1. Phương pháp của Taylor.
2. Một thí dụ.
3. Vài thực hành trong gia đình.
a) Sắp đặt nhà bếp.
b) Sắp đặt các phòng.
c) Rửa chén và dọn giường.
4. Những luật về cử động.
5. Nào xin bà hãy suy nghĩ.
a) Nấu cơm.
b) Định món ăn.
c) Sắp đặt lại tủ sách.
1. Phương pháp của Taylor.
Trong chương trên tôi đã bàn về đồ dùng và người làm, ở đây xin xét về phương pháp làm việc.Tôi đã nói, về khoa tổ chức, đức quan trọng nhất là đức biết suy nghĩ, nghi ngờ hết thảy những cách làm từ trước tới nay và kiếm một cách mới giản tiện hơn, đỡ tốn công của và thời giờ.
Tin rằng hết thảy những phương pháp cũ đều hoàn hảo, là thiếu tinh thần khoa học mà tin rằng hết thảy những cái gì cũ đều phải bỏ cũng là thiên kiến.
Người biết tổ chức bao giờ cũng xét lại những phương pháp cũ, nghiên cứu nó rồi xem có cách nào cải thiện được không: khi tìm lại được, lại phải thí nghiệm xem có thật nó tiện lợi hơn cách cũ không. Phương pháp của Taylor có thể tóm tắt trong hai câu ấy.
Tôi xin nhắc lại một thí dụ đã kể trong cuốn “Tổ chức công việc theo khoa học” để bà hiểu rõ phương pháp đó ra sao rồi sẽ bàn về cách áp dụng nó trong gia đình.
2. Một thí dụ.
Ông Gilbreth có lần nghiên cứu cách xây tường. Nghề xây tường đã có từ 4 - 5 ngàn năm. Cổ nhân đã góp nhiều kinh nghiệm từ đời này qua đời khác để cải thiện nhiều lần phương pháp làm việc. Nhưng ông có tin chắc là phương pháp dó hoàn thiện không? Không. Ông vẫn nghi ngờ, rồi ông nhận xét, suy nghĩ, thấy người thợ nề làm mất 18 cử động:
1. Họ đưa chân phải lấy đống gạch. Tại sao có cử động đó? Vô ích. Bỏ nó đi.
2. Họ cúi xuống để lại một viên gạch. Như vậy mau mệt. Tại sao không xếp gạch cao ngang tay họ cho đỡ phải cúi?
3. Tay trái họ lấy một viên gạch, lật nó lại để đặt lên tường.
4. Rồi họ đứng thẳng người lại. (Khi đã bỏ được cử động số 2 thì bỏ được cử động này nữa).
5. Họ bước một bước tới thùng đựng hồ.
6. Cúi xuống thùng hồ.
7. Lấy cái bay xúc hồ.
8. Đứng thẳng người lên, bước trở lại bức tường.
Tám cử động ấy có thể rút lại còn một, bằng cách đặt thùng hồ ở bên tay mặt, đống gạch ở bên tay trái, hai thứ đều ngang tay, đưa tay ra là lấy được ngay. Còn người thợ thì tay mặt cầm bay, tay trái lấy gạch, hai tay cùng làm một lúc.
9. Người thợ quét hồ lên viên gạch.
10. Đặt viên gạch lên tường.
11. Lấy bay gõ gõ vào viên gạch.
Ba cử động trên đều cần thiết.
12. Cho tới 17 - Người thợ quay lại phía thùng hồ, bước một bước, cúi xuống, lấy một bay hồ, đứng thẳng lên, trở về bức tường. Sáu cử động ấy sẽ rút lại còn một khi để thùng hồ vừa tầm tay mặt như trên kia.
18. Quét hồ lên tường. Cử động này cần thiết.
Vậy trong 18 cử động chỉ còn 5 cử động là cần. Ông ghi kỹ lưỡng và rõ ràng 5 cử động đó lại rồi cho thợ làm theo ông.
Trong khi thợ làm cách cũ và cách mới của ông, ông đều đo thì giờ từng cử động một (có thứ đồng hồ khác 1 phần 100 phút, để dùng riêng vào việc ấy). Ông đo hàng 5, 6 chục lần rồi lấy số trung bình như vậy mới chắc đúng.
Ông thấy theo cách mới thời giờ làm việc rút đi được rất nhiều và một người thợ trước xây được 120 viên mỗi giờ thì nay xây được 350 viên.
Nhưng phải có người sắp gạch ở bên trái và đổ hồ vào thùng ở bên phải. Ông giao công việc ấy cho một người thợ không chuyên môn, làm sao cho người thợ nề không khi nào thiếu gạch và hồ, khỏi mất thì giờ chờ đợi. Như vậy, phải mướn thêm một người, nhưng bề gì cũng lợi vì công người này rẻ hơn.
Chẳng hạn công thợ nề là 24 đồng một ngày, tức là 3 đồng một giờ, công thợ phụ là 16 đồng một ngày, tức 2 đồng một giờ. Trước kia xây 120 viên gạch mất 1 giờ công thợ nề, phải trả 3 đồng nay xây 120 viên gạch mất 1/3 giờ công thợ nề và 1/3 giờ công thợ phụ, tức 3/3 +2/3 =1 đồng 66.
Nhưng lại phải có thêm một cái giàn đưa lên rất dễ dàng cho bức tường đương xây.
Rốt cuộc nếu công việc đồ sộ và lâu dài thì cách đó có lợi, nếu chỉ xây một cái nhà bếp chẳng hạn thì cách ấy tốn tiền vô ích.
Vậy, muốn cải thiện một phương pháp làm việc, phải:
1. Phân tích cách cũ ra làm nhiều cử động.
2. Đo thời giờ của mỗi cử động rồi cộng lại (đo ít nhất là 50 lần).
3. Suy nghĩ, tìm xem cử động nào vô ích hoặc mệt sức thì bỏ đi hoặc sửa đổi lại.
4. Định rõ cách mới ra sao.
5. Phân tích nó ra làm nhiều cử động.
6. Đo thời giờ của mỗi cử động rồi cộng lại (đo ít nhất là 50 lần).
7. Nếu có nhiều người làm chung thì phải thu xếp sao cho không có người nào ngồi không, nghĩa là xong công việc này thì có công việc khác ngay, khỏi phải chờ đợi nhau.
8. Có khi muốn thay đổi vài cử động, phải thay luôn cả dụng cụ: trong trường hợp đó, phải tính rốt cuộc lợi hay hại, phí tổn giảm hay tăng?
9. Phải chiêm nghiệm kỹ lưỡng vì có nhiều cách mới xét tưởng là tiện hơn mà kỳ thực thì rắc rối và tốn kém.
10. Khi đã biết cách mới có lợi hơn thì chỉ rõ nó ra, kê từng cử động một cho người thi hành theo đó mà làm. Tất nhiên phải tính thời giờ hơi rộng rãi dể cho được nghỉ ngơi vừa phải và đề phòng những sự bất thường.
11. Kiểm soát họ xem có làm đúng chỉ thị của ta không và số thời giờ dự tính không. Nếu không, lại phải tìm nguyên nhân và sửa đổi lại.
Cách xây tường của Gilbreth bây giờ không ai áp dụng nữa vì chỉ những công việc xây dựng lặt vặt mới dùng gạch (mà như trên kia tôi đã nói, hễ công việc lặt vặt thì dùng cách đó không lợi) còn những công trình kiến trúc lớn lao thì người ta dùng bê tông.
Tuy nhiên, thí nghiệm của ông đã được coi như một thí nghiệm kiểu mẫu, sách nào viết về khoa tổ chức cũng nhắc tới nó. Xin bà chịu khó suy nghĩ để hiểu nó: bà sẽ không tốn công vô ích đâu vì một khi hiểu nó rồi bà sẽ có một tinh thần mới, tiết kiệm được thì giờ, tiền bạc, và lại tập cho người thân biết cách làm việc, giúp họ có một lợi khí để thành công.
3. Vài thực hành trong gia đình.
a) Sắp đặt nhà bếp.
Chắc là bà nóng lòng muốn biết một vài thực hành trong gia đình? Thưa, tôi đã nghĩ tới.Xin bà xét xem một phòng bếp sắp đặt như trong hình dưới đây có chỗ nào bất tiện không?
Tôi thấy nhiều chỗ không hợp lý.
Muốn lấy thức ăn trong chạn bà phải đi từ tủ chén lại chạn, theo đường S1. Khi đem thức ăn lại bếp để nấu, bà phải theo đường S2. Nấu xong món ăn rồi, bà theo đường S3 đem đặt nó lại bàn. Rồi muốn đem nó lên phòng ăn bà phải theo đường S4.
Xong bữa, bà theo đường D1 đem chén đĩa dơ đặt vào thùng rửa chén. Rửa rồi, cất vào tủ, phải theo đường D2.
Bà thấy trên hình, những mũi tên chỉ đường thật lăng nhăng, do đó đường đi hoá dài.
Rồi xin bà coi hình dưới đây, tức bản đồ một cái bếp kiểu mẫu do bà Frederick vẽ, và bà sẽ thấy tiện lợi ra sao.
Tủ chén để bên cạnh chạn và thùng rửa chén, bàn đặt thức ăn kê ngay cạnh bếp và gần cửa ra, thành thử muốn làm những việc trên kia, chỉ cần theo những con đường rất ngắn, ngắn bằng phần ba của những con đường trước.
Bà Frederick, theo dõi sắp đặt của bà, người nội trợ tiết kiệm được 15% thời giờ nấu ăn. Tôi chỉ xin tính 7% thôi vì bếp của người Mỹ rộng, của ta hẹp, họ nấu nhiều món, ta nấu ít món. Nấu ba bữa ăn bà mất mỗi ngày mấy giờ? Trung bình 4 giờ, tức 240 phút. Vậy bà tiết kiệm được mỗi ngày (240 x7):100 = 17 phút.
b) Sắp đặt các phòng.
Thí dụ thứ nhì.
Trong nhiều gia đình Việt Nam tôi thường thấy phòng bếp cách phòng ăn xa quá, phòng ngủ với phòng tắm cũng vậy. Cách xếp đặt dưới đây của ông H.L.Rumpf, có lẽ không hợp với phong tục của ta, nhưng tiện hơn.
Gia đình nào ở phố trệt tất nhiên không sao có đủ tiện nghi, nhưng vẫn có thể thu xếp nhà cửa cho đời sống dễ chịu hơn. Tôi quen một ông bạn hiện nay làm chủ một hãng xe vận tải. Hồi trước ông làm sở Công Chánh.
Thường vì chức vụ mà phải lênh đênh trên các kênh rạch. Chiếc ghe của ông rộng chừng 2 thước rưỡi, dài chừng 6-7 thước mà ông khéo thu xếp cho có đủ phòng ăn, phòng làm việc, phòng ngủ, phòng tiếp khách, lại có chỗ để tủ sách, chạn ăn. Ban ngày không ai biết phòng ngủ của ông ở đâu. Tối đến ông mở hai cái tủ ở phía sau ghe và ta thấy 2 cái giường. Muốn viết lách, ông mở một cái tủ khác. Trong bữa ăn, hoặc lúc tiếp khách, ông đóng nó lại để có chỗ kê bàn và 4 cái ghế xếp.
Đã không thể bắt hoàn cảnh thích nghi với ta thì phải tìm cách thích nghi với hoàn cảnh. Muốn vậy chỉ cần suy nghĩ và tìm tòi.
c) Rửa chén và dọn giường.
Bà muốn một thí dụ về cách làm việc như cách rửa chén chẳng hạn ư? Xin vâng. Trong cuốn Treize à la douzaine có kể chuyện ông Gilbreth quay phim các con ông khi chúng rửa chén rồi chiếu lại rất chậm để phân tích các cử động và tìm cử động nào vô ích và mệt nhọc mà bỏ đi. Tác giả cuốn đó không cho hay kết quả sự cải cách đó ra sao, nhưng trong cuốn reorganisation familiale, ông H.L Rumpf đã phân tích cách rửa một cái đĩa theo lối cũ và thấy mất 12 giây. Ông sửa đổi lại, rút đi được 4 giây. Phương pháp của ông phải dùng nước nóng và nước xà bông, có lẽ nhiều gia đình Việt Nam theo không được nên tôi xin tả công việc rửa chén của một số đông các nội trợ nước mình rồi xét xem có cử động nào vồ ích hoặc mệt không
- Ở miền Hậu Giang, phần đông nhà nào cũng có một cái sàn nước. Người ta rửa chén ở đó và sàn có khi xa phòng ăn. Một điều bất tiện.
- Sàn có vài lu nước và xa bờ sông. Hai điều bất tiện (điều bất tiện này nhiều khi tránh không được).
- Cạnh lu nước đặt một cái vịm. Người ta cúi xuống, đặt rổ chén dơ ở bên vịm rồi đứng dậy, đổ nước sạch vào đầy vịm. Những cử động đó làm cho ta mau mệt.
- Khi rửa, người ta thường ngồi chồm hổm, cử động không mau bằng khi đứng; một điều bất tiện nữa.
Rửa chén thì phải làm những cử động sau này:
1. Lấy một cái chén ở trong rổ ra (1 hoặc 2 giây).
2. Nếu chén còn dính thức ăn, người ta thường dùng một cái muỗng để vét những thức đó (4 giây).
3. Nhúng chén vào vịm, múc một ít nước, tráng sơ chén (2 giây).
4. Đặt chén ở một bên (1 giây).
Khi đã vét hết các chén dơ rồi.
5. Người ta lấy một miếng vải cọ vào một miếng xà bông (2-3 giây).
6. Rồi chùi từng cái chén (3-4 giây).
7. Nhúng chén vào vịm, khoắng khoắng (2 giây).
8. Đặt chén vào một chỗ khác, cách biệt với chỗ chén chưa rửa (1 giây).
Khi đã rửa hết lượt, người ta thay nước trong vịm (phải đứng dậy rồi ngồi xuống).
9. Lấy từng cái chén một.
10. Bỏ vào vịm nước khoắng một lần nữa (1 giây).
11. Đặt chén ở một chỗ khác (1 giây).
12. Sau cùng người ta úp từng chồng chén vào rổ.
Tính ra mỗi cái chén rửa như vậy mất ít nhất là 20 giây11.
Có cách nào tiện hơn không?
- Chẳng hạn trong cử động thứ nhì, tại sao không dùng một cái xơ dừa thay cái muỗng để vét cho mau và sạch? Như vậy rút được 1-2 giây.
Cử động thứ ba có cần thiết không? Nếu dùng xơ dừa như trên thì phải tráng sơ chén: mà dẫu có tráng cũng không sạch gì hơn mấy vì nước trong vịm là nước lạnh, không rửa được mỡ.
- Cử động số 8 và 9 vô ích. Nếu có thêm một cái vịm nước sạch thì rửa xong nước nhất cứ bỏ ngay chén vào vịm đó.
- Cử động thứ 11 cũng có thể bỏ đi được.
Tóm lại rửa một cái chén có thể tiết kiệm 6-7 giây. Mỗi bữa rửa chừng 20 cái vừa đĩa vừa chén, rồi đũa muỗng... có thể tiết kiệm được 3 phút, mỗi ngày được 8-9 phút.
Nếu bà chỉ muốn tiết kiệm thời giờ mà không cần tiết kiệm xà bông thì bà nên dùng nước xà bông âm ấm để rửa. Như vậy, bà có thể theo cách sau này của ông H.L. Rumpf:
Bà hiệu trưởng trường Gia Chánh Charleville ở Pháp đã nghiên cứu cách dọn giường và đã ghi kết quả lại.
Theo cuốn cũ, muốn dọn một cái giường phải:
- làm 74 cử động về tay
- làm 33 cử động về lưng.
- đi đi lại lại 34 thước.
- mất 10 phút.
Bà cải thiện cách làm, chỉ cần:
- 12 cử động về tay.
- 13 cử động về lưng.
- đi đi lại lại 6 thước rưỡi
- mất 3 phút.
Cứ mỗi công việc bà tiết kiệm 5-10 phút như vậy, mỗi ngày bà tiết kiệm ít nhất được 1 giờ, có khác nào mỗi ngày bà có 24 giờ mà bỗng nhiên được tăng lên 1 giờ nữa không? Ông Arnold Bennett nói: trời đất công bằng, ban cho ai cũng chỉ một ngày có 24 giờ thôi. Nhưng người nào biết suy nghĩ, làm việc có phương pháp thì 24 giờ của họ có khi bằng 48 hoặc 480 giờ của kẻ khác.
4. Những luật về cử động.
Trong khi nghiên cứu cách làm việc, bà nên biết những luật dưới đây về cử động.
1. Duỗi một bắp thịt thì không mệt. Co nó lại mới mệt. Càng co nhiều càng mệt nhiều, càng co lâu càng mệt nhiều.
2. Co mạnh chừng nào thì mau mệt chừng ấy.
3. Co tới một tốc độ nào đó, ta có thể làm được nhiều việc nhất.
4. Công việc làm càng mau thì bắp thịt càng được mau duỗi, nghĩa là mau được nghỉ.
5. Khi làm một công việc nào, nếu ta được lợi về sức nhanh thì thiệt về sức mạnh, nếu được lợi về sức mạnh thì thiệt về sức nhanh. Ví dụ cái “ru líp” xe máy càng lớn, nhiều răng thì đạp càng nhẹ, (lợi về sức mạnh) nhưng xe đi càng chậm (thiệt về sức nhanh). Trái lại, đĩa càng nhỏ, càng ít răng, thì xe đạp càng nặng (thiệt về sức mạnh) nhưng xe đi càng nhanh (lợi về sức nhanh).
6. Làm nặng quá thì mau mệt, nhẹ quá thì chậm, làm nhanh quá cũng mau mệt. Có một tốc độ lợi nhất và khí cụ cũng có một sức nặng hợp với ta nhất (coi lại thí nghiệm của Taylor về sức nặng của cái leng xúc quặng, chương VI).
7. Khi mệt, phải nghỉ ít nhất là 4 phút. Taylor đã làm tăng sức chở của những thỏi gang của một người thợ lên gấp 4 lần, bằng cách chỉ cho họ lúc nào nên đi nhanh, lúc nào nên nghỉ.
Một lần khác, có công việc kiểm soát lại các viên đạn xem viên nào có tật thì bỏ ra, ông cho thợ cứ làm 1 giờ 15 phút thì được nghỉ 10 phút. Kết quả là số giờ làm đã rút xuống được hai mà việc còn mau lên gần gấp đôi nữa.
9. Khi làm nên để khuỷu tay (cùi chỏ) ở gần mình, chỉ những ngón tay là cử động thôi và cử động ở khoảng lưng quần cách thân ta độ 50-60 phân.
10. Bàn làm việc nên cao từ 90 phân tới 1 thước tuỳ người.
5. Nào xin bà hãy suy nghĩ.
Đọc tới đây bà đã biết ít nhiều qui tắc quan trọng về môn tổ chức. Xin bà thử đem áp dụng nó trong việc nhà xem có hiệu quả không. Đồ đạc trong mỗi phòng sắp đặt có hợp lý không? Phân phối công việc có khéo léo không? Chương trình làm việc mỗi ngày có nên sửa đổi gì không? Có cách nào rút được thời giờ đi chợ mỗi ngày không? Cách giặt và ủi quần áo của bà có tiện không?
Nếu bất kỳ công việc gì, bà cũng hỏi:
- Tại sao làm như vậy?
- Có cách nào làm khác không?
Thì bà sẽ thấy 10 lần có thể cải cách được tới 5-6.
a) Nấu cơm.
Chẳng hạn công việc nấu cơm. Tại sao đổ vào nồi cho dư nước để rồi lại chắt bớt đi.
Các nhà bác học đã nghiên cứu và thấy gạo có sinh tố B1. Chất này trị được bệnh thũng mà ở lớp ngoài của hột gạo và dễ tan trong nước .
Gạo giã càng trắng thì càng mất nhiều chất đó mà chắt nước cơm tức là bỏ đi một phần lớn chất bổ của gạo. Do đó, những người ăn gạo xay máy và nấu theo lối chắt bỏ nước cơm dễ mắc bệnh thũng. Muốn tránh cái hại đó, nên dùng gạo giã tay và khi nấu, nên đổ vừa nước thôi.
Sở lúa gạo đã nghiệm rằng cách nấu cơm có khác, tỉ lệ nước và gạo, loại gạo có khác, nhưng khi nấu cơm, không thay đổi mấy; thường thường là cứ một phần gạo phải đổ hai phần nước, tính theo sức nặng của gạo và nước. Một lít gạo nặng trung bình 888gam, một lít nước nặng 1000gam. Vậy nấu một lít gạo thì phải đổ 800x2 = 1600gam nước, nghĩa là 1 lít và 6 phần 10 lít nước. Đổ nước theo tỷ lệ đó thì không sợ còn dư nước. Khi vo gạo, không nên vo kỹ quá, sợ mất chất cám chứa nhiều sinh tố B1. Như thế vừa đỡ tốn công phải vo lâu, phải chắt nước mà còn được lợi là không mất chất bổ trong gạo và ít khi bị bệnh thũng.
b) Định món ăn.
Còn việc định món bữa ăn. Sao ngày nào bà cũng phải suy nghĩ, lựa chọn nên nấu những món nào rồi tính toán phải mua những thức gì? Sao không định sẵn cho một tuần lễ, lập một bảng như ở trang 91 và những tuần sau cứ theo đó mà sửa đổi; thêm bớt qua loa.
Bà sợ ông thấy tuần nào cũng dùng thực đơn đó mà chán chăng? Muốn chiều ông cũng không khó. Chẳng hạn thứ hai tuần sau, bà sẽ bỏ món A, thay vào món E, thứ ba bỏ món G, thay vào món H... Có nhiều cách thay đổi mà không tốn công gì cả.
c) Sắp đặt lại tủ sách.
Tủ sách của bà sắp đặt đã thật là hợp lý và tiện lợi chưa? Nếu chưa thì tôi xin chỉ bà cách sau này mà tôi bắt chước của ông Adrien Jans trong cuốn Un art de lire (Editions scientifiques et litéraires).
Sách và báo sẽ chia ra thành 12 loại:
1. Những cuốn ông bà thích nhất về một loại.
2. Những sách in đẹp.
3. Tiểu thuyết (sắp theo tên tác giả theo thứ tự a.b.c...)
4. Thơ (cũng sắp đặt như trên)
5. Phê bình. Tuỳ bút (theo đề mục và thứ tự a.b.c...)
6. Sử ký, địa lý, (sắp theo thời đại và từng miền)
7. Khoa học (sắp theo từng môn)
8. Triết học (sắp theo đề mục)
9. Tiểu sử (sắp theo tên các nhân vật kể trong sách và theo thứ tự a. b. c...)
10. Tôn giáo.
11. Báo.
12. Sách về nghề nghiệp của ông và bà.
Nếu có những loại ít sách quá thì bà có thể thu 3-4 loại làm một và để chung vào một ngăn.
Cách đó đủ dùng cho một tủ sách dưới một ngàn cuốn. Trên số đó thì nên theo phép phân loại thập tiến phổ cập tôi đã chỉ trong cuốn “Tổ chức công việc theo khoa học”.
Mỗi cuốn phải có một số riêng. Như loại thứ nhất bà gọi là A chẳng hạn thì những sách trong loại đó sẽ có những số A1, A2, A3... .
Mỗi cuốn lại nên có một loại thẻ riêng. Thẻ là một miếng giấy cứng khổ chừng 10x14 phân, trên đó bà ghi:
- Số cuốn sách.
- Tên tác giả.
- Tên sách.
- Tên nhà xuât bản, năm xuất bản.
- Những chương quan trọng bà muốn coi lại.
Khi cho ai mượn, bà nên biên ngay trên thẻ ngày lấy ra và tên người mượn. Nên biên bằng bút chì để dễ bôi đi khi người ta trả sách.
Những thẻ đó sắp trong một hộc hoặc tủ nhỏ theo thứ tự từng loại như trên đã định.
Khi bà có rất nhiều sách, bà có thể làm cho mỗi cuốn thêm một thẻ nữa và những thẻ này sẽ sắp theo tên tác giả.
Nếu sách ít, không muốn dùng thẻ sợ tốn công thì cũng nên làm một cuốn sổ ghi các sách theo từng loại. Sổ sẽ có tám cột như trong bảng dưới đây:
TÓM TẮT
Muốn cải thiện một cách làm việc, phải:1. Phân tích nó ra làm nhiều cử động.
2. Đo thời giờ của mỗi cử động rồi cộng lại.
3. Suy nghĩ, tìm xem cử động nào vô ích hoặc mệt sức thì bỏ đi hoặc sửa đối lại.
4. Định rõ cách mới ra sao.
5. Phân tích nó ra làm nhiều cử động.
6. Đo thời giờ của mỗi cử động rồi cộng lại .
7. Nếu có nhiều người làm chung thì phải thu xếp sao cho không có người nào ngồi không, nghĩa là xong công việc này thì có công việc khác ngay, khỏi phải chờ đợi nhau.
8. Có khi muốn thay đổi vài cử động, phải thay đổi luôn cả dụng cụ, trong trường hợp đó, phải tính rốt cuộc lợi hay hại, phí tổn giảm hay tăng.
9. Phải chiêm nghiệm kỹ lưỡng vì có nhiều cách mới xét tưởng hơn mà kỳ thực thì rắc rối hoặc tốn kém.
Qui tắc là vậy, nhưng nhiều khi bà không cần theo đúng và có thể bỏ những công việc ghi trong số 2 và số 6.