SỐNG ĐỂ KỂ LẠI

Lượt đọc: 2548 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 6

Chúng tôi bị dập vùi thê thảm trên con đường gập ghềnh đầy ổ voi, chiếc xe của Bưu điện thở hơi cuối cùng đúng nơi nó xứng đáng: bị sa lầy trong bụi rễ cây đước sặc mùi cá chết bốc mùi hôi thối cách thành phố Cartagena nửa dặm đường. “Đã đi xe tải thì chẳng biết chết nơi đâu”, tôi nhớ lại lời ông ngoại. Những hành khách đờ đẫn sau sáu tiếng đồng hồ dầm sương dãi nắng và ngửi mùi hôi của đồ hải sản không dám chờ người ta đưa thang ra để xuống đất mà vội vã vứt xuống nào lồng gà, nào bao chuối và tất cả mọi thứ để bán hoặc để chết vốn làm chỗ ngồi cho họ trên nóc xe tải. Tay lái xe nhảy ra khỏi buồng lái và hét lên lời thông báo xanh rờn:

- Đến thành phố anh hùng rồi!

Đó là danh hiệu dành cho Cartagena vì những vinh quang của nó trong quá khứ, và có lẽ chúng tôi đã đến nơi thật rồi. Nhưng tôi chẳng buồn nhìn ra thành phố vì còn đang thoi thóp thở trong bộ veston đen mặc từ hôm mồng 9 tháng 4. Hai bộ khác của tôi cùng chịu chung số phận với chiếc máy đánh chữ ở Monte de Piedad, nhưng theo kiểu giải thích một cách trong danh dự với bố mẹ thì chúng đã cháy mất trong vụ hỏa hoạn. Tay lái xe xấc xược không ngớt trêu chọc bộ dạng tướng cướp của tôi trong suốt chuyến đi nay lại càng khoái chí thấy tôi lúng ta lúng túng chưa định hướng được đâu là thành phố.

- Thành phố ở ngay đít mày ấy! - hắn hét to vào mặt tôi nhưng hình như cũng đang muốn cho tất cả mọi người cùng nghe. - Và mày phải chú ý đấy, ở đây người ta thích những gã đàn ông bóng bẩy đấy.

Cartagena ở sau lưng tôi từ bốn trăm năm nay, nhưng lại rất khó để tôi hình dung ra khi đứng cách nó nửa dặm phía sau rừng đước và bức tường thành huyền thoại vốn giúp nó chống chọi lại bọn hải tặc suốt những năm tháng vĩ đại nhất. Thế là tôi cùng đám hành khách phải kéo lê hành lý trên đám cỏ dại đầy cua sống đang giương càng sắc nhọn đến mức có thể cứa đứt cả giày. Tôi không thể không nhớ đến bao cói đựng đồ của mình bị bạn bè vứt xuống sông Magdalena trong chuyến đi đầu tiên hoặc chiếc thùng đựng đồ mà tôi phải dở khóc dở cười kéo lê khắp nửa đất nước trong những năm học đầu tiên của thời phổ thông trung học và tôi đã phải vứt xuống vực trên dãy núi Andes để chào mừng việc đón bằng tú tài.

Vừa nhìn thấy bóng dáng một vài tháp chuông nhà thờ hay dăm ba tu viện trong ánh chiều tà thì chúng tôi đã gặp đàn dơi bay rào rào ngang tầm đầu mình và nhờ tài năng phi phàm của chúng mà chúng tôi không bị quật ngã xuống đất. Tiếng đập cánh của chúng ầm ì như tiếng sấm rền xa và để lại trong không trung mùi hôi tởm lợm của cái chết. Sợ muốn chết, tôi vứt vội chiếc va-ly và ôm đầu ngồi bệt xuống đất cho đến khi một bà già vẫn đi bên cạnh phải hét lên:

- Cầu kinh La Magnífica đi, mau!

Tức là bài kinh bí mật để đuổi tà bị Nhà thờ cấm nhưng được những người vô thần tôn trọng khi họ không còn lời phỉ báng tôn giáo nào khác nữa. Người đàn bà biết tôi không biết cầu kinh liền túm một dây quai khác của chiếc va-ly để giúp tôi xách nó lên.

- Cậu cứ đọc theo tôi - bà nói - nhưng phải tin thật lòng đấy nhé!

Bà đọc cho tôi từng câu thơ trong kinh La Magnifica và tôi đọc to với niềm sùng kính mà sau này không bao giờ tôi còn cảm thấy thêm một lần nữa. Bầy dơi, dù bây giờ tôi không thể nào hiểu nổi, đã biến khỏi bầu trời trước khi chúng tôi đọc xong bài kinh. Chỉ còn vô vàn mảnh vỡ xác nhuyễn thể chất đầy trên bãi dốc.

Vào đầu tuần, tôi rời Bogota ngập chìm trong máu và bùn, với những thi thể vô thừa nhận lẫn trong những đống đổ nát âm ỉ lửa khói. Rồi bỗng nhiên thế giới đã đổi thay hoàn toàn ở Cartagena. Không hề có dấu hiệu của chiến tranh đang tàn phá đất nước và tôi khó mà tin được rằng nỗi cô đơn không đau đớn này, mặt biển vô bờ kia, cùng những xúc cảm mênh mông vì đã đi đến nơi tất cả lại xảy ra với đời tôi chỉ sau có một tuần lễ.

Tôi kéo chiếc va ly đi chen chúc giữa đám đông vào lúc sáu giờ chiều. Một người đàn ông gầy còm nhìn tôi không chớp mắt. Ông ta chặn tôi lại và xin vác thuê chiếc va-ly. Tôi cảm ơn và được nghe ông cất giọng cha chú nói cụ thể:

- Với ba mươi “dê”.

Không thể được. Ba mươi xu tiền thuê vác va-ly sẽ ngoạm một miếng lớn vào bốn peso ít ỏi còn lại của tôi trong khi phải tuần tới may ra mới nhận được chi viện của bố mẹ.

- Số tiền đó bằng giá trị cả chiếc va-ly và đồ đạc cất ở trong đấy- tôi nói với ông ta.

Thật ra nhà trọ cho chúng tôi cũng không còn quá xa. Ông lão đành chấp nhập ba “dê” và vác va-ly trên vai với sức mạnh phi thường so với tấm thân gầy còm rồi chạy chân đất như một vận động viên trên con đường mấp mô bị bỏ quên từ thời thuộc địa. Trái tim như muốn bứt ra khỏi lồng ngực, tôi, một gã trai hai mươi mốt tuổi, cố hết sức mới đuổi kịp ông già gần đất xa trời. Sau năm dãy phố, ông đến trước cửa lớn của khách sạn và leo từng hai bậc thang một. Vẫn giữ nguyên nhịp thở đều đặn, ông để chiếc va ly xuống và giơ tay ra phía tôi:

- Cho ba mươi “dê”.

Tôi nhắc lại là đã trả tiền công rồi, nhưng ông ta giải thích là ba xu chỉ đến cổng chứ chưa kể tiền vác lên cầu thang. Bà chủ khách sạn ra đón chúng tôi liền giải thích vác lên cầu thang phải tính tiền riêng. Và bà ta cho tôi một lời khuyên nhớ đời:

- Ông sẽ thấy là ở Cartagena mọi thứ đều khác hẳn.

Lại thêm một tin buồn là những người bạn cùng trọ với tôi ở Bogota vẫn chưa đến mặc dù đã đặt phòng cho bốn người ở đây. Chúng tôi đã hẹn nhau có mặt ở khách sạn này trước sáu giờ chiều nay. Do phải thay đổi chuyến xe nên tôi đến chậm ba tiếng đồng hồ, thế mà vẫn đúng hẹn hơn bọn họ, nhưng cũng chả được tích sự gì với bốn peso đã bị thiến đi mất ba mươi ba xu. Bà chủ khách sạn là người mẹ rất dễ thương nhưng lại là nô lệ của chính những quy tắc của mình, như tôi biết rõ sau hai tháng dài vô tận sống ở đây. Bà không đồng ý cho tôi đăng ký nếu không trả trước một tháng tiền thuê: tức là mười tám peso cho một phòng sáu người cùng với ngày ba bữa ăn.

Phải một tuần nữa tôi mới có sự trợ giúp của bố mẹ, tức là va-ly của tôi sẽ không được đưa lên phòng nếu những người bạn chưa tới. Tôi ngồi chờ trên chiếc ghế bành vẽ đầy hoa như trên trời rơi xuống sau một ngày phơi nắng trên chiếc xe tải khốn khổ. Đúng là ngày ấy chẳng ai tin tưởng bất cứ điều gì. Hẹn ngày giờ chính xác gặp nhau chẳng có ý nghĩa gì khi một nửa đất nước đang chìm trong cuộc chiến tranh đẫm máu đã bắt đầu từ mấy năm nay ở các tỉnh và bùng phát ở các thành phố trong vòng một tuần lễ.

Tám giờ giam mình chờ đợi tại cửa khách sạn ở Cartagena mà không hiểu được chuyện gì đã xảy ra với Jose Palencia và các bạn khác, lại thêm một giờ nữa đợi chờ không tin tức, tôi đành đi lang thang trên những con phố vắng ngắt. Tháng Tư ngày ngắn đêm dài. Đèn đường đã bật sáng nhưng yếu đến mức có thể bị lẫn với sao đêm lấp lóe qua những vòm cây. Đó là một đêm lịch sử đối với tôi. Nhờ thực tế tôi đã nhận ra những điều hoang đường mà người ta dạy chúng tôi trong nhà trường về thành phố này. Tôi rưng rưng nước mắt nhìn những tòa lâu đài của các vị bá tước ngày xưa vẫn sừng sững trước mặt, với những người ăn mày nằm ngủ dưới mái hiên. Tôi nhìn thấy nhà thờ lớn không còn tháp chuông vì đã bị tên cướp biển Francis Drake lấy đi để đúc súng. Tôi thấy những hàng cây khô héo và những bức tượng các vĩ nhân mà hình như không phải được tạc bằng đá cẩm thạch mà chính là những xác ướp sống. Bởi vì, ở Cartagena người ta không bảo quản chống lại sự ăn mòn của thời gian, mà ngược lại: người ta giữ thời gian để cho vạn vật tiếp tục có mãi tuổi nguyên thủy của mình trong khi các thế kỷ thì cứ già mãi đi. Thế là ngay trong đêm đầu tiên đến thành phố, tôi tự nghiệm ra rằng Cartagena không phải như là một hóa thạch của các nhà sử học, mà như một thành phố bằng xương bằng thịt và rằng thành phố không còn được duy trì bằng niềm vinh quang chiến trận nữa mà bằng niềm kiêu hãnh của những đổ nát.

Với niềm hưng phấn mới này, tôi quay lại khách sạn vào lúc tháp chuông đồng hồ đánh mười tiếng. Người gác cổng ngái ngủ nói với tôi là chưa thấy anh bạn nào đến, nhưng va-ly của tôi đã được cất trong kho khách sạn. Cho đến lúc đó tôi mới cảm thấy mình chưa ăn và uống tý gì kể từ bữa điểm tâm vớ vẩn ở Barranquilla. Cái đói làm đôi chân tôi rã rời, nhưng có lẽ tôi sẽ hài lòng nếu được bà chủ cho để chiếc va-ly và cho tôi ngủ qua đêm này dù chỉ là ở trên băng ghế ở tiền sảnh. Người gác cổng cười nhạo sự ngây thơ của tôi:

- Đừng có mà tưởng bở! - anh ta nói với giọng đặc sệt vùng Caribe - với đống tiền có trong hầu bao, bà ta ngủ từ lúc bảy giờ tới mười một giờ trưa hôm sau mới dậy.

Tôi thấy lập luận này quá đúng nên đành ra ngủ trên ghế đá ngoài công viên Bolivar ở phía bên kia đường và chờ các bạn đến mà không phải làm phiền ai cả. Khi chuẩn bị ngủ thì tôi bỗng thấy có gì lấp ló sau bóng cây rậm rạp. Đó chính là bức tượng của Simon Bolivar, người anh hùng của đời tôi kể từ khi ông ngoại lệnh cho tôi phải làm như vậy. Người vẫn là nhân vật không thể quên được của tôi mặc cho sự không nhất quán trong tư tưởng của ông hoặc cũng vì chính vì lẽ đó cũng nên. Với đặc tính này, ông ngoại cũng đã đạt đến cấp bậc đại tá và chính ông cũng đã liều thân trong các cuộc chiến tranh do những người tự do tiến hành để chống lại đảng bảo thủ do Bolivar sáng lập. Đang chập chờn trong những ý nghĩ mông lung ấy thì một tiếng hét ngay sau lưng đưa tôi về thực tại:

- Giơ tay lên!

Tôi vui vẻ giơ tay lên vì tin chắc là các bạn đã đến nhưng nào ngờ lại gặp phải hai viên cảnh sát đang chĩa súng vào mình. Họ muốn biết tại sao tôi vi phạm lệnh giới nghiêm bắt đầu từ hai giờ trước đây. Tôi không hề biết là nó đã được ban hành từ Chủ nhật trước như họ nói thậm chí cũng không hề nghe thấy tiếng kèn hoặc tiếng chuông và bất cứ một tín hiệu gì cho tôi hiểu rằng đã có lệnh giới nghiêm. Hai viên cảnh sát lơ đễnh ngó mớ giấy tờ tùy thân của tôi và nghe tôi giải thích vì sao phải ở đây. Họ trả lại tôi giấy tờ mà không thèm ngó ngàng gì đến. Họ hỏi tôi có bao nhiêu tiền và tôi nói là chưa đến bốn peso. Một người liền hỏi xin điếu thuốc lá, tôi đưa mẩu thuốc định hút trước khi ngủ. Anh ta giằng lấy và hút đến tận móng tay. Một lúc sau, có lẽ là vì muốn được hút thuốc hơn là vì nghĩa vụ thực thi luật pháp họ lôi tôi đi tìm cửa hàng thuốc còn mở cửa để mua loại thuốc lá rời bán lẻ từng xu. Dưới vầng trăng đầy đặn, đêm sáng hơn và mát mẻ hơn, sự im lặng cũng giống như một thứ vật chất vô hình mà người ta có thể hít thở được tựa không khí. Lúc đó, tôi mới hiểu câu nói của bố mà trước đây không bao giờ chúng tôi tin là chơi đàn vĩ cầm vào lúc rạng sáng trong sự im lặng của nghĩa địa sẽ cảm nhận được những bản valse tình yêu có thể được vọng đến khắp nơi trong vùng Caribe.

Mệt mỏi vì không tìm được cửa hàng bán thuốc lá lẻ, chúng tôi liền đi ra phía cảng nơi có nếp sinh hoạt riêng với những con tàu từ Curazao, Aruba và các nơi trong quần đảo nhỏ Antillas hướng đến. Ở đây, những người có giấy phép đi trong giờ giới nghiêm từ trong phố đổ ra vui chơi. Họ ăn uống cho đến rạng sáng ở một tiệm ngoài trời. Tiệm này không có tên chính thức và người ta chỉ kháo nhau đó là La Cueva (Hang động).

Hai viên cảnh sát đến đó như về nhà mình. Người ta mời chúng tôi cùng ăn tối. Họ đối xử với hai người cảnh sát thân mật như người hầu. Một người nghiêm nghị và có phản xạ của đứa bé ngoan ngoãn trên bàn ăn. Người kia có vẻ đần, trừ khi ăn và hút. Tôi do nhút nhát nên gọi ít thức ăn hơn họ; khi tôi mới cảm thấy giải quyết được phân nửa cái đói thì họ đã ăn xong. Sau bữa ăn, tôi đi cùng với hai viên cảnh sát làm nốt chuyến tuần tra đã bị trễ. Mặt trăng như một đĩa vàng trên trời. Từ nơi xa, cơn gió nhẹ cuốn theo tiếng nhạc và tiếng reo hò của đám hội lớn. Hai viên cảnh sát biết rõ trong các khu dân nghèo vào thời điểm giới nghiêm cũng không có ai lên giường mà thường tụ tập trong các đám nhảy múa được luân phiên tổ chức ở từng nhà, cho đến tận sáng bạch nên chẳng có ai đi ra phố.

Khi chuông điểm hai giờ thì chúng tôi về đến khách sạn và tôi biết chắc là các bạn đã đến, nhưng khốn nạn thay tay gác đêm không chịu đánh thức bất cứ ai dậy vì bất cứ lý do gì. Hai viên cảnh sát hiểu ngay là tôi không có chỗ ngủ nên quyết định đưa tôi về đồn. Tôi cảm thấy như bị làm nhục nên nổi cáu văng ra một câu xấc xược. Kinh ngạc vì phản ứng trẻ con của tôi, một viên cảnh sát dí nòng súng vào bụng tôi để lập lại trật tự.

- Bỏ thói mất dạy đó ngay đi - ông ta nói trong tiếng cười sặc sụa. - Anh phải nhớ là mình đang bị bắt vì vi phạm lệnh giới nghiêm đấy!

Và thế là tôi được ngủ trong một buồng giam dành cho sáu người trên một chiếc chiếu chua loét mùi mồ hôi của kẻ khác trong cái đêm đầu tiên hạnh phúc ở Cartagena.

Hiểu được tâm hồn của thành phố còn dễ hơn việc sống sót qua ngày đầu tiên. Chưa đến hai tuần lễ tôi đã giải quyết xong mối quan hệ với bố mẹ, họ hoàn toàn ủng hộ quyết định của tôi về sống ở một thành phố không có chiến tranh. Bà chủ khách sạn, ân hận vì kết án tôi ngủ một đêm trong trại giam, đã bố trí tôi ở với hai mươi sinh viên khác trong những phòng được cải tạo lại trên sân thượng của ngôi nhà rất xinh đẹp của bà được xây từ thời thuộc địa. Tôi không còn gì phải phàn nàn, vì các phòng này là một bản sao khu ký túc xá của trường trung học nội trú với giá rẻ hơn nhà trọ ở Bogota nhưng lại có đầy đủ dịch vụ.

Việc nhập học ở khoa luật được giải quyết trong một giờ với bài kiểm tra trước mặt của Chủ nhiệm khoa, Ignacio Velez Martinez, và một thầy giáo môn kinh tế chính trị học mà trong bộ

nhớ của tôi không ghi được đầy đủ tên họ. Theo lệ thường, việc thi nhập học được tiến hành trước sự hiện diện của tất cả sinh viên năm thứ hai. Theo kết quả bốc thăm, đề tài đầu tiên là cuộc nội chiến nước Mỹ mà tôi hoàn toàn mù tịt. Tiếc là trước đó tôi chưa kịp đọc các tác phẩm của các nhà văn mới của Mỹ vừa được bán ở Colombia, nhưng cũng còn may là lúc đó tiến sĩ Velez Martinez bắt đầu nói đến cuốn Túp lều của bác Tom, mà tôi biết khá rành từ hồi còn học phổ thông. Tôi vội vớ lấy dịp may. Có lẽ hai thầy giáo đã bị một đòn tình cảm đánh gục vì bảy mươi phút dành cho cuộc kiểm tra đã được chúng tôi tận dụng hết để làm một cuộc phân tích tình cảm về sự ô nhục của chế độ nô lệ ở miền Nam nước Mỹ thời đó. Và thế là xong. Tức là theo kiểu bốc thăm xoay vòng nòng súng ru lô có một viên đạn trong ổ, số thời gian dành cho bài kiểm tra của tôi trở thành một cuộc nói chuyện vui vẻ lại được điểm khá cùng một tràng vỗ tay thân mật.

Thế là tôi lại vào đại học để học xong năm thứ hai khoa luật với điều kiện mà tôi không bao giờ thực hiện là phải thi lại một hoặc hai môn chưa đạt trong năm thứ nhất ở Bogota. Một số bạn học rất ưa thích cách thức nắm vấn đề của tôi vì họ theo phái chủ trương tự do sáng tạo trong trường đại học vốn có luật lệ kinh viện nghiêm khắc. Trong giấc mơ cô đơn từ thời trung học, tôi đã luôn ấp ủ niềm hy vọng làm tốt các bài thi mà không cần phải học. Cũng may là trong đời thực có nhiều thầy giáo thuần thục trong nghệ thuật duy trì lệ tổ chức các buổi khiêu vũ vào thứ Sáu hàng tuần dù có nguy cơ đàn áp ngày càng khốc liệt trong thời gian có lệnh giới nghiêm. Các cuộc khiêu vũ vẫn được tổ chức nhờ sự thỏa thuận qua bàn tay trái với các nhà chức trách trong suốt thời gian giới nghiêm. Khi lệnh này được bãi bỏ thì những đêm khiêu vũ lại càng sôi nổi hơn, nhất là ở Torices, Getsemaní, Popa, các khu dân nghèo ưa thích hội hè nhảy múa nhất trong những năm đen tối đó. Một trong những đêm say sưa nhất ở khu Getsemaní, tôi bỗng thấy có ai đập mạnh vào lưng và nói vào tai:

- Đồ ăn cướp!

Hóa ra là Manuel Zapata Olivella, một cư dân ngoan cố của phố Mala Crianza, nơi mà từ cụ tổ người châu Phi cho đến ông bà nội ngoại của anh đã từng sống. Chúng tôi đã gặp nhau ở Bogota trong ngày 9 tháng 4 rực lửa nên điều ngạc nhiên đầu tiên khi gặp lại ở Cartagena là cả hai vẫn sống. Không chỉ là một bác sĩ từ thiện, Manuel còn là một nhà văn, một chính khách tích cực và một người truyền bá âm nhạc vùng Caribe, nhưng nguyện vọng cháy bỏng nhất của ông là tìm cách giải quyết vấn đề cho tất cả mọi người. Trong khi chúng tôi vừa trao đổi kinh nghiệm về ngày thứ Sáu bi thảm và kế hoạch tương lai của mình thì Manuel liền đề nghị tôi thử vận may trong nghề làm báo. Tháng trước, nhà lãnh đạo phái tự do, Domingo Lopez Escauriaza, đã sáng lập tờ nhật báo El Universal mà thư ký tòa soạn là Clemente Manuel Zabala - một nhà nghiên cứu âm nhạc uyên thâm và là một người cộng sản đã ngưng hoạt động chứ không phải là một nhà báo mà người ta vẫn từng đồn thổi. Zapata Olivella cứ thúc giục tôi đến gặp ông vì biết ông đang tìm những người mới để làm thứ báo chí sáng tạo mẫu mực chống lại thứ sáo mòn và nhẫn nhục đang ngự trị trong làng báo cả nước, nhất là ở Cartagena vốn là một trong những thành phố trì trệ bậc nhất.

Tôi biết rõ làm báo không phải là nghề của mình. Tôi muốn trở thành một nhà văn khác hẳn, nhưng lại bắt chước những tác giả khác chẳng có gì giống mình cả. Thế là vào thời gian đó, tôi đang dừng lại để suy nghĩ bởi vì sau ba truyện ngắn đầu tiên được đăng ở Bogota và rất được Eduardo Zalamea và các nhà phê bình, tốt có, xấu có, khen ngợi, tôi cảm thấy mình đang ở trong đường hầm không lối thoát. Ngược với suy nghĩ của tôi, Zapata Olivella cứ nhấn mạnh rằng báo chí và văn chương trong thời gian ngắn nữa cũng chỉ là một, và rằng giữ mối quan hệ với tờ El Universal có thể bảo đảm cho tôi đạt được cả ba mục tiêu cùng một lúc: kiếm sống một cách xứng đáng và có ích, có được một chuyên môn mà bản thân nó đã là một nghề quan trọng và được làm việc với Clemente Manuel Zabala, người thầy tốt nhất trong ngành báo chí. Tính nhút nhát đã ngăn tôi không hiểu được lý lẽ giản đơn như vậy và suýt nữa sẽ là một nỗi bất hạnh của đời mình. Nhưng Zapata Olivella không bao giờ chịu thất bại và anh đã ép tôi đi đến số nhà 381 đường San Juan de Dios, trụ sở tòa soạn của tờ báo vào năm giờ chiều ngày hôm sau.

Đêm đó, tôi ngủ chập chờn. Vào buổi điểm tâm sáng hôm sau, tôi hỏi bà chủ khách sạn phố San Juan de Dios ở đâu và bà ta chỉ tay ra phía cửa sổ.

- Ngay kia kìa - bà ta nói với tôi - chỉ cách đây hai dãy phố thôi.

Nơi đó là tòa soạn El Universal, ngay trước bức tường lớn của nhà thờ San Pedro Claver, ông thánh đầu tiên của châu Mỹ mà thân thể không bị hư hại dù đã phơi bày ra từ hơn một trăm năm nay. Đó là một căn nhà theo lối kiến trúc thời thuộc địa pha thời cộng hòa có hai cửa ra vào lớn và những cửa sổ rộng khiến người ta có thể nhìn thấy bên trong tòa báo là như thế nào. Nhưng nỗi hãi hùng của tôi lại đang ngồi phía sau cầu thang thô mộc cách cửa sổ khoảng ba mét: đó là một người đàn ông đứng tuổi và cô đơn, mặc bộ đồ trắng, có nước da sạm đen, tóc đen cứng và thường viết bằng bút chì trên chiếc bàn cũ đầy ắp giấy tờ. Tôi đi đi lại lại hai ba vòng và lần thứ tư cũng vẫn như lần thứ nhất, tôi hoàn toàn tin rằng người đó chính là Clemente Manuel Zabala, đúng y như tôi đã hình dung từ trước, nhưng trông đáng sợ hơn. Quá sợ hãi, tôi quyết định không đến cuộc hẹn chiều hôm đó với người đàn ông mà chỉ nhìn qua cửa sổ cũng biết là quá biết về đời và nghề. Trở về khách sạn và tận hưởng thêm một ngày không ân hận, nằm ngửa đọc Bọn làm bạc giả của André Gide và hút thuốc liên tục. Vào lúc năm giờ, cửa phòng ngủ bật mở rầm như tiếng súng:

- Mẹ kiếp, đi nào! - từ cửa Zapata Olivella đã hét toáng lên với tôi - Zabala đang chờ cậu đấy, và nên nhớ là không có ai ở cái đất nước này dám để ông ấy chờ đâu nhé.

Khởi đầu là bước khó khăn nhất của một sự kiện mà ta tưởng tượng như là cơn ác mộng. Zabala tiếp đón tôi mà không biết phải làm gì nên cứ rít thuốc liên tục trong bầu không khí nóng ngột ngạt. Ông chỉ ra tất cả. Một bên là Ban lãnh đạo và Ban trị sự, phía khác là Ban biên tập và xưởng nơi có ba bàn còn trống vào giờ còn sớm này và trong cùng là một máy in dây chuyền.

Tôi rất ngạc nhiên là Zabala đã đọc ba truyện ngắn của tôi và ông thấy bài viết của Zalamea là hợp lý.

- Riêng tôi thì thấy không đúng - tôi nói với ông. - Tôi không thích những truyện ngắn đó. Tôi viết nó vì những thôi thúc vô thức và sau khi được in ra không biết mình phải tiếp tục từ đâu nữa.

Zabala hít một hơi thuốc lá thật sâu và nói với Zapata Olivella:

- Đó là một dấu hiệu tốt đấy.

Manuel vội đón lấy thời cơ và nói với ông ấy rằng tôi có thể rất hữu ích cho tờ báo trong thời gian rảnh rỗi ở trường đại học. Zabala cho biết rằng ông cũng nghĩ như vậy khi Manuel Zapata xin cho tôi một cuộc hẹn. Và tối hôm trước, ông đã giới thiệu tôi như một cộng tác viên tiềm năng của tờ báo với ngài Lopez Escauriaza, Tổng biên tập.

- Thật là tuyệt vời. - Tổng biên tập đã dịu dàng mỉm cười và nói.

Chúng tôi không bàn thêm gì nữa nhưng thầy Zabala hẹn tôi chiều mai quay lại để giới thiệu với Héctor Rojas Herazo, nhà thơ và họa sĩ giỏi giang và là người viết bình luận chính của báo. Vì nhút nhát nên tôi đã không dám thú nhận đó là người đã dạy tôi môn vẽ hồi ở trường San Jose. Vừa ra khỏi, Manuel đã nhảy cững lên ở trên quảng trường trước tường nhà thờ San Pedro Claver và nói to với niềm vui hơi sớm:

- Thấy chưa, hổ đực, gươm đã tuốt ra rồi nhé!

Để khỏi làm anh cụt hứng, tôi liền đáp lại bằng việc thân mật ôm anh, nhưng tôi vẫn rất hoài nghi về tương lai của mình. Manuel hỏi tôi thấy ông Zabala như thế nào và tôi nói đúng điều mình nghĩ: đó là một người đi câu tâm hồn. Có lẽ đó là nguyên nhân quyết định việc các nhóm thanh niên tập hợp quanh ông. Tôi kết luận, dù chưa đánh giá đúng người đàn ông già trước tuổi này, và chính cách sống đã ngăn trở ông đóng vai trò quyết định trong đời sống công cộng của đất nước.

Tối hôm ấy, Manuel gọi cho tôi, vừa cười sặc sụa vừa kể về cuộc nói chuyện tức thì với Zabala. Zabala nói về tôi rất nhiệt tình và khẳng định niềm tin của ông là đã kiếm được người quan trọng cho chuyên mục bình luận của tờ báo và ông Tổng biên tập cũng nghĩ như vậy. Nhưng lý do thực sự mà anh gọi cho tôi là để báo tôi biết là điều duy nhất mà thầy Zabala còn lo lắng chính là tính nhút nhát e dè có thể sẽ là một cản trở lớn trong cuộc đời tôi.

Sở dĩ cuối cùng tôi quyết định đến với tờ báo là vì sáng hôm sau, khi tôi vừa ở phòng tắm ra thì một người bạn cùng phòng ngủ đã dí vào mắt tôi trang sự kiện của tờ El Universal. Đó là một bài viết khủng khiếp về việc tôi đến thành phố và rằng tôi cam kết trở thành nhà văn trước khi việc này thành sự thật và sẽ trở thành nhà báo xuất sắc chỉ hai mươi bốn giờ sau khi lần đầu tiên được nhìn thấy từ bên trong tòa báo. Manuel liền gọi điện chúc mừng nhưng tôi bực bội trách anh đã viết những điều vô trách nhiệm như vậy mà không hề báo trước với tôi nửa lời. Tuy vậy, có điều gì đó đã thay đổi trong tôi và có lẽ đó là đổi thay vĩnh viễn, khi tôi biết được rằng bài báo đó chính là do thầy Zabala trực tiếp viết. Thế là tôi thít lại dây lưng quần và quay lại tòa báo để cảm ơn ông. Ông gần như không để ý đến lời tôi nói. Ông giới thiệu tôi với Héctor Rojas Herazo đang mặc quần ka-ki và áo sơ mi hoa sặc sỡ của xứ Amazon, giọng oang oang sấm và không ngơi miệng cho đến khi con mồi bị mắc bẫy mới thôi. Tất nhiên là ông không còn nhớ tôi là một trong những học trò của mình hồi ở trường San Jose ở Barranquilla.

Thầy Zabala - như tất cả mọi người vẫn gọi - gợi chúng tôi nhớ lại hai hoặc ba người bạn chung và một số khác mà tôi có lẽ đã quen biết. Sau đó, ông để chúng tôi ở lại và quay về với cuộc chiến tranh tàn khốc. Héctor tiếp tục nói chuyện với tôi trong tiếng đều đều của máy in như tiếng mưa phùn nhẹ tênh tựa như anh cũng chẳng có liên quan gì đến Zabala nữa cả.

Mười giờ đêm, khi tòa báo đóng cửa thì thầy Zabala khoác áo, thắt lại cà vạt, bước tới với bước đi của nghệ sĩ múa ba lê và chút sức trẻ còn lại, đến mời chúng tôi đi ăn tối. Tất nhiên là ở nhà hàng La Cueva, nơi bất ngờ Jose Dolores và một số người ăn khuya nhận ra tôi. Lại càng ngạc nhiên hơn khi một trong hai viên cảnh sát bắt tôi phải kể một chuyện vui diễn ra trong cái đêm tệ hại mà tôi phải ngủ trong trại giam và tịch thu của tôi bao thuốc mới hút được mấy điếu. Héctor cũng thi nói tếu với Jose Dolores làm đám thực khách cười vỡ bụng trong khi thầy Zabala im lặng với vẻ hài lòng. Tôi cũng tham gia dăm câu vô thưởng vô phạt, nhưng tối thiểu cũng để mọi người biết mình là một trong số ít khách hàng được Jose Dolores xem như vật tín chấp để có thể phục vụ mọi người trả chậm đến bốn lần trong một tháng.

Sau khi ăn tối, tôi và Héctor tiếp tục cuộc nói chuyện buổi chiều khi bước đi thong thả trên đại lộ Martires đối diện với bãi biển đậm đặc mùi phế thải của khu chợ công cộng. Đó là một đêm trong sáng giữa trung tâm thế giới. Trong buổi rạng sáng này, Héctor đã hé cho tôi những tia sáng đầu tiên về lịch sử ngầm của Cartagena, được che bằng tấm khăn đẫm nước mắt, mà có lẽ nó gần với thực tế hơn sự hư cấu vui vẻ của các nhà kinh viện. Anh đã kể cho tôi về mười liệt sĩ được đúc tượng đá đặt hai bên đại lộ để chủ nghĩa anh hùng của họ được lưu danh muôn thuở. Theo cách kể lại của nhân dân - cũng giống như của anh - thì khi đặt các bức tượng này lên bệ đá, các nhà điêu khắc không khắc tên và ngày sinh của từng người lên bức tượng mà lại khắc trên bệ. Cho nên sau khi dỡ các bức tượng xuống để lau các vết xây xát nhân kỷ niệm một trăm năm, người ta không còn biết lắp lại cho đúng chỗ cũ đành để vào bất cứ bệ nào còn trống và thế là không còn biết đúng tên tuổi của từng người nữa. Chuyện này được người ta đồn thổi như là một chuyện khôi hài từ nhiều năm nay, nhưng tôi thì nghĩ ngược lại, việc để cho các anh hùng liệt sĩ không còn tên cụ thể là lập lại công bằng lịch sử không vì công tích trong cuộc đời từng người riêng lẻ mà vì họ cùng có chung một số phận.

Những cuộc vui và nói chuyện thâu đêm suốt sáng được lặp lại gần như hàng ngày trong những năm tháng tôi sống ở Cartagena, nhưng ngay từ đêm thứ hai hay thứ ba gì đó tôi đã nhận ra rằng, Héctor có sức hút mọi người ngay lập tức nhờ tình bằng hữu sâu đậm mà chỉ những người yêu mến anh thực sự mới hiểu được. Anh rất dịu dàng, nhưng đồng thời cũng có thể nổi cơn tức giận ngay lập tức, rồi sau lại tự khen mình như Chúa Hài Đồng. Chúng tôi hiểu anh là người như thế nào và tại sao thầy Zabala làm hết cách để chúng tôi yêu mến anh như yêu mến chính ông vậy. Đêm đầu tiên cũng như những đêm sau đó, chúng tôi ở trên đại lộ Martires cho đến tận rạng sáng mà không lo lệnh giới nghiêm vì chúng tôi là nhà báo.

Ba giờ sau, tôi thức dậy vì cú điện thoại của thầy Zabala với một câu nói không được hạnh phúc mấy:

- Tác phẩm bậc thầy viết đến đâu rồi?

Phải mất mấy phút tôi mới hiểu là ông muốn nói về bài báo cộng tác của tôi cho số ngày hôm sau. Bây giờ tôi không nhớ là trước đó chúng tôi đã ký hợp đồng hay chưa hay là ông có đề nghị tôi viết bài cộng tác đầu tiên hay không, nhưng sáng hôm đó thì tôi cảm thấy đủ khả năng làm bất cứ việc gì sau một đêm thi olympic nói chuyện. Zabala chắc là hiểu như vậy vì không đề ra một đề tài cụ thể nào cho ngày hôm đó và tôi đề nghị ngay một vấn đề mà mình cho là nóng hổi: lệnh giới nghiêm.

Ông không định hướng gì cho tôi cả. Mục đích của tôi là kể lại cuộc phiêu lưu trong đêm đầu tiên ở Cartagena và tôi trực tiếp viết tay vì không thể quen với chiếc máy chữ thời tiền sử ở tòa báo. Đó là một ca sinh nở kéo dài bốn tiếng đồng hồ được người thầy trực tiếp duyệt lại trước mặt tôi với sự chăm chú đến mức không để cho tôi đoán được ý nghĩ của ông cho đến khi ông tìm được cách nói bớt cay đắng với tôi:

- Không tệ, nhưng không thể đăng được.

Tôi không ngạc nhiên. Ngược lại, tôi đã dự liệu trước và trong giây lát tôi như cất được gánh nặng trần ai phải làm một nhà báo.

Nhưng lý do thực sự của ông mà tôi không biết được lại mang tính quyết định: từ ngày mồng 9 tháng 4, ở bất cứ tòa soạn báo nào trong cả nước, chính phủ đều bố trí một nhân viên kiểm duyệt ngồi ở bộ phận biên tập như biên chế của cơ quan báo, từ sáu giờ chiều với đầy đủ ý chí và quyền lực để không cho phép một chữ nào làm phương hại đến trật tự công cộng.

Lý do mà thầy Zabala đưa ra làm tôi đau hơn so với lý do của chính phủ bởi vì tôi không viết bài đó như một thiên bình luận báo chí mà kể lại một cách khách quan chuyện riêng của mình và không hề có dụng ý làm báo. Ngoài ra, tôi cũng không đề cập đến lệnh giới nghiêm như một công cụ hợp pháp của Nhà nước mà như mẹo của một số nhân viên cảnh sát ngu dốt để xin thứ thuốc lá bán từng xu. Cũng may là trước khi tuyên án tử hình tôi, thầy Zabala còn trả lại bản thảo để tôi sửa lại không phải cho ông mà cho nhân viên kiểm duyệt xem và ông còn làm phúc cho tôi một lời nhận xét như con dao hai lưỡi:

- Giá trị văn học thì bài này có đấy, mà đầy đủ là đằng khác - ông nói với tôi. - Nhưng về việc này chúng ta sẽ nói chuyện sau nhé!

Ông ấy là như vậy. Ngay từ ngày đầu tiên đến tòa báo, khi Zabala nói chuyện với tôi và Zapata Olivella, tôi đã để ý đến thói quen kỳ lạ của ông, vừa nói chuyện với một người vừa nhìn thẳng vào mặt người khác, còn móng tay thì bị đốt cháy vì thuốc lá. Lúc đầu, việc này gây cho tôi một sự thiếu tự tin rất khó chịu. Cách đỡ ngu nhất mà tôi nghĩ ra là cứ chăm chú nghe ông nói nhưng không nhìn ông mà quay sang Manuel. Sau đó, khi đã nói chuyện với Rojas Herazo, với ông Tổng biên tập Lopez Escauriaza và nhiều người khác, tôi nghiệm ra rằng đó là cách nói chuyện rất riêng của ông Zabala khi có đông người. Khi đã tin nhau, ông giải thích là mình thường nhìn nghiêng người đối thoại để khỏi phả khói thuốc lá vào mặt người ta. Tôi chưa quen biết ai có tính tình hiền hậu và cẩn thận, ý thức công dân mạnh mẽ như ông, bởi vì ông luôn luôn biết cách làm điều mình muốn: ông là một nhà bác học trong bóng tối.

Tôi đã từng viết diễn văn, thơ ca thời học sinh ở trường tại Zapaquirá, những tuyên bố yêu nước và những lá thư phản đối về thức ăn dở, và thêm những thứ khác, chưa kể những bức thư mà mẹ gửi trả lại với những lỗi chính tả đã được sửa kể cả khi tôi đã là một nhà văn nổi tiếng. Thế mà bài được đăng trên mục bình luận không còn giống gì với bài tôi đã viết. Giữa những sửa chữa của người thầy và của nhân viên kiểm duyệt, những gì còn lại của tôi chỉ là vài miếng bạc nhạc của thứ văn xuôi trữ tình nhạt nhẽo về ý tứ và phong cách, chưa kể lại còn bị đòn kết liễu về ngữ pháp của anh chàng sửa bản in nữa. Đến phút cuối cùng, họ thống nhất giao cho tôi một cột báo, có lẽ để giảm bớt trách nhiệm, được ký tên đầy đủ và một cái đầu đề thường xuyên là “Xuống dòng” .

Zabala và Rojas Herazo, vốn quen với nỗi cực nhọc hàng ngày của nghề báo, đã an ủi được tôi về nỗi vất vả khi viết bài đầu tiên và thế là tôi đủ can đảm viết tiếp bài thứ hai, bài thứ ba mà cũng không khá hơn. Tôi làm việc ở tòa soạn gần hai năm in được đến hai bài báo mỗi ngày vượt qua cửa ải kiểm duyệt, có ký tên lẫn không ký tên, và suýt nữa thì đã kết hôn với cháu gái của nhân viên kiểm duyệt nữa chứ!

Việc lực lượng cảnh sát đã được quân sự hóa chứng tỏ chính phủ quyết tâm thực hiện quyết liệt hơn chính sách bạo lực chính trị đang làm đổ máu khắp nơi trên cả nước, tuy ở vùng duyên hải biển Caribe tình hình có dịu hơn chút ít. Nhưng đầu tháng Năm, cảnh sát vô cớ tấn công vào một đám rước trong Tuần lễ Thánh trên đường phố ở Carmen de Bolivar, cách Cartagena khoảng hai mươi dặm. Tôi có điểm yếu về tình cảm đối với thị trấn ấy nơi bà bác Mama lớn lên và ông ngoại Nicolas chế tạo ra những con cá nhỏ bằng vàng nổi tiếng. Thầy Zabala sinh ra ở thị trấn San Jacinto bên cạnh, đã giao việc khá kỳ lạ cho tôi là phải sử dụng chuyên mục bình luận tin tức phớt lờ ngăn cản của kiểm duyệt và bất chấp hậu quả. Bài đầu tiên của tôi trên chương mục này không ký tên yêu cầu chính phủ điều tra kỹ lưỡng vụ tấn công đó và trừng phạt những kẻ thủ phạm. Và kết thúc bài viết với câu hỏi: “Chuyện gì đã xảy ra ở Carmen de Bolivar?”. Đứng trước sự làm ngơ của chính quyền, và trong cuộc chiến tranh trực diện với kiểm duyệt, chúng tôi cho in lại câu hỏi trên trong mỗi bài viết hàng ngày trên chính chuyên mục đó với ý chí ngày càng mạnh mẽ hơn. Sau ba ngày, Tổng biên tập khẳng định với Zabala là ông và toàn bộ Ban biên tập đồng ý tiếp tục với đề tài này. Như thế là chúng tôi tiếp tục với câu hỏi đó. Chúng tôi nhận được thông tin không chính thức rằng chính phủ ra lệnh cứ để cho chúng tôi một mình độc thoại cho đến khi đứt hơi thì thôi. Nhưng việc đó đâu dễ, vì câu hỏi hàng ngày của chúng tôi đã lan ra ngoài đường phố trở thành câu chào hỏi nhau của mọi người: “Xin chào người anh em, chuyện gì đã xảy ra ở Carmen de Bolivar vậy?”

Một buổi tối ít ngờ nhất, không hề báo trước, một đội tuần tra của quân đội bao vây khu phố San Juan de Dios và viên đại tá Jaime Polania Puyo, Tư lệnh lực lượng cảnh sát vũ trang, bước vào tòa soạn El Universal. Chúng tôi vốn biết ông ta là một người cứng rắn trong thời bình cũng như trong chiến tranh, điều này đã được chứng tỏ mấy năm sau khi ông ta chỉ huy tiểu đoàn quân Colombia tham gia chiến tranh ở Triều Tiên. Không ai đi đâu suốt hai tiếng đồng hồ căng thẳng trong lúc ông ta nói chuyện trong phòng kín với Tổng biên tập. Họ uống hai mươi mốt ly cà phê đen nhưng không hút thuốc lá và uống rượu vì cả hai tránh được thói xấu này. Ra khỏi phòng viên Tư lệnh càng tỏ ra căng thẳng hơn lúc chia tay với từng người chúng tôi. Ông dừng lại chỗ tôi hơi lâu, nhìn thẳng vào mắt tôi và nói:

- Ông còn đi xa nữa đấy!

Tôi thấy như tim mình ngừng đập vì nghĩ rằng có lẽ ông ta đã biết rất rõ về tôi, và còn đi xa nữa đối với ông ta có thể là cái chết. Tổng biên tập nói riêng với Zabala rằng viên Tư lệnh biết rõ tên họ của người viết từng bài. Tổng biên tập, theo cách riêng của mình, đã nói với ông ta rằng mọi người trong tòa soạn đều làm theo lệnh của ông và trong cơ quan báo cũng như trong trại lính mọi mệnh lệnh đều phải được thi hành. Dù sao thì viên Tư lệnh cũng khuyên Tổng biên tập là dịu bớt chiến dịch này kẻo nhỡ có kẻ man rợ ở hang động nào đó nhân danh chính phủ của hắn để thực thi công lý thì làm sao. Tổng biên tập và tất cả chúng tôi đều hiểu đến cả những gì ông ta không nói. Điều làm Tổng biên tập ngạc nhiên nhất là ông ta khoe khoang sự hiểu biết kỹ càng về mọi mặt trong sinh họat nội bộ của tòa báo y như ông đã từng sống ở trong đó vậy. Không ai nghi ngờ gì chuyện điệp viên bí mật của ông ta trong tòa báo chính là nhân viên kiểm duyệt mặc dù ông này thề trước vong linh của mẹ rằng mình không phải là gián điệp. Điều duy nhất mà viên Tư lệnh không chịu trả lời trong chuyến thăm là về câu hỏi đã đăng hàng ngày trên báo của chúng tôi. Tổng biên tập vốn nổi tiếng là một người hiểu biết đã khuyên chúng tôi phải tin những lời họ đã nói vì sự thật là có thể sự việc sẽ còn tệ hại hơn.

Từ khi tham gia vào cuộc chiến tranh chống kiểm duyệt, tôi bắt đầu lơ đãng với trường đại học và truyện ngắn. May mà phần lớn các thầy không điểm danh nên đỡ cho tôi lỗi vắng mặt ở lớp. Ngoài ra, khi biết tôi né tránh kiểm duyệt, các thầy theo phái tự do còn lo lắng hơn cả tôi và còn tìm cách giúp đỡ tôi trong các kỳ kiểm tra.

Bố mẹ tôi ngủ ngon lành hơn khi được tôi cho biết là đã kiếm được kha khá tiền trong tòa soạn báo đủ để sống sót. Sự thật thì không phải vậy. Lương học việc chỉ vừa đủ cho tôi chi tiêu trong một tuần lễ. Chưa đầy ba tháng tôi đã phải rời khỏi khách sạn với số nợ không thể trả nổi, nên bà chủ đề nghị trừ một phần vào việc viết một bài báo đăng trên chuyên mục xã hội về lễ sinh nhật lần thứ mười lăm của cháu gái bà ta. Nhưng tôi chỉ chấp nhận vụ buôn bán này có đúng một lần.

Sau buổi đàm đạo thâu đêm, chỗ ngủ thường xuyên và mát mẻ nhất vẫn là đại lộ Martires, dù vẫn còn lệnh giới nghiêm. Vài lần khác thì tôi ngủ trong nhà kho trên những cuộn giấy in báo, hoặc có khi tôi ôm võng lưới đến ngủ ở trong phòng đám sinh viên chịu được những cơn ác mộng và thói xấu nói mớ của tôi. Tôi đã sống sót một cách may mắn như vậy, ăn những gì mình có, ngủ nơi Thượng Đế muốn, cho đến một hôm bộ tộc nhân hậu thuộc gia đình Franco Múnera đề nghị cho tôi ăn ngày hai bữa với một giá cảm thông. Người cha của bộ tộc - Bolivar Franco Pareja - vốn là giáo viên sử ở trường tiểu học, đứng đầu một gia đình toàn những người vui tính, rất hâm mộ các văn nghệ sĩ đã bắt tôi phải ăn hơn cả số tiền đã trả để đầu óc tôi khỏi khô cứng. Nhiều khi tôi không còn tiền trả nữa, họ liền vui vẻ cho trừ nợ bằng buổi ngâm thơ sau mỗi bữa ăn. Nguồn thơ cho phi vụ trao đổi rất hời đó là những bài thơ của Jorge Manrique về cái chết của bố ông và Romancero Gitano của Garcia Lorca.

Những nhà chứa ngoài trời ở bãi biển Tesca, cách xa sự im lặng khó chịu của khu phố, còn mến khách hơn cả các khách sạn cho khách du lịch ở bãi biển. Nửa tá sinh viên chúng tôi ở lỳ trong El Cisne từ ngày đầu để ôn thi cuối học kỳ dưới ánh sáng chói của khu vườn dành cho khiêu vũ. Cơn gió biển và tiếng ầm ào của những con tàu mỗi sớm mai làm chúng tôi quên đi tiếng sấm vùng Caribe và sự khêu gợi của các cô gái nhảy không thích mặc áo khi khiêu vũ và váy thì thật rộng để gió có thể thổi thốc lên tận hông. Thỉnh thoảng, một cô gái bé nhỏ nhớ cha mẹ lại rủ chúng tôi ngủ cùng với chút tình yêu dư thừa vào buổi bình minh. Một trong những cô gái ấy mà tên gọi và vóc dáng tôi còn nhớ rất kỹ, đã bị tôi mê hoặc bằng những câu chuyện thần tiên kể khi ngái ngủ. Nhờ cô ấy mà tôi thi đỗ môn luật La Mã và tránh được vài cuộc vây bắt của cảnh sát khi người ta cấm ngủ ở công viên. Chúng tôi hiểu nhau như một cặp vợ chồng hữu ích, không chỉ trên giường, mà cả những công việc bếp núc mà tôi làm vào sáng sớm để cô ấy có thể ngủ thêm vài giờ đồng hồ nữa.

Đến lúc đó, tôi đã bắt đầu thông thạo công việc biên tập mà tôi coi là có hình thức văn học hơn là báo chí. Bogota, cơn ác mộng của quá khứ đã cách xa hơn hai trăm dặm và cao hơn hai ngàn mét trên mặt nước biển, chỉ còn làm tôi nhớ đến những cảnh đổ nát trong ngày mồng 9 tháng 4. Tiếp tục say sưa nghệ thuật và văn học, nhất là trong những cuộc đàm đạo lúc nửa đêm, nhưng tôi cũng bắt đầu mất đi sự say mê hứng thú làm nhà văn. Đúng là như vậy, vì tôi không viết được truyện ngắn nào nữa kể từ khi được in ba truyện trên báo El Espectador, cho đến khi Eduardo Zalamea tìm thấy tôi vào đầu tháng Bảy và đề nghị, qua trung gian của thầy Zabala, gửi cho báo ông truyện ngắn khác sau sáu tháng im hơi lặng tiếng. Lời đề nghị dù bất cứ của ai cũng buộc tôi phải tìm mọi cách lấy lại ý tưởng đã mất trong các bản thảo của mình và tôi viết “Chiếc xương sườn khác của cái chết” , hầu như rất ít thay đổi so với bản thảo cũ. Tôi nhớ rất rõ là truyện này không hề có cốt truyện chuẩn bị sẵn và cứ viết đến đâu, tôi lại bịa ra đến đấy. Giống như các truyện ngắn trước đây, nó cũng được in trên phụ trương “Cuối tuần” vào ngày 25 tháng 7 năm 1948, và tôi không viết thêm truyện ngắn nào nữa cho đến tận những năm sau, khi đời tôi đã có nhiều đổi thay. Tôi chỉ còn thiếu việc từ bỏ hẳn những buổi lên lớp ít ỏi ở khoa luật mà tôi thỉnh thoảng đáo qua chỉ để tiếp tục nuôi dưỡng mơ ước của bố mẹ mà thôi.

Tôi cũng không ngờ mình sẽ là người học trò khá nhất trong thư viện của Gustavo Ibarra Merlano, một người bạn mới mà thầy Zabala và Rojas Herazo nhiệt tình giới thiệu cho tôi. Anh ấy vừa tốt nghiệp đại học sư phạm ở Bogota trở về và ngay lập tức tham gia vào các cuộc đàm đạo lúc nửa đêm của El Universal và các cuộc nói chuyện lúc sáng sớm trên đại lộ Martires. Giữa đôi môi núi lửa của Héctor và tính đa nghi sáng tạo của thầy Zabala, Gustavo cho tôi cảm giác về sự nghiêm túc có hệ thống mà những ý tưởng ngẫu hứng và vụn vặt của tôi còn thiếu và cho cả tính nhẹ dạ trong tôi nữa. Và tất cả những điều anh làm với tôi đều bằng cả tình thương mến và một cá tính sắt thép.

Vào ngày hôm sau, anh đã mời tôi đến nhà bố mẹ ở bãi biển Marbella với biển cả rộng mênh mông như sân sau, và một thư viện trên bức tường cao mười hai mét, mới mẻ và được sắp xếp khoa học, nơi chỉ lưu giữ những cuốn sách cần đọc đủ để sống thanh thản mà không hề ân hận. Thư viện có các tác phẩm cổ điển Hy Lạp, La-tinh và Tây Ban Nha được giữ gìn tốt đến mức cứ tưởng nó chưa hề được mở ra đọc, nhưng thực ra bên lề sách đều có những ghi chép rất uyên thâm, một số bút tích thậm chí bằng tiếng La-tinh. Gustavo còn sôi nổi đọc to lên và khi đọc mặt anh đỏ lựng đến tận chân tóc. Trước khi quen biết nhau, một người bạn đã nói với tôi về anh: “Đó là một vị thầy tu”. Tôi hiểu ngay tại sao mình lại dễ tin anh, và khi đã quen biết anh thật nhiều thì lại càng thấy không thể nào không tin anh được.

Trong lần gặp nhau đầu tiên ấy, chúng tôi đã nói chuyện đến tận sáng và tôi học được rằng: việc đọc sách là chuyện lâu dài và phải hết sức đa dạng, nhưng phải dựa vào vốn kiến thức sâu sắc của các vị trí thức công giáo mà trước đây tôi chưa từng nghe nói bao giờ. Anh đã biết tất cả mọi điều cần biết về thơ ca, đặc biệt là việc anh đã đọc thơ của các nhà thơ cổ điển La Mã - Hy Lạp bằng chính ngôn ngữ của họ. Anh cũng có thông tin về những người bạn chung và cho tôi biết nhiều thông tin quý giá để tôi càng yêu mến họ hơn. Anh cũng khẳng định tầm quan trọng của việc làm quen với ba nhà báo ở Barranquilla - Cepeda, Vargas và Fuenmayor - về những người này, chính Rojas Herazo và thầy Zabala cũng đã nói rất nhiều với tôi. Ngoài ra, tôi còn chú ý thấy anh không những có hiểu biết sâu rộng mà còn bơi giỏi như một vận động viên Olympic. Điều khiến anh lo lắng nhất cho tôi chính là việc tôi cho rằng các tác phẩm cổ điển Hy Lạp và La Mã là đáng chán và vô ích ngoại trừ Odyssey mà tôi đã phải đọc đi đọc lại từng đoạn hồi còn học phổ thông. Anh cho quan niệm của tôi là khá nguy hiểm. Trước khi chia tay, anh cầm một cuốn sách bìa bọc da, trịnh trọng đưa cho tôi và nói: “Anh có thể trở thành một nhà văn khá, nhưng sẽ không bao giờ thành nhà văn xuất sắc nếu không hiểu kỹ các tác giả cổ điển Hy Lạp”. Cuốn sách đó chính là toàn tập của Sófocles. Từ lúc đó, Gustavo đã trở thành một trong những người có ảnh hưởng quyết định trong cuộc đời tôi, bởi vì ngay trong lần đọc đầu tiên Vua Edipo, tôi đã coi tác phẩm này là vô cùng hoàn hảo.

Đó là một đêm lịch sử đối với tôi vì tôi đã phát hiện ra cùng một lúc cả Gustavo Ibarra lẫn Sófocles và cũng vì chỉ mấy giờ sau đó tôi suýt chết vì chuyện vớ vẩn trong buồng của cô bồ bí mật ở El Cisne. Bây giờ tôi còn nhớ như chuyện mới vừa xảy ra hôm qua. Lúc đó, có một thằng cha mà tôi đã tưởng chết từ hơn một năm bỗng đạp bung cửa buồng nhảy vào chửi bới om sòm. Tôi nhận ra gã bạn học từ thời tiểu học ở Aracataca thường giận dữ đòi chiếm giữ chiếc giường nằm. Từ đó, chúng tôi không còn gặp lại nhau. Lúc này tôi giả bộ làm ngơ khi hắn nhận ra tôi trần như nhộng và run cầm cập vì sợ ở trên giường.

Trong năm đó, tôi cũng quen Ramiro và Oscar de la Espriella, những người ưa nói chuyện dông dài, nhất là về những căn nhà bị đạo đức công giáo cấm đoán. Cả hai cùng sống với bố mẹ ở Turbaco, cách Cartagena một giờ đi xe, và hàng ngày đều có mặt trong các cuộc đàm đạo của các văn nghệ sĩ ở quán kem Americana. Ramiro đã tốt nghiệp khoa luật ở Bogota, rất quen thuộc với nhóm El Universal vì cộng tác không thường xuyên trên một chuyên mục. Bố của anh ta là một luật sư thuộc phái Tự do và người vợ thì rất xinh đẹp tính tình lại ngay thẳng. Tình bạn của Ramiro với tôi được lưu lại trong một bức tranh sơn dầu do nữ họa sĩ Cecilia Porras vẽ khi hai chúng tôi ngồi trong quán cà phê nơi chúng tôi thường gặp bà cùng với bạn bè, hai lần một ngày. Khi Ramiro và tôi chia tay nhau, giữa hai người xảy ra cuộc cãi cọ bất tận về ai sẽ là chủ nhân của bức tranh. Cecilia giải quyết một cách công bằng, bà cắt đôi bức tranh, người nào lấy phần người đó. Mấy năm sau, phần của tôi bị bỏ quên dưới đáy tủ quần áo ở Caracas và không bao giờ tôi tìm lại được.

Còn Oscar de la Espriella vốn là người ham vui nên rất đồng tình với ý kiến của William Faulkner rằng nhà chứa chính là nơi ngủ tốt nhất đối với một nhà văn, bởi vì buổi sớm mai thường rất tĩnh lặng, đêm nào cũng có lễ hội và dễ ăn nói với cảnh sát. Tuy nhiên, một đêm nọ, tôi lại ân hận vì đã tin mù quáng vào lời nói của William Faulkner khi một gã tình nhân cũ của Mary Reyes, bà chủ nhà chứa, bỗng giật tung cửa vào nhà, lôi đứa con chung của hai người đang ở với bà ta đi ra. Người tình mới của Mary là một sĩ quan cảnh sát, mặc quần đùi từ trong phòng ngủ bước ra sẵn sàng bảo vệ danh dự và tài sản của nhà bằng khẩu súng ru-lô giắt lưng, nhưng tên kia đã đón ông ta bằng một loạt đạn nổ to như trọng pháo ngay trong phòng khiêu vũ. Viên sĩ quan cảnh sát giật bắn mình vội trốn vào phòng. Khi tôi ló mặt ra khỏi buồng thì khách làng chơi cũng đang nhìn thằng bé đang sợ hãi đến vãi đái ra quần ở cuối hành lang, trong khi đó bố của nó dùng tay trái chải tóc và khẩu súng ngắn còn đọng hơi khói nằm bên tay phải. Người ta chỉ nghe tiếng chửi rủa của Mary đối với gã sĩ quan cảnh sát đang sợ đến teo cả hai tinh hoàn.

Những ngày đó cũng có một người cao lớn không hề báo trước đã bước vào tòa soạn El Universal. Mọi người ngạc nhiên khi thấy lưng và cánh tay của anh ta đầy vết sẹo. Anh giải thích: “Đó là vết cào của sư tử”. Đó là Emilio Razzore vừa đến Cartagena để chuẩn bị cho chuyến trình diễn của một trong những gánh xiếc gia đình lớn nhất thế giới. Họ đã rời La Habana trên chiếc tàu xuyên đại dương Euskera mang cờ Tây Ban Nha từ tuần trước và sẽ đến đây vào thứ Bảy tới. Razzore ở gánh xiếc từ trước khi ra đời và không cần xem anh biểu diễn cũng biết là người dạy thú dữ. Anh gọi từng con thú theo tên riêng của chúng như con cái trong nhà và chúng đáp lại bằng thái độ vừa hiền vừa dữ tợn. Anh thường tay không chui vào chuồng hổ và sư tử để trực tiếp cho chúng ăn. Con gấu cưng nhất đã dùng bàn tay yêu thương tát cho anh một phát khiến anh phải nằm viện suốt một mùa xuân sau đó. Sau nhiều giờ nghe anh kể những chuyện kỳ lạ, tôi đã viết một bài trên El Universal và cả gan buông câu, “Đó là người đàn ông nhân đạo nhất mà tôi từng được quen biết”. Đó không phải là quá lời vào cái thời tôi mới hơn hai mươi tuổi, nhưng bây giờ tôi tin là câu đó vẫn đúng. Chúng tôi và anh em trong tòa báo cùng ăn ở La Cueva, và ở đó, chính anh đã khiến tôi cảm thấy yêu những câu chuyện về những con thú dữ đã được thuần hóa bởi tình yêu thương. Một đêm nọ, tôi mạo muội xin anh đưa đến chỗ gánh xiếc, dù chỉ là để lau chuồng cho bầy hổ khi chúng không còn ở trong đó nữa. Anh không nói gì nhưng bắt tay tôi trong im lặng. Tôi nghĩ là anh đã đồng ý. Tôi chỉ nói chuyện này với Salvador Mesa Nicholls, nhà thơ và là người có tình yêu cuồng nhiệt đối với loài dê và vừa đến Cartagena cùng phụ với Razzore. Ở tuổi tôi, anh cũng đã đi theo đoàn xiếc nên đã cảnh báo tôi rằng người nào nhìn thấy các chàng hề khóc lần đầu tiên sẽ muốn đi theo họ nhưng hôm sau sẽ hối hận ngay. Tàu Euskera đã không đến đúng hẹn và không thể nào thiết lập được thông tin với nó. Sau một tuần, chúng tôi nhờ hệ thống dịch vụ điện tín dò tìm tin tức về điều kiện thời tiết trên biển Caribe, nhưng không ngăn được những tin tức khủng khiếp bắt đầu lan truyền trên báo chí và đài phát thanh. Những ngày căng thẳng đó, Mesa Nicholls và tôi luôn ở cạnh Emilio Razzore đang vô công rồi nghề ngủ trong khách sạn. Anh suy sụp hẳn về thể xác, trong nỗi chờ đợi bất tận cho đến khi trái tim khẳng định với chúng tôi rằng tàu Euskera sẽ mãi mãi không đến bất cứ nơi đâu nữa và không bao giờ còn ai biết tin tức gì về nó nữa. Người dạy thú còn tự giam mình trong phòng suốt ngày cho đến hôm sau anh đến tòa báo để nói với tôi rằng cuộc chiến hàng ngày trong suốt trăm năm nay không thể biến mất chỉ trong một ngày; rằng anh sẽ về Miami không gia đình và không một cái đinh nào để xây dựng lại, từng mảnh một, từ con số không bởi gánh xiếc đã bị chìm dưới đáy biển. Xúc động trước ý chí vượt qua tấn thảm kịch của anh, tôi hứa sẽ đi cùng anh đến Barranquilla để tiễn anh trên chuyến bay sang Florida. Trước khi lên máy bay, anh cảm ơn ý định của tôi đến thăm gánh xiếc và hứa sẽ cho tìm tôi khi có gì đó cụ thể. Khi chia tay, anh ôm tôi xiết mạnh khiến tôi cảm thông sâu sắc tình yêu của anh đối với những con sư tử. Từ đó trở đi, không bao giờ tôi còn biết tin về anh nữa.

Máy bay đi Miami khởi hành lúc mười giờ sáng cùng ngày với bài báo của tôi về Razzore: ngày 16 tháng 9 năm 1948. Vừa định về Cartagena ngay trong buổi chiều thì tôi bỗng nảy ra ý định rẽ vào thăm El Nacional, nhật báo buổi chiều nơi những người bạn của bạn tôi đang làm việc ở Cartagena. Tòa soạn đặt trong một ngôi nhà cũ nát của khu phố cổ, với một phòng dài, giữa có vách ngăn bằng gỗ không bóng người ngồi. Cuối phòng, một anh bạn trẻ tóc vàng, mặc áo sơ mi dài tay đang ngồi gõ nhịp trên chiếc máy đánh chữ rào rào như pháo nổ. Tôi rón rén đi vào cố tránh tiếng cót két rầu rĩ của nền gỗ và đứng ở chỗ vách ngăn, chờ cho đến khi anh quay lại; anh bỗng hỏi cộc lốc với chất giọng du dương của người dẫn chương trình chuyên nghiệp:

- Gì đấy?

Anh có mái tóc ngắn, gò má cao và đôi mắt trong sáng long lanh, ánh lên nét khó chịu vì bị ngắt mạch làm việc. Tôi trả lời anh với khả năng có thể, nhấn từng chữ:

- Tôi là García Márquez.

Tôi e rằng chỉ nghe tên này German Vargas có thể vẫn chưa biết đó là ai mặc dù ở Cartagena những người quen biết có bảo tôi là họ đã nói chuyện với bạn bè ở Barranquilla khá nhiều về tôi ngay từ khi mới được đọc truyện ngắn đầu tiên. El Nacional cũng đã đăng một bài khá nhiệt tình của German Vargas tuy không nhấn mạnh đến những đổi mới về văn chương. Tấm thịnh tình đón tiếp sau đó của anh còn hơn những gì các bạn đã nói với tôi. Mấy giờ sau, tôi được làm quen với Alfonso Fuenmayor và Alvaro Cepeda ở hiệu sách Thế giới và nhâm nhi rượu ở quán cà phê Colombia.

Ngài Ramon Vinyes, nhà bác học người Catalan, người mà tôi tha thiết được gặp đã không đến buổi đàm đạo vào lúc sáu giờ chiều hôm đó. Khi ra khỏi quán cà phê Colombia với năm ly rượu trong lòng, chúng tôi đã thân mật với nhau như những người bạn từ nhiều năm trước.

Đó là một đêm dài thơ ngây vô tội. Alvaro, người lái xe tài năng càng uống nhiều càng lái chắc chắn, càng thận trọng, đã đi đúng lịch trình. Ở Los Almendros, một câu lạc bộ ngoài trời dưới những hàng cây nở đầy hoa, nơi người ta chỉ cho phép những ai hâm mộ đội bóng đá Deportivo Junior mới được vào, đang diễn ra một cuộc cãi lộn tóe lửa và sắp đến đoạn thượng cẳng chân hạ cẳng tay. Tôi định xông vào trấn an họ thì Alfonso liền khuyên đừng can dự vào làm gì vì ở đây những tiến sĩ bóng đá rất ghét những người yêu chuộng hòa bình. Như vậy, tôi đã trải qua một đêm trong thành phố mà đối với tôi không còn như trước, không còn là thành phố của những năm đầu tiên của bố mẹ tôi, không phải là của cảnh nghèo nàn của mẹ, cũng chẳng còn là thành phố của thời trường San Jose, mà đó là Barranquilla đầu tiên của tuổi lớn khôn của tôi và là thiên đường của các nhà chứa.

Ngoài những nhà chứa có đầy ở khu người Hoa, những nơi khác cũng có những nhà hợp pháp hoặc bí mật nhưng tất cả đều có quan hệ tốt đẹp với cảnh sát. Một trong những nhà chứa như vậy có một sân đầy cây bàng nở hoa trong một khu dân cư nghèo gồm một cửa hàng chết rấp và một phòng ngủ có hai chiếc giường cho thuê. Hàng hóa là những đứa bé gái xanh xao, quê ở những vùng lân cận và dưới roi vọt của chủ chứa phải chiều chuộng những bợm rượu say bét nhè để kiếm một peso. Alvaro Cepeda vô tình phát hiện ra nơi này vào một buổi chiều khi chạy vào cửa hàng trú cơn mưa rào tháng Mười. Mụ chủ mời anh uống một chai bia và ngủ với hai em gái trong khi chờ mưa tạnh. Alvaro tiếp tục mời các bạn đến uống bia lạnh dưới bóng cây bàng nhưng không phải để lạm dụng các bé gái mà để dạy chúng đọc. Anh còn kiếm được học bổng ở trường công cho những bé chăm chỉ nhất. Một trong số đó sau này đã trở thành nữ y tá làm việc ở bệnh viện tế bần trong nhiều năm. Cho đến khi tiêu tan một cách tự nhiên, nhà giữ trẻ khốn kiếp đó còn lưu mãi cái tên gợi cảm: “Căn nhà của những bé gái ngủ với khách vì đói”.

Trong đêm đầu tiên có tính lịch sử của tôi ở Barranquilla, các bạn đã đưa tôi đến nhà của người đàn bà da đen Eufemia, nơi có một sân vườn rộng lớn tráng xi măng để khiêu vũ, xung quanh bao bọc bởi hàng me um tùm, và những căn nhà lá cho thuê năm đồng peso một giờ, những chiếc bàn ghế sơn sặc sỡ, và ở nơi đây, những anh chàng vạc có thể qua đêm một cách thích thú. Chính bà Eufemia, đồ sộ và ngót nghét cả trăm tuổi, trực tiếp tiếp đón và lựa chọn khách hàng ngay ở cửa ra vào. Chính bà ta cũng lựa chọn các cô gái theo trình độ giáo dục, nét duyên dáng tự nhiên. Mỗi cô được bà ta đặt cho một tên tùy thích, và một số rất thích cái tên do Alvaro Cepeda đặt theo thú vui xem phim Mexico của anh: Irma xấu bụng, Susana hư hỏng, Virgen trinh nữ lúc nửa đêm.

Hình như khó có thể nói chuyện được với nhau khi dàn nhạc chơi hết công suất những bản mambo của Perez Prado, nhưng chúng tôi là những chuyên gia nói như thét. Đề tài tối hôm đó do German và Alvaro khởi xướng về những nét chung của tiểu thuyết và phóng sự. Các bạn rất say sưa với thiên phóng sự về vụ ném bom nguyên tử ở Hiroshima mà John Hersey vừa công bố, còn tôi thì lại thích Nhật ký của năm dịch hạch, như là thể loại phóng sự báo chí trực tiếp, nhưng họ liền giải thích rằng Daniel Defoe chỉ mới lên năm hoặc lên sáu tuổi khi bệnh dịch hạch hoành hành ở Luân Đôn nơi mà ông dùng làm mẫu cho thiên phóng sự của mình.

Theo lối đó, chúng tôi đi đến ẩn số Bá tước Monte Cristo mà ba người đã bàn cãi từ trước về một câu đố đối với nhà văn: làm thế nào Alexandre Dumas có thể biến một thủy thủ thơ ngây, ngu dốt, nghèo khổ, vô lý bị cầm tù lại có thể thoát khỏi pháo đài bất khả xâm phạm để trở thành một người đàn ông giàu có và hiểu biết nhất thời đại của ông ta? Câu trả lời là khi Edmondo Dantès vào lâu đài de If thì trong đó đã có giáo sĩ Faria, người sẽ truyền lại cho anh bản chất sự hiểu biết của mình và tiết lộ cho anh điều duy nhất mà anh còn chưa biết: nơi cất giấu một kho tàng vô giá và cách trốn thoát. Tức là: Dumas xây dựng hai nhân vật khác nhau và sau đó đổi số phận cho nhau. Như vậy, khi Dantès trốn thoát đã là một nhân vật trong một người khác và điều duy nhất còn lại trong con người cũ của anh ta chính là một cơ thể biết bơi giỏi.

Theo German thì Dumas xây dựng nhân vật của mình là một thủy thủ để sau này gã có thể trốn thoát khi bị vứt xuống biển. Alfonso, người có kiến thức uyên thâm và nhạy bén nhất đã bẻ lại là điều này chẳng bảo đảm được gì cả vì tám mươi phần trăm thủy thủ đoàn đi theo Cristobal Colon khám phá Tân thế giới đã không biết bơi.

Anh thấy không có gì khoái bằng việc cho thêm mấy hạt tiêu vào cho bớt mùi mô phạm trong thức ăn. Thích thú với trò chơi tìm kiếm ẩn số văn học, tôi bắt đầu nốc rượu rum pha chanh trong khi những người khác nhẩn nha thưởng thức từng ngụm. Ba người kết luận rằng tài năng và cách vận dụng tài liệu của Dumas trong cuốn tiểu thuyết này và có lẽ là trong tất cả các tác phẩm của ông rõ ràng mang nhiều chất nhà báo hơn là nhà văn.

Đêm trở thành một cuộc vui có thể chấm dứt những thành kiến cuối cùng ngăn cản tình bạn của tôi với đám bệnh nhân đầy học thức đó. Tôi thật sự cảm thấy thích thú khi được ở bên họ, cảm giác hưng phấn khi được thưởng thức rượu rum tuyệt ngon đã khiến tôi cởi phăng chiếc áo nhút nhát. Susana hư hỏng, người tháng Ba năm ấy đã giành giải nhất trong cuộc thi khiêu vũ trong vũ hội hóa trang, đã lôi tôi ra sàn nhảy. Người ta đuổi hết đám gà mái và các chàng vạc ra khỏi sàn nhảy và đứng cổ vũ cho hai chúng tôi.

Chúng tôi nhảy bài Mambo số 5 của Damaso Perez Prado. Với hơi sức còn dồi dào tôi nhảy lên chỗ dàn nhạc và hát một mạch hơn một tiếng đồng hồ các bài bolero của Daniel Santos, Augustin Lara và Bienvenido Granda. Càng hát tôi càng cảm thấy làn gió tự do làm tôi thanh thoát. Tôi không bao giờ biết được ba người bạn mình thấy tự hào hay xấu hổ về hành động đó, nhưng khi trở lại bàn, họ đã tiếp nhận tôi như người của chính nhóm họ.

Lúc đó, Alvaro đã khơi mào một đề tài mà những người khác không bao giờ dám bàn cãi với anh: điện ảnh. Tôi đã gặp dịp may thiên ý vì tôi vốn coi điện ảnh như một loại hình nghệ thuật ăn theo của sân khấu hơn là của tiểu thuyết. Ngược lại, Alvaro lại nhận thấy nó đại khái như quan niệm của tôi về âm nhạc: đó là thứ nghệ thuật có ích cho tất cả các thể loại.

Trời đã rạng sáng, vừa ngái ngủ vừa say rượu, Alvaro, như một tay lái xe taxi bậc thầy, đã lái chiếc xe chứa đầy sách mới xuất bản và các phụ trương văn học của tờ New York Times. Sau khi đưa German và Alfonso về nhà họ, Alvaro nhất quyết đòi đưa tôi về nhà anh để biết thư viện kéo dài ba phía và cao đến trần phòng ngủ. Anh chỉ một vòng rồi nói với tôi:

- Đó là những nhà văn duy nhất trên thế giới biết viết văn.

Tình trạng phấn kích làm tôi quên đi cái đói và buồn ngủ của ngày hôm qua. Chất men vẫn sống động trong người tôi. Alvaro chỉ những cuốn sách mà anh yêu thích, bằng tiếng Tây Ban Nha và tiếng Anh, và với mái tóc rối và đôi mắt điên dại hơn bao giờ hết anh cất giọng đã bị rỉ hoàn toàn nói về từng cuốn một. Anh nói về Azorín và Saroyan - hai điểm yếu của mình - và những người khác mà đời sống xã hội cũng như riêng tư anh biết rõ đến từng chi tiết.

Đó là lần đầu tiên tôi được nghe nói về Virginia Woolf, người mà anh thường gọi là bà già Woolf, cũng như ông già Faulkner. Sự kinh ngạc của tôi đã làm anh hăng say đến tột cùng. Anh ôm tất cả những chồng sách yêu thích nhất đặt vào tay tôi.

- Đừng ngại ngùng gì nữa - anh nói với tôi - hãy mang hết về đi và khi nào đọc xong, tôi sẽ đến lấy lại ở bất cứ nơi nào.

Với tôi đó là cả một gia tài nằm ngoài mơ ước nên không dám thú nhận rằng mình không có đến một căn phòng mạt hạng để cất giữ. Cuối cùng, anh thỏa thuận tặng tôi cuốn Bà Dalloway của Virginia Woolf đã được dịch ra tiếng Tây Ban Nha với mục đích để tôi học thuộc lòng.

Trời sáng. Tôi muốn về Cartagena trên chuyến xe buýt đầu tiên nhưng Alvaro cứ nằng nặc bảo tôi ngủ lại trên chiếc giường giống hệt chiếc giường của anh.

- Mẹ kiếp! - anh nói bằng hơi sức cuối cùng. - Anh cứ ở lại rồi ngày mai chúng tôi sẽ tìm cho anh một công việc hết ý.

Tôi để cả quần áo nằm soài trên giường và chỉ đến lúc ấy mới cảm thấy trong đường gân thớ thịt của mình sức nặng vô biên của việc mình còn sống. Alvaro cũng hành động tương tự và cả hai cùng ngủ một mạch đến tận mười một giờ sáng, khi người mẹ đáng yêu và đáng sợ của anh, bà Sara Samudio, nắm tay đấm mạnh vào cửa vì tưởng đứa con trai duy nhất của đời mình đã chết.

- Mặc kệ, anh đừng lo - Alvaro nói với tôi từ sâu thẳm của giấc ngủ. - Sáng nào bà cũng làm như vậy, và một ngày nào đó khi điều này sẽ thành sự thật thì mới có chuyện.

Tôi trở về Cartagena với hơi hướng của người vừa phát kiến ra thế giới. Từ đó, những lần đọc sau bữa ăn ở nhà ông bà Franco Munera không chỉ là thơ ca của Thế kỷ vàng và Hai mươi bài thơ tình của Neruda nữa mà là các đoạn trích của cuốn Bà Dalloway của Virginia Woolf và niềm đam mê của nhân vật Septimus Warren Smith.

Tôi trở thành một người khác, khát khao và khó tính đến mức Hector và thầy Zabala tưởng tôi là một kẻ cố tình bắt chước Alvaro Cepeda. Gustavo Ibarra, với cái nhìn thông cảm của trái tim vùng Caribe tỏ ra rất thích thú câu chuyện của tôi về buổi tối ở Barranquilla, trong khi cứ cố rót ngày càng khéo hơn vào tai tôi từng thìa thơ Hy Lạp, chỉ ngoại trừ, không hiểu lý do vì sao, nhà thơ Eurípides. Tôi phát hiện ra Melville cùng chiến công văn chương của Moby Dick, bài thuyết giáo vĩ đại về Jonás cho những người săn cá voi đang xuôi ngược nơi chân trời, góc biển dưới mái vòm khổng lồ làm bằng xương sườn cá voi. Anh cho tôi mượn Căn nhà bảy đầu hồi của Nathaniel Hawthorne và việc này đã đóng một dấu mốc trong đời tôi. Chúng tôi cùng cố đưa ra một lý thuyết về niềm thương nhớ có tính định mệnh trong chuyến đi của Ulysses Odyssey, trong đó chính chúng tôi lại bế tắc, quẩn quanh mãi mà không thể tìm thấy lối ra. Nửa thế kỷ sau, tôi mới tìm thấy trong tuyệt tác của Milan Kundera.

Thời kỳ này, chỉ duy nhất một lần tôi được gặp nhà thơ vĩ đại Luis Carlos Lopez, thường được gọi là Người chột mắt. Ông đã sáng tạo ra cách bị chết mà không chết; bị chôn mà không chôn và nhất là không có các bài diễn văn. Ông sống tại một trung tâm lịch sử trong một căn nhà lịch sử trên dãy phố lịch sử Tablon, nơi đã sinh ra và trưởng thành mà không làm phiền đến bất cứ ai. Ông chỉ gặp rất ít bạn bè thân quen từ lâu, trong khi danh tiếng nhà thơ vĩ đại của ông lúc đang sống cứ tiếp tục vang xa như chỉ có với một người đã chết.

Người ta gọi ông là Người chột mắt nhưng ông không hề chột vì trên thực tế ông chỉ bị lác mắt, nhưng cũng theo cách khác thường và rất khó phân biệt. Em trai của ông, Domingo Lopez Escauriaza, Tổng biên tập tờ báo El Universal luôn có câu trả lời chuẩn bị sẵn mỗi khi ai hỏi về ông:

- Anh ấy ở đó.

Tưởng đây là một cách nói tránh, nhưng quả thật: ông ở đó.

Người ta nói về ông như một di vật lịch sử, nhất là với những người chưa đọc thơ ông. Đến mức từ khi đến Cartagena, tôi chưa bao giờ tìm cách gặp ông vì tôn trọng đặc quyền của ông như là một người vô hình. Lúc đó, ông đã sáu mươi tám tuổi và không ai nghi ngờ rằng ông là một nhà thơ viết bằng ngôn ngữ Tây Ban Nha vĩ đại nhất mọi thời đại, mặc dù không có nhiều người trong chúng tôi biết rõ ông là ai và vì sao, và cũng không dễ hiểu ông do tính khác lạ của các tác phẩm.

Zabala, Rojas Herazo, Gustavo Ibarra, tất cả chúng tôi đều thuộc thơ ông và rất thích trích đọc các tác phẩm của ông trong các cuộc nói chuyện. Bây giờ tôi vẫn không nhớ là mình đã có một tấm ảnh nào của ông hay không ngoài vài tranh biếm họa dễ dãi vẽ về ông. Do không được gặp nên chúng tôi đã quên là ông vẫn còn sống. Một buổi tối nọ, khi tôi vừa viết xong bài báo trong ngày thì bỗng nghe tiếng hô nghèn nghẹn của Zabala:

- Mẹ kiếp, Người chột mắt đến kìa!

Tôi rời mắt khỏi máy đánh chữ và thấy người đàn ông kỳ lạ

nhất từ trước đến nay. Thấp hơn nhiều so với óc tưởng tượng của chúng tôi, với mái tóc bạc trắng gần như xanh dương và cứng khô như mái tóc giả được ai cho mượn. Không bị chột mắt trái mà lòng mắt chỉ hơi bị lệch. Ông ăn vận như ở nhà với quần vải thô màu sẫm và áo sọc, tay cầm điếu thuốc lá không hút để tàn cứ tự rơi vãi xuống nền đất.

Ông đi thẳng đến văn phòng của em trai và sau hai giờ thì trở ra. Lúc đó, trong tòa soạn chỉ còn Zabala và tôi đứng đợi để chào hỏi ông. Hai năm sau thì ông mất và sự kiện chấn động đến mức những người ái mộ không nghĩ rằng ông chết mà tưởng là ông đã sống lại. Thi hài trong quan tài trông không giống người chết mà cứ như là người đang sống.

Vào khoảng tháng Mười, lúc còn ở tòa soạn El Universal, tôi có nhận được bức thư của Gonzalo Mallarino nhắn rằng ông sẽ chờ tôi và nhà thơ Alvaro Mutis ở biệt thự Tulipan trong khu nghỉ mát Bocagrande, chỉ cách vài mét nơi Charles Lindbergh đã cho máy bay hạ cánh hai mươi năm về trước. Gonzalo là một kẻ tòng phạm với tôi trong những lần đọc thơ riêng ở trường đại học, nay đang hành nghề luật sư; còn Mutis là trưởng phòng Quan hệ công chúng của LANSA, hãng hàng không nội địa do chính các phi công sáng lập ra.

Thơ của Mutis và truyện ngắn của tôi cùng được đăng, tối thiểu một lần trên cùng số phụ trương “Cuối tuần”, và điều này cũng đủ để chúng tôi gặp nhau bắt đầu cuộc chuyện trò mà cho đến nay vẫn chưa chấm dứt dù nó đã được diễn ra ở mọi ngóc ngách xa xôi trên thế giới suốt trong nửa thế kỷ qua.

Lũ con cháu của chúng tôi thường hỏi rằng chuyện gì đã khiến chúng tôi say sưa đến như thế, và câu trả lời bao giờ cũng là: chúng tôi chỉ nói về một chuyện duy nhất.

Tình bạn với những văn nghệ sĩ bậc thầy đã cho tôi dũng khí để sống qua những năm tháng bất ổn nhất đời mình. Ngày 10 tháng Bảy tôi đăng bài cuối cùng trên chuyên mục “Xuống dòng” ở báo El Universal, sau ba tháng lao động cật lực mà không vượt qua được ngưỡng học việc, và tôi thích ngưng ngay công việc này để còn được vớt vát ưu điểm duy nhất là kịp thời trốn chạy. Tôi lẩn vào những bài bình luận trên chuyên mục xã luận không ký tên trừ khi cần phải đưa ra ý kiến cá nhân. Tôi chỉ đơn thuần làm công việc thường nhật ở đấy cho đến tháng Chín năm 1950, khi đưa in bài báo dài về Edgar Allan Poe, mà điều đáng nói duy nhất, đó chính là bài dở nhất của tôi.

Trong những năm đó, tôi chỉ muốn thầy Zabala dạy cho bí quyết viết phóng sự. Vốn tính kín đáo bí hiểm, ông không đưa ra quyết định gì nhưng dù sao ông cũng đã khiến tôi động não với chuyện thần bí về một bé gái mười hai tuổi đã chết và được chôn ở tu viện Santa Clara mà tóc vẫn mọc dài mãi đến hai mươi mét trong hai thế kỷ. Lúc đó, không bao giờ tôi hình dung rằng bốn mươi năm sau mình sẽ đưa chuyện này vào một cuốn tiểu thuyết lãng mạn. Nhưng đó không phải là thời khắc tốt đẹp để tôi suy nghĩ. Tức giận vô lối, bỏ việc không lý do đến mức thầy Zabala phải cử người đến dạy dỗ tôi. Trong kỳ thi cuối năm, tôi may mắn đỗ năm thứ hai khoa luật chỉ với hai môn thi lại và có thể đăng ký học năm thứ ba, nhưng có dư luận tôi đỗ là do áp lực chính trị của báo chí. Tổng biên tập còn phải ra tay can thiệp xin cho tôi khi bị bắt ngay cửa ra vào rạp xem phim vì mang sổ quân nhân giả. Tôi không biết là lại có lệnh thiết quân luật do tình hình trật tự trong nước lại xấu đi. Kiểm duyệt báo chí thì lại đang thít chặt thêm. Bầu không khí lại trở về vẻ ảm đạm như trước đây, và lực lượng cảnh sát được bổ sung thêm thường phạm lại gây nên cảnh hãi hùng ở nông thôn. Bạo lực đã buộc người thuộc phái tự do phải bỏ nhà, bỏ quê hương. Ứng cử viên tiềm năng của họ, Dario Echandía, một ông thầy của các thầy dạy luật dân sự, người có tư tưởng hoài nghi ngay từ khi lọt lòng và là một độc giả mê muội ngôn ngữ Hy Lạp và La Tinh đã tuyên bố ủng hộ việc phái tự do phải tự kiềm chế. Con đường đã rộng mở cho việc thắng cử của Laureano Gomez, người vốn điều khiển chính phủ theo một đường dây vô hình từ New York.

Tôi vẫn chưa nhận thức được rằng: những tai họa đó không chỉ là nỗi nhục của phái tự do mà còn là dấu hiệu của sự thay đổi trong đời sống của chúng tôi, cho đến một đêm ở La Cueva, khi tôi nổi cơn hăng hái sẵn sàng làm bất cứ điều gì mà mọi người nói. Thầy Zabala giữ nguyên trên không chiếc thìa xúp sắp ăn, ngước mắt qua tròng kính và bắt tôi ngừng ngay lại:

- Gabriel, cậu thử nói xem nào: sau bao nhiêu trò quái quỷ cậu đã nhận thấy là đất nước này đang tàn lụi hay chưa?

Câu hỏi đã bắn trúng đích. Say túy lúy, tôi lăn ra ngủ trên ghế đá ở vỉa hè đại lộ Martires và một cơn mưa rào như Kinh thánh nói đã biến tôi thành món xúp hầm xương. Tôi phải nằm viện hai tuần lễ vì thứ bệnh viêm phổi nhờn kháng sinh - một chứng bệnh nổi tiếng là có thể để lại di chứng đáng sợ như liệt dương sớm. Người tôi xanh xao, vàng vọt đến nỗi bố mẹ phải gọi tôi về Sucre nhằm tránh cảnh lao lực quá sức - như lời hai người nói trong thư. Số báo El Univeral được gửi đến cho tôi với bài xã luận chia tay chứng tỏ tôi đã là một nhà báo, nhà văn với năng lực bậc thầy, và mặt khác còn là tác giả một cuốn tiểu thuyết khá hay: Chúng tôi đã cắt cỏ khô. Kì lạ hơn là nó được thai nghén đúng lúc tôi không hề có ý định quay trở lại với thể loại hư cấu. Thực ra cái đầu đề hoàn toàn xa lạ với tôi ấy là do Hector Rojas Herazo bịa ra với sự đóng góp của Cesar Guerra Valdes, một nhà văn tưởng tượng có chất giọng đặc sệt Mỹ La Tinh, để làm giàu thêm đề tài cho những cuộc cãi vã của chúng tôi. Trước đó, Hector đã đăng trên El Universal tin về việc nhà văn này đến Cartagena và tôi thì viết một bài trên chuyên mục “Xuống dòng” với hy vọng quét đi lớp bụi bao phủ trên ý thức đang ngủ mê của nền văn xuôi châu lục. Dù sao thì cuốn tiểu thuyết tưởng tượng với đầu đề đẹp do Hector nghĩ ra mấy năm sau cũng được ai đó, mà tôi không biết ở đâu và vì lý do gì, nhắc đến trong một tiểu luận về các cuốn sách của tôi và được coi là một tác phẩm trọng yếu của nền văn học mới.

Bầu không khí ở Sucre rất phù hợp với những ý tưởng của tôi trong những ngày tháng đó. Tôi viết thư cho German Vargas xin anh ấy gửi thật nhiều sách, đủ cho tôi thỏa sức lặn ngụp trong những tác phẩm bậc thầy suốt sáu tháng nghỉ dưỡng bệnh. Thị trấn chìm trong cơn đại hồng thủy. Bố đã thôi không làm nô lệ cho cửa hàng thuốc và xây dựng ngay cửa ngõ ra vào của thị trấn một ngôi nhà đủ sức để chứa bầy con đã lên đến mười hai đứa kể từ khi Eligio ra đời mười sáu tháng trước đây. Một căn nhà to, đầy nắng với một sân thượng đón khách hướng ra phía dòng sông đục ngầu và những cửa sổ rộng mở đón gió mát tháng Giêng. Có sáu phòng ngủ thoáng mát, mỗi phòng một giường và những chỗ treo võng với độ cao khác nhau ở dọc hành lang. Căn vườn không rào chắn kéo dài đến tận chân đồi hoang, đầy cây ăn quả mà mọi người đều vào hái được, súc vật của nhà tôi và nhà khác tha hồ mà vào gặm cỏ. Mẹ, vốn nhớ những mảnh vườn thời niên thiếu ở Barrancas và Aracataca, nên coi nhà mới như một trang trại nuôi gà vịt không cần chuồng, còn lợn thì được thả rông đi khắp nơi vào tận bếp, ăn những món thừa của bữa trưa. Vẫn còn có thể tận hưởng mùa hạ để ngủ trong phòng mở toang cửa sổ, nghe tiếng thở khò khè của những con gà mái và thoảng mùi hương quả na chín rụng lốp bốp lúc sớm mai. “Nghe như trẻ con ngã”, mẹ nói. Bố cũng hạn chế bớt việc khám bệnh vào buổi sáng chỉ dành cho những người còn tin vào liệu pháp trị bệnh bằng phương pháp tiểu vi lượng đồng căn, rồi tiếp tục nằm trên võng căng giữa hai cây ngoài vườn đọc tất cả những gì có được trong tay, và lấy cơn sốt chơi bi-da để khỏa đi nỗi buồn những lúc chiều tà. Ông cũng không còn mặc bộ đồ trắng vải thô thắt cà vạt, mà đi ra phố với áo sơ mi dài tay trẻ trung.

Bà ngoại Tranquilina Iguarán mất cách đây hai tháng trong cảnh mù lòa và đãng trí, nhưng lúc hấp hối lại sáng suốt tiếp tục đọc những bí ẩn của gia đình. Đề tài muôn thuở của bà cho đến khi trút hơi thở sau cùng là chế độ hưu trí của ông ngoại. Bố tẩm liệm thi hài bà bằng dầu cây lô hội và rắc đầy vôi bột trong quan tài để quá trình phân hủy diễn ra bình lặng. Mẹ biết bà say mê hoa hồng nên đã trồng rất nhiều hoa hồng ở cuối vườn để không bao giờ thiếu chúng trên mộ bà. Có lúc hoa hồng nở hàng loạt rực rỡ khiến khách phương xa không biết những luống hoa hồng thơm ngát ấy là của Thượng đế hay của quỷ dữ.

Những thay đổi trong đời tôi cũng như tính cách của tôi đều phụ thuộc vào những đổi thay của gia đình. Mỗi lần về thăm, tôi lại thấy căn nhà khác đi do cải tạo lại hay do việc chuyển chỗ ở của bố mẹ và cũng có thể do những đứa em sinh ra và trưởng thành giống nhau đến mức dễ lẫn lộn chúng hơn là phân biệt chúng. Jaime đã lên mười tuổi nhưng chậm rời lòng mẹ nhất vì nó là đứa sinh thiếu tháng, và khi mẹ chưa thôi cho nó bú thì Hernando (Nanchi) đã ra đời. Ba năm sau lại đến lượt Alfredo Ricardo (Cuqui) ra đời và năm rưỡi sau - Eligio (Yiyo) - đứa em đã khám phá ra điều kỳ diệu là biết bò đúng vào dịp nghỉ hè của tôi.

Chúng tôi còn phải kể đến những con riêng của bố trước và sau hôn nhân: Carmen Rosa ở San Marcos, và Abelardo đã có thời kỳ ở Sucre; Germaine Hanai (Emi) mà mẹ đã nhận về nuôi như con đẻ của chính mình, và cuối cùng là Antonio Maria Claret (Tono) do mẹ đẻ của nó nuôi nấng ở Sincé và thường đến thăm chúng tôi. Tổng cộng là mười lăm đứa nhưng chúng tôi ăn như ba mươi đứa khi có cái mà ăn và ngồi vào bàn khi có thể.

Chuyện kể của các cô em gái lớn về những năm tháng ấy đã nói lên đầy đủ hoàn cảnh một gia đình khi chưa kịp nuôi đứa con này thì đứa khác đã chào đời. Chính mẹ cũng hiểu lỗi của mình và mong lũ con gái tự chăm sóc các em nhỏ hơn. Margot sợ chết khiếp khi phát hiện mẹ lại có mang bởi biết rằng một mình bà không thể nuôi nổi tất cả cùng một lúc. Trước khi đi học ở trường nội trú ở Monteria, nó năn nỉ mẹ một cách nghiêm túc là đứa em sắp sinh là đứa cuối cùng. Mẹ có hứa với nó như vậy, cũng như mọi lần, dù chỉ là để nó được vui vẻ, bởi vì mẹ biết là Đức Chúa, với sự hiểu biết mênh mông sẽ giải quyết vấn đề theo cách tốt nhất.

Chuyện ăn uống hàng ngày là cả một thảm họa, bởi vì không thể có cách nào tập hợp được mọi người trong gia đình ăn cùng một lúc. Mẹ và các em gái lớn dọn thức ăn khi mọi người đến bàn ăn, nhưng cũng không có gì lạ là đến lúc ăn tráng miệng sẽ lòi ra một hai cái đuôi đi đâu đó mới về đòi phần ăn của mình. Trong đêm, những đứa em còn bé lại chạy đến giường của bố mẹ vì chúng không ngủ được do lạnh hoặc nóng, do đau răng hoặc sợ ma, do thương yêu bố mẹ hoặc do ghen tỵ với những đứa khác, và thế là suốt đêm có cả đống trẻ con nằm trên giường bố mẹ. Nếu sau Eligio, bố mẹ không còn sinh con nào nữa cũng là do Margot, sau khi ở trường nội trú về đã thực hiện riết ráo uy quyền của mình buộc mẹ phải thực hiện đúng lời cam kết.

Chỉ tiếc là thời gian đã làm gián đoạn mọi kế hoạch của hai đứa em gái lớn và họ trở thành bà cô không chồng suốt cả cuộc đời. Như trong các cuốn tiểu thuyết hoa hồng, Aida vào ở trong tu viện với cái án chung thân, sau hai mươi hai năm đúng quy định của mọi luật lệ mới thoát ra thì không còn gặp được anh chàng Rafael cũ nữa và không thể tìm ra người nào khác. Với cá tính cứng nhắc, Margot cũng mất người yêu vì sai lầm của cả hai. Ngược với tình cảnh buồn thảm của hai chị, Rita nhận lấy ngay người đàn ông đầu tiên mà nó thích, và hạnh phúc với năm người con và chín đứa cháu. Hai đứa em gái khác - Ligia và Emi - cũng lấy ngay những người yêu chúng khi bố mẹ đã quá mệt mỏi phải đương đầu với cuộc sống thực tế. Những bất hạnh của gia đình hình như cũng là một bộ phận của cuộc khủng khoảng của đất nước mà nguồn gốc là sự bất ổn về kinh tế và những cuộc tàn sát đẫm máu khắp nơi. Nạn bạo lực chính trị đang ập đến Sucre như vào một nhà ga bất hạnh và lẻn vào từng góc nhà với những bước chắc chắn. Đến lúc đó thì chúng tôi đã phải dùng đến số lương thực dự trữ ít ỏi và lại trở về với cảnh nghèo khó như thuở ở Barranquilla trước khi dọn đến Sucre. Nhưng mẹ vẫn bình tâm vì niềm tin đã được thử thách rằng mỗi đứa trẻ sinh ra đã mang dưới cánh tay một chiếc bánh mì. Đó là gia cảnh khi tôi từ Cartagena trở về với căn bệnh viêm phổi nhưng đã bàn kỹ với gia đình để không ai phát hiện ra.

Chỉ mấy ngày sau khi trở về, tôi đã cảm thấy thái độ của những người cùng tham gia đảng bảo thủ với bố đối với tôi đã thay đổi vì họ cho rằng tôi là tác giả những bài báo chống lại chính phủ bảo thủ đăng trên tờ El Universal. Nhưng điều đó là không đúng. Nếu có lần nào tôi phải viết bài có nội dung chính trị thì thường không ký tên và đều là trách nhiệm của Ban biên tập kể từ khi họ quyết định đình chỉ đăng câu hỏi điều gì đã xảy ra ở Carmen de Bolivar. Những bài tôi có ký tên đều bày tỏ lập trường rõ ràng về tình trạng khó khăn hiện nay của đất nước và sự ô nhục của nạn bạo lực và bất công, nhưng không chỉ đích danh đảng nào cả. Trên thực tế, hồi đó cũng như bây giờ tôi đều không tham gia đảng phái nào. Sự quy kết của họ khiến bố mẹ tôi đâm ra cảnh giác và mẹ bắt đầu thắp nến trên bàn thờ, nhất là vào ban đêm khi tôi đi phố về muộn. Lần đầu tiên tôi cảm thấy bầu không khí xung quanh căng thẳng đến mức tự quyết định phải hạn chế càng ít đi ra khỏi nhà càng tốt.

Đúng vào thời kỳ khốn khó đó thì bỗng xuất hiện ở phòng khám của bố một người đàn ông rất ấn tượng trông giống như một hồn ma với một làn da có thể nhìn được màu sắc của xương cốt bên trong, chiếc bụng phình to và căng như cái trống. Chỉ cần một câu nói cũng đã đủ làm người ta nhớ mãi:

- Thưa bác sĩ, tôi đến nhờ ông móc ra đứa bé man rợ đang lớn lên trong bụng tôi.

Sau khi khám kỹ càng, bố nhận thấy trường hợp này không nằm trong tầm giải quyết của ngành khoa học của mình nên gửi bệnh nhân đến một bạn đồng nghiệp thuộc khoa ngoại, và ông này đã không tìm thấy đứa bé như bệnh nhân tưởng mà là một bọc không hình dạng cụ thể nhưng lại có đời sống riêng. Điều khiến tôi quan tâm không phải con thú ở trong bụng mà chính là câu chuyện của người bệnh về thế giới kỳ ảo của La Sierpe (Rắn), một đất nước huyền thoại trong phạm vi của Sucre mà muốn vào phải vượt qua những đầm lầy ẩm thấp và là nơi mà người ta thường trả thù nhau bằng cách bỏ bùa ngải như cho đứa bé quỷ sứ vào trong bụng.

Cư dân của nước La Sierpe là những người sùng đạo nhưng theo cách riêng của mình, với những bài cầu kinh kỳ ảo cho từng trường hợp. Họ tin ở Chúa, ở Đức Mẹ Đồng trinh, ở Thánh Trinidad, nhưng họ sùng kính những vị này ở bất cứ vật nào mà họ cho là có phép màu. Tôi lại càng kinh ngạc khi nhận thấy mọi người ở Sucre đều biết đất nước La Sierpe tồn tại như một thực tế, chỉ có điều là muốn đến đó phải vượt qua những trở ngại về địa lý và tâm lý. Đến phút cuối, ngẫu nhiên tôi còn được biết bậc thầy trong đề tài La Sierpe chính là anh bạn Angel Casij, người đã dẫn chúng tôi qua những đống đổ nát hôm mồng 9 tháng Tư để đến được chỗ có thể liên lạc được với gia đình. Lần này, tôi thấy anh có vẻ dùng nhiều lý trí hơn lần trước và anh đã kể về mấy chuyến đi đến nước La Sierpe. Từ đó, tôi được biết tất cả những gì mà người ta đã biết về Marquesita (Nữ tiểu bá tước), bà chúa của vương quốc rộng lớn đó, nơi người ta biết những câu kinh bí ẩn để làm điều thiện hoặc điều ác, để có thể dựng một người hấp hối từ trên giường ngồi dậy mà chỉ cần biết bộ dạng thân thể và nơi chính xác người đó đang ở, hoặc để xua một con rắn chuông đi giết chết kẻ thù của họ.

Điều duy nhất bà ta bị cấm là không được cho người chết sống lại vì đó là quyền năng dành riêng cho Chúa. Ở đấy, bà đã sống bao nhiêu năm tùy thích, ước đoán là đến hai trăm ba mươi ba tuổi, nhưng từ bảy mươi sáu tuổi trở đi thì bà không già thêm một ngày nào nữa. Trước khi chết, bà tập trung đàn gia súc thần thoại lại, bắt chúng chạy quanh nhà mình suốt hai ngày hai đêm cho đến khi tạo ra vùng đầm lầy La Sierpe mênh mông phủ đầy cỏ chân ngỗng nhấp nháy sáng. Người ta nói rằng, ở giữa vùng đầm lầy có một cây bí đỏ quả bằng vàng, ở thân nó buộc một chiếc thuyền mà cứ đến ngày mồng 2 tháng Mười một, ngày Người chết, nó tự đi không người lái với sự hộ tống của đàn cá sấu trắng và rắn chuông đến bờ bên kia nơi Marquesita cất giấu kho báu lớn.

Từ khi nghe Angel Casij kể chuyện thần tiên này, lòng tôi nôn nao thèm khát được đi thăm thiên đường La Sierpe ở ngay hạ giới. Chúng tôi đã chuẩn bị đầy đủ cho chuyến đi, những con ngựa được miễn dịch với những câu kinh đối nghịch, những chiếc thuyền vô hình, những người dẫn đường kỳ ảo và tất cả mọi thứ cần thiết khác để viết một thiên bút ký về hiện thực siêu tự nhiên.

Những con lừa đã được thắng yên, nhưng căn bệnh viêm phổi của tôi tiến triển chậm, việc bạn bè chế giễu trong các buổi khiêu vũ ở quảng trường, những cân nhắc thận trọng thái quá của những người bạn lớn đã buộc tôi phải hoãn chuyến đi đến dịp khác mà không bao giờ có nữa. Tuy nhiên, hôm nay tôi nhắc lại chuyện này như một điều rủi may mắn bởi vì không đi gặp được Marquesita thần thoại thì tôi lại có dịp ngay ngày hôm sau ngụp lặn trong công việc viết cuốn tiểu thuyết đầu tiên mà chỉ còn duy nhất cái đầu đề: Ngôi nhà.

Tôi dự định viết về tấn bi kịch của chiến tranh Một ngàn ngày ở vùng Caribe thuộc Colombia mà tôi đã có dịp trò chuyện với Manuel Zapata Olivella trong chuyến thăm Cartagena trước đây. Lần ấy, và không hề liên quan gì đến dự án của tôi, anh đã tặng tôi một tài liệu do bố anh viết về một cựu chiến binh của cuộc chiến tranh đó mà ảnh ông ta được in ở ngoài bìa với chiếc áo và bộ ria thấm đầy thuốc súng, tấm ảnh này đã gợi tôi nhớ đến ông ngoại - ngài đại tá Nicolas Márquez. Tôi đã quên mất tên của ông, nhưng họ của ông thì cứ theo đuổi tôi suốt đời: Buendía. Vì vậy, tôi dự định viết một cuốn tiểu thuyết với tên gọi Ngôi nhà, kể về chiến công của một gia đình có nhiều điểm tương đồng với nhà chúng tôi trong cuộc chiến tranh vô sinh của đại tá Nicolas Márquez.

Tên gọi tác phẩm bắt nguồn từ mục đích là mọi hành động không vượt ra khỏi căn nhà. Tôi đã vạch ra một số nguyên tắc và phác thảo sơ bộ các nhân vật với tên gọi của các gia đình mà sau này mình sẽ dùng trong những cuốn sách khác. Tôi rất dị ứng với những câu ngắn mà hai từ đứng gần có vần với nhau dù là vần điệu của nguyên âm, và tôi thà không cho in ra nếu chưa giải quyết xong việc này. Vì vậy, nhiều lần tôi đã vứt bỏ họ Buendía vì nó vần với đuôi của động từ ở thể quá khứ chưa hoàn thành (thường kết thúc bằng đuôi - ía - ND). Tuy nhiên cái tên này cuối cùng vẫn được dùng vì tôi đã cho nó một danh phận phù hợp.

Khi tôi đang trù liệu việc này thì một sớm mai, bỗng xuất hiện ở nhà một hòm gỗ không có chữ sơn ở ngoài về nguồn gốc xuất xứ. Khi nhận nó, em gái Margot lại cứ tưởng đó là hòm đựng thuốc không bán được ở hiệu thuốc đưa về. Tôi cũng nghĩ như vậy và ăn điểm tâm với gia đình nhưng lòng dạ thì vẫn nghĩ về nó. Bố giải thích là chưa mở ra vì nghĩ rằng có lẽ đó là hành lý gửi chậm của tôi mà không biết rằng tôi chẳng còn một tí ti gì trên đời này. Em trai Gustavo, tuy mới mười ba tuổi nhưng đã rất thạo chuyện đóng mở hòm liền quyết định mở nó ra mà chẳng cần xin phép ai cả.

Mấy phút sau chúng tôi nghe tiếng nó hét to:

- Toàn là sách!

Tim tôi nhảy bật ngược lên. Đúng là sách thật mà không ghi rõ người gửi, nhưng được sắp xếp bằng bàn tay bậc thầy gọn gàng đến tận mép hòm và cùng với một bức thư rất khó giải mã vì lối viết tượng hình và đầy chất trữ tình của German Vargas: “Đây là trận chiến, thưa thầy, để xem cuối cùng anh có học được gì không”. Ngoài ra còn chữ ký của Alfonso Fuenmayor và một nét vẽ nguệch ngoạc mà tôi biết là của ngài Ramon Vinyes mà lúc đó tôi chưa được làm quen. Điều duy nhất họ khuyên tôi là không được bắt chước điều gì để người ta phát hiện ra. Giữa một trong những cuốn sách của Faulkner, có bức thư của Alvaro Cepeda viết vội, báo rằng tuần tới anh sẽ đi học một khóa đặc biệt trong một năm ở Trường Báo chí của Viện Đại học Columbia, ở New York.

Việc đầu tiên của tôi là bày hết sách lên bàn ăn khi mẹ vừa dọn dẹp xong. Mẹ phải vác chổi ra để xua đám con nhỏ cứ sấn vào định dùng kéo tỉa cành cây để cắt các tranh minh họa trong sách, và xua đàn chó hoang ngoài đường ào vào đánh hơi sách như đồ ăn của chúng. Bản thân tôi cũng cầm từng cuốn lên hít ngửi như đã từng làm với những cuốn mới có và đọc lướt nhanh tất cả theo kiểu chọn ngẫu nhiên để nắm nội dung. Trong đêm, tôi phải đổi chỗ hai hoặc ba lần vì không được yên hoặc vì đèn hành lang bị tắt. Sáng ra, lưng bị vẹo hẳn và tôi cũng chưa có một ý tưởng gì về lợi ích mà kho báu kỳ diệu đó có thể mang lại cho mình.

Có hai mươi ba tác phẩm ưu tú của các tác giả hiện đại, tất cả bằng tiếng Tây Ban Nha, và được các bạn chọn lọc với ý đồ rõ ràng là để cho tôi đọc nhằm đạt mục tiêu duy nhất là học cách viết. Có những bản dịch thật là mới về cuốn Âm thanh và cuồng nộ của William Faulkner. Giờ đây, đã cách xa năm mươi năm, tôi không thể nhớ hết danh sách và ba người bạn vĩnh cửu chắc là biết nhưng lại không có mặt ở đây để nhắc. Trước đó, tôi chỉ mới đọc hai cuốn: Bà Dalloway của Virginia Woolf và Đối điểm của Aldous Huxley. Những cuốn mà tôi nhớ rất kỹ là những tác phẩm của William Faulkner: Xóm nhỏ, Âm thanh và cuồng nộ, Khi tôi hấp hốiNhững cây cọ hoang. Rồi Manhattan Transfer và có lẽ các cuốn khác của John Dos Passos; Orlando của Virginia Woolf; Của chuột và ngườiChùm nho uất hận của John Steinbeck; Bức ảnh của Jenny của Robert Nathan, và Con đường thuốc lá của Erskine Caldwell. Trong số những cuốn mà tôi không còn nhớ sau nửa thế kỷ, thế nào cũng có ít nhất một tác phẩm của Hemingway, có lẽ là truyện ngắn vì các bạn ở Barranquilla rất thích, và cuốn khác là của Jorge Luis Borges chắc chắn cũng là truyện ngắn, và có lẽ có cả của Felisberto Hernandez, một nhà văn độc đáo mà các bạn tôi vừa phát hiện ra trong tiếng reo vui sướng. Trong mấy tháng tiếp theo, tôi đã đọc hết số sách này, có cuốn kỹ càng, có cuốn thì lướt qua, và nhờ chúng mà tôi đã thoát ra khỏi tình trạng hờ hững sáng tạo bấy lâu nay.

Vì bệnh viêm phổi nên tôi bị cấm hút thuốc lá, nhưng tôi vẫn tự trốn mình hút thuốc ở trong nhà vệ sinh. Bác sĩ nhận ra ngay và đã nghiêm khắc cảnh cáo tôi nhưng tôi không thể nào tuân theo lời ông ấy được. Ở Sucre, nếu không đọc sách không nghỉ thì tôi cũng đốt thuốc lá liên tục, điếu này nối điếu khác, và càng muốn bỏ thì lại càng hút nhiều hơn, đến mức mỗi ngày tôi hút bốn bao, ngưng ăn để hút, và làm cháy cả khăn trải giường vì ngủ quên với điếu thuốc trên tay. Nỗi sợ chết làm tôi bừng tỉnh bất cứ giờ nào trong đêm, và chỉ có việc hút thuốc mới làm tôi đỡ sợ, cuối cùng tôi quyết định thà chết còn hơn bỏ thuốc.

Hai mươi năm sau, khi đã lấy vợ và có con, tôi vẫn tiếp tục hút thuốc lá. Một viên bác sĩ nhìn phổi tôi trên màn hình đã hoảng sợ và kết luận rằng: chỉ hai hoặc ba năm sau, tôi không còn thở nổi nữa. Quá lo lắng, tôi phải ngồi hàng giờ liền mà không làm gì cả, bởi vì tôi không thể đọc sách, hoặc nghe nhạc, hoặc nói chuyện với bạn bè hoặc với kẻ thù mà không hút thuốc lá. Một tối nọ, trong một bữa ăn ở Barcelona, một người bạn giải thích với mọi người là hút thuốc có lẽ là thói xấu khó bỏ nhất. Tôi cả gan hỏi lại lý do vì sao, và câu trả lời của ông ấy làm mọi người sởn tóc gáy:

- Bởi vì bỏ thuốc đối với anh chẳng khác gì giết chết một người thân.

Câu trả lời làm cháy bùng lên sự thật. Tôi không bao giờ biết tại sao và cũng chẳng muốn biết làm gì nhưng ngay lập tức tôi dập điếu thuốc vừa châm vào cái gạt tàn và từ đó không hút thêm điếu nào nữa, và không hề ham muốn hay ân hận, trong suốt những năm tháng còn lại của đời mình.

Một tật xấu khác cũng không kém dai dẳng. Chiều hôm đó, một trong những người giúp việc của nhà hàng xóm vào nhà tôi, sau khi chào hỏi mọi người thì cô ta lên sân thượng, rồi hết sức thành kính xin phép được nói chuyện riêng với tôi. Tôi không ngừng đọc sách cho đến khi cô ấy hỏi:

- Ông có nhớ Matilde?

Tôi khẳng định rằng không nhớ đó là ai, nhưng cô ta không tin.

- Xin đừng giả bộ ngô nghê, thưa ông Gabo - cô ta nhấn mạnh từng chữ với tôi. - Ni-gro-man-ta.

Và cô ta có lý: Nigromanta lúc ấy giờ là một người đàn bà tự do có một con trai với viên cảnh sát đã chết, đang sống một mình với mẹ và những thân nhân khác trong cùng một mái nhà, nhưng trong một phòng ngủ cách biệt có lối đi riêng ra đường vòng quanh nghĩa trang. Tôi đến chỗ cô ta ngay và những cuộc gặp gỡ kéo dài hơn một tháng. Mỗi lần gặp lại đẩy lùi thêm xa ngày trở lại Cartagena và tôi cứ muốn mãi mãi ở Sucre. Cho đến một sáng sớm, khi tôi còn ở nhà cô ấy thì trời mưa sấm chớp ầm ầm như cái đêm xảy ra vụ khẩu súng ru lô. Tôi cố tránh mưa dưới mái nhà đến lúc không thể được nữa đành lao ra phố lội bì bõm trong dòng nước ngang đầu gối. May mà mẹ còn đứng một mình ở nhà bếp và đưa tôi về phòng ngủ qua con đường men theo vườn để bố khỏi thấy. Giúp tôi cởi xong chiếc áo sơ mi ướt đẫm nước mưa, mẹ ngán ngẩm vứt nó xuống góc phòng.

- Con vừa ở chỗ cô ả ấy hả? - mẹ hỏi vặn.

Tôi như hóa đá:

- Sao mẹ biết!

- Bởi vì con vẫn sặc cái mùi của đêm trước - mẹ bình thản nói - may mà người đàn ông ấy đã chết rồi.

Tôi ngạc nhiên vì lần đầu tiên trong đời mẹ tỏ ra không biết xót thương người khác. Chắc là đã đoán ra điều này nên mẹ nói luôn không hề nghĩ ngợi gì:

- Đó là cái chết duy nhất mà mẹ thấy vui khi biết tin.

Tôi ngần ngại hỏi:

- Sao mẹ biết là con vừa ở chỗ cô ta?

- Con ơi, - mẹ thở dài. - Chúa luôn nói cho mẹ biết tất cả những gì liên quan đến các con.

Cuối cùng, mẹ giúp tôi cởi quần ướt và lại vứt nốt vào góc phòng. “Tất cả các con đều sẽ lại giống như bố mất thôi” , mẹ thở dài nói với tôi, trong lúc dùng khăn lau lưng cho tôi. Và cuối cùng mẹ bình tĩnh nói một cách thiết tha:

- Cầu Chúa cho các con cũng trở thành những người chồng tốt như bố.

Sự chăm sóc kiên quyết của mẹ thực sự đã giúp tôi tránh bị nhiễm sưng phổi lần nữa, cho đến lúc tôi nghiệm ra rằng chính mẹ đã làm vậy để ngăn tôi không quay trở lại chiếc giường sấm chớp của Nigromanta. Không bao giờ tôi gặp lại cô ấy nữa.

Tôi trở lại Cartagena hoàn toàn khỏe mạnh và vui vẻ với một tin vui là đang viết Ngôi nhà, và nói về nó cứ y như là đã viết xong rồi dù mới chỉ bắt đầu chương một. Zabala và Hector đón tiếp tôi như đứa con thần đồng. Ở trường, những người thầy tốt bụng hình như đành cam chịu chấp nhận kiểu sống của tôi. Đồng thời, tôi vẫn thỉnh thoảng viết báo theo kiểu khoán ở El Universal. Sự nghiệp truyện ngắn của tôi vẫn tiếp tục với số tác phẩm ít ỏi mà hầu như tôi viết chỉ để làm vừa lòng thầy Zabala: “Cuộc đối thoại của chiếc gương”“Nỗi cay đắng dành cho ba người mộng du” , được in trên tờ El Espectador. Mặc dù ở cả hai truyện ngắn này người ta đã thấy giảm bớt tính hoa mỹ phù phiếm của bốn truyện trước, nhưng thật sự vẫn chưa thoát khỏi vũng lầy.

Lúc này, tình hình chính trị căng thẳng trong cả nước đã lây sang Cartagena và đó là dấu hiệu của một điều nguy kịch sắp xảy ra. Anh em nhà De la Espriella hình như biết nhiều hơn những gì họ nói ra, và trong phòng kín, họ nói một cách tự nhiên về cuộc đảo chính sắp nổ ra để lật đổ chế độ bảo thủ. Tôi không biết chi tiết, nhưng thầy Zabala đã báo tôi rằng ngay khi thấy có chuyện bạo động gì ở ngoài đường phố là phải đến ngay tòa báo. Tình hình căng thẳng hầu như có thể sờ thấy bằng tay khi tôi có cuộc hẹn ở quán kem Americana vào lúc ba giờ chiều. Lúc tôi đang ngồi đọc sách bên chiếc bàn vắng vẻ thì có một trong những người bạn học cũ, vốn không bao giờ cùng nói chuyện chính trị, đi ngang qua nói mà không nhìn tôi:

- Cậu về ngay tòa báo, cuộc chiến sắp bắt đầu rồi đấy!

Tôi làm ngược lại: muốn biết chuyện đó sẽ ra sao ngay trung tâm thành phố hơn là ngồi trong phòng kín ở tòa báo. Mấy phút sau, có người ngồi xuống bàn tôi, đó chính là người phụ trách báo chí của Tòa thị chính mà tôi vốn đã quen biết khá rõ. Tôi cũng không hề nghĩ rằng họ cử ông ta đến để trung lập hóa mình. Tôi ngồi nói chuyện với ông ta suốt nửa tiếng đồng hồ hoàn toàn vô tư, và khi ông ta đứng dậy chuẩn bị đi thì tôi bỗng phát hiện ra là căn phòng rộng lớn đã không còn một bóng người từ lúc nào không biết. Nhìn theo ánh mắt của tôi, ông ta xác định lại thời gian: một giờ mười phút.

- Ông đừng lo - ông ta nói với tôi với vẻ vừa thoát sự căng thẳng. - Không còn chuyện gì nữa đâu.

Đúng thế thật, nhóm lãnh đạo quan trọng nhất của phái tự do, quá sốt ruột vì hành động bạo lực của chính phủ, đã câu kết với số sĩ quan dân chủ cao cấp nhất để hành động nhằm chấm dứt cảnh tàn sát do chế độ bảo thủ thực hiện khắp nơi trong toàn quốc, và quyết giành chính quyền bằng bất cứ giá nào. Phần đông trong số họ là những người đã tham gia thương lượng hòa bình với Tổng thống Ospina Perez hôm mồng 9 tháng 4, và hai mươi tháng sau, họ đã nhận ra, tuy rất chậm, là đã bị một quả lừa khổng lồ. Còn hành động bất thành ngày hôm đó là do chính đích thân Chủ tịch Ban lãnh đạo phái tự do Carlos Lleras Restrepo ra lệnh, thông qua Plinio Mendoza Neira, người vốn có quan hệ thân thiết với giới sĩ quan trong các lực lượng vũ trang ngay từ thời kỳ còn làm Bộ trưởng Bộ Chiến tranh trong chính phủ tự do trước đây. Hành động phối hợp của Mendoza Neira với sự hợp tác ngầm của các nhân vật chóp bu thuộc cả hai đảng trong toàn quốc lẽ ra sẽ được bắt đầu vào sáng sớm ngày hôm đó bằng cuộc ném bom vào Dinh Tổng thống do máy bay của không quân thực hiện. Phong trào sẽ được hỗ trợ của các căn cứ hải quân ở Cartagena và Apiay, và phần lớn các đồn lính trong cả nước và các tổ chức công đoàn để thành lập một chính phủ dân sự hòa hợp quốc gia.

Chỉ sau khi thất bại, mọi người mới biết rằng hai ngày trước thời hạn dự tính hành động, cựu Tổng thống Eduardo Santos đã họp ngay ở nhà mình ở Bogota với giới chóp bu của phái tự do và các vị lãnh đạo cuộc đảo chính để xem xét lại lần cuối kế hoạch này. Trong quá trình thảo luận, có ai đó đưa ra câu hỏi hình thức:

- Sẽ có máu chảy chứ?

Không có ai ngây thơ hoặc bỉ ổi trả lời là không. Một số lãnh đạo giải thích rằng đã áp dụng tất cả các biện pháp để việc đó không xảy ra, nhưng không thể có một giải pháp thần tiên nào tránh được những chuyện bất ngờ. Lo sợ trước tầm lớn lao của âm mưu do chính mình theo đuổi, Ban lãnh đạo phái tự do, không bàn bạc gì thêm liền ra phản lệnh. Nhiều người tham gia đảo chính không kịp nhận được phản lệnh này đã bị bắt hoặc bị bắn chết trong khi hành động. Nhiều người khác khuyên Mendoza một mình tiếp tục hành động cho đến khi giành được chính quyền, nhưng ông đã không nghe theo chủ yếu vì lý do đạo đức chứ không phải vì chính trị, và ông đã không có đủ thời gian và phương tiện để kịp báo lại cho tất cả những người dự kiến tham gia. Ông đã kịp vào tỵ nạn trong đại sứ quán Venezuela và phải sống bốn năm lưu vong ở Caracas mới thoát khỏi cảnh bị tòa án binh xử vắng mặt và bị tuyên án hai mươi năm tù vì tội phiến loạn. Năm mươi hai năm sau, tôi không hề lo sợ khi viết - dù không được ông cho phép - rằng ông đã phải ân hận suốt thời gian còn lại của đời mình trong chuyến lưu đày ở Caracas, về cái giá kinh hoàng mà phái bảo thủ đã gây ra khi cầm quyền: không dưới ba trăm ngàn người đã chết.

Riêng đối với tôi, đó cũng là một thời điểm bước ngoặc. Chưa đầy hai tháng sau, tôi đã tẩy chay năm thứ ba khoa luật và cũng chấm dứt những cam kết với tòa báo El Universal, vì không thấy có tương lai ở cả hai nơi này. Cái cớ là để dành thời gian cho cuốn tiểu thuyết mới bắt đầu, mặc dù trong sâu thẳm của lương tâm tôi biết rằng đó không phải là sự thật cũng chẳng phải dối trá, mà vì cuốn sách này tôi tự thấy ngay là nó chỉ đầy công thức tu từ học tới mức khoa trương, có quá ít điều hay của Faulkner lại có tất cả mọi cái dở, cái non nớt của tôi. Tôi sớm học được rằng, việc kể những chuyện cho người khác nghe song song với những gì mình đang viết - không để lộ ra nội dung cốt lõi của nó - là một phần có giá trị của quan niệm và cách viết. Nhưng lúc đó chưa có chuyện gì để trình bày nên tôi phải bịa ra cuốn tiểu thuyết nói trước để làm vui lòng người nghe và tự lừa dối mình.

Hiểu được như vậy, tôi buộc phải nghĩ lại từng điểm của kế hoạch dự kiến mà chỉ có bốn mươi trang không hơn, tuy nhiên nó đã được giới thiệu trên tạp chí và trên báo - đều do tôi làm - và thậm chí trên báo còn đăng trước dăm bài phê bình khôn ngoan của những độc giả tưởng tượng. Lý do thực chất của thói quen vừa kể vừa viết song song này không đáng bị chê trách mà nên được cảm thông: nỗi sợ viết cũng bực bội như việc không chịu viết. Ngoài ra, tôi cũng tin rằng việc kể một chuyện thật đối với mình là một vận rủi. Tuy nhiên, tôi tự an ủi rằng nhiều khi chuyện kể bằng miệng có thể hay hơn chuyện được viết ra giấy, và vô hình chung chúng ta đang tạo ra một thể loại mới mà văn học còn thiếu: hư cấu của sự hư cấu.

Sự thật của sự thật là chính tôi cũng không biết phải tiếp tục sống như thế nào. Khi vừa khỏi bệnh ở Sucre, tôi đã nhận thấy ngay là không còn biết cuộc đời mình sẽ đi về đâu, nhưng tôi cũng chưa tìm được lối thoát đúng đắn và cũng không tìm được lý do mới để thuyết phục bố mẹ đừng chết vì tức giận nếu tôi tự do quyết định lấy vận mệnh của mình. Và thế là tôi đã đi Barranquilla với hai trăm peso mà mẹ đã trích từ quỹ chi tiêu gia đình để cho tôi, trước khi trở lại Cartagena.

Năm giờ chiều ngày 15 tháng 12 năm 1949, tôi vào hiệu sách Thế giới để chờ các bạn mà mình chưa gặp lại, kể từ đêm tháng Năm sau khi tôi đi tiễn ông Razzore đáng nhớ. Tôi không mang đồ đạc gì khác ngoài chiếc va ly du lịch đựng ít quần áo và một số cuốn sách cùng với chiếc cặp da đựng bản thảo. Mấy phút sau, lần lượt tất cả các bạn đã đến đầy đủ. Đó là một lễ đón tiếp ồn ào không có Alvaro Cepeda vì đang còn ở New York. Khi mọi người đến đông đủ, chúng tôi đi uống rượu, không phải ở quán Colombia gần hiệu sách nữa mà ở một tiệm mới của các bạn thân ngay trên vỉa hè đối diện - quán Japy.

Vẫn chưa có một hướng đi cho đêm đó cũng như quãng đời còn lại. Có điều lạ là trước đây tôi chưa bao giờ nghĩ rằng hướng đi này có thể ở Barranquilla, và nếu tôi đến đó chẳng qua chỉ là để nói chuyện về văn chương và để tự thân mình cảm ơn các bạn vì số sách đã gửi cho tôi lúc ở Sucre. Về lý do đầu tiên thì chúng tôi đã làm quá nhiều, còn về lý do thứ hai thì không làm được gì mặc dù mấy lần tôi đã cố thực hiện bởi vì cả nhóm có nỗi sợ thiêng liêng đối với thói quen nói hoặc nhận lời cảm ơn của nhau.

Tối hôm đó, German Vargas tổ chức bữa ăn cho mười hai người, trong đó có tất cả từ nhà báo, họa sĩ và công chứng viên cho đến cả ông Tỉnh trưởng, một người bảo thủ điển hình ở Barranquilla vốn có cách phân biệt và cai trị riêng. Phần lớn ra về lúc nửa đêm và số còn lại cũng tan tác dần, cuối cùng chỉ còn Alfonso, German và tôi cùng viên Tỉnh trưởng, ít nhiều còn chút tỉnh táo như vẫn xảy ra với chúng tôi vào lúc sáng sớm hồi vị thành niên.

Trong câu chuyên dài đêm hôm đó, tôi đã nhận được của ông ta một bài học lạ lùng về nhân cách của người cầm quyền trong những tháng ngày đẫm máu. Ông tính toán rằng giữa những thiệt hại của chính sách tàn bạo, thì thiệt hại ít khích lệ nhất là số lượng lớn khủng khiếp những người tỵ nạn không nhà cửa và bánh mì ở khắp nơi trong các thành phố.

- Ở bước đi này - ông ta kết luận - đảng của tôi, với sự ủng hộ

của vũ khí, sẽ không còn địch thủ nữa trong các cuộc bầu cử sắp tới và sẽ là người chủ hoàn toàn của chính quyền.

Trời sáng, sau khi gần như kéo lê viên Tỉnh trưởng lên xe, chúng tôi đi đến Chop Suey, quán điểm tâm của các vĩ nhân dậy sớm. Alfonso mua ở kiốt đầu phố ba tờ báo El Heraldo mà tờ phía trong có bài ký tên Puck, bí danh của anh. Đó chỉ là một bài chào đón tôi, nhưng German liền chọc quê Alfonso vì bài báo nói tôi chỉ đến Barranquilla nghỉ phép không chính thức.

- Đáng lý phải viết là anh ta đến sống hẳn ở đây để khỏi viết một bài chào đón và một bài tiễn đưa - German trêu - như thế đỡ tốn cho một tờ báo keo kiệt như El Heraldo.

Và lúc mọi người đã trở nên nghiêm túc, Alfonso cho rằng có thêm một người viết nữa trong chuyên mục của anh cũng không đến nỗi thừa. Nhưng German vẫn tỏ ra bướng bỉnh dưới ánh nắng buổi bình minh.

- Phải là người viết thứ năm vì đã có bốn người rồi.

Không có ai tham khảo trước ý định của tôi, như tôi mong muốn, để nói câu đồng ý với họ. Không ai nói gì thêm về đề tài này. Cũng chẳng cần thiết, bởi vì Alfonso nói với tôi tối hôm đó rằng anh đã báo với ban lãnh đạo của báo và họ thấy ý tưởng có thêm một người viết chuyên mục nữa cũng tốt, nhưng với điều kiện là một người viết khá và không có nhiều tham vọng. Dù sao thì cũng chưa thể giải quyết được gì trước những ngày lễ đón mừng Năm Mới. Như vậy, tôi sẽ ở lại với cái cớ là vì công việc, mặc dù đến tháng Hai họ nói với tôi là không.

« Lùi
Tiến »