SỐNG ĐỂ KỂ LẠI

Lượt đọc: 2549 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 7

Như thế là tôi đã đăng bài báo đầu tiên ở trang bình luận của tờ El Heraldo của Barranquilla vào ngày 5 tháng 1 năm 1950. Tôi không muốn ký tên thật của mình để giữ gìn sức khỏe ngộ nhỡ ra mà không phát triển được như đã xảy ra ở tờ El Universal. Bí danh thì tôi không phải nghĩ đến lần thứ hai: Septimus, lấy từ Septimus Warren Smith, nhân vật rất lôi cuốn của Virginia Woolf trong quyển Bà Dalloway. Tên của chuyên trang - “La Jirafa” - là mật danh thân tình của người bạn nhảy duy nhất ở Sucre mà chỉ có tôi mới biết.

Hình như những cơn gió tháng Giêng năm nay thổi mạnh hơn mọi năm, cố lắm người ta mới đi được ngược gió trên những đường phố bị dập vùi tơi bời cho đến tận sáng sớm. Mỗi sáng thức dậy, đề tài bàn luận đầu môi của mọi người là thiệt hại do những cơn gió điên cuồng gây ra trong đêm, như cuốn phăng những giấc mơ cùng những chuồng gà và biến những mái tôn thành những cỗ máy chém biết bay.

Hôm nay, tôi nghĩ rằng những cơn gió điên cuồng ngày ấy quét sạch mọi dấu vết của quá khứ vô sinh và mở những cánh cửa cuộc đời mới cho mình. Quan hệ của tôi với nhóm bạn không còn là chuyện làm hài lòng nhau nữa mà đã biến thành sự kết dính trong chuyên môn. Lúc đầu, chúng tôi bàn luận về những đề tài trong các dự án hoặc trao đổi với nhau những nhận xét chẳng có gì là bác học nhưng không thể nào quên được. Nhận xét cuối cùng đối với tôi xảy ra vào một buổi sáng, lúc tôi vào quán cà phê Japy đúng lúc 3 giờ. German Vargas đang im lặng đọc nốt “La Jirafa” được cắt từ báo ngày hôm đó. Những người khác ngồi quanh bàn đang chờ lời phán quyết với nỗi sợ hãi thành kính làm làn khói thuốc trong phòng càng thêm đặc quánh. Đọc xong, không thèm nhìn tôi, German xé nát bài báo thành từng mảnh, rồi không nói nửa lời anh ta vứt vào mớ rác đầu thuốc và diêm đầy ứ trong cái gạt tàn. Không ai nói gì, cả làn khói thuốc trên bàn cũng không thay đổi và cũng chẳng ai bàn tán gì về chuyện này nữa. Nhưng bài học này giúp ích cho tôi những khi bị chi phối bởi cơn lười nhác hoặc sự vội vàng cẩu thả mà nhảy xổ vào công việc, viết ào một đoạn cho xong.

Những người chủ khách sạn rẻ mạt nơi tôi sống gần một năm đã xem tôi như người nhà. Tài sản duy nhất của tôi lúc đó là những đôi dép đã đi vào lịch sử và hai bộ quần áo mà tôi tự giặt mỗi khi tắm và chiếc cặp da tôi khoắng được trong phòng trà sang trọng nhất ở Bogota hôm mồng 9 tháng 4. Tôi dùng để đựng các bản thảo đang viết và mang nó đi khắp nơi, đó cũng là vật độc nhất có thể mất. Tôi không dám để nó thậm chí trong két sắt của ngân hàng với bảy lần khóa. Người duy nhất mà tôi tin tưởng trong những đêm đầu tiên chính là anh chàng gác khách sạn kỹ tính, Lácides, người chịu nhận nó như vật đặt cọc thay cho tiền phòng hàng ngày. Họ hồi hộp và ngại ngùng khi nhận của tôi một mớ giấy lộn xộn viết bằng máy chữ rồi cất vào trong ngăn kéo ở quầy lễ tân. Tôi nhận lại vào ngày hôm sau, đúng vào giờ đã hứa và trả tiền rất đúng hẹn nên họ chấp nhận đồ đặt cọc này trong ba đêm liên tiếp. Sự thỏa thuận này nghiêm chỉnh đến mức có một vài lần tôi chỉ để chiếc cặp trên quầy không nói gì hơn là câu chào hỏi rồi lấy chìa khóa đi lên phòng.

German theo dõi sát sao mọi thiếu thốn của tôi đến mức biết được cả việc tôi không có chỗ ngủ và lén cho tôi một đồng rưỡi để thuê giường. Tôi không bao giờ biết được tại sao anh ấy tường tận những chuyện này. Nhờ đạo đức tốt mà tôi giành được sự tín nhiệm của nhân viên khách sạn thậm chí còn được các cô gái điếm cho mượn xà phòng tắm. Trong chỉ huy sở của mình, với bộ ngực tầm cỡ vũ trụ và bộ não cỡ quả bí đỏ, bà chủ Catalina - bà mập - điều khiển mọi sinh hoạt. Kẻ dưới trướng của bà ta là Jonas San Vicente, một người lai vốn là một tay thổi kèn siêu hạng cho đến khi bị lũ cướp đánh gẫy hết răng chỉ để cướp lấy chiếc mũ. Móm mém và không còn đủ hơi để thổi nữa, anh ta đành đổi nghề khác và không thể kiếm được việc gì tốt hơn cho thân thể cường tráng của mình ngoài việc ngủ trên giường bằng vàng của bà mập Catalina. Bà ta lại có lòng đã thân tình giúp anh trong hai năm trời từ những đêm khốn nạn nằm vật vờ ở ngoài cảng sông leo lên chiếc ngai của bà chủ lớn. Tôi may mắn làm quen được với tính khôn ngoan và bàn tay phóng khoáng của cả hai người để làm vui lòng bạn bè của họ. Nhưng họ mãi cũng không hiểu tại sao có đến bao nhiêu lần tôi không có nổi một đồng rưỡi để ngủ dù được những người có thế lực đưa đón trên những chiếc xe du lịch sang trọng.

Tôi cũng chưa bao giờ có thể phát hiện được nguyên nhân vì sao trong những ngày sinh hoạt giản dị như vậy, tôi lại lún sâu trong nỗi chán chường. Cuốn tiểu thuyết đang dở dang - Ngôi nhà, - sau sáu tháng khởi viết tôi bỗng nhận ra nó là một trò hề ngớ ngẩn. Tôi đã nói nhiều về nó hơn là viết vài trang ít ỏi mà tôi cho đăng trên “La Jirafa” và tạp chí Crónica khi tôi cạn đề tài. Trong những ngày cuối tuần, khi những người khác đã trốn trong nhà, thì tôi nhận thấy mình cô đơn vô cùng giữa thành phố vắng vẻ. Một gã nghèo rớt mùng tơi, nhút nhát như lũ chim cút nhưng lại tỏ ra kiêu ngạo đến khó chịu và thẳng thắn đến tàn bạo. Tôi cảm thấy mọi nơi đều thừa thãi kể cả ở những người quen biết. Tình trạng này trở nên trầm trọng hơn kể cả trong tòa soạn El Heraldo, nơi tôi cặm cụi viết suốt cả mười tiếng đồng hồ liên tục trong xó xỉnh vắng vẻ không đụng đến ai, giữa màn khỏi thuốc lá rẻ tiền được hút không ngưng nghỉ trong nỗi cô đơn sầu thảm. Tôi viết vội vàng, nhiều khi đến tận sáng bạch, lên những tờ giấy in rồi bỏ vào chiếc cặp da kè kè mang theo bên mình.

Một trong những lần lơ đãng thường xảy ra vào những ngày tháng ấy, tôi đã bỏ quên chiếc cặp da trên một chiếc taxi và tôi hiểu, không một chút cay đắng nào, rằng đây lại thêm một cú đá hậu vào tình cảnh rủi ro của mình. Tôi không cố công tìm cách lấy lại chiếc cặp, nhưng Alfonso Fuenmayor, lo lắng về sự lười nhác của tôi, đã soạn và cho đăng một mẩu tin vào cuối bài trong chuyên mục của tôi: “Thứ Bảy vừa rồi, một mớ giấy tờ đã bị bỏ quên trên chiếc xe ô tô dịch vụ công cộng. Vì người chủ của mớ giấy đó và tác giả của chương mục này là một người duy nhất nên cả hai người ấy sẽ vô cùng biết ơn. Ai đó đang giữ mớ giấy ấy hãy vui lòng báo tin cho bất cứ một trong hai người. Mớ giấy không có một chút giá trị nào: đó chỉ là những bài ‘ La Jirafa’ chưa được in”. Hai ngày sau, có ai đó đã để những trang bản thảo của tôi ở cổng tòa soạn El Heraldo, nhưng không có chiếc cặp da và với ba lỗi chính tả được sửa bằng một nét chữ màu xanh rất đẹp.

Lương hàng ngày vừa đủ cho tôi trả tiền phòng ở, nhưng điều tôi ít quan tâm nhất vào những ngày tháng ấy là cái vực thẳm nghèo nàn. Rất nhiều lần tôi đã không trả được tiền phòng và đi lang thang trong đêm ở đại lộ Bolivar. Gặp bất cứ người quen nào tôi cũng chào từ xa, nếu như tôi xứng đáng nhìn người ta, rồi đi thật xa để về chỗ nghỉ thường lệ, nơi mà nhiều lần tôi mải đọc sách cho đến khi thấy hoảng sợ vì những tia nắng sớm mai. Bởi vì vào thời gian này, tôi vẫn là một người đọc không biết chán dù không theo một hệ thống nào. Nhất là thơ ca, dù là thơ dở, bởi vì trong những thời điểm trạng thái tâm lý tệ hại nhất, tôi vẫn tin tưởng rằng thơ dở sớm hay muộn rồi cũng sẽ dẫn đến thơ hay.

Trong những bài trên mục “La Jirafa”, tôi luôn chứng tỏ rất nhạy cảm với nền văn hóa nhân dân, ngược hẳn với những truyện ngắn tưởng như những điều bí ẩn theo kiểu Kafka do một người chẳng biết ở xứ nào viết ra. Tuy nhiên, từ trong sâu thẳm của tâm hồn, tôi phải nói lên sự thật rằng tấn thảm kịch của đất nước Colombia chỉ như tiếng vọng xa xôi đến với tôi, chỉ cho đến khi dòng sông máu đã tràn bờ, tôi mới thật sự xúc động. Chưa hết điếu thuốc này đã đốt điếu khác, rít thuốc như người bị bệnh hen thèm uống bầu không khí, ba bao thuốc lá trong một ngày, để lại dấu thuốc lá trên móng tay và trong tiếng ho khù khụ của con chó già...tất cả những thứ đó đã làm xáo động tuổi trẻ của tôi. Cuối cùng thì tôi vẫn là một kẻ nhút nhát và buồn bã, như một người Caribe tốt bụng, luôn có ý thức giữ gìn thế giới riêng tư của mình đến mức khi có ai hỏi về nó tôi sẽ trả lời bằng những ngôn từ hoa mỹ. Lúc đó, tôi tin rằng số phận đen đủi của tôi là bẩm sinh, vô phương cứu chữa, nhất là trong quan hệ với phụ nữ và tiền bạc, nhưng tôi đã không quan tâm đến, bởi vì tôi cho rằng may mắn trong cuộc đời không phải là yếu tố cần thiết để tôi viết hay. Tôi không thiết đến vinh quang, tiền bạc, hay sự trường thọ bởi vì tôi đinh ninh rằng mình sẽ chết yểu và vất vưởng ngoài phố.

Chuyến đi bán nhà với mẹ đã kéo tôi ra khỏi vực thẳm và niềm tin chắc chắn vào cuốn tiểu thuyết mới chỉ mở ra cho tôi chân trời của một tương lai khác. Trong vô số các chuyến đi trong đời, đó là một chuyến đi có ý nghĩa quyết định, bởi vì nó chứng tỏ rằng cuốn sách dự định viết chỉ là một thứ sáng tạo chữ nghĩa mà không có cơ sở nào trong thực tế thơ ca. Dự định đó đương nhiên bị vỡ tan tành khi đối mặt với thực tế trong chuyến đi đầy sức gợi cảm.

Hình mẫu của một bản hùng ca như tôi mơ ước chỉ có thể là của chính gia đình mình, vốn đã không phải là nhân vật chính, cũng chẳng phải là nạn nhân của cái gì cụ thể mà chính là nhân chứng vô tích sự và nạn nhân của tất cả. Tôi bắt đầu viết cuốn tiểu thuyết này ngay trong giờ đầu tiên khi trở về, bởi vì lúc này tôi không cần sắp đặt các phương tiện giả, chính niềm xúc cảm mãnh liệt đã cuốn hút tôi ngay lúc tôi về đến ngôi nhà xưa của ông bà ngoại. Ngay từ những bước chân đầu tiên trên bãi cát nóng bỏng của thị trấn, tôi đã nhận ra rằng phương pháp của mình không phải là thích hợp nhất để kể lại thiên đường trần gian của sự điêu tàn và nỗi nhớ khắc khoải, mặc dù trước đó tôi đã mất rất nhiều thời gian và công sức mới tìm được phương pháp đúng. Công kia việc nọ bận rộn đến ngạt thở của tờ Crónica lúc đang chuẩn bị xuất bản không hề gây cản trở mà ngược lại: là một thứ phanh kìm hãm bớt niềm khát khao đến cháy bỏng.

Ngoại trừ Alfonso Fuenmayor - là người bắt gặp tôi trong cơn sốt sáng tạo mấy giờ sau khi tôi bắt đầu viết cuốn tiểu thuyết này - còn những người bạn khác suốt một thời gian dài vẫn cứ tưởng tôi đang tiếp tục dự án cũ của Ngôi nhà. Tôi quyết định cứ để mọi người nghĩ như thế vì sợ họ phát hiện ra sự thất bại của một ý tưởng được tôi nói đến quá nhiều cứ như đã là một tác phẩm bậc thầy. Ngoài ra, còn vì lý do mê tín mà đến tận bây giờ tôi vẫn tin theo, tức là cùng lúc kể một câu chuyện và viết một câu chuyện khác song song với nhau để người ta không thể biết được chuyện nào vào với chuyện nào, nhất là trong các bài phỏng vấn của báo chí, vốn là một thể loại hư cấu nguy hiểm đối với những nhà văn nhút nhát không muốn nói gì hơn những điều cần nói. Tuy nhiên, có lẽ German Vargas, nhờ sự nhạy cảm của mình, đã phát hiện ra điều này, bởi vì mấy tháng sau khi ông Ramon trở về Barcelona, anh đã viết trong một bức thư: “Tôi tin là Gabo đã từ bỏ dự án “Ngôi nhà” rồi và hiện đang chúi mũi vào cuốn tiểu thuyết khác”. Còn ông Ramon tất nhiên đã biết điều này trước khi ra đi.

Ngay từ dòng đầu tiên tôi đã tin chắc rằng cuốn sách mới phải dựa trên những kỷ niệm của đứa bé bảy tuổi sống sót qua cuộc thảm sát dân thường xảy ra vào năm 1928 ở vùng trồng chuối. Nhưng ngay lập tức tôi đã gạt phương án này bởi vì câu chuyện sẽ bị giới hạn vào quan điểm của một nhân vật không có nhiều phương thức thơ ca để có thể kể lại. Lúc đó tôi nhận ra ngay rằng việc mạo hiểm đọc Ulysses từ năm hai mươi tuổi , và sau này đọc Âm thanh và cuồng nộ, đó là một sự liều lĩnh quá sớm. Thế là tôi quyết định đọc lại chúng với một cái nhìn bớt định kiến. Đúng là nhiều điều trước đây mà tôi cứ cho là mô phạm hoặc khép kín trong tác phẩm của Joyce và Faulkner thì lúc này lại có vẻ đẹp và vẻ giản dị mê hồn. Tôi dự định đa dạng hóa các lời độc thoại bằng tiếng nói của tất cả mọi người, với một dàn hợp xướng kiểu Hy Lạp để dẫn chuyện, giống như Trong lúc tôi hấp hối, tức là sự suy ngẫm của cả gia đình đứng xung quanh người đang hấp hối. Tôi cảm thấy không đủ khả năng lặp lại phương thức giản dị chỉ dẫn tên của từng nhân vật trong từng cảnh đối thoại như trong các vở kịch, và đã nghĩ ra cách chỉ dùng ba tiếng nói của ông, mẹ và đứa trẻ; mỗi người vốn có chất giọng và âm vực khác nhau nên tự phân biệt được với người khác. Người ông trong cuốn tiểu thuyết sẽ không phải là chột mắt như ông ngoại của tôi mà là người thọt chân; bà mẹ tư lự, trầm ngâm nhưng thông minh như mẹ tôi, còn đứa bé thì đứng im, sợ hãi và nghĩ ngợi như mọi đứa khác ở tuổi đó. Đó không phải là một tìm tòi sáng tạo mà chỉ là một phương thức kỹ thuật.

Cuốn sách mới không hề có một thay đổi nào về nội dung trong quá trình viết, hoặc có phiên bản nào khác với bản gốc, trừ một số đoạn bị cắt bỏ và sửa chữa trong khoảng hai năm trước bản in đầu tiên đúng cái thói xấu tiếp tục sửa đến chết mới thôi. Thị trấn - rất khác với dự kiến ban đầu của tôi - đã được miêu tả phù hợp với thực tế hơn sau khi tôi cùng mẹ trở về Aracataca, nhưng tên gọi này - đúng như ông Ramon rất uyên bác đã cảnh báo - tôi nhận thấy không phù hợp, cũng giống như tên Barranquilla vì đều không có tiếng vọng bí ẩn mà tôi muốn tìm cho cuốn tiểu thuyết. Và vậy mà tôi quyết định đặt cho nó cái tên mà chắc là đã được biết từ hồi nhỏ nhưng tính bí ẩn thì mãi đến lúc đó tôi mới thấy hết: Macondo.

Tôi buộc phải thay đầu đề cuốn sách Ngôi nhà - quá quen thuộc với bạn bè - vì nó không còn liên quan gì với dự án mới, nhưng tôi lại mắc sai lầm là ghi hết tất cả những tên gọi mà tôi nghĩ ra trong quá trình viết vào một cuốn vở học sinh, và tôi nghĩ ra đến hơn tám chục cái tên. Cuối cùng tôi đã có mà không phải tìm đâu cả khi đã gần như viết xong và chuẩn bị viết lời nói đầu của tác giả. Đầu đề cuốn sách ào vào mặt tôi như một cái tên khinh miệt nhất, đồng thời lại đầy cảm thông, đó chính là cách mà bà ngoại với nguồn gốc quý tộc của mình đã gọi thứ rác rưởi Công ty chế biến hoa quả : Bão lá úa (La Hojarasca).

Các tác giả đã động viên tôi viết chính là các nhà văn viết tiểu thuyết của Mỹ, đặc biệt là những người có tác phẩm được các bạn ở Barranquilla gửi về Sucre cho tôi. Tôi thấy rõ sự tương đồng về thực chất và tính không thể thay thế được trong quá trình hình thành nhân cách con người và nhà văn trong tôi, giữa nền văn hóa phía Nam sâu sắc với nền văn hóa vùng Caribe mà tôi luôn toàn tâm toàn ý gắn bó. Từ khi nhận thức được như vậy, tôi bắt đầu đọc như một nhà viết tiểu thuyết thủ công thực sự, không chỉ vì thích thú mà còn vì sự tò mò muốn biết các cuốn sách của nhà văn thông tuệ được viết ra như thế nào. Lúc đầu, tôi đọc xuôi từ đầu đến cuối, sau đó lại làm ngược lại, và tôi như muốn moi gan móc ruột các cuốn sách này để tìm bằng được những bí ẩn kín đáo nhất trong cấu trúc của nó. Cũng như vậy, thư viện của tôi cũng chỉ là một công cụ làm việc, nơi tôi có thể tham khảo ngay tức khắc một chương của Dostoievki, hoặc tìm hiểu cụ thể về bệnh động kinh của Julio Cesar, hoặc cơ chế vận hành của bộ chế hòa khí trong xe ô tô. Thậm chí, tôi còn có một quyển sách hướng dẫn cách giết người hoàn hảo để nhỡ ra có nhân vật nào của mình cần đến. Phần còn lại thì do bạn bè hướng dẫn mình đọc và cho mượn sách mà tôi cần phải đọc vào lúc cần thiết, và họ cũng là những người chịu khổ phải đọc tất cả những bản thảo của tôi trước khi được xuất bản.

Tấm gương bạn bè đã cho tôi niềm tự tin vào chính mình, và dự án xuất bản Crónica cuối cùng cũng đã cất cánh. Tinh thần chúng tôi rất xung dù phải đương đầu với những trở ngại gần như không khắc phục nổi, và cuối cùng thì chúng tôi cũng đã có văn phòng riêng của mình ở tầng ba, không có thang máy, nơi luôn vọng lên tiếng rao của người bán hàng rau củ và tiếng còi xe buýt không coi luật pháp là gì trên đường San Blas, ngay bên chợ ồn áo náo nhiệt từ tờ mờ sáng cho đến bảy giờ tối.

Diện tích phòng làm việc chỉ vừa đủ cho mọi người. Văn phòng chưa được lắp điện thoại và máy điều hòa không khí vẫn còn trong chuyện thần thoại vì nó đắt bằng cả cơ ngơi của tờ tuần báo, nhưng dù sao thì Fuenmayor cũng đã kịp lèn vào đầy văn phòng nào là những cuốn bách khoa toàn thư gỡ ra từng khối, những bài cắt ra từ các báo với đủ loại ngôn ngữ và những cuốn sách hướng dẫn các ngành nghề lạ. Trên bàn làm việc Tổng biên tập của anh, chễm chệ chiếc máy chữ Underwood lịch sử phải liều cả mạng sống mới cứu được từ vụ hỏa hoạn tại một sứ quán nước ngoài, và ngày hôm nay, nó là bảo vật của Bảo tàng lãng mạn của thành phố Barranquilla. Một máy chữ khác, được báo El Heraldo cho mượn, do tôi với cương vị oai phong rờ rỡ -Trưởng ban biên tập - chiếm giữ. Có một bàn vẽ cho Alejandro Obregon, Orlando Guerra và Alfonso Melo, ba họa sĩ nổi tiếng đã hứa trong tình trạng hoàn toàn sáng suốt là sẽ minh họa không công cho các bài báo, và họ đã làm đúng như vậy; thứ nhất là do lòng tốt bẩm sinh của cả ba, thứ hai là vì chúng tôi không có một xu để trả công ngay cả cho bản thân mình. Nhiếp ảnh gia thường trực và hy sinh nhiều nhất là Quique Scopell.

Ngoài công việc biên tập theo chức trách, tôi còn phải lên khuôn và sửa bản in mặc cho trình độ chính tả tệ hại của bản thân. Vì tôi vẫn còn làm việc với El Heraldo trong chuyên mục “La Jirafa” nên có ít thời gian viết thường xuyên cho Crónica. Nhưng ngược lại, có thể viết truyện ngắn trong những giờ rỗi vào lúc nửa đêm hay rạng sáng mỗi ngày.

Alfonso, chuyên gia về mọi thể loại, tập trung vào các truyện vụ án mà anh say sưa. Anh dịch hoặc tuyển lựa, còn tôi sẽ đơn giản hóa hình thức của chúng để tiết kiệm khoảng trống trên báo bằng cách loại bớt không những các từ không cần thiết mà cả những sự kiện lòng thòng hời hợt chỉ để lại cốt truyện thuần túy nhưng không ảnh hưởng đến tư tưởng chính yếu. Tức là bỏ bớt tất cả những cái gì có thể bị xem là thừa; mỗi lời còn lại đều phải phục vụ cho cấu trúc trong truyện. Đây là công việc thực hành hữu ích cho công cuộc nghiên cứu mê say của tôi để học kỹ thuật kể một truyện ngắn.

Một số truyện hay nhất của Jose Felix Fuenmayor đã cứu một vài số thứ Bảy của chúng tôi, nhưng khâu phát hành vẫn còn quá mạo hiểm. Tuy nhiên, cứu cánh vĩnh hằng vẫn là cá tính mạnh mẽ của Alfonso Fuenmayor, một người chưa bao giờ được coi là doanh nhân ưu tú. Nhưng trong sự nghiệp của chúng tôi, anh đã dốc hết tính bền bỉ mạnh hơn sức lực của mình để vượt qua mọi trở lực từng bước một với tính hài hước đáng sợ. Anh phải làm tất cả mọi việc từ việc viết những bài xã luận sáng suốt nhất đến việc giành các hợp đồng quảng cáo, vay tiền và những bài hợp tác độc quyền khó nhất. Nhưng đó vẫn chỉ là những điều kỳ diệu vô sinh. Khi những người bán báo trở về với chồng báo còn nguyên vẹn, chúng tôi lại phải tự mình đi phát hành tại các căng tin yêu thích, từ El Tercer Hombre đến những quán thầm kín ở cảng sông, nơi nếu có chút đỉnh tiền thì chúng tôi lại phải nhận bằng các loại rượu.

Bogota đến với chúng tôi một cách bình đẳng, nhưng không có người nào trong số bạn bè hữu ích cố công đóng góp duy trì tờ tuần san. Chỉ có Jorge Zalamea đã hiểu được sự tương đồng giữa tạp chí của ông và tuần san của chúng tôi nên đã đề nghị một hợp đồng trao đổi bài vở giữa hai cơ quan nhằm đem lại kết quả tốt. Nhưng tôi cho rằng không ai đánh giá được cái kỳ diệu mà Crónica đã có. Hội đồng biên tập gồm mười sáu người do chúng tôi lựa chọn trên cơ sở thành tựu được công nhận của từng người, và tất cả họ đều là người bằng xương bằng thịt nhưng lại hùng mạnh và vị trí quan trọng đến mức không ai dám nghi ngờ gì về họ.

Crónica còn có thêm một tầm quan trọng khác vì nó buộc tôi phải sáng tác khẩn cấp những truyện ngắn để lấp chỗ trống khốn khổ vào lúc chuẩn bị lên khuôn. Tôi ngồi bên máy chữ cũng lúc đó người lên khuôn và thợ in cũng vào chỗ của mình. Từ con số không tôi phải nghĩ ra một câu chuyện đủ lấp đầy khoảng trống. Và qua cách đó tôi đã viết “Bằng cách nào Natanael thực hiện chuyến viếng thăm” để giải quyết một vấn đề khẩn cấp lúc tảng sáng và “Đôi mắt của chó xanh” năm tuần sau đó.

Truyện ngắn đầu tiên trong hai truyện là khởi nguồn của một loạt tác phẩm có cùng nhân vật mà tôi đã sử dụng cái tên, dù không được phép, từ nhân vật của André Gide. Sau đó, tôi viết “Số phận cuối cùng của Natanael” để giải quyết một tấn thảm kịch khác vào giờ chót. Cả hai truyện ngắn này đều nằm trong loạt sáu truyện mà tôi đã cất vào kho không một chút nuối tiếc nào vì tôi nghiệm ra rằng chúng chẳng có liên quan gì với mình. Trong số đó, tôi chỉ nhớ mang máng một truyện không hề có cốt truyện: “Bằng cách nào Natanael vận đồ cô dâu” . Nhân vật này ngày hôm nay tôi nhận thấy chẳng giống bất cứ người nào đã quen biết và cũng không hề dựa trên kinh nghiệm sống của bản thân hoặc của người khác, và thậm chí tôi cũng không thể hình dung tại sao nó lại là truyện ngắn của tôi với một đề tài sai lầm như vậy. Natanael chỉ là một cuộc phiêu lưu văn học chẳng có lợi ích nhân bản gì cả. Cũng đáng nhớ lại những điều tệ hại này để không quên rằng: một nhân vật không thể được sáng tạo từ con số không, như tôi đã muốn làm với Natanael. Cũng may là trí tưởng tượng không đủ để tôi tự vượt xa quá chính mình và, cũng đáng tiếc là theo thỏa thuận thì công việc văn chương cũng phải được trả công tốt như việc gắn các viên gạch, và nếu chúng ta trả công đủ và đúng giờ cho thợ in, thì càng phải trả cao hơn cho các nhà văn.

Tiếng vang tốt nhất mà chúng tôi có được trong công việc ở Crónica là những bức thư mà ông Ramon gửi cho German Vargas. Ông quan tâm đến những tin tức ít ngờ nhất và hỏi về bạn bè và các sự kiện ở Colombia, và German đã gửi cho ông các bài báo và những bức thư dài bất tận, kể cho ông nghe nhiều tin tức mà kiểm duyệt ngăn cấm. Tức là đối với ông Ramon có hai tờ Crónica: tờ báo do chúng tôi làm và tờ tóm tắt của German vào cuối tuần. Những nhận xét nồng nhiệt hoặc nghiêm khắc của ông Ramon về các bài của chúng tôi là sự đánh giá cao nhất.

Tôi vô tình được biết rằng: trong số các nguyên nhân mà người ta dùng để giải thích về những trục trặc của Crónica và về tính không chắc chắn của cả nhóm, có một số người đổ cho sự bất hạnh bẩm sinh và dễ lây nhiễm của tôi. Như là bằng chứng kết tội chết, họ lấy ngay bài phóng sự của tôi về Berascochea, cầu thủ bóng đá người Brazil. Trong bài này, tôi muốn hòa hợp giữa thể thao và văn học trong một thể loại mới nhưng đã thất bại thê thảm. Khi tôi biết được sự nổi tiếng không xứng đáng của mình thì việc này đã lan truyền rộng rãi trong giới khách hàng của Japy. Hoảng loạn đến tận lỗ chân lông, tôi phải bàn ngay việc này với German, người đã biết rõ vụ này cũng như những người khác trong nhóm.

- Yên tâm đi, thầy ạ! - anh nói với tôi không một chút nghi ngờ - Viết như anh viết mà không bị ai đánh chỉ có thể là một vận may mà thôi.

Không phải tất cả đều là đêm đen. Đêm hôm 27 tháng 7 năm 1950, trong lễ hội ở quán bà da đen Eufemia, tôi đã có một chút dũng khí lịch sử trong cuộc đời viết văn của mình. Tôi không hiểu vì sao bà chủ nổi hứng ra lệnh làm món khoai tây chiên thịt đầy tính hùng ca, làm những chú vạc hốt hoảng trước mùi hoang dại ấy đã nhỏ dãi lòng thòng và kêu rít lên xung quanh bếp lò. Một khách hàng bốc đồng đã túm lấy cổ một con vứt ngay vào chảo nước đang sôi. Con vật chỉ kịp kêu lên một tiếng đau đớn đập cánh được một lần thì bị chìm nghỉm dưới đáy địa ngục. Tên sát thủ dã man đã toan tóm thêm một con nữa thì bị bà da đen Eufemia tìm cách đuổi đi bằng quyền lực của mình:

- Đứng im, đồ quỷ - bà ta thét - lũ vạc móc mắt ông bây giờ!

Chỉ có tôi là quan tâm đến việc này vì chỉ mình tôi không ăn món khoai tây phạm thánh đó. Thay vì đi ngủ, tôi đã đến văn phòng Crónica và viết một hơi truyện ngắn về ba vị khách của một nhà chứa bị lũ vạc móc mắt mà không ai tin. Truyện gói trong bốn trang khổ giấy công sở và được kể lại ở ngôi thứ nhất số nhiều với giọng kể không tên. Đó là một thứ hiện thực trong suốt, tuy nhiên nó lại bí ẩn nhất trong số các truyện ngắn của tôi, và đi theo một hướng mà tôi suýt nữa từ bỏ vì không thể theo được. Tôi bắt đầu viết từ lúc bốn giờ sáng hôm thứ Sáu và kết thúc vào lúc tám giờ sáng. Với sự đồng phạm không thể thiếu được của Porfirio Mendoza, người sắp chữ từ ngày đầu thành lập của El Heraldo, chúng tôi đã sửa lại bản kẽm chuẩn bị sẵn cho số ngày mai của Crónica. Vào phút cuối cùng, lo lắng vì chiếc máy chém là thời hạn lên khuôn, tôi phải đọc đầu đề vừa chọn của truyện ngắn cho Porfirio sắp trực tiếp các con chữ đúc đồng: “Đêm của những con vạc” .

Với truyện này tôi khởi đầu một thời kỳ mới sau chín truyện ngắn còn ở cửa thiên đường siêu hình và vẫn chưa có một dự định nào để đi tiếp cái thể loại mà tôi vẫn chưa nắm thật chắc. Một tháng sau, Jorge Zalamea cho in lại trên Critica, một tạp chí tuyệt vời chuyên đăng các thi phẩm lớn. Năm mươi năm sau, trước khi viết đến đoạn này, tôi đọc lại nó và đã không thay đổi một dấu phẩy nào. Trong cái mớ bòng bong không phương hướng hồi đó, truyện ngắn này như sự khởi đầu của mùa xuân.

Tôi nghĩ rằng sự trở về của Alvaro Cepeda, với tấm bằng của Đại học Columbia - một tháng trước vụ giết hại con vạc - có ý nghĩa quyết định đến việc chèo chống số phận hẩm hiu của tạp chí trong những ngày tháng ấy. Anh trở về với mái tóc thưa hơn, không còn bộ ria mép và trông hoang dại hơn so với khi ra đi. German Vargas và tôi đã chờ anh suốt mấy tháng, và chỉ lo anh ta giảm sự hăng hái trong thời gian ở New York. Chúng tôi buồn cười đến chết khi thấy anh từ máy bay đi xuống, mặc veston đeo cà vạt, và ngay từ trên cầu thang đã cầm thành quả đầu tiên của Hemingway trên tay - Phía bên kia dòng sông và giữa hàng cây - để vẫy chào: . Tôi cướp trên tay anh, xoa xoa cả hai bìa cuốn sách, và toan hỏi anh điều gì thì Alvaro nói trước:

- Như cục cứt ấy mà!

German Vargas nói thầm vào tai tôi: “Vẫn y như trước”. Alvaro cải chính ngay với chúng tôi rằng ý kiến của anh vừa rồi về cuốn sách là câu nói đùa, bởi vì chỉ mới bắt đầu đọc trên máy bay từ Miami về. Nhưng dù sao thì anh cũng nâng cao tinh thần của chúng tôi bằng việc gieo thêm mầm bệnh sởi báo chí, điện ảnh và văn học. Trong những tháng tiếp theo, khi còn đang thích nghi với việc thay đổi của khí hậu, anh vẫn giữ chúng tôi trong cơn sốt bốn mươi độ.

Đó là sự lây nhiễm tức thì. “La Jirafa” mà từ mấy tháng trước vẫn quẩn quanh như người mù, đã bắt đầu hít thở bầu không khí mới với hai trích đoạn của bản thảo Ngôi nhà. Một đoạn là “Đứa con của ngài đại tá”, không bao giờ ra đời, và đoạn khác là “Ny”, một bé gái trốn chạy mà tôi gọi cửa nhiều lần để tìm con đường khác, nhưng nó không bao giờ trả lời.

Tôi cũng lấy lại được sự quan tâm của người lớn bằng những mẩu chuyện khôi hài, không phải như là một thứ giải trí trong ngày Chủ nhật, mà như một thể loại văn học mới vốn bị tuyên án vô lý, bị đẩy vào trong phòng ngủ của trẻ con. Nhân vật chính của tôi, trong vô vàn các nhân vật khác, là Dick Tracy. Ngoài ra, tại sao lại không nhỉ, tôi cũng giành lại niềm thành kính đối với điện ảnh mà ông ngoại đã từng gieo vào lòng tôi và được ngài Antonio Daconte nuôi dưỡng suốt thời gian ở Aracataca, được Alvaro Cepeda biến thành nỗi đam mê thánh thiện ở một đất nước mà những phim hay nhất đều được biết qua câu chuyện của những người khách lạ. Ngày trở về của anh trùng hợp may mắn với việc trình chiếu lần đầu hai tác phẩm điện ảnh bậc thầy: Intruder in the Dust (Kẻ tiếm quyền) do Clarence Brown làm đạo diễn dựa trên tiểu thuyết của William Faulkner và Bức ảnh của Jenny, do William Dieterle đạo diễn dựa vào tiểu thuyết của Robert Nathan. Tôi đã viết bình luận về hai cuốn phim này trên “La Jirafa” sau cuộc tranh cãi khá lâu với Alvaro Cepeda. Tôi thích đến nỗi bắt đầu nhìn điện ảnh từ một góc độ khác. Trước khi quen biết anh, tôi không biết rằng điều quan trọng nhất là tên của đạo diễn, là người cuối cùng trong dãy tên giới thiệu trong phim. Tôi cứ cho rằng vấn đề đơn giản là viết kịch bản và điều khiển các diễn viên, còn những việc khác sẽ do đông đảo những người trong ê kíp làm phim thực hiện. Vừa trở về, Alvaro liền cho tôi một khóa bồi dưỡng toàn diện trên cơ sở hò hét và uống rượu trắng cho đến tận sáng sớm tại những căng tin mạt hạng nhất, để dạy vắn tắt cho tôi những gì người ta đã dạy anh về điện ảnh ở Mỹ và khiến anh mơ ước được thực hiện ở Colombia.

Ngoài sự bùng nổ sáng chói ấy ra, những người bạn theo Alvaro trong tốc độ tàu tuần dương chúng tôi đều có cảm tường rằng anh sẽ không có đủ tỉnh táo để ngồi viết. Những người sống gần anh không thể hình dung ra chuyện anh ngồi hơn một giờ bên bàn viết. Tuy nhiên, hai hoặc ba tháng sau khi anh trở về, Tita Manotas - người yêu trong nhiều năm và là vợ cả đời của Alvaro - sợ hãi gọi điện báo cho Alvaro biết là trong khi bán chiếc xe tải nhẹ lịch sự, chị đã bỏ quên trong thùng để găng tay trên xe bản thảo những truyện ngắn chưa in của chồng mà không có bản sao nào khác. Anh không cất công tìm lại với lý do rất riêng của mình “sáu hay bảy truyện ngắn cứt đái ấy mà”. Bạn bè và cánh nhà báo chúng tôi đã giúp Tita tìm kiếm chiếc xe tải đã được bán qua bán lại vài lần suốt dọc duyên hải Caribe và các vùng sâu đến tận Medellín. Cuối cùng, chúng tôi tìm thấy nó trong một xưởng ở Sincelejo, cách chỗ chúng tôi khoảng hai trăm cây số. Bản thảo được viết trên giấy in được chúng tôi đưa ngay cho Tita vì sợ Alvaro đánh mất vì vô tình hay cố ý.

Hai trong số các truyện được đăng trên Crónica, còn các truyện khác thì German Vargas giữ trong hai năm trong khi tìm cách cho nó được xuất bản. Một cuốn sách khác được nhà sách Mundo ấn hành với đầu đề “Tất cả chúng ta cùng đợi” , và đã trở thành một sự kiện xuất bản mà chỉ có giới phê bình kinh viện là cho qua. Đối với tôi - như đã từng viết hồi đó - đó là cuốn truyện ngắn hay nhất được xuất bản ở Colombia.

Còn German Vargas và Alfonso Fuenmayor là những nhà phê bình nghiêm khắc - với chính truyện ngắn của mình hơn là truyện của người khác - nhưng những phát hiện tinh tế của họ về những tài năng trẻ thì không bao giờ sai. Đó là một mùa xuân đầy sáng tạo khi có tin đồn râm ran rằng German thức khuya dậy sớm để viết ra những truyện ngắn cực hay. Nhưng không ai biết được điều gì cụ thể, mãi cho đến nhiều năm sau, khi anh vào phòng ngủ trong nhà bố mẹ đẻ, ở trong đó hàng mấy giờ để đốt bản thảo ngay vào ngày cưới Susana Linares - bạn hàng xóm của tôi - với ý định không cho vợ biết. Susana biết nhưng không thể vào phòng để ngăn anh, bởi vì bà mẹ chồng không cho phép. “Thời ấy - mấy năm sau Susana nói với tôi với giọng khôi hài bị ức chế - trước lễ cưới cô dâu không được vào phòng ngủ của vị hôn phu”.

Lúc đó, tôi chưa nhận ra rằng mình đang sống một năm khác hẳn trong đời, ngày hôm nay thì tôi biết chắc chắn đó là năm quyết định. Cho đến lúc đó, tôi vẫn hài lòng với cái vẻ đãng trí của mình, vẫn được nhiều người tin yêu và tôn trọng và được một số khâm phục trong cái thành phố nơi người nào cũng sống theo cách riêng của mình. Tôi sống một cuộc sống xã hội bận rộn, tham gia vào các hoạt động văn nghệ và xã hội với đôi dép của người lữ hành dường như được mua để bắt chước theo Alvaro Cepeda, với chiếc quần vải thô duy nhất và hai chiếc áo sơ mi phải giặt trong phòng tắm.

Ngày này qua ngày khác, vì những lý do khác nhau - trong đó cũng có những lý do phù phiếm - tôi bắt đầu phải cải thiện cách ăn mặc của mình. Tôi cắt tóc theo kiểu lính nhà binh, tỉa bớt bộ râu và tập đi đôi giày thượng nghị sĩ được tiến sĩ Rafael Marriaga, thành viên mới của nhóm và là người viết sử của thành phố, tặng bởi nó quá rộng so với khổ chân ông. Tôi bắt đầu cảm thấy ngạt thở bởi cái nóng trong căn buồng ở tòa nhà chọc trời, như thể Aracataca là xứ Siberia vậy, cũng rất khó chịu với các khách hàng khác cứ vừa thức dậy đã nói oang oang, và tôi không ngớt càu nhàu với những con chim cái ăn đêm tiếp tục dẫn về phòng mình hàng tiểu đội thủy thủ nước ngọt.

Ngày hôm nay, tôi mới hiểu được rằng: bộ mặt ăn mày của tôi hồi đó không phải vì nghèo khổ cũng chẳng phải vì là bộ dạng nhà thơ mà vì toàn bộ sức lực được tập trung cho ý chí quyết học viết. Ngay khi con đường tốt đẹp vừa ló dạng, tôi liền từ bỏ tòa nhà chọc trời và dọn đến ở khu Prado tĩnh mịch ở phía bên kia thành phố, cách nhà của Meira Delmar có hai dãy phố và cách khách sạn lịch sử nơi những gã con trai nhà giàu có vẫn nhảy múa với những người tình còn trinh của mình sau lễ Misa vào các ngày Chủ nhật chỉ có năm dãy phố. Hoặc như German đã nói: tôi bắt đầu cải tiến cho cái xấu.

Tôi sống trong nhà của ba chị em nhà Avila - Esther, Mayito và Tona - những người mà tôi đã quen ở Sucre và từ lâu đã tìm mọi cách kéo tôi ra khỏi sự hư hỏng. Thay cho những căn buồng vách ngăn bằng bìa, tôi đã có một phòng riêng với cả buồng tắm và một cửa sổ hướng ra vườn, ba bữa ăn hàng ngày với giá đắt hơn một chút so với đồng lương kéo xe bò của tôi. Tôi mua một chiếc quần và nửa tá áo sơ mi hoa hòe hoa sói sặc sỡ nên có lúc tôi bị nói sau lưng là tên đĩ đực trên tàu thủy. Những người bạn mà bấy lâu nay tôi không hề thấy mặt thì lúc này tôi được gặp ở mọi nơi. Tôi rất phấn khởi khi thấy họ đọc thuộc lòng những lời nói thiếu chín chắn ở “La Jirafa”, và họ rất yêu mến Crónica vì điều mà họ gọi là danh dự thể thao của mình và họ còn đọc các truyện ngắn của tôi dù không hiểu được chúng.

Khi được tin về những điều mới mẻ này, mẹ gửi cho tôi một lời nhắn mang đầy cá tính của bà: “Tiền lại gọi tiền”. Tôi không báo việc dọn nhà cho những người trong nhóm biết, mãi cho đến một buổi tối gặp nhau trong quán cà phê Japy, tôi mới tóm lấy công thức tuyệt vời của Lope de Vega: “Và tôi tự ra lệnh cho mình, vì điều phù hợp với việc tự ra lệnh cho mình là không tuân lệnh của mình”. Tôi không nhớ là ở sân bóng đá có những tiếng la ó như hôm đó không. German thì đánh cược là tôi sẽ không thể nảy ra một ý tứ gì ngoài căn nhà chọc trời. Theo Alvaro tôi sẽ không sống nổi với vòng xoắn ba bữa ăn một ngày, vào đúng giờ nhất định. Alfonso kịch liệt phản đối việc can thiệp vào đời tư của tôi, và hất ngay chuyện này xuống đất bằng một cuộc tranh luận về tính khẩn cấp phải đi đến quyết định triệt để đối với số phận của Crónica. Tôi nghĩ là từ đáy lòng mình, họ cảm thấy có lỗi trong việc lộn xộn của tôi nhưng họ lại quá ngây thơ để biết cảm ơn quyết định của tôi vì dù sao nó cũng đã giúp họ bớt đi một nỗi lo lắng.

Ngược với điều mà mọi người lo sợ, sức khỏe và tinh thần của tôi đã được cải thiện nhiều. Tôi đọc ít hơn vì không có nhiều thời gian, nhưng tôi đã lên giọng trong mục “La Jirafa” và cố hết sức viết tiếp Bão lá úa trong căn phòng mới với chiếc máy thô thiển được Alfonso Fuenmayor cho mượn vào những buổi nửa đêm về sáng, mà trước đây nó vẫn hoài phí với Mono Guerra. Vào những buổi chiều thông thường, trong tòa soạn báo, tôi có thể viết “La Jirafa”, một bài xã luận, một số trong vô vàn tin tức mà tôi không ký tên, cô đọng lại một truyện vụ án và viết bài vào giờ chót trước khi Crónica lên khuôn. May mắn là, thay vì mỗi ngày một dễ dãi hơn thì cuốn tiểu thuyết đang viết dở lại bắt đầu áp đặt ý kiến riêng của mình, chống lại quan điểm của tôi và tôi cũng đủ thật thà để hiểu nó như dấu hiệu của một luồng gió thuận.

Với ý chí đầy quyết tâm, tôi còn sáng tác đột xuất truyện ngắn thứ mười - “Ai đó không nghe lời những đóa hoa hồng này” - để giờ chót lấp vào ba trang trống của Crónica vốn được dành cho người bình luận chính trị bỗng bị cơn đau tim trầm trọng. Chỉ khi sửa bản in truyện ngắn của mình, tôi mới phát hiện ra rằng: lại thêm một vở kịch tĩnh lặng nữa như trước đây khi viết tôi đã không để ý. Trục trặc này khiến tôi ân hận khi đành phải đánh thức người bạn lúc gần nửa đêm để viết ngay cho tôi một bài báo trong không đầy ba tiếng đồng hồ. Cũng với tâm trạng sám hối ấy, tôi cũng ngồi viết một truyện ngắn trong từng ấy thời gian, và hôm thứ Hai, trong cuộc họp của Ban biên tập, tôi nhắc lại việc phải gấp rút đi thực tế viết những bài phóng sự xung kích nhằm kéo tạp chí ra khỏi tình trạng èo uột về nội dung. Tuy nhiên, ý tưởng này - bây giờ đã là của tất cả - một lần nữa lại bị từ chối với lý do có lợi cho hạnh phúc của tôi: nếu chúng tôi đổ ra đường phố với quan điểm điền viên thôn dã mà chúng tôi vẫn có đối với thể loại phóng sự thì tạp chí sẽ lại không ra đúng kỳ hạn - nếu như xuất bản được. - Tôi đã hiểu việc này thế là xong, nhưng không bao giờ tôi từ bỏ được ý nghĩ xấu rằng: lý do thực sự của việc từ chối này chính vì mọi người vẫn cay đắng nhớ lại bài phóng sự của tôi về cầu thủ Berascochea.

Một niềm an ủi lớn trong những ngày đó chính là cú điện thoại của Rafael Escalona, tác giả của những bài hát mà người ta đã và đang tiếp tục hát. Chiều hôm đó, khi tôi đang ngồi viết “La Jirafa” thì điện thoại réo vang, và một giọng nói như bao giọng quen thuộc của những người bạn từ thời ấu thơ, không cần rào trước đón sau đã chào tôi:

- Chào người anh em. Mình là Rafael Escalona đây.

Năm phút sau, chúng tôi đã ngồi bên nhau trong phòng riêng của quán cà phê Roma để thiết lập tình bạn cho cả đời. Ngay sau khi chào nhau, tôi đã ép Escalona hát những bài mới nhất của anh.

Những vần thơ ngắn trong giọng hát trầm bổng với tiếng gõ nhịp nhàng bằng ngón tay trên bàn. Thơ ca dân gian của quê hương trong bộ trang phục mới đi dạo chơi từng đoạn, từng đoạn. “Anh sẽ tặng em bó hoa lưu ly để nhắc em đừng bao giờ quên anh”, anh hát. Về phần mình, tôi cũng chứng tỏ với anh là nhớ thuộc lòng nhiều bài dân ca quê anh mà tôi học được từ thuở bé trên dòng sông ào ạt của truyền thống truyền khẩu. Nhưng điều làm anh ngạc nhiên nhất là nghe tôi nói về tỉnh của anh, cứ như thể là tôi ở đó lâu lắm vậy.

Mấy ngày trước trong khi đi xe buýt từ Villanueva đến Valledupar, Escalona vừa sáng tác nhẩm trong đầu nhạc và lời cho một bài hát mới, để biểu diễn trong lễ hội hóa trang vào Chủ nhật tới. Đó là một tài nghệ bậc thầy bởi vì anh không biết ký xướng âm, cũng không biết chơi bất kỳ loại nhạc cụ nào. Ở một thị trấn dọc đường, có một người nghệ sĩ hát rong lên xe cùng đàn phong cầm và ngồi cạnh Escalona. Anh đã hát nhỏ vào tai người nghệ sĩ hát rong hai đoạn đã hoàn chỉnh của bài hát mới.

Giữa đường người hát rong xuống xe và Escalona tiếp tục đi đến Valledupar, nơi anh phải nằm liệt giường vì cơn cảm sốt bốn mươi độ. Ba ngày sau là Chủ nhật lễ hội hóa trang và bài hát chưa được làm xong mà Escalona đã hát vào tai người hát rong đã đánh bạt tất cả những bài hát cũ và mới suốt từ Valledupar đến tận mũi Vela. Chỉ có anh mới biết ai là người phổ biến bài này trong lễ hội hóa trang và là người đã đặt tên cho nó: “Bà già Sara” .

Đó là chuyện có thật và điều đó cũng chẳng có gì là lạ ở vùng đất và các phường hội, nơi mà điều tự nhiên chính lại là điều kỳ lạ nhất. Những người hát rong thường hát từ làng này qua làng khác trong các lễ hội tôn giáo hoặc ngoại đạo, đặc biệt trong lễ hội hóa trang về những câu chuyện vui nhộn hoặc chỉ là chuyện đời thường. Rafael Escalona là trường hợp ngoại lệ. Là con trai của đại tá Clemente Escalona, cháu của giáo chủ nổi tiếng Celedón, đã tốt nghiệp tú tài ở trường phổ thông trung học Santa Marta, và bắt đầu sáng tác bài hát từ rất nhỏ, khiến cả nhà phát hoảng vì cho rằng hát với đàn phong cầm là nghề lao động chân tay. Anh không những là người hát rong duy nhất tốt nghiệp tú tài mà còn là một trong số rất ít người biết đọc và biết viết thời bấy giờ, và là người được quý trọng và yêu mến nhất từ trước đến nay. Nhưng anh không phải là người hát rong cuối cùng, con số này lên tới hàng trăm và càng ngày càng trẻ tuổi hơn. Trong những ngày cuối cùng của nhiệm kỳ tổng thống, Bill Clinton đã biết được điều này khi nghe một nhóm trẻ em trường tiểu học đi từ tỉnh này sang hát cho ông nghe ngay tại Nhà Trắng.

Vào những ngày may mắn đó, tôi đã tình cờ gặp Mercedes Barcha, con gái của dược sĩ ở Sucre, người mà tôi đã đặt vấn đề hôn nhân khi em mới mười ba tuổi. Khác với những lần trước đây, lần này em đã chấp nhận lời mời đi khiêu vũ của tôi vào Chủ nhật tới ở khách sạn Prado. Cho đến lúc đó, tôi mới biết là em đã cùng gia đình dọn đến ở Barranquilla vì tình hình chính trị ngày càng căng thẳng. Demetrio, cha của em, là một người thuộc phái tự do hăng hái nhất, đã không hề lo sợ trước những lời đe dọa đầu tiên khi bọn cảnh sát tăng cường các cuộc săn lùng và nhục mạ trước đám đông. Tuy nhiên, trước sức ép của những người trong gia đình, ông đành thu dọn số của nả ít ỏi còn lại ở Sucre, đến lập một cửa hàng bán thuốc tại Barranquilla bên cạnh khách sạn Prado. Mặc dù cùng tuổi với bố tôi, nhưng ông luôn giữ mối quan hệ bằng vai phải lứa với tôi - một tình bạn thường được hâm nóng trong quán rượu ở phía trước nhà và có hơn một lần cả hai chúng tôi đều say khướt, bò lê bò càng cùng đám bạn bè ở quán El Tercer Hombre.

Mercedes lúc đó đang học ở Medellín và chỉ về nhà trong dịp nghỉ lễ Giáng Sinh. Em luôn vui vẻ và thân mật với tôi, nhưng có tài ảo thuật để lẩn tránh các câu hỏi với những câu trả lời không có bất cứ một nội dung cụ thể nào. Tôi đành phải chấp nhận cách đó như là một chiến lược nhân hậu, hơn là làm mặt lãnh đạm hoặc từ chối, và tôi hài lòng với việc được thường xuyên gặp bố em và các bạn bè của ông ở căng tin trước nhà. Nếu ông không nhận ra mối quan tâm của tôi trong những ngày nghỉ lễ Giáng Sinh đầy khao khát ấy thì đó chính là điều bí mật được giữ kín nhất trong suốt hai mươi thế kỷ đầu tiên của đạo Gia-tô. Trong một vài lần ở quán El Tercer Hombre, ông khoe khoang câu mà em đã từng nói với tôi trong lần khiêu vũ đầu tiên ở Sucre: “Bố em nói rằng chàng hoàng tử sẽ cưới em vẫn chưa hiện diện”. Tôi cũng không biết chắc là em có tin điều đó hay không, nhưng em hành xử cứ như là đã tin vào điều này. Cho đến hôm gần đến lễ Giáng Sinh năm đó, em chấp nhận cho chúng tôi được gặp nhau Chủ nhật tới, trong lễ khiêu vũ buổi sáng của khách sạn Prado. Tôi rất mê tín nên tin rằng có được điều may mắn này là nhờ vào mái tóc và bộ ria mép nghệ sĩ mà tay thợ cạo đã khéo tạo cho, và cũng nhờ bộ veston vải đay thô và chiếc cà vạt lụa mua trong dịp bán đấu giá của những người Thổ Nhĩ Kỳ. Chắc là em sẽ đi với bố như mọi lần, tôi mời cả em gái Aida Rosa, đang nghỉ với tôi, cùng đi. Nhưng Mercedes xuất hiện một mình; vui tươi, khiêu vũ với vẻ tự nhiên pha chút giễu cợt nên bất cứ một lời đề nghị nghiêm túc nào đối với em lúc đó cũng trở nên lố bịch. Hôm ấy là ngày khởi đầu mùa biểu diễn của anh bạn tôi, Pacho Galán, người sáng tạo ra vũ điệu bất hủ - Merecumbé - mà người ta múa quanh năm, và là nguồn cội của bầu không khí mới ở Caribe cho đến nay vẫn còn sức sống.

Mercedes múa rất thạo các vũ điệu thời thượng và lợi dụng sự khéo léo của mình để tế nhị lẩn tránh những lời đề nghị phiền nhiễu mà tôi đưa ra. Tôi nhận thấy chiến thuật của em là làm cho tôi tin rằng em không nghĩ những đề nghị của tôi là nghiêm túc, nhưng em làm việc này khéo đến mức tôi vẫn cứ tìm cách tiếp tục.

Đúng mười hai giờ, em giật mình vì đã khá muộn và để tôi đứng như trời trồng ngay giữa điệu nhảy, cũng không cho phép tôi tiễn ra cửa. Em gái tôi cảm thấy lạ vì chuyện này nên tự thấy mình có lỗi. Cho đến hôm nay tôi còn tự hỏi không biết tấm gương xấu này có liên quan gì đến quyết định bất ngờ của em xin vào tu viện ở Medellín hay không. Từ ngày hôm đó, Mercedes và tôi đã tạo ra một mật mã riêng để hiểu nhau mà không cần nói, và thậm chí không cần gặp nhau.

Một tháng sau, ngày 22 tháng 1 năm sau, tôi lại có tin về em trong một bức điện ngắn gọn mà em gửi cho tôi ở tòa soạn El Heraldo: “Chúng giết chết Cayetano rồi”. Đối với chúng tôi, chỉ có một người mang tên ấy: Cayetano Gentile, người bạn chung của chúng tôi ở Sucre, một bác sĩ nổi tiếng, hoạt náo viên trong các buổi khiêu vũ và rất yêu nghề. Ngay lúc đó, người ta kể lại rằng ông đã bị hai người em của cô giáo trường Chaparral đâm chết bằng dao. Trong ngày hôm đó qua hệ thống điện tín, tôi đã biết đầy đủ câu chuyện.

Phản ứng lúc đó của tôi là phản ứng tự nhiên của một nhà báo. Tôi quyết định đi về Sucre để viết bài về sự kiện này, nhưng trong tòa soạn mọi người lại diễn giải chuyến đi này của tôi là vì động cơ tình cảm. Ngày ấy người Colombia chúng tôi thường giết nhau, người này có thể giết người kia vì bất cứ một lý do gì, và thỉnh thoảng chúng tôi còn bịa ra cớ để giết nhau nữa, nhưng những tội ác cá nhân thì chỉ dành cho những người giàu có ở các thành phố. Tôi thấy đây là một đề tài vĩnh cửu và bắt đầu thu thập chứng cứ. Khi mẹ phát hiện ra việc làm bí mật của tôi, bà nài nỉ tôi đừng viết thiên phóng sự này. Ít nhất là trong lúc mẹ của Cateyano, bà Julieta Chimento còn sống, vì bà là bạn trong lễ Thánh hóa, là người mẹ đỡ đầu của Hernando, đứa em thứ tám của tôi. Lý do của mẹ - không thể thiếu được trong một thiên phóng sự - rất có sức nặng. Hai đứa em của cô giáo đang đuổi theo Cateyano khi anh định trốn vào nhà mình, thì bà Julieta, lại vội đóng cửa ra vào vì nghĩ rằng con mình đang ở trong phòng ngủ. Thế là chính anh lại không thể vào nhà mình, và chúng đã giết anh bằng dao khi anh đứng dựa vào cánh cửa đóng kín.

Cảm xúc của tôi lúc ấy là muốn viết ngay một thiên phóng sự về tội ác này nhưng tôi lại gặp ngay một số trở ngại. Điều tôi quan tâm không những chỉ là tội ác này mà là đề tài văn học về trách nhiệm tập thể. Nhưng tôi lại không đưa được một lý do nào để thuyết phục được mẹ và nếu không được phép của bà mà cứ viết theo ý mình thì thật là thiếu tôn trọng lời dặn của người. Nhưng không có ngày nào mà tôi không thấy nôn nao trong lòng nỗi mong muốn được viết về chuyện này. Khi tôi bắt đầu cam chịu thì, nhiều năm sau, trong lúc chờ máy bay ở sân bay An-giê, bỗng cửa phòng chờ cho hành khách có vé hạng nhất bật mở và một vị hoàng tử Ả Rập vận chiếc áo chùng sang trọng dáng vẻ theo đúng dòng dõi hoàng tộc của mình bước vào. Trong tay ông ấy cầm một con chim ưng cái và thay vì đội mũ da của người đi săn bằng chim ưng lại đặt trên đầu chiếc mũ đính vàng và kim cương. Tất nhiên tôi nhớ ngay đến Cayetano Gentile, người đã học được từ cha những nghệ thuật săn bắn bằng chim, lúc đầu bằng chim diều hâu bản địa sau đó là các loài chim nhập từ xứ Ả Rập. Khi chết, ở trang trại của anh còn một chuồng chim ưng săn chuyên nghiệp. Hồi ấy tôi có biết cuộc phỏng vấn lịch sử mà George Plimpton thực hiện đối với nhà văn Hemingway đăng trên The Paris Review về phương pháp biến một nhân vật trong đời thực thành nhân vật trong tiểu thuyết. Hemingway đã trả lời: “Nếu tôi giải thích cách làm việc đó ra sao, và cứ như thế thì sẽ thành một sách hướng dẫn cho các luật sư chuyên về các vụ án phỉ báng”. Tuy nhiên từ sáng hôm ấy ở An-giê, trong tôi đang có sự mâu thuẫn: tôi cảm thấy không thể nào sống yên ổn nữa nếu không viết lại câu chuyện về cái chết của Cateyano.

Mẹ vẫn cương quyết ngăn cản tôi viết dù với bất cứ lý do nào, mãi đến ba mươi năm sau tấn thảm kịch, mẹ mới gọi cho tôi lúc tôi ở Barcelona để thông báo tin buồn là bà Julieta Chimento - mẹ của Cayetano vẫn không thể gượng dậy nổi vì sự vắng mặt của người con trai - đã chết. Nhưng lần này với đạo đức đã được thử thách, mẹ không còn lý do gì nữa để ngăn cản bài phóng sự.

- Chỉ có một điều trên cương vị là người mẹ, mẹ yêu cầu con phải viết về Cayetano như là con trai của mẹ - mẹ nói với tôi.

Truyện có tên gọi Ký sự về một cái chết đã được báo trước đã được đăng hai năm sau đó. Mẹ đã không đọc truyện này với một lý do, mà tôi xem đó là cái đáng quý nhất ở bà và tôi lưu giữ mãi trong bảo tàng riêng của mình: “Một chuyện xấu xảy ra ở trong đời không thể là tốt trong một cuốn sách”.

Một tuần sau cái chết của Cateyano, điện thoại trên bàn làm việc của tôi đổ chuông vào lúc năm giờ chiều khi tôi bắt đầu viết theo nhiệm vụ hàng ngày của mình cho báo El Heraldo. Bố tôi gọi. Ông vừa đến Barranquilla mà không báo trước và ông hẹn gặp tôi khẩn cấp ở quán cà phê Roma. Giọng nói căng thẳng của ông làm tôi giật mình, nhưng tôi còn hoảng hơn khi thấy ông ăn mặc luộm thuộm chưa từng thấy cùng với bộ râu không cạo, bộ quần áo màu xanh da trời nhàu nát vì đi xe và chỉ còn cái bóng dáng điềm tĩnh kỳ lạ của người chiến bại.

Tôi buồn phiền đến mức không thể truyền đạt đầy đủ nỗi đớn đau và sự minh mẫn trong lời kể của bố, về tình cảnh khốn khó của gia đình ở Sucre, chốn thiên đường của cuộc sống dễ dàng và đầy các cô gái trẻ đẹp, nay đã rung chuyển trong cơn địa chấn của bạo lực chính trị. Cái chết của Cateyano chỉ là một dấu hiệu.

- Con không thể hình dung ra cảnh địa ngục ở đó vì con đang sống ở một ốc đảo hòa bình - bố nói với tôi. - Nhưng những người chúng ta còn sống được ở nơi ấy chẳng qua là nhờ được Đức Chúa biết đến mà thôi.

Bố là một trong số ít ỏi đảng viên đảng Bảo thủ không phải lẩn trốn trước những người thuộc phái Tự do đang kích động vì sự kiện ngày mồng 9 tháng Tư, và chính những người cùng đảng đã từng núp bóng ông nay lại quay ra khinh bỉ coi ông là kẻ ôn hòa. Bố vẽ lên một bức tranh đáng sợ - và hết sức thực tế - để biện minh cho quyết định lầm lẫn từ bỏ tất cả để đưa gia đình đến Cartagena. Tôi không có lý lẽ và trái tim để chống lại quyết định của bố, nhưng nghĩ rằng có thể khuyên ông có một giải pháp bớt triệt để hơn là việc phải chuyển nhà ngay tức khắc.

Cần phải có thời gian để suy nghĩ. Hai cha con im lặng ngồi uống nước, mỗi người theo đuổi ý nghĩ riêng, và bố lấy lại được tinh thần sôi sục trước khi uống xong mà không để cho tôi nói. “Điều duy nhất an ủi bố trong lúc khó khăn này - ông thở dài nói - là niềm hạnh phúc vì con đã học xong”.

Tôi không bao giờ nói với bố mình đã xúc động thế nào vì câu nói tuyệt vời đến thế về cái sự nghiệp quá ư tầm thường của mình. Tôi cảm thấy một luồng hơi lạnh cóng chạy suốt trong bụng vì một ý nghĩ độc địa rằng việc đưa cả nhà đi nơi khác chỉ là một mẹo của bố để buộc tôi phải trở thành luật sư. Tôi nhìn thẳng vào mắt bố và thấy đó là hai điểm sáng bình lặng đến sững sờ. Tôi nhận ra rằng bố thật yếu ớt và đầy khát khao vì không thể ép và cũng không thể từ chối tôi bất cứ chuyện gì, nhưng ông có đủ niềm tin ở Thần Ý (Thiên hựu) để có thể làm tôi đầu hàng vì mệt mỏi. Và hơn nữa: với tâm hồn bị giam hãm trong sự nghèo khó ấy, ông nói với tôi là đã kiếm được cho tôi một việc làm ở Cartagena và đã chuẩn bị mọi thứ sẵn sàng để tôi đến nhận việc vào thứ Hai tuần tới. Đó là một việc làm béo bở, bố giải thích, chỉ việc có mặt mười lăm ngày một lần để lãnh lương.

Quá nhiều việc để tôi có thể tiêu hóa một lúc. Hai hàm răng nghiến chặt, tôi ngập ngừng chuẩn bị mọi ý tứ để từ chối. Tôi kể lại cuộc nói chuyện dài với mẹ trong chuyến đi về Aracataca mà chưa hề thấy ông nói gì đến, nhưng tôi hiểu sự lạnh nhạt của ông đối với đề tài này chính là cách trả lời tốt nhất. Điều đáng buồn là tôi phải chơi nước đôi, bởi vì biết rằng mình sẽ không được chấp nhận học lại ở trường đại học vì hai môn còn nợ không thi lại của năm thứ hai và ba môn không thể cứu vãn được của năm thứ ba. Tôi đã giấu gia đình chuyện này vì không muốn gây thêm nỗi buồn vô ích cho mọi người và cũng không muốn tưởng tượng xem bố sẽ phản ứng ra sao khi tôi nói thật việc này vào chiều hôm đó. Lúc đầu tôi đã quyết không lùi bước trước sự mềm yếu của con tim bởi vì tôi rất đau lòng khi một người đàn ông nhân hậu như bố lại phải để con cái thấy cảnh mình thất bại như vậy. Tuy nhiên tôi thấy hình như ông rất tin vào cuộc đời. Cuối cùng, bố trao cho tôi giải pháp dễ dàng mà tôi xin ông cho tôi một buổi tối ân huệ để tôi suy nghĩ.

- Đồng ý - bố nói - miễn là con không được quên rằng số phận của cả gia đình nằm trong tay con.

Điều kiện quá thừa. Quá hiểu sự yếu đuối của mình nên khi chia tay, đưa bố lên chuyến xe buýt cuối cùng - vào lúc bảy giờ tối - tôi phải đè nén con tim để không leo lên ngồi ở ghế bên cạnh. Đối với tôi, thế là đã khép lại một chu kỳ, cái nghèo đã quay trở lại và gia đình chỉ có thể sống sót bằng nỗ lực của tất cả mọi người.

Tối hôm đó, tôi cũng chẳng có thời gian để suy nghĩ. Cảnh sát đã dùng vũ lực đuổi các gia đình tị nạn từ các tỉnh chạy trốn bạo lực ở quê lên sống lay lắt ở công viên San Nicolas. Tuy nhiên, nền hòa bình của quán cà phê Roma là bất khả xâm phạm. Những người tị nạn Tây Ban Nha vẫn thường hỏi tôi tin tức về ngài Ramon Vinyes và tôi thường nói đùa với họ là thư từ của ông chẳng có tin gì về Tây Ban Nha mà chỉ sốt ruột hỏi về Barranquilla. Từ khi ông chết, họ không hỏi gì nữa nhưng vẫn để trống chiếc ghế trước đây ông thường ngồi. Một người cùng bàn chúc mừng tôi - và tôi không biết vì sao - vì bài trên mục “La Jirafa” nhắc đến chủ nghĩa lãng mạn mất gốc của Mariano Jose de Larra. Giáo sư Perez Domenech cứu tôi thoát sự lúng túng bằng câu nói kịp thời: “Hy vọng anh bạn không theo gương xấu của ông ta là tự cho mình một phát đạn”. Tôi tin là nếu biết điều này có thể đúng với tôi đêm hôm đó thì chắc chắn ông đã không nói như vậy.

Nửa giờ sau tôi dìu German Vargas đến góc sâu trong quán Japy. Khi mọi người nhìn thấy chúng tôi, tôi vội nói là phải đi ra ngoài hỏi chuyện gấp. Anh đứng ngang đường với tách cà phê chưa kịp uống - y như ông Ramon - và lo lắng hỏi tôi:

- Anh đi đâu đấy?

Sự sáng ý của anh làm tôi ngạc nhiên.

- Mẹ kiếp, làm sao tôi biết được! Tôi nói với anh.

Anh vẫn chưa biết nhưng đã lường trước rồi và anh cho rằng sự từ bỏ của tôi sẽ là dấu chấm hết của Crónica và một trách nhiệm nặng nề sẽ đè nặng lên tôi trong những năm tháng còn lại của cuộc đời. Anh nói cho tôi hiểu đó sẽ là một sự phản bội không hơn không kém và không ai khác hơn anh có quyền nói với tôi điều này. Không ai biết phải làm gì với Crónica nhưng tất cả chúng tôi đều hiểu rằng Alfonso đã duy trì nó trong thời điểm sinh tử với sự đầu tư vượt quá cả khả năng của anh ấy vì vậy tôi không thể nào làm cho German từ bỏ được ý nghĩ xấu rằng việc tôi phải dọn đi nơi khác sẽ là bản án tử hình đối với tạp chí này. Tôi tin chắc rằng anh biết lý do không thể từ chối được của tôi, nhưng anh vẫn phải thực hiện nghĩa vụ đạo đức là nói những điều mà anh đã suy nghĩ với tôi.

Ngày hôm sau, khi đưa tôi đến văn phòng của Crónica, Alvaro Cepeda đã bày tỏ niềm xúc động mạnh đang dấy lên trong lòng chúng tôi. Chắc là qua German anh đã biết quyết định ra đi của tôi và sự dè dặt mẫu mực của anh đã cứu cả hai chúng tôi khỏi phải nói những lời lẽ khách sáo.

- Mẹ kiếp - anh nói. - Đi Cartagena thì cũng như không. Đi thẳng đến New York như tôi trước đây thì còn được; bây giờ tôi hiểu đủ rồi đấy. Đó là một loại câu trả lời bóng gió giúp cho anh - trong những trường hợp như của tôi - nén được tiếng khóc. Tôi cũng không ngạc nhiên khi lần đầu tiên anh lại thích nói về dự án phát triển điện ảnh ở Colombia mà sau này chúng tôi sẽ tiếp tục không có hiệu quả trong suốt những năm tháng còn lại của đời mình. Anh ấy chỉ đề cập lướt qua dự án này như một vết cắt nghiêng để tôi với chút hy vọng rồi đột ngột dừng lại giữa đám đông và nhà chứa tồi tàn trên phố San Blas.

- Tôi đã nói với Alfonso - anh hét to với tôi từ cửa sổ - là bỏ mẹ cái tạp chí này đi và chúng mình phải làm một cái ngang tầm với Time!

Alfonso hiểu những lý do của tôi và tiếp nhận chúng một cách nhẹ nhàng, nhưng không để ai hiểu rằng Crónica sẽ kết liễu với việc từ bỏ của tôi. Ngược lại, anh còn khuyên tôi bình tĩnh đón nhận cuộc khủng khoảng, trấn an tôi bằng ý tưởng sẽ biến hội đồng biên tập thành một nền tảng vững chắc cho tạp chí, và anh sẽ báo cho tôi biết khi làm được điều gì đó đáng kể trong thực tế.

Đó là dấu hiệu đầu tiên cho tôi thấy rằng Alfonso đã nhận thấy khả năng vô lý là Crónica sẽ chấm dứt. Nhưng đúng là như vậy, vào ngày 28 tháng 6, sau năm mươi tám số trong mười bốn tháng, tạp chí đã đình bản không kèn không trống. Tuy nhiên, nửa thế kỷ sau tôi có ấn tượng rằng tạp chí là một sự kiện trọng đại trong nền báo chí quốc gia. Không còn một bộ sưu tập đầy đủ, chỉ có sáu số đầu tiên và một số bài được cắt ở thư viện của ngài Ramon Vinyes ở xứ Catalan.

Một sự trùng hợp may mắn là những người trong nhà tôi đang thuê ở muốn thay đổi đồ đạc ở phòng khách và đồng ý bán cho tôi với giá rẻ. Trước lúc đi, khi thanh toán tiền bạc với báo El Heraldo, họ chấp nhận ứng trước cho tôi sáu tháng tiền nhuận bút “La Jirafa”. Tôi dùng một phần tiền này để mua đồ nội thất cho căn nhà của chúng tôi ở Cartagena bởi vì biết rằng gia đình sẽ không mang đồ đạc từ Sucre và cũng chẳng có tiền mua thứ khác. Với năm mươi năm sử dụng, những đồ đạc tôi mua ngày đó vẫn được giữ gìn tốt và vẫn còn dùng được, vì mẹ là người trọng tình nghĩa nên không cho phép bán chúng đi.

Một tuần sau chuyến viếng thăm của bố, tôi đã chuyển về ở Cartagena với kiện hàng duy nhất là một ít đồ nội thất. Khác với lần đầu, lần này tôi đã biết những việc phải làm, đã quen biết tất cả những ai cần phải biết ở Cartagena, và bằng cả tấm lòng tôi mong muốn cả gia đình sống hạnh phúc, nhưng riêng tôi thì không được thoải mái lắm dường như đó là một hình phạt cho lối sống thiếu cá tính của mình.

Căn nhà tọa lạc ở một nơi thuận tiện trong khu Popa dưới bóng của tu viện lịch sử thường là điểm đến của mọi người. Những phòng ngủ và phòng tắm ở tầng dưới là dành cho bố mẹ và mười một đứa con, với tôi là con cả, hai mươi sáu tuổi, và Eligio, con út, năm tuổi. Tất cả đều được giáo dục tốt trong nền văn hóa vùng Caribe tức là nằm võng và trải chiếu dưới đất còn giường thì chỉ khi nào có chỗ kê mới mua.

Ở tầng trên có chú Hermogenes Sol, em trai của bố, và con trai của chú Carlos Martinez Simahan. Cả căn nhà không đủ chỗ cho từng ấy người, nhưng việc thuê mướn là do chú thương lượng với bà chủ mà chúng tôi chỉ biết là rất giàu có và tên là Pepa. Gia đình, với khiếu hài hước, đã nhanh chóng tìm ra cách nhớ địa chỉ theo đúng kiểu hát cuplé: “Nhà của Pepa ở cuối đường Popa”.

Ngày cả nhà đến là một kỷ niệm bí ẩn trong đời tôi. Gần nửa thành phố bị mất điện, chúng tôi cố thu xếp nhà cửa trong bóng tối để cho các em nhỏ đi ngủ. Đối với những đứa em đã lớn chúng tôi còn nhận ra nhau qua tiếng nói chứ bọn nhỏ thì thay đổi quá nhanh kể từ lần gặp trước nên những đôi mắt to thao láo và buồn bã của chúng dưới ánh sáng nến làm tôi hoảng sợ. Đồ đạc ngổn ngang nào hòm, nào túi, nào võng treo ngang dọc trong bóng tối chẳng khác gì cảnh hôm mồng 9 tháng 4 xảy ra trong nhà. Tuy nhiên, ấn tượng lớn nhất là khi tôi định chuyển chiếc bao không có hình thù rõ ràng thì đánh rơi xuống đất. Đó là hài cốt của bà ngoại Tranquilina mà mẹ đã cải táng đem đi theo để cất vào chỗ để hài cốt ở San Pedro Claver, nơi sau này sẽ để hài cốt của bố tôi và dì Elvira Carrillo.

Chú Hermogenes Sol là một người rất may mắn trong những tình huống khẩn cấp như vậy. Ông đã từng được cử làm tổng thư ký sở Cảnh sát tỉnh Cartagena và quyết định triệt để đầu tiên của chú là mở một cửa vào cơ quan quan liêu để cứu vãn gia đình. Có công việc cho tất cả mọi người. Bố được sắp xếp đảm nhiệm một chức vụ hành chính mà không có trách nhiệm chính trị gì cả. Em Luis Enrique được bổ nhiệm làm thám tử còn tôi thì được một chỗ ngồi không ăn lương trong văn phòng Điều tra dân số quốc gia do chính phủ bảo thủ lập ra có lẽ để có một khái niệm xem còn bao nhiêu địch thủ đang sống sót. Đối với tôi, cái giá đạo đức của nghề này còn nguy hiểm hơn cái giá chính trị, bởi việc cứ hai tuần một lần đến lĩnh lương một lần và không thể để cho người ta thấy mình ở văn phòng trong những ngày còn lại của tháng để tránh bị hỏi han. Lý do chính đáng để vắng mặt ở cơ quan không phải cho riêng tôi mà cho cả hàng trăm nhân viên khác là đang đi công tác ngoài thành phố.

Quán cà phê Moka, đối diện với văn phòng Điều tra dân số luôn chật cứng những nhân viên giả của các thị trấn xung quanh chỉ đến chờ lĩnh lương. Không một xu nào dành cho chi tiêu cá nhân tôi bởi vì lương tôi là nguồn thu cơ bản và đi thẳng vào ngân quỹ của gia đình. Trong khi bố cố gắng đăng ký cho tôi vào học trường luật thì đã phát hiện ra những gì mà tôi đã giấu kín. Chỉ riêng việc ông đã biết cũng làm cho tôi thấy hạnh phúc cứ như mình được trao bằng tốt nghiệp. Niềm vui của tôi còn xứng đáng hơn bởi vì trong bao nhiêu trắc trở và huyên náo như thế mà cuối cùng tôi cũng tìm được thời gian và không gian để kết thúc cuốn tiểu thuyết. Việc tất cả mọi người đều đón tôi ở tòa báo El Universal làm tôi có cảm giác như về nhà mình. Đó là vào lúc sáu giờ chiều, thời khắc tấp nập nhất, và sự im lặng đột ngột của máy in và các máy chữ khi tôi bước vào tòa soạn làm tôi nghẹn ngào. Mớ tóc kiểu người thổ dân của thầy Zabala không một phút ngơi nghỉ. Xem như là tôi chưa hề đi khỏi tòa báo, thầy Zabala đề nghị tôi viết ngay một bài xã luận đã bị chậm trễ. Người đang sử dụng máy chữ của tôi là một cậu thực tập trẻ măng bị ngã khi vội vàng đứng dậy nhường lại ghế cho tôi. Điều đầu tiên làm tôi kinh ngạc chính là sự khó khăn khi viết một bài báo không ký tên trong mục xã luận sau khoảng hai năm lăn lộn với “La Jirafa” . Tôi viết được một trang thì Tổng biên tập Lopez Escauriaza đến chào tôi. Dáng vẻ chậm chạp kiểu Anh của Escauriaza vốn quen thuộc trong các cuộc đàm đạo giữa đám bạn bè và trong các tranh biếm họa chính trị, và tôi rất ấn tượng về vẻ vui mừng của ông khi chào đón tôi bằng việc ôm hôn tôi. Khi tôi kết thúc bài viết, Zabala cầm một tờ giấy đứng chờ, đó là quyết định của Tổng biên tập về mức lương của tôi - một trăm hai mươi peso một tháng cho việc viết các bài xã luận. Tôi xúc động vì số tiền lương bất ngờ vào thời điểm đó đến mức không kịp nói lời cảm ơn mà ngồi ngay vào bàn viết liền một mạch hai bài khác với niềm hứng khởi của người có cảm giác đã phát hiện ra sự thật đúng là “Trái đất quay quanh Mặt trời”.

Như được quay về với nguồn cội. Vẫn là những đề tài được thầy Zabala chữa bằng mực đỏ, nhưng không bị cắt bỏ tí gì bởi nhân viên kiểm duyệt, vốn đã bị những mẹo vô đạo của ban biên tập đánh bại, vẫn những đêm thức đến quá nửa đêm với món bít-tết thịt ngựa ở quán La Cueva rồi lại tiếp các đề tài sắp xếp thế giới đến tận sáng bạch trên đại lộ Martires. Khi đêm tàn, với nhu cầu mạnh mẽ để trả nợ, tôi ngồi viết “La Jirafa” để gửi đến El Heraldo qua phương tiện hiện đại duy nhất thời bấy giờ là đường bưu điện thông thường.

Sống cùng với toàn bộ gia đình trong những điều kiện bất trắc không phải là quyền sở hữu của trí nhớ mà là của trí tưởng tượng. Bố mẹ ngủ trong một phòng ở tầng dưới cùng với một vài đứa em nhỏ. Bốn em gái cảm thấy đã có đủ quyền để được mỗi đứa một phòng ngủ riêng. Một phòng khác là nơi ngủ của Hernando và Alfredo Ricardo dưới sự cai quản của Jaime, người luôn đặt hai đứa em kia trong tình trạng báo động với bằng những bài thuyết giáo về triết học và toán học. Rita, lúc đó khoảng mười bốn tuổi, thường học đến nửa đêm ngay cửa ra vào dưới ánh đèn điện chiếu sáng ngoài phố để tiết kiệm điện của nhà. Em học thuộc lòng các bài bằng cách hát thật to với nét duyên dáng và giọng rất hay còn giữ được đến tận bây giờ. Rất nhiều chuyện lạ trong các cuốn sách của tôi bắt nguồn từ các bài đọc của em như là con lừa kéo cối xay, thanh sô cô la của chú bé đội mũ nhỏ xíu và người tiên tri nghiện rượu. Căn nhà càng trở nên sôi động và càng lúc càng chất thêm người kể từ nửa đêm trở đi, người thì đi vào bếp tìm nước uống hoặc đi tìm chỗ giải quyết nhu cầu thải loại chất lỏng cũng như chất rắn, hoặc chen nhau mắc võng ở độ cao khác nhau dọc hành lang. Tôi ngủ ở tầng hai với Gustavo và Luis Enrique - khi chú và con chú về ở nhà riêng của họ, - và sau này cùng với Jaime với lời cảnh báo là không được thuyết giảng gì sau chín giờ đêm. Một buổi tờ mờ sáng chúng tôi bị thức giấc suốt mấy giờ liền vì tiếng hí theo chu kỳ của con cừu mồ côi. Gustavo hốt hoảng nói:

- Giống một chiếc đèn pha.

Tôi không bao giờ quên được chuyện này bởi vì nó là một loại so sánh mà thời đó người ta thường tóm lấy khi đang bay lơ lửng trong đời thực để chuẩn bị cho cuốn tiểu thuyết sắp tới.

Đó là căn nhà sống động nhất trong số những căn nhà ở Cartagena đang ngày càng xuống cấp theo nhịp độ suy giảm tài chính của gia đình. Tìm các khu dân cư rẻ tiền hơn, chúng tôi hạ dần yêu cầu để đến sống trong ngôi nhà ở Toril, nơi đêm tối là nỗi sợ hãi của đàn bà. Tôi may mắn là không ở đó, nhưng những chuyện kể lại của bố mẹ và các em cũng làm tôi sởn tóc gáy, chẳng khác gì đã từng ở trong căn nhà này.

Đêm đầu tiên, bố mẹ ngủ chập chờn trên ghế sô-pha trong phòng khách chợt thấy một bóng đàn bà vận quần áo in hoa đỏ sặc sỡ, với mái tóc ngắn cuộn thành hai búi màu vàng sau tai, lướt qua không nhìn họ mà nhìn vào từng phòng ngủ. Mẹ tôi miêu tả lại tỉ mỉ đến từng nét vẽ trên quần áo và loại giày bà ta đi. Bố thì chối là đã không nhìn thấy bà ta để không làm vợ và các con sợ hãi thêm nữa, nhưng sự thân mật như người thân của bóng người đàn bà vẫn lướt đi lướt lại trong nhà từ lúc chiều tà thì không thể không biết. Em gái Margot chợt tỉnh giấc vào lúc rạng sáng bỗng thấy bóng người đàn bà đứng ở mép giường chằm chằm xét nét nhìn nó. Nhưng điều em Margot khiếp sợ nhất chính là cảm giác bị quan sát từ thế giới bên kia.

Chủ nhật, vừa xong lễ Misa, thì bà hàng xóm nói với mẹ tôi rằng đã lâu lắm rồi không có ai sống ở trong căn nhà đó vì bóng ma đàn bà đã có lần trắng trợn xuất hiện ngay giữa ban ngày ở phòng ăn khi cả nhà đang dùng bữa trưa. Ngay ngày hôm sau mẹ đem theo hai đứa em nhỏ đi tìm nhà khác để chuyển đi và bốn giờ sau thì tìm được nhà mới để thuê. Tuy nhiên, phần lớn các em đã không thể nào từ bỏ được ý nghĩ rằng bóng ma người đàn bà chết vẫn đi theo chúng đến tận nhà mới.

Trong căn nhà cuối phố Popa, mặc dù có nhiều thời gian nhưng nỗi khát khao được viết lớn đến mức tôi vẫn cảm thấy thiếu. Ramiro de la Espriella, đã có bằng tiến sĩ luật, bỗng xuất hiện với vẻ chính khách hơn bao giờ hết và rất phấn chấn với việc đọc các cuốn tiểu thuyết mới. Nhất là cuốn Da dẻ của Curzio Malaparte, mà những năm tháng đó đã trở thành cuốn sách thiết yếu của thế hệ chúng tôi. Hành văn trôi chảy, trí thông minh sắc sảo và quan niệm ghê sợ về lịch sử hiện đại đã cuốn hút chúng tôi đến tận sáng hôm sau. Tuy nhiên, thời gian đã chứng tỏ Malaparte là một hình mẫu hữu ích cho những phẩm chất khác với những điều mà tôi mong muốn, và cuối cùng hình ảnh của ông đã tan biến trong tôi. Nó hoàn toàn ngược lại với trường hợp của Albert Camus.

Anh em nhà De la Espriella sống gần chỗ chúng tôi và có một quầy rượu gia đình mà anh thường lấy vài chai một cách vô tư đưa sang nhà chúng tôi. Bất chấp những lời khuyên của ngài Ramon Vinyes, tôi thường đọc cho anh em nhà họ và các em tôi những đoạn dài trong bản thảo của mình còn nguyên chưa sửa chữa cắt xén và được viết trên giấy in trong những đêm không ngủ ở tòa báo El Universal.

Cũng trong những ngày đó, Alvaro Mutis và Gonzalo Mallarino cũng trở về, nhưng may mắn là tôi đã ngại ngùng không đưa họ đọc bản thảo chưa viết xong và chưa có đầu đề của mình. Tôi muốn tự giam mình trong phòng để chép lại những trang chính thức trước khi sửa chữa. Có thêm bốn mươi trang nữa so với dự kiến ban đầu, nhưng tôi chưa biết rằng đó sẽ là một vấp váp nghiêm trọng. Ngay sau đó tôi mới hiểu rằng đúng là như vậy: mình vốn là một kẻ nô lệ của sự cầu toàn nghiêm chỉnh, luôn tự ép mình phải tính toán trước độ dài của cuốn sách và số trang thật chính xác của từng chương và của toàn cuốn sách. Một sai sót đáng kể của sự tính toán này cũng buộc tôi phải xem xét lại tất cả, bởi vì một lỗi đánh máy cũng làm tôi khó chịu như một sai sót trong sáng tác. Trước đây, tôi cứ nghĩ rằng phương pháp cầu toàn này là do quan điểm thái quá của tinh thần trách nhiệm, nhưng ngày nay tôi biết đó chỉ đơn thuần là nỗi sợ hãi, sự trong sáng và tính người.

Có một lần bất chấp lời khuyên của ngài Ramon Vinyes, tôi đã gửi cho Gustavo Ibarra toàn bộ bản thảo dù chưa có tên gọi ngay sau khi tôi cho là đã viết xong. Hai ngày sau ông mời tôi đến nhà. Tôi thấy ông, da sạm nắng, thoải mái trong bộ đồ tắm biển, đang ngồi trên chiếc ghế mây trên sân thượng hướng ra biển vừa nói vừa dịu dàng xoa xoa những trang viết của tôi, việc này khiến tôi hết sức xúc động. Ông là một người thầy thực sự, nhưng không đọc cho tôi nghe một bài giảng về cuốn sách, cũng không bình luận hay hoặc dở, mà chỉ phân tích cho tôi thấy những giá trị đạo đức của nó. Cuối cùng, ông hài lòng nhìn tôi và kết luận với vẻ giản dị thường ngày:

- Đây đúng là thiên thần thoại về Antígona. (Con gái của Edipo, em của Eteocles và Polinies, người đã dẫn đường cho cha bị mù và đi vào lịch sử như biểu tượng của tình mẫu tử và cũng là tên một bi kịch của Sófocles - ND)

Qua trình bày của tôi, ông nhận ra là tôi đã cạn nguồn cảm hứng nên đã lấy từ trên giá sách một cuốn của Sófocles rồi đọc cho tôi nghe điều ông muốn nói. Tính bi kịch trong tiểu thuyết của tôi đúng về bản chất với hoàn cảnh của Antígona, bị kết án không cho chôn xác anh trai Polinices theo lệnh của vua Creonte, là chú của cả hai anh em. Tôi đã từng đọc cuốn Edip ở Colona (bi kịch của Sófocles - ND) do chính Gustavo tặng hồi chúng tôi mới quen biết nhau, nhưng tôi nhớ không kỹ lắm chuyện thần thoại về Antígona để có thể dựng lại theo trí nhớ trong khi viết về tấn bi kịch ở vùng trồng chuối và lúc đó tôi cũng không thấy được những nét tương đồng về mặt cảm xúc. Trong tâm hồn tôi lẫn lộn giữa niềm vui và thất vọng.

Tối hôm ấy, tôi đọc lại tác phẩm với niềm tự hào là mình có thiện ý trùng hợp với nhà văn vĩ đại nhưng đồng thời cũng thấy hết sức đau lòng và nhục nhã trước công chúng vì tôi là kẻ đạo văn. Sau một tuần khủng hoảng không lối thoát tôi quyết định làm một số thay đổi sâu sắc về nội dung để không làm lu mờ thiện ý của mình nhưng lúc đó tôi chưa nhận ra được sự vô tích sự đến tột cùng trong việc thay đổi nội dung cuốn sách của mình để khỏi giống với Sófocles. Cuối cùng - đành cam chịu - tôi cảm thấy mình có quyền về tinh thần được phép sử dụng một câu của ông trong lời đề tựa thành kính và tôi đã làm đúng như vậy.

Việc dọn nhà đến Cartagena kịp tránh cho cả nhà chúng tôi lâm vào cảnh tình nguy hiểm ở Sucre, nhưng phần lớn những tính toán đã trở thành ảo tưởng vì thu nhập thì quá thấp kém mà nhu cầu của gia đình thì ngày càng lớn hơn. Mẹ tôi nói rằng những đứa con của các gia đình nghèo khó thì ăn nhiều hơn và lớn nhanh hơn những đứa con của các nhà giàu có và để chứng minh điều này, bà lấy ngay ví dụ của nhà mình: Lương của tất cả chúng tôi gộp lại cũng không đủ để nuôi sống mà còn phải phấp pha phấp phổng âu lo hàng ngày.

Thời gian dần trôi, mọi chuyện cũng đi vào ổn định. Jaime, theo sự thỏa thuận của gia đình đã trở thành kỹ sư dân dụng, người duy nhất trong nhà đánh giá bằng tốt nghiệp như một danh hiệu quý tộc. Luis Enrique trở thành thầy giáo ngành thống kê, Gustavo tốt nghiệp ngành trắc địa, và cả hai tiếp tục là những nhạc công chơi đàn ghi ta và tham gia các ban nhạc hát serenata cho mọi người. Từ nhỏ Yiyo đã khiến cả nhà ngạc nhiên vì năng khiếu văn chương bộc lộ khá sớm và cũng vì cá tính mạnh mẽ.

Biểu hiện rất sớm của cá tính này chính là việc hồi mới năm tuổi, em đã bị mọi người bắt gặp đang định châm lửa đốt một tủ quần áo để được thấy nhân viên cứu hỏa đến làm việc ngay tại nhà mình. Sau đó, khi em và đứa em khác là Cuqui được bọn trẻ cùng học rủ hút thử ma túy, Yiyo đã giật bắn mình và từ chối. Ngược lại, Cuqui vốn là đứa trẻ có tính tò mò và liều lĩnh đã hít thật sâu. Những năm sau đó, khi đã ngập ngụa trong ma túy, em kể với tôi rằng ngay từ lần đầu tiên nó đã tự nhủ: “Mẹ kiếp! Trong đời ta sẽ không muốn làm gì khác ngoài việc này”. Trong bốn mươi năm tiếp theo, với nỗi đam mê không có tương lai, em không biết làm gì khác hơn là thực hiện lời hứa sẽ chết trong quy luật của mình. Ở tuổi năm mươi hai, em đã quá lạm dụng cái thiên đường giả tạo và bị một cơn đau tim đánh gục.

Nanchi - người đàn ông hòa nhã nhất trên đời - tiếp tục phục vụ trong quân đội sau khi hoàn thành nghĩa vụ quân sự, đảm nhận việc bảo quản tất cả các loại súng hiện đại và tham gia vào rất nhiều cuộc tập trận, nhưng chưa bao giờ có dịp thực sự dính vào một trong bao cuộc chiến tranh liên miên trên đất nước chúng tôi. Khi giải ngũ, em cũng hài lòng với nghề chữa cháy, trong suốt năm năm phục vụ, em không có dịp được dập tắt bất kỳ một vụ hỏa hoạn nào. Nhưng không bao giờ em cảm thấy thất vọng, và về mặt hài hước, em được cả nhà coi là bậc thầy, với tài kể chuyện tiếu lâm như người ta thở và tâm niệm rằng: được sống trên đời đã là một hạnh phúc rồi.

Yiyo sau những năm nghèo khó nhất đã trở thành nhà văn và nhà báo hoàn toàn tự lực, không đụng đến một điếu thuốc và giọt rượu nào trong suốt cuộc đời. Niềm đam mê văn học cuồn cuộn và sức sáng tạo thầm kín đã giúp em vượt qua mọi trở ngại. Em qua đời ở tuổi năm mươi tư và chỉ đủ thời gian để in được một cuốn sách hơn hai trăm trang, là một chuyên khảo tuyệt vời về cuộc sống bí mật trong Trăm năm cô đơn mà em đã cần mẫn nghiên cứu trong nhiều năm trời mà không hề cho tôi biết cũng không bao giờ nhờ tôi cung cấp bất cứ một thông tin trực tiếp nào.

Rita, ngay từ nhỏ, đã biết tận dụng bài học thận trọng của người khác. Khi trở về nhà của bố mẹ sau một thời gian dài vắng mặt, tôi đã thấy em nó cũng khổ sở như các chị vì mối tình với một anh chàng khỏe mạnh, nghiêm túc và đứng đắn nhưng có một điều không thể hòa hợp được với nó là anh chàng thấp hơn nó khá nhiều. Tối hôm ấy, thấy bố đang nằm võng nghe tin tức trong phòng ngủ, tôi vặn nhỏ radio, ngồi vào chiếc giường đối diện và hỏi thăm bố về chuyện tình cảm của Rita. Bố đã bật một câu trả lời mà chắc đã được chuẩn bị sẵn từ lâu:

- Điều bất tiện duy nhất chính là thằng đó là một tên ăn trộm.

Đúng như điều tôi chờ đợi.

- Ăn trộm cái gì hả bố? - tôi hỏi.

- Ăn trộm là ăn trộm chứ còn gì nữa - ông trả lời nhưng vẫn chưa nhìn tôi.

- Nhưng anh ta ăn trộm cái gì nào? - tôi hỏi một cách khẩn khoản.

Ông vẫn chưa nhìn tôi.

- À - ông thở dài. - Nó thì không nhưng anh nó thì bị tù vì tội ăn cắp.

- Thế thì không có vấn đề gì - tôi nói với vẻ ngây ngô dễ dãi -

bởi vì Rita không lấy tên ăn trộm mà muốn lấy anh chàng không bị tù cơ mà.

Ông không trả lời. Lòng tự trọng ghê gớm của ông đã vượt qua mọi giới hạn ngay trong câu trả lời đầu tiên, bởi vì ông cũng biết những tin đồn về người anh bị tù cũng không xác thực. Không còn lý lẽ gì hơn nhưng ông vẫn muốn bám lấy câu chuyện thần thoại về danh dự.

- Được thôi, nhưng chúng phải cưới ngay bởi vì bố không muốn chuyện yêu đương kéo dài trong nhà này đâu.

Nghe thế, tôi lập tức trả lời mà không đắn đo, cân nhắc và việc này đã khiến tôi phải luôn day dứt sau này:

- Ngày mai, từ lúc sáng sớm.

- Ấy chết! Cũng không cần phải quá nhanh như vậy - bố giật mình trả lời nhưng đã nở nụ cười đầu tiên. - Cái con bé này thậm chí còn chưa có đồ cưới để mặc cơ mà.

Lần cuối cùng tôi gặp bác gái Pa khi bà đã gần chín mươi tuổi là vào một buổi chiều nóng bức ngột ngạt. Bà đến Cartagena trên một chiếc xe taxi tốc hành với một chiếc va ly nhỏ kiểu học trò đựng toàn vải màu đen. Bà vui vẻ giang rộng hai tay đi vào nhà và kêu to lên cho mọi người nghe rõ:

- Bác đến chia tay mọi người đây vì bác sắp chết rồi.

Chúng tôi đón tiếp bác không chỉ với tư cách bác là người thân trong gia đình mà còn vì biết rõ cuộc thương lượng của bác với thần chết đã đến giai đoạn kết. Bác ở lại nhà chúng tôi nhưng chỉ chịu ngủ trong một buồng kho nhỏ và đã trút hơi thở cuối cùng trong sự thanh thản của một cụ già ở độ tuổi bách niên.

Đó là thời kỳ căng thẳng nhất ở tòa báo El Universal. Zabala với sự hiểu biết sâu sắc về chính trị đã hướng dẫn tôi viết các bài báo trình bày những điều muốn nói mà không bị rắc rối với giới kiểm duyệt và lần đầu tiên ông quan tâm đến ý tưởng của tôi khi đề xuất tôi viết các bài phóng sự cho báo. Ngay sau đó, đề tài về những du khách bị cá mập tấn công ở bờ biển Marbella xuất hiện trên báo. Tuy nhiên, điều độc đáo nhất lại là việc chính quyền quận treo giải thưởng năm mươi peso cho mỗi con cá mập bị giết, và thế là ngày hôm sau, không còn đủ cành bàng để treo các con cá mập đánh bắt được trong đêm. Hector Rojas Herazo, tức cười vì chuyện này đã viết một bài chế giễu đăng trên báo El Tiempo ở Bogota. Thế là tôi nảy ra ý định viết một thiên phóng sự về cuộc săn cá mập vào ban đêm. Zabala nhiệt tình ủng hộ tôi, nhưng tôi đã thất bại ngay từ khi bước lên tàu. Mọi người hỏi tôi có say sóng không, tôi trả lời là không; có sợ biển không, trên thực tế tôi vốn rất sợ nhưng cứ nói bừa là không cho xong; nhưng cuối cùng người ta hỏi có biết bơi không - đáng ra phải hỏi câu này đầu tiên thì mới phải - tôi không dám nói dối là biết nữa. Dù sao thì chỉ ngồi trên đất liền và qua lời kể chuyện của các thủy thủ thì tôi cũng biết được rằng những người săn cá mập đi tàu đến tận Bocas de Ceniza, cách Cartagena tám mươi chín hải lý và trở về với những khoang tàu đầy ấp cá mập vô tội, bán chúng như những tên tội phạm để lấy năm mươi peso. Tin lớn này được chấm dứt ngay trong ngày và tôi cũng mất ảo tưởng về thiên phóng sự. Thay vào đó, tôi cho in truyện ngắn thứ tám: “Nab, anh chàng da đen bắt các vị thần phải chờ đợi” . Tối thiểu cũng có hai bài phê bình nghiêm túc và các bạn học nghiêm khắc của tôi ở Barranquilla đều nhận định rằng truyện ngắn này đã có chuyển hướng tốt.

Tôi không tin là sự chín chắn về mặt chính trị của tôi đã đủ khá để có thể có những tác động tốt đến mình, nhưng đúng là tôi lại rơi vào tình trạng uể oải như lần trước. Cảm thấy bế tắc, tôi lại tìm đến thú tiêu khiển duy nhất là hát hò thâu đêm suốt sáng với đám lưu linh ở quán Bovedas vốn là nhà chứa dành cho đám lính tráng thời thuộc địa và sau đó biến thành nhà tù hắc ám giam các tù nhân chính trị. Tướng Francisco de Paula Santander từng bị giam ở đấy tám tháng trước khi bị các đồng chí của mình đày sang châu Âu.

Người gác di tích lịch sử đó là một thợ sắp chữ về hưu, ngày nào cũng tụ tập với các bạn đồng nghiệp đương chức sau khi xong việc ở các tòa báo để đón chào ngày mới với nữ thần lưu linh là rượu rum trắng, được đám ăn cắp bò lén sản xuất. Đó là những thợ in có văn hóa theo truyền thống gia đình, các nhà ngữ pháp học đáng sợ và là những con sâu rượu. Tôi đã tham gia vào hội này.

Người trẻ tuổi nhất trong hội là Guillermo Dávila đã lập kỳ tích được làm việc ở vùng bờ biển này, mặc dù một số lãnh đạo địa phương phản đối quyết liệt không chịu tiếp nhận cảnh sát làm nghề này. Có lẽ anh ta được chấp nhận vì biết vận dụng khéo léo nghệ thuật của mình bởi vì ngoài trình độ nghề nghiệp anh còn có biệt tài chinh phục cảm tình cá nhân. Anh đã khiến chúng tôi phải há hốc mồm với các trò ảo thuật kỳ lạ của mình như làm con chim bay ra từ ngăn kéo bàn viết hoặc biến bản thảo đầy chữ mà chúng tôi vừa đưa cho nhà in thành một tờ giấy trắng. Thầy Zabala tạm thời quên đi Paderewski và cuộc cách mạng vô sản của ông trong giây lát để đề nghị mọi người vỗ tay hoan hô nghệ sĩ ảo thuật nhưng với lời cảnh cáo thường xuyên “đây là lần cuối”. Đối với tôi, vui đùa với chàng nghệ sĩ ảo thuật này trong nếp sinh hoạt hàng ngày vốn buồn chán cũng là một cách phát hiện ra thực tế.

Một lần trong những đêm hát xướng thâu đêm suốt sáng ở Bovedas, Dávila đã kể với tôi về ý tưởng cho ra một tờ báo cỡ nửa tờ giấy in để phát hành không thu tiền vào buổi chiều đúng lúc các hiệu buôn đóng cửa với khách hàng đông nghịt. Đó sẽ là tờ báo bé nhất thế giới, có thể đọc xong trong vòng mười phút. Và đúng như vậy, nó được đặt tên là Comprimido (Bị nén), được tôi viết chỉ trong một giờ vào lúc mười một giờ trưa, được Dávila xếp chữ và in ấn trong hai giờ và được một anh chàng bán báo liều lĩnh phân phát không kịp thở và chỉ kịp rao có một lần duy nhất.

Tờ báo này ra mắt vào thứ Ba ngày 18 tháng Chín năm 1951 không ai có thể hình dung trước về thắng lợi áp đảo đến chóng mặt của nó: Ba số trong ba ngày. Dávila tâm sự với tôi là không thể có một tiết mục ảo thuật nào có thể sinh ra một ý tưởng vĩ đại và với giá thành thấp như vậy, nó chiếm một lượng giấy quá ít ỏi, được hoàn thành trong một thời gian quá ngắn và cũng biến mất quá nhanh chóng. Có điều lạ là: vào một phút giây bất chợt trong ngày thứ Hai, đang tận hưởng cảm giác sung sướng vì cảnh chụp giựt tờ báo ở ngoài đường và sự nồng nhiệt đón chào của những người ái mộ, tôi bỗng nhận ra rằng: giải pháp cho cuộc đời mình cũng có thể chỉ đơn giản vậy thôi. Giấc mơ kéo dài đến thứ Năm khi viên quản lý chứng minh với chúng tôi rằng nếu ra thêm một số nữa thì sẽ bị phá sản dù có nhận đăng thêm quảng cáo thương mại vì tờ báo phải thật bé và tốn kém nên không thể có một giải pháp hợp lý. Quan niệm này về việc xuất bản báo, tức là dựa trên kích thước của nó, đã cho tôi hiểu rằng mầm mống toán học của sự tàn lụi chính là: báo in càng vượt quá khả năng tài chính bao nhiêu thì càng dễ bán bấy nhiêu.

Việc dọn nhà đến Cartagena thật đúng lúc và hữu ích sau kinh nghiệm ở tờ tuần báo Crónica, và ngoài ra còn cho tôi một bầu không khí rất thuận lợi để viết tiếp cuốn Bão lá úa, nhất là trong cơn sốt sáng tạo đang ngự trị ở nhà chúng tôi, nơi điều kỳ lạ nhất hình như vẫn có thể xảy ra. Có lần trong một bữa ăn trưa, lúc tôi ngồi nói chuyện với bố về khó khăn của nhiều nhà văn khi viết hồi ký vì trí nhớ làm việc không hiệu quả thì Cuqui, mới sáu tuổi, đã đưa ra một kết luận giản dị với giọng hệt như một ông thầy:

- Thế thì điều đầu tiên mà một nhà văn cần là viết hồi ký ngay khi còn nhớ đủ mọi chuyện.

Tôi không dám thừa nhận rằng chuyện xảy ra với Bão lá úa cũng giống như với Ngôi nhà, tôi bắt đầu quan tâm tới kỹ thuật hơn là đề tài. Sau một năm làm việc hăng say tôi bỗng thấy mình đi vào mê lộ vòng tròn không lối vào mà cũng chẳng lối ra. Cho đến hôm nay thì tôi tin là mình đã biết nguyên nhân tại sao. Khuynh hướng viết phong tục tập quán (costumbrismo) đã mang lại nhiều đổi mới trong giai đoạn đầu nhưng đến lúc đó lại chôn vùi những đề tài lớn mang tầm cỡ quốc gia đang muốn mở lối thoát khẩn cấp. Không thể chịu đựng nổi cảnh mập mờ thêm một phút nào nữa, tôi còn phải xác minh thêm số liệu và quyết định bút pháp trước khi đặt dấu chấm hết, tuy nhiên tôi vẫn chưa cảm thấy dễ thở được. Nhưng càng lún quá sâu vào bãi lầy bế tắc sau bao nhiêu lâu làm việc trong đám sương mù tôi càng lo lắng không còn biết đâu là chỗ sơ hở của cuốn sách. Điều tệ hại hơn nữa là tôi không thể nhờ ai giúp đỡ bởi vì vết nứt không ở trên những trang viết mà ở trong đầu tôi, và chỉ có tôi mới có thể nhìn thấy chúng và có trái tim để đau khổ vì chúng mà thôi. Có lẽ vì lý do đó mà tôi không suy nghĩ gì nhiều khi quyết định chấm dứt “La Jirafa” sau khi đã hoàn trả xong món nợ tiền ứng trước của báo El Heraldo để mua sắm vật dụng gia đình.

Đáng tiếc là tài năng, sức chịu đựng và cả tình yêu nữa cũng không đủ để đánh bại cái nghèo. Cơ quan điều tra dân số đã chấm dứt hoạt động sau một năm và lương của tôi tại tòa báo El Universal không bù đắp nổi. Tôi không thể trở lại trường luật mặc dù một số giáo viên cũ vẫn cố thuyết phục tôi. Thu nhập của tất cả chúng tôi không đủ trang trải chi tiêu trong nhà, nhưng khoảng trống lớn đến mức những đóng góp của tôi không bao giờ đủ cả và sự thiếu ảo mộng còn khiến tôi khổ sở hơn là thiếu tiền.

- Nếu tất cả chúng ta đều bị chết đuối - tôi nói trong buổi ăn trưa vào một ngày quyết định - thì bố mẹ hãy để con tự cứu lấy mình rồi tìm cách gửi cho cả nhà dù chỉ là một chiếc thuyền con có mái chèo.

Thế là trong tuần lễ đầu tiên của tháng Mười hai, mọi người đành chấp thuận cho tôi lại dọn đến Barranquilla với hy vọng là chiếc thuyền con sẽ đến với gia đình. Alfonso Fuenmayor hẳn phải ngạc nhiên lắm khi thấy tôi ló mặt không báo trước ở tòa soạn cũ của El Heraldo, bởi vì Crónica đã đình bản vì hết tiền. Từ phía sau máy đánh chữ, ông nhìn tôi như thấy một bóng ma và thảng thốt kêu lên:

- Mẹ kiếp, cậu đến đây làm gì mà không báo trước vậy?

Có rất ít lần trong đời tôi phải trả lời gần với sự thật như lần này:

- Tôi đang bết đến tận xương tủy, thưa thầy.

Alfonso cảm thấy an tâm.

- À, tốt thôi! - ông nói với tình cảm như mọi khi và thêm vào một câu thơ lấy trong bài quốc ca Colombia. - Cũng may, toàn nhân loại đều là như vậy, đang rên xiết trong xích xiềng.

Ông không biểu lộ một tí ti tò mò nào về nguyên nhân chuyến đi của tôi. Hình như ông cảm thấy may mắn khi có mối thần giao cách cảm với tôi, bởi vì suốt mấy tháng qua, hễ có ai hỏi về tôi, ông đều trả lời rằng tôi sẽ đến và ở lại đây chỉ trong nay mai thôi. Ông vui vẻ đứng dậy, mặc áo khoác vào bởi vì việc tôi như trên trời bất ngờ rơi xuống làm ông bị trễ hẹn nửa tiếng đồng hồ và cũng chưa viết xong bài xã luận cho số báo ngày hôm sau. Ông đề nghị tôi viết nốt. Tôi chỉ kịp hỏi ông đề tài là gì, ông vội vã trả lời tôi từ ngoài hành lang với giọng thân mật của những người bạn:

- Ông đọc đi rồi sẽ thấy.

Ngày hôm sau, lại có hai chiếc máy chữ đối diện nhau trong tòa soạn báo El Heraldo, và tôi lại tiếp tục viết “La Jirafa” cho trang chuyên mục thường xuyên. Và tất nhiên với giá như cũ. Trong những điều kiện riêng giữa Alfonso và tôi, nhiều bài xã luận có đoạn của ông có đoạn của tôi, không thể nào phân biệt được. Một số sinh viên khoa báo chí hoặc văn học khi nghiên cứu trong tài liệu lưu trữ đã muốn phân biệt rạch ròi giữa hai người nhưng không thể nào làm được, chỉ trừ những đề tài cụ thể nhưng không phải là vì phong cách mà vì trình độ văn hóa.

Tôi lại quay về nhà của chị em Avila. Meira Delmar, một lần nữa lại là hàng xóm, tiếp tục làm trong sạch hóa những đêm quậy phá của tôi ở quán El Gato Negro với những buổi dạ hội yên bình. Cô ấy và em gái Alicia như hai chị em sinh đôi cùng một loại tính cách và cùng có tài biết biến thời gian mà chúng tôi ở bên họ thành một vòng xoáy tròn. Họ vẫn ở trong nhóm theo một cách rất đặc biệt. Ít nhất một năm một lần, hai chị em lại mời chúng tôi đến những bàn tiệc với các món Ả Rập tuyệt ngon làm bổ dưỡng cho tâm hồn chúng tôi, và ở nhà thì đã chuẩn bị sẵn những buổi dạ hội bất ngờ với những người khách nổi tiếng, từ những nghệ sĩ vĩ đại thuộc đủ loại hình nghệ thuật đến các nhà thơ lập dị. Tôi thấy hình như chính hai chị em nhà này và nhạc sĩ Pedro Viaba đã lập lại trật tự cho thú đam mê âm nhạc lệch lạc của tôi và đưa tôi hòa nhập vào nhóm hạnh phúc của trung tâm nghệ thuật.

Đến bây giờ, tôi nhận thấy Barranquilla đã cho cuốn tiểu thuyết Bão lá úa một triển vọng tốt hơn, vì vừa mới có bàn làm việc cùng chiếc máy đánh chữ là lập tức tôi lao vào việc sửa chữa bản thảo với tinh thần hăng say mới mẻ. Những ngày đó, tôi đã mạnh dạn đưa cho nhóm bản nháp đầu tiên có thể đọc được dù biết rằng nó chưa phải đã viết xong. Trước đây, chúng tôi đã nói quá nhiều về cuốn tiểu thuyết này nên bất cứ một lời cảnh báo nào cũng bằng thừa mà thôi. Suốt hai ngày liền, Alfonso ngồi viết trước mặt tôi mà không nhắc một lời nào đến cuốn sách. Đến ngày thứ Ba, sau khi chúng tôi đã làm xong việc vào cuối buổi chiều, ông mới đặt lên bàn cuốn bản thảo đã mở và đọc đoạn đã được đánh dấu. Hơn cả lời phê bình, đó như là việc dò tìm những đoạn rời rạc không hợp lý và sửa chữa phong cách. Những nhận xét của ông đều đúng nên tôi đã tiếp thu hết, trừ ý kiến cho rằng cuốn sách thuộc kiểu “dựng tóc gáy” kể cả khi tôi đã giải thích rằng đó chính là chuyện thực trong thời niên thiếu của chính tôi.

- Thậm chí hiện thực cũng bị nhầm lẫn khi văn học trở nên dở tệ - ông bật cười nói.

Theo German Vargas, nếu bản thảo đã tốt rồi thì không cần có bình phẩm gì mà chỉ nên đưa ra một khái niệm trấn an mà thôi và thế nên ông đã thốt lên:

- Tuyệt hết ý!

Nhưng những ngày tiếp theo, ông tiếp tục đưa ra một số ý kiến về cuốn sách để cuối cùng trong một đêm quá chén nào đó sẽ nêu lên một đánh giá rất xác đáng. Nếu nhận thấy bản thảo chưa tốt, ông sẽ hẹn riêng tác giả ra một chỗ khác và nói điều đó một cách thẳng thắn và lịch duyệt đến mức văn sĩ học việc chỉ còn biết nói lời cảm ơn từ đáy lòng mình dù thực tình muốn bật khóc. Nhưng đó không phải là trường hợp của tôi. Trong một ngày ít nghĩ đến nhất, German nửa đùa nửa thật đưa ra một lời bình về cuốn bản thảo của tôi để trả hồn tôi về với thân xác.

Còn Alvaro thì biến khỏi quán Japy không để lại một dấu vết nào hết. Gần một tuần lễ sau, lúc tôi ít chờ đợi nhất thì thấy anh ngồi trên xe ô tô chắn ngang lối đi của tôi trên đại lộ Bolivar và hét toáng lên để gọi tôi:

- Thầy ơi, mau lên xe để tôi chọc cho một trận vì tội ngu.

Đó là một câu nói khiến tôi vô cùng bực bội và xuống tinh thần. Chúng tôi cho xe chạy lòng vòng trong khu trung tâm thương mại trong cái nóng như điên như dại của mùa hè, trong khi Alvaro nói oang oang những phân tích chủ yếu là cảm tính nhưng rất ấn tượng về bản thảo mà anh đã đọc. Anh chỉ ngừng lại khi thấy một người quen đi trên vỉa hè để hét một lời chào hoặc một câu bông đùa rồi lại tiếp tục những lời bàn sôi nổi với giọng nói cất cao vì cố gắng với mái tóc rối tinh vì gió và đôi mắt lệch pha như nhìn tôi qua song sắt nhà tù toàn thị (panoptico). Chúng tôi kết thúc bằng những ly bia ướp lạnh trên sân thượng của quán Los Almendros trong tiếng la hét của các cổ động viên hai đội bóng Junior và Sporting đang cãi nhau ở lề đường đối diện và cuối cùng chúng tôi bị chìm trong đám đông - trong tâm trạng bực bội vì tỷ số hòa hai đều không xứng đáng - đang ào ra khỏi sân vận động. Phán xét cuối cùng về cuốn bản thảo của tôi được Alvaro hét cho tôi nghe qua cửa kính của chiếc xe ô tô vào phút cuối cùng:

- Dù thế nào đi nữa thì ở thầy vẫn còn nhiều ảnh hưởng của khuynh hướng costumbrismo!

Vô cùng biết ơn, tôi cố hét thật to cho anh nghe:

- Nhưng cả những điều hay của Faulkner nữa!

Và anh đã đặt dấu chấm hết cho tất cả những gì chưa nói và chưa nghĩ đến với tiếng cười giòn tan hết sức ấn tượng:

- Nhưng đừng là con đĩ đấy nhá!

Năm mươi năm sau, mỗi lần nhớ đến buổi chiều hôm đó, tôi lại nghe thấy tiếng bật cười giòn giã như những hòn đá lăn trên đường phố bốc lửa.

Tôi biết rõ là cả ba đều thích một cách dè dặt cuốn tiểu thuyết này, nhưng đã không viết ra có lẽ vì họ cho rằng đó là một việc dễ dàng. Không ai nói đến chuyện xuất bản cuốn sách, điều này cũng rất riêng của họ vì có quan niệm cho rằng cái quan trọng là phải viết cho hay còn việc còn lại là chuyện của các nhà xuất bản.

Tức là: một lần nữa tôi lại đến Barranquilla của mình, nhưng cái rủi của tôi chính là ý thức cho rằng lần này mình không còn hứng thú gì để duy trì “La Jirafa”.

Trên thực tế, nó đã giúp tôi hoàn thành nghĩa vụ một công cụ hàng ngày để học viết từ số không với sự nhẫn nại và tham vọng nồng cháy được trở thành một nhà văn khác hẳn mọi người. Rất nhiều lần tôi đã bất lực trước đề tài và đã thay đổi nó khi vẫn còn cảm thấy rộng đường. Dù sao đi nữa thì đó cũng là bài tập thể dục cơ bản cho quá trình trở thành nhà văn của tôi, với niềm tin chắc chắn rằng nó cũng chỉ là nguồn cung cấp thực phẩm không đòi hỏi một cam kết lịch sử lâu dài về sau.

Chuyện tìm đề tài hàng ngày khiến tôi cảm thấy cay đắng trong những tháng đầu tiên. Nó không cho tôi có thời gian làm việc gì khác, mất thời gian trong việc nghiền ngẫm những tờ báo khác, ghi chép lại các cuộc nói chuyện riêng tư, đi lạc vào những tưởng tượng vốn liên tục quấy phá giấc ngủ cho đến khi tôi trở về thực tế. Trong cái ý nghĩa này, kinh nghiệm hay nhất của tôi chính là việc một chiều nọ từ cửa kính xe ô tô tôi nhìn thấy mấy chữ đơn giản viết trên cửa ra vào một căn nhà: “Bán những cây cọ tang tóc”.

Ý định đầu tiên của tôi là gõ cửa nhà đó để xác minh những số liệu về sự phát hiện này, nhưng sự dè dặt đã cản bước chân tôi. Chính cuộc sống đã dạy tôi rằng, một trong những bí quyết hữu ích nhất để viết văn tức là học đọc những bí ẩn của thực tế mà không cần gõ cửa nào để hỏi gì cả. Tôi càng nhận rõ hơn điều này khi đọc lại trong mấy năm gần đây hơn bốn trăm bài “Jirafa” đã được in và so sánh nó với một số tác phẩm văn học có cùng nguồn gốc.

Trong dịp lễ Giáng Sinh, cả Ban lãnh đạo tờ El Espectador : từ Tổng biên tập Gabriel Cano cùng với các con trai: Luis Gabriel, Quản trị trưởng, Guillermo, lúc đó là Phó tổng biên tập, Alfonso, Phó quản trị và Fidel, em út đang học việc, đến nghỉ ở thành phố này. Cùng đi với họ còn có Eduardo Zalamea, Ulises, người có vai trò đặc biệt đối với tôi vì đã in truyện ngắn của tôi và viết bài giới thiệu. Họ có thói quen là cả nhóm cùng đi hưởng tuần lễ đầu tiên của năm mới ở khu nghỉ mát Pradomar, cách Barranquilla mười dặm, nơi mà họ sẽ tấn công chiếm giữ các quán rượu. Điều duy nhất mà tôi còn nhớ tương đối chính xác là bản thân Ulises đã gây cho tôi rất nhiều điều bất ngờ. Tôi vẫn thường thấy ông hồi ở Bogota, lúc đầu là ở quán El Molino, những năm sau ở El Automatico, và thỉnh thoảng trong những cuộc đàm đạo của thầy De Greiff. Tôi vẫn nhớ đến ông như một người khó gần và có giọng nói vang như tiếng đồng, loại người mà tôi đã rút ra kết luận là hay cáu bẳn nhưng cũng đúng là người nổi tiếng trong giới độc giả ở trường đại học. Bởi vậy, đã nhiều lần tôi cố lẩn tránh ông để khỏi lây cái hình ảnh mà tôi tự nghĩ ra để mình dùng riêng. Nhưng tôi đã lầm. Đó là một trong những người chân tình và dễ gần, tử tế nhất mà tôi còn nhớ đến, mặc dù tôi cũng hiểu là cần phải có lý do đặc biệt về trí óc hoặc trái tim. Thể xác con người của ông không giống tí gì với ông Ramon Vinyes, Alvaro Mutis hoặc Leon de Greiff, nhưng giữa họ có điểm giống nhau là khả năng bẩm sinh làm thầy giáo bất cứ giờ nào và có cái may lạ lùng là đều đã đọc hết tất cả những cuốn sách mà mọi người cần phải đọc.

Anh em nhà Cano - Luis Gabriel, Guillermo, Alfonso và Fidel - đã trở thành những người bạn thân của tôi khi tôi làm biên tập viên của tờ El Espectador. Sẽ rất dễ sợ nếu tìm cách nhớ lại một số mẩu đối thoại trong những cuộc nói chuyện mà tất cả đều chống đối nhau trong những đêm ở Pradomar, nhưng không thể nào quên được sự kiên trì đến dễ sợ của họ trong căn bệnh mê nghề báo và nghề văn. Họ cũng nhận tôi là thành viên của nhóm, như là một nhà viết truyện ngắn do họ phát hiện ra, kết nạp vào nhóm và viết vì họ. Tôi không nhớ - vì người ta nói quá nhiều - có ai trong họ đã gợi ý là tôi về làm việc với họ hay không. Nhưng tôi cũng không hối tiếc vì điều này bởi vào thời khắc khó khăn đó, tôi không hề có một ý tưởng nhỏ nhoi nào về số phận tương lai của mình mà cũng chẳng ai cho cái gì để lựa chọn.

Alvaro Mutis, nổi hứng lên vì nhiệt tình của anh em nhà Cano, đã quay lại Barranquilla khi vừa được bổ nhiệm chức vụ Trưởng phòng quan hệ công chúng của Esso Colombia và tìm mọi cách lôi kéo tôi về làm việc với anh ta ở Bogota. Tuy nhiên, nhiệm vụ thực sự của anh lần đó lại bi đát hơn nhiều: do sai lầm chết người của một trong những đại lý của hãng ở địa phương đã bơm đầy kho xăng sân bay không phải bằng xăng nhẹ cho máy bay mà bằng xăng cho ô tô và tất nhiên một chiếc máy bay bị tiếp nhầm loại xăng đó thì chẳng bay được đến đâu. Nhiệm vụ của Mutis là phải sửa chữa sai lầm đó trong điều kiện bí mật hoàn toàn trước khi trời sáng và không để cho nhân viên sân bay phát hiện ra, càng không thể cho cánh nhà báo được biết. Nhiên liệu đã được thay đổi tốt trong thời gian bốn tiếng đồng hồ nói chuyện bằng rượu whisky ở một phòng hẹp trong sân bay. Chúng tôi có thừa thời gian để nói về đủ thứ chuyện, nhưng đề tài ngoài sức tưởng tượng của tôi chính là về việc nhà xuất bản Losada ở thủ đô Buenos Aires của Argentina có thể in được cuốn tiểu thuyết mà tôi sắp viết xong. Alvaro Mutis biết được điều này thông qua đại diện mới của nhà xuất bản ở Bogota, Julio Cesar Villegas, cựu Bộ trưởng Chính phủ Peru mới sang sống lưu vong ở Colombia.

Tôi nhớ là trước đó tôi chưa bao giờ có một niềm xúc động mạnh mẽ như vậy. Losada là một trong những nhà xuất bản tốt nhất ở Buenos Aires, vốn đã lấp đầy khoảng trống xuất bản do cuộc nội chiến ở Tây Ban Nha gây ra. Nhà xuất bản này đã cung cấp thức ăn tinh thần hàng ngày cho chúng tôi bằng những ấn phẩm mới, hay và lạ, và chúng tôi cũng đã kịp đọc hết chúng. Những người phát hành đã chuyển rất đúng hẹn những cuốn sách mà chúng tôi đã đặt hàng và chúng tôi đã nhận được chúng như những món quà hạnh phúc. Chỉ nghĩ đến chuyện một trong các nhà xuất bản đó sẽ in cuốn Bão lá úa, lòng tôi không khỏi xao xuyến lạ thường. Vừa tiễn Mutis lên chiếc máy bay đã được tiếp nhiên liệu đúng chủng loại, tôi đã vội chạy ngay về tòa báo để rà soát một cách kỹ lưỡng các trang bản thảo.

Trong những ngày tiếp theo tôi đã toàn tâm toàn ý xem xét lại bản thảo với ý nghĩ không khéo cơ hội có thể vuột khỏi tay mình. Tất cả chỉ có một trăm hai mươi trang đánh máy nhưng tôi đã tốn biết bao công sức sửa chữa, thay đổi và sáng tạo thêm đến mức tôi cũng chả còn biết nó sẽ hay hơn hay tệ hơn trước. German và Alfonso đã đọc lại những phần bị phê phán nhiều nhất và đã tỏ ra tốt bụng khi không nói với tôi những lời cảnh cáo không thể thu hồi lại được. Trong tình trạng khao khát như vậy, tôi đã xem xét lại bản nháp cuối cùng và tỉnh táo quyết định là chưa xuất bản vội. Trong tương lai, điều này sẽ trở thành căn bệnh. Chỉ khi nào cảm thấy thật sự hài lòng với một cuốn sách vừa viết xong, tôi mới có ấn tượng là mình không thể viết cuốn khác hay hơn được nữa.

Không biết nguyên nhân tại sao tôi lại chậm trễ như vậy, Alvaro Mutis liền bay ngay về Barranquilla để lấy cuốn bản thảo duy nhất đã được hoàn chỉnh mang đi gửi sang Buenos Aires mà không để cho tôi đọc lại lần cuối. Lúc đó, chưa có máy sao y thương phẩm và tôi chỉ còn lại bản thảo đầu tiên được sửa chữa bằng nhiều thứ mực khác nhau để khỏi nhầm lẫn. Tôi đã vứt nó vào sọt rác và không cách nào bình tâm lại trong suốt hai tháng trời dài dằng dặc chờ đợi sự trả lời của nhà xuất bản.

Hôm ấy, ở tòa báo El Heraldo, người ta đưa cho tôi một bức thư trong đống giấy tờ của viên thư ký tòa soạn. Biểu tượng của nhà xuất bản Losada de Buenos Aires ở ngoài phong bì làm tim tôi lạnh cứng, nhưng tôi còn đủ khôn ngoan để không bóc thư ở đó mà vội vã về phòng riêng của mình mới làm việc này. Nhờ vậy mà không có nhân chứng nào thấy cảnh tôi đã đau khổ và thất vọng đến thế nào khi đọc mẩu tin ngắn ngủi rằng Bão lá úa đã bị từ chối. Tôi không cần phải đọc toàn bộ lời phán xét để cảm thấy cú sốc tàn bạo khiến tôi chỉ muốn chết ngay lúc đó.

Bức thư là bản kết luận cuối cùng của ông Guillermo de Torre, Chủ tịch hội đồng xuất bản với một số lý lẽ giản dị chứa đựng cách nói, cách nhấn mạnh của người da trắng xứ Castilla của Tây Ban Nha. Điều an ủi duy nhất là lời nhận xét cuối cùng khá bất ngờ: “Phải thừa nhận rằng tác giả có năng khiếu tuyệt vời của người quan sát và sự tinh tế của một nhà thơ”. Tuy nhiên, đến tận hôm nay tôi vẫn còn ngạc nhiên rằng: ngoài sự hoảng sợ và hổ thẹn lúc đó, tôi vẫn nhận thấy rằng: những lý lẽ phản đối chua xót nhất ấy rất thích hợp.

Tôi không sao chép lại và cũng không hề biết bức thư đó nó ở đâu sau mấy tháng được chuyền tay trong đám bạn bè ở Barranquilla, những người đã vận dụng tất cả mọi lý do thích hợp nhất để an ủi tôi. Khi tôi tìm cách kiếm được một bản sao làm tư liệu cho cuốn hồi ký này - năm mươi năm sau - đúng là người ta đã không lần ra một dấu vết nào của nó trong hồ sơ tư liệu của nhà xuất bản ở Buenos Aires. Tôi không nhớ là liệu bức thư này có được đăng báo hay không, mặc dù tôi không hề có ý định như vậy, nhưng tôi biết là mình phải cần một thời gian khá lâu để có thể lấy lại tinh thần sau khi đã nói năng bừa bãi và viết một số bức thư phàn nàn đầy vẻ cáu giận mà báo chí đã đăng dù không được tôi cho phép. Sự thất lễ này gây cho tôi nỗi buồn rất lớn, bởi vì, phản ứng cuối cùng của tôi là tận dụng những điều hữu ích của bản kết luận để sửa chữa tất cả những gì có thể sửa được theo quan điểm của mình và tiếp tục tiến lên.

Niềm động viên tốt nhất đối với tôi lúc ấy là những ý kiến của German Vargas, Alfonso Fuenmayor và Alvaro Cepeda. Tôi gặp Alfonso ở một nhà trọ trong khu chợ nơi ông phát kiến ra một ốc đảo để đọc sách giữa bầu không khí buôn bán tấp nập. Tôi hỏi ý kiến ông xem có nên giữ nguyên cuốn tiểu thuyết như cũ hay phải viết lại theo một kết cấu khác, bởi vì tôi cũng cảm thấy rằng phần thứ hai đã đánh mất sự căng thẳng của phần thứ nhất. Alfonso sốt ruột nghe tôi nói và đưa ra ngay một phán quyết:

- Thầy xem nhé - anh nói với tôi với tất cả giọng điệu của một bậc thầy - Guillermo de Torre là người đáng kính như ông ấy vẫn tự tin như vậy, nhưng tôi thấy ông ta đã không hiểu cặn kẽ tình hình phát triển của tiểu thuyết hiện nay.

Trong một buổi nói chuyện tầm phào khác vào những ngày đó, tôi đã cảm thấy được an ủi khi biết rằng trước đó chính Guillermo de Torre cũng đã từ chối bản thảo tập thơ Cư trú trên Trái đất của Pablo Neruda, năm 1927. Fuenmayor nghĩ rằng số phận của cuốn tiểu thuyết của tôi có thể khác đi nếu người đọc là Jorge Luis Borges, nhưng ngược lại thất bại sẽ còn tồi tệ hơn nếu bị ông từ chối.

- Thế thì đừng nghĩ vớ nghĩ vẩn nữa - Alfonso kết luận. - Tiểu thuyết của ông vốn hay như bọn tôi nhận xét, và điều duy nhất ông phải làm ngay từ bây giờ là tiếp tục viết.

German - trung thành với cá tính điềm tĩnh của mình - đã gia ơn cho tôi là không nói quá lời. Ông nghĩ rằng cuốn tiểu thuyết không dở đến mức không thể xuất bản được ở một châu lục mà thể loại tiểu thuyết đang rơi vào khủng khoảng, nhưng cũng không hay đến mức phải gây nên một vụ xì căng đan tầm cỡ quốc tế để dẫn đến kết quả là người thua cuộc chắc chắn là tác giả mới toanh và vô danh. Alvaro Cepeda tóm tắt đánh giá của Guillermo de Torre bằng một đánh giá khác của mình qua ngòi bút chì thân vẽ đầy hoa:

- Chẳng qua là người Tây Ban Nha rất ngu muội.

Lúc tôi nhận ra rằng mình không còn một bản thảo sạch sẽ nào của cuốn tiểu thuyết thì nhà xuất bản Losada, thông qua ba hoặc bốn trung gian, thông báo cho tôi biết là họ có nguyên tắc không trả lại bản thảo. Rất may là Julio Cesar Villegas đã kịp sao lại một bản trước khi gửi đi Buenos Aires, và ông đã gửi lại cho tôi. Tôi bắt đầu công việc sửa chữa lần nữa trên cơ sở các kết luận của bạn bè. Tôi cắt bỏ đoạn dài trong đó nhân vật chính đứng nhìn từ phía hành lang đầy cây thụ hải đường trong cơn mưa rào kéo dài ba ngày, mà sau này tôi đã viết thành truyện ngắn “Độc thoại của Isabel nhìn mưa ở Macondo” . Tôi cắt bỏ đoạn đối thoại vô tích sự giữa người đàn ông và viên đại tá Aureliano Buendía trước khi xảy ra vụ tàn sát ở công ty trồng chuối, và ba mươi trang đã làm rối rắm thêm về hình thức và nội dung cấu trúc nhất quán của cuốn tiểu thuyết. Gần hai mươi năm sau, khi tôi đã tưởng quên đứt đoạn văn này, thì chính nó lại giúp tôi duy trì bầu không khí nhớ nhung bàng bạc bao trùm từ đầu đến cuối cuốn Trăm năm cô đơn.

Khi tôi sắp hồi phục khỏi đòn đau này thì bỗng báo chí đưa tin rằng cuốn tiểu thuyết Chúa Ki Tô phía sau lưng của Eduardo Caballero Calderon tác giả người Colombia đã được nhà xuất bản Losada chọn để in thay cho cuốn của tôi. Đó là một sự hiểu lầm hay sự thật trong một mưu đồ xấu, bởi vì không hề có một cuộc thi nào cả mà chỉ là chương trình của nhà xuất bản Losada muốn thâm nhập vào thị trường Colombia bằng cách in tác phẩm của các tác giả Colombia, và cuốn tiểu thuyết của tôi không bị từ chối trong một cuộc cạnh tranh với cuốn khác mà chỉ là vì ông Guillermo de Torre đánh giá là không thể xuất bản được mà thôi.

Sự kinh ngạc còn lớn hơn nhiều so với tôi tưởng và tôi không đủ dũng khí để tự mình nhận biết. Và thế là không hề báo trước tôi ào đến thăm người bạn từ thuở thiếu thời Luis Carmelo Carrea ở trang trại trồng chuối Sevilla của anh - cách Cataca có mấy dặm - nơi vào những năm ấy anh đang làm việc trên cương vị đốc công và giám sát tài chính. Trong hai ngày liền, chúng tôi hâm nóng lại những kỷ niệm chung thời niên thiếu. Trí nhớ, học vấn và lòng chân thành của anh khiến tôi phải khâm phục. Trong lúc đang nói chuyện, anh vẫn sửa chữa các vật dụng hư hỏng trong nhà và tôi thì nằm trên chiếc võng đung đưa theo nhịp cơn gió thoảng và nghe anh nói. Nena Sanchez, vợ anh, thường sửa những điều ngớ ngẩn hoặc những chi tiết bỏ quên của hai chúng tôi trong tiếng cười ngặt nghẽo từ trong nhà bếp. Cuối cùng, trong chuyến dạo chơi trên các đường phố vắng tanh vắng ngắt của Aracataca, tôi hiểu được sức khỏe tinh thần của mình đã phục hồi đến mức độ nào và không còn nghi ngờ gì rằng Bão lá úa - dù bị từ chối hay không - vẫn chính là cuốn sách mà tôi đã dự định viết sau chuyến đi bán nhà với mẹ.

Phấn chấn sau mấy ngày đi thăm bạn, tôi lại bổ đi tìm Rafael Escalona trong thiên đường của ông ở Valledupar để sục tìm thế giới của mình ở tận gốc rễ. Không có gì làm tôi ngạc nhiên cả, bởi vì, tất cả những gì tôi gặp, tất cả những gì xảy ra, tất cả những người được giới thiệu đều thân quen như những gì tôi đã trải nghiệm không phải ở một cuộc đời khác mà chính ở cuộc đời mình đang sống. Sau đó, trong một chuyến đi của mình, tôi được làm quen với đại tá Clemente Escalona, cha của Rafael, mà ngay từ đầu tiên tôi đã có ấn tượng sâu sắc về lòng tự trọng và dáng vẻ trưởng lão theo lối cổ của ông. Từ lúc còn rất trẻ, tôi đã theo đuổi đề tài về sự thống khổ và sự thanh khiết mà các cụ nội, ngoại của mình phải chịu đựng để đợi chờ quyết định lương hưu trí cựu chiến binh của chính mình cho đến tận cùng của cuộc đời trường thọ. Tuy nhiên, bốn năm sau, khi tôi viết cuốn sách ở một khách sạn xưa cũ ở thành phố Paris, hình ảnh thường trực trong trí nhớ của tôi không phải là ông ngoại của mình mà chính là của ông Clemente Escalona hiện thân của viên đại tá suốt đời chờ thư.

Qua Rafael Escalona, tôi được biết rằng Manuel Zapata Olivella đã trở thành bác sĩ của những người nghèo ở làng La Paz, chỉ cách Valledupar có mấy cây số và thế là chúng tôi lại kéo nhau đến đó. Chúng tôi đến vào lúc chập choạng tối, có mùi gì trong không khí làm mọi người không thở được. Zapata và Escalona cho tôi biết rằng chỉ mới cách đây hai mươi ngày, làng này là nạn nhân của một cuộc tấn công của cảnh sát nhằm gieo rắc hãi hùng khắp vùng để áp đặt ý chí của chính phủ. Đó là một đêm rùng rợn. Chúng bắn giết bừa bãi và đốt cháy mười lăm nóc nhà.

Do bị kiểm duyệt gắt gao, chúng tôi không hề biết tí gì và tôi cũng không có dịp để tưởng tượng ra việc này. Juan Lopez, nhạc công giỏi nhất vùng đã ra đi không hẹn ngày trở lại kể từ cái đêm đen tối đó. Chúng tôi đề nghị Pablo, em trai của người nhạc công, chơi nhạc cho chúng tôi nghe tại nhà nhưng anh ta đã nói một cách đơn giản mà lì lợm:

- Trong đời mình tôi sẽ không bao giờ hát nữa.

Lúc ấy, chúng tôi được biết không chỉ anh ta mà tất cả nhạc công của làng đã cất hết nhạc cụ và thề sẽ không hát nữa vì nỗi đau của những người đã khuất. Điều này thật dễ hiểu cả Escalona vốn là thầy của nhiều người trong số họ, và Zapata Olivella, người thầy thuốc của tất cả bọn họ, cũng không thể bảo ai ra hát.

Trước sự nài nỉ của chúng tôi, một số cư dân đã đến giải thích, nhưng trong sâu thẳm của tâm hồn, họ cũng đã cảm thấy là không nên kéo dài hơn nữa việc để tang. “Tựa như lại giết chết những người đã chết”, một người phụ nữ cài bông hồng trên vành tai, nói. Mọi người ủng hộ bà ta. Lúc đó, Pablo Lopez như cảm thấy mình được quyền trút bỏ nỗi buồn, không nói một lời nào liền vào nhà ôm đàn phong cầm ra. Anh lại hát như chưa bao giờ được hát, và các nhạc công khác lục tục kéo đến. Có ai đó mở cửa nhà hàng đối diện để cho mọi người uống rượu. Các cửa hàng cũng mở rộng cửa sau một tháng trời tang lễ. Người ta bật đèn, rồi tất cả đều hát. Nửa giờ sau, cả làng hòa giọng hát vang. Trên quảng trường vắng vẻ, xuất hiện người say rượu đầu tiên từ gần một tháng nay và bắt đầu cất giọng cổ hát một bài hát của Escalona để chào mừng chính Escalona, và cũng chào mừng sự hồi sinh kỳ diệu của làng.

Cũng may là cuộc sống vẫn tiếp diễn ở những nơi khác trên thế giới. Hai tháng sau khi bản thảo bị từ chối, tôi được quen biết Julio Cesar Villegas, lúc này đã cắt đứt với nhà xuất bản Losada, và đã được cử làm người đại diện ở Colombia của nhà xuất bản Gonzalez Porto, chuyên bán trả chậm các loại bách khoa toàn thư, sách khoa học và kỹ thuật. Villegas là người đàn ông cao nhất và khỏe nhất, cũng là người “rắn” nhất trước những trắc trở của cuộc đời, người chuyên dùng các loại rượu whisky đắt tiền nhất và cũng là người ham trò chuyện và kể chuyện của các phòng khách. Sau đêm gặp gỡ đầu tiên của hai chúng tôi tại phòng sang trọng nhất dành cho các vị tổng thống của khách sạn Prado, tôi chếnh choáng ra về với một va ly du lịch đầy tài liệu tuyên truyền quảng cáo và nhiều sách mẫu về các cuốn bách khoa toàn thư có minh họa, sách y học, luật và kỹ thuật công trình của nhà xuất bản Gonzalez Porto. Từ chai whisky thứ hai, tôi đã chấp nhận làm người bán sách ở tỉnh Padilla, từ Valledupar đến La Guajira. Thu nhập của tôi sẽ được trả trước bằng tiền mặt theo tỷ lệ hai mươi phần trăm, đủ để tôi sống không đến nỗi chật vật sau khi đã thanh toán xong mọi chi phí kể cả tiền lưu trú ở khách sạn.

Tôi đã dự định đây sẽ là chuyến đi huyền thoại tìm về cội nguồn quê hương của tổ tiên mình và sẽ theo đúng lộ trình lãng mạn mà mẹ tôi đã bị bà ngoại bắt đi theo để trốn chạy sự theo đuổi của chàng điện tín viên ở Aracataca. Trên thực tế cuộc hành trình của tôi không chỉ là một mà là hai chuyến đi rất ngắn và đan xen vào nhau.

Trong lần đi thứ hai, tôi chỉ đến những thị trấn, làng mạc xung quanh Valledupar. Khi đã đến đó rồi tất nhiên tôi dự kiến sẽ đi tiếp đến tận mũi Vela đúng như hành trình của người mẹ đang mê mệt trong tình yêu của tôi lúc trước, nhưng tôi chỉ đến được Manaure de la Sierra, La Paz và Villanueva cách Valledupar có mấy dặm đường. Lúc đó, tôi không đến được San Juan del Cesar và cả Barrancas nơi ông bà ngoại đã kết hôn và sinh ra mẹ tôi, và cũng là nơi đại tá Nicolas Márquez giết chết Medardo Pacheco; tôi cũng không được biết Riohacha, đất tổ của dòng tộc chúng tôi, cho mãi đến năm 1984, khi Tổng thống Belisario Betancur từ Bogota cử một nhóm bạn bè đến khánh thành những mỏ than ở Cerrejon. Đó cũng là chuyến đi đầu tiên đến Guajira tưởng tượng, nơi tôi cũng thấy bí ẩn như những gì tôi đã từng miêu tả nhiều lần trong sách. Dù trước đó không hề biết đến thị trấn này, nhưng tôi nghĩ đó không phải là nhờ những kỷ niệm giả tạo của tôi mà chính là nhờ những câu chuyện kể của những người thổ dân do ông tôi mua được với giá một trăm peso một người để phục dịch trong nhà ở Aracataca. Đương nhiên, nỗi kinh ngạc lớn nhất của tôi chính là quang cảnh lần đầu được thấy về Riohacha, thành phố của cát và muối, nơi ra đời của dòng tộc tôi từ thời cụ, kỵ, nơi bà ngoại nhìn thấy Đức Mẹ Đồng trinh Remedios chỉ thổi một hơi lạnh cóng đã dập tắt được bếp lò vì bánh mì sắp cháy đến nơi; cũng là nơi ông ngoại thực hiện các cuộc chiến tranh của mình và bị tù đày vì một chuyện tình, và cũng là nơi tôi được thai nghén trong tuần trăng mật của bố mẹ.

Ở Valledupar, tôi không có nhiều thời gian để bán sách. Tôi sống trong khách sạn Wellcome, một căn nhà tuyệt đẹp và được bảo quản tốt từ thời thuộc địa nằm trên quảng trường lớn với hàng cọ rậm rạp ngay trong vườn, nơi có những chiếc bàn thô mộc và những chiếc võng treo sẵn ở các cột đỡ cành cây. Victor Cohen, người chủ khách sạn, bảo vệ trật tự ngôi nhà cũng như tiếng tốt của cơ sở khỏi sự phá hoại của khách nước ngoài hư hỏng, cẩn mật như một người gác cổng thực thụ. Trong những giờ rỗi, tôi thường nằm trên võng dưới bóng cây tránh cái nóng buổi trưa để đọc sách.

Trong thời kỳ đói kém tôi đã từng đọc cả những cuốn khái luận về giải phẫu, sách hướng dẫn về kế toán mà không hề nghĩ rằng nó sẽ phục vụ cho cuộc phiêu lưu văn sĩ của tôi sau này. Công việc bán sách diễn ra hết sức tự nhiên bởi vì phần lớn khách hàng đều dính dáng đến các dòng họ Iguarán và Cotes, và tôi chỉ cần làm một cuộc thăm viếng kéo dài đến bữa ăn trưa và giở ngón gợi chuyện dòng họ gia đình ra là xong. Một số người ký ngay hợp đồng mà không cần đọc nó để kịp cùng những người khác trong nhà đang chờ chúng tôi dùng bữa ăn trưa bên cạnh những chiếc đàn phong cầm. Từ Valledupar đến La Paz, tôi đã kiếm được một vụ bội thu chỉ trong không đầy một tuần lễ và trở về Barranquilla với niềm xúc động vì đã ở nơi duy nhất trên thế giới mà mình thực sự hiểu.

Sáng sớm ngày 13 tháng Sáu, khi tôi đang ngồi trên xe buýt chưa biết mình sẽ đi đâu thì nghe tin các lực lượng vũ trang đã nắm chính quyền trong bầu không khí lộn xộn trong chính phủ cũng như trong phạm vi cả nước. Ngày 6 tháng Chín năm trước, một băng nhóm bảo thủ và cảnh sát mặc sắc phục đã đốt cháy các cơ ngơi của El TiempoEl Espectador ở Bogota là hai tờ báo quan trọng nhất trong nước, và chúng cũng bắn súng vào dinh thự của cựu Tổng thống Alfonso Lopez Pumarejo và của Carlos Lleras Restrepo, Chủ tịch Ban lãnh đạo đảng Tự do vốn được xem là một chính khách cứng rắn; ông đã bắn trả lại bọn tấn công nhưng đánh không lại chúng nên phải chạy sang trú ở nhà hàng xóm. Tình hình bạo lực trong nước bắt đầu từ ngày 9 tháng 4 đã trở nên không thể kiểm soát được nữa.

Đến rạng sáng ngày 13 tháng 6, khi viên Trung tướng Gustavo Rojas Pinilla lôi cổ Quyền Tổng thống Roberto Urdaneta Arbelaez ra khỏi Dinh Tổng thống thì Laureano Gomez, Tổng thống cũ đã xin nghỉ hưu theo đề nghị của bác sĩ riêng, đã tự đảo chính chính mình, đã nắm lại chức vụ cũ từ trên xe lăn, cho đến hết mười lăm tháng còn lại của nhiệm kỳ tổng thống theo hiến pháp quy định. Nhưng tướng Rojas Pinilla và Bộ tham mưu của ông ta đã đến là để ở lại.

Sự ủng hộ trong nước đến ngay tức thì và thống nhất theo nghị quyết của Quốc hội là hợp pháp hóa cuộc đảo chính quân sự. Rojas Pinilla được phong là Tổng thống cho đến hết nhiệm kỳ tổng thống vào tháng Tám năm sau, và Laureano Gomez cùng gia đình đã sang Benidorm trên bờ biển phía tây của Tây Ban Nha, để lại phía sau ấn tượng ảo giác là thời kỳ tàn bạo của ông ta đã chấm hết. Những vị trưởng lão phái tự do tuyên bố ủng hộ sự hòa giải quốc gia, kêu gọi các đảng viên của mình đang cầm súng ở khắp nơi trong toàn quốc hãy giải giáp. Bức ảnh xúc động nhất trong thời kỳ đó là cảnh hàng dài bất tận của những người du kích phái tự do dưới sự chỉ huy của Guadalupe Salcedo đang nộp súng ở vùng cao nguyên phía đông. Salcedo vốn là hình tượng của một tướng cướp lãng mạn đã ăn sâu vào trái tim của những người dân Colombia bị chính sách bạo lực của chính phủ đánh cho tơi tả. Đó là thế hệ chiến binh mới chống chính quyền thuộc phái bảo thủ, được coi là tàn dư của cuộc chiến tranh Một ngàn ngày, và giữ mối quan hệ chẳng thèm giấu giếm với giới lãnh đạo hợp pháp của đảng Tự do.

Với tình trạng tinh thần như vậy, tôi thực hiện chuyến đi bán sách lần thứ hai ở Tỉnh, sau khi đã xác minh với Villegas là mọi chuyện vẫn ổn thỏa. Cũng như lần trước, tôi bán hàng rất nhanh ở Valledupar với số khách hàng đã được thỏa thuận từ trước. Tôi đi cùng với Rafael Escalona và Poncho Cotes đến Villanueva, La Paz, Patillal và Manaure de la Sierra để đến thăm các bác sĩ thú y và kỹ sư nông nghiệp. Một số đã nói chuyện với các bạn hàng của tôi lần trước nên đã chuẩn bị yêu cầu đặc biệt cho tôi. Bất cứ giờ nào cũng có thể tổ chức một buổi vũ hội với các khách hàng và bạn bè vui vẻ của họ và chúng tôi hát múa đến tận sáng mà không phá vỡ những cam kết hoặc trả gấp món nợ vì cuộc sống hàng ngày vẫn tiếp tục theo nhịp điệu tự nhiên của cuộc vui. Ở Villanueva, chúng tôi cùng hát với những nhạc công mà hình như là hậu duệ đời thứ ba của những nhạc sĩ chúng tôi đã từng nghe từ thời niên thiếu ở Aracataca. Tôi tưởng đó chỉ là một phần phụ trong kỷ niệm thiếu niên nhưng trong chuyến đi thứ hai này, nó đã biến thành một cảm hứng nghề nghiệp mãi mãi theo mình.

Chuyến đi này tôi được biết Manaure - giữa trái tim của vùng núi, một thị trấn xinh đẹp và yên bình - có ý nghĩa lịch sử đối với gia đình vì chính ở nơi này người ta đã đưa mẹ tôi, khi còn là bé gái, đến chữa căn bệnh sốt ba ngày một lần đã lờn với các loại thuốc ma thuật trước đó. Tôi đã từng nghe nói nhiều về Manaure, những buổi chiều tháng Năm lộng gíó, những bữa điểm tâm với thuốc chữa bệnh nên ngay khi mới lần đầu đến đây, tôi nghiệm thấy mình nhớ hết mọi chuyện cứ như kiếp trước đã sống ở đây vậy.

Chúng tôi đang uống bia ướp lạnh trong căng tin duy nhất ở thị trấn thì bỗng có một người đàn ông to lớn như thân cây, đi giày cưỡi ngựa, đeo súng ngắn bên hông đến ngay bàn tôi ngồi. Rafael Escalona giới thiệu anh ta với chúng tôi. Cầm tay tôi, anh ta nhìn thẳng vào mắt tôi.

- Anh bạn có quan hệ với đại tá Nicolas Márquez phải không? - anh ta hỏi tôi.

- Tôi là cháu ngoại của ông ấy - tôi trả lời.

- Thế thì - anh ta nói - ông ngoại của anh bạn đã bắn chết ông tôi.

Thế có nghĩa là anh ta là cháu của Medardo Pacheco, người đã bị ông tôi giết trong một cuộc đấu súng. Tôi không kịp giật mình vì anh ta nói với giọng rất ấm áp cứ như đó là cách nhận họ hàng vậy. Chúng tôi cùng ăn mừng lễ hội với anh, suốt ba ngày ba đêm uống rượu brandy hâm nóng và ăn thịt dê để tưởng nhớ hai người ông đã mất. Phải mấy ngày sau, anh ta mới thú nhận sự thật: anh ta đã thống nhất với Escalona từ trước để gây kinh hoàng cho tôi, nhưng rồi anh không có lòng dạ nào tiếp tục trò đùa hai người ông đã chết được nữa. Trên thực tế, anh tên là Jose Prudencio Aguilar, là dân buôn lậu chuyên nghiệp, thẳng thắn và tốt bụng. Để kỷ niệm anh - không kém phần kinh hoàng - tôi đã lấy tên anh đặt cho kẻ tình địch bị Jose Arcadio Buendia phóng lao giết chết trong một đấu trường gà chọi trong cuốn Trăm năm cô đơn.

Điều tệ hại là cuối chuyến đi đáng nhớ đó, số sách đã bán vẫn không đến kịp nên tôi không thể nhận được tiền ứng trước. Tôi không còn một xu dính túi và máy tính tiền ở khách sạn còn chạy vội vàng hơn những đêm vũ hội của tôi. Víctor Cohen, người chủ khách sạn, bắt đầu mất nốt chút kiên nhẫn ít ỏi còn lại vì những dị nghị rằng số tiền mà người ta nợ ông đã bị tiêu xài hoang phí trong những trò điên khùng mạt hạng và trong những động chứa kinh tởm. Điều duy nhất trả lại sự bình yên cho tôi chính là những mối tình trắc trở trong Quyền được sinh ra, tiểu thuyết truyền thanh của ông Felix B. Caignet mà tác động to lớn của nó trong quảng đại quần chúng thính giả đã làm sống lại ảo tưởng cũ của tôi về lối văn chương ủy mị. Việc bất ngờ được đọc Ông già và biển cả của Hemingway trên tạp chí Life bằng tiếng Tây Ban Nha đến bằng bưu điện đã giúp tôi hồi phục sau mọi đau khổ.

Cũng trong chuyến xe bưu điện đó, kiện sách phải trao cho các chủ mới để lấy tiền ứng trước cũng đã đến. Mọi người đều trả đúng thời hạn, nhưng tiền nợ khách sạn của tôi đã lớn gấp đôi tiền thu nhập, và Villegas cảnh báo tôi rằng trong ba tuần tới sẽ không có một xu nào nữa. Lúc đó, tôi phải nói chuyện một cách nghiêm túc với Víctor Cohen và anh ấy sẽ chấp nhận hóa đơn nợ với chữ ký bảo lãnh của một người khác. Vì Escalona và nhóm bạn hữu không có mặt vào lúc đó nên một người bạn ngẫu nhiên đã gia ơn ký bảo lãnh dù không nhận được một lời cam kết nào của tôi chỉ vì anh rất thích một truyện ngắn của tôi đăng trên Crónica. Tuy nhiên, phải nói thật là sau đó, tôi không trả nợ được cho ai trong hai người đó.

Mấy năm sau, tấm hóa đơn ghi nợ đã trở thành lịch sử khi Víctor Cohen đưa ra khoe với bạn bè và khách hàng, không phải như một tài liệu kết tội mà như một chiến lợi phẩm. Lần cuối cùng gặp nhau, ông đã ngót nghét trăm tuổi, già cả nhưng sáng suốt và tính hài hước thì vẫn còn nguyên vẹn. Sau gần năm mươi năm, trong lễ rửa tội cho một đứa con của cô bạn Consuelo Araujonoguera mà tôi là cha đỡ đầu của đứa bé, tôi lại được nhìn thấy tấm hóa đơn chưa được thanh toán đó. Víctor Cohen đã chìa nó ra cho mọi người xem với vẻ lịch duyệt thường ngày của ông. Tôi ngạc nhiên thấy vẻ thanh khiết sạch sẽ trong tấm hóa đơn do ông ấy viết, và ý chí mênh mông quyết trả bằng được phía sau chữ ký trơ trẽn của tôi. Trong buổi tối hôm đó, để chào mừng sự kiện này, Víctor Cohen đã nhảy một điệu valse với dáng vẻ hào hoa của thời thuộc địa tuyệt đến mức như từ cổ tới kim chưa ai từng nhảy đẹp đến như vậy. Cuối cùng, rất nhiều bạn bè đã xúm đến cảm ơn tôi đã không trả tiền đúng thời hạn để tạo cớ cho một đêm khiêu vũ không phải trả tiền tuyệt vời như đêm đó.

Sức quyến rũ kỳ lạ của tiến sĩ Villegas còn vượt ra ngoài chuyện các cuốn sách. Không thể nào quên được tài nghệ bậc thầy mà ông đã phải dùng để đấu với các chủ nợ và cũng không làm sao quên được vẻ mặt sáng ngời hạnh phúc của các ông này khi hiểu được lý do tại sao Villegas không trả nợ đúng hạn. Đề tài hấp dẫn nhất mà ông đã dùng thời đó có liên quan đến tiểu thuyết Họ đã đóng chặt mọi con đường của nữ văn sĩ người Barranquilla - Olga Salcedo de Medina - vì đã gây nên một cuộc tranh cãi ồn ào về mặt xã hội hơn là về văn chương hiếm thấy ở địa phương. Theo dõi suốt cả tháng trời về thành tích của tiểu thuyết truyền thanh Quyền được sinh ra, tôi nghĩ là chúng ta đang chứng kiến một hiện tượng trong thiên hạ mà các nhà văn không thể làm ngơ được. Không đả động gì đến khoản nợ, khi vừa về đến Valledupar, tôi đã bình phẩm với Villegas về hiện tượng này và ông đã đề nghị tôi chuyển thể cuốn tiểu thuyết với sự tinh quái tương đối để có thể nhân gấp ba số lượng thính giả mà Felix B. Caignet đã giành được qua kịch bản truyền thanh của ông.

Tôi tự giam mình trong phòng làm việc để chuyển thể tác phẩm trong suốt hai tuần mà tôi cho rằng khá hơn nhiều so với dự kiến với các thủ pháp về đối thoại, mức độ kịch tính, tình huống và thời gian chớp nhoáng hoàn toàn khác với tất cả những gì đã viết trước đây. Vì tôi vốn thiếu kinh nghiệm trong việc xây dựng các mẩu đối thoại - sau này vẫn không phải là điểm mạnh của tôi - nên thử thách này rất có giá trị và tôi coi đó là dịp học hỏi hơn là để kiếm thu nhập. Tuy vậy, về mặt này cũng không có gì phải than phiền, bởi vì Villegas đã ứng trước cho tôi một nửa tiền mặt và hứa là sẽ xóa số nợ trước đây ngay khi tiểu thuyết truyền thanh này bắt đầu có thu nhập.

Tác phẩm được ghi âm tại đài phát thanh Atlantico với dàn diễn viên gạo cội nhất có thể tập hợp được trong vùng và đạo diễn, không mấy kinh nghiệm và hứng thú, chính là Villegas. Về người dẫn chuyện, người ta gợi ý Villegas chọn German Vargas để tạo ra sự khác biệt giữa giọng nói chuẩn mực của anh với giọng rin rít của những người dẫn chuyện khác của các đài phát thanh trong vùng. Bất ngờ lớn đầu tiên chính là việc German Vargas đã nhận lời, và bất ngờ thứ hai là ngay trong lần ghi âm thử đầu tiên anh đã tự kết luận là mình không phải là người thích hợp cho việc này. Chính Villegas phải tự mình gánh vác công việc đọc lời kể chuyện với giọng đọc và âm điệu của người vùng núi Andes nên đã làm mất sự tự nhiên cuộc phiêu lưu vùng ven biển.

Tiểu thuyết truyền thanh này được truyền toàn bộ trên làn sóng không thành công ồn ào cũng không thất bại ê chề, và nó trở thành một lớp học tuyệt vời cho tham vọng khôn nguôi của tôi được trở thành người kể chuyện ở bất cứ thể loại nào. Tôi tham dự các buổi ghi âm trực tiếp trên đĩa trắng với chiếc kim cày trên các rãnh để lại phía sau những sợi đen và sáng, gần như không nhìn thấy được, như ánh tóc của các vị thần. Tối nào tôi cũng mang chút gì đó đến chia cho bạn bè như một thứ chiến lợi phẩm bất ngờ. Dù có trục trặc này nọ nhưng thiên tiểu thuyết truyền thanh cũng đã lên sóng kịp thời với một lễ hội có tầm cỡ rất riêng của nhà tài trợ.

Không có ai nỡ bịa ra một lý do lịch sự nào để làm cho tôi hiểu là họ thích tác phẩm này, nhưng dù sao thì nó cũng thu hút được một lượng thính giả đông đảo và lượng quảng cáo đủ để gỡ thể diện cho cả nhóm. Về phần mình, rất may là nó đem lại cho tôi niềm hứng khởi mới đối với một thể loại có thể bắn mình đến những chân trời không ngờ nhất. Với lòng khâm phục và biết ơn vô hạn đối với ông Felix B., tôi đã đề nghị được gặp riêng ông, khoảng mười năm sau khi tôi sống mấy tháng ở La Habana, Cuba trên cương vị biên tập viên của hãng thông tấn Prensa Latina. Nhưng dù tôi cố viện dẫn mọi lý do và mọi cớ, không bao giờ ông để tôi được gặp và tôi chỉ giữ lại được ở ông một bài học tuyệt vời khi được đọc câu nói sau trong một bài phỏng vấn mà ông trả lời báo chí: “Mọi người luôn muốn khóc: điều duy nhất mà tôi làm là cho người ta cái cớ”. Tài biến ảo của Villegas, mặt khác, cũng không làm được gì hơn. Anh lại gặp chuyện rối rắm với nhà xuất bản Gonzalez Porto - như với nhà xuất bản Losada trước đây - và cũng không có cách nào thu xếp ổn thỏa chuyện công nợ cuối cùng giữa chúng tôi, bởi vì anh đã vứt bỏ những ước mơ tầm cỡ của mình để về nước.

Alvaro Cepeda Samudio đã lôi tôi ra khỏi mọi chuyện rối rắm với ý tưởng cũ của ông là định biến El Nacional thành một tờ báo hiện đại như những điều ông đã được học ở Mỹ. Cho đến lúc đó, ngoài những bài cộng tác với Crónica, thường là văn học, ông chỉ có cơ hội thực hành trình độ hiểu biết thu được ở Viện Đại học Columbia với bài ngắn gọn gửi cho Sporting News, ở Saint Louis, tiểu bang Missouri. Năm 1953, người bạn của chúng tôi, Julian Davis Echandía, vốn là thủ trưởng đầu tiên của Alvaro đã gọi ông đến để đảm nhiệm toàn bộ việc điều hành tờ báo buổi chiều của ông, El Nacional. Chính bản thân Alvaro cũng đã từng làm cho Julian rất say sưa với dự án khổng lồ mà anh trình bày sau khi từ New York trở về. Ngay sau khi săn được con voi to lớn, Alvaro liền gọi tôi đến giúp anh gánh vác công việc mà không nói rõ chức vụ và nhiệm vụ rõ ràng nhưng với số lương ứng trước đầu tiên cũng đủ sống mặc dù chưa nhận hết.

Đó là một cuộc phiêu lưu sinh tử. Alvaro đã lập kế hoạch toàn bộ theo mô hình của Mỹ. Như Thượng đế ở trên cao, Davis Echandía, người đi đầu trong cái thời vàng son của ngành báo chí giật gân ở Colombia và là người khó hiểu nhất trong số những người tôi quen biết, người tốt bụng từ khi mới ra đời và là người tình cảm nhiều hơn là cảm thông. Những người còn lại trong ê kíp đều là những nhà báo xung kích cỡ lớn, đã thu hoạch nhiều thành tích, mọi người đều là bạn bè của nhau và là đồng nghiệp trong nhiều năm. Về lý thuyết, mỗi người có một quỹ đạo được xác định rõ ràng, nhưng vượt qua quỹ đạo ấy không bao giờ biết được ai đã làm gì cho con voi kỹ thuật to lớn không đi được bước đầu tiên. Dù chỉ ra được mấy số ít ỏi thì đó cũng là kết quả của một hành động anh hùng nhưng không bao giờ người ta biết được là của ai. Đúng giờ đưa bản thảo vào in thì bàn sắp chữ vẫn còn chất đống lộn xộn. Những bài viết khẩn thì bị lẫn đâu mất và những người tốt thì tức lồng lộn. Tôi không nhớ đã có số nào ra đúng thời gian và không bị lỗi vì một lũ khùng điên ở trong xưởng in chưa. Không bao giờ người ta biết được nguyên nhân tại sao. Lý do đáng chú ý và cũng ít độc địa là: một số nhân viên đã làm việc lâu năm không chịu thực hiện chế độ đổi mới và họ âm mưu phá cho tan nát công ty.

Alvaro bị đánh bật ra khỏi cửa. Tôi có một bản hợp đồng mà trong điều kiện bình thường là một sự đảm bảo nhưng trong điều kiện xấu thì lại giống như một chiếc áo cho kẻ điên rồ. Muốn tận dụng được đôi điều bổ ích trong khoảng thời gian bị mất, tôi dự định, theo dòng chạy của các con chữ trong máy chữ, gom góp lại những gì còn có giá trị của những ý tưởng đã qua. Từng đoạn của Ngôi nhà, với giọng văn bắt chước Faulkner đáng sợ trong Nắng tháng tám, của những cơn mưa trong Xác chim chết của Nathaniel Hawthorne, của những truyện vụ án mà tôi đã chán ngấy và của những vết tím bầm còn in trên da tôi do chuyến đi Aracataca cùng với mẹ. Tôi cứ để cho chúng thoải mái trôi trong văn phòng tẻ nhạt của mình nơi không còn gì khác ngoài chiếc bàn viết và máy chữ với tận lực sau cùng đi một lèo đến cái đầu đề cuối cùng: “Một ngày sau hôm thứ Bảy”. Đó là một trong số ít truyện ngắn mà tôi hài lòng ngay từ bản viết đầu tiên.

Vào những ngày này, Alvaro Mutis trở lại với cái tin là công ty của anh ta có một nguồn dự trù kinh phí lớn dành cho văn hóa và sắp cho ra đời tạp chí Lámpara, chuyên san văn học của doanh nghiệp. Trước lời mời hợp tác của anh, tôi đã đề nghị một dự án khẩn cấp: truyền thuyết về La Sierpe. Tôi nghĩ rằng nếu một ngày nào đó muốn kể lại thì không nên làm qua lăng kính cũ mèm mà phải lấy ra từ trí tưởng tượng của tập thể như bản thân nó vẫn như vậy: một sự thật địa lý và lịch sử. Tức là, một thiên phóng sự.

- Anh cứ làm theo ý của anh ở bất cứ nơi nào. - Mutis nói với tôi. - Nhưng phải làm ngay đi, theo bối cảnh và giọng điệu mà chúng tôi đang tìm kiếm cho tạp chí.

Tôi hứa là sẽ làm xong sau hai tuần lễ nữa. Trước khi ra sân bay, anh còn gọi điện về văn phòng của mình ở Bogota và ra lệnh gửi một khoản tiền ứng trước cho tôi. Tấm séc đến theo đường bưu điện một tuần sau đó đã làm tôi ngạt thở. Nhất là khi tôi đi lĩnh tiền và viên thủ quỹ của ngân hàng rất băn khoăn vì bộ dạng bên ngoài của tôi. Họ bắt tôi đi lên một văn phòng phía trên nơi ông giám đốc vô cùng nhã nhặn hỏi tôi làm việc ở đâu. Tôi trả lời là đang viết cho báo El Heraldo, đúng như thói quen của tôi, mặc dù điều đó không còn đúng nữa. Viên giám đốc xem kỹ tấm séc ở trên bàn, ông quan sát với vẻ nghi ngờ chuyên nghiệp và cuối cùng mới nói:

- Chính xác rồi!

Cũng chiều hôm đó, khi bắt đầu viết “La Sierpe” , người ta báo là tôi có cuộc gọi từ ngân hàng. Tôi đã nghĩ là có thể tấm séc không đáng tin cậy vì bất cứ một lý do nào trong vô vàn chuyện có thể xảy ra ở Colombia. Tôi vừa nuốt trôi cơn nghẹn trong cổ họng thì nhân viên ngân hàng đã xin lỗi vì đã không biết đúng lúc rằng người ăn mày đi lĩnh tiền theo séc lại chính là tác giả của “La Jirafa”.

Mutis còn quay lại lần nữa vào dịp cuối năm. Anh chỉ kịp thưởng thức bữa ăn trưa để giúp tôi suy nghĩ cách nào ổn định và vĩnh viễn có thu nhập nhiều mà không phải mệt mỏi. Cuối cùng, cách mà anh thấy tốt nhất là làm việc cho anh em nhà Cano, anh cũng biết rằng tôi sẽ sẵn sàng làm việc cho El Espectador mặc dù tôi vẫn khó chịu với ý tưởng phải quay về Bogota. Nhưng Alvaro không bao giờ chịu ngưng chiến khi tìm cách giúp đỡ bạn.

- Chúng ta thống nhất nhé - anh nói với tôi - tôi sẽ gửi vé để anh đi lúc nào tùy thích và bằng cách nào tùy anh, để rồi xem mọi việc đến với chúng ta ra sao nhé!

Đó thật là những điều kiện quá tốt để nói không, nhưng tôi tin chắc rằng chuyến máy bay cuối cùng trong đời tôi chính là chuyến đã đưa tôi ra khỏi Bogota sau ngày mồng 9 tháng 4. Ngoài ra, đặc quyền nho nhỏ về thiên tiểu thuyết truyền thanh và việc in trang trọng chương đầu của “La Sierpe” trên tạp chí Lámpara đã tạo điều kiện cho tôi viết một số bài cho quảng cáo đủ để gửi một chuyến tàu đầy niềm an ủi về cho gia đình ở Cartagena. Như vậy là một lần nữa tôi chống chọi với nỗi cám dỗ chuyển đến ở Bogota.

Alvaro Cepeda, German và Alfonso và phần lớn bạn bè thường cùng đàm đạo trong quán Japy và quán cà phê Roma đều dùng những lời tốt đẹp nói về “La Sierpe” khi nó được đăng chương đầu tiên trên tạp chí Lámpara. Họ nhất trí cho rằng công thức trực tiếp của phóng sự là thích hợp nhất cho một đề tài đứng mấp mé trên ranh giới nguy hiểm của điều mà người ta không có thể tin được. Alfonso, với phong cách nói nửa đùa nửa thật, nói ra điều mà tôi không bao giờ quên được: “Cái sự đáng tin hay không, thưa thầy thân mến, phụ thuộc rất nhiều vào bộ mặt phơi ra để kể chuyện”. Tý nữa tôi đã để lộ cho họ biết đề nghị làm việc của Alvaro Mutis, nhưng tôi đã không dám thổ lộ, và ngày hôm nay tôi biết là lúc đó mình không làm việc này vì lo sợ họ cũng tán thành đề nghị này. Mutis còn nhắc lại đề nghị này vài lần nữa, thậm chí cả sau khi đã giữ chỗ máy bay cho tôi và phải hủy bỏ vào giờ chót. Anh cam đoan với tôi rằng không phải anh đang làm chuyện dụ dỗ cho báo El Espectador cũng không phải cho báo viết hoặc báo đọc khác. Mục đích duy nhất của anh - mà anh nhấn mạnh đến cùng - là muốn được nói chuyện về một loạt dự định hợp tác cố định với tạp chí và cùng xem xét một số chi tiết kỹ thuật cho toàn bộ thiên phóng sự “La Sierpe” mà chương hai cần phải có ngay cho số tới. Alvaro Mutis tỏ ra tin chắc rằng loại phóng sự kiểu này có thể sẽ đóng chiếc đinh vào xu hướng costumrismo thuần chất ngay trên lãnh địa của nó. Như vậy, tất cả những lý do mà anh ấy đưa ra cho đến lúc đó, chỉ có lý do này khiến cho tôi phải suy nghĩ.

Một ngày thứ Ba mưa bụi buồn thảm, tôi bỗng thấy mình không thể đi được vì không có quần áo gì ngoài chiếc sơ mi của nghệ sĩ múa. Vào lúc sáu giờ chiều, tôi không thấy ai ở hiệu sách Thế giới và tôi cứ đứng đợi ở cửa ra vào với một quả bóng nước mắt vì buổi chiều tà buồn bã đang từ từ buông xuống. Ở phía vỉa hè đối diện có quầy bán quần áo sang trọng mà tôi chưa từng thấy dù nó đã có ở đấy từ xưa rồi, và không nghĩ gì thêm tôi băng qua đường phố San Blas dưới đám mưa bụi và kiên quyết tiến vào cửa hàng bán đắt nhất thành phố. Tôi mua bộ complê xanh tím màu của nửa đêm, rất tuyệt cho tinh thần của Bogota lúc bấy giờ; hai chiếc sơ-mi màu trắng cổ cứng, một chiếc cà vạt kẻ sọc đứng và một đôi giày loại được diễn viên Jose Mojica lăng xê thành mốt trước khi trở thành ông thánh. Những người duy nhất được tôi báo là mình sẽ ra đi là German, Alvaro và Alfonso và họ đã tán thành việc này coi như một quyết định khôn ngoan với điều kiện duy nhất là tôi không được trở về như một cảnh sát.

Chúng tôi chúc mừng sự kiện này ở quán El Tercer Hombre với tất cả mọi người trong nhóm cho đến rạng sáng, như là một lễ tổ chức sớm cho ngày sinh nhật sắp tới của tôi, bởi vì German Vargas, vốn là người gìn giữ sách thánh, đã thông báo rằng ngày mồng 6 tháng Ba tới tôi sẽ tròn hai mươi bảy tuổi. Trong tiếng chúc tụng tốt đẹp của những người bạn lớn, tôi cảm thấy sẵn sàng ăn tươi nuốt sống bảy mươi ba năm mà tôi còn thiếu để được tròn tuổi bách niên.

« Lùi
Tiến »