SỐNG ĐỂ KỂ LẠI

Lượt đọc: 2550 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 8

Tổng biên tập báo ElEspectador, Guillermo Cano gọi điện thoại cho tôi khi biết tôi đang ở trong văn phòng của Alvaro Mutis, cách trụ sở ban biên tập bốn tầng trong cùng cao ốc mới được khai trương, cách trụ sở cũ khoảng năm dãy phố. Mới đến từ tối hôm trước, tôi dự định sẽ ăn trưa với một số bạn bè của ông, nhưng Guillermo cứ bảo tôi phải đến chào ông trước đã. Và đúng là phải như vậy. Sau những vòng tay ôm hôn nồng nhiệt đúng cách thanh lịch của dân thủ đô và một đôi lời bình luận về tin tức trong ngày, ông kéo tay tôi ra khỏi những người cộng sự của mình trong tòa soạn. “Nghe này, Gabriel, có việc đây - ông nói với tôi với cái vẻ ngây thơ không chịu được - anh làm ơn viết cho tôi một bài xã luận đang còn thiếu để lên khuôn tờ báo, được không?” Ông dùng ngón tay trỏ và ngón cái ra hiệu cỡ nửa cốc nước, và kết luận:

- Dài cỡ này.

Vui hơn cả ông, tôi liền hỏi mình có thể ngồi ở đâu, và ông chỉ ngay chiếc bàn còn để trống với một chiếc máy chữ cổ lỗ sỉ. Không hỏi gì hơn, tôi liền ngồi vào chỗ, suy nghĩ về một đề tài tốt cho họ, và tôi sẽ ngồi trên chính cái ghế này, đúng cái bàn đây với cùng chiếc máy chữ trong mười tám tháng tiếp theo nữa.

Mấy phút sau khi tôi đến, Eduardo Zalamea Borda, Phó Tổng biên tập cũng ra khỏi phòng bên cạnh, mặt đầy tư lự với cuộn giấy trên tay. Ông tỏ vẻ kinh ngạc khi nhận ra tôi.

- Chà chà, ngài Gabo! - gần như ông hét lên với cái tên mà chính mình đã nghĩ ra cho tôi bằng cách cải biến tên Gabito ở Barranquilla, và chỉ có ông dùng. Nhưng lần này thì nó đã được phổ biến rộng rãi ở cả trong tòa soạn và tiếp tục được dùng bằng cả chữ in: Gabo.

Tôi không còn nhớ đề tài bài báo mà Guillermo Cano đã nhờ tôi viết, nhưng ngay từ hồi học ở trường Đại học Quốc gia tôi đã biết phong cách năng động của tờ El Espectador. Nhất là trong chương mục “Ngày qua ngày” trong trang bình luận, xã luận, vốn có uy tín rất xứng đáng, và tôi quyết định làm theo cách đó với sự bình thản mà mẹ Luisa Santiaga đã từng đương đầu với lũ quỷ dữ của những khó khăn trắc trở. Tôi hoàn thành bài báo trong vòng nửa giờ đồng hồ, sửa chữa bằng tay một số sai sót và trao lại cho Guillermo Cano. Ông vẫn đứng dướn mắt qua vòng cung của chiếc kính cận để đọc bài báo. Sự tập trung chú ý dường như không phải chỉ của mình ông mà của cả một vương triều tổ tiên những người tóc trắng, bắt đầu từ ngài Fidel Cano, người sáng lập ra tờ báo vào năm 1887, tiếp tục với người con trai, ngài Luis, và được củng cố bởi em trai của ông này, ngài Gabriel. Rồi khi dòng máu gia tộc đã trưởng thành, người cháu nội Guillermo đã tiếp nhận chức Tổng biên tập ở tuổi hai mươi ba. Giống như những người trong dòng họ trước đây đã từng làm, Guillermo cũng rà soát lại một số ý nhỏ còn nghi ngờ rồi kết thúc bằng việc sử dụng lần đầu tiên cái tên thực dụng và đơn giản hóa của tôi:

- Rất tốt, anh Gabo ạ.

Đêm đầu tiên khi trở lại, tôi nghiệm thấy Bogota không còn như ngày nào nữa dù lòng còn đầy ắp bao kỷ niệm. Cũng như bao nhiêu sự kiện bi thảm khác của đất nước, biến cố ngày mồng 9 tháng 4 cũng đang được người ta tìm mọi cách chôn vùi trong quên lãng hơn là để nó đi vào lịch sử. Khách sạn Grenada đã bị thiêu rụi cùng với công viên đã hơn trăm tuổi của nó và thay vào đó đã xuất hiện tòa nhà quá mới mẻ - Ngân hàng của nước Cộng hòa. Những đường phố cũ ngày nào giờ sẽ vắng vẻ nếu không có những chuyến xe điện đèn sáng choang, và góc phố của tội ác lịch sử đã không còn khoảng không gian mênh mông vì cơn hỏa hoạn gây ra. “Bây giờ đúng là một thành phố lớn”, ai đó đi cùng với tôi kinh ngạc thốt lên. Và nói ra một câu thường tình mà cấu xé hồn tôi:

- Phải cảm ơn ngày mồng chín tháng tư.

Trước đây, tôi chưa bao giờ được ở một nhà trọ thoải mái hơn cái nhà trọ không tên mà Alvaro Mutis đã bố trí cho tôi. Đó là một căn nhà đẹp vì nỗi bất hạnh được ở ngay cạnh công viên quốc gia, nơi mà trong đêm đầu tiên tôi đã phải phát ghen vì cảnh làm tình như trong một cuộc chiến tranh hạnh phúc của những người ở phòng bên cạnh. Ngày hôm sau, nhìn thấy họ đi ra khỏi phòng, tôi không thể ngờ được đó chính là những người của đêm qua: một đứa bé gái gầy còm vận bộ đồ của trại trẻ mồ côi và một ông già đầu bạc cao đến hai mét, có thể bằng tuổi ông của đứa bé. Tôi nghĩ là mình nhầm, nhưng chính họ đã tự khẳng định bằng những tiếng kêu thét như sắp chết hằng đêm cho đến tận sáng sớm.

El Espectador đăng bài báo của tôi trên trang xã luận ở vị trí tốt. Suốt buổi sáng, tôi đã dạo qua các cửa hàng lớn để mua quần áo theo yêu cầu bắt buộc của Mutis và tôi tự nghĩ ra giọng nói lơ lớ tiếng Anh để mua vui cho các cô bán hàng. Tôi ăn trưa với Gonzalo Mallarino và những nhà văn trẻ khác được mời đến để giới thiệu tôi với hội đoàn của họ. Tôi không còn biết gì về Guillermo Cano cho đến mãi ba ngày sau khi ông gọi cho tôi lúc tôi đang ở văn phòng của Mutis.

- Nghe này, Gabo, anh đang có chuyện gì vậy? - anh nói với tôi với vẻ nghiêm túc bắt chước không được đúng lắm của Tổng biên tập. - Ngày hôm qua chúng tôi lên khuôn báo chậm vì chờ bài của anh đấy.

Tôi vội đi xuống tòa soạn báo để nói chuyện với ông ấy. Đến bây giờ tôi cũng không biết làm cách nào mà hồi đó tôi có thể tiếp tục viết các bài báo không ký tên hàng ngày vào buổi chiều suốt một tuần lễ mà không ai nói với mình một câu về công việc và lương bổng. Trong những cuộc đàm đạo về văn chương, những biên tập viên của tờ báo coi tôi như người của họ và sự thật đúng là như vậy dù tôi vẫn không hình dung ra mức độ cam kết của mình với tòa báo ra sao.

Chuyên mục “Ngày qua ngày”, gồm những bài không bao giờ ký tên tác giả, thường bắt đầu bằng bài về chính trị của Guillermo Cano. Theo quy định của Ban lãnh đạo tờ báo, sau đó sẽ đến bài về đề tài tự do của Gonzalo Gonzalez, ông còn phụ trách thêm chuyên mục khá thú vị và được quần chúng ưa thích nhất của tờ báo là “Hỏi và đáp”, nơi ông giải đáp bất cứ thắc mắc nào của độc giả với bút danh Gog, nhưng không phải lấy từ tên Giovanni Papini mà chính âm đầu của tên ông. Sau đó, họ cho in các bài của tôi, và thỉnh thoảng lắm mới có những bài đặc biệt của Eduardo Zalamea vì hàng ngày ông đã phụ trách mục hay nhất của trang xã luận và bình luận - “Thành phố và thế giới” - với bút danh Ulises, không phải từ tác phẩm của Homero - như ông thường nói - mà từ tác phẩm của James Joyce.

Alvaro Mutis cần phải thực hiện chuyến đi công tác ở Port-au-Prince (thủ đô Haiti - ND) vào những ngày đầu năm mới, và anh mời tôi cùng đi. Hồi đó, Haiti là đất nước của những giấc mơ của tôi sau khi đọc xong tiểu thuyết Vương quốc trên thế gian này của Alejo Carpentier (Nhà văn nổi tiếng của Cuba-ND). Ngày 18 tháng Hai tôi vẫn chưa trả lời lời mời của anh ấy, thì đã bắt tay viết một bài báo về nữ hoàng Anh đơn độc trong cung điện Buckingham rộng mênh mông. Tôi để ý là bài này được đăng trên đầu của chuyên mục “Ngày qua ngày” và được mọi người trong văn phòng của chúng tôi đưa ra những lời bình phẩm tốt. Tối hôm đó, trong buổi liên hoan nhỏ tại nhà của Tổng biên tập José Salgar, ông Eduardo Zalamea đã đưa ra những lời khen ngợi còn nhiệt tình hơn nữa. Sau đó, có người tốt bụng còn nói với tôi rằng ý kiến này đã làm tan biến những dè dặt bấy lâu nay và Ban lãnh đạo tờ báo sẽ chính thức giao cho tôi một công việc cố định.

Ngày hôm sau, ngay từ lúc sáng sớm, Alvaro Mutis đã gọi tôi đến văn phòng của anh ấy để báo tin buồn là chuyến đi Haiti đã bị hủy bỏ. Nhưng anh đã không nói với tôi quyết định này đã được đưa ra sau một cuộc nói chuyện ngẫu nhiên với Guillermo Cano. Trong lần nói chuyện đó, Guillermo đã chân thành đề nghị không đưa tôi cùng đi đến Port-au-Prince. Alvaro cũng chưa bao giờ đến Haiti, nên muốn biết lý do tại sao. “Bởi vì khi đã đến đó - Guillermo nói với anh ta - anh sẽ biết rằng nơi ấy là chốn mà Gabo thích nhất trên thế gian này”. Và chấm dứt buổi chiều bằng một lời kết tuyệt vời:

- Nếu Gabo đi Haiti hắn ta sẽ mãi mãi không chịu trở về nữa đâu.

Alvaro hiểu ngay và quyết định hủy chuyến đi, và anh báo cho tôi như là một quyết định của công ty. Thế là không bao giờ tôi được biết Port-au-Prince, nhưng hoàn toàn không biết lý do thực sự cho đến mãi mấy năm gần đây Alvaro mới kể lại cho tôi chuyện này, trong vô vàn những buổi ngồi ôn lại kỷ niệm cũ giữa hai người đã lên hàng ông nội, ngoại. Về phần mình, Guillermo sau khi đã trói chặt tôi vào bản hợp đồng với tờ báo, lại nói với tôi trong nhiều năm rằng: ông rất muốn có một thiên phóng sự lớn về Haiti, nhưng không bao giờ tôi được đi và cũng không giải thích vì sao.

Chưa bao giờ trong đầu tôi vấn vương ảo tưởng trở thành biên tập viên trong biên chế của báo El Espectador. Tôi hiểu là người ta đăng truyện ngắn của tôi vì lúc này ở Colombia đang rất thiếu tác phẩm thuộc thể loại này, nhưng biên tập hàng ngày cho một tờ báo buổi chiều đúng là một thách thức hoàn toàn khác hẳn đối với một người chưa được rèn luyện nhiều trong giới báo chí xung kích. Với tuổi đời nửa thế kỷ, được nuôi dưỡng trong căn nhà đi thuê và với những máy móc thừa của tờ El Tiempo - một tờ báo giàu có, hùng mạnh và kiêu ngạo, - El Espectador chỉ là một tờ báo buổi chiều mười sáu trang chật chội, nhưng năm ngàn bản hàng ngày của nó lại được những người phát hành tranh nhau giành giựt ngay ở cửa xưởng in và được người ta đọc trong nửa tiếng đồng hồ ở các quán cà phê im ắng trong thành phố cổ. Eduardo Zalamea Borda đã từng trực tiếp tuyên bố với đài BBC Luân Đôn rằng: đây là tờ báo hay nhất thế giới. Nhưng điều đáng khích lệ nhất không phải chỉ đơn thuần là lời tuyên bố, mà gần như tất cả những người tham gia làm ra nó cũng như những người đọc nó đều tin đó là sự thật.

Tôi phải thú nhận rằng chỉ một ngày sau khi chuyến đi Haiti bị hủy bỏ, tim tôi đã nhảy rộn lên khi Luis Gabriel Cano, Tổng quản lý, gọi tôi đến văn phòng của ông ta. Cuộc gặp gỡ, với đầy đủ mọi thủ tục hình thức cũng không kéo dài quá năm phút đồng hồ. Luis Gabriel vốn nổi tiếng là cục cằn, một người bạn hào hiệp và một người quản lý keo kiệt, nhưng lúc đó và đến tận bây giờ tôi vẫn thấy ông là một người rất tỉ mỉ và thân mật. Bằng những lời trịnh trọng, ông đưa ra lời đề nghị tôi ở lại tòa soạn báo trên cương vị biên tập viên trong biên chế để viết về các thông tin chung, các bài trình bày ý kiến của Ban biên tập, và tất cả những gì cần thiết trong giai đoạn khó khăn nhất trước khi báo lên khuôn, với mức lương hàng tháng là chín trăm peso. Tôi như bị hụt hơi. Khi lấy lại được hơi thở tôi liền hỏi lại một lần nữa số lương là bao nhiêu, và ông ấy đã nhắc lại từng chữ rõ ràng: chín trăm peso. Ấn tượng của tôi chắc là quá mạnh nên mấy tháng sau - trong một buổi lễ - ông Luis Gabriel thân yêu của tôi đã nói rằng: hôm đó ông diễn giải sự ngạc nhiên của tôi như một lời từ chối. Điều nghi ngờ cuối cùng đã được chính ngài Gabriel nói ra: “Trông anh ta gầy và xanh xao quá mức làm chúng tôi sợ anh ấy bị chết ngay trong phòng làm việc”. Thế là tôi bước vào làm biên tập viên chính thức của El Espectador, nơi chỉ trong không đầy hai năm tôi đã ngốn số lượng giấy lớn nhất trong cả đời mình.

Đó là một dịp may ngẫu nhiên. Người đáng sợ nhất trong tòa báo chính là ngài Gabriel Cano, vị trưởng lão. Ông tự quyết định lập ra những quy chế kiểm tra hết sức gắt gao trong Ban biên tập. Ông đọc soi mói với chiếc kính lúp phóng đại từng milimét tất cả cho đến tận từng dấu phẩy ít ai để ý nhất trong ấn phẩm hàng ngày, bằng bút mực đỏ, ông đánh dấu tất cả mọi thiếu sót trong từng bài báo và cắt dán lên một tấm bảng tất cả những bài bị trừng phạt với những lời bình đáng sợ của chính ông. Ngay từ ngày đầu, chiếc bảng này được đặt tên là “Bức tường nhục nhã”, và tôi nhớ là không một biên tập viên nào thoát khỏi ngòi bút khát máu của ông.

Sự thăng tiến nhanh chóng đầy ấn tượng của Guillermo Cano lên chức Tổng biên tập của El Espectador ở tuổi hai mươi ba hình như không phải là nhờ vào những thành tích cá nhân nở rộ sớm, mà chẳng qua là thực hiện một quyết định đã được dự kiến sẵn trước khi ông ra đời. Vì vậy, điều ngạc nhiên đầu tiên của tôi chính là việc phát hiện ra rằng ông thực sự xứng đáng với cương vị một Tổng biên tập chứ không như người ngoài vẫn thường nghĩ ông chỉ là một đứa con ngoan ngoãn mà thôi. Tôi cũng rất chú ý đến khả năng nắm bắt tin tức nhanh nhạy của ông.

Nhiều khi ông phải đối đầu với tất cả mọi người, dù không đủ lý lẽ, cho đến khi thuyết phục được tất cả nghe theo ý kiến của ông. Thời kỳ đó, nghề báo chưa được giảng dạy trong trường đại học mà người ta phải đứng học bên cạnh máy in, phải hít vào lồng ngực toàn mùi mực in báo, và El Espectador đã có những người thầy giỏi giang nhất có tấm lòng nhân ái cùng với những bàn tay sắt. Guillermo Cano bắt đầu học những chữ đầu tiên ở đó với những nhận xét nghiêm khắc và uyên bác. Kinh nghiệm nặng nề nhất của đời ông có lẽ là việc được đề bạt nhanh, thoát một cái đã lên đến chức vụ cao nhất không qua các cấp trung gian, từ một anh học việc lên thẳng người thầy bậc cao. Ai không gần gũi ông thì khó mà hình dung được sau cái vẻ mềm mỏng dịu dàng và hơi né tránh lại là ý chí quyết tâm sắt đá trong cá tính của ông. Với nhiệt tình cao độ, ông lao vào những trận đánh lớn đầy hiểm nguy, không bao giờ dừng bước kể cả khi biết rằng phía sau sự nghiệp cao thượng có thể có thần chết đang rình rập.

Tôi chưa từng quen biết một người nào ngang bướng với sinh hoạt cộng đồng, dị ứng mạnh mẽ với những vinh quang cá nhân và lẩn xa mọi khoái lạc quyền lực như ông. Ông ít có bạn hữu, nhưng số ít bạn bè đó đều là người rất tốt và tôi cảm thấy vinh hạnh được là một trong số ít đó từ những ngày đầu tiên. Có lẽ vì tôi là một trong những người non nớt nhất trong số những nhà báo già dặn ngồi trong Ban biên tập, điều này làm cho giữa hai chúng tôi hình thành một mối quan hệ cộng sự mãi mãi không bao giờ suy suyển. Điều làm cho tình bạn của chúng tôi trở thành mẫu mực chính là khả năng ứng biến của ông đối với những mâu thuẫn giữa hai chúng tôi. Những bất đồng chính trị là rất sâu sắc và ngày càng theo đà phát triển của sự phân rã trên thế giới, nhưng bao giờ chúng tôi cũng tìm được một quan điểm chung để tiếp tục cùng nhau đấu tranh cho sự nghiệp mà chúng tôi cho là chính đáng.

Ban biên tập ở trong một phòng rất rộng, bàn làm việc được xếp dọc theo hai bên, bầu không khí đầy chất hài hước lành mạnh và châm biếm nặng nề luôn luôn ngự trị. Dario Bautista, một loại người kỳ lạ, phiên bản của Bộ trưởng Tài chính, ngay từ tiếng gà gáy đầu tiên đã tìm mọi cách khuấy đảo, làm hỏng buổi bình minh của các vị quan chức cao hơn bằng hàng loạt những lời tiên đoán - mà phần nhiều là đúng - về tương lai xám xịt của họ. Còn Felipe Gonzalez Toledo, biên tập viên về lĩnh vực tư pháp, một nhà báo bẩm sinh đã nhiều lần đi trước cả các cuộc điều tra của chính phủ bằng nghệ thuật tháo ốc vít lôi tội phạm ra ánh sáng. Guillermo Lanao, phụ trách tin tức của mấy bộ phận, đã giữ được bí quyết vẫn mãi là trẻ thơ cho đến khi ở lứa tuổi cổ lai hi. Rogelio Echavarría, một nhà thơ lớn, phụ trách tờ báo buổi sáng, nên không bao giờ chúng tôi được gặp vào ban ngày. Người anh họ của tôi Gonzalo Gonzalez, một chân băng bột vì chấn thương trong một trận đá bóng, phải học để trả lời những câu hỏi về tất tật mọi thứ trên đời vì thế mà trở thành chuyên gia tạp pí lù. Mặc dù ở trường đại học đã từng là cầu thủ bóng đá hạng nhất, nhưng anh vẫn có niềm tin vĩnh hằng là phải tiếp tục học lý thuyết về bất cứ việc gì bất chấp mọi kinh nghiệm thực tiễn. Dẫn chứng hùng hồn nhất là trong giải vô địch bowling giữa các nhà báo, trong khi chúng tôi tập suốt đêm đến sáng ở sàn đấu thì anh ta dành thời gian nghiên cứu một cuốn sách hướng dẫn về các quy luật vật lý của trò chơi này, và cuối cùng anh ta đã giành được chức vô địch.

Với một biên chế như vậy, phòng biên tập là cả một thế giới vui nhộn vĩnh cửu luôn theo khẩu hiệu không biết là của Darío Bautista hay của Felipe Gonzalez Toledo: “Kẻ nào làm điếm thì ráng mà chịu”.

Tất cả chúng tôi đều biết các đề tài của người khác và luôn giúp nhau khi được yêu cầu hoặc khi có thể. Sự tham gia chung nhiều đến mức có thể nói chúng tôi làm việc bằng cách nói lớn với nhau.

Nhưng khi có việc gì nghiêm trọng thì không nghe thấy cả tiếng thở nữa. Chiếc bàn làm việc duy nhất nằm ngang ở cuối phòng là của Jose Salgar, nhưng ông thường đi lại khắp phòng thông báo tin tức cho mọi người và làm dịu tâm hồn bằng nghệ thuật tung hứng của mình.

Tôi tin rằng buồi chiều Guillermo Cano dẫn tôi đi giới thiệu với từng bàn là trận thử lửa đối với tính nhút nhát của tôi. Tôi như mất khả năng nói và chân thì như bị trật khớp khi Darío Bautista cất giọng vang như sấm nói mà không nhìn ai:

- Bậc thiên tài đã đến!

Tôi không biết làm gì hơn là quay nửa người lại rất kịch với hai tay đưa về phía mọi người và nói cái câu đỡ khôi hài nhất vừa nảy ra trong đầu mình:

- Xin được phục vụ các vị.

Đến bây giờ, tôi như vẫn còn thấy tác động của tiếng huýt sáo và hô hoán ầm ĩ của buổi hôm đó, nhưng cũng thấy nhẹ cả người vì không phải ôm hôn tất cả và phải nghe những lời chào tốt đẹp của từng người. Từ giây phút đó, tôi đã trở thành một thành viên mới trong cộng đồng những con hổ nhân từ với tình hữu hảo và tinh thần toàn tâm toàn ý không bao giờ mất nữa. Bất cứ một thông tin nào, dù nhỏ nhất mà tôi cần để viết báo đều có thể nhờ các biên tập viên tương ứng cung cấp mà không bao giờ bị từ chối.

Bài học lớn đầu tiên trong nghề làm báo của tôi được chính Guillermo Cano dạy cho vào đúng buổi chiều toàn bộ Ban biên tập đang ngồi nhìn cơn mưa rào đổ xuống thành phố Bogota như một cơn đại hồng thủy trong suốt ba tiếng đồng hồ không ngưng nghỉ. Dòng nước cuồn cuộn chảy dọc theo đại lộ Jimenez de Quesada cuốn trôi tất cả mọi thứ và để lại một cảnh tượng về nạn đại hồng thuỷ. Tất cả các loại xe ô tô và phương tiện vận chuyển công cộng đều bị ngưng trệ và hàng ngàn hành khách phải đứng trú ở mái hiên các dãy nhà hai bên phố trong cảnh ngập lụt đến mức không thể tệ hơn được nữa. Tất cả biên tập viên tòa báo bị bất ngờ trước thảm họa đúng vào lúc hết giờ, không còn biết làm gì hơn là cho tay vào túi quần, đứng nhìn qua ô cửa sổ như đám trẻ con bị phạt. Bỗng nhiên, Guillermo Cano xuất hiện làm mọi người bừng tỉnh giấc mơ chập chờn. Ông hét to với cả Ban biên tập đang chết lặng:

- Cơn mưa rào này là cả một nguồn tin đấy!

Đó là một mệnh lệnh mà mọi người phải tuân theo răm rắp. Các biên tập viên chúng tôi chạy ngay về vị trí chiến đấu dùng điện thoại nắm lại từng số liệu chi tiết theo yêu cầu của Jose Salgar để viết từng đoạn một bài phóng sự về cơn mưa rào của thế kỷ. Những xe cấp cứu của bệnh viện và những xe của cảnh sát tuần tra đều bị bất động trong hàng xe bị chết máy vì ngập nước làm kẹt cứng đường phố. Hệ thống đường ống gia đình bị nước lụt làm tắc nghẽn, không còn đủ lực lượng cứu hộ để đi cứu chữa khẩn cấp. Ở một số khu phố, dân cư phải sơ tán khẩn vì đập nước sắp vỡ. Ở các khu khác thì hệ thống đường nước bị vỡ. Hè phố đầy người già tàn tật, bệnh nhân và trẻ em bị ngạt. Trong cảnh hỗn loạn đó có năm chủ ca nô thường đi câu cá cuối tuần đã tổ chức cuộc thi tốc độ dọc theo đại lộ Caracas nơi bị ngập sâu nhất thành phố. Những tư liệu cập nhật tức thì này được Jose Salgar phân phát lại cho các biên tập viên để viết bài cho số báo đặc biệt tổ chức một cách ngẫu hứng. Những phóng viên nhiếp ảnh vận ngay áo mưa đi chụp nóng ở bên ngoài. Trước lúc năm giờ chiều, Guillermo Cano viết bài tổng hợp tuyệt vời về một trong những cơn mưa rào tai hại nhất mà người ta còn nhớ đến tại thành phố này. Cuối cùng, khi mưa vừa tạnh, thì số báo đặc biệt không dự kiến trước của El Espectador được phát hành như mọi ngày chỉ ra chậm có một tiếng đồng hồ.

Mối quan hệ ban đầu của tôi với Jose Salgar quả là khó khăn nhất nhưng đồng thời cũng mang tính sáng tạo hơn cả. Tôi tin rằng anh ta có vấn đề ngược hẳn với tôi: anh ấy luôn luôn tìm cách bắt các phóng viên trong nhóm của mình phải hát thật to nốt đô từ trong lồng ngực mình, còn tôi thì mong muốn họ đặt nốt đô đó trong dòng nhạc đang thịnh hành. Nhưng những cam kết khác với tờ báo đã trói chân tay tôi và tôi chỉ có thời gian rảnh rỗi vào các ngày Chủ nhật. Hình như Salgar để mắt đến tôi như một phóng viên còn những người khác lại đặt tôi vào đề tài phim ảnh, những bài bình luận, xã luận và các vấn đề văn hóa, bởi vì tôi luôn được coi là nhà văn chuyên viết truyện ngắn. Nhưng từ những bước đi ban đầu ở vùng bờ biển, ước mơ của tôi luôn luôn là trở thành phóng viên, và tôi cũng biết rằng Salgar là người thầy tốt nhất, nhưng ông ấy đóng chặt cửa có lẽ với hy vọng tôi phải dùng vũ lực để phá cửa xông vào. Chúng tôi làm việc rất tốt, thân mật và năng động, và mỗi lần phải đưa qua ông một bài vở gì đó đã viết xong theo nhận xét của Guillermo Cano và cả Eduardo Zalamea thì ông đều thông qua không một chút dè dặt, nhưng ông không tha thứ kiểu hình thức. Làm động tác như đang cố mở nút chai, ông nói với tôi một cách nghiêm chỉnh như chính niềm tin của mình:

- Phải vặn cổ con thiên nga.

Tuy nhiên, ông không bao giờ tỏ ra hung hăng. Ngược lại, ông là một người thân mật, từng trải, và thăng tiến nhờ thành tích tốt trong công việc, từ việc phân phát cà phê trong xưởng lúc mười bốn tuổi, cho đến khi trở thành thư ký tòa soạn có uy quyền nghề nghiệp nhất nước. Tôi tin là ông không tha thứ cho sự lãng phí trong nghệ thuật tung hứng con chữ trữ tình của tôi ở một đất nước đang rất cần có những phóng viên xung kích. Ngược lại, tôi cho rằng không có thể loại báo chí nào tốt hơn phóng sự trong việc phản ánh cuộc sống hàng ngày. Tuy nhiên, ngày nay tôi hiểu rằng sự cương quyết làm theo ý mình của hai chúng tôi là cách kích động tốt nhất để tôi thực hiện ước mơ trở thành phóng viên của mình.

Dịp may đã đến với tôi vào lúc 11 giờ 20 phút sáng ngày 9 tháng 6 năm 1954 khi tôi vừa đi thăm bạn ở trại giam Modelo của Bogota trở về. Quân lính được trang bị như chuẩn bị ra trận đang ngăn chặn một đám sinh viên trên đại lộ số Bảy chỉ cách hai dãy phố nơi đã xảy ra vụ giết hại Jorge Eliécer Gaitán. Đó là một cuộc biểu tình phản đối việc một sinh viên bị lính của tiểu đoàn Colombia được huấn luyện cho cuộc chiến tranh ở Triều Tiên giết hại ngày hôm trước và đó là cuộc đụng độ đầu tiên ngoài đường phố của thường dân chống lại các lực lượng vũ trang.

Từ chỗ tôi đứng, người ta chỉ nghe được tiếng hò hét tranh cãi của đám sinh viên đòi tiếp tục được đi đến Dinh Tổng thống và đám lính thì ra sức ngăn cản. Trong đám đông hỗn loạn, tôi không nghe rõ nội dung cụ thể của cuộc tranh cãi, nhưng sự căng thẳng thì thấy rõ trong bầu không khí. Bỗng nhiên, không hề cảnh báo trước, người ta nghe thấy một loạt súng nổ. Một số sinh viên và người đi đường trúng đạn chết ngay tại chỗ. Những người sống sót định đưa những người bị thương đi bệnh viện liền bị đám lính dùng báng súng đánh bật trở lại. Đám lính xua đuổi mọi người chạy khỏi khu vực này và phong tỏa các đường phố xung quanh. Trong cơn chạy hoảng loạn, tôi đã sống lại trong mấy giây đồng hồ cảnh rùng rợn của sự kiện ngày mồng 9 tháng 4, vào đúng giờ này và ở chính nơi đây.

Tôi chạy ngược lên ba dãy phố về phía tòa soạn El Espectador và thấy cả Ban biên tập trong tư thế chiến đấu. Tôi vừa thở hổn hển vừa kể lại những gì đã thấy ở nơi xảy ra cuộc tàn sát, nhưng người ít biết nhất thì lại đang ngồi viết ào ào bài tường thuật đầu tiên về tên tuổi của chín sinh viên bị chết và tình trạng thương tật của những người ở trong bệnh viện. Tôi tin chắc là mình sẽ được lệnh kể lại hành động tàn bạo đó vì tôi là người duy nhất tận mắt chứng kiến, nhưng Guillermo Cano và Jose Salgar đã thống nhất với nhau đây phải là một bài báo tập thể trong đó từng người viết riêng phần của mình. Người biên tập chính sẽ là Felipe Gonzalez Toledo để đảm bảo bài tường thuật mạch lạc và thống nhất về nội dung sau cùng.

- Cứ an tâm đi - ông ta nói vì nhận ra vẻ chán chường của tôi. - Người ta đều biết ở đây chúng ta làm chung cả dù không có chữ ký.

Về phần mình, Ulises an ủi tôi rằng bài xã luận mà tôi cần phải viết có thể sẽ rất quan trọng vì đấy là vấn đề cực kỳ nghiêm trọng trong lĩnh vực trật tự công cộng. Ông ấy có lý, nhưng đó sẽ là một bài rất tế nhị và mang tính định hướng chính trị của tờ báo nên nó sẽ được vài người cấp cao nhất trực tiếp viết. Tôi tin rằng đó là một bài học chính đáng cho tất cả, nhưng riêng với tôi thì thật vô cùng đau đớn. Vụ việc này là dấu chấm hết tuần trăng mật giữa chính phủ của các lực lượng vũ trang và báo chí thuộc phái tự do. Bắt đầu từ tám tháng trước khi tướng Rojas Pinilla lên cầm quyền, đất nước có vẻ được dễ thở hơn sau những cuộc tắm máu liên tục và kéo dài cho đến tận ngày hôm ấy của hai chính phủ bảo thủ. Đối với tôi, đó cũng là trận thử lửa trong giấc mơ trở thành phóng viên của mình.

Sau đó ít lâu, người ta đã cho đăng ảnh xác một đứa bé vô thừa nhận ở trong hội trường của ngành pháp y mà tôi nhận thấy giống hệt ảnh một đứa bé mất tích được đăng mấy ngày hôm trước. Tôi đưa cho trưởng phòng pháp lý, Felipe Gonzalez Toledo xem, và ông đã gọi cho người mẹ của đứa trẻ đầu tiên mà chưa tìm thấy. Đó là một bài học thường xuyên. Người mẹ của đứa trẻ mất tích chờ Felipe và tôi ở phòng chờ của hội trường. Tôi thấy bà thật đáng thương và nhỏ nhoi nên tôi ước mong với tất cả tấm lòng mình là xác chết đó không phải là con của bà. Trong tầng hầm lạnh giá, dưới ánh đèn sáng trưng, có khoảng hai mươi cái bàn để xác chết cứng như đá phủ khăn dơ bẩn. Cả ba chúng tôi đi theo người canh xác chậm chạp đi đến chiếc bàn gần cuối cùng trong góc phòng. Thò ra ngoài chiếc khăn phủ có đôi giày nhỏ buồn thảm với gót sắt mòn vẹt vì đã dùng nhiều. Người mẹ nhận ra ngay, mặt tím ngắt nhưng bà cố giữ hơi thở cho đến khi người canh xác ướp giở tấm khăn lên. Tấm thân của một đứa trẻ khoảng chín tuổi với đôi mắt mở to ngỡ ngàng và vẫn vận bộ đồ khi người ta tìm thấy bị chết trong một rãnh thoát nước ven đường cách đây mấy ngày. Người mẹ hét lên đau đớn rồi gục ngã xuống đất. Felipe đỡ bà dậy và cố tìm lời an ủi, còn tôi thì tự hỏi không biết điều này có xứng với cái nghề mà mình mơ ước hay không. Eduardo Zalamea khẳng định là không. Ông cũng nghĩ rằng những bài ký sự được độc giả quan tâm là một chuyên ngành khó cần có bản lĩnh riêng và một trái tim đã qua thử thách. Không bao giờ tôi còn có ý định theo đuổi công việc này nữa.

Một thực tế khác cũng buộc tôi phải trở thành người phê bình điện ảnh. Trước đây, tôi chưa bao giờ có ý nghĩ là sẽ làm việc này, nhưng những gì đã xảy ra trong rạp chiếu phim Olympia của ngài Antonio Daconte ở thị trấn Aracataca và sau đó trong trường học lưu động của Alvaro Cepeda đã tạo ra cho tôi những nhân tố cơ bản để viết các bài báo về định hướng phim ảnh với quan điểm hữu ích hơn so với quan điểm thông thường lúc đó ở Colombia. Ernesto Volkening, một nhà văn lớn và phê bình văn học người Đức sống ở Bogota từ thời chiến tranh thế giới, vẫn có bài bình luận trên Đài phát thanh Quốc gia về các cuốn phim được trình chiếu lần đầu, nhưng chỉ hạn chế dành cho những thính giả là chuyên gia về điện ảnh. Cũng có một số nhà bình luận giỏi nhưng không thường xuyên tập hợp xung quanh tác giả kịch bản người xứ Catalan, ông Luis Vicens, ở Bogota từ thời nội chiến ở Tây Ban Nha. Chính ông là người đầu tiên lập ra câu lạc bộ phim ảnh với sự đồng tình tham gia của họa sĩ Enrique Grau, nhà phê bình Hernando Salcedo và với sự khéo léo của nữ nhà báo Gloria Valencia de Castano Castillo, vốn là người có uy tín số một. Trong nước có một lượng khá lớn công chúng yêu thích những phim hành động và bi kịch đầm đìa nước mắt, còn phim chất lượng cao chỉ bó hẹp trong số khán giả có văn hóa và những nhà phát hành phim, các chủ rạp càng ngày càng ít mạo hiểm đối với những phim chỉ chiếu được ở rạp ba ngày. Giành giật được thêm khán giả mới từ trong đám đông công chúng đòi hỏi phải có một khả năng sư phạm cao, và có đủ năng lực để khuyến khích, thúc đẩy họ đến với phim có chất lượng và đồng thời giúp cho các nhà phát hành phim, các chủ rạp, vốn cũng muốn như vậy, nhưng không thể chu cấp đủ kinh phí. Nhưng trở ngại chính lại là từ phía các nhà phát hành phim vì họ thường xuyên đe dọa cắt các bản hợp đồng quảng cáo đối với các tờ báo - mà đây là một nguồn thu cơ bản - nếu đăng bài nghiêm khắc phê phán các phim thương mại. El Espectador là tờ báo đầu tiên dám mạo hiểm, và giao cho tôi nhiệm vụ hàng tuần là viết các bài bình luận về buổi công chiếu các phim mới với tính chất như những bài học căn bản cho người hâm mộ hơn là một bài thuyết giảng giáo lý. Theo thỏa thuận chung của mọi người, để đề phòng bất trắc, tôi phải thường xuyên giữ nguyên vẹn giấy mời ưu tiên để chứng tỏ mình vào dự với vé mua ở quầy.

Những bài báo đầu tiên đã làm an tâm các nhà phân phối và các chủ rạp bởi vì chỉ phê bình về số phim chất lượng của Pháp. Trong số đó, có Puccini, một bản tổng hợp dài về cuộc đời của nhà nhạc sĩ vĩ đại; Những đỉnh dát vàng, là chuyện rất hay về nữ ca sĩ Grace Moore, và Lễ hội của Enriqueta, một hài kịch bình lặng của Julien Duvivier. Các chủ doanh nghiệp mà tôi gặp ở ngay cửa ra vào rạp đều bày tỏ sự hài lòng vì các bài báo phê bình này. Alvaro Cepeda, ngược lại, đã từ Barranquilla gọi điện đánh thức tôi dậy từ lúc sáu giờ sáng ngay khi biết lòng dũng cảm của tôi:

- Mẹ kiếp, sao anh dám viết bài phê bình phim mà không xin phép tôi! - anh hét to trong tiếng cười ngất ngưởng qua máy điện thoại - và lại với đầu óc ngu muội về điện ảnh của anh nữa cơ chứ!

Đương nhiên, anh đã biến thành người trợ lý thường xuyên của tôi mặc dù không bao giờ anh nhất trí với ý tưởng không biến thành trường học mà chỉ là định hướng cơ bản cho công chúng khán giả mà thôi. Tuần trăng mật với các chủ doanh nghiệp cũng không thật ngọt ngào như lúc đầu chúng tôi nghĩ. Khi chúng tôi đương đầu với những phim thương mại trong sạch và giản dị, thì ngay cả những người cảm thông nhất trong số các nhà phát hành phim cũng phải lên tiếng than phiền về sự cứng rắn trong các bài phê bình của chúng tôi. Eduardo Zalamea và Guillermo Cano đã rất khéo léo thông qua điện thoại làm vui lòng họ cho đến cuối tháng Tư thì một nhà phát hành ngạo mạn tự xưng là lãnh tụ đã gửi một thư ngỏ lên án chúng tôi dọa nạt công chúng xem phim làm ảnh hưởng đến lợi ích của họ. Tôi thấy cái nút của vấn đề là tác giả của bức thư đã không hiểu ý nghĩa của từ dọa nạt, nhưng tôi cũng cảm thấy mình đang đứng bên bờ thất bại, bởi vì tôi tin là trong cơn khủng khoảng phát triển của tờ báo, ngài Gabriel Cano không dễ gì từ bỏ các hợp đồng quảng cáo phim chỉ vì thú vui mỹ học đơn thuần. Ngay hôm nhận được bức thư, ông cho triệu tập các con và Ulises đến họp khẩn cấp, và tôi chắc rằng sau cuộc họp, phòng điện ảnh của tôi sẽ chết và bị mai táng ngay. Tuy nhiên, ngay sau cuộc họp, khi đi ngang qua bàn làm việc của tôi, ngài Gabriel, với vẻ láu lỉnh của người ông đã nói với tôi:

- Cứ yên trí, anh bạn trẻ cùng tên nhé.

Ngày hôm sau, trên chuyên mục “Ngày qua ngày”, xuất hiện bài báo trả lời người phát hành phim nọ do chính Guillermo Cano viết theo đúng phong cách hàn lâm và đoạn cuối đã nói lên tất cả: “Sẽ không hề dọa nạt công chúng và lại càng không thể làm ảnh hưởng đến lợi ích của bất cứ ai nếu trên báo đăng một bài phê bình điện ảnh nghiêm túc và có trách nhiệm, giống như người ta vẫn làm ở các nước khác và phá bỏ thói quen cổ hủ và tai hại là khen hết lời cả cái hay lẫn cái dở”. Đó không phải là bức thư duy nhất và bài trả lời độc nhất của chúng tôi. Nhân viên các rạp chiếu phim cũng dùng những lời cay nghiệt nói về chúng tôi và chúng tôi cũng nhận được nhiều thư trái ngược nhau của những độc giả không ghi địa chỉ. Nhưng tất cả đều vô ích: chuyên mục này vẫn sống sót cho đến khi phê bình điện ảnh không còn là một hiện tượng nhất thời trên cả nước mà biến thành một hoạt động thường nhật của báo chí và đài phát thanh.

Kể từ đó, trong không đầy hai năm, tôi đã viết bảy mươi lăm bài phê bình và tốn không biết bao nhiêu thời gian phải ngồi xem phim để lấy ý tưởng. Ngoài ra còn có khoảng sáu trăm bài xã luận, bình luận, cứ ba ngày có một tin ký tên hoặc không ký tên, và tối thiểu tám mươi bài phóng sự có ký tên hoặc không. Cũng từ thời kỳ đó, các sáng tác văn học đều được đăng trên “Tạp chí Chủ nhật”, phụ trương của chính báo này, trong đó có một số truyện ngắn và toàn bộ loạt truyện “La Sierpe” vì nội bộ tạp chí Lámpara có mâu thuẫn.

Đó là thời kỳ hưng thịnh đầu tiên trong đời tôi, tuy vẫn chưa kịp hưởng thụ. Căn hộ có đủ trang bị nội thất và dịch vụ giặt là mà tôi thuê cũng chỉ có phòng ngủ với buồng tắm, điện thoại và bữa điểm tâm tại giường, và một cửa sổ lớn đón cơn mưa phùn vĩnh cửu của thành phố buồn nhất thế giới. Tôi chỉ dùng căn hộ này để ngủ từ ba giờ sáng sau một giờ đọc sách, cho đến khi có bản tin sáng của đài phát thanh để giúp tôi cập nhật thông tin của một ngày mới.

Tôi vẫn chưa hết băn khoăn rằng đây là lần đầu tiên có một nơi cố định và riêng tư để sống nhưng không đủ thời gian thậm chí để nhận biết được việc này. Tôi vẫn quá bận rộn trong chuyện chơi xổ số với cuộc sống mới nên khoản chi tiêu đáng kể nhất cũng chỉ là chiếc thuyền có mái chèo mà cứ cuối tháng tôi vẫn phải gửi về cho gia đình thật đúng hẹn. Chỉ đến hôm nay tôi mới nhận ra rằng mình có quá ít thời gian tự lo cho cuộc sống riêng mình. Có lẽ vẫn tồn tại trong tôi ý nghĩ của những người mẹ vùng biển Caribe rằng các cô gái ở thủ đô Bogota chịu trao thân cho các chàng trai vùng duyên hải mà không cần chút tình yêu nào chẳng qua chỉ vì muốn thực hiện ước mơ được sống trước biển mà thôi. Tuy vậy, ở căn hộ đầu tiên khi sống độc thân ở Bogota, tôi đã đạt được mục tiêu này không một chút mạo hiểm, khi tôi hỏi người gác xem ở khu nhà này có cấm đoán các chuyến thăm của bạn gái lúc nửa đêm hay không. Anh ta đã dành cho tôi một câu trả lời rất thông minh:

- Cấm đấy, thưa ông, nhưng tôi sẽ không nhìn thấy những gì mình không nhất thiết phải nhìn.

Vào cuối tháng Bảy, không hề báo trước, Jose Salgar đứng như trời trồng trước bàn lúc tôi đang viết bài xã luận và nhìn tôi một lúc lâu. Tôi ngừng giữa câu viết và tò mò hỏi ông ấy:

- Có chuyện gì vậy?

Ông ta vẫn không hề chớp mắt, tay cầm bút chì màu đỏ như đang chơi khúc nhạc bolero vô hình nào đó, và với nụ cười quỷ quái không thèm che giấu ý đồ của mình. Tuy tôi không hề hỏi nhưng ông vẫn giải thích tại sao họ đã không cho phép tôi thực hiện thiên phóng sự về vụ tàn sát sinh viên ở đại lộ số Bảy vì đó là một thông tin rất khó xử lý đối với một người mới vào nghề. Ngược lại, lúc này ông lại tự mình chịu mọi rủi ro cho tôi tấm bằng phóng viên, một cách trực tiếp và không hề có ý định thách thức ai, nếu như tôi đủ khả năng chấp nhận một đề nghị có tính sinh tử của ông:

- Tại sao anh không đi Medellín rồi về kể cho chúng tôi nghe chuyện gì đã xảy ra ở đó?

Không dễ hiểu được ông ta, bởi vì ông đang nói với tôi về một việc đã xảy ra cách đây đã hai tuần lễ nên tôi đành phải nghi rằng đây chỉ là một món ăn nguội không hơn không kém. Được biết là sáng ngày 12 tháng Bảy có một vụ lở đất ở La Media Luna, một nơi xa xôi hẻo lánh phía đông của thành phố Medellín, nhưng những vụ xì căng đan báo chí, sự lộn xộn của các nhà chức trách và nỗi hoảng sợ của nạn nhân đã gây nên một sự rối loạn về hành chính, và nhân đạo đã che khuất sự thật. Salgar không yêu cầu tôi tìm mọi cách dựng lại những gì đã xảy ra mà lại ra lệnh cho tôi phải tìm ra bằng được sự thật ngay tại nơi biến cố xảy ra - và không gì ngoài sự thật - trong thời gian ngắn nhất. Tuy nhiên cách nói của ông đã khiến tôi nghĩ rằng: cuối cùng thì ông cũng đã tháo khóa cho tôi.

Cho đến lúc đó, điều duy nhất mà toàn thế giới biết về Medellín chỉ là chính nơi ấy, Carlos Gardel (ca sĩ nổi tiếng người Argentina chuyên hát nhạc tango - ND) đã bị chết cháy trong một vụ tai nạn hàng không. Tôi biết rằng đó là quê hương của nhiều nhà văn và thi sĩ lớn, ở đó có trường Presentación nơi Mercedes Barcha đã bắt đầu vào học trong năm này. Trước một nhiệm vụ thú vị như vậy, tôi hình dung việc xây dựng lại từng phần thảm cảnh chết người hàng loạt từ một ngọn núi thật là phi thực tế. Tôi hạ cánh xuống sân bay ở Medellín vào lúc mười một giờ sáng cùng với một cơn giông đáng sợ đến mức cứ nghĩ mình sẽ là nạn nhân cuối cùng của vụ lở đất.

Tôi để hành lý, gồm quần áo cho hai ngày và chiếc cà vạt dự phòng lại khách sạn Nutibara và lao ra đường phố. Đây là một thành phố điền dã bình yên vẫn còn không khí tang tóc với số nạn nhân của vụ thiên tai. Alvaro Mutis đã đi cùng để giúp tôi vượt qua nỗi sợ hãi trên máy bay và cho tôi địa chỉ những người có vị thế trong sinh hoạt của thành phố. Nhưng đúng là tôi không biết phải bắt đầu từ đâu. Tôi ngẫu hứng đi trên những đường phố rực rỡ dưới những tia nắng dát vàng của cái nắng chói chang sau cơn giông, và lại trải qua một giờ phải trú trong một nhà kho vì trời lại đổ mưa chồng lên cái nắng. Lúc đó, tôi bắt đầu cảm thấy trong lồng ngực mình những nhịp đập sợ hãi đầu tiên. Tôi cố tìm cách nén nó xuống theo công thức kỳ diệu mà ông ngoại đã từng dùng trong chiến đấu, nhưng nỗi sợ này đè lên nỗi sợ khác khiến tinh thần của tôi hoàn toàn sụp đổ. Tôi cảm thấy không bao giờ có thể hoàn thành nhiệm vụ được giao và không có đủ dũng khí để nói lên điều đó. Tôi hiểu rằng khôn ngoan nhất lúc này là viết một bức thư cảm ơn gửi cho Guillermo Cano, và quay lại Barranquilla sống trong tình trạng đáng thương như sáu tháng trước đây.

Với tâm hồn vô cùng khoan khoái như vừa ra khỏi địa ngục, tôi đón taxi trở về khách sạn. Bản tin buổi trưa của đài phát thanh phát bài bình luận dài làm như vụ lở đất mới xảy ra hôm qua. Gã tài xế gần như gào lên trong nỗi tức nghẹn, chửi bới sự tắc trách của chính phủ và sự yếu kém của các lực lượng cứu hộ đối với các nạn nhân, và tôi cũng cảm thấy có lỗi trong nỗi tức giận của anh ta. Lúc này, mưa đã tạnh, bầu trời trong vắt không gian đậm hương thơm của hoa cỏ tỏa ra từ công viên Berrío. Bỗng nhiên, không hiểu vì sao tôi bỗng lên cơn điên.

- Ta làm chuyện này đã - tôi nói với lái xe - trước khi về khách sạn, hãy đưa tôi đến nơi đã xảy ra lở đất.

- Nhưng ở đó có còn gì để xem nữa đâu - anh ta nói với tôi -

Chỉ còn những cây nến thắp sáng và những cây thập giá cho những người chết mà xác không moi lên được.

Tôi nghiệm ra rằng nạn nhân là những người sống sót ở những nơi khác nhau trong thành phố, và chính những người sống đã ào ào kéo cả đến để cứu thi thể của những người đã bị chôn vùi trong lần lở đất đầu tiên. Tấn bi kịch lớn xảy ra khi những người tò mò tràn ngập nơi này và một phần núi khác lại lở tiếp đất đá đổ ập xuống. Như vậy, những người duy nhất có thể kể lại sự kiện này chỉ là số ít người thoát được mấy đợt lở đất liên tiếp và hiện đang sống ở phía bên kia thành phố.

- Tôi hiểu - tôi nói với tài xế, cố kiềm chế giọng nói run run - Anh hãy đưa tôi đến chỗ những người còn sống ấy.

Anh ta quay đầu xe ở giữa phố và lao đi như viên đạn theo hướng ngược lại. Sự im lặng của anh ta không chỉ do tốc độ xe bây giờ mà còn là hy vọng thuyết phục tôi rằng lý lẽ của anh là đúng.

Nguồn tin đầu tiên là hai đứa bé tám và mười một tuổi ra khỏi nhà đi hái củi vào bảy giờ sáng thứ Ba ngày 12 tháng 7. Mới đi được khoảng một trăm mét thì chúng cảm thấy có những mảnh vỡ cỡ lớn của đất, đá từ trên núi lao về phía mình. Chúng chỉ kịp chạy trối chết để trốn thoát. Ở trong nhà, ba đứa em gái cùng mẹ và một đứa em mới sinh đều bị vùi lấp. Những người sống sót duy nhất là hai đứa bé vừa ra khỏi nhà và người bố từ sớm đã đi bán cát cách nhà mười cây số.

Nơi này vốn là vùng đất hoang vu cạnh con đường xa lộ từ Medellín đi Rionegro, mà vào lúc tám giờ sáng không có ai ngoài số nạn nhân trên. Đài phát thanh đã phóng đại tin với bao chi tiết đẫm máu và kêu gọi khẩn thiết nên những người tình nguyện đầu tiên còn đến sớm hơn cả những nhân viên chữa cháy. Vào buổi trưa còn có hai vụ lở đất nữa nhưng không hề có thêm nạn nhân, nhưng lại khiến mọi người thêm hốt hoảng, và đài phát thanh địa phương liền tổ chức buổi truyền thanh trực tiếp ngay tại chỗ xảy ra thảm họa. Lúc này, gần hết cư dân của các làng mạc, thị trấn và khu phố lân cận đã kéo đến đây, thêm những người tò mò khắp nơi trong thành phố cũng đến nghe theo lời kêu gọi của đài phát thanh, và cả những hành khách từ các chuyến xe buýt liên thành phố cũng tràn xuống không phải để hỗ trợ cho việc cứu nạn mà chỉ gây cản trở thêm cho công việc này. Ngoài số thi thể ít ỏi bị chôn vùi hồi sáng lại có thêm ba trăm người bị vùi trong những vụ lở đất tiếp theo sau đó. Tuy nhiên, lúc gần tối, có hơn hai ngàn người đang cuống cuồng thực hiện công việc cứu hộ những người sống sót thì một trận lở sáu trăm ngàn mét khối đất đá ầm ầm lao xuống gây thêm tang thương cho biết bao nạn nhân cứ y như nó xảy ra vào giờ cao điểm ở công viên Berrío của Medellín. Trận thiên tai xảy ra nhanh đến nỗi tiến sĩ Javier Mora, trưởng phòng Công trình công cộng của quận còn thấy trong đống đất đá xác một con thỏ không kịp chạy trốn.

Hai tuần lễ sau, khi tôi đến nơi này người ta chỉ mới phát hiện được bảy mươi bốn xác chết, và còn nhiều người may mắn sống sót. Phần đông trong số họ không chỉ là nạn nhân của vụ lở đất mà còn bị nạn vì sự bất cẩn và sự giúp đỡ lộn xộn không có tổ chức. Cũng như trong các vụ động đất, người ta cũng không thể tính toán được số lượng người nhân dịp này đã chạy thoát cảnh nợ nần hoặc sẽ thay đổi vợ. Nhưng dù sao vận may cũng đến đúng lúc, vì theo một cuộc điều tra sau đó, thì ngay từ ngày đầu, khi mọi người đang nỗ lực tìm cách cứu nạn nhân thì suýt nữa đã xảy ra một vụ sụp lở nữa cỡ năm mươi ngàn mét khối đất đá. Hơn mười lăm ngày sau, với sự giúp đỡ của những người sống sót đã hồi phục sức khỏe, tôi đã có thể dựng lại câu chuyện này mà lúc thảm họa xảy ra người ta không thể làm được vì không tiện nói ra và cũng vì thực tế quá khủng khiếp và đau lòng.

Nhiệm vụ của tôi như vậy chỉ thu hẹp vào việc tìm lại sự thật đã mất trong mớ bòng bong những giả thiết và dựng lại tấn thảm kịch đối với mọi người đúng như trình tự và nằm ngoài mọi tính toán chính trị và tình cảm. Alvaro Mutis đã dẫn tôi đi đường thẳng khi gửi tôi đến gặp bà Cecilia Warren, một người làm công tác xuất bản và bà này đã giúp tôi sắp xếp lại các tư liệu mà tôi thu thập được khi trở lại nơi đã xảy ra thảm họa. Bài phóng sự được đăng thành ba chương và ít nhất nó cũng có công đánh thức, dù đã chậm mất hai tuần, sự quan tâm của mọi người đối với một tin đã bị lãng quên và đặt lại đúng thứ tự của tấn bi kịch.

Tuy vậy, kỷ niệm sâu sắc nhất của tôi về những ngày đó không phải là những gì đã làm mà là việc suýt làm được, nhờ vào trí tưởng tượng mơ màng của người bạn học từ thời ở Barranquilla - Orlando Rivera Figurita, mà tôi vô tình gặp được trong ít phút rảnh rang của công việc điều tra. Anh ta về sống ở Medellín từ mấy tháng nay và mới cưới được cô vợ Sol Santamaría, một nữ tu xinh đẹp và có tinh thần tự do được anh cứu thoát khỏi tu viện sau bảy năm nghèo đói, khổ hạnh và chay tịnh. Trong lúc say rượu, Figurita để lộ cho tôi biết một kế hoạch tuyệt vời do anh và vợ cùng vạch ra để cứu Mercedes Barcha ra khỏi khu nội trú. Một thầy tu, bạn thân của họ, vốn nổi tiếng về nghệ thuật làm lễ đính hôn, sẵn sàng làm lễ cưới cho chúng tôi vào bất cứ giờ nào. Điều kiện duy nhất, tất nhiên, là phải được Mercedes đồng ý, nhưng chúng tôi không tìm cách nào xin được ý kiến của cô lúc này đang bị giam lỏng trong bốn bức tường. Ngày nay, hơn lúc nào hết, sự tức giận lại cắn rứt lòng tôi vì không được cùng bị bắt để cùng sống trong một tấn bi kịch như bao thiên truyện đăng tải trên báo. Về phần mình, Mercedes chỉ được biết kế hoạch đó hơn năm mươi năm sau khi đọc nó trong bản thảo của cuốn sách này.

Đó là một trong những lần cuối cùng mà tôi được gặp Figurita. Trong ngày hội carnaval (vũ hội hóa trang) năm 1960, khi đang hóa trang thành hổ Cuba, anh bị trượt ngã khỏi xe hoa và bị trật mắt cá chân trong đám ngổn ngang rác rưởi của ngày hội và được đưa về nhà ở Baranoa.

Trong đêm thứ hai làm việc ở Medellín về vụ sạt lở đất, có hai biên tập viên của nhật báo El Colombiano - còn trẻ hơn tôi - chờ tôi ở khách sạn với ý định bằng mọi giá phải phỏng vấn tôi về những truyện ngắn đã xuất bản cho đến lúc đó. Họ phải khó nhọc lắm mới thuyết phục được tôi bởi vì từ hồi đó đến giờ tôi đã và vẫn có thành kiến, có lẽ hơi bất công, đối với các cuộc phỏng vấn, được hiểu là một buổi hỏi đáp mà cả hai bên đều cố sức giữ cho bằng được cuộc nói chuyện. Tôi mắc chứng bệnh thành kiến này từ hồi còn làm cho hai tờ báo, nhất là ở Crónica, nơi tôi đã cố làm lây bệnh này sang các cộng tác viên. Nhưng lần này thì tôi chấp nhận trả lời phỏng vấn lần đầu tiên với phóng viên báo El Colombiano, và đó là một sự tự sát chân thành.

Đến hôm nay, trong suốt năm mươi năm và đã có mặt trên nửa thế giới, khi đã là nạn nhân của vô vàn cuộc phỏng vấn, tôi vẫn chưa tự thuyết phục được mình về tính hiệu quả của thể loại này, cả chiều đi và chiều về. Tuyệt đại bộ phận những cuộc phỏng vấn về bất cứ đề tài nào mà tôi không lẩn tránh được có thể coi là một phần quan trọng trong các tác phẩm hư cấu của mình, bởi vì chỉ có vậy: những tưởng tượng phóng túng về cuộc đời tôi. Ngược lại, những cuộc phỏng vấn được tôi coi là vô giá không để xuất bản mà chỉ dùng làm tài liệu cơ bản cho phóng sự, được tôi đánh giá là thể loại tuyệt vời của cái nghề hay nhất thế giới.

Dù sao thì thời gian không phải là những phiên chợ. Chính phủ của tướng Rojas Pinilla, lúc này lại thường xuyên xung đột công khai với báo chí và dư luận công chúng, đã quyết định, từ tháng Chín, tách tỉnh Chocó xa xôi và heo hút bị quên lãng thành ba phần chia cho ba tỉnh láng giềng trù phú: Antioquia, Caldas và Valle. Để đến được tỉnh lỵ Quibdó, chỉ có mỗi con đường độc đạo với điều kiện hạ tầng tồi tệ đến mức để đi hết một trăm sáu mươi cây số phải mất hơn hai mươi tiếng đồng hồ.

Ở tòa soạn báo, chúng tôi xem đây là việc đã rồi, không có cách nào để ngăn cản cuộc xẻ thịt tỉnh lỵ nhỏ nhoi này vì lệnh đã được một chính phủ vốn có điều tiếng với giới báo chí tự do ban hành. Ba ngày sau, Primo Guerrero, phóng viên thường trú lâu năm của El Espectador ở Quibdó thông báo rằng đang có một cuộc biểu tình của quần chúng với đông đảo các gia đình, đầy đủ mọi thành viên kể cả trẻ em, đã chiếm quảng trường chính với quyết tâm ở lại đó dầm sương dãi nắng cho đến khi chính phủ từ bỏ ý định của mình. Những bức ảnh đầu tiên cho thấy rõ hình ảnh những bà mẹ quật khởi bế con trên tay, nét mặt xanh xao sau những ngày không ngủ trơ gan chịu trận ngoài trời. Hàng ngày, cùng với những tin này chúng tôi còn có thêm những bài bình luận hoặc những tuyên bố của các chính khách và trí thức người tỉnh Chocó đang sinh sống ở Bogota, nhưng hình như chính phủ cố giành chiến thắng bằng cách làm ngơ. Nhưng vài ngày sau, Jose Salgar tiến lại gần bàn làm việc của tôi với chiếc bút chì múa tít trên tay và gợi ý tôi đi điều tra xem thực sự việc gì đang xảy ra ở Chocó. Tận dụng cái quyền năng ít ỏi có được sau bài phóng sự về Medellín, tôi cố từ chối, nhưng không đủ trọng lượng. Guillermo Cano, đang ngồi viết quay lưng về phía chúng tôi, liền nói to mà không thèm nhìn lại:

- Đi đi, Gabo. Những gì ở Chocó chắc còn tuyệt hơn những gì mà anh định đi xem ở Haiti đấy!

Thế là tôi đi mà không kịp hỏi làm sao tôi có thể viết được bài phóng sự về một cuộc biểu tình phản đối phi bạo lực. Cùng đi với tôi còn có phóng viên ảnh Guillermo Sanchez, người từ mấy tháng nay cứ quấy rầy tôi bằng điệp khúc rằng: chúng ta phải làm chung một bài phóng sự về chiến tranh. Phát chán vì những lời nói đi nói lại đó, tôi phải thét vào mặt anh ta:

- Cuộc chiến tranh khỉ mốc nào hả?

- Đừng cau có như vậy Gabo! - anh ta đột ngột nói ra sự thật - thì anh chẳng thường nói là đất nước này đang ở trong thời kỳ chiến tranh kể từ ngày Độc lập đến nay, đó sao?

Sáng sớm ngày thứ Ba 21 tháng 9 anh ta có mặt tại tòa soạn ăn vận như một chiến binh chứ không phải là phóng viên ảnh, đeo lủng lẳng khắp người nào máy ảnh và túi nọ bịch kia cứ y như đi đưa tin về một cuộc chiến tranh bị bưng bít. Ngạc nhiên đầu tiên là có thể đi Chocó bằng một sân bay phụ không hề có dịch vụ gì, đang nằm chìm trong những đống xe tải chết dí từ lâu và những chiếc máy bay hoen rỉ. Chiếc máy bay của chúng tôi còn sống được là nhờ phép mầu, nó thuộc chủng loại Catalina huyền thoại từ chiến tranh thế giới lần thứ hai do một công ty vận tải tư nhân điều hành. Không có ghế ngồi, khoang máy bay ngắn và tối thui với những cửa sổ che kín và chất đầy các bao đựng sợi để làm chổi. Chúng tôi là hai hành khách duy nhất. Viên lái phụ mặc áo sơ mi dài tay, trẻ và to lớn như các viên phi công trong phim ảnh, bảo chúng tôi ngồi trên các bao hàng sẽ dễ chịu hơn. Anh ta không nhận ra tôi, nhưng tôi biết anh ta là cầu thủ bóng chày giỏi trong các giải đấu ở Cartagena.

Việc cất cánh của máy bay thật đáng sợ, kể cả với những hành khách thường xuyên như Guillermo Sanchez vì tiếng nổ vang trời của các động cơ và tiếng cót két của những tấm sắt thân máy bay, nhưng khi máy bay đã ổn định độ cao trên bầu trời trong sáng của vùng bình nguyên thì anh ta tỏ ra rất thoải mái như một cựu chiến binh. Nhưng khi đã đi qua vùng trời Medellín thì chúng tôi vô cùng kinh ngạc trước một cơn mưa rào cỡ đại hồng thủy đổ ập xuống vùng rừng già giữa hai dãy núi và chúng tôi phải bay thẳng vào vùng mây mưa. Chúng tôi phải sống những giây phút mà có lẽ ít người đã phải trải qua: mưa ngay trong khoang thông qua các lỗ thủng trên thân máy bay. Anh bạn phụ lái, nhảy qua các bao đựng chổi, đưa những tờ báo mới ra trong ngày cho chúng tôi dùng thay cho những chiếc ô. Tôi che kín tận mặt không phải chỉ để che nước mưa mà không để người khác thấy mình đang khóc vì sợ hãi.

Sau hai giờ bay đầy may mắn, chiếc máy bay nghiêng về phía bên trái và bắt đầu hạ độ cao theo thế tấn công thẳng xuống cánh rừng núi và bay hai vòng thăm dò trên quảng trường chính của Quibdó. Guillermo Sanchez đã chuẩn bị để chụp đám biểu tình mệt mỏi sau những ngày đêm mất ngủ, nhưng chỉ thấy quảng trường vắng ngắt. Chiếc thủy phi cơ hư nát bay nốt vòng kiểm tra cuối cùng xem có chướng ngại vật sống hoặc chết nào trên dòng sông Atrato hiền lành hay không rồi mới hoàn thành cú tiếp nước hạnh phúc dưới cái nóng buổi trưa hầm hập và gay gắt.

Một nhà thờ vá víu bằng các tấm gỗ, những ghế xi măng phủ đầy phân chim và một con lừa khổng lồ vô chủ đang ăn lá cây là những dấu hiệu duy nhất của sự tồn tại của con người trên quảng trường đầy bụi bặm và đơn côi chẳng giống gì hơn là một thị trấn xứ châu Phi. Mục tiêu đầu tiên của chúng tôi là phải chụp được ảnh đám đông đứng biểu tình chống đối và gửi ngay về Bogota theo chuyến máy bay trở về, trong khi đi tóm bắt các thông tin đủ viết bản tin đầu tiên gửi theo đường điện tín kịp cho số báo ngày hôm sau. Cả hai việc đó đều không thực hiện được vì chẳng hề có chuyện gì xảy ra.

Chúng tôi đi theo một con phố rất dài không hề có bóng người, chạy song song với dòng sông ôm lấy các bãi chợ nhỏ đang đóng cửa để ăn trưa và các ngôi nhà ở có ban công bằng gỗ và mái tôn gỉ sét. Sàn diễn thì thật tuyệt vời nhưng không có kịch bản và diễn viên. Người đồng nghiệp tốt bụng của chúng tôi, Primo Guerrero, phóng viên thường trú của El Espectador, đang say giấc ngủ nồng trên chiếc võng mùa xuân dưới mái nhà rợp bóng cây của mình, một quang cảnh toát lên vẻ thanh bình như sự im lặng của nhà mồ. Sự thẳng thắn trong cách giải thích tính lười nhác của anh ta không thể khách quan hơn được. Sau những cuộc biểu tình trong mấy ngày đầu tiên, sự căng thẳng đã giảm dần vì không còn có đề tài. Người ta đã mở một cuộc vận động trong toàn thị trấn với kỹ thuật sân khấu, chụp một số tấm ảnh nhưng không đăng báo được vì không đáng tin cậy và người ta đọc những bài diễn văn đậm chất ái quốc mà đúng là đã làm rung động cả nước, nhưng chính phủ vẫn giữ im lặng không thay đổi. Primo Guerrero, với tính mềm dẻo đạo đức mà có lẽ đến Đức Chúa cũng đành phải tha thứ, chỉ bằng những ngón tay nhấn trên bàn phím điện tín, đã giữ báo chí trong trạng thái tiếp tục phản đối quyết liệt.

Vấn đề nghiệp vụ của chúng tôi rất đơn giản: không bắt đầu chuyến đi của Tarzan người rừng để thông báo rằng tin tức vừa qua là không có thật. Ngược lại, chúng tôi có trong tay những phương tiện để nói là nó có thật và sẽ hoàn thành được mục tiêu. Primo Guerrero đề nghị tổ chức lại một cuộc mít-tinh nhỏ, không ai có ý tưởng gì hay hơn. Người hợp tác nhiệt tình nhất của chúng tôi chính là vị đại úy Luis A. Cano, tân Tỉnh trưởng vừa được phong ngay sau khi Tỉnh trưởng cũ tuyên bố từ chức một cách ồn ào, đã kiên quyết yêu cầu máy bay phải chờ để cho báo có thể kịp nhận những bức ảnh nóng bỏng của Guillermo Sanchez. Và thế là một cái tin được bịa ra do nhu cầu bắt buộc cuối cùng lại là tin duy nhất đúng, rồi được nhân rộng ra qua báo chí và đài phát thanh cả nước và sau đó được chính phủ đón lấy để đỡ mất thể diện. Ngay trong đêm hôm đó, người ta bắt đầu tổ chức một cuộc vận động chung của các chính khách người Chocó - một số người có thế lực trong một số giới ở trong nước - và hai ngày sau, tướng Rojas Pinilla tuyên bố hủy bỏ quyết định của bản thân mình chia nhỏ tỉnh Chocó giao cho các tỉnh xung quanh.

Guillermo Sanchez và tôi không về ngay Bogota vì đã thuyết phục được tòa báo cho phép đi các nơi trong tỉnh Chocó để hiểu sâu thực tế của thế giới kỳ lạ đó. Sau mười ngày im lặng, khi chúng tôi, đen sạm vì nắng gió và mệt bã người vì buồn ngủ, vừa vào đến tòa soạn thì Jose Salgar đã vui vẻ đón chúng tôi nhưng vẫn không quên luật lệ của mình.

- Các anh có biết - ông hỏi chúng tôi một cách vô cùng đúng đắn - tin tức về Chocó đã chấm dứt từ bao giờ rồi không?

Câu hỏi buộc tôi đối đầu, lần đầu tiên, với điều kiện sinh tử của báo chí. Đúng vậy, không còn ai quan tâm gì đến Chocó kể từ khi người ta đăng tin về quyết định của Tổng thống không xẻ thịt nó nữa. Tuy nhiên, Jose Salgar cũng ủng hộ tôi trong việc mạo hiểm nấu tiếp món ăn với phần còn lại của con cá bị chết đó.

Điều mà chúng tôi muốn truyền đạt qua bốn bài dài là sự phát hiện ra một đất nước khác lạ trong lòng Colombia mà trước đây chúng tôi chưa hề có một ý niệm nào về nó. Một tổ quốc kỳ ảo đầy hoa nở và các dòng sông chảy vĩnh hằng, nơi tất cả như là một phiên bản huyễn hoặc về cuộc sống hàng ngày. Khó khăn lớn nhất để xây dựng hệ thống đường bộ chính là số lượng quá lớn các dòng sông, suối nước chảy cuồn cuộn nhưng trên cả vùng này chỉ có một chiếc cầu. Chúng tôi đã gặp một con đường dài bảy mươi lăm cây số băng qua rừng nguyên sinh, được xây dựng với một khoản kinh phí cực lớn, để nối từ thị trấn Itsmina đến Yuto nhưng nó lại không hề đi qua bất cứ thị trấn nào trong hai cái tên trên chỉ vì công ty xây dựng đường đã trả đũa việc kiện tụng của họ với hai viên thị trưởng thị trấn.

Ở một trong những thị trấn vùng sâu nọ, một nhân viên bưu điện nhờ chúng tôi chuyển cho bạn đồng nghiệp ở Itsmina một gói bưu kiện đã có từ sáu tháng trước đây. Ở đó, giá một bao thuốc lá sản xuất trong nước là ba mươi xu cũng như các nơi khác trong nước, nhưng nếu chuyến máy bay hàng tuần mà không đến đúng hẹn thì giá thuốc lá sẽ tăng từng ngày đến mức người dân phải hút thuốc lá ngoại nhiều vì giá của nó còn rẻ hơn thuốc lá nội. Một bao gạo đắt hơn nơi sản xuất mười lăm đồng peso bởi vì nó phải chở đến qua hơn tám mươi cây số đường rừng nguyên sinh trên lưng những con lừa mà nhiều khi phải bò như mèo để trèo những dốc núi thẳng đứng. Những người phụ nữ trong vùng quê nghèo nhất thường đi đãi vàng và bạch kim ở suối trong khi chồng thì đánh bắt cá, và vào ngày thứ Bảy họ lại bán cho những thương nhân qua lại một tá cá và bốn gam bạch kim chỉ với ba peso.

Rất ít người Colombia biết rằng ngay giữa trái tim của những cánh rừng ở tỉnh Chocó lại có một thành phố hiện đại nhất nước. Tên của nó là Andagoya, ngay góc giao nhau của hai con sông San Juan và Condoto, và nó có một hệ thống điện thoại hoàn hảo, những bến cảng cho tàu thủy và ca nô đều thuộc về thành phố có những đại lộ rợp bóng cây rất đẹp. Những căn nhà nhỏ nhắn và sạch sẽ với khoảng không gian rộng có rào kín và những cầu thang bằng gỗ nên thơ, trông như được cấy trồng lên thảm cỏ. Ở trung tâm thành phố có một sòng bạc cùng với sàn nhảy, nhà hàng và một quầy rượu nơi người ta có thể uống rượu ngoại với giá rẻ nhất nước. Sinh sống ở thành phố này là những người đến từ khắp nơi trên thế giới, họ đã quên đi nỗi nhớ mong vì sống ở đó sướng hơn hẳn quê hương mình. Andagoya, trong đời thực, là một đất nước thuộc sở hữu riêng của người nước ngoài, những người có tàu hút bùn dùng vào việc bòn rút vàng và bạch kim trên những con sông tiền sử rồi dùng những tàu tư nhân chở đi bán khắp nơi trên thế giới qua cửa sông San Juan mà không nằm trong sự kiểm soát của bất cứ ai.

Đó chính là Chocó mà chúng tôi muốn giới thiệu với người Colombia dù không đem lại kết quả gì, bởi vì sau khi tin tức về nó qua đi, mọi việc đâu lại về đấy, và nó tiếp tục là vùng bị lãng quên nhất nước. Tôi tin rằng lý do quá rõ ràng: từ xưa Colombia luôn luôn là một đất nước mang đặc tính của vùng biển Caribe mở cửa với thế giới qua cuống nhau nối với Panama. Việc buộc phải cắt đi cuống nhau này đã tuyên án chúng ta phải trở thành như ngày nay: một đất nước với đầu óc của vùng núi Andes với các điều kiện phù hợp để kênh đào nối hai đại dương không còn là của chúng ta nữa mà trở thành của Mỹ. (Sau khi giành được độc lập năm 1821, Panama là một phần lãnh thổ của Colombia. Năm 1903, dưới áp lực và hậu thuẫn của Mỹ, Panama tuyên bố độc lập, tách khỏi Colombia - ND).

Nhịp sống hàng tuần của tòa soạn dồn dập như không kịp thở nếu không có những chiều thứ Sáu, cứ xong việc là chúng tôi lại tập trung ở quầy rượu thuộc khách sạn Continental, trên vỉa hè phía đối diện để thư giãn kéo dài đến sáng sớm hôm sau. Eduardo Zalamea đặt tên cho những đêm đó là “thứ Sáu văn hóa”. Đó là dịp duy nhất mà tôi có thể được trò chuyện với ông để không mất đi những hiểu biết về những đổi mới văn học trên thế giới được ông cập nhật từng phút một qua khối lượng trang đọc khổng lồ. Những người sống sót trong các cuộc đàm đạo đầy chất rượu muôn thuở và kết thúc đầy bất ngờ ấy - ngoài hai hoặc ba người bạn vĩnh hằng của Ulises - thường là bọn biên tập viên chúng tôi vốn không hề giật mình khi phải vặn cổ con thiên nga cho đến tận sáng bạch.

Tôi luôn để ý là Zalamea không bao giờ đưa ra bất kỳ một nhận xét nào về các bài báo của tôi, mặc dù có nhiều bài lấy hơi hướng từ các bài khác của ông. Tuy nhiên, khi đến những ngày “thứ Sáu văn hóa” thì ông lại nói thoải mái về thể loại báo chí. Ông thú nhận với tôi là ông không tán thành những ý kiến của tôi trong nhiều bài báo và sẽ gợi ý nhiều bài khác, nhưng không với giọng điệu một thủ trưởng với một nhân viên của mình mà giữa cánh nhà văn với nhau.

Một chỗ trú ẩn thường xuyên sau các buổi chiếu phim ở câu lạc bộ điện ảnh chính là những buổi dạ hội vào lúc nửa đêm trong căn hộ của Luis Vicens và cô vợ Nancy, chỉ cách tòa soạn El Espectador có mấy dãy phố. Ông ta vốn cộng tác với Marcel Colin Reval, trưởng ban biên tập của tạp chí Cinématographie franaise ở Paris, vì lý do chiến tranh ở châu Âu nên đã phải thay đổi ước mơ làm điện ảnh bằng một nghề cũng hay là viết kịch bản ở Colombia. Còn Nancy giữ vai trò bà chủ nhà kỳ diệu có thể nâng phòng ăn cho bốn người lên cho mười hai thực khách. Họ quen nhau chỉ ít lâu sau khi Luis Vicens về Bogota vào năm 1937 trong một bữa ăn gia đình. Trong bàn ăn chỉ còn lại một chỗ ngồi bên Nancy và chính chị cũng cảm thấy ghê sợ khi thấy người khách cuối cùng bước vào với mái tóc trắng toát và làn da đen sạm vì nắng của một vận động viên leo núi. “Rủi quá - chị ta tự nhủ. - Bây giờ đến phiên mình phải ngồi bên cạnh anh chàng người Ba Lan mà lại còn không biết nói tiếng Tây Ban Nha nữa chứ!” Chị nghĩ gần đúng về trình độ ngoại ngữ vì người mới đến nói một thứ tiếng Tây Ban Nha pha thổ ngữ Catalán thô kệch trộn lẫn với tiếng Pháp, còn chị ấy thì lại là người xứ Boyacá của Colombia rất mau mồm mau miệng. Nhưng ngay từ lời chào hỏi đầu tiên họ đã hiểu nhau đến mức cả hai đã quyết định sống bên nhau mãi mãi.

Những buổi dạ hội của họ được tổ chức ngẫu hứng sau những buổi trình chiếu đầu tiên của các tác phẩm điện ảnh trong một căn hộ nhét đầy các loại hình nghệ thuật, nơi không còn một chỗ nào nữa để treo các bức tranh thuộc nền hội họa sơ khai của Colombia, trong đó có một số tác phẩm nổi tiếng thế giới. Khách của họ được lựa chọn trong số những người nổi tiếng trong giới nghệ thuật và viết lách, trong đó những người thuộc nhóm Barranquilla cũng thỉnh thoảng có mặt. Tôi đến đây với cảm giác như về lại nhà mình kể từ khi cho xuất hiện bài phê bình điện ảnh đầu tiên, và khi ra khỏi tòa báo trước lúc nửa đêm tôi lại đi bộ qua ba dãy phố đến bắt họ phải thức qua đêm. Cô giáo Nancy không những là một đầu bếp tuyệt vời mà còn là một bà mối tích cực. Bà thường bất ngờ tổ chức những bữa ăn tối tự nhiên để làm mai cho tôi những cô gái hấp dẫn nhất lại hoàn toàn tự do trong thế giới nghệ thuật, và bà không bao giờ tha thứ cho cái tuổi hai mươi tám của tôi mà lại nói ước vọng thực sự của mình không phải là thành nhà văn cũng không phải là nhà báo mà mãi mãi là một chàng độc thân bách chiến bách thắng.

Alvaro Mutis, trong những khoảng trống giữa các chuyến đi khắp thế giới, đã hoàn thành nhiệm vụ ở mức cao là đưa tôi hội nhập vào cộng đồng văn hóa. Trên cương vị Trưởng phòng quan hệ công chúng của Esso Colombia, anh đã tổ chức các buổi ăn trưa trong các nhà hàng đắt nhất để bàn luận về nghệ thuật và văn chương, nhiều lần mời khách từ các thành phố khác trong nước. Nhà thơ Jorge Gaitán Durán có niềm đam mê làm một tạp chí văn học rất tốn kém trong đó một phần đã được giải quyết nhờ quỹ Chấn hưng Văn hóa của Alvaro Mutis. Alvaro Castano Castillo cùng vợ là Gloria Valencia, từ mấy năm nay đã có ý định thành lập một đài phát thanh hoàn toàn dành cho các tác phẩm âm nhạc hay đích thực và những chương trình văn hóa trong tầm tay. Tất cả chúng tôi đều chế giễu dự án phi thực tế của hai vợ chồng này, nhưng Alvaro Mutis thì lại làm hết cách để giúp đỡ họ. Và thế là họ đã lập được đài HJCK “Thế giới ở Bogota” với chiếc máy phát 500 oát, là mức tối thiểu hồi đó. Lúc bấy giờ ở Colombia chưa có vô tuyến truyền hình, nhưng Gloria Valencia đã sáng tạo ra một hình thức liên tưởng siêu hình kỳ diệu là làm một chương trình biểu diễn thời trang qua đài phát thanh.

Vào thời kỳ đó, kiểu nghỉ ngơi duy nhất mà tôi có sau những giờ làm việc quay cuồng là những chiều Chủ nhật yên bình trong nhà của Alvaro Mutis để được nghe anh giảng giải cách nghe âm nhạc không chút thành kiến về thể loại. Chúng tôi ngồi bệt dưới thảm, nghe bằng cả trái tim tác phẩm của các nhà soạn nhạc vĩ đại bậc thầy. Nguồn gốc của nỗi đam mê này được bắt đầu từ thuở còn lén lút trốn ra Thư viện Quốc gia mà chúng tôi không bao giờ quên được. Ngày nay, tôi đã nghe biết bao nhiêu tác phẩm âm nhạc mà mình kiếm được, nhất là thể loại thính phòng lãng mạn mà tôi cho là đỉnh cao của âm nhạc. Ở Mexico, khi viết Trăm năm cô đơn - khoảng năm 1965-1966 - tôi chỉ có hai đĩa nhạc đã mòn vì nghe quá nhiều: Preludios của Debussy và Đêm của ngày hôm ấy của nhóm Beatles. Sau này, khi đã ở Barcelona, tôi ham thích nghe nhạc hòa tấu: đàn cello là loại nhạc cụ yêu thích nhất của tôi, từ Vivaldi cho đến Brahms; đàn vĩ cầm, từ Corelli đến Schônberg; đàn claviko và đàn dương cầm từ Bach cho đến Bartok. Thậm chí còn phát hiện ra điều kỳ lạ là tất cả những gì phát ra âm thanh đều là âm nhạc, kể cả bát, đĩa và đồ dùng trong nhà miễn là thực hiện ảo tưởng làm cho chúng ta biết cuộc đời đang đi về đâu.

Hạn chế của tôi là không thể viết trong khi nghe âm nhạc vì nó làm tôi chỉ chú ý những gì mình nghe hơn là những gì mình định viết, và ngày nay tôi cũng ít khi đi dự các buổi hòa nhạc bởi vì tôi cảm thấy ngồi trên ghế trong nhà hát là có gì đó như tò mò bất chính vào việc riêng của người ngồi bên cạnh. Tuy nhiên, cùng với thời gian và khả năng có được những tác phẩm âm nhạc hay ở tại nhà, tôi đã học được cách viết có âm nhạc làm nền phù hợp với những gì mình đang viết. Những dạ khúc của Chopin phù hợp với những chuyện yên tĩnh, hoặc những bản lục tấu của Brahms cho những chiều hạnh phúc. Ngược lại, tôi không trở lại nghe Mozart trong nhiều năm kể từ khi xuất hiện trong đầu cái ý nghĩ ác độc là Mozart không tồn tại, bởi vì cái hay là Beethoven và cái dở là Haydn.

Trong những năm viết cuốn hồi ký này tôi đã đạt được sự kỳ diệu là không có bất cứ thể loại nhạc nào có thể quấy rối công việc viết lách của tôi, mặc dù, có lẽ tôi cũng chưa biết hết mọi ưu việt khác của chúng, nhưng có điều đáng khâm phục là có hai nhạc sĩ trẻ, lanh lợi đã phát hiện sự giống nhau đến kinh ngạc giữa tiểu thuyết thứ sáu của tôi Mùa thu của trưởng lãoBản concerto thứ ba cho đàn dương cầm của Béla Bartók. Đúng là tôi đã nghe bản nhạc này trong khi viết cuốn tiểu thuyết bởi vì nó đã tạo một trạng thái tâm hồn rất đặc biệt và hơi lạ thường nhưng không bao giờ tôi nghĩ rằng nó lại có thể ảnh hưởng đến mức người ta nhận ra trong các trang sách của tôi. Tôi không hiểu bằng cách nào mà các viện sĩ Viện hàn lâm Thụy Điển đã biết được điểm yếu đó mà họ lại cho dùng bản nhạc này làm nhạc nền trong lễ trao giải thưởng Nobel cho tôi. Tôi đã hết lòng cảm ơn họ, tất nhiên rồi, nhưng nếu trước đó được họ hỏi thì tôi - với tất cả sự cảm ơn và cả sự tôn kính đến họ và đến Béla Bartók - tôi đã có thể nói là mình thích một số bản romanzas của Francisco trong các lễ hội thời niên thiếu của mình hơn.

Vào những năm đó, ở Colombia không có bất cứ cuốn sách sắp viết hoặc một bức tranh chuẩn bị vẽ nào mà không qua văn phòng của Mutis trước tiên. Tôi đã chứng kiến cuộc nói chuyện của anh với một họa sĩ trẻ đã chuẩn bị xong mọi việc cho chuyến đi châu Âu, chỉ còn thiếu tiền. Alvaro chưa nghe hết chuyện, đã kéo chiếc ngăn kéo kỳ diệu trong bàn làm việc của anh ra.

- Đây vé của bạn đây - anh nói.

Tôi vô cùng kinh ngạc khi thấy anh làm việc đó một cách hết sức tự nhiên, không một chút khoe khoang quyền lực của mình. Vì vậy cho đến bây giờ tôi vẫn tự hỏi liệu việc này có liên quan gì đến lời đề nghị của ông Oscar Delgado, Thư ký Hội nhà văn và nghệ sĩ Colombia trong một buổi tiệc rượu rằng tôi nên tham gia cuộc thi truyện ngắn toàn quốc mà sắp bị tuyên bố là không có ai xứng đáng nhận giải thưởng. Tôi đáp không được hay lắm là đề nghị này không xứng đáng với tôi, nhưng ai đó vừa nghe đến đây liền nhắc tôi là ở một đất nước như Colombia không ai có thể làm được nhà văn mà không biết rằng những cuộc thi văn học là trò kịch câm xã hội. “Đến cả giải Nobel”, anh ta kết luận không chút tinh quái và cũng không nghĩ rằng đã nhắc tôi cảnh giác từ đó cho đến khi đưa ra quyết định lớn lao vào hai mươi bảy năm sau.

Ban giám khảo cuộc thi truyện ngắn gồm Hernando Tellez, Huan Lozano y Lozano, Pedro Gomez Valderrama và ba nhà văn, nhà phê bình khác. Thế là, dù không đánh giá về luân lý và kinh tế, ngay tối hôm đó tôi đã lao vào sửa chữa lại lần cuối “Một ngày sau hôm thứ Bảy” , truyện mà tôi đã viết ở Barranquilla sau một cảm hứng bất chợt ở văn phòng El Nacional. Sau hơn một năm bỏ rơi nó trong ngăn kéo, tôi chợt nhận ra rằng tác phẩm này có thể chinh phục được ban giám khảo khó tính này. Và đúng là như vậy, tôi đã nhận được số tiền thưởng khổng lồ là ba ngàn peso.

Cũng đúng vào những ngày đó, và không liên quan gì đến cuộc thi, tôi bỗng rơi vào văn phòng của ngài Samuel Lisman Baum, Tùy viên văn hóa của Đại sứ quán Israel, người vừa khai trương một công ty xuất bản với cuốn sách thơ của thầy Léon de Greiff: Một mớ sổ tay ghi chép. Bản in đẹp và những tin tức về ngài Lisman Baum là khá tốt. Vì vậy, tôi đã đưa cho ông một bản sao đã sửa chữa kỹ càng của Bão lá úa và bàn giao một cách nhanh chóng với lời hứa là lần sau sẽ bàn bạc thêm. Nhất là về vấn đề tiền bạc, mà cuối cùng lại là - đúng như vậy - vấn đề duy nhất không bao giờ chúng tôi đề cập đến. Cecilia Porras trình bày bìa rất ấn tượng - cũng không được đồng nào - trên cơ sở những miêu tả của tôi về đứa bé. Và xưởng in của El Espectador tặng khuôn in màu.

Tôi không được biết gì thêm về cuốn sách cho đến mãi năm tháng sau, khi nhà xuất bản Sipa của Bogota - mà trước đó tôi chưa bao giờ nghe tên - gọi điện đến văn phòng báo cho tôi là ấn phẩm bốn ngàn bản đã sẵn sàng cho việc phát hành, nhưng họ không biết làm sao với nó vì không ai còn biết gì về Lisman Baum. Kể cả những phóng viên của tờ báo cũng không tìm thấy một dấu vết nào và cho đến tận hôm nay dưới ánh sáng mặt trời này không ai còn có tin tức gì về ông ấy nữa. Ulises đề xuất với nhà in hãy bán cho các hiệu sách trên cơ sở chiến dịch tuyên truyền trên báo chí mà ông sẽ bắt đầu ngay bằng một bài báo mà cho đến tận bây giờ tôi vẫn chưa kịp cảm ơn. Giới phê bình đánh giá cuốn sách là tuyệt vời, nhưng phần lớn các bản in vẫn nằm chết dí dưới hầm kho và không bao giờ người ta tính được đã bán được bao nhiêu cuốn và tôi cũng không hề nhận được một xu bổng lộc nào.

Bốn năm sau, Eduardo Caballero Calderon, lúc đó đang quản lý Thư viện cơ bản văn hóa Colombia, đã đưa Bão lá úa vào danh sách hợp tuyển các tác phẩm được in dạng bỏ túi và bán ở các quầy sách ngoài phố Bogota và ở các thành phố khác. Ông đã cho trả tiền nhuận bút được thương lượng trước, ít thôi nhưng rất đúng hẹn và đối với tôi việc này có một giá trị tình cảm lớn vì đó là những khoản tiền đầu tiên mà tôi được nhận từ một cuốn sách. Lần in này có một số thay đổi không phải của tôi và cũng không được tôi chăm chút nên tôi đã không đưa vào trong những lần tái bản sau đó. Gần mười ba năm sau, lúc trở về Colombia sau khi phát hành cuốn Trăm năm cô đơn ở Buenos Aires, tôi thấy ở các quầy sách bên đường phố ở Bogota còn thừa rất nhiều cuốn Bão lá úa, từ lần in đầu tiên, với giá một peso một cuốn. Tôi đã mua lại với số lượng mà mình ôm được. Cũng từ đấy tôi cũng từng thấy trong các nhà sách ở Mỹ La tinh một số lượng khác nhau được bày bán như những cuốn sách lịch sử. Cách đây hai năm, một đại lý sách cổ ở bên nước Anh đã bán được đến ba ngàn đô la một cuốn Trăm năm cô đơn có chữ ký của tôi thuộc bản in lần đầu tiên.

Không có trường hợp nào trên đây có thể khiến tôi sao nhãng phút giây nào công việc làm báo. Thắng lợi bước đầu của những bài phóng sự nhiều kỳ đã buộc chúng tôi phải tiếp tục tìm thêm thức ăn để nuôi con thú háu đói. Sự căng thẳng hàng ngày gần như không chịu được, không chỉ trong việc xác định và tìm đề tài, mà cả trong quá trình viết vốn dĩ thường xuyên bị niềm vui sáng tác truyện hư cấu gây áp lực. Trong tòa báo El Espectador không có nghi ngờ gì nữa: nguyên liệu không bao giờ thay đổi của nghề báo phải là sự thật và không có gì khác hơn là sự thật, điều này khiến chúng tôi luôn luôn ở trong tình trạng căng thẳng vô hình. Jose Salgar và tôi đều rơi vào tình trạng luẩn quẩn tức là không có lấy một phút giây yên ổn kể cả trong ngày nghỉ Chủ nhật.

Năm 1956, có tin là Giáo hoàng Pío XII bị bệnh nấc cục, chứng bệnh này có thể đe dọa tính mạng của ngài. Tiền lệ duy nhất mà tôi còn nhớ là truyện ngắn tuyệt tác “P & O” , của Somerset Maugham trong đó nhân vật chính đã chết giữa Ấn Độ dương vì bị nấc cục trong năm ngày, trong khi từ các nơi trên thế giới gửi đến đủ phương thức chữa chạy kỳ quặc nhất, nhưng tôi tin là thời đó người ta vẫn chưa biết được. Những ngày cuối tuần, chúng tôi không dám đi đâu quá xa so với những chuyến du ngoạn đến các thị trấn làng mạc trên thảo nguyên bởi vì tờ báo luôn phải sẵn sàng ra một số đặc biệt trong trường hợp Giáo hoàng qua đời. Tôi cho rằng chúng tôi phải chuẩn bị bài vở sẵn chỉ để trống cho bức điện thông báo cái chết. Hai năm sau, khi tôi đã là phóng viên thường trú ở Roma, người ta vẫn còn phải chờ đợi cái kết cục về bệnh nấc cục của Giáo hoàng.

Một vấn đề bức xúc khác trong tòa báo là xu huớng chỉ quan tâm đến những đề tài giật gân đủ sức lôi kéo bạn đọc nhiều hơn, và tôi còn có xu hướng khiêm tốn nhất là không muốn đánh mất sự quan tâm của một loại độc giả khác vốn ít được phục vụ là những người nghĩ nhiều về trái tim hơn. Tôi vẫn còn nhớ đến một thiên phóng sự rất giản dị mà tôi chộp được ý tưởng khi đang nhìn qua cửa kính của tàu điện. Ngay trên cửa của một tòa nhà rất đẹp được xây từ thời thuộc địa tọa lạc tại số 567 đại lộ số Tám ở Bogota có một câu có vẻ muốn tự hạ thấp mình: “Văn phòng những bưu phẩm thất lạc của Bưu điện quốc gia”. Tôi nhớ là lúc đó tôi hoàn toàn không hề mất một thứ gì ở bưu điện, nhưng tôi cũng xuống tàu ngay và gọi cửa. Người mở cửa cho tôi chính là người phụ trách văn phòng có sáu người rất đạo mạo, mặt cứ dàu dàu vì nỗi buồn tẻ hàng ngày trong công việc lãng mạn là truy tìm người nhận cho bất cứ bức thư, bưu phẩm nào bị ghi sai địa chỉ.

Căn nhà rất đẹp, rộng lớn nhưng đầy bụi bặm, trần thì cao mà tường thì lở nham nhở, lại chất đấy giấy tờ vô chủ. Bình quân cứ một trăm bức thư được đưa đến đây thì có mười bức đã dán tem nhưng phong bì vẫn để trống, thậm chí không có cả tên người gửi. Nhân viên của văn phòng gọi đó là “những bức thư cho người vô hình”, và không phải tiết kiệm công sức để gửi đi hoặc trả lại. Nhưng thủ tục bóc thư để tìm người gửi cũng hết sức nhiêu khê, đầy tính quan liêu vô ích nhưng lại phải nghiêm ngặt tuân theo.

Bài phóng sự một kỳ được đăng với đầu đề “Người đưa thư gọi đến ngàn lần” , phía dưới còn phụ đề “Nghĩa trang của những bức thư bị thất lạc”. Khi đọc, Salgar nói với tôi: “Đối với con thiên nga này chúng ta không cần vặn cổ bởi vì nó sinh ra đã bị chết ngay rồi”. Bài báo được đăng đúng khuôn khổ, không dài không ngắn, nhưng người ta cũng thấy rõ nỗi đắng cay của sự việc. Rogelio Echavarría, có lẽ vì là nhà thơ nên đã nói một câu mà không bao giờ tôi quên được: “Vì cha Gabo túm cả đến chiếc đinh bị nung nóng”.

Tôi cảm thấy chán nản đến mức tự mình quyết định - không dám báo với Salgar - và chấp nhận mọi mạo hiểm tìm bằng được người nhận của một bức thư rất đáng được quan tâm đặc biệt. Thư được gửi đi từ trại nuôi dưỡng những người bị bệnh hủi ở Agua de Dios, và được gửi cho “một bà vận đồ tang ngày nào cũng đi dự lễ Misa vào lúc năm giờ ở nhà thờ Las Aguas”. Sau khi đã dò hỏi cha đạo và những người giúp việc bằng mọi cách mà vẫn không thành, tôi tiếp tục hỏi chuyện những người sùng đạo vẫn đi lễ Misa lúc năm giờ trong suốt mấy tuần lẽ mà vẫn không có kết quả. Tôi kinh ngạc khi thấy những người chăm chỉ đi lễ nhất là ba phụ nữ đều đã lớn tuổi và thường vận đồ tang kín đáo, nhưng không có ai liên quan một tí gì với trại nuôi dưỡng những người bị bệnh hủi ở Agua de Dios cả. Phải lâu lắm tôi mới hồi phục được tinh thần sau cú thất bại này, không chỉ vì lòng tự ái cũng chẳng phải mất cơ hội được làm một việc thiện mà vì mình tin rằng đằng sau bức thư gửi người phụ nữ vận đồ tang này thế nào cũng ẩn chứa một câu chuyện cảm động.

Càng lún sâu vào vũng bùn phóng sự thì mối quan hệ của tôi với nhóm Barranquilla càng căng thẳng hơn. Bọn họ cũng ít khi đến Bogota, nhưng tôi thì thường tấn công bọn họ bằng điện thoại vào bất cứ giờ nào, về bất cứ rắc rối nào, nhất là gọi cho German Vargas vì quan điểm sư phạm của ông về thể loại phóng sự. Tôi thường hỏi ý kiến họ mỗi khi gặp chuyện rắc rối, mà thường là rất nhiều hoặc là họ gọi tôi mỗi dịp có lý do để chúc mừng. Với Alvaro Cepeda tôi vẫn luôn luôn xem như bạn học ngồi ghế bên cạnh mình. Sau khi trao đổi những câu trêu chọc đùa vui theo thông lệ của nhóm, ông thường đưa ra giải pháp giúp tôi thoát khỏi vũng lầy đơn giản đến mức tôi cũng phải ngạc nhiên. Đối với Alfonso Fuenmayor, tôi chuyên tham khảo ý kiến về văn chương. Ông có những phép màu tuyệt vời để cứu tôi thoát khỏi những rắc rối bằng cách đưa ra những ví dụ của các tác giả lớn hoặc đọc cho tôi chép những câu trích được rút trong kho tàng vô tận của mình. Câu nói đùa bậc thầy mà ông đã bật ra khi tôi xin ý kiến về đầu đề cho một bài báo về những người bán rong đồ ăn thức uống ngoài đường phố đang bị các nhà chức trách về vệ sinh an toàn thực phẩm truy ép, chính là:

- Người bán đồ ăn thì không bao giờ chết đói.

Tôi chân thành cảm ơn ông và thấy đây là dịp may để hỏi đó là câu nói của ai, việc mà mình không thể cưỡng lại được. Afonso chặn đứng tôi lại bằng sự thật mà tôi không còn nhớ nữa:

- Của chính ông, thưa sư phụ!

Đúng thế thật, câu này tôi đã từng viết trong bài báo không ký tên nào đó mà mình đã quên mất. Chuyện này được lưu truyền trong nhóm Barranquilla trong suốt mấy năm và tôi cũng không thể nào thuyết phục được các bạn rằng đó không phải chuyện đùa vui.

Chuyến viếng thăm Bogota bất chợt của Alvaro Cepeda đã kéo tôi ra khỏi nỗi bận rộn về tin tức trong mấy ngày. Ông mang theo ý định làm một cuốn phim nhưng mới chỉ có đầu đề: Con tôm hùm __màu xanh dương. Đó là một lỗi lầm đúng đắn, bởi vì Luis Vicens, Enrique Grau và nhiếp ảnh gia Nereo Lopez lại xem ý tưởng này rất nghiêm túc. Tôi không còn biết gì về dự án này mãi cho đến khi Vicens gửi cho tôi một bản thảo của kịch bản phim để tôi thêm thắt phần của mình trên cơ sở nội dung gốc của Alvaro. Tôi có thêm chi tiết gì đó mà bây giờ không còn nhớ nữa, nhưng cốt truyện thì tôi thấy rất vui và có đủ liều lượng điên điên khùng khùng của nhóm.

Mỗi người đóng góp một tí nhưng người cha hợp pháp là Luis Vicens vì đã đưa vào đó rất nhiều thứ mà ông còn giữ lại được từ hồi ở Paris. Lúc đó, tôi quá bận rộn không kịp thở với những thiên phóng sự dài cho đến khi thoát ra được thì cuốn phim đang được quay ở Barranquilla.

Đó là một tác phẩm giản đơn mà thành tựu lớn nhất là sự làm chủ được trực giác, vốn có lẽ là thiên thần hộ mệnh của Alvaro Cepeda. Có một lần trong vô số buổi chiếu nội bộ ở Barranquilla, lại có mặt đạo diễn Enrico Fulchignoni, người Italia và ông đã làm cho chúng tôi hết sức ngạc nhiên vì sự cảm thông to lớn: ông cho rằng cuốn phim rất hay. Nhờ có sự nhẫn nại và dũng cảm của Tita Manotas, phu nhân của Alvaro, mà bộ phim Con tôm hùm màu xanh dương đã đi chu du khắp thế giới liều mạng tham dự các liên hoan phim.

Những công việc này thỉnh thoảng đã làm chúng tôi quên đi thực tế khủng khiếp của đất nước. Colombia được xem là đã thoát khỏi cuộc chiến tranh du kích khi các lực lượng vũ trang lên nắm chính quyền dưới ngọn cờ hòa bình và hòa hợp giữa các đảng phái. Không ai nghi ngờ là đã có điều gì đó thay đổi cho đến khi xảy ra vụ tàn sát sinh viên trên đại lộ số Bảy. Những quân nhân, muốn giải trình lý do và chứng minh cho các nhà báo chúng tôi thấy rằng đó là một cuộc chiến tranh khác với cuộc chiến tranh vĩnh hằng giữa phái tự do và phái bảo thủ. Khi chúng tôi đang theo dõi việc này thì Jose Salgar đến bàn làm việc của tôi cùng với một ý tưởng khủng khiếp:

- Ông chuẩn bị đi để biết thế nào là chiến tranh.

Những người được mời đi tìm hiểu sơ sơ về chiến tranh đã đến đúng năm giờ sáng để đi đến thị trấn Villarrica, cách Bogota một trăm tám mươi ba cây số. Tướng Rojas Pinilla dự định chờ chúng tôi giữa cung đường, lúc đang thực hiện một trong những chuyến đi nghỉ thường xuyên của ông ở căn cứ quân sự Melgar, và người ta hứa cuộc họp báo sẽ kết thúc trước năm giờ chiều để chúng tôi có thể trở về với ảnh và tin tức trong tay.

Phóng viên của tờ El Tiempo là Ramiro Andrade cùng nhiếp ảnh gia German Caycedo, khoảng bốn người nữa mà tôi không nhớ tên, Daniel Rodriguez và tôi đại diện cho El Espectador. Một số người mặc đồ dã chiến vì chúng tôi đã được cảnh báo trước là có thể phải đi dăm ba bước trong rừng già.

Chúng tôi đi đến Melgar bằng xe ô tô và từ đó được chia thành nhóm trên ba chiếc máy bay lên thẳng bay đến một khe núi hẹp và đơn độc trên dãy núi trung tâm có những đỉnh cao nhọn hoắt. Ấn tượng nhất đối với tôi là thái độ căng thẳng của viên phi công trẻ tuổi khi phải bay vòng tránh một số vùng mà du kích đã từng bắn rơi một máy bay lên thẳng và làm thương tổn một chiếc khác mới ngày hôm trước. Sau mười lăm phút căng thẳng, chúng tôi hạ cánh xuống một bãi trống rộng lớn ở thị trấn Villarrica nhưng nền đá nung thì không đủ cứng để chịu nổi sức đè nặng của mấy chiếc máy bay. Xung quanh quảng trường có nhiều cửa hàng bằng gỗ đã hoang phế và những ngôi nhà hoang không một bóng người, chỉ trừ một căn mới sơn vốn là khách sạn của thị trấn cho đến trước khi có nạn khủng bố.

Phía trước những chiếc máy bay lên thẳng hiện rõ những sườn núi và mái tôn của một căn nhà duy nhất thấy được giữa triền núi. Theo người sĩ quan đi cùng thì đó là nơi trú ngụ của toán du kích đủ vũ khí để giết sạch chúng tôi, thế là để đến khách sạn, chúng tôi phải chạy hình chữ chi và cúi rập người xuống theo nguyên tắc phòng ngừa cơ bản để tránh làn đạn có thể từ trên sườn núi bắn xuống. Khi đến nơi chúng tôi mới biết là khách sạn đã được biến thành trại lính.

Viên đại tá trong trang phục chiến tranh với dáng vẻ nghệ sĩ màn bạc và thái độ thiện cảm thông minh đã bình thản giải thích cho chúng tôi rằng căn nhà trên sườn núi là Chỉ huy sở tiền phương của du kích từ mấy tuần nay và từ đó họ cũng đã mấy lần định đánh xuống thị trấn vào ban đêm. Quân đội tin chắc rằng nhất định họ sẽ làm chuyện gì đó khi thấy có máy bay lên thẳng hạ cánh ở bãi trống, và quân đội đã chuẩn bị sẵn sàng. Tuy nhiên, sau một tiếng đồng hồ khiêu chiến, kể cả dùng loa kích động, không hề thấy có dấu hiệu gì là những người du kích đang sống ở đó. Quá thất vọng, viên đại tá cử một tổ trinh sát đi kiểm tra xem có ai còn ở đấy không.

Sự căng thẳng đã giảm bớt. Cánh nhà báo chúng tôi liền ra khỏi khách sạn và đi thăm dò các đường phố bên cạnh, kể cả những nơi ít được bảo vệ nhất xung quanh quảng trường. Phóng viên ảnh và tôi, cùng một số người khác bắt đầu leo lên núi theo một con đường mòn ngoằn ngoèo. Ngay khúc cua đầu tiên đã thấy có một số lính nằm trong đám cỏ ở tư thế sẵn sàng nhả đạn. Viên sĩ quan khuyên chúng tôi trở về khách sạn vì bất cứ chuyện gì cũng có thể xây ra ngay lúc đó, nhưng chúng tôi đã làm ngơ. Mục đích của chúng tôi là phải gặp được toán đi đầu của du kích để ngày hôm ấy được trọn vẹn với một cái tin lớn.

Không kịp rồi. Bỗng nghe thấy vài khẩu lệnh và hàng loạt đạn bắn xối xả của quân lính, chúng tôi nằm vội xuống bên cạnh những người lính và họ bắn về phía căn nhà ven đường. Trong lúc rối loạn, tôi không còn nhìn thấy Rodriguez, chắc anh ta đang tìm vị trí chiến lược cho tầm nhìn của mình. Cuộc đấu súng rất ngắn nhưng quyết liệt và sau đó là một sự im lặng đến ngạt thở.

Chúng tôi quay lại quảng trường khi thấy toán tuần tra quân sự vừa ra khỏi cánh rừng có mang theo một thi thể trên cáng. Viên chỉ huy toán lính tuần tra rất xúc động đã không cho chúng tôi chụp ảnh. Tôi ngó tìm Rodriguez và thấy anh ta đứng cách tôi năm mét về phía bên phải với chiếc máy ảnh sẵn sàng chụp. Toán lính tuần tra không thấy anh ta. Lúc đó tôi rất căng thẳng giữa mối hoài nghi có nên kêu to bảo anh ta đừng chụp vì sợ đám lính sẽ bắn cảnh cáo hay để mặc bản năng nghề nghiệp của anh ta chụp ảnh bằng bất cứ giá nào. Tôi cũng chưa kịp làm gì thì đã nghe thấy tiếng hét to của viên chỉ huy toán lính tuần tra:

- Chỗ này không được chụp ảnh!

Rodriguez từ từ hạ máy ảnh xuống và tiến đến sát bên tôi.

Hàng người đi sát ngay bên cạnh nên có thể cảm thấy mùi chua chua của người sống và sự im lặng của người chết. Khi họ đi qua hết, Rodriguez nói vào tai tôi:

- Tôi đã chụp được ảnh.

Nhưng tấm ảnh đã không bao giờ được đăng. Chuyến thăm đã biến thành một thảm họa. Có thêm hai người lính bị thương và tối thiểu cũng có hai du kích bị chết khi đã bò về đến hầm trú ẩn của họ. Viên đại tá, đã thay đổi tâm trạng, đưa ra mấy lời giải thích buồn bã. Ông chỉ thông báo ngắn gọn là chuyến đi thăm đã bị đình chỉ, và chúng tôi có nửa giờ để ăn trưa và ngay sau đó sẽ đi bằng đường bộ về Melgar vì máy bay lên thẳng dành để chở thương binh và xác chết. Số lượng người bị thương và bị chết không bao giờ được công bố.

Không có ai nhắc lại buổi họp báo của tướng Rojas Pinilla. Chúng tôi chuyển từ xe jeep sang sáu chiếc khác đã đỗ trước nhà ở Melgar và về đến Bogota sau nửa đêm. Toàn bộ tòa soạn vẫn thức đợi bởi vì Văn phòng thông tin và báo chí của phủ tổng thống chỉ gọi điện báo là chúng tôi sẽ về bằng đường bộ mà không nói là còn sống hay là đã chết.

Cho đến lúc đó, sự can thiệp duy nhất của kiểm duyệt quân sự chỉ xảy ra trong trường hợp cái chết của sinh viên ở trung tâm thành phố Bogota. Không có kiểm duyệt viên trong tòa soạn kể từ khi người cuối cùng của chính phủ xin từ chức trong nước mắt vì không thể chịu nổi những kết quả giả tạo và những lời đùa cợt cay độc của các biên tập viên. Chúng tôi biết là Văn phòng Thông tin và Báo chí của Phủ Tổng thống vẫn không rời mắt khỏi chúng tôi, vẫn thường xuyên gọi điện thoại nhắc nhở và khuyên bảo. Trong thời kỳ đầu của chính phủ, những quân nhân cầm quyền giữ thái độ thân mật kinh viện với giới báo chí, họ trở nên vô hình hoặc khép kín. Nhưng một vấn đề cứ lặng lẽ lớn dần đó là nguồn tin không bao giờ được khẳng định hoặc cải chính rằng viên chỉ huy của cái mầm mống du kích ở Tolima là một thanh niên hai mươi hai tuổi tự hành nghề theo luật của mình nhưng tên họ thì không biết có phải là Manuel Marulanda Velez hay Pedro Antonio Marin, Tirofijo hay không. Hơn bốn mươi năm sau - được hỏi về tư liệu này trong trại chỉ huy của mình - Marulanda đã trả lời là không còn nhớ lúc đó có đúng là mình hay không.

Không thể kiếm thêm tin tức gì khác, tôi rất muốn phát hiện ra chuyện này sau khi trở về từ Villarrica, nhưng không thể tìm được cửa nào. Văn phòng Thông tin và Báo chí của Phủ Tổng thống là cấm cửa đối với chúng tôi, và chuyến đi vô duyên đến Villarrica đã được chôn vùi dưới sự dè dặt của giới quân sự. Niềm hy vọng đã bị vứt vào sọt rác thì bỗng Jose Salgar lại đứng như trời trồng trước bàn làm việc của tôi giả vờ máu lạnh mà không bao giờ ông ấy có được để đưa cho tôi xem bức điện vừa nhận được.

- Đây là chuyện mà ông chưa được thấy ở Villarrica - ông nói với tôi.

Đó là thảm cảnh của đám trẻ con bị các lực lượng vũ trang kéo ra khỏi thị trấn và làng mạc của chúng mà không theo một kế hoạch được chuẩn bị trước, không có phương tiện vật chất đi kèm, để chuẩn bị cho họ tiến hành cuộc chiến tranh hủy diệt chống lại du kích ở Tolima. Bọn trẻ bị tách khỏi bố mẹ mà không được xác minh rõ từ trước từng đứa là con của ai và rất nhiều em đã không nói được tên bố mẹ mình. Tấn thảm kịch được bắt đầu bằng số một ngàn hai trăm người lớn bị dẫn đến các nơi khác nhau ở Tolima, ngay sau chuyến thăm của chúng tôi ở Melgar, và họ được bố trí cẩu thả ở đâu đó rồi bị bỏ mặc cho Đức Chúa trông coi. Những đứa trẻ bị tách khỏi bố mẹ vì lý do hậu cần và được phân bố lung tung đi các trại nuôi dưỡng khắp trong nước, con số lên đến ba ngàn cháu đủ các lứa tuổi và hoàn cảnh khác nhau. Chỉ có ba mươi cháu là mồ côi bố mẹ trong đó có một cặp song sinh mới được sinh có mười ba ngày. Hành động này được tiến hành hoàn toàn trong bí mật, dưới sự kiểm duyệt ngặt nghèo đối với báo chí, cho đến khi phóng viên thường trú của El Espectador gửi điện tường thuật vụ việc cho chúng tôi từ Ambalema, cách Villarrica khoảng hai trăm cây số.

Trong không đầy sáu giờ đồng hồ chúng tôi đã gặp ba trăm trẻ em dưới năm tuổi trong trại Tế bần cho trẻ em ở Bogota, rất nhiều trong số đó không có cha mẹ. Heli Rodriguez, hai tuổi, vất vả lắm mới nói được tên mình. Cháu hoàn toàn không biết gì hết, không biết đang ở đâu, vì sao, cũng không biết tên bố mẹ càng không biết bất cứ một dấu vết nào để có thể tìm được họ. Niềm an ủi duy nhất đối với cháu là có thể ở trong trại này cho đến năm mười bốn tuổi. Tiền ăn hàng tháng cho từng đứa trẻ trong trại mồ côi này là tám mươi xu do chính quyền tỉnh chu cấp. Ngay trong tuần lễ đầu tiên, mười đứa trẻ đã bỏ trốn với ý định đi lậu vé xe lửa về Tolima, và chúng tôi không thể tìm thấy một dấu vết nào về chúng.

Đối với nhiều đứa trẻ ở trong trại, người ta phải đặt tên mới cho chúng theo họ thông thường ở địa phương để dễ phân biệt, nhưng chúng đông, giống nhau và hiếu động đến nỗi không thể phân biệt được chúng khi vui chơi, nhất là những tháng mùa lạnh, khi chúng phải chạy liên tục trong hành lang và trên cầu thang cho ấm người. Trong cuộc viếng thăm đau lòng ấy tôi không thể không tự hỏi liệu quân du kích, chỉ giết chết một người lính trong trận chiến đấu nọ, liệu có thể gây nên bao nghịch cảnh như vậy cho trẻ em ở Villarrica hay không?

Câu chuyện về cái cớ cung cấp hậu cần điên rồ ấy đã được đăng trong mấy bài ký sự liên tục mà không phải xin ý kiến của ai cả.

Kiểm duyệt vẫn giữ im lặng còn giới quân sự thì đáp lại bằng một lời giải thích đúng mốt thời đại: những sự kiện ở Villarrica là một phần trong chiến dịch rộng lớn của cộng sản chống lại chính phủ của các lực lượng vũ trang, nên các lực lượng này bắt buộc phải thực hành các biện pháp thời chiến tranh. Tôi chỉ cần đọc một dòng trong tuyên bố này cũng đã nghĩ ngay trong đầu là phải kiếm được thông tin trực tiếp từ Gilberto Vieira, Tổng Bí thư của đảng Cộng sản, người mà tôi chưa từng gặp.

Tôi không nhớ là bước tiếp theo mà tôi đi có được sự cho phép của báo hay là do sáng kiến của bản thân, nhưng tôi nhớ rõ là đã thử tìm cách tiếp xúc với một người lãnh đạo đang hoạt động bí mật nào đó của đảng Cộng sản để nghe thông báo về tình hình ở Villarrica mà không có kết quả. Vấn đề chính là vòng vây mà chính quyền quân sự thít chặt xung quanh những người cộng sản hoạt động bí mật là chưa từng có. Lúc đó tôi đành phải liên hệ với những người bạn của những người cộng sản, và hai ngày sau lại xuất hiện trước bàn làm việc của tôi một người bán đồng hồ khác đang đi tìm tôi để đòi số nợ mà tôi chưa trả hết hồi còn ở Barranquilla. Tôi đã trả những gì có thể và ra vẻ như vô tình nói với anh ta là mình cần nói chuyện gấp với một trong số những người lãnh đạo lớn, nhưng anh ta đã trả lời với công thức quen thuộc rằng mình không phải là liên lạc viên và cũng không cho tôi biết là ai có thể làm được việc đó. Tuy vậy, ngay buổi chiều hôm ấy, không hề được báo trước, tôi vô cùng ngạc nhiên khi nghe thấy qua điện thoại một giọng nói du dương và vô tư lự:

- Xin chào ông Gabriel, tôi là Gilberto Vieira đây.

Mặc dù là người xuất sắc nhất trong số những sáng lập viên của đảng Cộng sản, cho đến lúc đó Vieira chưa hề bị tù hoặc phải sống lưu vong một phút nào. Dù có nguy cơ cả hai điện thoại đều bị nghe lén, ông vẫn nói cho tôi biết địa chỉ của căn nhà bí mật của mình để tôi đến thăm ngay chiều hôm đó.

Đó là một căn hộ có một phòng nhỏ đầy sách chính trị và văn học, và hai phòng ngủ ở trên tầng sáu với cầu thang ngoằn ngoèo, tối đăm đăm, leo lên đến nơi cũng đã đủ hết hơi, không chỉ vì độ cao mà vì ý thức được mình đang vào một trong những nơi được giữ bí mật tốt nhất nước. Vieira sống với vợ tên là Cecilia và đứa con gái mới sinh. Vì vợ không có nhà nên ông để chiếc nôi ngang tầm tay và đung đưa thật từ từ mỗi khi con khóc, và tạm ngưng giây lát câu chuyện khá dài giữa hai chúng tôi khi thì về chính trị, khi thì về văn học dù không có nhiều ý tứ hài hước. Khó mà hình dung ra người đàn ông ngoài bốn mươi tuổi da đỏ au và hói đầu, cặp mắt sáng nghiêm nghị và đôi môi mím chặt lại là người bị cơ quan tình báo quốc gia tìm kiếm gắt gao nhất.

Mới vừa nói chuyện là tôi đã nhận thấy ông hiểu rất rõ cuộc sống của tôi kể từ khi tôi mua chiếc đồng hồ ở El Nacional tại Barranquilla. Ông đã đọc các bài phóng sự của tôi trên El Espectador và cũng đồng tình với cách lý giải ẩn ý phía sau những bài không ký tên của tôi. Tuy nhiên, ông cũng nhất trí rằng cách tốt nhất mà tôi có thể phục vụ cho đất nước là tiếp tục theo đường hướng hiện tại mà không cần phải cam kết với bất cứ ai trong bất kỳ đảng phái chính trị nào.

Khi tôi có dịp nói rõ mục đích chuyến thăm của tôi, ông liền nhập đề ngay. Ông hiểu rất rõ tình hình ở Villarrica, như đã từng ở đó, kể cả những thông tin mà vì kiểm duyệt chúng tôi không được đăng một chữ nào. Ông còn cho tôi những tư liệu quan trọng để hiểu rằng đó chỉ là mở đầu của một cuộc chiến tranh kinh niên kéo dài nửa thế kỷ với không biết bao nhiêu trận đánh lớn nhỏ. Luận điểm của ông trong ngày hôm đó và ở nơi đó có nhiều yếu tố của chính Jorge Eliécer Gaitán hơn là của bậc thầy Marx trong việc tìm một giải pháp không chỉ là giai cấp vô sản nắm chính quyền mà là một loại liên minh của những người nghèo khổ chống lại các giai cấp thống trị. Ông không chỉ làm sáng tỏ những gì đang xảy ra, mà còn đưa ra phương pháp để hiểu nó tốt hơn, đó chính là thu hoạch của cuộc viếng thăm. Tôi giải thích như vậy cho Guillermo Cano và Zalamea, và để ngỏ cửa phòng khi lại xuất hiện cái đuôi của một thiên phóng sự chưa viết trọn vẹn. Cũng không thừa nếu nói thêm là Vieira và tôi đã thiết lập mối quan hệ bạn bè rất tốt, tạo điều kiện dễ dàng cho chúng tôi có thể tiếp xúc được với nhau trong thời kỳ hoạt động bí mật khó khăn nhất của ông.

Một thảm kịch khác của người lớn vốn bị che lấp suốt thời gian dài cho đến khi bùng nổ những tin tức không hay vào tháng Hai năm 1954; đó là lúc báo chí đăng tin một cựu chiến binh tham gia trong cuộc chiến tranh Triều Tiên đã phải cầm cố những chiếc huân chương của mình để lấy tiền ăn. Anh ta chỉ là một trong bốn ngàn người được tuyển một cách tình cờ trong một giai đoạn khó hiểu của lịch sử Colombia, khi mà những người nông dân bị súng đạn bạo lực của chính phủ đuổi ra khỏi đất đai của mình, thà đi làm bất cứ nơi đâu cũng còn tốt hơn là không có việc làm. Những thành phố chật cứng nông dân chạy loạn không mang lại một niềm hy vọng nào. Colombia, như người ta đã nói đi nói lại hàng ngày trong các bài xã luận, ở trên mỗi đường phố, trong từng quán cà phê, hay trong những câu chuyện ở gia đình, đã trở thành một nước cộng hòa vô hình. Đối với nhiều người nông dân bị xua đuổi và nhiều chàng trai không tương lai thì chiến tranh Triều Tiên là một giải pháp cho riêng mình. Có đủ hạng người đã đi sang đó chỉ với điều kiện là có sức khỏe, giống như những người Tây Ban Nha hàng mấy trăm năm trước qua đây để phát kiến ra châu Mỹ. Khi trở về Colombia, cái nhóm người ô hợp đó chỉ có chung một danh tính: cựu chiến binh. Chỉ cần một số người gây ra một vụ xô xát thì lỗi lại đổ lên đầu cả nhóm người này. Mọi cửa đều đóng chặt đối với họ chỉ vì một thứ lý lẽ đơn giản là họ, những bệnh nhân tâm thần bất ổn định, không có quyền kiếm việc làm. Ngược lại, cũng chả có mấy người rỏ nước mắt đối với vô số người trở về chỉ trong hơn một cân tro.

Tin tức về người cựu chiến binh phải cầm cố huân chương đã đối lập dã man với cái tin khác đã được đăng mười tháng trước, khi những cựu binh cuối cùng trở về nước với gần một triệu đô la tiền mặt, khi đổi ở ngân hàng đã làm giá đô la trên thị trường Colombia giảm từ ba peso ba mươi xu xuống còn hai peso chín mươi xu. Tuy nhiên, cái giảm nhanh nhất chính là uy tín của các cựu binh khi họ phải đối mặt nhiều hơn với thực tế khắc nghiệt của đất nước. Trước khi họ trở về, báo chí đã đăng nhiều bài nói về khả năng họ sẽ nhận được học bổng đặc biệt để học các ngành sản xuất, rằng họ sẽ được nhận lương hưu trí suốt đời và được dễ dàng cho phép sống ở Mỹ. Thực tế thì trái ngược hẳn: ít lâu sau khi trở về, họ bị loại ra khỏi quân đội, và cái ít ỏi còn lại trong túi của nhiều người trong số họ chỉ là những tấm ảnh của những cô gái Nhật Bản đang chờ họ ở những trại bên Nhật Bản, nơi họ từng được đưa đến để giải khuây trong thời chiến.

Tấn thảm kịch quốc gia này không thể không làm tôi nhớ lại nỗi đau của ông ngoại, đại tá Márquez trong cảnh chờ đợi vĩnh hằng mong mỏi được nhận lương hưu của cựu binh. Trước đây, có lúc tôi cứ nghĩ đó chỉ là sự trả thù bỉ ổi đối với viên đại tá phản loạn tham gia vào cuộc chiến tranh khốc liệt chống lại bá quyền của phái bảo thủ. Những người sống sót của cuộc chiến tranh Triều Tiên, ngược lại, đã đấu tranh chống lại chủ nghĩa cộng sản để phục vụ cho khát vọng đế quốc của nước Mỹ. Thế mà, khi trở về, họ không được xuất hiện trên những trang lễ hội mà lại trong những thiên phóng sự đỏ. Một trong số họ, dùng súng bắn chết hai người dân vô tội, đã hỏi các thẩm phán: “Nếu ở Triều Tiên tôi giết cả trăm người, tại sao tôi lại không được giết mười người ở Bogota?”

Người này, cũng như những tên tội phạm khác, đã đến nơi xảy ra chiến tranh khi hiệp định đình chiến đã được ký kết. Nhưng nhiều người như ông ta lại là nạn nhân của tính ưa bạo lực của người Colombia được thể hiện qua những giải thưởng giết một cựu binh của Triều Tiên. Chưa đầy ba năm khi toán quân đầu tiên trở về nước, số cựu chiến binh bị chết thảm khốc đã hơn mười hai người. Vì nhiều lý do khác nhau, một số đã bị chết trong những cuộc cãi vã vô tích sự ít lâu sau khi trở về. Một người trong số họ bị đâm chết trong một cuộc xô xát vì đòi nghe lại một bài hát trong máy quay đĩa tự động ở quán nhậu. Người vừa hát vừa đệm đàn ghi ta trong thời gian nghỉ ngơi lúc chiến tranh đã bị bắn chết mấy tuần sau khi trở về. Một cựu chiến binh khác cũng bị đâm chết ở Bogota và để chôn cất anh ta, mọi người phải làm một cuộc quyên góp tiền của những người hàng xóm. Còn Angel Fabio Goes, bị mất một mắt và một tay trong chiến tranh thì bị ba kẻ lạ mặt bắn chết, nhưng những sát thủ này không bao giờ bị bắt.

Tôi còn nhớ - cứ như mới xảy ra hôm qua vậy - khi đang viết chương cuối cùng của loạt phóng sự này thì chuông điện thoại trên bàn làm việc reo vang và tôi nhận ra ngay giọng nói nồng ấm của Martina Fonseca:

- A lô?

Tôi bỏ dở bài viết ngay giữa trang giấy vì tim đập rộn lên và chạy băng qua đại lộ để đến gặp nàng ở khách sạn Continental sau mười hai năm xa cách. Từ ngoài cửa rất khó phân biệt nàng với những người phụ nữ khác đang ăn trưa trong phòng ăn chật cứng thực khách, cho đến khi nàng giơ tay vẫy. Nàng vẫn phục sức theo sở thích riêng muôn thuở, với chiếc áo khoác như ngày nào, chiếc khăn da cáo cũ trên vai cùng chiếc mũ thợ săn. Thời gian bắt đầu để lại dấu ấn phũ phàng của nó trên làn da trái mơ dãi dầu mưa nắng, ở đôi mắt sụp xuống, và tấm thân như bị teo lại vì những dấu hiệu đầu tiên của tuổi già bất hạnh. Cả hai chúng tôi đều nhận thấy mười hai năm là quá nhiều đối với tuổi của nàng, nhưng chúng tôi đều chịu đựng được. Trong những năm đầu tiên ở Barranquilla, tôi đã lùng sục tìm kiếm nàng cho đến khi biết rằng nàng đã sang sống ở Panama nơi người thủy thủ đang làm hoa tiêu của kênh đào. Tôi không đề cập đến điểm này không phải vì hãnh diện mà vì nhút nhát.

Tôi tin là nàng vừa ăn trưa với ai đó rồi người ta để nàng một mình để tiếp tôi. Chúng tôi uống ba ly cà phê và cùng hút nửa gói thuốc lá lần mò tìm cách chuyện trò mà không cần nói, cho đến khi nàng mạnh dạn hỏi tôi có nhớ đến nàng hay không. Chỉ đến lúc đó, tôi mới nói sự thật: tôi chưa bao giờ quên nàng, nhưng sự chia tay của nàng tàn bạo quá nên tôi đã thay đổi tính cách. Nàng tỏ ra dễ cảm thông hơn là tôi:

- Tôi không bao giờ quên rằng, đối với tôi, cậu như một đứa con.

Nàng đã đọc những bài báo, truyện ngắn và cuốn tiểu thuyết duy nhất của tôi. Nàng nói về những tác phẩm đó với sự minh mẫn và gay gắt mà chỉ có tình yêu hoặc nỗi buồn mới tạo ra được. Tuy nhiên, tôi cố tránh rơi vào cạm bẫy nhớ nhung với sự hèn nhát ti tiện mà chỉ lũ đàn ông mới có. Cuối cùng, khi sự căng thẳng đã dịu bớt, tôi mới dám hỏi nàng đã có con như ước vọng chưa.

- Đã ra đời rồi - nàng vui vẻ nói - nó học gần xong tiểu học.

- Cũng đen như bố nó chứ? - tôi hỏi theo bản năng hèn hạ của kẻ đang ghen.

Nàng phản bác lại với vẻ nhân hậu thường xuyên. “Da trắng như mẹ nó - nàng nói. - Nhưng người bố không đi khỏi nhà như tôi đã lo, mà còn gần gũi với tôi hơn nữa”. Và trước sự mù quáng của kẻ ghen tuông tôi những tưởng đó là con mình.

- Cậu đừng lo, nó là con của ông ấy. Ngoài ra còn hai đứa con gái giống hệt nhau cứ như một giọt nước vậy.

Nàng mừng vì tôi đã đến và cố làm tôi vui với một số kỷ niệm hoàn toàn xa lạ, và tôi mơ hồ nghĩ rằng nàng đang đợi một câu trả lời thân mật hơn của tôi. Nhưng cũng như mọi người đàn ông, tôi đã tính nhầm thời gian và địa điểm. Tôi nhìn đồng hồ khi gọi ly cà phê thứ tư và một gói thuốc lá nữa thì nàng đột ngột đứng dậy.

- Tốt rồi, cậu bé, tôi rất hạnh phúc được gặp lại cậu - nàng nói rồi kết luận - tôi không thể chịu nổi cảnh cứ đọc mãi sách của cậu mà không biết người bây giờ ra sao.

- Thế bây giờ tôi ra sao nào? - tôi mạnh dạn hỏi lại.

- À, không! Nàng cười với cả tâm hồn rộng mở - điều đó cậu không bao giờ biết được đâu.

Chỉ khi đã lấy lại được hơi sức ngồi trước máy chữ, tôi mới nhận ra nỗi khát khao được gặp nàng suốt bấy lâu nay và cả nỗi sợ phải ở cùng với nàng suốt thời gian còn lại của cuộc đời hai đứa chúng tôi. Và kể từ ngày hôm đó nhiều lần tôi lại cảm thấy chính nỗi sợ đáng buồn này mỗi khi nghe thấy tiếng chuông điện thoại reo vang.

Năm mới 1955 bắt đầu với cánh nhà báo vào ngày 28 tháng 2 với tin tám thủy thủ tàu khu trục Caldas của Hải quân quốc gia đã bị rơi xuống biển và mất tích trong cơn bão khi chỉ còn hai giờ nữa là về đến cảng Cartagena. Bốn ngày trước, họ đã nhổ neo từ hải cảng Mobile, của bang Alabama, sau mấy tháng sửa chữa định kỳ.

Trong khi toàn bộ Ban biên tập đang hồi hộp lắng nghe bản tin đầu tiên về tấn thảm họa, thì Guillermo Cano ngồi trên ghế xoay đã quay lại phía tôi và chuẩn bị sẵn trên đầu lưỡi một mệnh lệnh cho tôi. Jose Salgar với hệ thần kinh rung động mạnh vì tin này, trên đường đi xuống xưởng in, cũng dừng lại trước bàn tôi. Một giờ trước, tôi cũng vừa trở về từ Barranquilla nơi tôi phải chuẩn bị một bản tin về tấn bi kịch muôn thuở ở Bocas de Ceniza, và lúc này tôi đã bắt đầu tự hỏi chuyến máy bay đưa tôi đến bờ biển để viết về tin tức đầu tiên về tám thủy thủ rơi xuống biển không biết sẽ cất cánh lúc mấy giờ. Tuy nhiên, ngay lập tức bản tin trên đài đã nói rõ là chiếc tàu khu trục sẽ về đến Cartagena vào lúc ba giờ chiều mà vẫn không tìm thấy thi thể của tám người thủy thủ bị chết đuối. Guillermo Cano xì ra:

- Tiếc quá, Gabo - ông nói - cái vụ này bị chìm xuồng đối với chúng ta mất rồi.

Thảm họa chỉ còn giới hạn trong những bản tin chính thức và mọi thông tin được đưa ra với những nghi thức danh dự đối với người hy sinh khi làm nhiệm vụ, và chỉ thế không có gì hơn nữa. Tuy vậy, vào cuối tuần, hải quân để lộ rằng: một trong số tám người, Luis Alejandro Velasco, đã trôi dạt về, hoàn toàn kiệt sức, trên bãi biển Urabá sau mười ngày trên một chiếc xuồng không mái chèo trôi dạt trên biển không ăn không uống. Tất cả chúng tôi đều nhất trí là có thể viết được một thiên phóng sự hay nhất trong năm nếu chúng tôi tìm cách kéo được anh ta ra một chỗ riêng khoảng nửa tiếng đồng hồ.

Nhưng không thể được. Hải quân đã giữ anh ta hoàn toàn cô lập để hồi phục sức khỏe tại một bệnh viện hải quân ở Cartagena. Một tay biên tập láu lỉnh tên là Antonio Montana của tờ El Tiempo đã cải trang thành bác sĩ để lẻn vào bệnh viện và tiếp xúc được với anh ta trong mấy phút. Tuy vậy, xét về kết quả thì qua lời kể của người bị rơi xuống biển, nhà báo cũng chỉ đạt được một đôi nét phác họa bằng bút chì về tình trạng của con tàu khi bị cơn bão cuốn trôi và đôi câu tuyên bố lộn xộn chứng tỏ anh ta bị cấm không được kể chuyện này với bất cứ ai. “Nếu biết ông ấy là nhà báo thì tôi đã giúp rồi”, Velasco đã tuyên bố như vậy mấy ngày sau đó. Sau khi hồi phục sức khỏe và do hải quân tổ chức và giám sát, anh ta đã có cuộc trả lời phỏng vấn của phóng viên thường trú của El Espectador ở Cartagena, Lacides Orozco, nhưng không làm rõ được điều mà chúng tôi muốn biết là làm sao một cơn gió lại có thể gây ra thảm họa lớn như vậy khiến bảy người bị chết.

Luis Alejandro Velasco đúng là đã bị buộc phải thực hiện lời hứa sắt đá là không đi đâu hoặc nói năng tự do kể cả sau khi đã được trả về nhà của bố mẹ ở Bogota. Bất cứ vấn đề gì về mặt kỹ thuật hoặc chính trị chúng tôi cũng đều được Trung úy hải quân Guillermo Fonseca giải quyết một cách thân tình khéo léo, nhưng cũng rất lịch sự; ông ta đã lẩn tránh cung cấp những tư liệu căn bản về điều duy nhất mà chúng tôi quan tâm lúc bấy giờ đó là sự thật của cuộc phiêu lưu nọ.

Chỉ để tranh thủ thời gian, tôi cũng viết một loạt bài về bầu không khí trở về nhà bố mẹ của người bị rơi xuống biển, khi những người bạn mặc quân phục của anh ta lại cấm không được được nói chuyện với tôi trong khi lại cho phép anh thực hiện một cuộc trả lời phỏng vấn vô vị với đài địa phương. Như vậy, rõ ràng là ý định của chúng tôi đang phải nằm trong tay của những bậc thầy về nghệ thuật làm lạnh tin tức nóng bỏng, và lần đầu tiên tôi thật sự xúc động với ý nghĩ rằng họ đang che giấu dư luận một điều gì đó rất nghiêm trọng về tai họa này. Còn hơn cả mối nghi ngờ, ngày nay nhớ lại tôi coi đó là điềm linh tính.

Tháng Ba gió lạnh và mưa bụi càng làm tăng thêm nỗi ân hận dằn vặt lòng tôi. Trước khi đối mặt với văn phòng Ban biên tập, đau đớn vì thất bại, tôi đã trốn vào khách sạn Continental ngay bên cạnh rồi gọi một ly rượu đúp ngay trên quầy rượu vắng ngắt. Khi tôi đang từ từ uống từng ngụm nhỏ mà không thèm cởi cả áo khoác to xù, thì bỗng cảm thấy một tiếng nói vô cùng êm dịu gần ngay bên tai:

- Kẻ uống một mình thì cũng sẽ chết một mình.

- Đức Chúa sẽ nghe em, người đẹp ạ - tôi nói đặt cả tấm lòng lên đầu lưỡi vì tin chắc rằng đó là Martina Fonseca.

Tiếng nói lơ lửng trên không với hương vị cay nồng ấm áp, nhưng không phải là nàng. Tôi thấy người đó đi ra khỏi cửa và mất hút cùng chiếc ô màu vàng không bao giờ quên được trên đại lộ đang chìm trong mưa phùn. Uống xong ly thứ hai tôi cũng băng qua đại lộ và tiến vào phòng biên tập trong niềm ngất ngây của hai ly rượu đầu tiên. Guillermo Cano thấy tôi vào liền vui vẻ kêu to báo cho mọi người:

- Để xem Gabo vĩ đại mang món sộp gì về cho chúng ta nào!

Tôi nói thật:

- Không có gì hơn là một con cá chết.

Lúc đó tôi nghiệm ra rằng những lời nói đùa châm chọc trong Ban biên tập đã bắt đầu làm tôi thích thú, nhưng khi mọi người nhìn thấy tôi đi qua trong im lặng kéo theo chiếc áo khoác cuộn tròn thì không ai nỡ lòng nào huýt sáo như mọi lần.

Luis Alejandro Velasco tiếp tục được hưởng niềm vinh quang bị o ép. Những người quản lý anh không chỉ cho phép mà còn tài trợ một loạt chiến dịch quảng cáo tệ hại. Anh ta được nhận năm trăm đô la và một chiếc đồng hồ mới để kể trên đài phát thanh về sự thật tàu của mình đã chống chọi sự khắc nghiệt của sự thay đổi thời tiết. Nhà máy sản xuất giày thể thao đã trả cho anh một ngàn đô la để nói rằng đế giày của anh dai và bền đến nỗi anh không thể nhai nổi cho đỡ đói. Ngay trong buổi lễ, sau khi đọc xong bài diễn văn với nội dung yêu nước, anh được cô hoa hậu ôm hôn; rồi anh được nêu gương yêu nước cho bọn trẻ mồ côi noi theo. Ngay khi tôi đã bắt đầu quên anh ta, thì bỗng Guillermo Cano bảo tôi rằng: anh ta đã có mặt ở văn phòng của ông, sẵn sàng ký hợp đồng để kể lại toàn bộ chuyến phiêu lưu. Tôi cảm thấy mình bị lăng nhục.

- Đó không chỉ là một con cá chết mà là con cá thối rữa - tôi nhấn mạnh.

Lần đầu tiên và duy nhất tôi từ chối tòa báo không làm nghĩa vụ của mình. Guillermo Cano đành chấp nhận thực tế và mời anh chàng bị chìm tàu ra về không một lời giải thích. Sau đó ông có kể lại với tôi rằng vừa tiễn anh ta ra khỏi văn phòng, ông bắt đầu suy nghĩ và không tự lý giải được tại sao mình lại vừa làm chuyện này. Ông liền gọi cho gác cổng bảo anh ta quay lại, và gọi điện báo cho tôi là đã mua được bản quyền về toàn bộ câu chuyện của anh ta.

Không phải lần đầu tiên và chắc chắn không là lần cuối cùng Guillermo Cano cứ nằng nặc đòi làm bằng được việc đã thất bại và kết quả cuối cùng là ông có lý. Tôi buồn rầu nhưng lịch sự nói với ông là mình chỉ làm thiên phóng sự này do phải phục tùng vì công việc nhưng sẽ không ký tên. Dù không được nghĩ từ trước, nhưng quyết định ngẫu hứng đó lại rất chính xác đối với bài phóng sự, bởi vì nó buộc tôi phải viết nó ở ngôi thứ nhất của nhân vật chính với cung cách và ý nghĩ riêng của anh ta, và ký tên anh ta. Và bằng cách đó, tôi cũng tránh được bất cứ một trường hợp chìm tàu nào trên đất liền. Có nghĩa là, toàn bộ thiên phóng sự sẽ là một bản độc thoại nội tâm của một chuyến phiêu lưu đơn độc, đúng như cuộc sống đã làm ra nó, không sai một từ nào. Quyết định này thật là tuyệt vời, bởi vì Velasco là một người thông minh, mẫn cảm vừa có học thức lại thêm trí nhớ tốt, ngoài ra còn có tính hài hước đúng lúc và đúng chỗ. Và may mắn là tất cả được lồng trong một cá tính không một kẽ hở.

Cuộc phỏng vấn rất dài và mệt mỏi suốt trong ba tuần lễ, và tôi làm với ý thức rất rõ ràng là không thể xuất bản thô được mà phải qua chế biến trong một cái nồi khác: phóng sự. Lúc đầu tôi miễn cưỡng làm việc chỉ cố đẩy anh chàng bị ngã xuống biển rơi vào những mâu thuẫn để moi sự thật mà anh ta che giấu, nhưng ngay sau đó tôi tin là không có bí mật đó. Tôi không phải gò anh ta vào chuyện gì cả. Chuyện đó cứ như đi dạo trên đồng cỏ đầy hoa tha hồ chọn theo sở thích. Velasco đến đúng ba giờ chiều ở bàn làm việc của tôi trong tòa soạn, chúng tôi rà soát lại những gì đã nói hôm trước và tiếp tục theo trình tự thời gian. Mỗi một chương anh ta kể xong, tôi viết lại vào buổi tối và sẽ được in vào chiều hôm sau. Sẽ dễ dàng và chắc chắn hơn nếu viết xong toàn bộ cuộc phiêu lưu, kiểm tra tỉ mỉ mọi chi tiết trước khi xuất bản. Nhưng không còn thời gian nữa. Đề tài đã mất dần tính thời sự theo từng phút và bất cứ một tin tức ồn ào nào được tung ra cũng sẽ làm cho thiên phóng sự bị thất bại ngay.

Chúng tôi không dùng máy ghi âm. Phương tiện này mới được sáng chế ra và loại tốt nhất cũng to lớn và nặng nề như một chiếc máy chữ, và băng từ thì dễ rối như loại bánh ngọt bí với trứng. Riêng chuyện ghi lại cũng đã là cả một kỳ tích. Ngày nay, chúng ta đều biết máy ghi âm rất hữu hiệu, nhưng cũng đừng bao giờ xem nhẹ gương mặt người được phỏng vấn vì nó có thể nói nhiều hơn cả giọng nói, và nhiều khi nó còn ngược hẳn với lời nói. Tôi phải chấp nhận làm theo cách thông thường ghi chép tỉ mỉ trong quyển sách học trò, nhưng nhờ thế mà tôi không để mất một từ nào cũng như vẻ tinh tế của lời thoại và tôi có thể đi sâu hơn vào từng sự kiện. Hai ngày đầu tiên rất khó khăn bởi vì người bị rơi xuống biển cứ muốn kể mọi thứ ngay một lúc. Tuy nhiên, anh đã học nhanh cách kể thứ tự và theo câu hỏi của tôi, và nhất là theo bản năng kể chuyện và khả năng bẩm sinh học nghề của anh.

Để chuẩn bị cho người đọc trước khi vứt họ xuống nước, chúng tôi quyết định bắt đầu câu chuyện từ những ngày cuối của người thủy thủ ở Mobile. Chúng tôi cũng thống nhất là không kết thúc ở giây phút đặt chân lên đất liền mà vào lúc đến Cartagena trong tiếng hoan hô của mọi người, chính là thời điểm mà độc giả có thể tiếp tục tự mình theo dõi tiếp mạch chuyện qua những tư liệu đã được đăng báo. Như vậy, sẽ có mười bốn chương đủ sức duy trì sự hồi hộp của độc giả trong suốt hai tuần lễ.

Chương đầu tiên được xuất bản vào ngày 5 tháng 4 năm 1955. Số báo này của El Espectador, với lời giới thiệu trước của đài phát thanh, đã bán hết sạch trong mấy giờ ngắn ngủi. Nút bùng nổ được bung ra trong ngày thứ ba khi chúng tôi quyết định mở toang nguyên nhân thật sự của thảm họa, mà theo lời giải thích chính thức là vì cơn bão biển. Để tăng thêm tính chính xác, tôi đề nghị Velasco kể lại thật chi tiết. Anh ta đã quá quen với cách làm việc của chúng tôi nên trong ánh mắt đã lấp lánh nét tinh quái trước khi trả lời tôi:

- Vấn đề là không hề có bão.

Chuyện có thật - anh nói rõ - chỉ là hai mươi giờ gió mạnh, vốn thường xuyên xảy ra ở vùng biển ấy vào thời gian này trong năm và đã không được những người có trách nhiệm tổ chức chuyến đi dự kiến trước. Trước khi nhổ neo, thủy thủ đoàn đã được nhận tiền lương của mấy tháng trước còn nợ và vào giờ chót đã tiêu hết trong việc mua sắm đồ dùng gia đình để mang về nhà. Sự việc bất ngờ mà không ai cảnh báo trước là hàng hóa đã chất đầy trong các khoang tàu và người ta phải buộc trên boong những thùng to nhất: tủ lạnh, máy giặt bằng điện, máy điều hòa không khí, lò sưởi.

Mang một khối lượng nặng như thế lên một tàu chiến đã bị nghiêm cấm, và một khối lượng hàng hóa đã chiếm hết không gian sống trên boong. Có lẽ người ta đã cho rằng trong một chuyến đi không chính thức, không đến bốn ngày với điều kiện thời tiết được dự báo là rất tốt thì chuyện này cũng không nên xem xét quá nghiêm khắc. Đã bao nhiêu lần người ta đã và đang làm như vậy trong những chuyến hành trình khác mà đã xảy ra chuyện gì đâu? Nhưng không may cho tất cả là những cơn gió mạnh hơn dự báo đã làm biển động sóng dữ dội ngay dưới ánh mặt trời chói chang và làm cho con tàu chòng chành, lắc lư hơn mức dự kiến và làm đứt tung những dây chằng những khối hàng sắp xếp không khéo. Nếu không phải là một con tàu giàu truyền thống hải trình trên biển như Caldas thì nó đã bị chìm nghỉm rồi, nhưng tám thủy thủ trực trên boong đã bị rơi xuống biển từ mạn tàu. Như vậy, nguyên nhân chính của tai nạn không phải là vì bão biển như nguồn tin chính thức đã nói từ ngày đầu, mà chính là điều mà Velasco đã kể trong bài phóng sự: quá tải vì các hòm chứa đồ dùng gia đình sắp xếp không đúng cách trên boong một tàu chiến.

Một chuyện khác còn giữ kín dưới bàn là loại xuồng cứu nạn vứt xuống cho những thủy thủ bị rơi xuống biển mà chỉ có Velasco là thoát chết. Người ta được biết là ở trên tàu phải có hai loại xuồng cứu sinh bắt buộc để vứt xuống biển cho các nạn nhân. Đó phải là loại xuồng bằng cao su và vải bạt dài ba mét và rộng một mét rưỡi, ở giữa phải thật chắc chắn, luôn có sẵn thức ăn, nước uống, mái chèo, hòm chứa dụng cụ cấp cứu, các vật dụng để câu cá và thực hiện tiếp cuộc hải trình, và một cuốn Kinh thánh.

Trong điều kiện đó, mười người có thể sống sót trong vòng tám ngày không cần phải câu cá. Tuy nhiên, trên tàu Caldas cũng có một số xuồng nhỏ hơn mà không hề có trang thiết bị gì. Theo lời kể của Velasco thì chiếc xuồng của anh thuộc loại không hề có vật dụng gì cả. Câu hỏi còn bay lơ lửng mãi mãi là còn bao nhiêu người bị rớt xuống biển lên được những chiếc xuồng mà không thể đưa họ đến bất cứ nơi đâu. Đó đúng là những lý do quan trọng nhất khiến người ta chậm đưa ra những lời giải thích chính thức về tai nạn trên biển. Cho đến khi người ta nhận ra rằng không thể chần chừ được nữa vì những thủy thủ còn lại đang nghỉ ở nhà mình và kể chuyện này cho mọi người nghe ở khắp toàn quốc. Cho đến phút cuối, chính phủ vẫn giữ cách giải thích nguyên nhân là do cơn bão trong bản tuyên bố chính thức. Kiểm duyệt cũng không khắt khe đến mức cấm chúng tôi không được đăng tiếp những chương còn lại. Về phần mình, Velasco tiếp tục giữ, đến mức độ còn có thể, thái độ mập mờ theo lời cam kết, và không bao giờ người ta được biết là anh ta có bị sức ép để không nói rõ sự thật hay không và người ta cũng không đề nghị và cũng không ngăn cản chúng tôi làm rõ sự thật.

Sau chương thứ năm, chúng tôi dự kiến cho in lại bốn chương đầu theo yêu cầu của độc giả muốn thu thập đầy đủ toàn bộ câu chuyện. Ngài Gabriel Cano người mà chúng tôi không gặp ở Ban biên tập trong suốt những ngày cuồng nhiệt này, đã từ trên tổ chim câu của mình đi xuống đến thẳng bàn tôi.

- Anh bạn cùng tên nói cho tôi biết nhé - ông hỏi tôi - thiên phóng sự về người bị rớt xuống biển sẽ có cả thảy bao nhiêu chương?

Chúng tôi mới đang ở ngày thứ bảy của câu chuyện, khi đó Velasco mới ăn một chiếc danh thiếp là vật duy nhất trong tầm tay có thể ăn được và không thể cắn xé rách được đôi giày để có cái gì đó nhai tiếp. Như vậy là chúng tôi còn thiếu bảy chương nữa. Ngài Gabriel nổi cáu.

- Không, không được, anh bạn cùng tên ạ - ông nhăn nhó phản ứng. - Ít nhất phải là năm mươi chương.

Tôi đưa ra lời giải thích, còn ông thì dựa vào tình hình phát hành của tờ báo vì lúc này đã tăng gấp đôi rồi. Theo tính toán của ông, tờ báo có thể phát hành với lượng ấn bản với mức cao chưa từng thấy trong báo giới quốc gia. Người ta lập ngay một hội đồng biên tập, người ta nghiên cứu các chi tiết về kinh tế, kỹ thuật và nghiệp vụ báo chí và thống nhất giới hạn hợp lý là hai mươi chương. Tức là tăng thêm sáu chương so với dự kiến.

Mặc dù tên tôi không xuất hiện trong các chương đã in, nhưng cách làm việc thì đã lộ rõ, và một đêm khi tôi phải đi làm nghiệp vụ phê bình điện ảnh của mình, thì thấy ngay ở ngoài phòng chờ của rạp chiếu phim đã nổ ra một cuộc bàn cãi ầm ĩ về câu chuyện của người bị rơi xuống biển. Phần đông là những bạn bè mà tôi thường trao đổi ý kiến ở các quán cà phê bên cạnh rạp sau mỗi suất chiếu phim. Những ý kiến của họ thường giúp tôi làm sáng tỏ thêm những ý tưởng của mình trong bài viết hàng tuần. Về câu chuyện của người bị rơi xuống biển, đại bộ phận - trừ một số ít - mong muốn được kéo dài đến mức cao nhất.

Một trong những ngoại lệ là một người đàn ông trung niên to lớn, vận một áo khoác sang trọng bằng lông lạc đà và đội một cái mũ tròn đã đi theo tôi suốt ba dãy phố từ khi vừa rời khỏi rạp chiếu phim cho đến khi tôi đi một mình đến tòa báo. Cùng đi với ông ta còn có một người phụ nữ rất xinh đẹp cũng ăn mặc sang trọng như ông và một người bạn ăn vận xoàng hơn. Ông ta giở mũ chào tôi và tự giới thiệu một cái tên mà bây giờ tôi không còn nhớ. Không một chút vòng vo, ông bảo tôi rằng ông không thể đồng tình với bài phóng sự về người rơi xuống biển bởi vì nó chịu ảnh hưởng trực tiếp của cộng sản. Tôi giải thích đơn giản với ông ta rằng: mình chỉ là người chép lại câu chuyện do nhân vật chính tự kể lại. Nhưng ông ta vẫn giữ ý kiến riêng của mình và cho rằng Velasco là một điệp viên của Liên Xô chui vào lực lượng vũ trang. Lúc đó, theo linh cảm riêng, tôi nhận thấy mình đang được nói chuyện với một sĩ quan cao cấp của quân đội hoặc hải quân và tôi bỗng thấy sốt sắng muốn làm sáng tỏ điểm này. Nhưng hình như ông ta chỉ muốn nói với tôi điều ấy:

- Tôi không biết ông làm việc này có ý thức hay không - ông ta nói với tôi - nhưng dù sao đi nữa thì ông đang gây tổn hại đến lợi ích quốc gia theo ý đồ của cộng sản.

Người vợ tuyệt sắc giai nhân của ông ta ra hiệu ngăn lại và cố kéo tay ông ta đi cùng lời yêu cầu nhỏ nhẹ: “Thôi mà, Rogelio!”. Ông ta kết thúc câu nói với thái độ ban đầu:

- Xin ông hãy tin tôi, rằng tôi chỉ nói điều đó vì sự kính phục của mình đối với những gì ông đã viết mà thôi.

Ông ta lại bắt tay tôi và để vợ kéo đi. Người bạn cùng đi, hoàn toàn kinh ngạc, đã không đến chia tay tôi.

Đây là vụ đầu tiên trong một loạt vụ xảy ra làm chúng tôi phải nghiêm túc suy nghĩ về hiểm nguy ở ngoài phố. Trong một căng tin nghèo phía sau tòa báo, chủ yếu phục vụ cho giới thợ thuyền thâu đêm suốt sáng, mấy ngày trước hai kẻ lạ mặt đã định xông vào đánh Gonzalo Gonzalez khi anh đang uống ly cà phê cuối cùng vào một buổi tối. Không ai hiểu nổi lý do tại sao chúng lại đánh người hiền lành nhất thế giới ấy, ngoại trừ việc chúng có thể lầm anh với tôi vì cùng có cách sống và cách ăn mặc của người vùng Caribe và hai chữ “g” trong bút danh của anh ấy: Gog. Dù sao thì đội bảo vệ của tòa báo cũng nhắc tôi không nên đi một mình vào buổi tối ở thành phố ngày càng nguy hiểm này. Tôi thì ngược lại, vẫn tự tin đến mức có thể đi bộ về nhà sau giờ làm việc.

Một sáng sớm nọ, trong những ngày căng thẳng đó, tôi cảm thấy giờ cuối cùng của mình đã điểm khi nghe tiếng loảng xoảng của cửa kính phòng ngủ bị vỡ vì một viên gạch ném từ đường phố lên. Đó chính là Alejandro Obregón, vì bị mất chìa khóa căn hộ của mình và cũng không thể tìm thấy người bạn nào còn thức cũng như một chỗ ngủ trong khách sạn. Quá mệt mỏi vì tìm chỗ ngủ và bấm mãi vào chuông điện bị hỏng, anh đành giải quyết chỗ ngủ qua đêm bằng một viên gạch lấy tại công trường đang xây dựng ở bên cạnh. Khi tôi vừa mở cửa, anh ta chỉ kịp chào tôi rồi lăn xuống đất nằm ngửa ngủ ngon lành đến tận giữa trưa.

Ngày càng nhiều người giành giật nhau mua báo ngay cửa của tòa soạn El Espectador trước khi báo được phát hành ra ngoài. Nhân viên trung tâm thương mại cũng đi làm chậm vì lo mua báo và đọc các chương tiếp theo trên xe buýt. Tôi nghĩ rằng, sự quan tâm của độc giả lúc đầu chỉ là vì lý do nhân đạo, sau đó mới vì lý do văn chương và cuối cùng là vì quan điểm chính trị, nhưng trên hết họ bị hấp dẫn vì tính căng thẳng của câu chuyện. Velasco kể cho tôi nghe những chi tiết đầy tính biểu trưng hoặc biểu cảm, như chuyện con chim hải âu cứ nhất quyết không chịu bay đi. Như chuyện những chiếc máy bay, qua lời kể của anh, có nét đẹp của điện ảnh. Một thủy thủ có hỏi rằng làm sao tôi có thể biết kỹ về biển đến như vậy, tôi đã trả lời là không làm gì khác hơn việc chép lại nguyên xi những quan sát của Velasco. Trừ một vài điểm nào đó, còn thì tôi hầu như không phải thêm thắt gì.

Bộ chỉ huy Hải quân tỏ ra khó chịu. Trước khi kết thúc thiên phóng sự, họ đã gửi cho tòa báo một bức thư phản đối vì đã đánh giá không được lịch sự lắm cho một tấn bi kịch mà có thể xảy ra ở bất cứ nơi đâu, với bất cứ đơn vị hải quân nào. “Mặc dù tang tóc và đau thương đã ập đến bảy gia đình Colombia đáng kính và cả quân chủng hải quân - bức thư viết - người ta hoàn toàn không nên tìm đến những người viết phóng sự non nớt dùng toàn những lời lẽ và quan niệm phi kỹ thuật và phản tư tưởng, lại đặt nơi miệng một thủy thủ may mắn, xứng đáng và dũng cảm tự __cứu được cuộc đời mình”. Vì vậy, hải quân đã đề nghị Văn phòng Thông tin và Báo chí của Phủ Tổng thống can thiệp để thông qua - với sự giúp đỡ của sĩ quan hải quân - những bài báo về sự kiện này mà sắp tới người ta sẽ cho đăng tải. Rất may là khi bức thư đến thì chúng tôi đang ở chương áp chót và có thể lờ đi cho đến hết tuần sau.

Để chuẩn bị cho phần cuối của toàn bộ thiên phóng sự, chúng tôi đã đề nghị người bị rơi xuống biển giúp cung cấp cho chúng tôi danh sách và địa chỉ những đồng chí của anh ấy (người có máy ảnh) và những người này đã gửi cho chúng tôi những ảnh đã được chụp trong suốt chuyến đi. Có đủ loại, nhưng nhiều nhất là ảnh tập thể đứng trên boong và phía sau người ta có thể thấy những thùng chứa đồ dùng gia đình - máy điều hòa không khí, tủ lạnh, máy giặt, lò sưởi - với nhãn hiệu các hãng sản xuất rất rõ ràng. Đây là một đòn may mắn giúp chúng tôi phản biện những lời cải chính của chính phủ. Phản ứng của chính phủ đến ngay lập tức và quyết liệt, và phụ trương báo có số phát hành cao chưa từng thấy vượt cả mọi dự đoán. Nhưng Guillermo Cano và Jose Salgar, bất khả chiến bại, chỉ có một câu hỏi:

- Mẹ kiếp, và bây giờ chúng ta sẽ làm gì đây?

Vào lúc đó, đang say sưa trong vinh quang, chúng tôi không có câu trả lời. Tất cả đề tài chúng tôi đều cảm thấy tầm thường.

Mười lăm năm sau khi câu chuyện này được in trên báo El Espectador, nhà xuất bản Tusquets ở Barcelona đã cho in lại thành sách và bán đắt như tôm tươi. Thấm nhuần tình cảm công bằng và sự cảm phục người thủy thủ anh hùng, tôi đã viết trong phần cuối của lời nói đầu: “Có những cuốn sách không thuộc về người đã viết ra mà thuộc về người đã chịu đựng trong đời thực, và đây là một trong số những cuốn sách đó. Quyền tác giả, vì vậy, sẽ thuộc về người xứng đáng: người đồng bào vô danh của tôi đã phải trải qua mười ngày không ăn không uống trên một chiếc xuồng để cuốn sách này có thể ra đời được”.

Đó không phải là câu nói đãi bôi, bởi vì toàn bộ nhuận bút của cuốn sách đã được nhà xuất bản Tusquets trao cho Luis Alejandro Velasco theo đề nghị của tôi trong mười bốn năm. Cho đến khi luật sư Guillermo Zea Fernandez, ở Bogota, đã thuyết phục Velasco rằng quyền tác giả thuộc về anh ta (theo luật), dù biết rằng thực ra không phải của anh ấy mà do một quyết định của tôi để tỏ lòng kính trọng đối với hành động anh hùng, tài kể chuyện và tình thân của anh.

Đơn kiện của tôi được trình đến vị thẩm phán 22 tòa dân sự ở Bogota. Luật sư và bạn tôi, Alfonso Gomez Mendez, đã báo cho nhà xuất bản Tusquets phải cắt bỏ đoạn cuối lời nói đầu trong các lần tái bản tiếp theo và không trả cho Luis Alejandro Velasco thêm một xu tiền nhuận bút nào nữa cho đến khi tòa án có phán quyết sau cùng. Và họ đã thực hiện đúng như vậy. Sau phần tranh tụng lâu dài trong đó có xem xét các tài liệu chứng cứ, nhân chứng và kỹ thuật, thẩm phán phán quyết rằng tác giả duy nhất của tác phẩm là tôi và không chấp nhận đơn của luật sư của Velasco. Việc trả tiền nhuận bút theo quyết định của tôi cho đến lúc đó hoàn toàn không phải là căn cứ để công nhận người thủy thủ là đồng tác giả, mà chỉ là một quyết định tự nguyện và tự do của người đã viết ra cuốn sách, và cũng do quyết định của tôi, từ đấy tiền nhuận bút sẽ được trao cho một quỹ giáo dục. (Cách đây mấy năm, trước khi chết vì ung thư ở tuổi 68, Velasco có gửi thư xin lỗi Márquez về vụ kiện tụng này - ND).

Không thể tìm thấy một câu chuyện tương tự bởi vì nó không được tạo ra trên trang giấy mà phải là chuyện do chính cuộc đời tạo ra và luôn luôn chịu sự vùi dập của số phận. Chúng tôi đã học được điều này sau đó, khi định viết tiểu sử của vận động viên đua xe đạp tuyệt vời Ramon Hoyos, ba năm liền vô địch quốc gia. Chúng tôi đã tung anh ta lên theo kiểu bài phóng sự về người thủy thủ và chúng tôi kéo dài cho đến mười chín chương, trước khi chúng tôi nhận ra rằng công chúng thích được xem Ramon Hoyos leo đèo và đến đích đầu tiên, nhưng phải là trong đời thực.

Một chút hy vọng tối thiểu được thắp lên le lói vào một buổi chiều khi Salgar gọi điện thoại mời tôi đến ngay với ông ấy ở quầy rượu khách sạn Continental. Tại đó, còn có một ông già nghiêm nghị, bạn của ông ấy, vừa giới thiệu thêm một người cùng đi, bị bạch tạng toàn phần, vận đồ công nhân, tóc và lông mày trắng toát như được chiếu sáng lấp lánh trong cảnh tranh tối tranh sáng của quầy rượu. Người bạn của Salgar, một chủ doanh nghiệp có tiếng, giới thiệu người bạn cùng đi của ông là một người kỹ sư mỏ đang khai quật vùng đất hoang cách El Espectador hai trăm mét để tìm một kho báu mà theo truyền thuyết là của Simor Bolivar. Người cùng đi - bạn thân của Salgar và từ lúc đó cũng là của tôi - đã bảo đảm với chúng tôi về sự thật lịch sử. Cũng rất đáng ngờ vì nó quá đơn giản: khi Người Giải phóng (chỉ anh hùng Bolivar - ND) bị đánh bại và sắp chết, trong lúc chuẩn bị cho chuyến đi cuối cùng từ Cartagena; người ta giả định rằng, ông không muốn mang theo khối tài sản cá nhân to lớn mà ông đã tích lũy được trong những năm tháng chiến tranh để dành cho tuổi già. Khi ông dự định tiếp tục chuyến đi cay đắng - người ta không biết là sẽ đến Caracas hay sang châu Âu - ông đã khôn ngoan cất giấu tất cả ở Bogota dưới sự bảo vệ của một hệ thống mật mã rất riêng thời bấy giờ để sau này có thể tìm lại được lúc cần thiết và từ bất cứ nơi đâu trên thế giới. Tôi đã nhớ lại tin này với niềm khao khát cháy bỏng khi viết cuốn Tướng quân giữa mê hồn trận, trong đó lịch sử kho báu là điều cốt lõi, nhưng tôi đã không thu thập được đầy đủ tài liệu để làm cho nó trở nên đáng tin hơn, ngược lại, tôi lại thấy nó không có giá trị hư cấu. Cái kho báu theo giai thoại này chưa bao giờ được chủ nhân của nó khai quật lên lại chính là thứ mà người đi tìm đang săn lùng với tất cả niềm say mê. Tôi không hiểu tại sao ông ta lại để lộ ra chúng tôi biết mãi đến khi Salgar giải thích cho tôi rằng: người bạn của ông rất say sưa với thiên phóng sự về người thủy thủ rơi xuống biển đã muốn nói trước để chúng tôi tiếp tục theo dõi hàng ngày cho đến khi có thể cho ra một thiên phóng sự khác cũng có tầm cỡ như thế.

Chúng tôi đến hiện trường. Đó là khu đất trống duy nhất ở phía tây Công viên của các Nhà báo và rất gần căn hộ mới của tôi. Người bạn giải thích cho chúng tôi trên bản đồ các tọa độ của kho báu với các chi tiết thực sự của những khu đồi Monserrate và Guadalupe. Câu chuyện thật hấp dẫn và phần thưởng cũng sẽ là một tin bùng nổ như tin về người thủy thủ rơi xuống biển và có khi còn có tiếng vang tầm cỡ thế giới.

Chúng tôi còn tiếp tục đến thăm khu vực này để nắm tin tức hàng ngày, nghe ông kỹ sư nói chuyện hàng tiếng đồng hồ không dứt trên cơ sở rượu mạnh pha chanh và chúng tôi cảm thấy mỗi ngày mình càng đi xa khỏi điều kỳ diệu, cho đến khi không còn một ảo tưởng nào nữa. Sau này, điều duy nhất mà chúng tôi nghi ngờ là: có thể câu chuyện kho báu chỉ là tấm bình phong để thăm dò không cần giấy phép một mỏ quý gì đó ngay trung tâm thủ đô. Cũng có thể đó là tấm bình phong khác để giữ yên kho báu thật của Simon Bolivar.

Lúc đó không phải là thời gian tốt nhất để mơ mộng. Từ khi viết câu chuyện về người rơi xuống biển người ta khuyên tôi nên lánh ra khỏi Colombia một thời gian cho lắng dịu bớt tình hình có đầy những lời đe dọa giết người, thực hoặc là ảo, được truyền đến chỗ chúng tôi bằng nhiều phương tiện khác nhau. Đó là điều đầu tiên tôi nghĩ đến khi ngài Luis Gabriel Cano hỏi thẳng tôi thứ Tư tới sẽ làm việc gì. Vì không có kế hoạch gì nên ông, theo nếp chậm rãi thường ngày, bảo tôi chuẩn bị giấy tờ để đi công tác trên cương vị đặc phái viên của báo ở Đại hội của bốn ông lớn sẽ được tổ chức vào tuần tới ở Genève.

Việc đầu tiên là phải gọi điện báo cho mẹ. Bà thấy tin này lớn đến mức phải hỏi lại xem có phải tôi nói về một trang trại nào có tên là Genève hay không. “Đó là một thành phố của Thụy Sĩ”, tôi nói với mẹ. Không chút âu lo, với sự bình tĩnh muôn thuở khi đón nhận những hành động lộn xộn ít ngờ nhất của đám con cái, mẹ hỏi tôi ở nơi ấy bao nhiêu lâu, và tôi trả lời sẽ trở về sau hai tuần lễ. Thực tế, tôi chỉ đi trong bốn ngày diễn ra hội nghị. Nhưng vì nguyên nhân chẳng liên quan gì đến ý nguyện của mình, tôi không ở lại đấy hai tuần mà gần ba năm. Và khi ấy thì chính tôi lại cần được nhận một chiếc thuyền có mái chèo mặc dù chỉ để được ăn mỗi ngày một bữa, nhưng tôi cố giữ để gia đình không biết điều đó. Đã có lúc ai đó muốn quấy rối tâm hồn mẹ bằng thủ đoạn tung tin là con bà đang sống như một hoàng tử ở Paris sau khi bà đã bị lừa vì câu chuyện tôi chỉ đi hai tuần là trở về.

- Thằng Gabito không lừa dối ai bao giờ - mẹ cười vô tư và bảo họ - có điều đôi lúc chính Đức Chúa cũng phải biến hai tuần lễ thành hai năm.

Trước đây, tôi chưa bao giờ nghĩ mình cũng là người thực sự không có đủ giấy tờ hợp pháp như hàng triệu người nông dân bị bạo lực đánh bật ra khỏi làng mạc đi lưu vong khắp nơi. Tôi chưa bao giờ đi bầu vì thiếu giấy chứng minh công dân. Ở Barranquilla, tôi thường dùng thẻ biên tập viên của El Heraldo để thay chứng minh thư, nhưng trong đó lại cố tình ghi sai ngày tháng năm sinh hai năm để trốn quân dịch. Trong trường hợp khẩn cấp, tôi phải trình tờ bưu thiếp do nhân viên điện tín ở Zipaquirá cấp cho. Một người bạn tuyệt vời đã giúp tôi quan hệ với nhân viên chuyên lo thủ tục của hãng du lịch và người này cam kết sẽ làm hết mọi thủ tục để tôi có thể lên máy bay đúng thời gian đã định với điều kiện tôi phải ứng trước hai trăm đô la và ký khống vào mười tờ giấy còn để trống nhưng đã đóng dấu sẵn. Thế là một công đôi việc, ngẫu nhiên tôi lại được biết trong tài khoản ngân hàng của mình có một số tiền đáng nể mà mình chưa có thời gian tiêu hết do mải mê với nghề phóng viên. Ngoài nhu cầu cá nhân mà không vượt quá nhu cầu của một sinh viên nghèo, khoản chi duy nhất của tôi là hàng tháng gửi chiếc thuyền có mái chèo về cho gia đình.

Đêm trước chuyến bay, nhân viên hãng du lịch hát trước mặt tôi tên của từng loại giấy tờ và lần lượt để chúng trên bàn làm việc để tôi khỏi nhầm lẫn: giấy chứng minh thư, thẻ quân dịch, giấy xác nhận đã nộp đủ thuế do Sở thuế cấp và giấy xác nhận đã tiêm chủng phòng chống bệnh đậu mùa và sốt rét vàng da. Cuối cùng, anh ta xin tôi cho thêm tiền thưởng đối với cậu thanh niên đã hai lần tiêm chủng trên danh nghĩa của tôi như hàng ngày vẫn làm thay như vậy trong mấy năm vừa qua cho những khách hàng phải đi gấp.

Tôi đi Genève kịp ngày bắt đầu hội nghị giữa Eisenhower (Tổng thống Mỹ), Bulganin (Chủ tịch Liên Xô), Eden (Thủ tướng Anh 1955-1957) và Faure (Thủ tướng Pháp) mà không biết ngoại ngữ gì ngoài tiếng Tây Ban Nha và lộ phí vừa đủ cho khách sạn loại ba nhưng được hỗ trợ đáng kể bằng số tiền trong tài khoản ngân hàng của mình. Chuyến trở về dự định sẽ trong vòng vài ba tuần lễ, nhưng tôi không biết vì linh cảm thế nào đó nên đã chia cho bạn bè tất cả tài sản của mình ở căn hộ, kể cả thư viện sách về điện ảnh mà tôi đã dày công gom góp được trong gần hai năm với sự cố vấn của Alvaro Cepeda và Luis Vicens.

Nhà thơ Gaitán Durán đến chia tay đúng lúc tôi đang xé bỏ nốt giấy tờ không cần thiết và ông đã tò mò xem lại trong sọt giấy, thử xem có tìm được cái gì đó dùng cho tờ tạp chí của mình không. Ông đã móc lên ba hoặc bốn tờ bị xé đôi, đọc lướt qua trong khi bày chúng lên bàn theo đúng thứ tự. Ông hỏi tôi mớ giấy ấy từ đâu xé ra, tôi trả lời là từ truyện “Độc thoại của Isabel nhìn mưa rơi ở Macondo” được tách bỏ ra từ bản thảo đầu tiên của tiểu thuyết Bão lá úa. Tôi cũng nói rõ là nó không phải là chưa in mà đã được in trên Crónica và trên “Magazine Dominical” của El Espectador. Gaitán Durán không quan tâm đến việc này và đã cho xuất bản trong số tiếp theo của tạp chí Mito.

Lễ tiễn đêm trước ở nhà của Guillermo Cano đúng là một cơn bão nên khi tôi ra đến sân bay thì chuyến máy bay đi Cartagena, nơi tôi sẽ ngủ lại một đêm để chia tay với gia đình, đã cất cánh. May mà tôi còn kịp chuyến bay trưa. Tôi đã hành động đúng, bởi bầu không khí căng thẳng trong gia đình có vẻ đã nguội đi, và bố mẹ cùng các em đã cảm thấy có thể tự mình sống được không cần đến chiếc thuyền có mái chèo, cái mà chính tôi sẽ phải cần đến hơn họ khi ở châu Âu.

Sáng sớm hôm sau, tôi đi Barranquilla bằng đường bộ để kịp đáp chuyến bay đi Paris vào lúc hai giờ chiều. Tại bến xe buýt ở Cartagena, tôi chợt gặp Lácides, người gác cổng đáng nhớ của tòa cao ốc hồi nào mà đã lâu tôi chưa hề gặp lại. Anh ta chạy đến ôm hôn tôi thắm thiết với đôi mắt đẫm lệ, nghẹn ngào không biết nói gì hơn. Sau khi trao đổi, chào hỏi vội vàng bởi xe buýt của anh vừa đến còn xe tôi thì sắp chạy, anh hỏi một câu khiến tôi cảm thấy thật sự xúc động:

- Có điều tôi không hiểu, thưa ngài Gabriel, tại sao không bao giờ ông nói với tôi ông là ai?

- Ôi, anh bạn Lácides thân mến của tôi - tôi nói với nỗi đau xót - tôi đã không nói được điều đó với anh bởi vì ngay hôm nay tôi vẫn còn chưa biết mình là ai cơ mà.

Mấy giờ sau, ngồi trên taxi ra sân bay Barranquilla dưới bầu trời trong sáng đến lạ lùng mà không một nơi nào trên thế giới có thể có được, tôi nhận ra mình đang đi trên đại lộ Hai mươi tháng Bảy. Theo phản xạ đã thành bản năng từ năm năm nay, tôi nhìn về phía nhà của Mercedes Barcha. Ở đó, nàng giống như một pho tượng đang ngồi suy tư ở bậc cửa ra vào. Ở đó người con gái thanh mảnh mà tôi đã từng yêu say đắm đang ngồi trầm tư mông lung trong bộ đồ màu xanh viền ren màu vàng hợp mốt với mái tóc ngắn. Tôi không thể tránh được tiếng thét đang muốn vỡ òa trong tâm khảm rằng mình sẽ mất nàng mãi mãi kể từ buổi sáng sớm một ngày thứ Năm của tháng Bảy, và có lúc tôi đã định dừng taxi lại để chia tay với nàng, nhưng lại không muốn một lần nữa thách thức số phận quá bấp bênh dai dẳng của mình.

Ngồi trên máy bay, tôi tiếp tục tự trừng phạt mình bằng bao trăn trở ân hận. Thời đó, người ta quen để ở phía sau ghế trước một ít giấy mà trong các ngôn ngữ La Tinh vẫn tế nhị gọi là để viết lời hẹn hò. Một tờ giấy viết thư viền vàng và một bì thư cùng thứ giấy màu hồng, màu kem hoặc màu xanh dương và thỉnh thoảng còn có cả giấy thơm. Trong những chuyến đi ít ỏi trước đây, tôi thường dùng để viết những bài thơ chia ly rồi gấp thành chim bồ câu giấy và thả nó bay khi bước rời khỏi máy bay. Tôi chọn một tờ màu xanh dương và viết bức thư chính thức đầu tiên của mình cho Mercedes, người con gái xinh đẹp đang ngồi ở bậc cửa ra vào của nhà nàng vào lúc bảy giờ sáng với bộ y phục màu xanh lá cây và mái tóc chim én vô định mà vẫn chưa nghĩ ra đã mặc vì ai vào lúc bình minh. Tôi đã từng viết cho nàng những bức thư nghịch ngợm một cách ngẫu hứng và chỉ nhận được từ nàng những câu trả lời miệng khéo léo như muốn lẩn tránh khi chúng tôi tình cờ gặp nhau. Bức thư lần này chỉ không quá năm dòng với ý định báo cho nàng về chuyến đi của mình, nhưng cuối thư tôi thêm câu tái bút: “Nếu trong một tháng mà không nhận được thư trả lời từ em, anh sẽ lưu lại châu Âu mãi mãi”. Tôi còn tự cho phép mình dành chút thời gian để nghĩ lại trước khi bỏ bức thư vào thùng. Lúc này đã là ngày thứ Sáu. Thứ Năm tuần sau đó, khi về khách sạn ở Genève sau một ngày vô ích nữa của sự bất đồng quốc tế, tôi đã nhận được thư trả lời.

« Lùi
Tiến »

Truyện bạn đang đọc dở dang