SỐNG ĐỂ KỂ LẠI

Lượt đọc: 2547 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 5

Tôi không bao giờ tưởng tượng được rằng chỉ chín tháng sau khi tốt nghiệp tú tài, truyện ngắn đầu tiên của mình lại được in trên tờ phụ trương “Cuối tuần” của El Espectador ở Bogota - một nhật báo có tiếng là hay và nghiêm túc nhất thời bấy giờ. Bốn mươi hai ngày sau, người ta cho in truyện ngắn thứ hai. Tuy nhiên, điều bất ngờ nhất đối với tôi lại là một bài viết ngắn có ý ca ngợi tôi của Eduardo Zalamea Borda - Phó Tổng biên tập tờ báo kiêm phụ trách tờ phụ trương văn học, một nhà phê bình sáng suốt nhất Colombia thời bấy giờ và là người đã phát hiện ra rất nhiều các tài năng văn học mới.

Đó là cả một quá trình hết sức bất ngờ mà không dễ gì kể ra được. Trước đó, vào đầu năm, tôi đã ghi danh vào học khoa luật trường Đại học quốc gia Bogota như đã giao hẹn với bố mẹ. Tôi sống ở khu trung tâm thành phố trong một nhà trọ tại đường Florián mà phần lớn khách trọ là sinh viên đến từ các vùng ven bờ biển Đại Tây Dương. Vào các buổi chiều rỗi rãi, thay vì đi làm thêm để kiếm sống, tôi lại vùi đầu vào những cuốn sách và ở lỳ trong phòng ngủ hoặc lân la đến các tiệm cà phê, nơi người ta cho phép. Đó là những cuốn sách do may mắn hay ngẫu nhiên mà có, bởi vì những người bạn có điều kiện mua được sách thường cho tôi mượn với thời hạn hết sức hạn chế nên tôi phải thức thâu đêm để đọc và trả lại họ đúng hạn. Trái với những cuốn tôi đọc hồi ở trường phổ thông Zipaquirá vốn đã xứng đáng được đặt kính cẩn bên cạnh thi hài các tác giả nổi tiếng trong lăng mộ, những cuốn sách lúc này đã được chúng tôi vồ vập và ngấu nghiến như được ăn những chiếc bánh mì nóng hổi, và chúng vừa được phát hành ở Buenos Aires (thủ đô nước Argentina - ND) sau một thời gian dài bị ngưng trệ do cuộc Đại chiến lần thứ hai ở châu Âu. Thế là tôi may mắn phát hiện ra những nhà văn nổi tiếng Jorge Luis Borges, D.H. Lawrence và Aldous Huxley, Graham Greene và Chesterton, William Irish và Katherine Mansfield cùng nhiều người khác nữa.

Các cuốn sách mới này được bày trên những nóc tủ khó có thể chạm tới được trong các hiệu sách, nhưng một số bản in vẫn được lưu hành trong các quán cà phê sinh viên, trên thực tế là những trung tâm năng động truyền bá văn hóa giữa những sinh viên đại học đến từ các tỉnh lẻ. Một vài ân huệ của chủ quán hoặc của người bán hàng tin cẩn đã trở thành yếu tố quyết định cứu vớt quá trình học đại học của chúng tôi. Nhiều nhà chuyên môn của đất nước có lẽ đã nhờ ơn họ hơn là nhờ những vị đỡ đầu vô hình.

Tôi thích đến El Molino (Cối xay gió), quán cà phê của các nhà thơ lớn tuổi, cách nhà trọ của tôi độ hai trăm mét, ngay góc đại lộ

Jimenez de Quesada cắt giao với đường số Bảy. Nơi đây người ta không cho phép sinh viên đặt hay giữ bàn cố định nhưng qua các câu chuyện văn chương nghe trộm được từ các bàn bên cạnh mà tôi đã có thể học được nhiều điều và tốt hơn so với những thứ tôi đọc được trong giáo trình. Đó là một ngôi nhà rất rộng mang đậm phong cách Tây Ban Nha với những bức tường được chính họa sĩ Santiago Martinez Delgado trang trí bằng các bức tranh vẽ miêu tả cuộc chiến của Don Quijote chống lại các cối xay gió. Mặc dù không có chỗ được giữ sẵn, nhưng tôi thường nhờ những người hầu bàn bố trí chỗ thật gần với thầy Leon de Greiff râu rậm, hay gầm gừ, dễ mến - người thường bắt đầu các cuộc trò chuyện với các nhà văn nổi tiếng nhất lúc bấy giờ vào lúc chiều tà và kết thúc ngập ngụa trong men rượu mạt hạng với đám học trò môn cờ vua vào lúc nửa đêm. Phàm đã là danh nhân, nghệ sĩ của cả nước thì đều ngồi vào những cái bàn này, và chúng tôi giả chết ở bàn để không bỏ qua một lời nào của họ. Mặc dù họ thường nói chuyện nhiều về đàn bà hoặc các mưu mô chính trị hơn là về nghệ thuật và nghề nghiệp của mình, nhưng bao giờ cũng có nhiều điều đáng học. Những người chăm chỉ đến nghe nhất là cánh sinh viên đến từ các vùng bờ biển Đại Tây Dương, không phải vì thói địa phương chủ nghĩa muốn chống lại người bản địa mà chủ yếu là vì cùng chung một đam mê đọc sách đến vô bờ. Jorge Alvaro Espinosa, một sinh viên khoa luật đã dạy tôi lang thang hành trình trong Kinh Thánh và chỉ cho tôi học thuộc lòng tên gọi đầy đủ của những người trong hội văn nghệ Job, một hôm đã đặt lên bàn một cuốn sổ tay ghi chép vừa lấy được rồi phán một câu với đầy vẻ uy quyền của vị giám mục:

- Đây là một quyển Kinh Thánh khác.

Đó chính là cuốn Ulises của James Joyce mà tôi đã đọc từng đoạn và từng mẩu cho đến giới hạn cuối cùng của lòng kiên nhẫn.

Nhiều năm sau, khi đã là người chín chắn hơn, tôi nghiêm túc đọc lại cuốn sách này và đó không chỉ là sự khám phá mới một thế giới riêng mà tôi không nghĩ nó đã có sẵn trong người mình, hơn thế nữa, đó là sự hỗ trợ kỹ thuật vô giá cho tự do ngôn từ cũng như sự vận dụng thời gian và cấu trúc đối với các cuốn sách của tôi.

Một trong những bạn cùng phòng của tôi là Domingo Manuel Vega - anh sinh viên ngành y quen tôi từ lúc ở Sucre và cũng là người rất say mê đọc sách. Một người khác là anh họ của tôi, anh Nicolas Ricardo, con cả của bác Juan de Dios, người luôn giữ gìn gia phong của chúng tôi. Một tối, Vega trở về với ba cuốn sách vừa mua và cho tôi mượn một cuốn bất kỳ như mỗi lần vẫn làm để giúp cho tôi chóng buồn ngủ. Nhưng lần này kết quả lại ngược hẳn: tôi không bao giờ còn có thể ngủ yên như trước nữa. Đó là cuốn Hóa thân của Franz Kafka, trong bản dịch tự do của Borges do nhà xuất bản Losada ở Buenos Aires ấn hành, đã định hướng con đường mới trong cuộc đời tôi, và ngày nay là một trong những biểu hiện vĩ đại trong văn học của thế giới: “Một buổi sáng khi tỉnh dậy, sau một giấc ngủ bất an, Gregorio Samsa thấy mình biết thành một con bọ kinh khủng”. Đó là những cuốn sách bí hiểm mà những điểm nhấn của nó không những rất khác mà nhiều khi còn ngược lại với tất cả những gì tôi đã biết cho đến lúc đó. Không nhất thiết phải minh chứng cho các sự việc: chỉ cần tác giả viết nó ra cho đúng là đủ, không cần phải có bằng chứng gì khác hơn là chính quyền uy về tài năng và quyền lực trong tiếng nói của ông ta. Đó là nàng Sêhêrazat mới, nhưng không phải trong thế giới ngàn xưa nơi cái gì cũng có thể làm được, mà ở trong một thế giới khác không cứu chữa được nữa, nơi mọi thứ đều đã mục ruỗng hết.

Đọc xong cuốn Hóa thân, trong tôi vẫn cháy bỏng niềm khát khao không cưỡng nổi khi được sống trong thiên đường của người khác. Một ngày mới đột ngột đến với tôi trên chiếc máy thời gian xê dịch do Domingo Manuel Vega cho mượn, để tôi cố làm việc gì đó giông giống với viên chức tội nghiệp của Kafka bị biến thành con bọ hung khổng lồ. Những ngày tiếp theo tôi không đến trường đại học vì sợ phép tà thuật bị tan mất, và tôi tiếp tục đổ mồ hôi hột vì ghen tỵ cho đến khi Eduardo Zalamea Borda đăng một bài phàn nàn rằng thế hệ các nhà văn mới của Colombia không có một cái tên nào đáng nhớ và nhìn về tương lai cũng chưa thấy có gì sáng sủa hơn. Tôi không biết mình có quyền uy gì nhưng khi đọc bài viết đó, tôi có cảm giác bị xúc phạm và có ý định viết một truyện ngắn đã bị bỏ quên để minh chứng điều ngược lại. Tôi sắp xếp ý tưởng cốt truyện của một xác chết thông hiểu trong Hóa thân, nhưng giảm bớt độ bí ẩn và những thành kiến của môn bản thể học

Nhưng tôi vẫn cảm thấy không thật tự tin nên không dám xin ý kiến bất cứ ai trong số những bạn bè cùng ngồi uống cà phê. Thậm chí ngay cả với Gonzalo Mallarino, bạn cùng khoa luật, người đọc duy nhất của những trang văn xuôi trữ tình mà tôi viết ra để khỏa lấp sự buồn chán trong lớp học. Tôi đọc đi đọc lại, và sửa chữa thiên truyện ngắn nhiều lần đến mệt bã người và cuối cùng tôi viết một bức thư riêng gửi cho Eduardo Zalamea - người tôi chưa từng gặp mặt - mà nội dung của nó tôi đã không còn nhớ được một chữ nào nữa. Tôi cho tất cả vào một phong bì rồi tự mình đưa đến tòa soạn báo El Espectador. Người gác cổng cho phép tôi lên đến tầng hai để giao trực tiếp bức thư cho Zalamea, nhưng mới nghĩ đến đó, tôi đã lạnh toát cả người. Tôi để cả phong bì trên bàn của người gác cổng rồi bỏ trốn luôn.

Đó là vào ngày thứ Ba và tôi không lo lắng một tí gì về số phận truyện ngắn này, nhưng tin là nếu có được xuất bản thì chắc cũng còn lâu. Trong khi đó, tôi vẫn cứ lang thang hết quán cà phê này sang quán cà phê khác, tận hưởng những buổi chiều thứ Bảy, cho đến ngày 13 tháng Chín, khi tôi vừa bước vào quán El Molino thì thấy đập vào mắt tựa truyện ngắn của mình được in đậm rất to trên tờ El Espectador vừa mới xuất bản: “Sự nhẫn nhục thứ ba”.

Phản ứng đầu tiên của tôi là cảm giác tủi hổ và nhục nhã đến tột độ vì không có nổi năm xu trong túi quần để mua tờ báo. Đó là biểu tượng rõ nhất của cái nghèo, bởi vì còn rất nhiều nhu cầu tối thiểu của cuộc sống hàng ngày - ngoài tờ báo - đều có giá năm xu: vé xe điện, điện thoại công cộng, một tách cà phê, một lần đánh giày. Tôi chạy ào ra phố dưới trời mưa phùn dai dẳng mà không cần dùng vật gì che đỡ, nhưng ở tất cả các quán cà phê gần đó tôi không gặp được người quen nào cả để xin một đồng năm xu làm phúc. Ở nhà trọ, tôi cũng không gặp được ai trong cái buổi chiều thứ Bảy chết tiệt ấy, trừ bà chủ mà có gặp thì cũng như không, vì tôi đang nợ bà ta hai tháng tiền thuê nhà và dịch vụ, số tiền này gấp bảy trăm hai mươi lần đồng năm xu. Tôi quay ra phố, sẵn sàng làm bất cứ việc gì để kiếm được năm xu, thì tình cờ gặp một người đàn ông vừa từ xe taxi bước xuống trong tay đang cầm tờ El Espectador. Tôi đến trước mặt để xin ông cho tờ báo.

Thế là tôi đã có thể đọc được truyện ngắn đầu tiên của mình bằng chữ in với tranh minh họa của Hernan Merino, họa sĩ chính thức của tòa báo. Tôi đọc dấm dúi ở phòng ngủ của mình với trái tim loạn nhịp và đọc liền một hơi. Qua từng dòng chữ, tôi lại dần dần phát hiện cái quyền lực tàn phá của những con chữ in, bởi vì tôi bỗng thấy tất cả những gì được làm ra với tình yêu và nỗi đau - như là một bản sao chép thuần phục của một thiên tài tầm cỡ thế giới - chỉ là một khúc độc thoại rối rắm khó hiểu và vô giá trị, đứng được là nhờ hai hoặc ba câu đáng khích lệ mà thôi. Phải hai mươi năm sau tôi mới dám đọc lại lần thứ hai truyện này, và nhận xét của tôi lúc đó - đã có phần dịu đi vì thương hại - chẳng lấy gì làm mãn nguyện cho lắm.

Điều khiến tôi khó xử là chuyện một đám bạn bè đem cả đống báo ùa vào phòng với những lời khen ngợi ồn ào về truyện ngắn mà chắc là họ không tài nào hiểu. Trong số những bạn học ở trường đại học, một số thì đánh giá cao, một số thì không hiểu nó lắm, số khác thì có đủ lý do để không đọc quá dòng thứ tư, nhưng Gonzalo Mallarino, người có những nhận xét văn học khiến tôi phải luôn bội phục, đã ủng hộ truyện này hết mình.

Mong ước lớn nhất của tôi là nhận được phán quyết của Jorge Alvaro Espinosa, người có lưỡi dao phê bình đáng sợ nhất, thậm chí vượt ra cả ngoài phạm vi nhóm chúng tôi. Cảm giác của tôi lúc này thật trái ngược: muốn được gặp ông ngay lập tức để giải tỏa mối hồ nghi, nhưng đồng thời lại sợ đối mặt với ông. Ông biến mất cho đến tận thứ Ba, điều không có gì lạ đối với những con mọt sách, và khi xuất hiện ở quán El Molino, ông không bắt đầu nói về truyện ngắn mà lại nói về dũng khí của tôi:

- Tôi hình dung là cậu đã nhận ra cuộc chiến mà mình vừa nhảy vào - ông nói, đôi mắt màu lục của con rắn hổ mang nhìn xoáy vào mắt tôi. - Bây giờ cậu đã đứng vào tủ kính của những nhà văn có tên tuổi rồi, và phải làm nhiều việc nữa để xứng đáng với điều ấy.

Tôi như hóa đá vì lời nhận xét duy nhất đủ sức làm lay động sâu xa con người mình, tương tự như ý kiến của ông Zalamea Borda - Ulises. Nhưng trước khi ông ngừng lời, tôi đã xen vào nói trước cái điều mà vào lúc đó và ngay tận bây giờ tôi vẫn coi là sự thật:

- Cái truyện ngắn này như cứt.

Ông đáp lại là chưa có thể nói gì nhiều vì ông chỉ đủ thời gian đọc lướt qua. Nhưng ông giải thích cho tôi rằng dù truyện có tệ hại như tôi nói thì cũng chưa đến mức phải hy sinh một cơ hội bằng vàng mà cuộc đời vừa tạo ra cho chính tôi.

- Dù sao đi nữa thì nó cũng đã thuộc về quá khứ - ông kết luận. - Điều quan trọng là truyện tiếp theo.

Ông làm tôi hết sức buồn rầu. Tôi cứ như kẻ loạn trí, ngớ ngẩn cố đi tìm những lý lẽ ngược lại cho đến lúc phải chấp nhận là không nghe đâu được một ý kiến thông minh hơn lý lẽ của ông. Từ ý tưởng gợi ý của ông, có thể suy diễn mở rộng ra là đầu tiên phải có câu chuyện, sau đó là phong cách, nhưng hai điều này phụ thuộc vào nhau theo cái gậy kỳ ảo của các nhà văn cổ điển. Tôi hơi hứng thú với ý kiến được lặp đi lặp lại nhiều lần của ông rằng tôi cần phải đọc kỹ bất kỳ các tác phẩm của các nhà văn Hy Lạp, không chỉ Homero, người duy nhất tôi đã phải đọc trong chương trình phổ thông. Tôi đã hứa với ông như vậy và muốn ông nói thêm những tên tuổi khác, nhưng ông lại thay đổi đề tài sang cuốn Những thợ __đúc tiền giả của André Gide mà tôi đọc những ngày cuối tuần vừa qua. Tôi không bao giờ muốn nói với ông rằng có lẽ cuộc đàm đạo của chúng tôi đã giải tỏa những trăn trở trong cuộc sống của tôi.Tôi thức suốt đêm ấy để ghi chép cho thiên truyện sắp tới mà không có những khúc quanh của thiên truyện đầu tiên.

Tôi cũng ngờ rằng có những người nói về truyện ngắn này không phải vì thực sự xúc động - có lẽ là chưa đọc và chắc là không hiểu nó - mà chẳng qua thấy nó được đăng nổi bật khác thường trên một trang báo quan trọng. Để bắt đầu, tôi nhận thấy ngay hai nhược điểm lớn trong số những nhược điểm lớn nhất của mình: sự vụng về trong cách viết và sự thiếu hiểu biết về trái tim con người. Những điều này thể hiện quá rõ ràng trong truyện ngắn đầu tiên của tôi vốn đã là một mớ suy ngẫm trừu tượng cộng thêm sự lạm dụng những tình cảm hư cấu.

Lục tìm trong trí nhớ những tình huống trong đời thực để chuẩn bị viết truyện ngắn thứ hai, tôi chợt nhớ đến một trong những người phụ nữ đẹp nhất mà mình được quen biết lúc còn nhỏ, người đã nói muốn được ở trong con mèo có vẻ đẹp kỳ lạ đang nằm trong lòng bà ta. Tôi hỏi bà tại sao thì bà liền trả lời: “Vì nó đẹp hơn ta”. Thế là tôi có một điểm tựa cho thiên truyện ngắn thứ hai với một tựa đề hấp dẫn: Eva ở trong con mèo của mình. Phần còn lại, cũng giống như truyện thứ nhất, được hư cấu từ con số không, và chính vì lẽ đó - như hồi ấy chúng tôi thích nói - cả hai truyện đều mang trong nó mầm mống tự hủy hoại.

Truyện này cũng được đăng nổi bật như truyện đầu tiên vào thứ Bảy ngày 25 tháng 10 năm 1947 với tranh minh họa của ngôi sao đang lên trên bầu trời vùng Caribe: họa sĩ Enrique Grau. Tôi để ý là lần này bạn bè đón tiếp nó như một sự kiện bình thường của một nhà văn đã nổi tiếng. Ngược lại, tôi thì đau khổ vì những thiếu sót và nghi ngờ những thành công, nhưng vẫn giữ cho mình thường xuyên tỉnh táo. Mấy ngày sau, một cú sốc lớn đến với tôi khi Eduardo Zalamea, vẫn với bút danh thường ngày, cho đăng trên chương mục hàng ngày của ông ở báo El Espectador một bài phê bình. Ông đi thẳng ngay vào vấn đề: “Bạn đọc của những trang __‘Cuối tuần’, phụ trương văn học của tờ báo này, chắc đã nhận thấy sự xuất hiện của một tài năng mới, độc đáo, có cá tính mạnh mẽ”. Và tiếp theo: “Tưởng tượng mọi việc có thể xảy ra, nhưng lại biết cách diễn đạt một cách tự nhiên, giản dị, không uốn éo với viên ngọc mình vừa lấy được, là cả một việc mà không phải tất cả mọi chàng trai trẻ ở độ tuổi hai mươi mới tiếp xúc với văn học có thể làm được”. Rồi kết thúc không chút dè dặt: “Với García Márquez, một nhà văn mới, một tài năng đã ra đời”.

Bài viết đó đã là một cú sốc hạnh phúc nhưng đồng thời cũng làm lòng tôi bối rối vì Zalamea đã không để chừa cho tôi một đường thối lui nào cả. Mọi việc thế là đã an bài và tôi phải hiểu sự rộng lượng của ông như một lời kêu gọi lương tâm của tôi và phần còn lại của đời tôi. Bài viết cũng chứng tỏ Ulises đã phát hiện ra nhân thân của tôi qua một người đồng nghiệp trong Ban biên tập tòa báo của ông. Ngay tối hôm đó, tôi được biết người đồng nghiệp đó chính là Gonzalo Gonzalez, một người anh họ trong số những anh em thúc bá gần nhất của tôi, người từ năm mười lăm tuổi đã kiên trì viết bài với bút danh Gog cho chương mục trả lời thắc mắc của bạn đọc báo này, và ngồi chỉ cách bàn làm việc của Eduardo Zalamea có năm mét. Cũng may, ông Zalamea không tìm gặp tôi và tôi cũng không tìm ông. Tôi chỉ gặp ông một lần ở bàn của nhà thơ De Greiff, biết giọng nói và tiếng ho khan của người nghiện thuốc lá nặng như ông và cũng vài lần thấy ông rất gần trong những hoạt động văn hóa, nhưng không ai giới thiệu chúng tôi với nhau. Một số người thì không quen biết cả hai chúng tôi, những người khác thì nghĩ không lẽ hai chúng tôi lại không quen biết nhau.

Khó mà hình dung ra lúc bấy giờ người ta đã sống dưới bóng của thơ ca say sưa đến mức độ nào. Đó là một niềm đam mê cuồng nhiệt, một cách sống khác, một quả bóng lửa tự lăn tròn đi khắp nơi. Khi mở tờ báo ra, dù ở mục kinh tế hoặc trang pháp luật hay khi chúng ta ngồi đọc ở quán cà phê thì dưới đáy của ly, và ở tất cả mọi nơi đó đều có nàng thơ đang chờ mang đến cho chúng ta những giấc mơ. Đối với tất cả chúng tôi, những người đến từ các tỉnh lẻ, Bogota chính là thủ đô của cả nước, là trụ sở của chính phủ, nhưng trên hết là thành phố nơi có các nhà thơ sinh sống. Không những chúng tôi tin tưởng ở thơ ca và có thể chết vì nó mà chúng tôi còn biết chắc chắn rằng - như nhà thơ Luis Cardoza y Aragón đã viết - “Thơ ca là bằng chứng cụ thể duy nhất về sự tồn tại của con người”.

Thế giới là của những nhà thơ. Những điều mới mẻ của họ đối với thế hệ chúng tôi còn quan trọng hơn những tin tức chính trị mỗi ngày một bi đát hơn. Nền thơ ca của Colombia ra đời từ thế kỷ XIX và chói sáng với ngôi sao cô đơn Jose Asunción Silva - một nhà thơ lãng mạn kiệt xuất. Ở tuổi ba mươi mốt, ông đã tự bắn vào vòng tròn do bác sĩ vẽ bằng I-ốt lên vùng trái tim. Tôi chưa kịp sinh ra để quen biết Rafael Pombo hoặc Eduardo Castillo - nhà thơ trữ tình vĩ đại - được các bạn cùng thời đã mô tả giống như bóng ma chui ra từ nấm mồ lúc chiều tà, với tấm vải quấn hai vòng, da xanh mét vì chất morphin, với hình dáng của chim đại bàng: đó là biểu trưng về thể xác của các nhà thơ bất hạnh.

Một chiều nọ, khi tôi đang đi trên xe điện ngang qua một biệt thự trên đại lộ số Bảy và thấy ngay ở cửa ra vào người đàn ông kỳ dị mà tôi chưa từng gặp trong đời, khoác bộ veston nghiêm chỉnh, đội mũ kiểu Anh, đeo đôi kính đen, quàng khăn lụa vùng thảo nguyên. Đó chính là nhà thơ Alberto Angel Montoya, một người lãng mạn hơi máy móc đã cho in một số bài thơ hay vào thời kỳ đó. Đối với thế hệ chúng tôi, họ đã thành bóng ma của quá khứ, chỉ trừ nhà thơ bậc thầy Leon de Greiff người mà tôi đã từng theo học lỏm suốt thời gian dài ở quán cà phê El Molino.

Không có ai trong số họ chạm đến vinh quang như Guillermo Valencia, một nhà quý tộc xứ Popayan mà ở vào tuổi ba mươi đã là bậc thánh của thế hệ Một trăm năm, sở dĩ có tên gọi này vì thế hệ đó trưởng thành vào năm 1910 trùng hợp với thế kỷ thứ nhất của nền độc lập quốc gia. Những người cùng thời với ông Eduardo Castillo và Porfirio Barba Jacob, hai nhà thơ vĩ đại của trào lưu lãng mạn, đã không nhận được sự đánh giá công bằng của giới phê bình ở một đất nước bị đóng khung trong tháp ngà của thơ ca xứ Valencia, với cái bóng trùm lên cả ba thế hệ. Năm 1925 xuất hiện một thế hệ mới với tên gọi Những người mới mà đại diện tiêu biểu là Rafael Maya và một lần nữa Leon de Greiff, những người vốn không được đánh giá đúng tầm cỡ của mình khi nền thơ Valencia còn ngự trị. Cho đến lúc đó, chỉ riêng ông Leon de Greiff mới được tận hưởng vinh quang và đi đến tận cửa dinh Tổng thống nước cộng hòa.

Những người duy nhất dám vượt lên trong nửa thế kỷ đó chính là những nhà thơ trong nhóm Đá và Trời với những nét trẻ trung; và đến giai đoạn cuối họ chỉ còn giống nhau ở điểm duy nhất là không theo trường phái thơ Valencia: đó là các nhà thơ Eduardo Carranza, Arturo Camacho Ramirez, Aurelio Arturo và Jorge Rojas, những người tài trợ cho việc in thơ của nhóm. Không phải tất cả họ đều giống nhau về hình thức và thi hứng, nhưng nhìn chung, cả nhóm đã xới tung những tàn tích khảo cổ của thơ ca cổ điển và khơi dậy nền thơ ca mới, cho cuộc đời hòa nhịp muôn vẻ với các thi nhân Juan Ramon Jimenez, Ruben Dario, Garcia Lorca, Pablo Neruda hoặc Vicente Huidobro. Họ chưa được công chúng chấp nhận ngay và hình như chính họ cũng không nhận thức được rằng mình được xem là sứ giả của Trời để quét dọn căn nhà của thơ ca.

Từ đó thơ ca là một bầu trời rộng mở. Không chỉ cho nhóm Những người mới đang là mốt, mà cả cho những người mới nổi lên đang chen vai thích cánh cùng đi. Thơ ca rất được quần chúng yêu mến, và ngày hôm nay khó mà hiểu nổi lúc đó người ta đã chờ đón như thế nào mỗi số “đọc báo chủ nhật” do Carranza phụ trách, hoặc Thứ bảy dưới sự chỉ đạo của Carlos Martin, cựu hiệu trưởng trường trung học của tôi trước đây. Ngoài sáng tác thơ ra, Carranza còn dùng sự nổi tiếng của mình tạo ra một phong cách thi sĩ riêng: cứ vào lúc sáu giờ chiều, với cuốn sách cầm trên tay đặt ngay chính chỗ trái tim, ông lững thững đi suốt dọc đại lộ số Bảy của Bogota. Đó cũng là một hình mẫu của thế hệ của ông, mỗi người tự tạo ra một trường phái theo cách của riêng mình.

Khoảng giữa năm, nhà thơ Pablo Neruda (nhà thơ cách mạng của Chile, giải thưởng Nobel văn chương - ND) với niềm tin thơ ca phải là vũ khí chính trị, đã đến Bogota. Trong những cuộc gặp gỡ, nói chuyện ở Bogota, ông được biết về lập trường phản động của Laureano Gomez, và thay lời chào vĩnh biệt, ông đã phóng bút viết ngay tại chỗ ba bài sonet đả kích, trong đó bốn câu đầu gần như tóm lược giọng điệu của tất cả: Vĩnh biệt Laureano chưa một lần nhận vinh quang (chơi chữ trong tiếng Tây Ban Nha Laureano có gốc chữ vinh quang - ND)

Bạo chúa buồn đau và quốc vương xa lạ

Vĩnh biệt, hoàng đế ở tầng thứ tư

Trước cả thời gian và không thôi chi trả.

Mặc dù rất có cảm tình với phái hữu và là bạn thân của Laureano Gomez, nhưng Carranza vẫn cho đăng trang trọng những bài sonet trên trang văn học, xem như một thành quả báo chí chứ không phải là một tuyên ngôn chính trị. Nhưng lập tức bị phản đối. Trước hết, vì việc đăng ngay trên tờ báo của một người theo phái tự do nhưng gốc bảo thủ như cựu tổng thống Eduardo Santos, một người vừa chống tư tưởng lạc hậu của Laureano Gomez vừa chống lại tư tưởng cách mạng của Pablo Neruda. Sự phản đối ồn ào nhất là của những kẻ đã không chấp nhận một người nước ngoài được phép lạm quyền như vậy. Chỉ riêng việc ba bài sonet ngẫu hứng mang nhiều chất bỡn cợt hơn là chất thơ mà gây nên một cuộc bàn cãi rầm rộ như vậy đã là một dấu hiệu đáng mừng về quyền năng của thi ca vào những năm đó. Thế cho nên, Neruda đã bị chính Laureano Gomez, lúc này đã là Tổng thống nước cộng hòa, và sau đó tướng Gustavo Rojas Pinilla, cấm không được nhập cảnh vào Colombia, nhưng ông cũng đã quá cảnh vài lần ở Cartagena và Buenaventura trong các chuyến hải trình từ Chilê qua châu Âu. Đối với các bạn bè Colombia, mỗi lần ông quá cảnh ở đấy, chuyến đi cũng như chuyến về, đều được đón tiếp như một ngày hội.

Trở lại khoa luật vào tháng Hai năm 1947, tôi đã là thành viên của nhóm Đá và Trời. Mặc dù trước đây tôi đã quen những người nổi tiếng nhất trong nhóm ở nhà Carlos Martin, ở thị trấn Zipaquirá, tôi không dám nhắc họ nhớ lại, thậm chí cả đối với Carranza là người dễ gần nhất. Có lần, tôi đã đứng ngay sát ông ở hiệu sách Grancolombia, tôi đã chào ông như là một người hâm mộ. Ông nhã nhặn đáp lại nhưng không nhận ra tôi. Ngược lại, trong một dịp khác, nhà thơ bậc thầy Leon de Greiff đã đứng dậy rời khỏi bàn ở quán El Molino để đến tận bàn chào hỏi tôi khi có ai đó giới thiệu là tôi đã có truyện ngắn đăng trên báo El Espectador, và ông còn hứa sẽ đọc các truyện đó. Nhưng không may, mấy tuần sau xảy ra vụ bạo loạn ngày 9 tháng 4 tôi phải rời thành phố lúc đó đang chìm trong khói lửa. Bốn năm sau, khi tôi trở lại thì quán El Molino đã biến thành đống tro tàn và nhà thơ bậc thầy đã cùng bầu đoàn và bạn bè chuyển sang quán cà phê El Automatico, nơi mà chúng tôi kết thân với nhau qua chuyện sách vở và rượu chè và nơi ông dạy tôi cách đi các quân cờ vua một cách nhuần nhuyễn.

Các bạn tôi trong thời kỳ đầu thấy khó hiểu việc tôi chỉ chăm chú viết truyện ngắn, và ngay bản thân tôi cũng không tự giải thích được tại sao mình lại làm như vậy trong một đất nước mà thơ ca là biểu hiện nghệ thuật cao nhất. Từ nhỏ tôi đã thuộc thơ, nhất là bài thơ dân gian Nỗi đói nghèo nhân loại rất nổi tiếng, thường được viết trên giấy làm bằng giẻ rách để bán hoặc được ngâm đọc với giá hai xu ở các chợ và nghĩa trang trong các thị trấn hay làng mạc vùng bờ biển Caribe. Còn tiểu thuyết thì ngược lại, rất ít ỏi. Sau cuốn Maria của Jorge Isaacs, người ta đã cho in khá nhiều tiểu thuyết nhưng không có mấy tiếng vang. Jose Maria Vargas Vila là một ngoại lệ với năm mươi hai cuốn tiểu thuyết đi thẳng vào lòng người nghèo. Là một du khách không biết mệt mỏi, hành lý quá cước của ông chỉ là sách của chính mình mà ông mang theo để trưng bày và đắt khách như bánh mì nóng ở các cửa ra vào khách sạn trên toàn lãnh thổ châu Mỹ La tinh và Tây Ban Nha. Cơn gió thoảng hay các bông hoa violet là cuốn tiểu thuyết xuất sắc nhất của ông, một tác phẩm làm tan nát nhiều trái tim hơn bất kỳ cuốn sách nào hay nhất của các tác giả thời bấy giờ.

Những tác phẩm tiểu thuyết đã vượt thời gian là Người bán thịt của Juan Rodriguez Freyle, người Tây Ban Nha được viết trong khoảng thời gian từ 1600 và 1638 thời thuộc địa. Đó là một câu chuyện khá phóng túng về lịch sử vùng đất Tân Granada (vùng đất Colombia thời thuộc địa của Tây Ban Nha - ND) và trở thành một tác phẩm hư cấu bậc thầy; Maria của Jorge Isaacs, năm 1867; Vùng xoáy của Jose Eustasio Rivera, năm 1924; Bà bá tước xứ Yolombo của Tomas Carrasquilla, năm 1926; và Bốn năm tự đi trong mình của Eduardo Zalamea, năm 1934. Không ai đạt được sự vinh quang mà các nhà thơ đã giành được cho dù xứng đáng hay không xứng đáng. Ngược lại, truyện ngắn - dù đã có tiền lệ xuất sắc là những truyện của chính Carrasquilla, nhà văn vĩ đại ở thành phố Antioquia - thì vẫn lặn ngụp trong đống từ ngữ gập ghềnh, vô hồn vô cảm.

Tôi thực sự muốn trở thành nhà văn viết văn xuôi, bằng chứng của nỗi đam mê này là những dòng thơ mà tôi đã bỏ lại trường phổ thông không ký tên hoặc bút danh vì tôi chưa bao giờ có ý định chết vì những vần thơ ấy. Còn hơn thế nữa: Khi những truyện ngắn đầu tiên của tôi được đăng ở báo El Espectador, người ta đã tranh cãi rất nhiều về thể loại này mà không đưa ra được ý kiến thống nhất. Ngày nay, tôi nghĩ rằng việc này được hiểu là cuộc sống lúc đó ở Colombia vẫn như ở thế kỷ XIX. Nhất là ở Bogota buồn thảm của những năm bốn mươi vẫn còn vương vất nỗi nhớ thời thuộc địa; đó là lúc tôi đăng ký, không thích thú và cũng không có mấy quyết tâm, vào học tại khoa luật trường Đại học Quốc gia.

Để kiểm chứng lại điều này, ta chỉ cần chìm đắm vào bầu không khí của trung tâm đầu não giữa đại lộ số Bảy và đại lộ Jimenez de Quesada, mà những người đam mê Bogota gọi là góc phố tuyệt nhất thế giới. Khi chiếc đồng hồ công cộng ở tháp nhà thờ San Francisco điểm mười hai giờ trưa, những người đàn ông dừng lại trên phố hoặc ngừng nói chuyện trong các quán cà phê để chỉnh lại giờ cho đúng với giờ chính thức của nhà thờ. Giao lộ này và những dãy phố xung quanh chính là nơi tập trung đông nhất hai lần trong một ngày những thương nhân, các nhà chính khách, các nhà báo - và tất nhiên cả các nhà thơ - tất cả đều vận đồ đen từ đầu đến chân như ông vua Felipe IV.

Thời tôi là sinh viên, ở nơi này người ta còn đọc một tờ báo có một không hai trên thế giới. Đó là một tấm bảng đen như ở trường học, treo trên bao lơn của tòa báo El Espectador vào lúc mười hai giờ trưa và năm giờ chiều, trên đó được viết bằng phấn những tin tức sốt dẻo nhất. Vào lúc đó, tàu điện cũng khó đi qua được vì đám đông đứng nghẹt phố nóng lòng chờ đọc tin tức. Những độc giả của đường phố đó còn có thể hoan hô nồng nhiệt những tin tức mà họ cho là tốt đẹp, và có thể la ó hoặc ném đá vào chiếc bảng đen nếu có những tin họ không thích. Đó là một hình thức tham gia dân chủ tức thì, trong đó, tờ báo El Espectador đã trở thành hàn thử biểu hiệu quả hơn bất cứ phương tiện nào khác để đo nhiệt độ của dư luận công chúng.

Lúc đó chưa có vô tuyến truyền hình và bản tin của đài phát thanh cũng khá đầy đủ, nhưng chỉ vào những giờ cố định, tức là trước khi ăn cơm trưa và ăn bữa tối, người ta vẫn đến đó chờ chiếc bảng đen xuất hiện để về nhà với những tin tức đầy đủ nhất về thế giới xung quanh. Ở đó, người ta được biết và tiếp tục theo dõi sát sao chuyến bay đơn độc của đại úy phi công Concha Venegas từ Lima (thủ đô của Peru - ND) đến Bogota. Khi có những tin tức như thế này, chiếc bảng đen được thay đổi vài lần ngoài các giờ quy định để nuôi sự háo hức của công chúng bằng những bản tin đặc biệt. Không có ai trong số những độc giả đường phố của tờ báo độc nhất vô nhị biết được rằng: người đã nghĩ ra và thực hiện một cách tận tụy cho ý tưởng đó chính là Jose Salgar, một biên tập viên đầu tiên của El Espectador, người lúc ấy mới hai mươi tuổi và sau này đã trở thành một trong những nhà báo vĩ đại nhất dù chỉ mới tốt nghiệp tiểu học.

Cơ quan đặc trưng nhất của Bogota chính là các quán cà phê ở trung tâm thành phố, nơi toàn bộ cuộc sống của đất nước thường xuyên tập trung về đây. Mỗi người thưởng thức tin tức theo chuyên môn của mình - chính trị, văn học, tài chính - nghĩa là một phần rất lớn lịch sử của Colombia vào thời kỳ này có liên quan chút ít đến bọn họ. Mỗi người có sở thích riêng về từng lĩnh vực, đó cũng là biểu hiện rõ ràng nhân thân của họ.

Nhiều nhà văn và chính khách trong nửa đầu của thế kỷ - bao gồm cả một số tổng thống nước cộng hòa - đã từng học tập trong các quán cà phê trên đường Mười bốn, đối diện với trường Rosario. Windsor, nơi tụ tập các chính khách nổi tiếng, là một trong những quán cà phê sống dai nhất và cũng là nơi trú ẩn của họa sĩ tranh biếm họa vĩ đại, Ricardo Rendón. Chính ở quán này, ông đã sáng tác các tác phẩm lớn và mấy năm sau, ông đã tự tử bằng một phát đạn súng rulô làm nát xương sọ, ngay phía sau cửa hàng Gran Via.

Những buổi chiều buồn chán đã vô tình giúp tôi phát hiện ra rằng trong Thư viện Quốc gia có một phòng hòa nhạc mở cửa cho công chúng. Tôi đã biến nó thành nơi ưa thích để đọc sách dưới sự che chở của các nhà soạn nhạc vĩ đại mà những tác phẩm của họ được chúng tôi yêu cầu bằng giấy thông qua một nhân viên dễ thương để đưa cho dàn nhạc. Trong những người khách thường xuyên, chúng tôi đã tìm được những người có chung sở thích âm nhạc. Thế là tôi đã được nghe phần lớn những tác phẩm mà mình yêu thích thông qua những sở thích khá nhiều và rất phong phú của mọi người. Rồi tôi cũng đâm ra chán ghét Chopin mất mấy năm vì phải nghe đi nghe lại nhạc của ông do thính giả mộ điệu quá si mê đã liên tục yêu cầu diễn lại các tác phẩm này.

Một chiều nọ, tôi thấy phòng này hoàn toàn vắng vẻ vì hệ thống âm thanh bị hỏng; tuy vậy, bà phụ trách vẫn cho phép tôi im lặng ngồi đọc. Lúc đầu tôi cảm thấy đầy vẻ thanh bình, nhưng không đầy hai giờ sau, tôi đã thấy không thể nào tập trung tư tưởng cho việc đọc sách vì cảm thấy bứt rứt như có lửa đốt cháy trong lòng và làm tôi có cảm giác không phải là tôi nữa. Phải mất mấy ngày tôi mới nhận ra rằng: cách chữa nỗi bức xúc trong lòng tôi không phải là sự tĩnh lặng của căn phòng mà phải là bầu không khí đậm đặc âm nhạc, và từ đó, nó đã trở thành nỗi đam mê gần như bí ẩn và vĩnh viễn của tôi.

Phòng hòa nhạc đóng cửa vào những chiều Chủ nhật nên thú tiêu khiển có hiệu quả nhất của tôi là đi chơi trên tàu điện có cửa kính màu xanh dương, mà chỉ với năm xu tiền vé có thể đi không nghỉ từ quảng trường Bolivar cho đến tận đại lộ Chile và tưởng như được kéo theo sau một cái đuôi bất tận các chiều Chủ nhật chán ngắt. Việc duy nhất mà tôi đã làm trong các chuyến đi luẩn quẩn vòng vo đó là đọc thơ, có lẽ cứ một dãy phố thì tôi đọc một bài thơ cho đến khi những bóng đèn đường đầu tiên được bật lên lung linh dưới làn mưa phùn. Sau đó, tôi đi lang thang khắp các quán cà phê im ắng trong những khu phố cổ để tìm một ai đó làm phúc chịu ngồi nói chuyện với tôi về những bài thơ vừa đọc. Nhiều lần tôi cũng gặp được người - bao giờ cũng là đàn ông - và chúng tôi ở bên nhau đến quá nửa đêm ở một căn phòng bẩn thỉu nào đó, hút tiếp những điếu thuốc lá mà chúng tôi đã vứt đi và nói chuyện tiếp về thơ ca trong khi những người khác trên thế giới đang nồng nhiệt làm tình.

Thời đó, tất cả mọi người đều trẻ nhưng thường chúng tôi còn gặp những người khác trẻ hơn mình. Các thế hệ cứ đẩy nhau đi, nhất là trong số các nhà thơ và bọn tội phạm, và khi ta vừa làm xong một việc gì đó thì đã thấy thấp thoáng có ai đó đe dọa sẽ làm việc này tốt hơn. Thỉnh thoảng, tôi tìm thấy trong đống giấy tờ cũ một số ảnh đã được các bác thợ ảnh đường phố chụp ngoài cửa nhà thờ San Francisco, và tôi không nén được tiếng kêu thương hại vì nó không giống ảnh của chúng ta mà lại giống ảnh của đám con cái của chính mình. Trong một thành phố mà các cánh cửa giả vờ khép kín thì chẳng có cái gì dễ dàng cả và tệ hơn là lại phải sống không tình yêu vào những buổi chiều Chủ nhật. Ở đó, tôi đã ngẫu nhiên quen với bác ruột mình là ông Jose Maria Valdeblanquez, mà tôi cứ ngỡ là được gặp lại ông ngoại mang ô đi giữa đám đông trong lễ Misa ngày Chủ nhật. Trang phục không che bớt tí gì sự giống nhau giữa hai người: ông bác vận quần màu đen, áo trắng cổ cồn, cà vạt sọc chéo, áo gi-lê buộc dây đeo đồng hồ, mũ cứng và đôi kính gọng vàng. Tôi xúc động đến mức vô tình chắn ngang lối đi. Ông nâng ô lên đe nẹt và lườm tôi:

- Tránh ra cho tôi đi qua được chứ?

- Xin ông thứ lỗi - tôi ngượng ngập trả lời. - Tại vì cháu lầm ông với ông ngoại cháu.

Ông tiếp tục nhìn xoi mói tôi và hỏi mỉa mai:

- Thế tôi có thể biết ông ngoại nổi tiếng như cồn của cậu là ai được chứ?

Tự thấy mình đã hơi hỗn xược, tôi liền nói họ tên đầy đủ của ông ngoại. Ông liền hạ chiếc ô xuống và mỉm cười vui vẻ:

- Chúng tôi giống nhau là phải rồi vì tôi là con cả của ông ấy mà lỵ.

Ở trường Đại học Quốc gia, cuộc sống hàng ngày dễ chịu hơn. Tuy nhiên, bây giờ trong trí nhớ của tôi cũng không còn lưu lại chuyện đời thực nào thời bấy giờ, bởi vì tôi tin là mình chưa phải là sinh viên khoa luật lấy một ngày nào dù điểm học kỳ một - học kỳ duy nhất mà tôi hoàn thành ở Bogota - cho phép tôi tin điều ngược lại. Ở đó không có thời gian và cơ hội để thiết lập các mối quan hệ cá nhân như ở trường trung học; sau các giờ lên lớp, các bạn học cùng khoa lại tỏa đi khắp nơi trong thành phố. Điều làm tôi ngạc nhiên thích thú nhất là được gặp lại nhà văn Pedro Gomez Valderrama, người mà tôi được biết là có cộng tác với các trang văn học từ khi còn trẻ và sau này là một trong những người bạn lớn của tôi cho đến khi ông mất sớm. Thời kỳ đó, ông là Tổng thư ký của khoa luật.

Người bạn học cần mẫn nhất của tôi từ năm học đầu tiên là Gonzalo Mallarino Botero, người duy nhất có thói quen tin vào một số điều kỳ diệu của cuộc đời là thật dù chưa chắc đã đúng.

Chính anh là người chỉ cho tôi thấy là khoa luật không hẳn đã cằn cỗi như tôi tưởng, bởi vì ngay ngày đầu tiên anh đã kéo tôi ra khỏi lớp thống kê và nhân khẩu học, vào lúc bảy giờ sáng và ra quán cà phê trong trường đại học để thi thơ với nhau. Buổi sáng đó, anh ngâm thuộc lòng thơ của những nhà thơ cổ điển Tây Ban Nha, và tôi đối lại bằng các bài thơ của các nhà thơ trẻ Colombia đã từng nổ súng chống lại những cái đuôi rơi rớt của thơ ca thế kỷ trước.

Ngày Chủ nhật, anh thường mời tôi về nhà nơi anh sống với mẹ và các anh chị em trong một bầu không khí đầm ấm giống như ở nhà bố mẹ tôi. Victor, anh cả, là một nghệ sĩ sân khấu, một nghệ sĩ ngâm thơ có tiếng trong những vùng nói tiếng Tây Ban Nha. Từ khi thoát khỏi sự đỡ đầu của bố mẹ, chưa bao giờ tôi có được cảm giác như ở nhà mình cho đến khi được gặp Pepa Botero, người mẹ của anh em nhà Mallarino, quê gốc xứ Antioquia nhưng không hề mất đi một chút nào cốt tủy quý tộc Bogota. Với trí thông minh tự nhiên và cách nói kỳ diệu, bà có tài đặt đúng chỗ những từ thô tục làm sống lại tinh hoa của ngôn ngữ Xecvantec. Đó là những buổi chiều đáng nhớ, ngồi nhìn hoàng hôn buông xuống thảo nguyên xanh ngút trời bên ly ca cao thơm ngào ngạt và bánh phô-mai nóng. Những điều mà tôi học được ở ngôn ngữ cởi mở và cách nói về mọi điều trong cuộc đời của Pepa Botero là vô giá cho kho ngôn ngữ mới trong đời thực của mình.

Những người bạn học khác cùng chí hướng là Guillermo Lopez Guerra và Alvaro Vidal Varon, vốn là những tòng phạm với tôi ở trường trung học ở Zipaquirá. Tuy nhiên ở trường đại học, tôi gần gũi hơn với Luis Villar Borda và Camilo Torres Restrepo, những người đã tận tụy làm phụ trương văn học của La Razon, một nhật báo gần như bí mật do nhà thơ và nhà báo Juan Lozano lãnh đạo. Trong những ngày báo lên khuôn, tôi thường đi cùng với họ đến tòa soạn và giúp họ một tay trong trường hợp khẩn cấp vào giờ chót. Có vài lần tôi được gặp Tổng biên tập, người có những bài sonet khiến tôi rất khâm phục, nhất là khi ông xuất hiện trong trang các nhân vật nổi tiếng cấp quốc gia đăng trên tạp chí Sabado. Ông nhớ mang máng bài viết của Ulises về tôi, nhưng chưa đọc truyện ngắn nào của tôi và tôi đã lẩn tránh đề tài này vì biết là ông không thích thú gì. Ngay từ ngày đầu tiên, khi chia tay, ông đã nói với tôi rằng các trang của báo sẵn sàng mở cửa cho tôi, nhưng tôi không coi đó là lời hứa của một người Bogota.

Trong quán cà phê Asturias, Camilo Torres Restrepo và Luis Villar Borda, những bạn cùng khoa luật đã giới thiệu tôi với Plinio Apuleyo Mendoza, người ở tuổi mười sáu đã cho in một loạt bài văn xuôi trữ tình, một thể loại đang thịnh hành do Eduardo Carranza khởi xướng trong toàn quốc từ các trang văn học của tờ báo El Tiempo. Anh ta có nước da nâu sạm, mái tóc cứng mang nét đặc trưng của thổ dân indio. Tuy còn trẻ nhưng anh đã được trao viết chuyên mục trên tuần báo Sabado do bố anh, ông Plinio Mendoza Neira, sáng lập. Ông này nguyên là Bộ trưởng chiến tranh và là một nhà báo lớn bẩm sinh dù trong đời có lẽ chưa từng viết một dòng báo đầy đủ nào. Tuy nhiên, ông đã chỉ cách cho nhiều người viết theo nội dung của ông trên tờ báo do ông sáng lập, khai trương một cách ồn ào và rồi sau đó lại từ bỏ vì bận bịu với những chức vụ chính trị cao cấp hoặc là để dành thời gian thành lập các công ty to lớn mà kết quả thì lại thật là bi đát. Vào thời đó, tôi chỉ gặp người con đôi ba lần, thường cùng với các bạn học của tôi. Tôi kinh ngạc nhận ra rằng ở tuổi ấy, anh tư duy như một ông lão, nhưng tôi không ngờ rằng: nhiều năm sau hai chúng tôi lại cùng chia sẻ nhiều việc về báo chí vì lúc đó tôi vẫn chưa coi báo chí là một nghề và là một ngành khoa học, mà tôi lại thích luật hơn.

Trên thực tế, tôi chưa bao giờ nghĩ rằng mình sẽ thích thú với công việc này. Cho đến một hôm Elvira Mendoza, em gái của Plinio, thực hiện một cuộc phỏng vấn bất thường với nghệ sĩ ngâm thơ người Argentina Berta Singerman, việc này đã làm thay đổi hoàn toàn thành kiến của tôi đối với nghề báo và thế là tôi tự phát hiện ra một năng khiếu đã bị lãng quên. Hơn cả một cuộc phỏng vấn cổ điển gồm câu hỏi và trả lời - đã từng làm cho tôi nghi vấn và bây giờ vẫn tiếp tục nghi ngờ hiệu quả của nó - nó là một trong những cuộc phỏng vấn độc đáo nhất được đăng ở Colombia. Vài năm sau, khi Elvira Mendoza đã trở thành một nhà báo nổi tiếng tầm cỡ quốc tế và là một trong những bạn gái của tôi, cô ấy đã kể lại với tôi rằng đó chẳng qua chỉ là cách tuyệt vọng để tránh một thất bại.

Chuyến thăm của Berta Singerman là một sự kiện trong ngày. Elvira - lúc đó đang phụ trách ban phụ nữ của tạp chí Sabado - xin phép được phỏng vấn bà ta. Bố của Elvira cho phép một cách dè dặt vì biết con gái chưa quen với thể loại này. Tòa soạn tạp chí Sabado vốn là một nơi tụ họp của các nhà trí thức nổi tiếng thời kỳ đó và Elvira nhờ những vị tai to ấy chuẩn bị sẵn câu hỏi giúp cô. Nhưng Elvira đã ở bên bờ vực của nỗi sợ hãi khi phải đối đầu với sự coi thường của bà Berta Singerman trong căn phòng sang trọng đặc biệt của khách sạn Granada nơi bà ấy tiếp cô.

Ngay câu hỏi đầu tiên, bà ta đã vui vẻ từ chối trả lời vì cho là quá ngu xuẩn hoặc là ngớ ngẩn mà không biết rằng đằng sau mỗi câu hỏi đó có một nhà văn tài năng mà bà ta từng quen biết và hết sức thán phục do đã qua thăm Colombia vài lần. Elvira, vốn luôn luôn có tài ứng đối nhanh nhạy đã phải nuốt thầm nước mắt và nhẫn nại chịu sự lăng mạ ấy. Phu quân của bà Berta Singerman đột ngột bước vào phòng và cứu Elvira khỏi một tai nạn nghề nghiệp nghiêm trọng, bởi vì chính ông đã xoay chuyển tình hình một cách tinh tế và hết sức vui vẻ.

Elvira không viết lại những lời đối thoại của bà nghệ sĩ nổi tiếng trả lời các câu hỏi chuẩn bị sẵn, mà viết lại thành một bài phóng sự về những khó khăn của cô khi tiếp xúc với bà Berta. Tận dụng sự can dự bất ngờ của chồng bà ta, Elvira đã biến ông thành nhân vật chính của cuộc gặp gỡ. Khi đọc lại bài báo, bà Berta Singerman đã nổi cơn tức giận đến mức không ai ngờ tới. Nhưng Sabado đã trở thành tạp chí được nhiều người đọc nhất và số lượng phát hành hàng tuần của nó đã lên đến trăm ngàn bản cho một thành phố chỉ có sáu trăm ngàn dân.

Nhờ máu lạnh và tài ứng biến mà Elvira Mendoza đã tận dụng được sự ngu đần của Berta Singerman để vạch rõ cá tính thực sự của bà ta, chính việc này lần đầu tiên đã gợi tôi suy nghĩ đến khả năng của thể loại phóng sự không những là một phương tiện tuyệt vời chuyển tải thông tin mà còn hơn thế nữa: là một thể loại văn học. Chỉ một thời gian ngắn sau đó, tôi đã được trực tiếp thể nghiệm điều này đến mức tin tưởng và bây giờ, hơn bao giờ, tôi vẫn tin rằng tiểu thuyết và phóng sự là hai đứa con cùng một mẹ.

Cho đến lúc đó, tôi chỉ dám mạo hiểm với thơ: những bài thơ châm biếm trong tạp chí của trường ở San Jose và một số bài văn xuôi trữ tình hoặc sonet về tình yêu tưởng tượng theo phong cách của nhóm Đá và Trời trong số báo cuối cùng của trường trung học quốc gia. Trước đó, Cecilia Gonzalez, người bạn gái tòng phạm của tôi ở thị trấn Zipaquirá, đã thuyết phục được nhà thơ và nhà viết tiểu luận Daniel Arango cho đăng lời một bài hát nho nhỏ do tôi viết, ký bút danh, trong một góc khuất nhất của phụ trương Chủ nhật của báo El Tiempo. Dù được in trên báo nhưng tôi không hề xúc động cũng không cảm thấy mình là nhà thơ. Ngược lại, với bài phóng sự của Elvira, tôi lại có ý thức về một nhà báo còn say ngủ trong trái tim mình và hăng hái muốn đánh thức nó dậy. Tôi bắt đầu đọc báo theo cách khác. Camilo Torres và Luis Villar Borda đều đồng ý với tôi và nhắc lại thiện ý của ông Juan Lozano muốn dành những trang ở báo La Razon cho tôi, nhưng tôi chỉ dám đăng hai bài thơ có tính kỹ thuật mà không bao giờ thừa nhận là của mình. Họ cũng bảo tôi đến nói chuyện với Plinio Apuleyo Mendoza để được đăng trên tạp chí Sabado, nhưng tính e ngại cầu cạnh người khác đã cảnh báo tôi rằng còn nhiều việc phải làm trước khi có thể mạo hiểm mò mẫm đi vào một nghề mới. Tuy nhiên, tự khám phá ra khả năng của mình cũng có điểm bổ ích ngay tức thì, vì thời gian này tôi đang quẩn quanh với ý nghĩ rằng tất cả mọi điều tôi viết ra, văn xuôi hay thơ, thậm chí cả bài tập trong trường trung học đều là sự bắt chước trắng trợn nhóm Đá và Trời, và tôi tự đề ra mục tiêu thay đổi một cách sâu sắc kể từ truyện ngắn tiếp theo.

Tình bạn với Camilo Torres và Villar Borda nhanh chóng vượt ra khỏi phạm vi lớp học và tòa soạn, và thời gian mà chúng tôi cùng đi với nhau ngoài phố nhiều hơn là ở trường đại học. Cả hai cùng nung nấu ý thức bất mãn quyết liệt đối với thực trạng chính trị và xã hội của đất nước. Đắm chìm trong thế giới kỳ bí của văn chương, thậm chí tôi không thèm hiểu những phân tích thời cuộc xung quanh và những dự báo đen tối của hai người bạn ấy, nhưng dấu ấn về tình bạn của họ vẫn in đậm trong những kỷ niệm thích thú và hữu ích nhất vào thời gian đó của tôi.

Ngược lại, ở trường đại học, tôi gần như câm lặng. Tôi luôn tự trách mình thiếu sự tôn trọng đối với thành tựu của những người thầy có tên tuổi lớn mà lại phải chịu đựng sự chán ngán của chúng tôi. Trong số đó có thầy Alfonso Lopez Michelsen, con trai của vị tổng thống duy nhất được tái cử ở Colombia trong thế kỷ XX, và tôi tin là người thầy này sinh ra để làm tổng thống, và trên thực tế đúng là sau đó ông đã trở thành tổng thống thật. Ông đến lớp giảng bài nhập môn luật học đúng giờ đến phát ghét và thường vận chiếc áo khoác bằng len mỏng được may ở Luân Đôn. Khi giảng bài, ông không thèm nhìn ai với vẻ lơ đãng của người cận thị thông minh như đang đi trong giấc mơ của người khác. Những bài giảng của ông, theo ý tôi, rất đơn điệu cũng như các môn khác trừ thơ ca ra, nhưng giọng nói của ông có sức mê hoặc của người chuyên bắt rắn. Kho tàng kiến thức văn học rộng lớn đã được ông tận dụng qua các bài viết cũng như trong khi trò chuyện và đảm bảo cho ông một uy tín chắc chắn. Nhưng mãi mấy năm sau, tôi mới đánh giá hết sự hiểu biết của ông khi chúng tôi quen biết nhau và trở thành bạn bè. Uy tín chính trị của ông được bổ sung thêm vẻ hào hoa phong nhã và sự nhạy bén tinh quái để có thể phát hiện ra những mưu đồ ẩn sâu của người khác, nhất là của những người ông ít ưa nhất. Nhưng tài năng xuất sắc nhất của ông như một người của công chúng chính là khả năng tạo ra những tình huống lịch sử chỉ qua một câu nói.

Cùng với thời gian, chúng tôi đã trở thành bạn bè thân thiết, nhưng hồi ở trường đại học, tôi không phải là một sinh viên chăm chỉ và cần mẫn, hơn nữa tính nhút nhát bẩm sinh đã khiến tôi luôn cách xa mọi người, đặc biệt những người mà tôi khâm phục. Vì lẽ đó mà tôi rất ngạc nhiên khi được thầy cho phép dự kỳ thi cuối năm thứ nhất, mặc dù tôi không hội đủ số giờ lên lớp và rất xứng đáng với danh hiệu “sinh viên vô hình”. Tôi lại phải giở mẹo đánh lạc hướng chú ý của thầy sang đề tài khác bằng thủ thuật tu từ học. Tôi nhận ra ngay rằng thầy giáo cũng biết trò láu cá của mình, nhưng có lẽ lại coi đó như trò giải trí văn học. Mắc mớ duy nhất xảy ra ở đoạn cuối của bài thi khi tôi dùng từ prescripcion (thời hiệu) và thầy liền yêu cầu tôi định nghĩa nó để xem tôi có hiểu những điều mình đang nói hay không.

- Thời hiệu là việc giành được một tài sản sau một thời gian trôi qua - tôi nói.

Ngay lập tức, ông hỏi lại:

- Giành được hay mất đi?

Thực ra là một, nhưng vì tôi không nắm chắc nên không dám tranh luận, và tôi tin rằng đó là một trong những câu nói đùa nổi tiếng của ông , bởi vì điểm tổng kết môn học đã chứng tỏ điều này. Mấy năm sau, tôi có nhắc lại chuyện này nhưng tất nhiên ông không còn nhớ gì nữa, thế là cả ông và tôi đều không tin là có vụ việc đó xảy ra.

Cả hai chúng tôi đều coi văn chương là chỗ nương thân để quên đi những vấn đề chính trị và những điều bí ẩn của khái niệm thời hiệu, rồi lao vào bàn cãi về những cuốn sách kỳ lạ và những nhà văn đã bị lãng quên, trong những buổi đàm đạo bất tận mà thỉnh thoảng làm thất bại cả cuộc viếng thăm hay làm sốt ruột các bà vợ của chúng tôi. Mẹ tôi còn làm cho tôi tin rằng chúng tôi có họ hàng với nhau nữa, mà đúng là như vậy thật. Tuy nhiên, trên cả mọi mối liên hệ đã bị thất lạc từ trước, giữa chúng tôi có chung một niềm đam mê tiếng hát núi đồi.

Một người họ hàng xa đằng của bố tôi là Carlos H. Pareja, giáo sư môn kinh tế chính trị và là ông chủ của hiệu sách Grancolombia, nơi thường trưng bày sách trên bàn và không có ai giám sát những cuốn sách mới của các tác giả vĩ đại khiến đám sinh viên rất thích đến. Đến cả những học trò của ông, như chúng tôi chẳng hạn, cũng thâm nhập vào nơi này trong những buổi chiều ít bị những người chủ để ý đến, để khoắng đi một cách khéo léo những cuốn sách với cái lý được ghi trong nội quy trường học: ăn cắp sách là một việc làm có lỗi chứ không có tội. Không phải là vì lý do đạo đức mà chẳng qua vì nhút nhát, nên vai trò của tôi trong các vụ cướp cạn này chỉ là hậu thuẫn, canh chừng phía sau lưng cho những anh chàng nhanh tay với điều kiện là ngoài các cuốn sách cho mình, họ phải quơ thêm cả một số cuốn do tôi mách. Chiều hôm ấy, một trong những tòng phạm với tôi vừa ăn cắp được cuốn Thành phố không có Laura của Francisco Luis Bernardez thì tôi bỗng thấy có ai bóp một cách thô bạo vào vai mình với giọng nói của viên thượng sĩ cảnh sát:

- Mẹ kiếp, cuối cùng cũng tóm được rồi!

Tôi sợ hãi quay người lại và đối diện với thầy giáo Carlos H.

Pareja, trong khi ba trong số những người tòng phạm với tôi bỏ chạy tán loạn. Trước khi kịp tỏ lời xin lỗi, thì rất may tôi nhận ra rằng thầy không tóm tôi vì tội ăn cắp mà vì không thấy tôi đến lớp suốt cả tháng vừa qua. Sau mấy lời trách móc thông thường, ông hỏi tôi:

- Có phải cháu là con của Gabriel Eligio không?

Đúng là như vậy, nhưng tôi trả lời là không vì biết rằng bố của ông và bố của tôi tuy là họ hàng nhưng đã xa rời nhau vì một xung đột cá nhân mà tôi không hiểu rõ. Nhưng sau đó, chính ông cũng biết sự thật và luôn coi trọng tôi trong hiệu sách cũng như trên lớp học đúng như một người cháu họ của mình, và giữa hai chúng tôi có mối quan hệ mang yếu tố chính trị nhiều hơn văn chương, mặc dù ông cũng đã từng viết và xuất bản vài cuốn thơ với bút danh Simon Latino. Tuy nhiên, mối quan hệ họ hàng chỉ giúp ông ngăn tôi không làm bình phong cho đám ăn trộm sách.

Một thầy giáo tuyệt vời khác là Diego Montana Cuellar, người khác hẳn Lopez Michelsen và giữa hai người hình như có mối thâm thù kín đáo. Lopez là một người theo phái tự do tinh quái còn Montana Cuellar thuộc phái cánh tả triệt để. Ngoài giờ học, tôi vẫn có mối quan hệ tốt với Montana Cuellar và tôi thấy Lopez Michelsen xem tôi là con chim non trong làng thơ ca, ngược lại Montana Cuellar thì lại xem tôi là một tờ quảng cáo tốt cho cuộc vận động cách mạng của mình.

Tôi có cảm tình với Montana Cuellar từ khi thấy ông bàn bạc công việc với ba sĩ quan trẻ của một trường sĩ quan luôn mặc lễ phục đến lớp chúng tôi. Họ theo kỷ luật giờ giấc như trong trại lính, ngồi túm lại một ghế ở góc xa, ghi chép hết sức cẩn thận và có điểm số xứng đáng. Ngay từ những ngày đầu tiên, Diego Montana Cuellar đã khuyên họ không nên mặc quân phục đến lớp. Họ lịch lãm trả lời là làm theo lệnh của cấp trên. Dù sao đi nữa, thì ngoài vẻ kỳ lạ đó, đối với sinh viên và giáo viên trong trường, ba viên sĩ quan này luôn là những sinh viên mẫu mực.

Bao giờ họ cũng đến cùng nhau, mặc quần áo như nhau và rất đúng giờ. Họ ngồi chỗ riêng, là những sinh viên rất nghiêm túc và chăm chú nghe giảng, nhưng tôi thấy hình như họ ở một thế giới khác với thế giới của chúng tôi. Nếu có ai muốn nói chuyện thì họ rất chú ý lắng nghe và tỏ ra rất dễ mến, nhưng theo một công thức bất di bất dịch: không nói gì hơn ngoài những điều người khác hỏi. Trong các kỳ kiểm tra, bọn sinh viên dân sự chúng tôi thường chia thành từng nhóm bốn người một để học ôn ở quán cà phê; thứ Bảy chúng tôi đi khiêu vũ, chơi các trò chơi của sinh viên trong các quán ăn hiền hòa và trong các nhà thổ tồi tàn, nhưng không bao giờ chúng tôi thấy bóng dáng, dù là ngẫu nhiên của các bạn học sĩ quan đó.

Trong suốt năm học dài vô tận ở trường đại học, tôi chỉ kịp chào hỏi họ một đôi lần. Không có thời gian vì họ đến lớp rất đúng giờ và ra khỏi lớp ngay sau câu nói cuối cùng của thầy giáo. Họ không chủ động nói chuyện với ai ngoại trừ với các quân nhân trẻ tuổi học ở năm thứ hai, cũng thường cùng túm tụm lại với nhau trong giờ ra chơi. Tôi không hề biết tên họ và sau này cũng không hề có tin tức gì về họ. Ngày nay, tôi nhận thấy rằng sự dè dặt lớn nhất không phải là từ phía họ mà là từ phía tôi, vì tôi không bao giờ vượt qua được nỗi cay đắng mà ông bà ngoại đã từng gieo vào lòng, khi họ nhắc lại những cuộc chiến tranh thất bại và cuộc đàn áp tàn bạo những công nhân trồng chuối.

Jorge Soto del Corral, thầy giáo môn luật hiến pháp, nổi tiếng là người thuộc lòng hiến pháp của tất cả các nước trên thế giới; và lúc đứng lớp, thầy luôn khiến cho chúng tôi choáng ngợp vì sự thông minh và tầm hiểu biết uyên thâm về luật pháp của mình chỉ tiếc là rất hiếm khi thầy vui vẻ. Tôi tin tưởng rằng ông là một trong những người thầy đã làm tất cả để trong lớp không nổi lên những chính kiến khác nhau về chính trị, nhưng sinh viên vẫn nhận ra nhiều điều hơn cả những gì mà các thầy nghĩ thông qua từng động tác của tay, cách nhấn mạnh ý tưởng của các ông; bởi vì chính ở trường đại học là nơi người ta cảm thấy sâu sắc nhất nhịp đập của một đất nước đang đứng bên bờ một cuộc nội chiến mới sau hơn bốn mươi năm hòa bình được ấp ủ giữa súng đạn.

Mặc dù mắc chứng bệnh trốn học mãn tính và lười biếng trong tư duy pháp luật, tôi vẫn vượt qua các môn dễ của năm thứ nhất trường luật nhờ nỗ lực hâm nóng ở những giờ chót, còn những môn khó nhất thì tôi đành phải dùng đến các mẹo cũ để khôn khéo đánh lạc hướng chú ý của các thầy sang đề tài khác. Sự thật là tôi chán học luật đến tận cổ và không biết cách nào ra khỏi đường hầm không lối thoát đó. Luật vốn đã là môn học mà tôi hiểu biết ít nhất và cũng chán nhất so với các môn khác ở trường trung học, và tôi chưa đủ lớn để tự mình quyết định. Cuối cùng, sau mười sáu tháng cùng chung sống một cách kỳ diệu tôi chỉ còn lại được một nhóm bạn cho phần còn lại của cuộc đời mình.

Niềm say mê học tập của tôi vốn đã ít lại càng ít hơn sau bài báo của Ulises, nhất là ở trường đại học bạn bè bắt đầu coi tôi như một nhà văn. Việc này trùng hợp với quyết định của tôi phải học cách xây dựng một cơ cấu vừa giống như thực lại vừa huyền ảo nhưng không được có một kẽ hở nào. Với những hình mẫu vừa hoàn thiện vừa thô ráp, như tác phẩm Vua Edipo của Sófocles trong đó nhân vật chính điều tra cái chết của bố mình và cuối cùng phát hiện ra chính mình là kẻ sát nhân; như Bàn tay khỉ của W.W. Jacob - một truyện ngắn hoàn hảo trong đó tất cả mọi chuyện đều xảy ra một cách ngẫu nhiên; như Viên mỡ bò của Maupassant và biết bao những người phạm tội vĩ đại khác đang được Chúa cưu mang trên vương quốc thiêng liêng của Người. Rồi một đêm Chủ nhật, tôi đã gặp một chuyện đáng kể ra đây. Suốt ngày hôm đó, tôi đã ngồi than vãn những thất bại văn chương của mình với Gonzalo Mallarino ở nhà anh trên đại lộ Chile. Trên đường về nhà trọ, tôi phải đi chuyến xe điện cuối cùng và ở ga Chapinero tôi thấy một con faunus (thần đồng nội trong thần thoại Hi Lạp đầu người, chân dê - ND) bằng xương bằng thịt bước lên xe. Tôi nói rõ: một con faunus. Tôi nhận thấy không có ai trong số hành khách ít ỏi trên chuyến xe điện vào nửa đêm hôm đó tỏ ra kinh ngạc khi nhìn thấy nó, và điều này khiến tôi nghĩ rằng có lẽ đó là một người đóng giả để bán hàng trong các công viên dành cho trẻ em vào Chủ nhật hàng tuần. Nhưng thực tế đã thuyết phục tôi là điều đó không thể xảy ra được vì cặp sừng và bộ râu hoang dã giống hệt của một con dê thật đến mức tôi còn ngửi thấy đến cả mùi hôi của bộ lông của nó. Trước khi tàu chạy đến phố số Hai mươi sáu, tức là ga gần nghĩa trang, nó đàng hoàng bước xuống như người cha của một gia đình mẫu mực và biến mất sau lùm cây trong công viên.

Sau nửa đêm, tỉnh giấc vì sự lăn lộn của tôi ở trên giường, Domingo Manuel Vega liền hỏi tôi có chuyện gì. “Tớ thấy một con faunus đi lên xe điện”, tôi nói trong cơn ngái ngủ. Hoàn toàn tỉnh táo, anh ta đáp lại rằng nếu tôi bị ác mộng thì chắc là vì bữa ăn khó tiêu của ngày Chủ nhật, nhưng nếu là đề tài của truyện ngắn sắp tới của tôi thì anh ta thấy đúng là tuyệt vời. Sáng hôm sau, tôi không còn biết là trên thực tế mình đã thấy một con faunus lên tàu điện thật không hay chỉ là một ảo giác ngày Chủ nhật. Tôi đành thừa nhận là đã ngủ thiếp đi vì cơn mệt mỏi của ban ngày và đã có một giấc mơ rõ ràng đến mức không thể tách nó ra khỏi thực tế. Nhưng đối với tôi, điều cơ bản không kết thúc bằng việc con faunus có thật hay không, mà là tôi đã sống với nó y như thật. Và vì lẽ đó - thật hay trong mơ - cũng không được coi chuyện này như là một trò ma thuật của trí tưởng tượng mà phải coi là một kinh nghiệm tuyệt vời của đời mình.

Ngày hôm sau, tôi viết truyện này liền một mạch, xong liền cất xuống dưới gối, và tôi đọc đi đọc lại vài lần trong mấy buổi tối trước khi đi ngủ và vào sáng sớm khi vừa thức dậy. Đó là một truyện kể được róc hết thịt và thẳng tuồn tuột sự kiện xảy ra trên tàu điện, đúng y như nó đã từng diễn ra, và với một phong cách đơn giản như bản tin về một một buổi rửa tội được đăng trên trang mục xã hội của báo. Cuối cùng, bị ám ảnh vì những nghi ngờ mới, tôi quyết định đưa nó ra thử thách qua những con chữ in, nhưng không phải trên tờ El Espectador nữa mà trên phụ trương văn học của tờ El Tiempo. Có lẽ đó là một cách tìm hiểu những ý kiến khác với ý kiến của Eduardo Zalamea. Tôi nhờ một bạn cùng nhà trọ đưa đến tòa soạn cùng với một bức thư gửi ông Jaime Posada, một Tổng biên tập mới và rất trẻ của phụ trương văn học tờ El Tiempo. Tuy nhiên, truyện ngắn đã không được đăng và thư cũng không được phúc đáp.

Những truyện ngắn ở thời kỳ này, theo thứ tự được viết và được đăng trên trang “Cuối tuần”, đã bị biến mất khỏi phòng lưu trữ của tờ báo El Espectador trong vụ một bọn vào cướp phá và đốt trụ sở tòa báo vào ngày 6 tháng 9 năm 1952. Chính tôi cũng không lưu giữ bản sao, kể cả các bạn thân nhất cũng không có nên tôi cứ nghĩ một cách hơi thoải mái là nó đã được đốt đi vì quên lãng. Tuy nhiên, một số phụ trương báo ở tỉnh đã từng thời kỳ đăng lại mà không hề xin phép, một số truyện khác thì được đăng trên các tạp chí cho đến khi được gom lại trong một tập do nhà xuất bản Alfil của Montevideo, Urugoay, ấn hành vào năm 1972 dưới đầu đề của một trong những truyện ngắn đó: Nabo, người da đen bắt các vị thần phải chờ đợi.

Còn thiếu một truyện chưa bao giờ được đưa vào sách, có lẽ là vì chưa tìm được bản đáng tin cậy: “Tubal Cain tạo một ngôi sao”, được in trên El Espectador ngày 17 tháng 1 năm 1948. Tên của nhân vật chính, mà không phải ai cũng biết, là người thợ sắt đã sáng tạo ra âm nhạc. Có ba truyện mà đọc theo thứ tự được viết và được in, tôi thấy nó không được hoàn thiện, không mấy trừu tượng, lại có một số chi tiết ngu xuẩn, và không có chuyện nào được dựa trên sự việc thật. Tôi chưa khi nào xin được ý kiến nhận xét của một nhà phê bình nghiêm khắc như Eduardo Zalamea khi đọc những truyện ngắn này. Những truyện này chỉ quan trọng với tôi chứ không có ý nghĩa gì với người khác vì trong mỗi truyện đều có điều gì đó phù hợp với quá trình thay đổi nhanh chóng của đời tôi trong thời kỳ này.

Nhiều cuốn tiểu thuyết trong số những tác phẩm mà tôi đã say mê đọc vào thời gian này cũng chỉ khiến tôi quan tâm đến những bài học về mặt kỹ thuật. Tức là: chỉ như cái nghề thợ mộc bí ẩn. Từ những khái niệm trừu tượng siêu hình của ba truyện ngắn đầu tiên cho đến ba truyện cuối cùng thời kỳ ấy, tôi luôn tìm thấy những dấu vết cụ thể và bổ ích cho việc hình thành bước đầu của một nhà văn. Trong đầu tôi hoàn toàn không có ý niệm khai thác hình thức nào khác. Tôi nghĩ rằng truyện ngắn và tiểu thuyết không chỉ là hai thể loại văn học khác nhau mà còn là hai tổ chức có bản chất khác nhau nếu hiểu lẫn lộn sẽ đưa đến hậu quả tai hại. Ngày nay, tôi vẫn tiếp tục tin như vậy và lại càng tin chắc hơn bao giờ hết rằng truyện ngắn có vị thế hơn hẳn tiểu thuyết.

Việc được in truyện trên báo El Espectador không chỉ đem lại chiến tích văn học mà còn tạo ra những vấn đề rất đời thực và bi hài đối với tôi. Những người bạn mất liên lạc bấy lâu nay bỗng chặn tôi ở ngoài phố để vay tiền cứu rỗi cho hoàn cảnh của họ, bởi vì họ không thể tin được một nhà văn được đăng truyện một cách trang trọng trên báo lại không được nhận một khoản tiền kếch sù nào. Rất ít người tin vào sự thật là người ta không trả một xu nào cho các truyện của tôi được đăng, và tôi cũng không bao giờ mong đợi điều đó, bởi vì thời đó báo chí ở trong nước không có thói quen trả tiền nhuận bút. Nghiêm trọng hơn là việc bố hết sức thất vọng khi biết chắc rằng tôi không thể tự trang trải được mọi chi phí trong lúc ba trong số mười một đứa em cũng đang phải đi học. Hàng tháng, gia đình vẫn phải gửi cho tôi ba mươi peso. Riêng tiền trọ đã mất mười tám peso, không bao gồm trứng trong bữa điểm tâm và tôi thường xuyên phải bỏ món trứng để dành cho những chi tiêu bất thường. Tôi không biết mình học được từ đâu cái thói vẽ nhăng nhít bên lề các tờ báo, trên các khăn giấy lau miệng hoặc trên mặt bàn bằng đá trong quán cà phê. Tôi tin rằng những bức vẽ đó là con cái trực hệ của những bức mà đứa bé đã vẽ trên tường xưởng kim hoàn của ông ngoại, và đó có lẽ cũng là cách thư giãn dễ dàng. Một người bạn cùng trường ngẫu nhiên quen biết ở quán cà phê El Molino, vốn có ô đỡ đầu lớn nên được nhận vào làm họa sĩ trong bộ nọ dù không hề biết một khái niệm nào về hội họa, đã đề nghị tôi làm việc này hộ anh ta và chúng tôi sẽ chia nhau tiền lương. Trong quãng đời sau này, tôi chưa bao giờ đến gần với tệ tham nhũng như vậy và cũng không bao giờ đến gần với sự hối hận.

Niềm thích thú âm nhạc của tôi lúc này cũng tăng thêm bởi vì những bài hát dân gian vùng bờ biển Caribe - vốn đã nuôi dưỡng tâm hồn tôi từ bé - đang rất thịnh hành ở Bogota. Chương trình nhiều người nghe nhất của đài phát thanh là Một giờ bên bờ biển do ông Pascual Delvecchio dẫn dắt đã trở thành tòa lãnh sự âm nhạc của bờ biển Đại Tây dương trong lòng thủ đô Bogota. Sáng Chủ nhật nào, bọn sinh viên đến từ vùng biển chúng tôi cũng kéo nhau đến nhảy múa ở văn phòng đài phát thanh cho đến tận chiều. Đó là nguồn gốc của sự phổ cập rộng rãi của nền âm nhạc của vùng chúng tôi và cũng là công lao truyền bá của đám sinh viên vùng biển học ở Bogota.

Điều bất tiện duy nhất chính là bóng ma hôn nhân cưỡng bức. Tôi không hiểu nguồn gốc từ đâu mà ở vùng bờ biển người ta tin rằng bọn con gái thủ đô Bogota rất dễ tính với các chàng trai xứ biển để rồi đưa chúng tôi vào bẫy tình và ép phải lấy họ mà mục đích của những cuộc hôn nhân đó không phải vì tình yêu mà vì ảo tưởng được sống trong căn nhà có cửa sổ hướng ra biển. Không bao giờ tôi có ý nghĩ đó. Ngược lại, những kỷ niệm bội bạc nhất đời tôi lại ở trong những nhà chứa hư đốn ở ngoại thành Bogota, nơi chúng tôi thường đến để nôn tháo nôn thốc sau những bữa nhậu say mèm. Ở một trong những nhà chứa bẩn thỉu nhất, tôi suýt bỏ nốt cái mạng sống nhỏ nhoi của mình khi một mụ đàn bà mà tôi vừa chung giường, bỗng xuất hiện, toàn thân lõa lồ trong hành lang gào lên là vừa bị ai lấy mất mười hai đồng peso trong ngăn kéo tủ trang điểm. Hai tên đầu gấu của nhà chứa xông vào đánh gục tôi xuống đất, không chỉ móc nốt hai đồng peso còn lại của tôi sau một cuộc tình chết dẫm mà còn lột truồng tôi đến tận giày và sờ soạng khắp người tôi để tìm số tiền bị mất. Cuối cùng, chúng quyết định không giết mà nộp tôi cho cảnh sát, khi mụ đàn bà nhớ lại ngày hôm trước đã thay đổi chỗ cất giấu tiền và ả đã tìm thấy nguyên vẹn, không mất đồng nào.

Trong số những mối quan hệ bạn bè có từ thời đại học thì mối thân tình với Camilo Torres không những đáng nhớ mà còn bi thảm nhất thời thanh niên của chúng tôi. Hôm ấy, lần đầu tiên anh không đến lớp. Lý do đã được lan nhanh trong trường như hơi thuốc súng. Anh đã thu xếp đồ đạc và quyết định trốn nhà đến một tu viện ở Chiquinquirá, cách Bogota khoảng một trăm cây số. Mẹ đuổi kịp anh ở ga xe lửa và đưa anh về nhốt trong phòng đọc sách. Tôi có đến đó thăm anh. Da dẻ tái hơn mọi ngày, trong chiếc áo len trắng, anh lộ vẻ bình thản khiến lần đầu tiên tôi chợt nghĩ đến tình trạng đặc ân của Chúa. Anh đã quyết chí tu hành và đã che giấu ước nguyện của mình một cách khéo léo.

- Điều khó khăn nhất đã qua rồi - anh nói với tôi.

Đó là cách nói của anh về việc mình đã chia tay với người yêu và được cô ta khen ngợi nguyện vọng của anh. Sau một buổi chiều đàm đạo rất bổ ích, anh tặng tôi một món quà rất khó đoán ý nghĩa: Nguồn gốc muôn loài của Darwin. Tạm biệt anh mà tôi láng máng ngờ rằng đó sẽ là lần chia tay nhau vĩnh viễn.

Chúng tôi không còn gặp lại nhau trong suốt quá trình anh ở trong tu viện. Tôi có tin tức mơ hồ rằng anh đã đi Lovaina để theo một khóa thần học trong ba năm, và rằng dù đã dấn thân vào đời tu hành nhưng vẫn không thay đổi tinh thần sinh viên và cốt cách người thế tục và rằng nhiều cô gái đã thở dài vì anh vẫn tự coi mình như một diễn viên điện ảnh bị giải giáp khoác áo thầy tu.

Mười năm sau, khi đã trở về Bogota và cống hiến cả về thể xác cũng như tâm hồn cho công việc tu sĩ, anh vẫn giữ được những phẩm chất cao đẹp nhất của tuổi vị thành niên. Lúc đó, tôi đã là một nhà văn kiêm nhà báo không bằng cấp, đã có vợ và một con trai, Rodrigo, sinh ngày 24 tháng 8 năm 1959 tại bệnh viện Palermo ở Bogota. Gia đình chúng tôi quyết định chọn cha Camilo chủ trì lễ rửa tội cho con đầu lòng. Người cha đỡ đầu là Plinio Apuleyo Mendoza mà cả hai vợ chồng chúng tôi đều nhất trí chọn từ trước. Người mẹ đỡ đầu là Susana Linares, vợ của German Vargas, nhà báo xuất sắc và người bạn tốt đã truyền đạt cho tôi nhiều kinh nghiệm nghề nghiệp. Trước đó rất lâu, Camilo là người gần gũi với Plinio hơn chúng tôi, nhưng anh lại không chấp nhận cho Plinio làm cha nuôi của con tôi vì anh có nhiều quan điểm giống cộng sản và có lẽ vì cả tính khí thích đùa của anh ta có thể làm mất không khí trang nghiêm của buổi lễ trọng đại. Susana hứa chăm lo phần giáo dục tinh thần cho đứa bé, và Camilo không có hoặc không muốn tìm lý do gì nữa để ngăn cản Plinio làm cha đỡ đầu. Nghi lễ này đã được cử hành tại phòng thờ trong bệnh viện Palermo, trong bầu không khí giá lạnh tranh tối tranh sáng vào lúc sáu giờ chiều chỉ có bố mẹ đỡ đầu và tôi cùng một người nhà quê mặc áo len và đi dép bằng sợi đay rón rén đi vào xem lễ mà không ai để ý. Khi Susana bế đứa bé mới sinh vào thì người cha đỡ đầu bất trị liền nổ câu nói đùa khiêu khích đầu tiên:

- Chúng ta sẽ làm cho đứa bé này thành một du kích vĩ đại.

Camilo, đang chuẩn bị vật dụng cho buổi lễ thiêng liêng, liền phản kích lại bằng đúng giọng điệu: “Đúng vậy, nhưng là một người du kích của Đức Chúa”. Và anh bắt đầu hành lễ với một quyết tâm cỡ trọng pháo, hoàn toàn khác lạ vào thời đó:

- Tôi sẽ tiến hành lễ rửa tội cho đứa bé bằng tiếng Tây Ban Nha để cho những kẻ hoài nghi hiểu được ý nghĩa của thánh lễ này.

Giọng đọc kinh bằng ngôn ngữ Tây Ban Nha của anh ngân nga thánh thót trôi theo dòng suy tư bằng tiếng La-tinh trong đầu tôi như hồi nào còn bé làm phụ lễ nhà thờ ở Aracataca. Đến lúc tắm nước thánh cho đứa bé, Camilo nghĩ ra một công thức khiêu khích mới:

- Những ai tin rằng vào lúc này Thần linh đang tỏa xuống đứa bé thì hãy quỳ xuống.

Cha mẹ đỡ đầu và tôi đứng nguyên tại chỗ, có lẽ hơi khó chịu một chút vì mưu mẹo của cha đạo là người bạn quen trong khi đó đứa bé được bế đung đưa dưới làn nước tắm dội từ từ thẳng xuống. Người duy nhất quỳ gối chính là người nhà quê đi dép sợi đay. Cú sốc của sự kiện này còn đọng mãi trong tôi như một đòn trừng phạt nghiêm khắc đối với cuộc đời mình, bởi vì tôi tin rằng chính Camilo đã đưa người nhà quê đến dự lễ với ý đồ dạy chúng tôi một bài học nhục nhã. Hoặc tối thiểu, cũng có ý nghĩa giáo dục tốt đẹp.

Sau đó, tôi cũng ít khi gặp lại Camilo, thường thì chỉ những dịp có lý do nào đó hoặc vì một vấn đề bức xúc, hầu như đều có liên quan đến các hoạt động từ thiện mà anh thực hiện có lợi cho những người bị truy nã vì lý do chính trị. Sáng sớm nọ, anh bỗng xuất hiện ở nhà của hai vợ chồng mới cưới chúng tôi với một tên ăn trộm đã mãn hạn tù nhưng vẫn bị cảnh sát tiếp tục theo dõi: hắn bị lấy hết đồ đạc trên người. Một lần khác, tôi đã cho hắn đôi giày dã chiến có vẽ hình đặc biệt ở dưới đế. Mấy ngày sau, cô hầu của nhà tôi nhận ra hai đế giày có dấu đặc biệt trong một bức ảnh của một tên tội phạm bị bắn chết trong rãnh nước bên đường phố. Đó chính là tên trộm bạn chúng tôi. Tôi không cho rằng sự kiện này có điều gì đó liên quan đến số phận cuối cùng của Camilo, nhưng mấy tháng sau, anh ấy có vào quân y viện thăm một người bạn bị ốm và không ai biết gì về anh nữa cho đến khi chính phủ công bố rằng anh đã tái xuất hiện như một người du kích trong hàng ngũ của Quân đội giải phóng dân tộc. Anh đã chết vào ngày 5 tháng 2 năm 1966, khi mới ba mươi bảy tuổi, trong một cuộc chiến đấu ác liệt với toán tuần tra của quân chính phủ.

Khi Camilo vào tu viện cũng là lúc tôi thầm quyết định không tiếp tục mất thì giờ ở khoa luật nữa, nhưng cũng chưa đủ can đảm để nói dứt khoát điều này với bố mẹ. Qua em Luis Enrique - đã đến Bogota xin được việc làm khá tốt từ tháng Hai năm 1948 - tôi được biết bố mẹ hết sức hài lòng về kết quả học phổ thông trung học và năm đầu tiên ở khoa luật của tôi và đã bất ngờ gởi cho tôi một máy đánh chữ nhẹ và hiện đại nhất có mặt trên thị trường vào thời đó. Đó là chiếc máy đánh chữ đầu tiên mà tôi có trong đời và cũng là chiếc bất hạnh nhất bởi vì ngay ngày đầu tiên khi vừa nhận được chúng tôi đã cầm cố lấy mười hai peso để tiếp tục liên hoan chào đón em Luis Enrique và các bạn cùng trong nhà trọ. Ngày hôm sau, vẫn còn đau đầu kinh khủng, chúng tôi quay lại cửa hàng để xác minh là chiếc máy đánh chữ vẫn còn nguyên và trong điều kiện tốt cho đến khi có đủ tiền ở trên trời rơi xuống tay chúng tôi để xin chuộc lại. Tôi đã có thể chuộc được nó khi được người bạn họa sĩ trả tiền công nhưng chúng tôi đã quyết định hoãn lại vào dịp khác. Cứ mỗi lần đi qua đó, hai anh em chúng tôi, đi cùng hay đi riêng đều nhìn thấy chiếc máy vẫn nguyên chỗ cũ cùng với các loại máy móc gia dụng khác được bảo vệ kỹ lưỡng. Sau một tháng, những tính toán vui vẻ trong cơn say rượu của chúng tôi vẫn chưa thể thực hiện được, nhưng chiếc máy đánh chữ vẫn còn nguyên, và sẽ được tiếp tục ở đó trong khi chúng tôi có thể trả được tiền lãi vay hàng quý đối với cửa hàng cầm đồ.

Tôi tin là hồi đó chúng tôi chưa nhận biết những sự căng thẳng chính trị ghê gớm đã bắt đầu làm xáo trộn đất nước. Mặc dù nhờ uy tín của một người bảo thủ ôn hòa mà Ospina Perez lên nắm chính quyền, nhưng phần lớn những người trong đảng của ông đều biết rằng thắng lợi của họ chỉ đạt được vì có sự chia rẽ của đảng tự do. Những người tự do, hốt hoảng trước đòn này, đã đổ hết tội lỗi cho Alberto Lleras vì sự vô tư tự sát của ông đã dẫn đến thất bại này. Tiến sĩ Gabriel Turbay, buồn phiền vì tinh thần suy sụp nhiều hơn là vì những lá phiếu của địch thủ, đã bỏ đi châu Âu với lý do là để bổ túc thêm về khoa tim mạch, rồi một năm rưỡi sau đã chết trong cô đơn vì cơn hen của sự thất bại giữa những bông hoa giấy và hoa huệ nước đã khô héo của khách sạn Place Athénée ở Paris. Còn Jorge Eliécer Gaitán thì ngược lại, đã không ngưng nghỉ một ngày trong cuộc vận động tranh cử cho giai đoạn tiếp theo và cải tổ triệt để chương trình khôi phục lại nền đạo đức quốc gia khắc phục sự chia rẽ lâu đời giữa những người tự do và những người bảo thủ, làm sâu sắc thêm bằng cái nhìn hiện thực về sự ngăn cách giữa những kẻ bóc lột và những người bị bóc lột: đó là một đất nước chính trị và một đất nước dân tộc. Với tiếng thét lịch sử: “Hãy xông lên!” và với sức mạnh siêu nhiên của mình, ông đã đi gieo rắc hạt giống chống đối đến tận cùng ngõ ngách xa xôi nhất, trong chiến dịch vận động khổng lồ ngày càng lớn mạnh trong suốt một năm trời, cho đến khi trở thành đêm trước của một cuộc cách mạng xã hội thực sự.

Chỉ đến lúc đó, chúng tôi mới nhận ra rằng đất nước bắt đầu lao xuống vực của chính cuộc nội chiến đã bắt đầu ngay từ khi chúng tôi giành được độc lập từ Tây Ban Nha và được những đứa chắt của chính những người khởi xướng tiếp tục. Đảng Bảo thủ giành lại được chức tổng thống nhờ vào sự chia rẽ của phái tự do sau bốn nhiệm kỳ liên tiếp, đã kiên quyết dùng mọi thủ đoạn để không mất chính quyền lần nữa. Để đạt mục đích này, chính phủ của Ospina Perez đã thực hiện chính sách đốt sạch, giết sạch khiến cả nước rớm máu và sự tàn bạo đó len vào tận từng ngóc ngách đời sống hàng ngày của mỗi gia đình.

Sự vô cảm về chính trị cũng như sự bay bổng, lãng mạn trong đám mây văn học đã không làm tôi hiểu rõ tình hình quá rõ ràng đó, cho đến một đêm khi trở về nhà trọ, tôi bỗng gặp bóng ma lương tâm mình. Thành phố vắng bóng người, trong cơn gió núi lạnh buốt vang vọng tiếng nói của Jorge Eliécer Gaitán đang đọc bài diễn văn thường kỳ vào thứ Sáu hàng tuần tại Nhà hát thành phố. Khán phòng chỉ chứa được không quá 1000 người chen chúc như nêm, nhưng bài diễn văn được truyền đi qua hệ thống loa ở các phố xung quanh và qua đài phát thanh mở hết âm lượng cho toàn thành phố đang nghe một cách sững sờ suốt ba, bốn tiếng đồng hồ.

Tối hôm đó, tôi có cảm tưởng mình là người duy nhất ở ngoài đường phố, trừ góc phố của tòa báo El Tiempo nơi vào thứ Sáu hàng tuần đều có một trung đội cảnh sát vũ trang đứng bảo vệ như đang trong thời chiến. Đó là sự phát hiện mới đối với tôi vì trước đây tôi cứ ngạo mạn không thèm tin trưởng vào Gaitán, và trong đêm đó tôi bỗng hiểu ra rằng đất nước không còn nói tiếng Tây Ban Nha mà người ta đã sáng tạo ra một thứ ngôn ngữ thẳng thắn cho mọi người, không phải trên cơ sở nhũng lời nói mà bằng tất cả niềm xúc động và sự khéo léo trong giọng nói. Trong diễn văn của mình, chính Gaitán bằng giọng điệu khôn khéo của người cha đã khuyên những người nghe bình tĩnh trở về nhà, và thính giả thì diễn giải ý của ông như là một mệnh lệnh cho mọi người phải bày tỏ sự phản đối chống lại tất cả những biểu hiện của mọi bất công trong xã hội và chống lại quyền lực của một chính phủ tàn bạo, ngay cả những viên cảnh sát vốn có nhiệm vụ giữ gìn trật tự cũng được cảnh báo phải làm điều ngược lại.

Đề tài của bài diễn văn tối hôm đó là một bản tổng kết phơi bày tất cả những tệ hại của bạo lực chính phủ qua chính sách đốt sạch, giết sạch để tiêu diệt phái tự do, với một số lượng chưa tính hết về người bị lực lượng chính phủ giết chết ở nông thôn và bao nhiêu làng mạc phải kéo đi tị nạn ở thành phố, không một mái nhà để trú mưa nắng, không miếng bánh mì để lót dạ. Sau bản liệt kê rùng rợn những vụ giết người và đàn áp, Gaitán bắt đầu cất cao giọng, nhấn mạnh từng lời, từng câu đầy sức thuyết phục. Sự chăm chú của công chúng tăng dần theo giọng nói của ông cho đến khi bùng nổ khắp thành phố và qua đài phát thanh làm chấn động đến mọi ngóc ngách xa xôi nhất của đất nước.

Đám đông bị kích động đã đổ ra phố trong trận chiến ác liệt trước sự cho phép ngầm của cảnh sát. Mãi đến tối hôm đó, tôi mới hiểu được nỗi thất vọng của ông ngoại trước đây và những phân tích sáng suốt của Camilo Torres Restrepo. Tôi kinh ngạc nhận ra rằng, ở ngay trong trường Đại học Quốc gia, có sinh viên theo phái tự do, phái bảo thủ, cả những người cộng sản nữa, nhưng không ai cảm thấy sức công phá mà Gaitán đã làm nổ tung cả nước. Tối hôm ấy, khi tôi xúc động trở về nhà trọ thì thấy anh bạn ở cùng phòng với tôi vẫn bình thản nằm trên giường đọc Ortega y Gasset.

- Mình trở về hoàn toàn là người mới, anh Vega ạ - Tôi nói với anh ta - Bây giờ mình mới hiểu những cuộc chiến tranh của đại tá Nicolas Márquez đã bắt đầu như thế nào và tại sao.

Mấy hôm sau - vào ngày 7 tháng 2 năm 1948 - Gaitán chủ trì cuộc mít-tinh chính trị mà lần đầu tiên trong đời tôi tham dự: một cuộc diễn hành tưởng niệm vô vàn những nạn nhân của chính sách bạo lực của chính phủ trên toàn quốc, với sự tham gia của hơn sáu mươi ngàn người vận đồ tang, mang cờ đỏ của đảng và cờ đen tang lễ của phái tự do. Duy nhất chỉ có một khẩu hiệu: im lặng hoàn toàn. Mọi người đã thực hiện nghiêm chỉnh, thậm chí đến tận các bao lơn của các nhà ở và văn phòng nơi chúng tôi đi qua dọc mười một dãy phố xung quanh đại lộ chính của thành phố. Một bà già thì thầm cầu nguyện. Người đàn ông đi bên cạnh kinh ngạc nhìn bà ta:

- Xin bà im lặng cho.

Bà ta thốt ra lời xin lỗi và chìm trong một dãy bóng ma. Tuy nhiên, điều kéo tôi đến bên bờ nước mắt chính là những bước chân cẩn trọng và nhịp thở của đám đông trong cảnh im lặng siêu nhiên.

Tôi đã đi theo mà không hề có một niềm tin chính trị nào, chỉ vì tò mò trước cảnh im lặng, rồi bỗng kinh ngạc thấy cơn khóc đau bị tắc nghẽn ngay trong cổ họng. Bài diễn văn mà Gaitán đã đọc ở quảng trường Bolivar, từ bao lơn cơ quan Thống kê thành phố, đã trở thành điếu văn đầy xúc cảm. Ngược với những dự đoán bi quan của đảng ông, buổi lễ đã kết thúc trong điều kiện đáng sợ của khẩu hiệu: không hề có một tiếng vỗ tay nào.

Đó chính là “cuộc tuần hành trong im lặng” cảm động nhất trong lịch sử nước Colombia. Ấn tượng mà buổi chiều lịch sử đó để lại trong lòng thành viên phái tự do và các kẻ thù của họ là không thể nào ngăn được việc Gaitán thắng cử. Thành viên đảng bảo thủ cũng biết điều đó vì mức độ lan truyền của bạo lực trong toàn quốc, vì sự tàn bạo của lực lượng chính phủ trong các hoạt động trấn áp phái tự do không có vũ khí và vì chính sách giết sạch, đốt sạch. Biểu hiện đáng sợ nhất về tình trạng tâm lý của người dân được thể hiện trong buổi biểu diễn đấu bò tót cuối tuần ở sân đấu Bogota, nơi những người đi xem đã tức giận hò hét chửi rủa con bò tót quá hiền lành và võ sĩ đấu bò thì không đủ sức giết được nó. Đám đông bị kích động đã xông xuống sàn đấu chặt nát con bò sống. Nhiều nhà báo và nhà văn được trực tiếp trông thấy cảnh rùng rợn đó hoặc chỉ được nghe kể lại, đều coi việc này như dấu hiệu đáng sợ của lòng căm giận ghê gớm của người dân cả một nước.

Trong bầu không khí căng thẳng đến ngột ngạt đó, Đại hội Liên Mỹ lần thứ chín đã được khai mạc ở Bogota vào hồi bốn giờ rưỡi chiều ngày 30 tháng Ba. Trước đó, thành phố đã được trang hoàng lại với một khoản chi phí khổng lồ do Ngoại trưởng Laureano Gomez đề xướng, và chính trên cương vị đó mà ông ta chủ trì đại hội này. Tham dự có ngoại trưởng tất cả các nước Mỹ La-tinh và các nhân vật nổi tiếng khác thời bấy giờ. Những nhà chính trị nổi tiếng nhất của Colombia là khách mời danh dự ngoại trừ trường hợp duy nhất và cũng có ý nghĩa nhất đó là Jorge Eliécer Gaitán bị chính Laureano Gomez gạch tên, và cũng có thể do một chính khách thuộc phái tự do đề nghị vì những lời chỉ trích của ông đối với tập đoàn lũng đoạn của cả hai đảng phái. Ngôi sao bắc đẩu của đại hội chính là tướng George Marshall, đại biểu của Mỹ và là anh hùng của cuộc đại chiến thế giới vừa qua, lấp lánh chói sáng như một minh tinh điện ảnh vì đang chỉ đạo cuộc tái thiết châu Âu điêu tàn sau cuộc chiến.

Tuy nhiên, ngày 9 tháng Tư, Jorge Eliécer Gaitán lại là nhân vật chính của mọi tin tức trong ngày, vì ông đã bào chữa cho thiếu úy Jesus Maria Cortes Poveda trắng án trong vụ án mà anh ta bị nghi là đã giết hại nhà báo Eudoro Galarza Ossa. Ông vừa vui vẻ trở về văn phòng luật sư của mình, tọa lạc ở giao lộ đông đúc giữa hai đại lộ số Bảy và Jimenez de Quesada vào khoảng tám giờ sáng, mặc dù phiên tòa hôm trước kéo dài đến tận rạng sáng mới xong. Ông có một vài cuộc hẹn vào những giờ tiếp theo, nhưng đã chấp nhận ngay lời mời đi ăn cơm trưa với Plinio Mendoza Neira, với sáu người bạn và chính khách vừa cùng đến văn phòng chúc mừng thắng lợi của ông trong vụ kiện mặc dù báo chí chưa kịp đưa tin. Trong số đó có bác sĩ riêng và là thành viên trong nhóm cố vấn chính trị của ông là Pedro Eliseo Cruz.

Trong bầu không khí căng thẳng đó, tôi ngồi xuống ăn trưa tại phòng ăn của nhà trọ. Người ta chưa kịp đưa món xúp ra cho tôi thì Wilfrido Mathieu đã đứng sừng sững như trời trồng trước bàn ăn.

- Đất nước này khốn nạn mất rồi - anh ta nói với tôi - Chúng vừa giết chết Gaitán ngay trước quán cà phê El Gato Negro (Con mèo đen) rồi.

Mathieu là sinh viên mẫu mực của khoa y học và giải phẫu, quê ở Sucre như một số người thuê cùng nhà trọ với tôi; anh ta thường linh cảm thấy điềm xấu. Mới một tuần trước đây, anh đã tuyên bố với chúng tôi là sự kiện rõ ràng đáng sợ nhất để lại hậu quả tàn khốc cho đất nước sẽ là vụ ám hại Jorge Eliécer Gaitán. Nhưng lúc đó, lời anh nói không làm ai xúc động vì chẳng cần có khả năng linh cảm vẫn đoán được điềm này.

Tôi cố chạy như bay qua đại lộ Jimenez de Quesada và sắp hết hơi khi đến trước quán cà phê El Gato Negro, ngay góc đại lộ số Bảy. Họ vừa đưa người bị trọng thương, tuy còn sống nhưng không chút hy vọng qua khỏi, đi Bệnh viện trung ương, cách chỗ này bốn dãy phố. Một nhóm người lấy khăn nhúng vào vũng máu đỏ tươi để lưu giữ lại như chứng tích lịch sử sau này. Một người phụ nữ khoác khăn đen to và đi giày bằng sợi gai vốn cùng với nhiều bà khác bán tạp hóa ở khu vực này, giơ chiếc khăn đẫm máu lên gầm rít:

- Lũ con đĩ, chúng đã giết ông ấy mất rồi.

Một nhóm các em bé đánh giày dùng hòm đồ nghề bằng gỗ của mình đập phá cửa che bằng nhôm đóng kín mít của cửa hiệu bán thuốc Nueva Granada, nơi vài viên cảnh sát đang cố bảo vệ cho tên hung thủ trước nộ khí của đám đông. Một người đàn ông cao lớn, trầm tĩnh, vận đồ xám sang trọng như đi ăn cỗ, với giọng điệu từ tốn đang kích động mọi người. Ông làm việc đó rất có hiệu quả. Chủ cửa hàng thuốc sợ đám đông tức giận đốt cháy nhà mình nên vội vàng cho cuốn chiếc cửa nhôm lên. Tên hung thủ, ôm ghì lấy viên cảnh sát, run rẩy trước đám đông căm giận đang sắp nhảy bổ vào hắn.

- Xin ông cảnh sát - hắn thì thào van lơn - đừng để họ giết tôi.

Tôi không bao giờ quên được hắn. Hắn có mái tóc rối nùi, bộ râu hai ngày chưa cạo và mặt tái xanh như một xác chết với đôi mắt lồi to vì hoảng sợ. Mặc áo màu nâu sẫm kẻ ca rô dọc bị đám người bắt đầu xé tơi tả, hắn chỉ xuất hiện trong giây lát và đi vào vĩnh hằng vì ngay lập tức bị nhóm các em đánh giày dùng hòm đồ nghề tấn công cảnh sát để lôi hắn ra và đấm đá túi bụi. Ngay lần ngã đầu tiên, hắn đã mất một chiếc giày.

- Lôi hắn đến Dinh Tổng thống! - người đàn ông mặc đồ xám mà tôi không bao giờ biết được tên, hét lớn. - Đến Dinh Tổng thống!

Những người hăng hái nhất đã nghe theo lời ông. Họ túm hai mắt cá chân của thi thể đẫm máu, lôi xềnh xệch suốt đại lộ số Bảy đến quảng trường Bolivar, giữa những chiếc xe điện đang đứng im sau khi nghe tin, miệng hô to các khẩu hiệu chống chính phủ. Từ trên hè phố hoặc bao lơn các ngôi nhà ven đại lộ, mọi người cùng hô khẩu hiệu hưởng ứng và vỗ tay hoan nghênh, và xác chết hoàn toàn biến dạng bị kéo lê để lại phía sau trên đường đá lát những mảnh vải và thịt. Nhiều người đi theo đám biểu tình, mà chỉ mới chưa qua hết sáu dãy phố đã có quy mô và sức mạnh của một vụ bùng phát chiến tranh. Xác chết khổ hạnh chỉ còn độc một chiếc quần lót và một chiếc giầy.

Quảng trường Bolivar vừa được tân trang lại nhưng không còn vẻ uy nghi của những ngày thứ Sáu lịch sử trước đây nữa mà chỉ thấy những bóng cây trơ trọi và những bức tượng thô thiển theo quan điểm mỹ thuật mới của những nhà cầm quyền. Trong trụ sở Quốc hội, nơi mười ngày trước đã diễn ra Đại hội Liên Mỹ, các vị đại biểu đã đi ăn trưa. Như thế là chuyện ồn ào chỉ ở Dinh Tổng thống, lúc này cũng vắng tanh. Người ta để lại nơi này những gì còn lại của xác chết với chiếc quần lót, chiếc giày chân trái và không hiểu sao có cả hai chiếc cà vạt thắt nơi cổ. Mấy phút sau vị Tổng thống nước Cộng hòa Mariano Ospina Perez và phu nhân đến đấy ăn trưa, sau khi đi khai mạc triển lãm về chăn nuôi ở làng Engativá. Cho đến lúc này, hai người hoàn toàn không biết gì về vụ sát hại vì chiếc xe Tổng thống đã không mở đài.

Tôi còn ở lại nơi xảy ra án mạng khoảng mười phút và rất đỗi ngạc nhiên trước cách lý giải của những người làm chứng vụ việc đã thay đổi một cách nhanh chóng cả về hình thức lẫn nội dung đến mức không còn giống với thực tế chút nào nữa. Chúng tôi đang ở ngã tư giao lộ giữa đại lộ Jimenez và số Bảy vào lúc đông người qua lại nhất và chỉ cách tòa soạn báo El Tiempo có năm mươi bước chân. Lúc đó, chúng tôi biết rõ những người đã cùng với Gaitán đi ra khỏi văn phòng của ông là Pedro Eliseo Cruz, Alejandro Vallejo, Jorge Padilla và Plinio Mendoza Neira, Bộ trưởng Chiến tranh của chính phủ trước dưới thời Tổng thống Alfonso Lopez Pumarejo. Chính ông này đã mời mọi người đi ăn trưa. Gaitán ra khỏi tòa nhà nơi đóng trụ sở văn phòng của mình mà không hề mang theo bất cứ một vệ sĩ nào, chỉ có một đám bạn bè vây quanh mà thôi. Khi họ vừa bước ra vỉa hè, Mendoza cầm cánh tay kéo ông đi lên trước những người khác một tý, và nói với ông:

- Điều mà tôi muốn nói với anh là một chuyện hết sức bình thường.

Ông không kịp nói gì thêm nữa. Gaitán dùng cánh tay che mặt và Mendoza nghe thấy tiếng súng đầu tiên trước khi nhìn thấy phía trước có một kẻ đang chĩa súng ngắn vào phía họ và bắn liền ba phát vào đầu nhà lãnh đạo với vẻ bình thản rất chuyên nghiệp. Một lúc sau, người ta nói là có một phát súng thứ tư không rõ phương hướng, và có thể là một phát thứ năm nữa.

Plinio Apuleyo Mendoza, người đã cùng với bố và hai em gái Elvira và Rosa Ines đã kịp nhìn thấy Gaitán nằm ngửa trên hè phố mấy phút trước khi người ta đưa ông đi bệnh viện. “Không giống __một xác chết - mấy năm sau anh ta kể cho tôi nghe. - Trông như một bức tượng oai phong bị đặt nằm ngửa trên vỉa hè, chung quanh có một ít máu và với đôi mắt buồn mở trừng trừng”. Trong lúc lộn xộn đó, hai cô em gái của anh ta còn nghĩ là bố mình cũng đã bị bắn chết và họ hoảng sợ đến mức Plinio Apuleyo phải đưa họ lên chuyến tàu điện đầu tiên vừa đến. Nhưng người lái tàu điện hiểu rõ mọi chuyện xảy ra, liền vứt mũ xuống sàn tàu bỏ chiếc tàu ngay giữa đường để tham gia vào toán người nổi loạn đầu tiên. Mấy phút sau, chiếc tàu điện này là chiếc đầu tiên bị đám đông cuồng nộ lật nhào.

Về số lượng và vai trò của những tên hung thủ thì người ta có nhiều ý kiến khác nhau không tài nào dung hòa được, vì một số nhân chứng khẳng định có ba tên thay nhau bắn, còn nhân chứng khác thì lại nói là hung thủ thực sự đã lẩn vào đám đông lộn xộn và từ tốn leo lên xe điện tẩu thoát. Ngay việc Mendoza Neira nắm tay Gaitán để xin việc gì đó cũng gây nên nhiều tin đồn khác nhau. Thực ra Mendoza chỉ xin Gaitán cho phép thành lập một học viện đào tạo cán bộ công đoàn. Hoặc như lời trêu chọc của bố vợ ông ta mấy ngày trước đó: “Một trường học để dạy triết học cho cánh lái xe”. Ông chưa kịp nói điều này ra thì phát súng đầu tiên đã nổ vang phía trước mặt họ.

Năm mươi năm sau, ký ức của tôi vẫn tiếp tục chú ý đến người đàn ông đã kích động đám đông ngay trước hiệu thuốc, và tôi vẫn chưa thấy ai nhắc đến ông ta trong vô vàn những hồi ký hoặc tài liệu mà tôi đã được đọc về sự kiện xảy ra ngày hôm đó. Tôi đã nhìn thấy ông ta rất gần, với trang phục sang trọng, nước da trắng toát như thạch cao và sự tự chủ về hành vi được tính toán chi ly đến từng milimét. Tôi chú ý dõi theo ông ta cho đến khi người ta đón ông lên một chiếc xe ô tô mới đến trùng hợp đến mức đáng ngờ ngay sau khi đám đông kéo xác chết của hung thủ đi khỏi nơi đó, và từ đó ông ta đã được xóa hết mọi dấu vết trong tất cả mọi ký ức lịch sử. Thậm chí cả trong trí nhớ của tôi mãi cho đến nhiều năm sau, trong thời gian hành nghề nhà báo, tôi mới chợt nghĩ ra rằng có thể người đàn ông nọ đã đạt được mục tiêu xúi mọi người giết chết tên giết người giả mạo để cho hung thủ thực sự trốn thoát.

Có mặt trong thời điểm hỗn loạn đó còn có nhà lãnh đạo phong trào sinh viên của Cuba, Fidel Castro, một thanh niên mới hai mươi tuổi, đại biểu của trường Đại học La Habana tham dự đại hội sinh viên theo hình mẫu Đại hội Liên Mỹ. Ông đã đến Colombia khoảng sáu ngày trước cùng với những sinh viên khác là Alfredo Guevara, Enrique Ovares và Rafael del Pino. Một trong những việc đầu tiên mà ông làm là xin được gặp Jorge Eliécer Gaitán, vốn được ông rất kính trọng. Hai ngày sau, Fidel Castro đã gặp Gaitán và được ông hẹn làm việc vào thứ Sáu. Chính bản thân Gaitán tự tay ghi cuộc hẹn này vào tờ lịch trên bàn làm việc của mình ứng với ngày 9 tháng Tư: “Fidel Castro, 2 giờ chiều”.

Đã nhiều lần, chính Fidel Castro kể với nhiều người và cả với tôi trong suốt những năm dài của tình bạn lâu năm rằng ông biết tin về tội ác này khi đang đi lang thang gần đó chờ đúng giờ hẹn hai giờ chiều để làm việc với Gaitán. Bỗng nhiên, ông vô cùng ngạc nhiên khi thấy đám đông ào ào chạy qua và đồng thanh hét lớn:

- Chúng giết Gaitán mất rồi!

Mãi sau này Fidel Castro mới biết rằng dù sao cuộc hẹn cũng không thể thực hiện được trước bốn hoặc năm giờ chiều vì Mendoza Neira đã bất ngờ mời Gaitán đi ăn cơm trưa.

Không còn một chỗ trống nào để chen chân vào khu vực xảy ra tội ác. Giao thông bị tắc nghẽn và các xe điện bị lật nhào. Tôi định quay về quán trọ ăn nốt bữa trưa thì thầy giáo của tôi, Carlos H. Pareja, đã chặn lối ngay trước cửa văn phòng của ông và hỏi tôi định đi đâu.

- Em đi ăn trưa ạ - tôi nói với ông.

- Vớ vẩn - ông nói với chất giọng đặc sệt vùng Caribe. - Sao cậu lại có thể đi ăn khi chúng vừa giết hại Gaitán?

Ông bắt tôi đi ngay ra trường đại học dẫn đầu cuộc biểu tình phản đối của sinh viên. Điều lạ là tôi đã chấp nhận đề nghị của ông trái hẳn với tính cách của bản thân mình. Tôi đi theo đại lộ số Bảy lên phía bắc, ngược với dòng người tò mò, nhưng đớn đau và tức giận thì nhiều hơn, đang đổ xô về phía góc phố nơi vừa xảy ra tội ác. Các xe buýt của trường đại học do sinh viên tự lái dẫn đầu những sinh viên nộ khí bừng bừng. Tại công viên Santander, cách góc phố tội ác chỉ hơn một trăm mét, nhân viên vội đóng cửa khách sạn Granada - khách sạn sang trọng nhất thành phố - nơi các vị ngoại trưởng tham dự Hội nghị Liên Mỹ trú ngụ.

Những đám đông người nghèo hừng hực tinh thần chiến đấu chiếm giữ tất cả các góc phố. Nhiều người còn mang theo dao chặt mía vừa lấy được ở các cửa hàng và hình như rất ham muốn được sử dụng ngay. Tôi chưa thật hiểu rõ hậu quả của cuộc mưu sát này và trong đầu vẫn còn vấn vương bữa ăn trưa nên vội vã đi về nhà trọ. Các bạn cùng nhà đang ngồi ăn trưa, đều đã biết về vụ mưu sát và tỏ vẻ dửng dưng như việc này sẽ không thể xảy ra ở đây, cho đến khi ai đó vặn to âm lượng của đài phát thanh. Carlos H. Pareja, người đã thúc giục tôi đi biểu tình phản đối một giờ trước đây, đang thông báo việc thành lập Hội đồng Cách mạng của Chính phủ gồm những người cánh tả thuộc phái tự do làm thành viên, trong số đó, người nổi tiếng nhất là nhà văn và chính trị gia Jorge Zalamea. Nghị quyết đầu tiên của Hội đồng này là thành lập Ban điều hành, Bộ chỉ huy Cảnh sát Quốc gia và tất cả các cơ quan của một Nhà nước cách mạng.

Điều đầu tiên tôi tự hỏi là không biết bố sẽ nghĩ sao khi biết người anh họ của mình là một lãnh tụ hàng đầu của cuộc cách mạng cực tả. Bà chủ nhà thì cứ thắc mắc sao những người này không chịu làm những giáo sư mẫu mực lại hành sự như những sinh viên hư hỏng. Trên Đài phát thanh Quốc gia, những người thuộc phái tự do chính thống thì kêu gọi mọi người hãy bình tĩnh, một số người khác thì kêu gọi chống lại những người cộng sản trung thành với Matxcơva, một số khác thì bất chấp hiểm nguy đang rình rập trên mọi đường phố trong tình trạng chiến tranh, đang cố đi đến Dinh Tổng thống để thương lượng với chính phủ thuộc phái bảo thủ.

Chúng tôi tiếp tục chìm trong bầu không khí điên loạn đó thì bỗng nghe một người con của chủ nhà trọ kêu ầm lên là nhà đã bị cháy: một cột khói đen đặc đang luồn từ một khe hở tràn vào phòng ngủ. Chắc là nó lan ra từ Tòa thị chính ở sát ngay nhà trọ vừa bị sinh viên đốt cháy. Chúng tôi chạy vội xuống nhà ra đường và thấy cảnh thành phố như trong thời chiến. Sinh viên quẳng tất cả mọi thứ vớ được trong Tòa thị chính qua cửa sổ xuống đường chìm ngập trong khói. Hàng đoàn người đầy nộ khí cầm dao rựa và bất cứ thứ gì lấy được trong cửa hàng xông vào đốt phá các cửa hiệu dọc đại lộ số Bảy và các phố xá xung quanh với sự giúp đỡ của số cảnh sát đã nổi loạn. Chúng tôi nhận ra ngay là tình hình không thể kiểm soát được nữa rồi. Em trai tôi nói trước khi tôi kịp nghĩ ra:

- Thật là bẩn thỉu, chiếc máy đánh chữ thế là tiêu!

Chúng tôi chạy vội đến cửa hàng cầm đồ vẫn còn nguyên nhưng chiếc máy chữ thì không còn ở đấy nữa. Chúng tôi không băn khoăn vì nghĩ rằng mấy ngày sau yên ổn thì ra lấy lại, nhưng đâu biết rằng cuộc bạo loạn này đâu có ngày mai.

Lực lượng quân sự ở thủ đô Bogota chỉ bảo vệ các trung tâm chính quyền và các ngân hàng, còn trật tự công thì không ai để mắt tới. Những sĩ quan cao cấp của lực lượng cảnh sát thì tập trung tại đại bản doanh ngay từ những giờ đầu tiên và nhiều nhân viên thì đang lo thu lượm vũ khí ở ngoài đường đưa về đồn. Một số trong bọn họ tay đeo băng đỏ của những người nổi dậy bắn hàng loạt súng trường ngay sát chỗ chúng tôi làm tim tôi giật thót. Từ hôm ấy, tôi mới tin là người ta có thể bắn một phát súng trường đủ giết chết nhiều người.

Trên đường quay lại nhà trọ, chúng tôi thấy cửa hiệu sang trọng nhất trên đại lộ số Tám, đã bị tàn phá trước đôi mắt lãnh đạm của đám lính gác ngân hàng nước ngoài gần đó. Quán cà phê sang trọng San Marino nơi trước đây đám sinh viên chúng tôi không bao giờ được vào cũng đã bị đập phá tan tành.

Một số người vác những bọc lớn quần áo sang trọng chạy ra khỏi cửa hàng vứt ngay giữa đường. Tôi thử nhấc một bọc lên nhưng không ngờ nó nặng đến thế, và phải bỏ xuống trong nỗi đau không sao chịu nổi. Khắp đường phố ngổn ngang những dụng cụ gia đình và các chai rượu whisky. Trong đám hôi của ở cửa hàng quần áo sang trọng, có em Luis Enrique và Jose Palencia và chúng còn vớ được bộ quần áo màu xanh nước biển vải tốt đúng cỡ của bố tôi có nhưng chỉ dùng trong dịp đại lễ. Chiến lợi phẩm của tôi là một chiếc cặp da mà sau này tôi vẫn dùng đựng bản thảo mang theo mình khi không có chỗ nào để ngủ qua đêm.

Tôi đang đi trong toán tiến về trụ sở Quốc hội thì bị một loạt đạn súng máy bắn thẳng vào tốp đi đầu khi vừa đến quảng trường Bolivar. Những người chết và bị thương nằm chất đống ngay trên đường phố. Một người đầm đìa máu cầu khẩn tôi:

- Anh bạn trẻ, vì tình thương của Chúa, xin hãy giúp tôi, đừng để tôi chết!

Tôi hốt hoảng bỏ chạy. Từ hôm ấy, tôi học cách quên đi những nỗi sợ hãi của mình và của người khác, nhưng không bao giờ quên được đôi mắt khẩn cầu của người đàn ông nọ giữa cảnh lửa đạn. Đến bây giờ, tôi vẫn chưa hết kinh ngạc là tại sao tôi và em Luis Enrique đã không bị chết trong cảnh địa ngục của những ngày đó.

Khi tôi về đến nhà trọ thì phần lớn khu trung tâm đã bị bốc cháy với những toa xe điện bị lật nghiêng, xe ô tô bị đập phá trở thành các chiến lũy tạm thời. Chúng tôi nhét vội vào va ly những thứ đáng giá, mãi sau tôi mới nhận ra là hai hoặc ba bản thảo truyện ngắn chưa in, cuốn từ điển của ông ngoại và cuốn sách của Diogenes Laercio mà tôi được thưởng hồi phổ thông đã bị bỏ quên.

Tôi và em trai Luis Enrique phải đến ở nhờ nhà bác Juan de Dios cách nhà trọ bốn dãy phố. Đó là một căn hộ gồm một phòng khách, phòng ăn và hai phòng ngủ nơi bác Juan với vợ và ba người con sinh sống. Gia đình bác đã thu xếp ổn thỏa không chỉ cho hai anh em tôi mà một số bạn bè cùng học và cùng trọ trong nhà trọ nọ cũng được ở nhờ.

Các bản tin chính thức của các đài phát thanh của chính phủ vẽ nên cảnh tình hình đang dần trở lại yên ắng. Không còn những bài diễn văn, nhưng không thể phân biệt được một cách chính xác đâu là đài chính thức và đâu là đài còn nằm trong tay những người khởi nghĩa. Người ta nói rằng các sứ quán nước ngoài đã chật cứng người tị nạn, rằng tướng Marshall ở trong sứ quán của Mỹ, rằng Laureano Gomez cũng ở đó từ những giờ đầu tiên và vẫn gọi điện thoại thường xuyên với vị tổng thống của mình để ngăn ông này không được thương lượng với những người thuộc phái tự do, trong tình hình mà ông ta cho là bị những người cộng sản thao túng.

Trên thực tế, những người duy nhất hành động với ý thức chính trị là những người cộng sản, dù là thiểu số và được tín nhiệm, nhưng chính họ, giữa cảnh hỗn loạn trên đường phố đã hướng dẫn cho đám đông - y như những viên cảnh sát giao thông - đi thẳng đến các trung tâm quyền lực. Phái tự do thì chia rẽ thành hai nhóm, như ông Gaitán đã từng tố cáo: những người lãnh đạo thì tìm cách thương lượng để được chia sẻ một chút quyền lực trong Dinh Tổng thống còn những đảng viên thì cố kháng cự lại ở bất cứ nơi nào.

Mối nghi ngờ đầu tiên về cái chết của Gaitán chính là nhân thân của hung thủ. Cho đến tận hôm nay vẫn chưa có gì khẳng định chắc chắn là chỉ có duy nhất tên Juan Roa Sierra đã bắn vào Gaitán giữa đám đông trên đại lộ số Bảy. Khó mà hiểu được hắn hành động một mình, tự chọn mục tiêu vào đúng ngày ấy, giờ ấy, ở chính nơi ấy và bằng cách thức như vậy. Bà Encarnacion Roa, mẹ của hung thủ kể rằng trong tám tháng qua Juan có những thay đổi trong hành vi rất kỳ quặc. Hắn hay nói lảm nhảm một mình rồi cười một cách vô cớ, đã có lúc hắn nói với mọi người trong nhà là muốn trở thành hiện thân của tướng quân Francisco de Paula Santander, người anh hùng của đất nước. Bà không bao giờ nghĩ là con mình sẽ làm hại ai, và hắn ta cũng đã được một người có thế lực viết thư giới thiệu đi xin việc làm. Một trong những bức thư đó hắn còn mang trong ví khi đi giết Gaitán. Bà không biết là hắn đã từng bắn súng bao giờ chưa nhưng cách mà hắn điều khiển súng để gây tội ác thì lại chứng tỏ là hắn không hề non nớt.

Một số nhân viên của tòa nhà nói rằng đã từng nhìn thấy hắn trên tầng lầu nơi có văn phòng của Gaitán đêm trước khi xảy ra vụ án mạng. Người gác cổng còn khẳng định rằng: sáng ngày 9 tháng 4 đã thấy hắn đi bộ theo cầu thang lên lầu, rồi sau đó cùng một người nữa xuống bằng thang máy. Và hình như hai người này đã chờ mấy tiếng đồng hồ gần cửa ra vào của tòa nhà nhưng chỉ có Juan đứng một mình ngay cửa khi Gaitán đi lên văn phòng của mình vào lúc mười một giờ.

Một điều khiến tôi khó hiểu cho đến tận bây giờ là hành tung của người đàn ông ăn mặc lịch lãm đã xúi giục những người đang đùng đùng tức giận hãy đi đến Dinh Tổng thống còn ông ta thì biến mất trong một chiếc ô tô sang trọng.

Trong lúc người ta đang khâm liệm thi hài của Gaitán, thì thành viên ban lãnh đạo phái tự do họp tại phòng ăn của Bệnh viện Trung ương để thống nhất giải pháp khẩn cấp. Giải pháp cấp bách nhất là đến Dinh Tổng thống không cần báo trước để bàn bạc với ông ta một công thức khẩn cấp để đưa đất nước thoát khỏi thảm họa. Khoảng chín giờ đêm, khi cơn mưa đã ngớt, những vị đại biểu đầu tiên đã phải mở đường đi đến Dinh Tổng thống giữa những khu phố ngổn ngang gạch đá và xác chết.

Trong tiền sảnh của Dinh Tổng thống có một số viên chức và chính khách thuộc phái bảo thủ đang tụ tập cùng phu nhân Tổng thống, bà Bertha Hernandez de Ospina. Bà vẫn còn vận bộ đồ khi cùng đi với Tổng thống đến khai mạc triển lãm ở Engativá và vẫn còn đeo súng bên hông theo quy định.

Cuối buổi chiều, Tổng thống đã mất liên lạc với những địa phương căng thẳng nhất và đã họp kín với giới quân sự và các Bộ

trưởng để đánh giá tình hình của đất nước. Cuộc viếng thăm vào lúc mười giờ đêm của các nhà lãnh đạo phái tự do làm ông hoàn toàn bất ngờ và ông không muốn tiếp tất cả họ cùng một lúc mà từng hai người một; nhưng họ quyết định nếu tiếp kiểu đó thì không ai vào cả. Thế là Tổng thống đành phải nhượng bộ.

Họ thấy Tổng thống ngồi ở phía đầu chiếc bàn dài với bộ trang phục không chê vào đâu được và với một vẻ hoàn toàn lơ đãng. Điều duy nhất chứng tỏ chút gì căng thẳng chỉ là cách ông chăm chú đốt thuốc lá liên tục và thỉnh thoảng ông vừa tắt nửa điếu lại đốt ngay điếu khác. Một trong những người khách tối hôm đó mấy năm sau có kể lại với tôi rằng: ông ta hết sức ấn tượng cảnh ánh lửa chập chờn trên mái tóc bạc trắng của vị Tổng thống vô cảm. Những đống gạch đổ nát dưới bầu trời cháy sáng thấp thoáng ẩn hiện qua khung cửa kính của Văn phòng Tổng thống và lan đến mọi ngóc ngách của thế giới.

Vào thời điểm đó, số lượng người chết ngoài phố và số những người bắn tỉa vào đám đông cuồng nộ vì tức giận và vì uống đủ thứ rượu hạng sang lấy được ở các cửa hàng đã giảm bớt. Khu trung tâm thành phố đã tan nát và vẫn còn âm ỉ cháy, nhà thờ lớn, trụ sở tòa án, Dinh Tỉnh trưởng và rất nhiều tòa nhà lịch sử khác đã bị đốt cháy hoặc bị tàn phá. Thực tế này đang thít chặt con đường dẫn đến một hiệp định sáng suốt mà một số người theo đuổi chống lại một người, trong một hòn đảo hoang vắng của Văn phòng Tổng thống.

Trong số những người khách, Dario Echandía có lẽ là người có trách nhiệm lớn nhất, nhưng lại là người nói ít nhất. Ông chỉ phát biểu hai hoặc ba câu bình phẩm mỉa mai về Tổng thống rồi lại chìm trong im lặng. Hình như ông là ứng cử viên sáng giá nhất để thay thế Ospina Perez cho chiếc ghế Tổng thống, nhưng tối hôm đó ông đã không làm gì để chứng tỏ mình xứng đáng hoặc lẩn tránh chức vị này. Còn vị Tổng thống vốn được coi là một người bảo thủ ôn hòa thì càng chứng tỏ không phải là một người như vậy. Ông có ông nội và bác là hai Tổng thống trong cùng một thế kỷ, là người cha mẫu mực của gia đình, một kỹ sư đã về hưu và một triệu phú cha truyền con nối và nhiều việc khác nữa mà ông theo đuổi một cách âm thầm lặng lẽ, đến mức người ta đồn thổi rằng người lãnh đạo thực sự ở nhà cũng như ở Dinh Tổng thống chính là bà vợ. Và mặc dù vậy, ông chẳng có gì khó khăn trong việc chấp nhận chuyện từ chức, nhưng ông cũng hoàn toàn thấy vô cùng thoải mái khi được điều hành chính phủ từ chiếc ghế đang ngồi theo ý dân.

Tổng thống nói mạnh bạo hơn vì vẫn nhận được những thông tin mà các lãnh tụ phái tự do thiếu: ông cập nhật được tình hình trật tự của cả nước. Lính canh ở Bogota không vượt quá con số một ngàn người và tình hình các tỉnh trong nước nói chung hơi nguy biến nhưng tất cả đều nằm trong tầm kiểm soát và các lực lượng vũ trang vẫn giữ thái độ trung thành với Tổng thống. Ở tỉnh Boyacá, tỉnh kế cận thủ đô, viên Tỉnh trưởng José Maria Villarreal không những đàn áp ngay từ đầu các cuộc bạo loạn tại địa phương mà còn gửi quân lính được trang bị tốt nhất để chi viện cho thủ đô. Như vậy việc duy nhất của Tổng thống lúc này là trấn an các vị lãnh đạo phái tự do bằng mánh lới nói ít và đốt thuốc nhiều của mình. Không lúc nào ông nhìn vào đồng hồ, nhưng chắc ông dự tính được thời khắc khi thành phố đã nằm trọn trong tầm kiểm soát của lực lượng quân đội mới tăng cường và đã được thử thách qua cuộc đàn áp chính thức.

Sau một lúc trao đổi ý kiến về các phương án, Carlos Lleras Restrepo đưa ra lời đề nghị đã được ban lãnh đạo phái tự do nhất trí trong cuộc họp ở Bệnh viện Trung ương và được coi là biện pháp cực đoan nhất: yêu cầu Tổng thống trao chính quyền cho Dario Echandía vì lợi ích của sự hòa hợp chính trị và hòa bình xã hội.

Tuy nhiên, câu trả lời của Tổng thống, vẫn được đưa ra một cách chậm rãi như kiểu hút thuốc của ông, không như mọi người chờ đợi. Ông cũng tận dụng cơ hội này để chứng tỏ khát vọng thực sự của mình mà cho đến lúc đó không mấy ai biết rõ. Ông nói rằng: với ông và gia đình, điều dễ chịu nhất là rời bỏ quyền lực và ra sống ở nước ngoài với tài sản cá nhân mà không bận tâm gì đến chuyện chính trị, nhưng ông rất băn khoăn việc một Tổng thống được dân bầu lên lại bỏ chạy sẽ ảnh hưởng đến tình hình đất nước. Cuộc nội chiến là không thể tránh khỏi. Và trước lời đề nghị một lần nữa của Lleras Restrepo về việc rút lui, Tổng thống nhắc lại nghĩa vụ của mình là phải bảo vệ Hiến pháp và pháp luật mà ông đã cam kết thực hiện không những trước tổ quốc mà cả lương tâm của mình và trước Chúa Trời. Người ta kể lại rằng chính lúc đó, ông đã nói một câu lịch sử mà hình như ông chưa từng nói thì phải, nhưng lại được mãi mãi gắn với tên tuổi của ông: “Đối với nền dân chủ của Colombia, một Tổng thống bị giết chết vẫn có giá trị hơn một Tổng thống bỏ trốn”.

Không một nhân chứng nào có mặt tối hôm đó nhớ là đã nghe từ miệng ông phát ra những lời đó. Cùng với thời gian, người ta thay nhau gán những lời này cho các vĩ nhân khác nhau, và thậm chí người ta còn bàn cãi về ý nghĩa chính trị và giá trị lịch sử chứ không phải là ý nghĩa văn học xuất sắc của nó. Và từ thời gian này trở đi, nó đã trở thành phương châm hành động của Ospina Perez và tạo nên ánh hào quang lấp lánh cho ông.

Dù sao đi nữa thì thành tựu lớn nhất của Tổng thống tối hôm đó không phải là sáng tạo ra những lời nói lịch sử mà là đã làm cho các lãnh tụ phái tự do vui vẻ với những viên kẹo hão huyền cho đến quá nửa đêm khi những toán lính mới đến chi viện đàn áp được cuộc nổi dậy của người dân và áp đặt được nền hòa bình của phái bảo thủ. Tám giờ sáng ngày 10 tháng 4, Dario Echandía bừng tỉnh dậy vì một loạt chuông điện thoại thông báo người ta đã cử ông làm Bộ trưởng trong chính quyền hòa giải của hai đảng. Laureano Gomez, tức giận vì giải pháp này và lo lắng cho sự an toàn cá nhân, phải bỏ đi New York cùng với gia đình trong khi người ta đang chuẩn bị đầy đủ điều kiện cho ước vọng cả đời được làm Tổng thống của ông ta.

Tất cả giấc mơ thay đổi xã hội tận gốc, vì nó mà Gaitán bị giết chết, đã tan biến trong những đống đổ nát còn vương khói khắp nơi trong thành phố. Số người bị chết ở thành phố Bogota và trong các vụ đàn áp của chính phủ trong những năm sau đó có thể lên đến hơn một triệu người, ngoài ra còn hàng triệu người nghèo đói và phải sống đời tỵ nạn. Trước đó, những vị lãnh đạo phái tự do trong chính phủ bắt đầu nhận thấy nguy cơ tên tuổi của mình sẽ đi vào lịch sử như những kẻ tòng phạm gây ra tình cảnh này.

Trong số rất nhiều nhân chứng lịch sử của những ngày bi thảm này ở Bogota, có hai người tuy không quen biết nhau nhưng về sau đã trở thành những người bạn lớn của tôi. Người thứ nhất là Luis Cardoza y Aragón, một nhà thơ, nhà bình luận chính trị và văn học người Guatemala đã tham dự Đại hội Liên Mỹ trên cương vị Ngoại trưởng và trưởng đoàn đại biểu của nước ông. Và người kia chính là Fidel Castro. Có lúc cả hai đều bị vu cáo là đã can thiệp vào các vụ bạo loạn xảy ra lúc đó.

Về Luis Cardoza, người ta nói cụ thể là ông là một trong những người kích động vì là người đại biểu đặc biệt đại diện cho chính phủ tiến bộ Jacobo Arbenz của nước Guatemala (Arbenz là Tổng thống từ năm 1950 đến 1954 của Guatemala, có nhiều cải cách tiến bộ nên bị Mỹ giật dây cho bọn phản động gây bạo loạn lật đổ - ND). Nhưng phải hiểu rõ rằng Luis Cardoza là đại diện của một chính phủ tiến bộ và là một nhà thơ lớn của ngôn ngữ Tây Ban Nha nên không bao giờ làm chuyện điên rồ.

Mãi nhiều năm sau, tôi mới quen ông cùng với phu nhân Lya Kostakowsky trong nhà của họ ở Coyoacán, tại thành phố Mexico, được trang hoàng bằng các tác phẩm hội họa của các họa sĩ đương thời. Cùng những người bạn của ông bà, chúng tôi thường hẹn gặp nhau thân tình vào tối Chủ nhật mà không cần có lý do cụ thể nào. Ông tự coi mình là người may mắn thoát chết. Lần đầu là khi xe ô tô của ông bị những người bắn tỉa nã trúng chỉ mấy giờ sau vụ án mạng. Và mấy ngày sau, khi cuộc khởi nghĩa đã bị đàn áp xong, một tên say rượu gặp ông ở ngoài đường phố đã dùng súng ngắn bắn vào mặt ông hai phát nhưng không trúng. Sự kiện ngày 9 tháng 4 là một đề tài thường xuyên trong câu chuyện giữa hai chúng tôi, và bao giờ cũng gợi nỗi tức giận xen nỗi luyến tiếc những ngày tháng đã qua.

Fidel Castro là nạn nhân của hàng loạt lời kết tội vô lý vì những hành động liên quan đến tư cách là một lãnh đạo tích cực của phong trào sinh viên ở nước ông. Trong cái đêm đen tối ấy, sau những ngày căng thẳng giữa những đoàn người đầy nộ khí, ông đã đến Tổng hành dinh của Cảnh sát Quốc gia, tìm cách tốt nhất để chấm dứt những cuộc tàn sát ở ngoài phố. Phải quen biết ông mới có thể hình dung ra nỗi thất vọng của ông về sức mạnh của lực lượng nổi dậy nhưng lại không có tiếng nói chung.

Ông đã đến gặp những vị chỉ huy của Tổng hành dinh Cảnh sát và các sĩ quan nổi dậy, tìm cách thuyết phục họ rằng tất cả các lực lượng mà họ đang giữ trong các trại lính đã thất bại. Ông đề nghị họ đưa toàn bộ lực lượng này ra đấu tranh ngoài đường phố để lập lại trật tự và vì một hệ thống công bằng hơn, nhưng ông đã không đạt kết quả. Ông đã hùng hồn dẫn ra tất cả những bài học lịch sử, nhưng họ đã không nghe ông trong khi lính và xe tăng của chính phủ đang tìm cách xuyên thủng pháo đài này. Cuối cùng, ông quyết định chịu chung số phận của tất cả mọi người.

Tảng sáng, Plinio Mendoza Neira đến Tổng hành dinh Cảnh sát thực hiện nhiệm vụ mà Ban lãnh đạo phái tự do giao cho là tìm mọi cách thuyết phục được sự đầu hàng trong hòa bình không chỉ của các sĩ quan và nhân viên cảnh sát mà cả đám đông đảng viên phái tự do tập hợp ở đó. Trong cuộc thương lượng kéo dài mấy tiếng đồng hồ, Mendoza Neira chú ý đến người sinh viên Cuba nọ, cao lớn và thích tranh luận đã mấy lần xen vào cuộc thảo luận giữa các vị lãnh đạo phái tự do và các sĩ quan khởi nghĩa với những lý lẽ sáng suốt làm mọi người khâm phục. Mãi mấy năm sau, tại Caracas, thủ đô Venezuela, Mendoza Neira mới vô tình biết đó là ai khi xem lại một bức ảnh chụp cái đêm đen tối đó, lúc này Fidel Castro đã ở trên chiến khu Sierra Maestra của Cuba rồi.

Mười một năm sau, tôi được quen biết Fidel Castro khi được tòa báo cử sang đưa tin về cuộc trở về thắng lợi vào Thủ đô La Habana của ông và đội quân của mình, và cùng với thời gian, giữa hai chúng tôi đã hình thành một tình thân sâu sắc đủ sức vượt qua năm tháng và muôn vàn khó khăn. Trong các cuộc đàm đạo giữa hai chúng tôi về những điều thiêng liêng và nhân bản thì ngày 9 tháng 4 luôn luôn là một đề tài thường xuyên mà Fidel Castro bao giờ cũng coi đó là một trong những tấn thảm kịch đã quyết định sự hình thành tư tưởng của ông. Nhất là trong đêm ở Tổng hành dinh Cảnh sát, ông đã nghiệm ra rằng phần lớn những người khởi nghĩa chỉ biết đập phá, cướp bóc chứ không biết nhắm đến một giải pháp chính trị.

Trong khi hai người bạn trở thành nhân chứng của những sự kiện đã chia lịch sử Colombia ra thành hai mảng, thì tôi và em trai Luis Enrique đã sống sót trong bóng tối của căn nhà của bác Juan. Lúc đó tôi không hề có ý niệm là mình đã trở thành một kẻ học viết văn và rồi một lúc nào đó sẽ dựng lại toàn bộ những ngày tàn bạo và đau thương đó trong hồi ký. Mối bận tâm duy nhất của tôi lúc đó đời thường hơn nhiều: báo ngay cho gia đình là chúng tôi vẫn còn sống - tối thiểu là cho đến lúc đó - và đồng thời phải biết được tình hình của bố mẹ và các em, nhất là Margot và Aida là hai đứa em gái lớn đang học ở trường nội trú cách xa nhau.

Nơi trú ẩn trong nhà bác Juan đúng là một chốn kỳ diệu. Những ngày đầu còn khó khăn vì thường xuyên có các vụ bắn nhau đì đoàng xung quanh và không có tin tức gì đáng tin cậy cả. Nhưng dần dần chúng tôi đi trinh sát các cửa hàng gần đó và mua được thức ăn. Đường phố do lính tráng chiếm giữ và có lệnh rõ ràng là sẵn sàng nhả đạn. Jose Palencia còn cả gan đóng giả quân nhân đi ra phố và may phúc là đã thoát chết khi bị phát giác.

Các đài phát thanh thương mại đều nằm dưới sự kiểm soát của quân đội và đều im tiếng sau lúc nửa đêm. Các mạng dịch vụ điện thoại, điện tín lạc hậu và ít ỏi đều dành cho việc giữ gìn trật tự công cộng; không còn phương tiện thông tin liên lạc gì khác cả.

Tôi và em trai đi ra phố sau ba ngày bị giam lỏng trong nhà. Một cảnh tượng khủng khiếp hiện ra: thành phố trong đống đổ nát, trời đầy mây và mưa bụi đã phần nào làm giảm bớt sức tàn phá của các đám cháy nhưng lại làm chậm quá trình dọn dẹp. Nhiều đường phố vẫn bị phong tỏa bởi các ổ đề kháng của các tay bắn tỉa nên chúng tôi phải theo lệnh của các toán tuần tra đi vòng sang lối khác. Mùi hôi thối của xác chết trên đường phố trở nên không thể nào chịu đựng nổi. Những chiếc xe tải của quân đội vẫn chưa đủ để thu gom hết các xác chết chất đống trên vỉa hè và lính tráng phải ngăn bớt đám người đi tìm thân nhân. Những đống đổ nát ngập đầy trong khu trung tâm đến nỗi nhiều gia đình đành bỏ cả việc đi tìm thân nhân. Trên một trong những kim tự tháp lớn ngập đầy xác chết, người ta còn nhìn thấy một xác không giày và không quần, nhưng còn khoác chiếc áo veston sang trọng. Ba ngày sau, những đám tro còn bốc lên mùi xác chết bị thối rữa giữa đống đổ nát hoặc dồn đống trên vỉa hè.

Khi bất ngờ nhất thì tôi và em trai bị chặn đứng lại bằng một tiếng lên đạn súng trường khô khốc ngay sau lưng và một mệnh lệnh kinh hồn:

- Giơ tay lên!

Tôi vội giơ hai tay lên chết lặng vì sợ hãi cho đến khi bừng tỉnh vì tiếng cười sặc sụa của anh bạn Angel Casij, vốn bị các Lực lượng Vũ trang gọi nhập ngũ theo tiêu chuẩn quân dự bị loại một. Nhờ có anh mà những người tỵ nạn trong căn nhà của bác Juan chúng tôi mới gửi được điện lên không trung qua hệ thống vô tuyến điện sau một ngày chờ đợi trước Đài phát thanh Quốc gia. Ở Sucre, bố tôi đã nghe được tin giữa vô vàn những người ngóng trông suốt ngày đêm trong hai tuần lễ qua. Hai anh em chúng tôi sợ rằng mẹ diễn giải tin này như là một ơn đức của bạn bè trong khi đang chuẩn bị cho khả năng xấu nhất. Chúng tôi đã hơi nhầm: ngay trong đêm đầu tiên, mẹ đã mơ thấy hai đứa con lớn của mình bị dìm trong một biển máu khi xảy ra các vụ lộn xộn. Có lẽ đó là một cơn ác mộng quá thuyết phục nên khi biết sự thật qua một con đường khác, mẹ đã quyết định không ai trong hai anh em chúng tôi được quay lại Bogota một lần nữa dù phải chết đói ở nhà cũng cam chịu. Chắc chắn đây là quyết định cuối cùng bởi vì mệnh lệnh duy nhất mà bố mẹ gửi cho chúng tôi trong bức điện tín đầu tiên là phải về Sucre ngay, càng sớm càng tốt để quyết định tương lai.

Trong thời gian chờ đợi căng thẳng, một vài bạn học đã vẽ ra một bức tranh dát vàng về khả năng tôi có thể tiếp tục theo học ở thành phố Cartagena trong khi Bogota đang hồi phục sau đống đổ nát, nhưng những người Bogota thì sẽ không bao giờ hồi phục nổi sau bao nỗi kinh hoàng của cảnh thảm sát. Cartagena có một trường đại học hàng trăm năm tuổi đầy uy tín với nhiều di tích lịch sử và một khoa luật nhân hậu bậc nhất nơi có thể chấp nhận những điểm kém của tôi ở trường Đại học Quốc gia.

Tôi không muốn loại trừ ý tưởng này mà không đưa nó vào lò lửa thử thách trước đã, và cũng không muốn báo trước cho bố mẹ mà chưa trực tiếp xem xét tại chỗ. Tôi chỉ báo là sẽ trở về Sucre qua đường Cartagena vì nếu theo đường sông Magdalena dưới điều kiện chiến tranh nóng bỏng này thì chẳng khác gì tự sát. Còn Luis Enrique thì báo cho bố mẹ là sẽ đi tìm việc mới ở thành phố Barranquilla ngay sau khi giải quyết xong công xá với những người chủ.

Dù sao thì tôi cũng thừa biết là sẽ không bao giờ trở thành luật sư ở bất cứ nơi nào. Chỉ tranh thủ thời gian đánh lạc hướng bố mẹ mà thôi và ở Cartagena chỉ là một chặng nghỉ kỹ thuật để tiếp tục suy nghĩ. Có điều tôi không nghĩ ra là: chính sự tính toán hợp lý đó đã dẫn dắt tôi đến nơi thực lòng tôi muốn tiếp tục cuộc sống của chính mình.

Vào những ngày ấy, tìm được năm chỗ trên cùng một chuyến máy bay đi về bất cứ một thành phố nào bên bờ biển thực sự là một chiến tích của em trai tôi. Sau khi xếp hàng rồng rắn trong tình hình nhộn nhạo nguy hiểm và chạy hết chỗ này qua chỗ khác ở sân bay dã chiến, nó mới tìm được năm chỗ ngồi trên ba máy bay khác nhau vào thời gian phù hợp trong tiếng đạn bắn và tiếng nổ ở đâu đó. Lúc đầu, hai anh em tôi kiếm được hai chỗ trên cùng một chiếc máy bay đi Barranquilla, nhưng vào phút cuối phải đi trên hai chuyến khác nhau. Mưa dầm và sương mù bao trùm thành phố Bogota từ thứ Sáu tuần trước mang đậm mùi thuốc súng và xác chết thối rữa. Từ nhà ra sân bay, hai anh em chúng tôi bị chặn lại xét hỏi ở hai trạm gác khác nhau của quân đội, nơi những người lính mang bộ mặt tối sầm vì sợ hãi. Ở trạm gác thứ hai, chúng tôi và những người lính phải nằm rạp xuống đất khi có một tiếng nổ kèm theo loạt súng hạng nặng bắn tới nhưng may đó chỉ là vụ nổ khí gas công nghiệp. Một người lính nói với chúng tôi rằng tấn thảm kịch của họ chính là phải đứng gác ở đó ba ngày nay mà không có người thay thế cũng không có đạn vì trong thành phố đã bị cạn kiệt. Chúng tôi chỉ dám nói mấy lời ngắn ngủi khi bị họ chặn lại và nỗi sợ hãi của những người lính đã lập tức truyền sang chúng tôi. Tuy nhiên, sau những thủ tục xác minh danh tính và mục đích chuyến đi của chúng tôi, họ an ủi chúng tôi rằng phải ở đấy cho đến khi có người đến đưa ra tận máy bay. Trong khi chờ đợi tôi chỉ dám hút hai trong ba điếu thuốc mà ai đó đã làm phúc để ở bên cạnh, còn phải giữ lại một điếu để trấn an nỗi sợ hãi trong chuyến đi.

Vì không có điện thoại, nên những thông báo chuyến bay và các thay đổi khác đều phải nhờ liên lạc của quân đội chạy từ trạm này đến trạm khác bằng xe máy. Vào lúc tám giờ, người ta gọi toán đầu tiên đi chuyến bay đến Barranquilla. Sau đó, tôi được biết là một toán khác cùng với em trai tôi được đi từ một trạm gác khác. Chờ đợi một mình, nhất là trong nỗi sợ hãi đi máy bay bẩm sinh, đối với tôi mà nói thực sự là một cuộc tra tấn. Đến lúc lên máy bay thì trời tối đen lại, sấm chớp ầm ầm, thang máy bay lại bị chuyển sang cho máy bay khác nên hai người lính phải giúp tôi leo lên máy bay bằng chiếc thang thợ nề. Cùng ở sân bay này và đúng vào giờ đó thì Fidel Castro cũng lên chiếc máy bay khác chở đầy bò tót để bay về La Habana - như lời ông kể lại với tôi mấy năm sau đó.

Không biết là may hay rủi mà chiếc DC-3 lại sặc mùi sơn mới và dầu mới được bơm, nhưng không có bóng đèn cho từng người và cũng không có hệ thống thông gió điều khiển từ khoang hành khách. Chiếc máy bay này được cải tạo lại để chở lính nên thay vì từng ghế riêng xếp thành ba hàng thì chỉ có hai hàng ghế gỗ chạy dọc theo thân máy bay và được gắn chặt xuống sàn. Hành lý của tôi chỉ là một chiếc va-ly chứa quần áo bẩn, sách thơ và một số bài báo được cắt ra từ phụ trương văn học mà Luis Enrique nhanh tay cứu được khỏi đám cháy. Hành khách chúng tôi ngồi đối diện nhau từ khoang lái cho đến tận đuôi máy bay. Thay vì có dây an toàn cho từng cá nhân thì chỉ có một sợi dây an toàn dài cho cả hàng ghế ngồi. Điều bực bội nhất là khi tôi vừa đốt điếu thuốc cuối cùng để dành cho chuyến đi thì lái phụ tuyên bố là cấm hút thuốc vì ngay dưới chân chúng tôi là các thùng xăng. Tiếp theo sau đó là ba giờ bay bất tận.

Chúng tôi đến Barranquilla thì trời cũng vừa đổ cơn mưa tháng Tư làm tróc cả nền nhà, liền bị dòng nước cuốn trôi dọc đường phố, và những bệnh nhân cô đơn thì bị chết đuối ngay trên giường nằm. Tôi đứng chờ tạnh mưa ngay ở sân bay đầy rác rưởi vì cơn đại hồng thủy và chỉ kịp biết được rằng chuyến bay của em tôi và bạn bè cũng đã đến đúng giờ, nhưng họ đã nhanh chóng rời sân bay trước khi có những tiếng sấm báo hiệu cơn mưa rào sẽ ập đến.

Tôi lại phải mất thêm ba giờ nữa để đến được trụ sở công ty du lịch và hụt mất chuyến xe buýt cuối cùng đi Cartagena vì nó đã phải đi sớm hơn dự kiến để tránh cơn mưa giông. Tôi không lo lắng gì vì biết là em tôi đã thoát đi trên chuyến xe đó nhưng lại giật mình vì phải ngủ một tối ở Barranquilla, trong túi không có một xu mốc nào. Cuối cùng, nhờ có Jose Palencia, tôi được phép trú tạm trong nhà của hai người đẹp Ilse và Lila Albarracín để ba ngày sau được đi về Cartagena trên chiếc xe què quặt của Bưu điện. Em Luis Enrique ở lại Barranquilla chờ xin việc làm. Tôi chỉ còn đúng tám peso trong túi quần, nhưng Jose Palencia hứa sẽ đem cho thêm một ít tiền nữa ngay trên chuyến xe buýt ban đêm. Không có một khoảng trống nào thậm chí chỉ để đặt được đôi chân, nhưng người lái xe lại đồng ý cho ba hành khách được ngồi trên nóc xe cùng hành lý với số tiền chỉ bằng một phần tư giá vé thông thường.

Trong tình trạng kỳ lạ như vậy và dưới ánh nắng chói chang, tôi nghĩ là mình đã nhận thức được rằng ngày 9 tháng 4 năm 1948 ấy chính là khởi đầu của thế kỷ XX ở đất nước Colombia.

« Lùi
Tiến »