính là nghệ sĩ nhiếp ảnh Guillermo Angulo, một bạn đồng hương cũ của tôi, người biết sự tồn tại của cuốn tiểu thuyết này từ khi tôi đang viết nó ở Paris và anh đã mang nó đi khỏi chỗ cất giấu vẫn còn được cuộn trong ba chiếc cà vạt và không kịp ủi lại cho thẳng thắn vì thời hạn nhận bản thảo đã sắp hết. Trong tình trạng ấy tôi đã gửi nó đi dự thi mà không hề hi vọng sẽ giành được giải thưởng lớn đến mức đủ mua được căn nhà. Nhưng ngày 16 tháng Tư năm 1962, một ban giám khảo gồm toàn những người nổi tiếng đã tuyên bố cuốn tiểu thuyết đã đoạt giải và đúng vào giờ sinh đứa con thứ hai của chúng tôi - Gonzalo - với chiếc bánh mì dưới cánh tay.

Chưa kịp nghĩ gì thì tôi đã nhận được bức thư của cha Felix Restrepo, chủ tịch Viện hàn lâm ngôn ngữ của Colombia, một người tốt bụng đã chủ trì ban giám khảo của giải thưởng vừa qua nhưng không biết tên cuốn tiểu thuyết là gì. Lúc đó tôi mới chợt nhớ là vì quá vội vàng nên tôi đã quên viết ở trang đầu cái tên: Cái thị trấn cứt đái này.

Khi biết tên này, cha Restrepo đã tỏ ra rất tức giận và thông qua German Vargas, ông nhã nhặn đề nghị tôi đổi một cái tên khác đỡ tàn bạo và hợp với bầu không khí của cuốn sách hơn. Sau nhiều lần trao đổi ý kiến với ông, tôi đã quyết định dùng một tên khác tuy không nói lên đầy đủ tấn thảm kịch nhưng sẽ như một ngọn cờ để cuốn sách có thể thực hiện cuộc hành trình vượt qua bao biển cả của sự giả dối: Giờ xấu.

Một tuần lề sau, tiến sĩ Arango Velez, đại sứ Colombia tại Mexico và vừa mới là ứng cử viên tổng thống nước cộng hòa mời tôi đến văn phòng để báo là cha Restrepo năn nỉ tôi đổi hai từ mà ông cảm thấy không thích hợp trong cuốn tiểu thuyết vừa được giải thưởng: preservativo (bao cao su) và masturbacion (thủ dâm). Cả ngài đại sứ và tôi đều không giấu được sự ngạc nhiên, nhưng chúng tôi cũng thống nhất là phải chiều lòng cha Restrepo để cho cuộc thi thành công tốt đẹp với một giải pháp công bằng.

- Tốt thôi, thưa ngài đại sứ - tôi nói. - Tôi sẽ bỏ một trong hai từ, nhưng xin ngài đại sứ làm ơn chọn hộ tôi.

Ngài đại sứ thở phào nhẹ nhõm và loại bỏ chữ thủ dâm. Và thế là chấm dứt cuộc xung đột, cuốn sách đã được nhà xuất bản Iberoamericana của Madrid, Tây Ban Nha ấn hành với số lượng bản in rất lớn và được phát hành một cách trang trọng. Sách có bìa bọc da, giấy loại tốt và được in một cách hoàn hảo. Tuy vậy, tuần trăng mật đó qua rất nhanh, bởi vì tôi không cưỡng được ham muốn thử đọc lại và phát hiện ra rằng cuốn sách vốn được viết bằng thổ ngữ Colombia đã bị lồng tiếng - như các phim thời bấy giờ - thành một thứ thổ ngữ thuần túy Madrid Tây Ban Nha.

Tôi viết: “Như vậy, bây giờ các bạn đang sống không những trong tình trạng không an toàn mà còn tạo thành một gương xấu cho nhân dân”. Bản chữa lại của biên tập viên Tây Ban Nha đã làm tôi dựng tóc gáy: “Như vậy, bây giờ quý vị đang sống không những trong tình trạng không an toàn mà còn tạo thành một gương xấu cho toàn dân” (trong nguyên bản tiếng Tây Ban Nha đổi hoàn toàn cách chia động từ theo cách nói của nước họ chứ không theo cách nói của những nước Mỹ La Tinh - ND). Nghiêm trọng hơn: vì câu này là của một thầy tu nên người đọc Colombia có thể nghĩ là tác giả ngầm ám chỉ đó là một cha đạo người Tây Ban Nha thế là bản chất bi thảm của sự việc bị thay đổi hoàn toàn. Không thỏa mãn với việc làm xáo trộn ngữ pháp của các câu thoại, người biên tập còn tự cho mình vung tay mang vũ khí xông cả vào lĩnh vực bút pháp, phong cách và thế là cuốn sách chứa đầy những miếng cao dán nhãn hiệu Madrid hoàn toàn khác hẳn với nguyên bản. Hậu quả là tôi buộc phải tuyên bố không chấp nhận bản in đó vì nó đã bị thay đổi, rồi cho thu gom và đốt hết những cuốn còn lại chưa bán hết. Câu trả lời của những người có trách nhiệm là tuyệt đối im lặng.

Bắt đầu từ lúc đó tôi coi như cuốn tiểu thuyết chưa được xuất bản và phải bắt tay vào làm một nhiệm vụ hết sức nặng nề là dịch lại sang ngôn ngữ vùng Caribe của tôi, bởi vì bản thảo duy nhất thì tôi đã gửi đi dự thi và chính bản đó được chuyển sang Tây Ban Nha để in. Khi bản thảo đã được viết lại cùng đôi chút sửa chữa do tôi trực tiếp thực hiện, cuốn tiểu thuyết này được nhà xuất bản Era của Mexico ấn hành với lời ghi chú được in rõ ràng đây là lần xuất bản đầu tiên.

Tôi chưa bao giờ biết được tại sao Giờ xấu là cuốn duy nhất trong các tác phẩm của mình đã đưa tôi trở về thời gian và không gian của nó, vào một đêm trăng tròn và đầy gió xuân. Đó là vào thứ Bảy trời vừa tạnh mưa và trời thì đầy sao. Đồng hồ vừa điểm mười một giờ thì tôi nghe từ trong phòng ăn vọng ra tiếng mẹ rầm rì hát bài tình ca để ru ngủ đứa bé đang bế trên tay. Tôi hỏi mẹ tiếng đàn hát từ đâu đến và mẹ trả lời đúng theo kiểu của mình:

- Từ nhà của các mụ cướp.

Dù tôi không xin nhưng mẹ vẫn cho tôi năm đồng peso vì thấy tôi đã vận quần áo để đi dự hội. Trước khi ra khỏi nhà tôi còn được mẹ nhắc nhở là sẽ không chốt cửa sau để tôi có thể về vào giờ nào cũng được mà không làm bố tỉnh giấc. Tôi không đến được nhà của các mụ cướp vì có một buổi tập của nhóm nhạc công của thầy Valdes trong đó có sự tham gia của Luis Enrique ngay sau khi nó trở về.

Những năm đó tôi cũng chơi đàn ghi ta với họ và hát cùng sáu nghệ sĩ vô danh khác cho đến tận sáng sớm. Tôi vốn đã luôn coi em tôi là người chơi ghi ta giỏi, nhưng trong đêm đầu tiên tôi được biết ngay cả những kẻ tình địch hằn học nhất cũng phải công nhận nó chơi cực kỳ điêu luyện. Không có ban nhạc nào hay hơn và họ tự tin đến mức khi có ai hợp đồng họ biểu diễn một đêm seranata cho người tình, thầy Valdes thường trấn an trước:

- Đừng lo, chúng tôi sẽ làm cho cô ta chết mê chết mệt mới thôi.

Kỳ nghỉ mà không có ông ấy thì mất vui. Ông đi đến đâu là nơi đó thành hội hè ngay. Cùng với ông, Luis Enrique và Filadelfo Velilla hợp thành ban nhạc tuyệt vời như những nhạc công chuyên nghiệp. Chính vào thời gian đó tôi phát hiện ra sự trung thành với rượu và học cách sống ngủ ngày ca hát đêm. Như mẹ nói: tôi đã thả con chó cái ra.

Người ta nói về tôi nhiều chuyện và râm ran đồn đại rằng thư từ gửi cho tôi không đến địa chỉ nhà bố mẹ mà đến nhà các mụ cướp. Tôi trở thành khách hàng đúng giờ nhất để thưởng thức món khoai nướng với mật hổ và món kỳ nhông nướng để đủ sức lực cho ba đêm liền. Tôi không trở lại thói quen đọc sách và cũng không cùng ngồi vào bàn ăn gia đình như trước đây. Mọi người coi những chuyện này giống như trước đây nhiều lần mẹ vẫn nói tôi chỉ làm cái gì mình thích, ngược lại mọi tiếng xấu đều đổ lên đầu em Luis Enrique đáng thương. Em Luis Enrique không hề biết câu nói của mẹ về tôi, nên nó nói với tôi: “Điều duy nhất mà mọi người chưa nói ra là em đang làm cho anh hư hỏng và chắc lại chuẩn bị gửi em đến trại cải huấn lần nữa”.

Vào dịp Giáng sinh tôi quyết định không dự các cuộc thi xe hoa hàng năm và cùng với hai đứa bạn tòng phạm lẻn đi sang làng Majagual bên cạnh. Tôi báo với gia đình là đi ba ngày nhưng đã ở đó mười ngày. Nguyên nhân tội lỗi là vì Maria Alejandrina Cervantes, một người đàn bà kỳ lạ mà tôi đã bắt quen được trong đêm đầu tiên và làm tôi ngây ngất trong cuộc vui nồng nàn nhất trong đời. Cho đến sáng Chủ nhật thì cô ta không còn ở trên giường tôi nữa và biến mất mãi mãi. Nhiều năm sau đó, tôi đã dựng lại hình ảnh của cô từ nỗi nhớ của mình không phải vì sự duyên dáng mà vì nhịp điệu âm vang khi đọc tên họ của cô, và tôi đã cho cô sống lại để bảo vệ cho một cô khác trong một cuốn tiểu thuyết của mình là bà chủ của nhà chứa chưa hề tồn tại bao giờ.

Vừa trở về nhà lúc năm giờ sáng tôi đã thấy mẹ đang pha cà phê trong bếp. Mẹ, người tòng phạm thường xuyên, ghé vào tai tôi bảo nhỏ là phải ở lại trong bếp với bà bởi vì bố vừa tỉnh dậy và sẵn sàng chứng tỏ với tôi rằng kể cả trong kỳ nghỉ tôi cũng không được tự do muốn làm gì thì làm như tôi tưởng. Mẹ đưa cho tôi một ly cà phê không đường dù biết tôi vốn không thích rồi bảo tôi ngồi cạnh bếp lò. Trong bộ đồ mặc ở nhà và với vẻ còn ngái ngủ, bố đi vào nhà bếp, ngạc nhiên thấy tôi ở đó với ly cà phê bốc khói, rồi hỏi tôi một câu sắc lẻm:

- Trước đây con vẫn nói là không thích uống cà phê cơ mà?

Không biết trả lời sao, tôi đành bịa ra điều vừa lóe lên trong đầu:

- Bao giờ con cũng khát nước vào giờ này, bố ạ.

- Cũng giống như tất cả những kẻ nát rượu - bố đáp lại.

Ông không nhìn tôi nữa và cũng không nói lại chuyện này. Nhưng mẹ bảo tôi rằng những ngày đó bố rất buồn nên bắt đầu coi tôi như một đứa hư hỏng, dù không bao giờ ông nói ra điều này với tôi.

Chi tiêu của tôi tăng nhanh đến mức phải bòn rút đến quỹ tiết kiệm của mẹ. Luis Enrique bào chữa cho tôi với cái lý là tiền bạc lấy cắp của bố mẹ nếu dùng vào việc đi xem phim chứ không đi với gái điếm thì vẫn là đồng tiền hợp pháp. Tôi cũng khổ tâm vì biết mẹ phải khó khăn lắm mới làm cho bố không nhận ra được việc tôi đã sa vào con đường lầm lạc. Mẹ quá hiểu tình trạng này vì ở nhà nhiều lần tôi đã ngủ vùi đến tận giờ ăn cơm trưa mà không có lý do gì cả, rồi tự nhiên có giọng khàn khàn như vịt đực và luôn đãng trí đến mức có ngày bố hỏi đến hai lần mà tôi vẫn không nghe ra, thế là bố gán cho tôi lời chẩn đoán mạnh mẽ nhất của ông:

- Con bị bệnh gan rồi!

Mặc dù vậy, tôi vẫn giữ được vẻ phong độ ngoài xã hội. Tôi vẫn làm cho mọi người thấy rõ là mình ăn mặc lịch duyệt, một chàng trai có giáo dục trong các cuộc khiêu vũ và trong những buổi ăn trưa bất thường mà những gia đình ở trong khu quảng trường tổ chức. Những căn nhà ở đây thường cửa đóng then cài quanh năm và chỉ mở rộng cửa vào dịp Giáng sinh khi bọn học sinh trở về.

Năm đó được coi là của Cayetano Gentile vì trong kỳ nghỉ học anh ta đã tổ chức đến ba cuộc khiêu vũ hết sức sôi nổi. Đó cũng là dịp may đối với tôi vì cả ba lần tôi đều được khiêu vũ với một người duy nhất. Ngay đêm đầu tiên tôi đã mời cô cùng nhảy mà không hỏi cô là ai, con cái nhà ai. Tôi cảm thấy cô huyền bí đến mức ở điệu nhảy thứ hai tôi đã nghiêm túc đề nghị cô kết hôn với mình và câu trả lời của cô ấy còn bí ẩn hơn nữa:

- Bố em nói là chàng hoàng tử của đời em vẫn chưa sinh ra.

Mấy ngày sau tôi thấy cô mặc bộ áo váy lộng lẫy đi qua quảng trường dưới ánh nắng chói chang giữa trưa, tay dắt một đứa bé trai và đứa bé gái độ sáu hoặc bảy tuổi. “Con em đấy”, cô nói trong tiếng cười ngặt nghẽo, dù tôi không hề hỏi han gì, với một vẻ tinh nghịch nên tôi bắt đầu nghi ngờ rằng lời cầu hôn của tôi đã không bị cô cho gió cuốn đi mất.

Từ khi lọt lòng ở nhà trong thị trấn Aracataca tôi đã học nằm ngủ trên võng, nhưng chính ở Sucre thú nằm võng mới trở thành một phần tạo nên bản chất của tôi. Không có gì thú hơn được ngủ trưa, được sống những giây phút mơ tưởng đến các vì sao, được suy ngẫm chầm chậm, được làm tình trên võng mà đầu óc không vướng bận gì. Ngay hôm trở về sau một tuần lễ hoang phí, tôi đã mắc võng giữa hai cây ngoài vườn, như bố đã từng làm những năm tháng trước đây, và bình thản ngủ thiếp đi. Nhưng mẹ, vốn rất sợ các con ngủ mê mệt đến chết, nên cuối buổi chiều đã đánh thức tôi dậy xem còn sống nữa không. Rồi ngồi cạnh tôi, mẹ hỏi thẳng vào vấn đề mà đã làm bà khó ở.

- Bố mẹ muốn biết chuyện gì đã xảy ra với con.

Câu nói thật lòng. Từ lâu tôi đã biết bố mẹ cùng rất lo lắng vì sự thay đổi trong cách sống của tôi, và mẹ đã phải nghĩ ra những lý do vớ vẩn để trấn an bố. Trong nhà, không có chuyện gì mà mẹ không biết và cơn giận của mẹ đã trở thành huyền thoại. Nhưng giọt nước đầy ly chính là việc trở về của tôi giữa ban ngày ban mặt sau một tuần lễ mất hút. Cách tốt nhất của tôi lúc đó là tránh các câu hỏi hoặc bỏ ngỏ nó cho dịp thuận lợi khác, nhưng mẹ biết rằng một vấn đề nghiêm túc như vậy phải được trả lời ngay.

Những suy luận của mẹ hoàn toàn hợp lý: cứ đến chập tối là ăn mặc chải chuốt như đi dự đám cưới rồi biến mất, đi qua đêm, để rồi cả ngày hôm sau ngủ mê mệt trên võng đến tận chiều tối. Tôi không màng đến chuyện đọc sách và lần đầu tiên kể từ khi ra đời tôi dám trở về nhà mà không biết mình đang ở đâu. “Thậm chí con cũng chẳng thèm nhìn đến các em, lẫn lộn cả tên và tuổi của chúng, hôm nọ con còn hôn đứa cháu của bà Clemencia Morales lại cứ tưởng là em trai mình”, mẹ nói với tôi. Nhưng ngay lập tức mẹ hiểu là đã hơi nói quá lời và chỉnh lại bằng một sự thật hiển nhiên:

- Thế là con đã trở thành một người xa lạ ở trong nhà.

- Tất cả chuyện đó đều đúng cả - tôi nói, - nhưng lý do thì rất đơn giản: Con đã chán ngấy cái vỏ bọc này rồi.

- Kể cả bố mẹ ư?

Câu trả lời của tôi có thể là một sự khẳng định, nhưng đúng là như vậy:

- Đúng vậy, con chán tất cả - tôi bình thản đáp.

Và tôi đã kể với mẹ về tình hình của mình ở trường. Bố mẹ chỉ đánh giá tôi qua điểm số và hết năm này đến năm khác tự hào một cách huyễn hoặc về kết quả học tập, tưởng tôi không những là một học sinh mẫu mực mà còn là một người bạn gương mẫu, một học trò thông minh và nhanh trí và là đứa nổi phần phật trong sự mến mộ của mọi người. Hoặc như bà ngoại đã nói: “Một đứa bé hoàn hảo”.

Tuy nhiên, sự thật thì ngược lại. Vì tôi không có được lòng dũng cảm và ý chí tự lập như em Luis Enrique - một đứa chỉ làm những việc gì mà nó thích. Và không nghi ngờ gì nữa, với cá tính ấy, nó sẽ giành được hạnh phúc, tuy đó không phải là thứ hạnh phúc mà các bậc phụ huynh vẫn thường cầu mong cho con cái, nhưng đó chính là thứ hạnh phúc cho phép con người vượt lên tình thương đôi khi có hơi thái quá, những nỗi sợ hãi phi lý và những ảo tưởng của cha mẹ.

Mẹ ngẩn người trước bức tranh trái ngược với những gì mà bố mẹ đã vẽ lên trong những giấc mơ cô độc.

- Mẹ không biết chúng ta phải làm gì bây giờ - mẹ nói sau những khoảnh khắc im lặng chết chóc, - bởi vì nếu mẹ con mình nói tất cả chuyện này với bố thì ông chết ngay tức khắc. Con không nhận thấy mình chính là niềm tự hào của cả nhà ư?

Đối với bố mẹ chuyện này thật đơn giản: vì không có bất cứ một khả năng nào để có thể hy vọng tôi trở thành một thầy thuốc giỏi, và vì nhà không có tiền nên bố mẹ chỉ dám mong cho tôi trở thành một nhà chuyên môn thuộc bất cứ ngành nghề nào đó, miễn sao để có thể tồn tại được trong cuộc đời này.

- Rồi con chẳng làm được trò trống gì đâu - tôi kết luận. - Con khước từ chuyện người ta buộc con phải làm công việc mà con không muốn hoặc công việc mà chỉ bố mẹ muốn và càng không thể là công việc mà chính phủ muốn.

Cuộc cãi vã hình như hơi có chút gì đó thiếu suy nghĩ và chưa thật chín chắn kéo dài suốt cả tuần. Có vẻ như mẹ muốn tranh thủ thời gian để nói chuyện này với bố, và ý tưởng này làm tôi thêm phấn chấn. Một hôm, như vô tình mẹ buột ra một lời đề nghị đáng kinh ngạc:

- Người ta nói nếu có ý định thì con có thể trở thành một nhà văn cừ khôi.

Trước đó tôi chưa bao giờ nghe thấy lời nào như vậy trong gia đình. Những sở thích của tôi từ nhỏ chỉ cho phép mọi người hình dung sau này tôi có thể là thợ vẽ, nhạc công, người hát trong nhà thờ và thậm chí là nhà thơ ngày Chủ nhật. Việc mọi người phát hiện ra khuynh hướng văn chương của tôi chỉ là chuyện trời ơi, nên phản ứng lúc này của tôi là ngạc nhiên.

- Nếu phải làm nhà văn, con phải là một trong những người vĩ đại, mà những vị trí này thì đã có người đảm nhận rồi - tôi trả lời mẹ. - Dù sao thì để khỏi chết đói còn có những nghề khác tốt hơn nữa.

Một trong những buổi chiều như vậy, thay vì nói chuyện với tôi, mẹ chỉ ngồi khóc thầm. Nếu là ngày hôm nay thì tôi đã hoảng loạn lên rồi bởi vì tôi coi việc cố nén cảm xúc mà vẫn bật ra tiếng khóc là một trong những cách thức hiệu quả của những người phụ nữ vĩ đại nhằm đạt được mục tiêu của mình. Nhưng ở vào cái tuổi mười tám hồi ấy tôi đã im như thóc, đứng trân trân nhìn mẹ mà không biết nói một lời nào với Người, và sự im lặng của tôi đã làm hỏng mất những giọt nước mắt của mẹ.

- Thôi được - mẹ nói - ít nhất con cũng phải hứa là sẽ học xong trung học một cách tốt nhất, theo khả năng của mình và mẹ

sẽ tự thu xếp mọi chuyện còn lại với bố.

Cả hai đều thấy nhẹ nhõm vì đã thắng cuộc. Cũng như mẹ và cả bố nữa, tôi chấp nhận như vậy vì sợ rằng họ sẽ chết nếu chúng tôi không sớm đạt được điểm nhất trí. Và thế là chúng tôi đã tìm được giải pháp dễ dàng là tôi sẽ học luật và khoa học chính trị vì đó không chỉ là cơ sở văn hóa tốt cho bất cứ nghề gì mà nó còn là một ngành học có ý nghĩa nhân bản. Hơn thế nữa, chúng tôi chỉ phải học buổi sáng còn buổi chiều thì được tự do và có thể làm thêm được nhiều việc. Ái ngại vì tình trạng quá tải về tâm lý của mẹ trong suốt những ngày qua, tôi đề nghị mẹ chuẩn bị bầu không khí để tôi nói chuyện trực tiếp với bố. Mẹ phản đối vì biết chắc là cuộc đàm đạo của hai bố con sẽ có nguy cơ biến thành một cuộc cãi cọ.

- Trên thế gian này không có hai người đàn ông nào giống nhau như bố và con đâu - mẹ nói với tôi. Và điều này sẽ vô cùng tệ hại cho cuộc nói chuyện.

Tôi vẫn thường nghĩ điều ngược lại. Chỉ có lúc này, sau khi đã trải qua những năm tháng mà bố đã có trong cuộc đời trường thọ, tôi bắt đầu nhìn vào gương và thấy mình giống bố hơn là giống chính bản thân.

Tối ấy, có lẽ mẹ đã hoàn thành tuyệt tác kim hoàn của mình, bởi vì bố đã triệu họp cả gia đình đến bàn ăn và làm như vô tình, ông tuyên bố: “Trong nhà chúng ta sẽ có một luật sư”. Có lẽ sợ bố lại mở đầu một cuộc bàn cãi cả gia đình, mẹ vội làm bộ ngây thơ, can thiệp ngay.

- Trong tình cảnh nhà mình, và với tình hình con cái nhà này - mẹ giải thích với tôi, - bố mẹ nghĩ giải pháp tốt nhất chính là ngành học này vì con có thể tự trang trải được.

Thực ra mọi chuyện không đơn giản như mẹ nói, nhưng đối với chúng tôi đó là giải pháp ít xấu nhất, và thiệt hại của nó có thể đỡ khốc liệt hơn. Vì thế tôi đã đề nghị bố cho ý kiến để tiếp tục cuộc chơi, và bố trả lời ngay tức thì với sự chân thành đến xé ruột:

- Con muốn bố nói gì nào? Con đã làm trái tim bố bị vỡ làm đôi, nhưng ít nhất bố vẫn còn niềm tự hào đã giúp con làm điều con muốn.

Cuộc chơi sang trọng nhất trong tháng Giêng năm 1946 chính là chuyến đi bằng máy bay đầu tiên trong cuộc đời của tôi, nhờ có sự xuất hiện đột ngột của Jose Palencia. Anh ta đã học một mạch năm năm cấp ba phổ thông ở thành phố Cartagena nhưng lại vừa thi trượt năm thứ sáu. Tôi hứa sẽ tìm một chỗ trong trường để cuối cùng anh có thể lấy được bằng tốt nghiệp và anh mời tôi cùng đi chuyến máy bay này.

Mỗi tuần có hai chuyến bay đi Bogota bằng máy bay DC-3 của hãng LANSA mà sự nguy hiểm lớn nhất không phải tại những chiếc máy bay mà chính vì những con bò được thả rông vào đường băng bằng đất sét nện tạm trên đồng cỏ. Nhiều khi máy bay phải bay lượn mấy vòng cho đến khi người ta đuổi được đàn bò đi khỏi. Đó là kinh nghiệm mở màn cho nỗi sợ hãi huyền thoại của tôi khi đi máy bay vào cái thời kỳ mà Nhà thờ cấm chuyên chở những bánh thánh thiêng liêng bằng máy bay để khỏi bị mất trong tai nạn. Chuyến đi không có chặng nghỉ kéo dài gần bốn tiếng với tốc độ ba trăm hai mươi cây số giờ. Những ai đã có diễm phúc đi trên sông như tôi thì có thể tìm điểm chuẩn từ trên không nhờ nhìn tấm bản đồ sống là con sông Magdalena. Chúng tôi nhận ra những thị trấn như bị thu nhỏ ở phía dưới, những chiếc thuyền và những đứa trẻ sung sướng vẫy chào tôi từ các sân trường. Những cô tiếp viên hàng không bằng da bằng thịt dành hết thời gian để trấn an những hành khách đang cầu nguyện trong chuyến đi, giúp đỡ những hành khách bị say và cố thuyết phục rất nhiều người là không hề có nguy cơ máy bay đâm phải đàn chim đang vừa bay vừa rình mò các xác súc vật chết trôi trên sông. Những hành khách thành thạo thì kể lại những chiến công đầy dũng cảm trong các chuyến đi lịch sử. Khi máy bay lấy độ cao để lên vùng cao nguyên Bogota mà không có khí nén và mặt nạ dưỡng khí mọi người cảm thấy như tim bị bóp nghẹt, sau khi máy bay lắc mạnh và hai cánh rung lên bần bật đã làm tăng thêm vẻ sung sướng của mọi người khi nó hạ cánh an toàn. Nhưng ngạc nhiên hơn chính là việc bức điện tín đã đến trước chúng tôi từ đêm hôm trước.

Nhân tiện đến Bogota, Jose Palencia đã mua đàn đủ cho một ban nhạc và tôi không biết anh ấy làm việc đó là do có tính toán trước hay do linh tính mách bảo, nhưng khi thầy hiệu trưởng Espitia vừa nhìn thấy anh mạnh mẽ đi vào với nào đàn ghi ta, trống, đàn acmonica thì tôi đã hiểu ngay là anh đã được nhận vào trường. Về phần mình tôi cũng cảm thấy sức nặng của điều kiện mới: học sinh năm thứ sáu. Cho đến lúc đó tôi vẫn chưa ý thức việc được dán ngôi sao mà bao nhiêu người mong ước ngay trên trán mình, chưa nhận ra cách thức mọi người tiếp cận chúng tôi, giọng điệu mà người ta nói với chúng tôi và thậm chí có đôi chút kính nể nữa. Ngoài ra, đó là một năm toàn là lễ hội. Ký túc xá chỉ dành riêng cho học sinh được học bổng, Jose Palencia đã thuê ở khách sạn sang nhất khu vực quảng trường mà bà chủ thường chơi đàn piano, và thế là cuộc sống đã biến mỗi ngày trong năm đó thành một Chủ nhật khó quên đối với chúng tôi.

Đó lại là một bước nhảy nữa của tôi. Hồi niên thiếu, mẹ mua quần áo cũ cho tôi, khi tôi không mặc được nữa thì chữa lại cho các em. Khó nhất là hai năm đầu tiên bởi vì quần áo ấm cho xứ lạnh đắt và khó sửa. Mặc dù thân thể tôi không phát triển một cách quá nhanh, vậy nhưng tôi đã cũng không sửa kịp quần áo cho hai thân hình liên tục trong vòng một năm. Tệ hơn nữa là thói quen trao đổi quần áo giữa các học sinh nội trú không thể thực hiện được ở đây bởi vì ai cũng nhìn thấy hết quần áo của nhau nên chủ nhân của những bộ quần áo đi mượn sẽ không thể chịu đựng nổi sự trêu chọc của mọi người. Việc này tạm giải quyết được một phần khi thầy hiệu trưởng Espitia bắt mọi người mặc đồng phục gồm áo veston màu xanh và quần màu xám. Thế là bề ngoài, trông ai cũng giống y như nhau, và do đó, quần áo cũ đổi chủ dễ dàng hơn.

Trong năm học thứ ba và thứ tư tôi còn dùng được bộ quần áo mà anh thợ may ở Sucre tặng, nhưng năm thứ năm thì tôi đành phải mua một bộ đồ cũ để chưng diện, mặc dù chất liệu còn khá còn tốt nhưng đến năm thứ sáu thì không thể dùng được nữa. Tuy nhiên, quá phấn khởi trước thay đổi của tôi nên bố đã cho tiền để may đo một bộ complê và Jose Palencia còn tặng thêm cho tôi một bộ cũ ít khi được mặc đến của anh. Tôi nhanh chóng hiểu ra rằng mặc áo chùng thâm cũng chẳng phải nhà tu hành. Trong bộ đồ mới, không thể mặc thay đồng phục mới, tôi tham dự các buổi khiêu vũ với đông đảo những người vùng biển và kiếm được một nhân tình trong thời gian ngắn như đời một bông hoa.

Thầy Espitia tiếp tôi với sự nhiệt tình hơi lạ. Hai giờ hóa học trong tuần hình như thầy chỉ đọc cho riêng tôi với những câu hỏi và trả lời chớp nhoáng. Sự quan tâm gượng ép của thầy tạo nên điểm xuất phát để tôi có thể hoàn thành lời hứa kết thúc năm học cuối cùng một cách xứng đáng. Những môn còn lại thì tôi cứ áp dụng phương pháp duy nhất và đơn giản của Martina Fonseca: chú ý lắng nghe trên lớp để tránh một kết cục sợ hãi. Đó là một bài học uyên thâm. Kể từ khi tôi quyết định áp dụng nó trong năm cuối cấp phổ thông, tâm hồn tôi hoàn toàn thanh thản không còn lo lắng. Tôi trả lời dễ dàng mọi câu hỏi của các thầy giáo - những người ngày càng thân mật hơn với tôi và tôi nhận thấy việc thực hiện lời hứa với bố mẹ đã trở nên quá dễ dàng.

Vấn đề lo ngại duy nhất của tôi vẫn là việc kêu la trong các cơn ác mộng. Lúc đó, người phụ trách giữ gìn trật tự, vốn có quan hệ rất tốt với học sinh là thầy Gonzalo Ocampo. Một buổi tối trong học kỳ thứ hai thầy đi rón rén vào phòng ngủ tối om, đòi lại chiếc chìa khóa mà tôi quên trả lại. Khi thầy vừa đặt tay lên vai tôi thì tôi đã hét lên những tiếng rống man rợ làm cả phòng ngủ tỉnh dậy. Ngay ngày hôm sau người ta đã chuyển tôi sang một phòng ngủ cho sáu học sinh ở tầng hai.

Đó là một giải pháp cho nỗi sợ hãi ban đêm của tôi, nhưng lại hết sức cám dỗ, bởi vì phòng ngủ ở trên kho để thức ăn. Thế là bốn học sinh trong phòng ngủ lẹ làng mò xuống tận nhà bếp để khuơ khoắng thoải mái cho một bữa ăn đêm. Anh chàng đáng tin cậy Sergio Castro và tôi, kẻ nhát gan nhất, đã ở lại trên giường để làm kẻ thương lượng trong trường hợp khẩn cấp. Sau một giờ bốn đứa kia trở về với một nửa kho thức ăn sẵn sàng dọn ra. Đó là bữa ăn lớn nhất trong những năm học nội trú dài dằng dặc của chúng tôi nhưng lại rất khó tiêu vì hai mươi bốn giờ sau chúng tôi đã bị phát hiện. Tôi nghĩ thế là hết. Chỉ nhờ vào tài năng thương lượng của thầy Espitia mà chúng tôi thoát hình phạt bị đuổi học.

Đó là thời kỳ tốt đẹp của trường và thời kỳ ít triển vọng nhất của đất nước. Lập trường trung lập của phái Lleras đã làm gia tăng tình hình căng thẳng mà người ta bắt đầu cảm thấy lần đầu tiên ở trong trường học. Tôi bắt đầu có ý thức về đất nước, nhưng bây giờ tôi nghiệm ra rằng ý thức đó đã có ngay trong con người mình từ trước. Một số thầy năm trước còn cố tỏ ra trung lập thì bây giờ không giữ được như vậy mỗi khi lên lớp và phun ra hàng tràng những câu nói về khuynh hướng chính trị của mình. Nhất là từ khi bắt đầu chiến dịch tranh cử tổng thống quyết liệt.

Mỗi ngày người ta càng thấy rõ hơn là cùng với Gaitán và Turbay, đảng Tự do sẽ mất ghế tổng thống nước Cộng hòa sau hai mươi lăm năm cầm quyền tuyệt đối. Đó là hai ứng cử viên chống đối nhau kịch liệt y như là đại diện cho hai chính đảng khác nhau vậy. Họ không những chỉ tố cáo nhau với tình tiết cụ thể từng tội lỗi cá nhân mà còn đổ cho nhau là bảo thủ đến tận huyết quản. Và mọi việc đã hiện rõ ngay từ ngày đầu tiên: thay vì Laureano Gomez, phái bảo thủ đã đề cử Ospina Perez - nguyên là một kỹ sư triệu phú và nổi tiếng là gia trưởng độc đoán - vào vị trí lãnh tụ. Phái tự do thì chia rẽ còn phái bảo thủ thì đoàn kết và có vũ trang nên không còn có con đường nào khác: Ospina Perez đã dễ dàng đắc cử.

Ngay từ lúc đó Laureano Gomez đã ngấm ngầm chuẩn bị để phế truất vị tân tổng thống mới đắc cử bằng cách sử dụng bạo lực. Một lần nữa sự thật lịch sử của thế kỷ XIX đã lại được minh chứng: đất nước chúng tôi không hề có hòa bình mà chỉ có những cuộc đình chiến ngắn ngủi giữa tám cuộc nội chiến toàn quốc và mười bốn cuộc chiến vùng, ba cuộc đảo chính và cuối cùng là cuộc chiến tranh Một Ngàn ngày đã làm tám mươi ngàn người chết ở cả hai phái trong một đất nước chỉ có bốn triệu người. Đơn giản đến như vậy: đó là một chương trình chung đã kéo lùi lịch sử lại một trăm năm.

Cuối khóa học, thầy Giraldo còn dành cho tôi một ngoại lệ hiển nhiên mà đến tận bây giờ tôi vẫn chưa hết xấu hổ. Ông chuẩn bị sẵn cho tôi một danh mục các câu hỏi đơn giản để kiểm tra lại kiến thức đại số mà tôi đã bị hổng từ năm thứ tư, và ông để tôi ngồi một mình trong văn phòng của giáo viên với những cái bẫy ngang tầm tay với của tôi. Một giờ sau ông quay lại đầy ảo tưởng, ông nhìn thấy kết quả thật bi đát và đánh dấu chéo tất cả các trang từ trên xuống dưới cùng với một tiếng gầm gừ đáng sợ: “Cái sọ dừa này thối mất rồi”. Tuy nhiên, trong bản điểm tổng kết cuối khóa, môn đại số của tôi vẫn có điểm trung bình, nhưng tôi cũng khôn ngoan không dám đến cảm ơn người thầy giáo đã vì tôi mà bỏ cả nguyên tắc và trách nhiệm của mình.

Đêm trước ngày thi tốt nghiệp năm đó, Guillermo Lopez Guerra và tôi đã có chuyện đáng tiếc với thầy Gonzalo Ocampo vì tội say rượu. Jose Palencia đã rủ chúng tôi đến học ôn tại phòng ngủ tuyệt đẹp của anh ở khách sạn. Vì chỉ còn môn thi cuối cùng nên chúng tôi uống rượu đến tận tối rồi trở về trường như hai cái thùng đựng rượu đáng thương. Thầy Ocampo đang trực trách cứ chúng tôi về việc về muộn giờ lại trong tình trạng say rượu, hai chúng tôi liền cãi lại bằng lời lẽ phạm thượng. Thầy phản ứng quyết liệt, chúng tôi thì to tiếng làm náo loạn cả ký túc xá.

Hội đồng giáo viên quyết định không cho Lopez Guerra và tôi được dự thi môn cuối cùng. Nghĩa là, ít nhất năm ấy chúng tôi vẫn chưa phải là hai cậu tú. Không bao giờ chúng tôi xác minh được những cuộc thương lượng bí mật giữa các thầy giáo đã diễn ra như thế nào, bởi vì họ đã siết chặt hàng ngũ trong một tình đoàn kết hết sức chặt chẽ. Có lẽ thầy hiệu trưởng Espitia tự mình mạo hiểm đứng ra giải quyết vấn đề , và đạt được kết quả là chúng tôi được làm bài thi này ở trên bộ Giáo dục, ở Bogota. Đúng như vậy. Chính thầy Espitia đã đi cùng chúng tôi và có mặt khi chúng tôi làm bài thi viết được chấm ngay tại chỗ. Bài thi đạt điểm khá.

Tình hình nội bộ có lẽ là rất phức tạp, thầy Ocampo không có mặt trong lễ trọng thể có lẽ là vì giải pháp dễ dãi của thầy hiệu trưởng Espitia và vì điểm tổng kết của chúng tôi là giỏi. Cuối cùng, nhờ kết quả học tập cá nhân, tôi xứng đáng được nhận phần thưởng đặc biệt là một cuốn sách đáng nhớ: Cuộc đời của các nhà triết học nổi tiếng của tác giả Diogenes Laercio. Không những vượt quá những gì bố mẹ mong đợi mà hơn nữa tôi còn là thủ khoa trong khóa tốt nghiệp năm ấy, mặc dù các bạn cùng lớp - và tôi, hơn ai hết - đều biết rõ tôi không phải là người xuất sắc nhất.

« Lùi
Tiến »