Thảm họa ở Aracataca vừa lắng xuống. Ông ngoại đã chết và đương nhiên, những quyền lực không rõ ràng của ông cũng chẳng còn nữa, chúng chỉ tồn tại trong nỗi nhớ nhung của những người vốn sống nhờ vào đó như chúng tôi mà thôi. Căn nhà như kẻ mất hồn vì không còn những người khách đến từ các chuyến tàu hỏa. Bà ngoại và bà bác Francisca Simodosea được Elvira Carrillo, con rơi của ông ngoại chăm sóc và che chở tận tình như một người hầu. Khi bà ngoại bị mù và mất trí nhớ, bố mẹ tôi liền đưa bà đến ở cùng để ít nhất người cũng có cuộc sống tốt đẹp hơn, chuẩn bị cho cái chết. Bà bác Francisca, vẫn nguyên trinh tiết và đức hy sinh, tiếp tục nói những lời khiếm nhã khác thường và những câu tục ngữ thô bạo, không chịu trao lại chìa khóa nghĩa trang và xưởng làm bánh thánh để hiến mình cho Đức Chúa. Một ngày nọ, bà ngồi ở cửa phòng tự khâu tấm vải liệm cho mình bằng mấy chiếc ga trải giường sạch sẽ. Bà chăm chú khâu vá đến mức thần chết phải chờ đợi thêm hai tuần nữa cho đến khi bà làm xong. Tối hôm ấy bà đi nằm mà không chào từ biệt ai cả và cũng không hề có bệnh tật hoặc đau đớn gì. Bà chết khi cơ thể vẫn hoàn toàn khỏe mạnh. Sau đó mọi người mới để ý là đêm trước bà đã viết ra giấy các thủ tục tang lễ cho mình. Elvira Carrillo, người con rơi của ông ngoại, một phụ nữ luống tuổi chưa hề biết đến mùi đàn ông, sống thui thủi một mình trong nỗi cô đơn mênh mông của căn nhà. Nửa đêm, dì lại chợt bừng tỉnh vì những tiếng ho vĩnh cửu từ các phòng bên vọng lại. Không bao giờ dì để ý đến chúng vì đã quen với nỗi khắc khoải của cuộc sống siêu nhiên rồi.
Ngược lại, người anh song sinh của dì, Esteban Carrillo vẫn giữ được sáng suốt và năng động cho đến tận tuổi già. Có lần, khi cùng ăn điểm tâm, tôi kể chi tiết cho cậu Esteban nghe vụ một số kẻ nhấc bổng ông ngoại lên định quẳng xuống đầm lầy. Lúc đó ông ngoại đã chết rồi nên tôi mới nhắc lại vụ này như một câu chuyện vui. Cậu đứng bật dậy, tỏ ý tức giận vì không có ai nói với mình lúc chuyện đó xảy ra và muốn biết người đã nói chuyện với ông ngoại lúc đó để hỏi xem những kẻ nào định dìm chết ông. Cậu cũng không hiểu tại sao ông ngoại, một tay thiện xạ đã từng nhiều phen vào sinh ra tử trong hai cuộc nội chiến, một người lúc nào cũng ngủ với khẩu súng ngắn dưới gối, và ngay trong thời bình cũng đã bắn chết kẻ đối địch trong cuộc đấu súng, lại không biết tự vệ.
Cậu Esteban nói với tôi là lúc đó vẫn chưa muộn để cậu và những người anh em khác dạy cho những kẻ láo xược đó một bài học. Đó là luật của người nông dân: nếu xảy ra việc xâm hại đến một thành viên của gia đình thì tất cả những người đàn ông của gia đình kẻ gây chuyện phải đền tội. Cậu Esteban quyết chí đến mức rút ngay khẩu súng đeo bên hông để lên bàn và tiếp tục tra vấn tôi. Từ đó, mỗi lần gặp tôi ở đâu đó, cậu lại buộc tôi nhớ lại chi tiết chuyện kia. Có đêm vào thời kỳ mà tôi đang bới tung quá khứ của gia đình để đưa vào cuốn tiểu thuyết đầu tiên, thì cậu mò đến phòng ngủ của tôi ở tòa báo, đề nghị tôi cùng tham gia cuộc điều tra vụ mưu sát ông ngoại. Không bao giờ cậu chịu đầu hàng. Lần cuối cùng tôi gặp cậu ở Cartagena de Indias, lúc này cậu đã già lắm rồi. Cậu chia tay tôi bằng nụ cười buồn bã:
- Cậu không thể hiểu nổi tại sao với trí nhớ kém cỏi như vậy mà cháu vẫn trở thành nhà văn được.
Khi không còn gì để làm ở Aracataca, bố lại đưa cả nhà đến sống ở Barranquilla và mở một hiệu thuốc mà không có một đồng vốn liếng nào ngoài số tiền những bạn hàng trước đây cho vay. Đây không phải là hiệu thuốc thứ năm như mọi người trong gia đình vẫn nói, mà thực ra chỉ là một hiệu thuốc duy nhất được di chuyển từ thành phố này sang thành phố khác theo nhịp độ kinh doanh của bố: hai lần ở Barranquilla, hai lần ở Aracataca và một lần ở Sincé. Ở chỗ nào cũng chẳng thấy lời lãi đâu mà nợ nần cũng vừa phải. Không có ông bà, các cậu các dì và những người làm công, gia đình bây giờ chỉ còn lại bố mẹ và bầy con - chín năm sau ngày cưới - sáu đứa, ba trai và ba gái.
Tôi đâm lo lắng cho sự thay đổi cuộc sống lần này. Trước đây khi còn nhỏ, tôi đã đến Barranquilla nhiều lần để thăm bố mẹ, nhưng kỷ niệm của tôi về thành phố này rất vụn vặt. Chuyến đi đầu tiên lúc tôi mới lên ba tuổi là nhân dịp mẹ sinh em gái Margot. Tôi còn nhớ mùi bùn hôi thối ở bến cảng lúc trời mới sáng, chiếc xe một ngựa kéo mà người đánh xe phải dùng roi da để xua đuổi những người khách định bám theo dọc con phố vắng lặng và bụi bặm. Tôi nhớ những bức tường màu vàng son và những cửa gỗ màu xanh của nhà hộ sinh ngập mùi thuốc nơi đứa em gái ra đời. Đứa bé mới sinh nằm trên chiếc giường sắt rất đơn giản ở góc phòng vắng vẻ chỉ có một người phụ nữ chắc là mẹ tôi, người mà tôi không thể nhớ mặt đã chìa bàn tay xanh tái ra phía tôi và thở dài nói:
- Con không nhận ra mẹ rồi.
Không có gì khác. Mãi mấy năm sau tôi mới có được hình ảnh cụ thể đầu tiên của bà: trong sạch và mạnh khỏe, nhưng tôi vẫn không thể xác định chính xác được vào thời gian nào. Có thể trong một cuộc viếng thăm ở Aracataca sau khi em gái thứ hai của tôi, Aida Rosa, ra đời. Tôi đang ở ngoài vườn chơi với con cừu mới sinh do Santos Villero ôm từ Fonseca đến cho thì bà bác Francisca vừa chạy vừa hét toáng lên làm cho tôi giật bắn mình:
- Mẹ cháu về rồi kìa.
Bà lôi tôi đến tận phòng khách nơi đã có mặt tất cả những người phụ nữ trong gia đình và một vài bà hàng xóm ngồi trên ghế xếp thành hàng dựa vào tường như trong buổi lễ tang. Cuộc nói chuyện bị ngưng lại khi tôi đột ngột vào trong phòng. Tôi thì đứng như trời trồng ở ngay cửa vì không biết ai trong số những người phụ nữ có mặt là mẹ mình cho đến khi chính bà giang rộng cánh tay cất tiếng nói dịu dàng nhất mà tôi còn nhớ:
- Con trai tôi đã thành người lớn rồi đấy nhỉ!
Bà có chiếc mũi cao, thẳng rất đẹp, dáng cao cao với làn da tái xanh và trông rất quý phái với bộ trang phục đúng mốt của năm đó: bộ đồ bằng lụa trắng ngà thắt eo ở ngang lưng, cổ đeo mấy vòng ngọc trai, đi giày da cao gót và đội mũ rộng vành mỏng tang như các minh tinh màn bạc trong phim câm. Trong vòng tay của mẹ, tôi ngập trong cái mùi đặc trưng thường trực ở bà. Nỗi ân hận vì lỗi lầm bỗng làm xôn xao thể xác và tâm hồn tôi vì tự biết mình đã không làm tròn nghĩa vụ yêu thương mẹ.
Ngược lại, ký ức sớm nhất mà tôi nhớ được về bố mình thì rất cụ thể và rõ ràng, đó là ngày 1 tháng Mười Hai năm 1934 vào ngày sinh nhật lần thứ ba mươi ba của ông. Tôi thấy ông đi rất vội và vui vẻ vào nhà của ông bà ngoại ở Cataca, vận đồ vải lanh trắng và đội mũ vành thẳng. Có ai đó sau khi ôm hôn và chúc mừng đã hỏi bố được bao nhiêu tuổi. Câu trả lời của ông thì không bao giờ tôi quên được mặc dù lúc đó tôi không hiểu rõ:
- Bằng tuổi Đức Chúa Giêsu.
Tôi vẫn thường tự hỏi tại sao kỷ niệm đó mình lại coi là sớm nhất dù cho đến lúc đó tôi đã ở với bố nhiều lần.
Cho đến lúc đó chúng tôi không sống chung dưới một mái nhà, nhưng sau khi em gái Margot ra đời, ông bà ngoại bắt đầu có thói quen đưa tôi đi Barranquilla, tức là khi em Aida Rosa ra đời thì tôi không còn là người xa lạ nữa. Tôi tin đó là mái nhà hạnh phúc. Ở đấy có một hiệu thuốc và sau đó bố mẹ còn mở thêm hiệu khác ở trung tâm thương mại. Chúng tôi còn gặp lại bà nội Argemira - thường gọi Mama Gime - và hai người con của bà là chú Julio và cô Ena. Cô Ena rất xinh đẹp nhưng trong gia đình cô là người bạc phận. Cô chết lúc mới hai mươi lăm tuổi mà không ai biết chính xác vì sao; mãi gần đây người ta còn nói là vì bùa ngải của kẻ yêu cô mà không được cô yêu lại. Càng lớn, chúng tôi càng thấy bà nội càng dễ thương và với cái tật lắm điều.
Vào chính thời kỳ này, bố mẹ gây cho tôi một cú sốc tình cảm đã để lại vết sẹo khó có thể lành được. Ngày hôm đó, mẹ nổi hứng ngồi vào chơi piano bản “Khi điệu nhảy kết thúc” - điệu valse lịch sử trong cuộc tình bí mật giữa hai người - còn bố thì dám cả gan thả hồn lãng mạn, phủi bụi chiếc đàn violon đứt một dây để hòa tấu với mẹ. Mẹ dễ dàng hòa vào phong cách nhạc của những buổi rạng sáng lãng mạn, và chơi hay hơn bao giờ hết, rồi âu yếm nhìn lại qua bờ vai thấy mắt bố đẫm lệ. “Anh đang nhớ đến ai thế?”, mẹ hỏi bố với vẻ ngây thơ tàn nhẫn. “Anh đang nhớ lần đầu tiên chúng mình cùng chơi đàn với nhau”, bố trả lời trong khi đang say bản valse. Mẹ giận dữ đập mạnh cả hai tay lên bản phím đàn:
- Không phải anh nhớ đến em, đồ dối trá - mẹ hét thật to. - Anh quá biết là mình đang chơi đàn vì ai và khóc vì con nào.
Hôm đó và mãi mãi sau này, mẹ không nói tên cô gái, nhưng tiếng thét của mẹ đã làm chúng tôi chết lặng vì sợ hãi. Như mọi khi, mỗi lần lo sợ Enrique và tôi lại tìm cách lẩn trốn, lần này chúng tôi chui xuống gầm giường. Aida thì trốn sang nhà hàng xóm và Margot bị lên cơn sốt đột xuất mê man bất tỉnh trong ba ngày. Mặc dù những đứa con vốn quen với những cơn ghen bùng phát của mẹ - đôi mắt mẹ đẫm lệ, chóp mũi thẳng nhọn như biến thành một mũi dao. Chúng tôi đã từng thấy mẹ gỡ từng bức tranh, ảnh treo trên tường, quăng mạnh xuống sàn giữa tiếng kính vỡ loảng xoảng. Chúng tôi cũng đã từng thấy mẹ ngửi từng chiếc áo, quần của bố trước khi vứt vào sọt để đi giặt. Không có gì xảy ra sau cái đêm song tấu bi thảm đó, nhưng người thợ sửa đàn đã đến mang chiếc piano đi bán và chiếc violon - cùng với khẩu súng ngắn - thì mục rữa trong kho đồ cũ.
Thành phố Barranquilla lúc đó đi đầu trong sự tiến bộ dân sự, chủ nghĩa tự do hiền lành và song song tồn tại các xu hướng chính trị. Những yếu tố quyết định cho sự phát triển và phồn thịnh của thành phố chính là việc chấm dứt một thế kỷ nội chiến kể từ khi đất nước giành được độc lập từ Tây Ban Nha, rồi sau đó là sự sụp đổ của khu vực trồng chuối do hậu quả của trận đàn áp tàn bạo những người công nhân sau trận tổng đình công.
Cho đến lúc đó, không có gì ngăn cản được tinh thần sẵn sàng đi tiên phong của những cư dân trong thành phố. Năm 1919, Mario Santodomingo, nhà công nghiệp trẻ - cha của Julio Mario - đã vinh dự là người khai trương dịch vụ bưu chính hàng không quốc gia bằng cách ném một túi vải bạt đựng năm mươi bảy bức thư từ chiếc máy bay - thường do người Mỹ William Knox Martin lái - xuống bãi biển Puerto Colombia, cách thành phố Barranquilla năm dặm. Sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, một toán phi công Đức - trong đó có Helmuth von Krohn - lập các đường hàng không với loại máy bay Junkers F-13, xe lội nước chạy trên sông Magdalena như những con châu chấu khổng lồ may mắn chở sáu người hành khách quả cảm cùng với những túi đầy thư tín. Đó chính là tiền thân của Công ty Vận tải hàng không Colombia - Đức - SCADTA, một trong những hãng hàng không sớm nhất trên thế giới.
Việc chuyển về sinh sống ở Barranquilla đối với tôi không chỉ là thay đổi từ thành phố này sang thành phố khác và thay đổi nhà ở mà là sự thay đổi người cha đỡ đầu vào lúc mới mười một tuổi. Người cha mới này là một người đàn ông cao lớn, nhưng trên phương diện quyền lực người cha thì khác hẳn với người đã làm cho tôi và Margot hạnh phúc trong thời gian ở nhà ông bà ngoại. Trước đây chúng tôi vốn quen tự mình làm chủ bản thân nên lần này rất khó hòa hợp thích ứng với một chế độ làm chủ của người khác. Về khía cạnh học hành, thì bố là người rất đáng khâm phục vì bố là một người tự học hoàn toàn, một người ham đọc hơn bất cứ ai mà tôi đã quen biết, nhưng cũng là người bạ cái gì cũng đọc, từ khi từ bỏ trường y để tập trung tự học cách điều trị bằng tiểu vi lượng đồng căn (homeopatía) mà thời ấy chưa được dạy trong trường và lấy được giấy phép hành nghề. Ấy thế mà, bố không có được ý chí để vượt qua mọi khó khăn trong cuộc sống như mẹ. Vào những giờ phút khó khăn nhất thì ông lại nằm trên võng đọc bất cứ cuốn sách nào có trong tay hoặc chơi ô chữ. Thái độ này của ông đối với thực tế là căn bệnh vô phương cứu chữa. Ông rất nể phục những người giàu có, nhưng không phải là những kẻ phất lên một cách mờ ám mà là những người kiếm tiền nhờ tài năng và có lòng tự trọng.
Nằm trên võng thao thức giữa ban ngày, ông xếp vô vàn tài sản khổng lồ trong tưởng tượng với những công ty thật dễ dàng mà không hiểu tại sao trước đó mình chưa hề nghĩ ra. Bố thường thích dẫn chứng trường hợp giàu có lạ lùng đã được nghe kể ở Darien: hai trăm dặm đầy lợn cái đang đẻ. Tuy nhiên, những trung tâm buôn bán sầm uất lạ lùng như vậy không hề có ở những nơi chúng tôi đã từng sống, mà chỉ có trong những thiên đường thất lạc đâu đó qua câu chuyện nghe được của các điện tín viên. Tính phi hiện thực định mệnh của ông làm cho chúng tôi sống lơ lửng giữa những thất bại và sự khởi đầu mới. Suốt một thời gian dài, chẳng ngày nào chúng tôi nhận được một mẩu bánh mì nào tự nhiên từ trên trời rơi xuống. Dù sao thì bố mẹ vẫn dạy chúng tôi biết phục tùng và tự trọng như một người có đạo theo lối cổ cả khi hưởng phước lành cũng như khi chịu đựng nỗi khổ.
Thử thách duy nhất mà tôi còn thiếu là một mình đi xa với bố và dịp đó đã đến khi bố đưa tôi đi Barranquilla để giúp ông mở cửa hàng thuốc và chuẩn bị điều kiện cho cuộc đổ bộ của cả gia đình. Tôi rất ngạc nhiên thấy khi chỉ có hai bố con, ông cư xử với tôi như với một người lớn, vừa thương yêu vừa tôn trọng, đến mức giao cho tôi những việc không dễ làm đối với một đứa trẻ ở tuổi của tôi. Tôi vui vẻ làm những việc này thật tốt mặc dù không phải được bố hoàn toàn nhất trí. Bố thường có thói quen kể cho chúng tôi nghe chuyện ngày bé khi còn sống ở quê hương, nhưng ông cứ lặp đi lặp lại năm này qua năm khác cho những đứa mới đẻ nên các câu chuyện trở nên nhạt nhẽo đối với những đứa lớn đã biết hết cả rồi. Có những lúc, mấy đứa lớn chúng tôi đứng phắt dậy khi bố bắt đầu kể chuyện ngay sau bữa ăn. Một lần, em Luis Enrique đã xúc phạm bố bằng câu nói trước khi đi khỏi bàn ăn:
- Nhờ các vị báo cho tôi biết khi nào ông chết lại lần nữa nhé.
Phản ứng bộc phát này khiến bố nổi giận và cùng với những lý do khác, ông đưa Luis Enrique vào trại giáo dưỡng ở Medellín. Nhưng với tôi ở Barranquilla ông là người bố khác hẳn. Bố sưu tập được một kho giai thoại dân gian và kể cho tôi nghe những chuyện lý thú về cuộc sống khó khăn với bà nội, về tính keo kiệt huyền thoại của ông nội và những khó khăn trong việc học hành của mình. Những kỷ niệm đó giúp tôi chịu đựng tốt hơn những thói thất thường của bố và hiểu được lý do tại sao nhiều khi bố không thông cảm với mình.
Thời kỳ này chúng tôi đã nói về những cuốn sách đã đọc và sẽ đọc và ở ngay chỗ hủi nhất ngoài chợ, chúng tôi cũng thu hoạch được một đống truyện về Tarzan, truyện trinh thám, truyện về chiến tranh vũ trụ. Suýt nữa thì tôi cũng trở thành nạn nhân của tính thực dụng của bố, nhất là khi ông quyết định mỗi ngày chúng tôi chỉ nấu cơm một lần. Va chạm đầu tiên giữa chúng tôi xảy ra khi bố bắt gặp tôi đang nhồi nhét nước giải khát và bánh ngọt vào cái bụng đã rỗng vào buổi chiều tối, bảy giờ sau bữa ăn trưa. Tôi đã không thể giải thích cho ông biết đã lấy tiền ở đâu để mua các thứ đó. Tôi không dám để lộ việc mẹ đã lén cho một vài đồng để mua thực phẩm đối phó với chế độ hà khắc kiểu thầy tu mà bố áp dụng khi đi đường. Kiểu thông đồng bí mật này mẹ còn dùng cho đến khi nào còn rủng rỉnh tiền trong túi. Lúc tôi vào học trường trung học, mẹ cũng nhét vào va ly đồ dùng tắm giặt, gương lược và một tài sản mười peso đựng trong hộp xà phòng Reuter với ảo tưởng là tôi chỉ mở ra dùng khi có nhu cầu bức thiết. Đúng như vậy, khi học xa gia đình, lúc túng bấn mà có được mười đồng thì thật không gì bằng.
Bố tìm mọi cách không để tôi ở lại một mình vào ban đêm trong hiệu thuốc ở Barranquilla, nhưng các giải pháp của ông không phải lúc nào cũng dễ chịu đối với một đứa trẻ mười hai tuổi như tôi. Ban đêm khi cùng ông đi thăm lại gia đình các bạn gái, tôi cảm thấy rất khổ sở, bởi vì các bà bạn ấy cũng có con bằng tuổi tôi và thường bắt chúng đi ngủ từ lúc tám giờ còn lại mình tôi phải chịu trận trong câu chuyện tào lao của người lớn, trong khi đôi mắt cứ díu lại vì buồn ngủ.
Một buổi tối khi cùng bố đi thăm gia đình một người bạn làm nghề thuốc, có lẽ tôi đã ngủ quên và tôi không biết bằng cách nào và vào lúc mấy giờ tôi bỗng bừng tỉnh đi lang thang ngoài một đường phố xa lạ.
Tôi hoàn toàn không có ý niệm gì về nơi mình đang đứng, và làm sao đến được đây, tôi cho đó là bệnh mộng du. Trong gia đình chưa từng ai bị mắc bệnh này và cho đến nay cũng chưa ai bị cả, nhưng đó là cách giải thích duy nhất cho hiện tượng xảy ra trong buổi tối nọ. Khi tôi bừng tỉnh, điều đầu tiên làm tôi ngạc nhiên là tấm kính của tiệm uốn tóc có treo tấm gương lớn và có ba hoặc bốn khách hàng ngồi dưới chiếc đồng hồ chỉ tám giờ mười phút, thời khắc mà không một đứa trẻ nào ở độ tuổi tôi được có mặt một mình ngoài phố. Lo lắng và hoảng sợ, tôi đã nhớ nhầm tên chủ gia đình mà bố con tôi đến thăm và cũng nhớ sai địa chỉ của nhà họ, nhưng một số người đi đường cũng đoán ra và đưa tôi quay lại đúng chỗ cũ. Tôi gặp lại những người hàng xóm đang đứng đoán già đoán non về sự mất tích của tôi. Họ chỉ biết là trong lúc mọi người đang mải nói chuyện thì tôi đứng dậy và họ nghĩ là tôi đi vệ sinh. Lời giải thích về bệnh mộng du đã không thuyết phục được ai, nhất là bố, ông coi đó là trò nghịch ngợm trẻ con mà thôi.
Cũng may là mấy ngày sau tôi đã trở lại bình thường khi bố để tôi một mình ở nhà người bạn để đi tham dự một bữa ăn tối bàn chuyện buôn bán. Cả gia đình này đang say sưa tham gia cuộc thi giải đáp câu đố do đài phát thanh Atlántico tổ chức. Câu đố lần này rất hóc búa: “Con vật nào khi lộn ngược lại sẽ đổi tên?” May mắn làm sao mới chiều hôm đó tôi vừa đọc lời giải câu đố này trong bản in lần cuối của cuốn Lịch Bristol và tôi coi là một trò khôi hài tầm thường: con vật duy nhất thay đổi tên là escarabajo (con bọ hung) vì khi lộn ngược lại nó sẽ thành escararriba (chơi chữ trong nguyên bản: escarabajo là ghép hai từ cái vẩy và phía dưới còn escararriba ghép hai từ cái vẩy và phía trên - ND). Tôi liền nói nhỏ với một trong những cô bé của gia đình này và cô chị cả liền vội vàng nhấc máy điện thoại nói câu trả lời cho đài phát thanh Atlántico. Cô ta được giải nhất, được một trăm peso đủ trả tiền thuê nhà trong ba tháng. Phòng khách tràn ngập người hàng xóm vừa nghe công bố kết quả trên đài đã vội sang chúc mừng những người thắng cuộc. Ngoài chuyện tiền bạc, gia đình này đặc biệt thích thú chiến thắng trong một giải nổi tiếng ở đài phát thanh trên vùng bờ biển Caribe. Không ai để ý sự có mặt của tôi. Khi quay lại đón tôi, bố cũng hòa chung vào bầu không khí vui vẻ của gia đình và uống rượu mừng nhưng không ai nói cho ông biết chiến thắng thực sự trong cuộc thi này.
Một chiến tích khác của thời kỳ đó là giành được sự cho phép của bố để sáng Chủ nhật được một mình đi xem phim ở rạp Colombia. Lần đầu tiên họ chiếu các phim nhiều tập, mỗi Chủ nhật chiếu một tập với một câu chuyện làm cho người xem hồi hộp suốt cả tuần lễ. Cuộc xâm lược của Mongo là cuốn phim về cuộc chiến giữa các hành tinh đầu tiên đã làm trái tim tôi mê mẩn suốt mấy năm ròng, chỉ đến khi được xem cuốn phim Cuộc phiêu lưu trên vũ trụ của Stanley Kubrick thay thế mới thôi. Tuy vậy, cuối cùng chính các phim của Arhentina, đặc biệt là về Carlos Gardel và Libertad Lamarque (hai danh ca nam và nữ nổi tiếng chuyên hát tango - ND), đã đánh bạt tất cả các phim trên.
Trong không đầy hai tháng, bố con tôi đã lắp đặt xong hiệu thuốc và bố trí xong chỗ ở cho gia đình. Hiệu thuốc thì ở ngay góc đường, đông người qua lại giữa trung tâm thương mại và cách đại lộ Bolivar chỉ có bốn dãy phố. Nhà thì ở tít tận đường phố xa xôi nhưng vui vẻ của khu Barrio Abajo. Giá thuê nhà không xứng với tình trạng thực tế mà do người chủ áp đặt: một căn nhà kiểu gô tích sơn bột màu vàng và đỏ có hai tháp cầu kinh.
Đúng hôm người ta bàn giao trụ sở cho hiệu thuốc, hai bố con mắc võng ở sân sau để ngủ trong cái nóng hầm hập khiến người ướt đẫm mồ hôi. Khi nhận nhà ở, chúng tôi phát hiện không có móc để mắc võng đành trải đệm xuống sàn và chỉ ngủ ngon lành sau khi kiếm được con mèo đuổi lũ chuột. Lúc mẹ dẫn một lũ em lít nhít đến thì đồ đạc trong nhà vẫn còn chưa đầy đủ, thiếu hẳn đồ nấu bếp và nhiều thứ khác cần cho sinh hoạt.
Mặc dù có mang ý đồ nghệ thuật, nhưng căn nhà cũng rất bình thường và vừa đủ rộng cho gia đình chúng tôi, gồm phòng khách, phòng ăn, hai buồng ngủ và một sân nhỏ lát đá. Thực ra nó không đáng một phần ba giá thuê nhà mà chúng tôi phải trả. Vừa nhìn thấy căn nhà, mẹ đã hoảng sợ, nhưng bố cố trấn an bằng cách nói về một tương lai lấp lánh ánh vàng. Đó là chuyện xảy ra thường xuyên. Khó mà nghĩ rằng hai con người khác hẳn nhau lại có thể hiểu và yêu thương nhau đến như vậy.
Dáng vẻ của mẹ lúc đó làm tôi rất xúc động. Mẹ đang mang thai lần thứ bảy và hình như mí mắt và mắt cá chân của mẹ cũng phồng to như eo lưng vậy. Mẹ đã ba mươi ba tuổi và đây là căn thứ năm mà mẹ phải lo mua sắm đồ đạc. Tôi rất lo lắng cho thể trạng tinh thần của mẹ, mà ngay buổi tối đầu tiên đã có dấu hiệu khá trầm trọng, do nỗi sợ hãi vì câu chuyện tự mẹ nghĩ ra một cách vô cớ về một người đàn bà X. nào đó, đã từng sống ở căn nhà này trước khi bị giết bằng dao. Tội ác đó đã xảy ra từ bảy năm trước lúc bố mẹ còn ở Barranquilla và nó rùng rợn đến mức mẹ đề nghị đừng bao giờ quay về sống ở thành phố này nữa. Có lẽ khi quyết định về đây mẹ đã quên mất chuyện đó, nhưng ngay buổi tối đầu tiên trong căn nhà tối tăm này, mẹ bỗng cảm thấy bầu không khí giông giống như trong lâu đài của bá tước Dracula (ma cà rồng hút máu người - ND).
Tin tức đầu tiên về người đàn bà X. là việc người ta phát hiện ra một thi thể trần truồng và thối rữa không thể nhận dạng được. Người ta chỉ có thể xác định đó là một người phụ nữ dưới ba mươi tuổi, tóc đen và có nhiều nét hấp dẫn. Người ta tin là bà bị chôn sống, bởi lẽ bàn tay trái nạn nhân đang che mắt vì sợ hãi và cánh tay phải thì giơ cao trên đầu. Dấu hiệu duy nhất để có thể xác định được danh tính là hai dải băng buộc đầu màu xanh lam và một chiếc lược hình cung giữ mái tóc đuôi sam. Trong số nhiều giả thiết có lẽ đáng tin nhất là ý kiến cho rằng người đó là cô gái nhảy người Pháp sống buông thả và bị mất tích đúng với thời gian xảy ra tội ác này.
Barranquilla vốn nổi tiếng là thành phố mến khách và thanh bình nhất nước nhưng năm nào cũng xảy ra một vụ giết người thảm khốc. Tuy vậy, chưa có tội ác nào gây xúc động và làm dư luận xôn xao một thời gian dài như vụ giết người bằng dao dã man này. Nhật báo La Prensa, một trong những tờ báo quan trọng nhất nước vào thời gian đó, vốn đi tiên phong trong việc in các truyện tranh ở phụ trương chủ nhật - như Buck Rogers, Tarzán - nhưng ngay từ đầu cũng là một trong những tờ báo lớn có đăng các bài phóng sự đó. Trong suốt mấy tháng liền, tờ báo này đã làm cho cả thành phố phải hồi hộp theo dõi qua các tít lớn và những phát hiện mới kinh hoàng, có đúng, có sai về vụ án nổi tiếng toàn quốc này.
Các nhà chức trách tìm cách hạn chế việc đưa thông tin với lý do sợ cản trở quá trình điều tra, nhưng độc giả đâm ra tin tưởng hơn vào các phát hiện của La Prensa so với thông tin của cơ quan nhà nước. Cuộc chiến thông tin này làm cho tâm hồn độc giả căng thẳng suốt mấy ngày và tối thiểu cũng buộc các điều tra viên phải đổi phương hướng. Hình ảnh người đàn bà X. hằn sâu vào tâm trí của mọi người đến mức nhiều nhà phải mua xích sắt về buộc cửa ra vào và thường xuyên tăng cường canh gác ban đêm đề phòng tên sát nhân còn đang tự do ngoài xã hội, tiếp tục chương trình thực hiện các tội ác rùng rợn. Thành phố phải cấm các thiếu nữ không được rời khỏi nhà một mình từ sáu giờ chiều.
Tuy nhiên, sự thật của vụ án không được bất cứ ai tìm ra. Sau đó một thời gian, chính tên sát nhân, Efráin Duncan, tự thú là đã giết vợ mình - Angela Hoyos - trùng hợp với thời điểm do ngành pháp y xác định, và đã chôn xác đúng nơi người ta phát hiện ra thi thể bị dao đâm nát. Người nhà của nạn nhân xác nhận những chiếc băng và cái lược vòng là của Angela dùng khi đi cùng chồng, vào ngày 5 tháng Tư, nạn nhân nói là đến thị trấn Calamar. Vụ án đã được khép lại một cách tình cờ và chẳng có gì hồi hộp như kết thúc của một cuốn tiểu thuyết hình sự: Angela Hoyos có cô em gái song sinh giống hệt đang sống nên lại càng dễ xác minh danh tính của thi thể.
Huyền thoại về người đàn bà X đổ sụp và biến thành một vụ phạm tội tuy có gây xúc động nhưng cũng chỉ tầm thường như các vụ khác, tuy nhiên bí ẩn của người em song sinh giống như đúc thì vẫn còn bay lơ lửng trong mọi nhà vì người ta vẫn đồn đại rằng chính người đàn bà X được phép mầu làm sống lại. Các cửa ra vào nhà không những được đóng chặt bằng thanh gỗ mà còn được gia cố thêm những đồ đạc chất đống thành một chiến lũy để ngăn không cho tên sát nhân có phép thuật đã trốn trại mò vào nhà ban đêm. Ở các khu phố của người giàu, nhà nào cũng có mốt nuôi chó săn được huấn luyện kỹ, có thể chống lại những tên sát nhân có phép lạ đi xuyên tường vào nhà. Trên thực tế, mẹ chỉ đỡ sợ sau khi được những người hàng xóm thuyết phục rằng căn nhà ở khu Barrio Abajo không phải được xây vào thời điểm xảy ra vụ người đàn bà X bị giết hại.
Ngày 10 tháng 7 năm 1939 mẹ sinh đứa em gái có nét xinh đẹp của người bản địa và được đặt tên là Rita để bày tỏ lòng thành kính vô hạn của cả nhà đối với Thánh bà Rita de Casia, một người đàn bà có nhiều phẩm chất cao quý mà tiêu biểu là lòng nhẫn nại chịu đựng và vượt qua được tính xấu của người chồng hung bạo. Mẹ kể cho chúng tôi nghe rằng buổi tối nọ, người chồng say túy lúy về nhà ngay sau khi con gà mái phóng một bãi cứt trên bàn ăn. Không còn thì giờ để lau, người vợ chỉ kịp dùng đĩa đậy lại để chồng khỏi nhìn thấy và vội tìm cách lảng tránh chú ý của ông ta bằng câu hỏi thường ngày:
- Ông muốn ăn gì nào?
Người chồng gầm gừ:
- Cứt.
Người vợ nâng chiếc đĩa lên và dịu dàng nói:
- Thì ông có đây này.
Lịch sử khẳng định rằng chính người chồng tin rằng vợ mình có phép thánh và thế là ông ta trở thành người sùng đạo.
Hiệu thuốc mới của cha con tôi ở thành phố Barranquilla thất bại thảm hại, cũng còn may là bố sớm linh cảm thấy điều này. Sau mấy tháng cố sức chống chọi, cái sẩy nẩy cái ung, tình trạng thua lỗ càng rõ hơn. Lúc ấy, bố sửa soạn túi xách chuẩn bị đi tìm vận may đâu đó trong một thị trấn ít mong chờ nhất bên dòng sông Magdalena. Trước khi ra đi, bố dắt tôi đến giới thiệu khá trịnh trọng với các bạn và đối tác làm ăn coi như người thay thế ông lúc đi vắng. Không bao giờ tôi biết được ông nói điều này với hàm ý đùa giỡn như vẫn thường làm trong các trường hợp nghiêm trọng hay là nói nghiêm túc như ông bao giờ cũng làm khi có những chuyện tào lao. Tôi nghĩ rằng bạn bè ông mỗi người hiểu mỗi cách, vì ở tuổi mười hai tôi chỉ là một đứa bé gầy còm, xanh mét, có giỏi thì chỉ giỏi vẽ vời và hát múa. Người phụ nữ vẫn bán sữa cho chúng tôi - trước mặt đông đủ cả nhà kể cả tôi - đã nói với mẹ hết sức thật lòng:
- Xin bà thứ lỗi cho điều tôi sắp nói, nhưng tôi tin là đứa trẻ này khó nuôi lắm đấy.
Suốt thời gian dài tôi lo lắng chờ đợi cái chết bất ngờ, tôi luôn nằm mơ thấy cảnh nhìn vào gương không thấy mặt mình mà lại thấy mặt con bê. Người thầy thuốc ở trường trung học chẩn đoán tôi bị sốt rét, viêm amiđan, và bị bệnh mật đen vì đọc quá nhiều sách cấm. Tôi không làm giảm bớt sự lo lắng của mọi người. Ngược lại, tôi còn cường điệu thêm cảnh bệnh tật của mình để trốn việc. Tuy nhiên bố phớt lờ chuyện đó, trước khi ra đi, ông tuyên bố tôi phải chịu toàn bộ trách nhiệm việc nhà trong thời gian ông vắng mặt:
- Con phải làm giống như bố vậy.
Hôm lên đường, bố họp tất cả chúng tôi ở phòng khách để dặn dò và răn đe trước những trò nghịch ngợm của chúng tôi khi ông đi vắng, nhưng chúng tôi biết đó chỉ là mánh khóe của bố để khỏi bật khóc mà thôi. Bố cho mỗi đứa chúng tôi một đồng năm xu, lúc đó là cả một gia tài đối với bọn trẻ. Bố hứa khi trở về sẽ đổi đồng mười xu cho đứa nào còn nguyên đồng năm xu. Cuối cùng, cất giọng rao giảng bố nói với tôi:
- Bố trao vào tay con mọi chuyện trong nhà và con phải nắm lấy.
Tôi đau xé lòng khi nhìn bố rời khỏi nhà và tôi là người đầu tiên không cầm được nước mắt khi lần cuối cùng bố quay lại nhìn và vẫy tay chào chúng tôi trước khi rẽ quặt vào góc phố. Chỉ đến lúc ấy tôi mới nhận ra mình thương yêu bố đến mức nào, và cảm xúc ấy kéo dài mãi mãi.
Làm theo lời dặn của bố không có gì khó cả. Mẹ bắt đầu quen với nỗi cô đơn bất thường và vô lối này, rất khó chịu nhưng dễ thích nghi. Tất cả các con, kể cả những đứa nhỏ nhất đều phải giúp mẹ làm việc nhà và đều làm rất tốt. Vào thời kỳ này, lần đầu tiên tôi có cảm giác mình là người lớn vì thấy các em coi mình như người cậu ruột của chúng.
Tôi không làm sao chế ngự được tính nhút nhát. Khi phải trực tiếp đối mặt với trách nhiệm mà bố để lại tôi mới hiểu rằng tính nhút nhát là một bóng ma không dễ gì thắng được. Mỗi lần phải đi vay nợ, dù là nơi đã được bố thỏa thuận từ trước, tôi vẫn phải đi lòng vòng hàng tiếng đồng hồ xung quanh nhà, cố nín khóc và trấn áp cảm giác nôn nao trong lòng, cho đến khi liều lĩnh muốn nói mà hai quai hàm vẫn gắn chặt cứng, khiến tiếng nói không thoát ra được. Cũng có người xấu bụng xỉa xói tôi: “Thằng nhóc khốn kiếp này, không có ai nói mà ngậm cứng miệng đâu”. Hơn một lần tôi phải về tay không và phải bịa ra lý do. Nhưng có lẽ không bao giờ tôi xấu hổ bằng lần đầu tiên được nói qua điện thoại ở cửa hàng góc phố. Ông chủ cửa hàng đã giúp tôi liên hệ với người nhân viên tổng đài vì lúc đó chưa có điện thoại tự động. Khi được ông ta trao cho cái loa, tôi như nghe thấy hơi hướng của cái chết. Tôi chờ được nghe tiếng nói nhã nhặn, nhưng cái mà được nghe là tiếng thì thào của ai đó nói trong bóng tối cùng lúc với tôi. Tôi nghĩ là người đối thoại không hiểu mình nên tôi nói giọng vống lên. Người kia tức giận cũng cao giọng theo:
- Này, ông kia, làm cái quái gì mà quát tháo tôi thế hả?
Tôi sợ hãi tắt máy. Tôi phải thừa nhận rằng mặc dù rất say sưa với thông tin liên lạc, nhưng đến tận bây giờ tôi vẫn phải cố nén sự ngại ngùng đối với điện thoại và máy bay, và tôi không biết có phải nỗi sợ này bắt nguồn từ ngày hôm đó hay không. Làm cách nào để làm được việc? May mà mẹ cứ hay nhắc đi nhắc lại câu trả lời: “Phải biết chịu đựng mới phục vụ được”.
Phải hai tuần sau mới có tin đầu tiên về bố, đó là một bức thư mà ông gửi về có lẽ chỉ để cả nhà vui chứ không báo cho chúng tôi một thông tin gì. Mẹ hiểu như vậy nên ngày hôm đó mẹ vừa rửa bát vừa hát để lên dây cót tinh thần cho chúng tôi. Khi không có bố ở nhà, mẹ khác hẳn: mẹ hòa hợp với những đứa con gái chẳng khác gì như một người chị cả. Mẹ hòa đồng thật tốt với chúng, là người giỏi nhất trong các trò chơi trẻ con, kể cả chơi với búp bê, và khi điên lên cũng gân cổ cãi nhau tay đôi với chúng. Hai lá thư sau cũng giống như lá thứ nhất, bố chỉ nói những dự định hết sức sáng sủa để giúp chúng tôi ngủ ngon.
Một vấn đề nghiêm trọng là quần áo của chúng tôi bị chật một cách quá nhanh chóng. Không ai dùng được quần áo cũ của Luis Enrique vì hình như nó luôn bò từ phố về nhà và chúng tôi không thể hiểu được sao quần áo của nó thường xuyên bị rách như thế. Mẹ nói chắc nó đi giữa hàng rào dây thép gai. Những đứa em gái - từ bảy đến chín tuổi - tự thu xếp với nhau một cách khôn khéo. Tôi tin là những thiếu thốn lúc đó đã làm chúng sớm trở thành người lớn. Aida nhanh nhẹn, Margot cũng đã vượt qua được tính nhút nhát, tỏ ra rất thân mật và dịu dàng với em bé mới sinh. Trường hợp tôi là khó nhất, không chỉ vì tôi phải giữ tư thế trang trọng mà còn là vì mẹ được mọi người khuyến khích đã mạo hiểm vét một phần lớn nguồn tiền của gia đình để đăng ký cho tôi vào học trường Cartagena de India, cách nhà mười dãy phố.
Theo giấy báo triệu tập, khoảng hai mươi đứa chúng tôi cùng đến tham dự cuộc thi nhập học vào lúc tám giờ sáng. May mà không phải là thi viết. Có ba thầy lần lượt gọi chúng tôi theo thứ tự đã được sắp xếp từ tuần trước để vào thi vấn đáp ngắn gọn, trên cơ sở học bạ những năm trước của từng người. Tôi là người duy nhất không có học bạ vì không kịp đi lấy ở trường thực nghiệm Montessori và trường tiểu học ở Aracataca. Mẹ nghĩ là không có học bạ cũ thì chắc không được vào trường, nhưng tôi quyết làm chuyện điên khùng. Khi tôi thú nhận là không có học bạ, một trong các thầy giáo lôi tôi ra khỏi hàng, nhưng thầy khác lại cho tôi vận may, đưa tôi về văn phòng của ông để tự kiểm tra không cần có đủ điều kiện theo quy định trước. Ông hỏi tôi mười hai tá có bao nhiêu đơn vị, một ngũ niên và một thiên niên kỷ có bao nhiêu năm, ông bắt tôi nhắc lại tên thị xã của các tỉnh, các sông lớn của đất nước và tên các nước có chung biên giới. Những câu hỏi tôi cảm thấy bình thường cho đến lúc ông hỏi tôi đã đọc những cuốn sách nào rồi. Ông chú ý đến việc tôi kể ra các loại sách, khá nhiều so với tuổi của tôi. Chú ý cả việc tôi đã đọc Ngàn lẻ một đêm, bản in cho người lớn trong đó không bỏ những chuyện rùng rợn đã từng làm cha xứ Angarita rất khó chịu. Tôi ngạc nhiên khi biết ông coi cuốn sách này là quan trọng vì trước đây tôi cứ nghĩ những người lớn nghiêm túc không bao giờ tin thần đèn chui ra khỏi cái chai hoặc là câu thần chú có thể mở được cánh cửa. Những thí sinh trước tôi mỗi người chỉ phải sát hạch trong mười lăm phút là được chấp nhận hoặc bị loại, riêng tôi phải ngồi nói chuyện với thầy hơn nửa tiếng đồng hồ về đủ mọi đề tài. Chúng tôi rà soát lại giá sách chật cứng ở phía sau bàn viết trong đó nổi bật cuốn có bìa in chữ vàng nổi Tài sản của thanh niên mà tôi mới chỉ được nghe nói đến, nhưng thầy giáo khuyên là ở tuổi của tôi đọc cuốn Don Quijote có lợi hơn. Cuốn này không có trong thư viện, nhưng ông hứa sau này sẽ cho tôi mượn. Sau nửa giờ bàn luận về Thủy thủ Simbad và Robinson Crusoe, ông tiễn tôi ra tận cửa nhưng không nói liệu tôi có được vào trường hay không. Tôi nghĩ dĩ nhiên là không được, nhưng ở tiền sảnh, khi chia tay ông bắt chặt tay tôi hẹn gặp lại vào tám giờ sáng ngày thứ Hai để đăng ký học ở lớp trên của trường tiểu học: lớp bốn.
Đó chính là ông hiệu trưởng. Tên ông là Juan Ventura Casalins và tôi luôn luôn nhớ đến ông như một người bạn thời trẻ thơ chứ không phải là hình ảnh một người thầy giáo đáng sợ thời bấy giờ. Phẩm hạnh đáng nhớ nhất của ông là luôn đối xử bình đẳng với chúng tôi như với người lớn, mặc dù tôi thấy hình như ông vẫn giữ mối quan tâm riêng đến tôi. Trong lớp ông thường hỏi tôi nhiều hơn những học trò khác và giúp tôi trả lời đúng và dễ dàng. Ông cho phép tôi mang sách của thư viện trường về nhà đọc. Trong số các cuốn sách đó, Đảo giấu vàng và Bá tước Montecristo là những liều thuốc đem lại hạnh phúc cho tôi trong những năm tháng buồn tẻ đó. Tôi đọc nghiến ngấu như muốn nuốt lấy từng từ với lòng khát khao muốn biết chuyện gì sẽ xảy ra ở dòng tiếp theo đồng thời cũng không muốn biết để khỏi đánh mất tính hấp dẫn của câu chuyện. Những cuốn sách này, cùng với Ngàn lẻ một đêm, tôi đã học để mãi mãi không bao giờ quên điều này, đó là chỉ nên đọc những cuốn sách nào buộc ta phải đọc lại lần nữa.
Ngược lại, việc đọc Don Quijote không làm tôi xúc động như thầy Casalins đã dự báo trước. Tôi chán những lời giáo huấn của chàng hiệp sĩ lang thang và tôi không thể cười được trước những câu pha trò ngớ ngẩn của người giám mã đến mức tôi cứ nghĩ đây không phải là cuốn sách mà người ta từng nhiều lần nói đến. Nhưng tôi lại tự nhủ một người thầy uyên bác như hiệu trưởng thì không thể nhầm lẫn được, nên lại cố nuốt nó như đang uống phải những thìa thuốc xổ giun. Ở trường phổ thông trung học, tôi lại phải cố đọc vì đó là chương trình học bắt buộc và tôi căm ghét nó thậm tệ cho nên một người bạn khuyên để cuốn sách đó lên giá đỡ trong nhà vệ sinh để cố đọc khi làm nghĩa vụ hàng ngày. Và với cách ấy, tôi đã phát hiện và thích thú cuốn sách này từ đầu chí cuối đến mức có thể thuộc lòng một số đoạn trong truyện.
Mái trường hạnh phúc đó cũng để lại trong tôi những kỷ niệm lịch sử về một thành phố của một thời đáng nhớ. Đó là ngôi nhà độc nhất trên đỉnh đồi xanh tươi mà từ sân thượng có thể nhìn thấy hai thái cực của thế giới. Phía bên trái là khu nhà ở Prado sang trọng và đắt giá mà mới nhìn qua tôi đã cảm thấy nó là bản sao trung thành của khu chuồng gà có hàng rào dây điện chạy qua của Công ty chế biến hoa quả. Không phải là ngẫu nhiên, nó cũng được chính công ty xây dựng của Mỹ tạo nên với đúng sở thích về quy tắc và giá cả, và đó cũng là một khu du lịch để khách tứ xứ trong cả nước đến xem. Phía bên phải, là hình ảnh ngược lại, chính là vùng ngoại ô của khu phố Barrio Abajo nơi nhà tôi đang sống, với những đường phố đầy bụi bẩn, nóng hầm hập và những căn nhà tranh mái lá, như nhắc nhở rằng chúng tôi chỉ là những kẻ khốn cùng. Cũng may, từ sân thượng trong trường học, chúng tôi cũng có thể có một cái nhìn tổng thể về tương lai: châu thổ sông Magdalena là một trong những vùng đồng bằng lớn nhất thế giới, xa xa ngoài khơi là vệt xám của cửa sông Ceniza.
Ngày 28 tháng 5 năm 1935, chúng tôi thấy tàu chở dầu Taralite, mang cờ Canada do thuyền trưởng D.F. McDonald chỉ huy, ầm ầm cập cảng thành phố trong tiếng nhạc và pháo hoa đón chào. Đó là cảnh kết thúc một chiến tích dân sự trong bao nhiêu năm và phải tốn bao nhiêu tiền bạc để biến Barranquilla thành cảng biển và cảng sông duy nhất của cả nước.
Ngay sau đó, đại uý Nicolas Reyes Manotas lái chiếc máy bay bay là là trên các mái nhà để tìm khoảng trống hạ cánh khẩn cấp tránh cái chết mất xác của chính mình và của những người khác trên mặt đất trong trường hợp máy bay bị rơi. Đó là một trong những phi công đầu tiên của Colombia. Chiếc máy bay đầu tiên này được người ta tặng ở Mexico, và ông đã một mình lái nó đi dọc theo Trung Mỹ. Đám đông người đã tụ tập ở sân bay Barranquilla chuẩn bị khăn tay và cờ để chào đón chuyến bay thắng lợi, nhưng Reyes Manotas lại bay thêm hai vòng để chào thành phố trong khi động cơ máy bay bị hỏng hóc. Chỉ nhờ một may mắn kỳ lạ mà ông có thể tiếp tục điều khiển máy bay, hạ cánh xuống sân thượng một tòa nhà trong trung tâm thương mại, nhưng bị vướng vào lưới dây điện treo lủng lẳng trên cột điện. Em Luis Enrique và tôi cố chạy theo đoàn người nhưng chỉ đủ sức đến chỗ xa xa nhìn thấy người ta vừa cố kéo được viên phi công lành lặn ra khỏi chiếc máy bay trong tiếng tung hô người anh hùng.
Thành phố cũng có đài phát thanh đầu tiên, một kênh dẫn nước hiện đại đã biến thành điểm du lịch hấp dẫn, nơi giới thiệu quy trình lọc nước mới mẻ, và một đội cứu hỏa mà tiếng còi và tiếng chuông của nó lúc mới đầu đã trở thành lễ hội vui thích của cả trẻ con lẫn người lớn. Ở thành phố này, cũng lần đầu tiên những chiếc xe ô tô được nhập vào. Chúng chạy như điên trên đường phố, đè nát cả những con đường lát gạch mới. Hãng dịch vụ tang lễ La Equitativa lấy cảm hứng từ tính hài hước của cái chết đã cho căng một tấm biển quảng cáo rất lớn ở cửa ngõ ra vào thành phố với tít chữ: “Xin bạn đừng chạy, chúng tôi đang đợi bạn đây”.
Trong các buổi tối, khi không có nơi trú ẩn nào khác ngoài mái nhà, mẹ gom chúng tôi lại nghe đọc thư của bố. Phần lớn những bức thư đó là những tác phẩm giải trí bậc thầy, nhưng có một bức thư nói bóng gió về nhiệt tình của những người lớn tuổi vùng phía hạ nguồn sông Magdalena đối với phép điều trị bằng tiểu vi lượng đồng căn. “Ở đây có những trường hợp thật là kỳ diệu”, bố viết như vậy. Thỉnh thoảng ông lại làm cho chúng tôi có cảm tưởng là sắp được biết điều gì trọng đại lắm, nhưng sau đó chỉ là một tháng im lặng tiếp theo. Trong Tuần lễ Thánh, hai đứa em nhỏ nhất bị chứng thủy đậu nguy hiểm hành hạ, chúng tôi không thể liên lạc được với bố vì những người thạo đường nhất cũng không thể lần nổi dấu vết của ông.
Chính trong những tháng ngày ấy, tôi mới hiểu được một trong những từ được ông bà ngoại dùng nhiều nhất trong cuộc đời thực: nghèo khổ. Tôi đã diễn giải ý nghĩa của nó là tình trạng nhà mình khi Công ty chế biến hoa quả bắt đầu gỡ bỏ. Người ta ca cẩm về việc này vào bất cứ giờ nào trong ngày. Không còn được ngồi vào bàn ăn hai hoặc ba lần một ngày như trước đây mà chỉ một lần duy nhất. Để không từ bỏ một nghi lễ thiêng liêng là buổi ăn trưa, dù không còn khả năng vật chất duy trì được nữa, mọi người quyết định ra chợ cóc mua đồ ăn nấu sẵn ngon và rẻ hơn nhiều so với bữa ở nhà, không ngờ đó lại là khoái khẩu của lũ trẻ con. Nhưng việc này cũng chấm dứt vĩnh viễn khi bà ngoại phát hiện ra rằng, một số thực khách rất quen thuộc giờ không thấy quay lại thăm nhà nữa vì chê bữa ăn không ngon bằng trước đây.
Cái nghèo của bố mẹ tôi ở Barranquilla còn tệ hại hơn nữa, nhưng chính nó lại cho phép tôi gần gũi với mẹ hơn. Hơn cả tình yêu thương của đứa con đối với bậc sinh thành, tôi thực sự cảm phục cá tính của bà, đó là tính khí của một con sư tử lặng lẽ quyết liệt đương đầu với mọi khó khăn cũng như thách thức, đó cũng là mối quan hệ của bà với Đức Chúa Trời, không phải là thuần phục mà là chiến đấu. Hai phẩm chất mẫu mực đó của cuộc đời đã gieo vào lòng bà niềm tin chiến thắng. Trong những giây phút tệ hại nhất của cuộc đời bà vẫn có khả năng tự trào về những thủ thuật may rủi của mình. Như cái lần bà mua một ống xương đùi bò, luộc đi luộc lại làm cho món xúp ngày càng loãng cho đến lúc không thể nấu được nữa mới thôi. Vào một đêm mưa gió, bà đã phải dùng toàn bộ số dầu thắp của cả tháng, vì điện mất từ đầu hôm cho đến sáng, sau đó bà buộc phải dọa mấy đứa nhỏ sợ bóng tối để chúng không rời khỏi giường.
Lúc đầu bố mẹ cũng hay đi thăm gia đình bạn bè đã rời khỏi Aracataca vì cuộc khủng hoảng của ngành trồng chuối và tình hình an ninh trật tự quá tồi tệ ở đó. Trong những chuyến thăm viếng lẫn nhau ấy, câu chuyện chỉ xoay quanh đề tài những tai họa đang rình rập mọi người. Nhưng khi gia đình lâm vào cảnh nghèo khổ tệ hại ở Barranquilla thì mẹ thôi không than vãn về mọi chuyện ở nhà người khác nữa. Mẹ gói gọn sự kín đáo của mình vào một câu duy nhất: “Nhìn mắt đã biết là nghèo rồi”.
Cho đến lúc lên năm, cái chết đối với tôi chỉ là sự chấm dứt một cách tự nhiên xảy ra với người khác. Khoái lạc trên trời và khổ ải dưới địa ngục đối với tôi chỉ là những bài học thuộc lòng trong bài giảng giáo lý đạo cơ đốc của cha Astete. Chẳng có gì liên quan đến tôi cả. Cho đến một hôm, khi viếng một người chết, tôi bỗng liếc thấy đàn chấy bò ra từ đầu tóc người quá cố lan ra gối. Từ hôm đó, điều tôi lo lắng không phải là nỗi sợ chết mà tôi tự cảm thấy xấu hổ vì chấy cũng sẽ bò ra khỏi tóc mình trước mắt những người đi viếng khi tôi chết. Tuy vậy, ở trường tiểu học của thành phố Barranquilla tôi vẫn chưa biết là mình có chấy, cho đến tận khi tôi lây chấy cho mọi người thì cả nhà mới hay. Mẹ lại chứng tỏ một lần nữa cá tính mạnh mẽ của mình. Mẹ dùng thuốc diệt gián xịt lên đầu từng đứa và làm một cuộc tổng vệ sinh. Nhưng đâu vẫn hoàn đấy, vì tôi lại bị lây chấy ở trường học. Mẹ quyết định diệt triệt để và bắt tôi cạo trọc đầu. Sáng thứ Hai dám đến trường với chiếc mũ vải trên đầu quả là một hành động anh hùng và tôi cũng bảo vệ được lòng tự trọng của mình trước những lời chế giễu của bạn bè và kết thúc năm học cuối cùng với số điểm cao nhất. Tôi không còn có dịp gặp lại thầy Casalins, nhưng mãi mãi ghi sâu trong tâm khảm lòng biết ơn thầy.
Một người bạn của bố mà tôi không quen biết đã tìm cho tôi một việc làm ở xưởng in gần nhà. Lương quá thấp nên tôi chỉ còn tự động viên đây là dịp để học nghề. Tuy nhiên, tôi không được nhìn thấy máy in lấy một phút vì công việc của tôi chỉ là xếp các lá kim loại để in li tô. Được an ủi là mẹ cho phép tôi dùng tháng lương đầu tiên để mua tờ phụ trương Chủ nhật của báo La Prensa có in các truyện tranh hài hước về Tarzan, về Buck Rogers - mà trong đó người ta thường dịch là Rogelio kẻ xâm lược - và Mutt and Jeff - mà người ta gọi là Benitín và Eneas. - Vào các Chủ nhật, trong lúc rỗi rãi, tôi học vẽ thuộc lòng lại các nhân vật trên và tự nghĩ ra câu chuyện cho chúng. Những truyện tranh của tôi gây hứng thú cho một số người lớn trong khu phố và thậm chí tôi còn bán được chúng với giá hai xu.
Công việc vừa nặng nhọc vừa nhàm chán nên dù tôi đã cố hết sức, người ta vẫn báo với cấp trên là tôi thiếu nhiệt tình trong lao động. Có lẽ là nhờ uy tín của gia đình mà người ta quyết định chuyển tôi từ phân xưởng này qua làm công việc phân phát tờ rơi ngoài đường, để quảng cáo cho một loại nước ngọt chữa ho được các nghệ sĩ điện ảnh khuyên mọi người nên dùng. Tôi thấy việc này dễ chịu vì các tờ truyền đơn này in nhiều màu, hình các nghệ sĩ trên giấy bóng rất đẹp. Nhưng ngay từ đầu tôi đã nhận thấy việc phân phát tờ rơi này không dễ như tôi tưởng, bởi vì mọi người cảm thấy như bị lừa nên phần đông không chịu nhận. Những ngày đầu tiên tôi phải đưa về xưởng nhiều tờ chưa phân phát hết. Sau đó tôi gặp một số bạn học cũ từ thời ở Aracataca mà cha mẹ của họ đã làm rùm beng lên chuyện tôi đi làm cái việc không khác gì đi ăn mày. Họ gào ầm lên trách móc tôi tại sao ra đường lại đi đôi dép vải vốn được mẹ mua cho để khỏi hỏng mất đôi giày tầm cỡ giáo hoàng.
- Cháu về nói với mẹ Luisa Márquez - một người nói với tôi - thử xem bố mẹ chồng của bà ấy sẽ nói gì khi thấy đứa cháu yêu nhất đi phân phát tờ quảng cáo chống bệnh lao phổi ở ngoài chợ.
Tôi không truyền đạt thông điệp này vì không muốn làm mẹ buồn, nhưng khóc thầm vì tức giận và xấu hổ suốt mấy đêm. Tấn bi kịch này chấm dứt vì tôi không đi phân phát tờ rơi nữa mà vứt tất cả xuống cống nước ở ngoài chợ nhưng không ngờ dòng nước hiền hòa này cuốn những tờ giấy bóng trôi bồng bềnh như một tấm đệm nhiều màu tạo nên một cảnh đẹp chưa từng thấy khi nhìn từ trên cầu.
Trong giấc mơ đầy linh cảm, có lẽ mẹ nhận được thông điệp của những người đã khuất, nên chưa đầy hai tháng sau, bà đã bảo tôi thôi đi làm ở xưởng in mà không có lời giải thích nào cả. Tôi phản đối vì sợ mất những phụ trương Chủ nhật của tờ La Prensa mà tôi coi như ơn huệ của trời nhưng mẹ vẫn mua được nó dù phải bớt đi một củ khoai tây trong nồi xúp. Một nguồn sống khác trong những tháng ngày tệ hại nhất chính là sự trợ giúp của bác Juan. Bác vẫn sống ở Santa Marta với thu nhập ít ỏi của một kế toán viên nhưng tự thấy phải có nghĩa vụ gửi cho chúng tôi mỗi tuần một bức thư kèm theo hai peso. Viên thuyền trưởng tàu Aurora, vốn là bạn cũ của gia đình, trao cho tôi lá thư ấy vào hồi bảy giờ sáng và tôi trở về nhà với bọc thức ăn đủ nấu cho gia đình trong mấy ngày.
Vào một ngày thứ Tư tôi không đi được nên mẹ sai Luis Enrique đi thay. Em đã không thắng được lòng ham muốn nhân gấp đôi hai peso trong máy trò chơi có thưởng ở cửa hàng của một người Trung Quốc. Khi bị mất hai thẻ kim loại đầu tiên, nó vẫn quyết chơi để gỡ cho đến khi chỉ còn hai thẻ. “Lúc đó em sợ quá - nó kể với tôi khi đã thành người lớn - nên quyết định sẽ không quay về nhà nữa”. Em quá biết là với hai peso có thể mua đủ đồ ăn cho cả tuần lễ. May mà với thẻ cuối cùng, trong máy có tiếng kêu lạo xạo và nôn ra cả đống thẻ đủ đổi lại hai peso đã mất. “Lúc ấy, em như bị quỷ sai khiến - Luis Enrique kể tiếp - và em liều chơi tiếp một thẻ nữa”. Nó đã thắng. Liều thẻ khác, lại thắng, thẻ nữa, thẻ nữa và lại thắng. “Lúc này em còn giật mình, sợ hơn cả lúc bị thua, bụng dạ cứ nôn nao cả lên - nó kể - nhưng em cứ tiếp tục chơi”. Cuối cùng em đã nhân đôi số tiền ban đầu nhưng bằng các đồng tiền kẽm năm hào chứ không phải bằng tiền giấy. Nó không dám đổi lại thành tiền giấy ở quầy vì sợ ông Trung Quốc bày trò lật lọng. Tiền cứ kêu rủng rẻng trong túi nên trước khi đưa cho mẹ số tiền mà bác Juan gửi nó phải đem chôn bốn đồng năm hào phần của nó ở sau vườn nơi nó vẫn giấu tất cả những đồng xu nhặt được. Nó tiêu dần số tiền đó mà không báo cho ai biết. Mãi mấy năm sau bí mật đó mới được nó nói ra sau những cơn vật vã vì hối tiếc đã mất năm xu cuối cùng trong cửa hàng của ông Trung Quốc.
Quan hệ của nó với tiền bạc cũng có nét rất riêng. Có lần mẹ bắt gặp nó đang định móc tiền đi chợ trong ví của bà và cách bào chữa của nó thật là quái nhưng cũng rất sáng suốt: tiền mà đứa con tự tiện lấy trong ví của bố mẹ không phải là tiền ăn cắp, vì đó là tiền của tất cả mọi người, sở dĩ người ta từ chối không cho chẳng qua là vì lòng ghen ghét mình không biết sử dụng đồng tiền như những đứa khác mà thôi. Tôi cũng xông vào bảo vệ lập luận của nó, hăng đến mức tự thú là đã nhiều lần móc trộm đồ vật của nhà vì nhu cầu cấp bách. Mẹ mất cả kiên nhẫn quát ầm ĩ: “Đừng có gàn dở như vậy - mẹ gào lên với tôi. - Con và em con không ăn cắp của mẹ cái gì cả. Chính mẹ chủ ý để tiền nơi mẹ biết là các con sẽ lấy khi cần thiết”. Tôi nghe thấy mẹ lẩm bẩm một cách tuyệt vọng trong cơn tức giận rằng Đức Chúa Trời phải cho phép người ta ăn cắp một số thứ để nuôi con.
Cái duyên nghịch ngợm của Luis Enrique nhiều khi giúp giải quyết được vấn đề chung, nhưng không đủ sức hấp dẫn tôi làm theo các mánh khóe của nó. Nhưng nó tìm mọi cách để tôi không nghi ngờ và chính vì thế mà tình thân của chúng tôi thêm sâu đậm mãi. Tôi không bao giờ để nó biết sự thèm khát của tôi muốn có được lòng quả cảm của nó và nỗi đớn đau của tôi khi nó bị bố đánh. Cách hành xử của tôi rất khác với nó, nhưng nhiều lúc tôi vẫn không làm sao nguôi ngoai lòng ghen tỵ với cái tính mạnh bạo của nó. Khi còn ở với bố mẹ ở Cataca, mọi người chỉ cho tôi đi ngủ sau khi tôi đã uống xong thuốc tẩy giun hoặc dầu cây thầu dầu. Tôi ghê sợ đến mức ghét cả đồng kẽm hai mươi xu mà mọi người thưởng cho mỗi khi tôi dũng cảm uống hết thuốc.
Quá thất vọng, mẹ đành gửi tôi với một bức thư đến người đàn ông nổi tiếng là giàu có nhất và đồng thời cũng nhân ái nhất của thành phố. Tin tức về lòng tốt được đăng tải đậm nét trên báo chí không kém gì những thắng lợi tài chính của ông. Mẹ viết cho ông ta bức thư nói lên hết nỗi thống khổ để cầu xin sự giúp đỡ kinh tế khẩn cấp, không phải vì bản thân bà không đủ sức chịu đựng tất cả mà là vì tình thương đối với đứa con ngỗ ngược của bà. Chỉ người nào quen biết mẹ mới hiểu được sự tủi nhục này có ý nghĩa thế nào trong cuộc đời bà, nhưng hoàn cảnh lúc đó buộc bà phải làm như vậy. Mẹ bắt tôi phải giữ kín bí mật này không cho ai biết ngoài hai mẹ con, và tôi đã làm đúng như vậy cho đến khi viết những lời này.
Tôi gõ vào chiếc cửa lớn như cửa nhà thờ và ngay lập tức từ ô cửa sổ nhỏ một người phụ nữ mà bây giờ tôi chỉ còn nhớ ánh mắt lạnh băng ló đầu nhìn ra. Bà ta nhận thư mà không nói lời nào rồi đóng ngay ô cửa lại. Lúc đó khoảng mười một giờ sáng và tôi ngồi trên khúc gỗ chờ đến ba giờ chiều thì quyết định gõ cửa lần nữa xem có câu trả lời không. Người phụ nữ lại mở ô cửa và kinh ngạc nhận ra tôi và bảo tôi chờ bà ta một lát. Câu trả lời là hẹn tôi quay lại vào đúng giờ này thứ Ba tuần sau. Tôi làm đúng như lời dặn, nhưng câu trả lời mà tôi nhận được lúc đó là sẽ không có sự giúp đỡ nào trong tuần lễ này. Tôi phải quay đi quay lại ba lần nữa chỉ để nhận được câu trả lời duy nhất đó. Một tháng rưỡi sau, một người phụ nữ vẻ thô bạo hơn đã thay mặt ông chủ trả lời tôi thẳng thừng rằng đây không phải là trại tế bần.
Tôi đi lòng vòng trên những dãy phố nóng hầm hập, cố vét hết chút can đảm cuối cùng để báo cho mẹ câu trả lời mà tôi chắc rằng nó sẽ làm tắt ngóm những ảo vọng của bà. Chỉ đến lúc đêm khuya, lòng đau như cắt, tôi mới dám về gặp mẹ để báo tin là người đàn ông nhân ái nọ đã chết từ mấy tháng trước. Điều làm tôi đau lòng hơn chính là lời cầu nguyện của mẹ cho linh hồn ông ta được siêu thoát trên cõi vĩnh hằng.
Bốn hoặc năm năm sau, khi chúng tôi cùng nghe đài phát thanh đưa tin cái chết thực sự của người đàn ông nhân ái vào ngày hôm trước, tôi cứng người chờ sự phản ứng của mẹ. Tuy nhiên, không bao giờ tôi hiểu nổi tại sao sau khi chăm chú lắng nghe tin này, mẹ lại xúc động nói:
- Cầu Đức Chúa đón ông về cõi Thánh Thần.
Chúng tôi kết thân với anh em nhà Mosquera, ở cách nhà tôi một dãy phố, một gia đình không tiếc tiền mua các tạp chí có đăng các truyện tranh và chất đống đến tận nóc nhà kho sau vườn. Chúng tôi là những kẻ duy nhất có đặc quyền ngồi suốt ngày ở đó đọc Dick Tracy và Buck Rogers. Một may mắn khác là làm quen được với người học việc vẽ quảng cáo cho các phim gần rạp Las Quintas. Tôi khoái được giúp anh vẽ chữ, đổi lại anh ta dẫn chúng tôi lẻn ra phía cửa sau vào xem những bộ phim đùng đoàng hai hoặc ba lần một tuần.
Phương tiện sang trọng duy nhất mà chúng tôi còn thiếu là một chiếc đài để có thể nghe nhạc bất cứ giờ nào trong ngày chỉ sau một cú vặn nút. Ngay nay, khó mà hình dung được sự thiếu thốn trong các gia đình nghèo thuở đó. Luis Enrique và tôi thường ngồi trên ghế băng trong cửa hàng góc phố suốt buổi chiều cùng những người khách hàng nghe các chương trình ca nhạc phát trên đài. Chúng tôi thuộc lòng tất cả các bài hát của danh ca Miguelito Valdes cùng với dàn nhạc Casino de la Playa, của Daniel Santos với dàn nhạc Sonora Matancera và các bài bolero của Agustin Lara qua giọng ca của nữ ca sĩ Tona người da đen. Thú vui vào ban đêm, nhất là những đêm nhà bị cắt điện vì thiếu tiền điện, là việc dạy mẹ và các em hát, nhất là dạy hai em Ligia và Gustavo, chúng hát mà không hiểu gì về ca từ nên chúng tôi thường cười ngặt nghẽo trước những tình khúc ngớ ngẩn của chúng. Điều đó cũng chẳng có gì đáng ngạc nhiên vì tất cả chúng tôi đều được di truyền lại từ bố mẹ trí nhớ âm nhạc đặc biệt và tai nghe âm nhạc rất tốt để có thể học thuộc bài hát ngay trong lần nghe thứ hai. Đặc biệt, Luis Enrique sinh ra để thành nhạc công và nó tự học chơi đàn ghi ta trong những đêm dạ hội serenata chúc mừng các đôi tình nhân. Chúng tôi cũng sớm phát hiện ra rằng tất cả những đứa trẻ không có đài ở các nhà hàng xóm cũng học được các bài hát nhờ các em tôi, nhất là nhờ mẹ tôi dạy cho. Bà đã trở thành người chị gái của căn nhà đầy trẻ con đó.
Chương trình yêu thích của tôi là Giờ của mỗi thứ một tí của nhạc sĩ, nhạc công và chỉ huy dàn nhạc Angel Maria Camacho được phát sóng vào một giờ chiều, với nội dung rất phong phú, vui nhộn và đặc biệt có một giờ dành riêng cho thính giả nghiệp dư dưới mười lăm tuổi. Chỉ cần đăng ký tại văn phòng của đài Tiếng nói quốc gia và đến trước nửa tiếng. Đích thân nhạc sĩ Camacho đệm đàn piano và một người trợ lý của ông sẽ phán quyết bằng cách đánh chuông khi phát hiện bất cứ lỗi nào, dù là nhỏ nhất trong quá trình ca sĩ nghiệp dư hát. Phần thưởng cho bài hát được trình bày hay nhất là năm peso, một điều quá sức mơ tưởng của chúng tôi, nhưng mẹ nói là điều quan trọng nhất chính là niềm vinh dự được hát trong một chương trình rất có uy tín.
Cho đến lúc ấy mọi người chỉ biết đến tôi nhờ mang họ của bố - Garcia - và hai tên là Gabriel José, nhưng trong trường hợp lịch sử này mẹ yêu cầu tôi phải đăng ký thêm họ mẹ là Marquez để không ai nghi ngờ gì về danh tính của mình. Đó là một sự kiện trọng đại đối với cả nhà. Mọi người bắt tôi mặc bộ trắng như hôm làm lễ ban thánh thể đầu tiên, và trước khi tôi rời khỏi nhà còn bắt tôi uống thuốc bromua kali. Tôi đến đài phát thanh Tiếng nói Quốc gia sớm hơn hai tiếng và viên thuốc an thần đã phát huy tác dụng lâu dài trong khi tôi phải ngồi chờ ở công viên gần đó vì người ta chỉ cho phép vào trường quay mười lăm phút trước khi bắt đầu chương trình. Mỗi phút trôi qua tôi lại cảm thấy rõ hơn sự nôn nao, nỗi sợ hãi và cuối cùng tôi vào trường quay với trái tim loạn nhịp đập như trống làng. Tôi phải cố lắm mới không quay về nhà, bịa ra bất cứ lý do gì để nói là người ta không cho tôi thi.
Nhạc sĩ đánh nhanh một vài nốt nhạc để thử giọng của tôi. Người ta gọi bảy thí sinh theo thứ tự đăng ký trước và ba người bị đánh chuông vì một lỗi nào đó và người ta giới thiệu tôi chỉ với tên Gabriel Marquez. Tôi hát bài “Chim thiên nga”, một ca khúc trữ tình về con chim thiên nga trắng hơn cả bông tuyết cùng với người tình đã bị một người thợ săn tàn ác bắn chết. Ngay từ những giai điệu đầu tiên tôi đã nhận thấy, khác với lúc hát thử, một số nốt nhạc của bài hát này quá cao so với chất giọng của mình và có lúc nào đó tôi đã hoảng sợ khi người trợ lý tỏ vẻ nghi ngờ và sẵn sàng đánh chuông. Tôi không hiểu mình đã có được lòng can đảm từ đâu để ra hiệu cho ông ta không được đánh chuông, nhưng đã muộn: tiếng chuông vô hồn đã cất lên. Năm peso phần thưởng, và một số tặng phẩm của các hãng quảng cáo đã được trao cho một cô bé tóc vàng rất xinh xắn, người đã phá hỏng một đoạn trong bài Madame Butterfly. Tôi buồn bã về nhà sau thất bại đắng cay đó và không bao giờ tôi an ủi nổi nỗi thất vọng của mẹ. Rất nhiều năm sau, mẹ thú nhận với tôi rằng nguyên nhân khiến bà xấu hổ là bà đã báo cho người nhà và bạn bè đón nghe tôi hát để sau đó không biết cách nào lẩn tránh được họ.
Dù ở trong cảnh dở khóc dở cười đó, tôi vẫn nhất quyết không bỏ học, kể cả lúc phải nhịn đói. Nhưng tôi chẳng có chút thời gian nào dành riêng cho việc đọc sách vì hầu như lúc nào tôi cũng bận bịu lo toan mọi việc của gia đình; hơn nữa, chúng tôi cũng không thể trang trải nổi chi phí tiền điện để có thể đọc sách đến nửa đêm. Nhưng dù gì thì tôi cũng cố gắng tìm mọi cách để tháo gỡ khó khăn. Trên đường từ trường về nhà, có một số xưởng sửa chữa xe ô tô khách và tôi đã đứng hàng giờ trước một trong những xưởng đó để xem người ta vẽ bên hông chiếc xe buýt những câu chữ chỉ dẫn lịch trình và trạm cuối của tuyến xe. Một hôm tôi đề nghị anh họa sĩ cho tôi thử vẽ vài chữ xem sao. Ngạc nhiên vì khả năng thiên bẩm của tôi, họa sĩ cho phép tôi thỉnh thoảng vẽ giúp anh để nhận vài ba đồng bạc lẻ về bổ sung cho ngân quỹ gia đình. Một ảo tưởng khác thời bấy giờ là vụ kết bạn ngẫu nhiên của tôi với ba anh em nhà Garcia. Ba người con trai của một thủy thủ tàu chạy trên sông Magdalena, thuần tuý vì tình yêu âm nhạc, đã lập ra nhóm tam ca chuyên hát nhạc trẻ góp vui cho các lễ hội của bạn bè. Tôi tham gia vào cùng họ, lập thành nhóm Tứ ca Garcia để dự thi trong chương trình Một giờ với các ca sĩ nghiệp dư của đài phát thanh Atlántico. Ngay từ ngày đầu tiên chúng tôi đã được hoan hô nhiệt liệt, nhưng lại không được trao phần thưởng năm peso vì trục trặc trong khâu đăng ký dự thi. Chúng tôi tiếp tục tập tành với nhau cho đến cuối năm và hát trong các lễ hội gia đình mãi đến khi cuộc sống khắc nghiệt buộc nhóm chúng tôi tan rã.
Không bao giờ tôi tán thành ý kiến cho rằng cha tôi thiếu trách nhiệm nên đã để gia đình lâm vào cảnh bần hàn nghèo khó. Ngược lại, tôi tin rằng đó là bằng chứng nên thơ gắn kết mối tình giữa bố với mẹ và cho phép hai người có đủ can đảm tiếp tục đối đầu với thử thách bên bờ vực thẳm. Bố biết rõ là mẹ có đủ can đảm chiến đấu chống lại nỗi sợ hãi giỏi hơn là chống lại sự tuyệt vọng, và đó chính là bí quyết của sự tồn tại của chúng tôi. Có lẽ điều mà ông không nghĩ đến là trong khi ông thảnh thơi nhàn hạ thì mẹ lại phải hy sinh những gì tốt đẹp nhất của đời mình để đảm bảo chu toàn cho cái gia đình đông đúc của chúng tôi. Chưa bao giờ chúng tôi hiểu được lý do những chuyến đi của bố. Cũng như mọi lần, hôm thứ Bảy, người ta bỗng đánh thức chúng tôi dậy vào lúc nửa đêm để đến trụ sở của công ty khai thác dầu Catatumbo nói chuyện với bố qua máy điện thoại vô tuyến. Tôi không bao giờ quên được cảnh mẹ khóc nức nở trong khi nói chuyện với bố qua phương tiện kỹ thuật rối rắm ngày hôm đó.
- Anh Gabriel biết không - mẹ nói - anh đã để lại cho em một bầy con, và có đến vài lần mấy mẹ con không có gì để ăn rồi đấy.
Bố trả lời lại bằng một tin xấu là thận ông đang bị sưng. Chuyện này đã xảy ra thường xuyên, nhưng mẹ không cho là nghiêm trọng vì đã có vài lần bố dùng việc này để lấy cớ che đậy chuyện đàng điếm của mình.
- Cứ lần nào anh hư đốn thì y như rằng bệnh này lại tái phát mà - mẹ nói đùa.
Mẹ vừa nói vừa nhìn chiếc micro làm như bố đang có mặt ở đấy. Cuối cùng bà lúng túng muốn gửi cho bố một chiếc hôn và thế là hôn luôn chiếc micro. Chính mẹ cũng không nhịn được cười, và không bao giờ kể hết câu chuyện vì không hiểu ra làm sao bà lại cười trong nước mắt. Tuy nhiên suốt ngày hôm đó mẹ tỏ ra buồn nản và cuối cùng, trên bàn ăn mẹ nói như ở nơi không người:
- Mẹ nhận thấy giọng của bố có gì khang khác.
Chúng tôi giải thích cho bà là hệ thống vô tuyến điện không những làm sai lệch giọng nói mà còn ngụy trang cả tính cách của con người. Tối hôm sau, trong cơn ngái ngủ, mẹ nói: “Dù sao nghe giọng nói cũng biết bố gầy đi nhiều”. Mũi của mẹ nhọn hơn trong những ngày vất vả và mẹ tự hỏi trong tiếng thở dài không biết những cái thị trấn không có Đức Chúa Trời và không có luật lệ, nơi mà người đàn ông của đời bà đang lưu lạc là như thế nào. Những động cơ mà bố luôn giấu kín đã lộ rõ ra hơn trong lần thứ hai nói chuyện qua vô tuyến với mẹ, với lời hứa là sẽ về nhà ngay nếu trong hai tuần tới vẫn không giải quyết được việc gì. Tuy nhiên, trước thời hạn trên, chúng tôi nhận được một bức điện thê thảm đánh đi từ Altos del Rosario chỉ có mấy từ: “Chưa quyết định”. Mẹ đọc trong bức điện sự khẳng định rõ ràng điều mà bà dự đoán và bà ra lời phán quyết cuối cùng:
- Hoặc là anh phải trở về trước hôm thứ Hai, hoặc ngay bây giờ em sẽ đưa tất cả con cái đến ngay đó.
Biện pháp thật là mầu nhiệm. Bố hiểu quyền uy của những lời đe dọa của mẹ, trước khi hết tuần ông đã quay trở về Barranquilla. Chúng tôi xúc động thấy ông vào nhà, ăn mặc xoàng xĩnh, da xanh tái và râu ria tua tủa. Mẹ đã tưởng bố bị ốm. Nhưng đó chỉ là ấn tượng nhất thời vì hai ngày sau, bố đã móc lại dự án thời thanh niên lập một cửa hàng thuốc ở thị trấn Sucre, một nơi hẻo lánh nhưng nên thơ và trù phú cách Barranquilla một ngày đêm đi bằng tàu thủy.
Bố đã từng ở đó thời trai trẻ khi làm điện tín viên, trái tim người thổn thức khi nhớ lại những chuyến đi trên dòng kênh những buổi hoàng hôn và vùng đầm lầy ngập trong ánh sáng vàng với những cuộc nhảy múa kéo dài đến vô tận. Có thời kỳ, ông đã cố giành bằng được một chỗ làm ở nơi đó, nhưng rồi phải chọn nơi khác, như ở Aracataca chẳng hạn, vốn là những nơi hấp dẫn hơn nhưng ít may mắn. Năm năm sau, vào thời điểm cuộc khủng hoảng lần thứ ba của ngành trồng chuối, ông lại nghĩ về dự án Sucre, nhưng những ý tưởng đó bị chặn đứng vì những tay bán buôn ở Magangue. Tuy vậy, một tháng trước khi trở về Barranquilla ông vô tình gặp lại một trong những người bán buôn nọ. Ông này không những vẽ ra một thực tế ngược lại trước đây mà còn hứa cho vay một khoản tiền kha khá để mở cửa hàng thuốc ở Sucre. Bố không chấp nhận vì sắp đạt được giấc mộng vàng ở Altos del Rosario. Vừa lúc đó bố nhận được phán quyết cuối cùng của mẹ, đành phải tìm gặp lại người bán buôn ở Magangue lúc đó còn đang phiêu diêu trong những làng mạc ven sông, hai người đã thỏa thuận được bản hợp đồng.
Sau hai tuần nghiên cứu và thu xếp với những người bán buôn quen biết cũ, bố ra đi với vẻ mặt và vóc dáng đã bình phục. Ấn tượng của ông về Sucre sâu sắc đến mức ông thốt lên trong bức thư đầu tiên: “Thực tế còn tuyệt hơn là nỗi nhớ mong”. Bố thuê một căn nhà có ban công ở quảng trường chính và bắt đầu chắp nối lại mối quen biết với các bạn bè cũ, những người mở rộng cánh cửa đón ông. Gia đình sẽ bán tất cả những gì có thể bán, gói ghém những thứ còn lại, cũng không nhiều nhặn gì cho lắm rồi mang tất cả những gì còn lại lên một trong những chiếc tàu thủy thường chạy trên sông Magdalena. Trong thư gửi về bố báo rõ số tiền cần cho chi phí tức thì và tiền cho những chi phí phát sinh. Tôi không hình dung ra có loại tin nào hay ho hơn cho tính ưa ảo tưởng của mẹ và vì thế thư trả lời cũng được cân nhắc kỹ không chỉ để duy trì lòng hăng hái của chồng mà còn báo cho ông một tin ngọt ngào là bà đã có mang đứa con thứ tám.
Tôi làm thủ tục và đặt chỗ trên tàu Capitan de Caro, một con tàu huyền thọai đã thực hiện chuyến đi từ Barranquilla đến Magangue mất một đêm và nửa ngày. Sau đó chúng tôi sẽ tiếp tục đi bằng thuyền máy trên sông San Jorge và trên con kênh hẹp thơ mộng La Mojana cho đến đích cuối cùng.
- Phải đi khỏi đây thôi, dù có đến địa ngục cũng đành chịu - mẹ thốt lên. Bà vốn nghi ngờ cái uy tín phồn hoa của Sucre. - Không thể để chồng một thân một mình ở một nơi như thế.
Quá vội vàng nên ba ngày trước khi đi chúng tôi toàn phải nằm đất vì giường và những món đồ bán được đã giải quyết xong cả. Những thứ khác đều được xếp gọn trong các hòm xiểng và tiền mua vé thì đã được mẹ đếm đi đếm lại hàng ngàn lần và giấu kín đâu đó.
Người nhân viên tiếp tôi trong văn phòng trên tàu rất lịch thiệp nên tôi không cần phải nghiến răng nghiến lợi mới hiểu được ông ta. Tôi hoàn toàn tin là mình đã ghi chép đúng nguyên xi bảng giá vé do ông đọc cho với giọng rõ ràng và rành mạch của dân vùng Caribe. Điều làm tôi vui mừng và khó quên nhất là trẻ em dưới mười hai tuổi chỉ phải trả nửa vé thông thường. Tức là, tất cả đám con cái, trừ tôi ra được hưởng chế độ ưu đãi giá vé này. Trên cơ sở đó, mẹ để riêng số tiền dành cho chuyến đi, và chi đến xu cuối cùng trong việc thu dọn nhà cửa.
Thế nhưng hôm thứ Sáu đi mua vé, người nhân viên ấy đã làm tôi vô cùng kinh ngạc vì trẻ em dưới mười hai tuổi không phải được giảm nửa vé mà chỉ giảm có ba mươi phần trăm, tức là sẽ có một khoản chênh lệch không thể bù đắp được đối với chúng tôi. Ông ta nói tôi đã chép sai, giá vé đã được in trên bản chính thức mà ông ta đặt trước mặt tôi. Tôi trở về nhà trong tâm trạng có lỗi, mẹ không nói gì chỉ mặc bộ quần áo đã vận khi để tang ông ngoại và cùng tôi đi đến văn phòng đại diện hãng tàu khách trên sông. Bà muốn một sự công bằng: có ai đó đã sai, có thể là con bà, nhưng điều đó không quan trọng. Vấn đề là chúng tôi không còn tiền. Người nhân viên của hãng giải thích với mẹ là không có cách giải quyết nào nữa.
- Xin bà hiểu cho - ông ta nói. - Không phải là chúng tôi muốn hay không muốn phục vụ quý bà, mà đó là quy định của một hãng tàu làm ăn nghiêm túc, không thể điều hành một cách tùy tiện, xoay như chong chóng được.
- Nhưng chúng chỉ là những đứa trẻ - mẹ nói và chỉ tôi coi như một ví dụ. - Ông thử hình dung xem, đây là đứa lớn nhất mà nó cũng chỉ mới mười hai tuổi. Rồi bà ra hiệu bằng tay.
- Những đứa khác chỉ bằng này thôi.
- Vấn đề không phải là tầm vóc - người nhân viên biện bạch - mà là tuổi tác. Không ai được trả tiền vé ít hơn, chỉ trừ đứa bé mới đẻ là được đi miễn phí.
Mẹ muốn tìm một khung trời cao hơn:
- Cần phải nói chuyện với ai để giải quyết việc này?
Người nhân viên chưa kịp trả lời. Ông trưởng đại diện - đã có tuổi - ló đầu qua cửa ra vào giữa lúc hai người đang tranh cãi và người nhân viên vội đứng dậy khi thấy ông ta. Đó là một người to cao, vẻ đáng kính và dù chiếc áo sơ mi ông mặc đẫm mồ hôi nhưng quyền uy của ông là điều cứ lồ lộ ra. Ông chú ý nghe mẹ tôi nói, đáp lại bằng giọng trầm tĩnh rằng, quyết định giải quyết việc này chỉ có thể được khi đại hội cổ đông thông qua việc thay đổi quy định đã ban hành.
- Xin bà hiểu cho là cá nhân tôi cũng rất tiếc là không thể giải quyết được - ông ta kết luận.
Mẹ lấy lại uy thế của mình và mài sắc lý lẽ:
- Thưa ông, ông nói rất có lý - mẹ nói. - Nhưng vấn đề là nhân viên của ông đã không giải thích đúng cho con tôi hoặc làm cho con tôi hiểu sai, vì thế mà tôi đã làm theo cái sai này. Bây giờ tôi đã đóng gói xong đồ đạc để chuẩn bị lên tàu, chúng tôi đã phải ngủ trên nền đất thánh thần, tiền đi chợ chỉ còn vừa đủ cho ngày hôm nay và thứ Hai tôi phải trao nhà cho những người thuê mới.
Mẹ để ý thấy đám nhân viên đang giỏng tai lên nghe, liền quay sang nói với họ:
- Ba chuyện này có liên quan gì đến một hãng quan trọng như của các ông?
Và không đợi trả lời, bà nhìn thẳng vào mắt viên đại diện nói:
- Ông tin ở Đức Chúa chứ?
Viên trưởng đại diện choáng người. Trong phòng căng như sợi dây đàn, im lặng kéo dài. Mẹ ưỡn thẳng thân người trên ghế, khép hai đầu gối đang run run lại, hai tay nắm chặt túi xách trong lòng, và nói với tất cả ý chí bảo vệ lẽ phải của mình.
Viên trưởng đại diện khiếp đảm, toàn bộ nhân viên ngừng hết công việc để nhìn mẹ tôi. Bà tỏ ra bình thản, chiếc mũi thanh thanh như nhọn hơn ra, nước da xanh tái lấp lánh những giọt mồ hôi trông như những viên ngọc. Bà đã thôi không mặc đồ tang ông ngoại, nhưng lần này bà lại mặc vào vì thấy đó là trang phục phù hợp nhất cho những dịp tế nhị như thế này. Viên trưởng đại diện không nhìn mẹ tôi nữa mà quay sang nhìn đám nhân viên, vẻ như không biết phải làm gì, để cuối cùng đành phải thốt lên trước mặt mọi người:
- Đây là việc chưa từng có tiền lệ.
Mẹ không chớp mắt. “Những giọt nước mắt tắc nghẹn trong cổ họng nhưng mẹ cố ghìm lại vì nếu để nó tràn ra thì thật là tệ hại”, sau này mẹ kể lại với tôi như vậy. Lúc ấy, viên trưởng đại diện bảo nhân viên đưa hết giấy tờ vào phòng làm việc của ông. Người nhân viên làm theo và năm phút sau ông ta quay trở ra, vẻ mặt sa sầm, cau có, nhưng đưa cho chúng tôi đầy đủ số vé cho chuyến đi.
Tuần lễ sau chúng tôi đã đến thị trấn Sucre như chính mình được sinh ra ở đó. Thị trấn có khoảng mười sáu ngàn dân, như các quận huyện khác trong nước vào thời đó và ai cũng biết vanh vách về nhau, không phải qua tên họ mà chủ yếu qua những chuyện về đời sống riêng tư bí mật của nhau. Không chỉ thị trấn mà cả vùng này là một biển nước êm đềm được các thảm hoa trôi nổi làm biến đổi màu theo mùa, tùy nơi và cũng phụ thuộc vào tình trạng tâm lý của chúng tôi nữa. Vẻ rực rỡ của nó gợi nhớ cảnh tĩnh lặng mộng mơ của vùng Đông Nam Á. Trong những năm sống cùng gia đình ở đó tôi không hề thấy một chiếc ô tô nào. Có lẽ cũng vô ích thôi vì những dãy phố thẳng tắp trên nền đất nện như được kẻ bằng dây là để dành cho những đôi chân trần và nhiều nhà có thuyền nhỏ riêng dùng làm phương tiện di chuyển trong vùng.
Điều đầu tiên làm cho tôi xúc động chính là được hưởng tự do hoàn toàn. Tất cả những gì mà trẻ con chưa có hoặc những gì mà chúng tôi thường mơ ước bỗng chốc lại nằm trong tầm tay. Đói bụng ư, thì cứ việc ăn. Muốn ngủ chăng, cứ ngả lưng xuống, giờ nào cũng được. Chẳng cần vướng bận chuyện gì, bởi vì người lớn ai cũng bận rộn chẳng có đủ thời gian để tự lo cho bản thân mình nữa. Điều kiện an toàn duy nhất đối với lũ trẻ nhỏ là phải biết bơi trước khi biết đi vì thị trấn bị chia làm hai phần bởi một con kênh nước sẫm màu vừa để cấp vừa để thoát nước. Tròn một tuổi, trẻ con đã được thả xuống nước, lúc đầu cùng với phao để không sợ nước và sau đó không có phao để chúng không sợ chết. Những năm sau đó, em trai Jaime và em gái Ligia, sau khi đã vượt qua thử thách hiểm nguy năm đầu tiên, đã xuất sắc giành thắng lợi trong các giải thi vô địch bơi lội thiếu nhi.
Điều làm tôi nhớ mãi thị trấn Sucre chính là cảm giác tự do đi lại trên đường phố. Chỉ hai hoặc ba tuần là chúng tôi biết ai sống trong nhà nào, và chúng tôi vào ra mọi nhà cứ như đã quen biết từ lâu rồi. Những tập tục xã hội được đơn giản hóa qua lối sống hiện đại của một nền văn hóa phong kiến: những người giàu có - chủ trang trại chăn nuôi và chủ các nhà máy đường - ở xung quanh quảng trường lớn còn những người nghèo thì ở nơi nào có thể ở được. Sự quản lý về giáo hội trong vương quốc ven hồ rộng lớn này được chia thành các xứ đạo. Trung tâm của thế giới nhà thờ xứ đạo trên quảng trường lớn của thị trấn Sucre, phiên bản thu nhỏ của nhà thờ lớn Colonia do một kiến trúc sư theo phái barốc Tây Ban Nha sao chép lại theo trí nhớ. Giáo hội có quyền trực tiếp và trên tất cả mọi mặt. Đêm đêm, sau lễ cầu nguyện, từ tháp chuông nhà thờ sẽ vang lên những tiếng chuông mà số lượng của nó được quy định tùy theo mức độ phù hợp với chuẩn mực đạo đức của cuốn phim được giới thiệu trước ở rạp bên cạnh, đúng theo bản danh mục trong Văn phòng quản lý phim của Giáo hội. Một nhà truyền đạo trực ở cửa ra vào của văn phòng này đặt ở bên kia đường sẽ theo dõi người vào rạp để trừng phạt những kẻ vi phạm.
Khi đến Sucre, điều làm tôi thất vọng lớn chính là độ tuổi. Còn ba tháng nữa tôi mới bước qua làn ranh giới của tuổi mười ba, và ở nhà mọi người không coi tôi là trẻ con nhưng cũng chưa được công nhận là người lớn, nên trong cái dao động của lứa tuổi đó, tôi là đứa duy nhất trong số anh chị em trong nhà không được học bơi. Tôi không biết mình phải ngồi vào bàn ăn của trẻ con hay được ngồi vào bàn của người lớn. Những người đàn bà phục vụ trong nhà không còn thay quần áo trước mặt tôi, kể cả khi đèn tắt, nhưng có một cô đã mấy lần thoát y ngủ trên giường tôi mà không ngại quấy rầy giấc ngủ của tôi. Tôi chưa kịp tận hưởng hết thú vui được tự do định đoạt, thì tháng Giêng năm sau đã phải quay về Barranquilla để vào học trung học, bởi vì ở Sucre không có trường nào tương xứng với học lực xuất sắc của tôi theo đánh giá của thầy Casalins.
Sau một hồi bàn bạc và tham khảo rất lâu, với sự tham gia ít ỏi của tôi, bố mẹ quyết định cho tôi học trường San Jose ở Barranquilla. Đến bây giờ tôi cũng chưa tự lý giải được hồi ấy bố mẹ đã kiếm đâu ra ngần ấy tiền trong vòng mấy tháng ngắn ngủi trong khi hiệu thuốc và phòng tư vấn về cách điều trị bằng tiểu vi lượng đồng căn còn chưa mở cửa. Mẹ thì thường xuyên đưa ra cái lý mà chẳng cần phải xác minh: “Đức Chúa vĩ đại lắm”. Trong toàn bộ chi phí chuyển nhà chắc đã có dự trù khoản sắp xếp chỗ ở mới và duy trì đời sống cho gia đình, nhưng chắc là không có khoản chu cấp cho việc học hành của tôi. Vì tôi chỉ có đôi giày rách và một mớ quần áo vừa đủ thay đổi khi phải giặt nên mẹ phải mua thêm quần áo mới và một cái rương con, nhưng mẹ không lường được sức lớn như thổi của tôi trong sáu tháng tới. Chính mẹ cũng tự mình quyết định cho phép tôi bắt đầu mặc quần dài, trái với tập tục xã hội lúc đó được bố ủng hộ là trẻ con chỉ được mặc như vậy sau khi vỡ tiếng.
Thật ra, trong các cuộc bàn cãi về việc giáo dục của từng đứa con, tôi luôn có ảo tưởng là bố, bỗng nổi giận một cách kỳ quặc, tuyên bố không cho bất cứ đứa nào được đến trường. Nhưng điều đó không hề xảy ra. Chính bố là người kiên trì vượt lên trên cái nghèo khổ để tự học và ông nội là người chịu ảnh hưởng của quan niệm đạo đức rắn như thép của Ngài Fernando VII, coi giáo dục cá nhân ở nhà là cốt lõi của việc duy trì tính toàn vẹn trong gia đình. Tôi sợ trường học như sợ nhà tù vì cứ hễ nghĩ đến chuyện phải gò ép mọi sinh hoạt của mình theo tiếng chuông là tôi đã rùng mình. Nhưng chính đi học lại là khả năng duy nhất để tôi được tận hưởng cuộc sống tự do của mình từ năm mười ba tuổi, để duy trì được mối quan hệ tốt với gia đình nhưng lại tránh xa được mệnh lệnh, trốn được những ngày tháng đầy bất trắc và được đọc, được tận hưởng những tác phẩm văn chương.
Lý lẽ duy nhất mà tôi đưa ra để phản đối trường San Jose - trường trung học có tiếng là nghiêm túc và đắt nhất vùng Caribe - chính là kỷ luật nhà binh của nó. Khi nghe tôi nói, mẹ đã kịp đẩy quân pháo lên chặn đứng nước cờ của tôi: “Ở đấy người ta đào tạo ra các thống đốc đấy”. Khi tôi cảm giác không thể lùi được nữa, bố liền phủi tay:
- Thôi, cứ thế nhé, không nói đi nói lại gì nữa.
Bố thích trường Americano hơn vì ở đó tôi sẽ học được tiếng Anh, nhưng mẹ đã bác bỏ đề nghị này với lý do luẩn quẩn là ở đó chứa chấp toàn lũ ngoại đạo (nguyên tác: tín đồ đạo Lutê - ND). Ngày nay, tôi phải thừa nhận bố đã đúng, một trong những khiếm khuyết trong nghiệp văn chương của tôi chính là việc không nói được tiếng Anh.
Một lần nữa tôi lại ngắm nhìn thành phố Barranquilla từ cầu tàu Capitan de Caro, nơi mà ba tháng trước đây tôi cùng gia đình đã từng đi, lòng tôi quặn đau vì cảm thấy như phải một mình đơn độc quay lại quãng đời thực. Cũng may là bố mẹ đã thu xếp cho tôi được ăn ở với người anh em thúc bá của tôi là Jose Maria Valdeblanquez và người vợ Hortensia. Những người trẻ tuổi, dễ thương này sẽ chia sẻ với tôi cuộc sống êm đềm trong căn nhà có một phòng khách giản dị, một phòng ngủ và một cái sân nhỏ lát đá luôn rợp bóng quần áo phơi trên dây thép. Họ ngủ trong phòng với đứa con gái sáu tháng tuổi. Tôi ngủ trên chiếc ghế nệm ở phòng khách và nó cũng sẽ biến thành giường vào ban đêm.
Trường San Jose cách nhà sáu dãy phố, trong một vườn trồng toàn cây bàng. Nơi đây vốn là nghĩa trang xưa nhất của thành phố, vẫn còn thấy những mẩu xương nhỏ và những mảnh vải quần áo người chết vương vãi trong những khe đá lát đường, lát sân. Ngày khai trường, vận đồng phục quần trắng áo xanh, tôi bước vào sân chính của trường mà không nén được nỗi lo lắng là chắc các bạn đã biết hết những gì mình chưa hiểu. Nhưng tôi nhanh chóng nhận thấy họ cũng ngu đần và lo sợ như tôi trước một tương lai không mấy rõ ràng.
Bóng ma luôn ám ảnh tôi chính là người anh em Pedro Reyes, trưởng bộ môn cơ bản, người cố thuyết phục cấp trên của nhà trường là tôi chưa được chuẩn bị đầy đủ để học trung học phổ thông. Anh ta theo tôi như hình với bóng, kể cả những nơi ít ngờ tới nhất và bắt tôi làm các bài sát hạch tức thì với những cái bẫy rất quỷ quái: “Em có tin là Đức Chúa làm ra những tảng đá nặng đến mức không bê được không?” - anh ta hỏi đột ngột không để tôi kịp suy nghĩ. Hoặc một cái bẫy tàn ác khác: “Nếu chúng ta bọc xung quanh đường xích đạo một sợi dây bằng vàng dày năm mươi xăngtimét thì Trái đất sẽ nặng thêm bao nhiêu nữa?” Tôi không mắc bẫy, dù biết rõ câu trả lời, lưỡi tôi cứng đơ do nỗi sợ hãi y như lần đầu tiên nói điện thoại. Đó là nỗi lo sợ có cơ sở vì người anh em Reyes có lý. Tôi chưa được chuẩn bị cho việc học cấp trung học phổ thông, nhưng không dại gì từ chối cơ hội may mắn là được nhận vào trường mà không qua thi tuyển. Chỉ cần nhìn thấy anh ta là tôi đã run. Một số bạn bè cho việc anh ta săn đuổi tôi là vì mục đích xấu, nhưng tôi chẳng có lý do gì để nghĩ như vậy. Ngoài chuyện này ra, tâm hồn tôi khá thanh thản vì lần kiểm tra miệng đầu tiên tôi đã vượt qua một cách dễ dàng mà không có sự phản đối nào; lần đó tôi đã đọc trôi chảy bài thơ của thầy dòng Luis de Leon và dùng phấn màu vẽ lên bảng hình ảnh Đức Chúa sinh động như người thật. Ban giám khảo hài lòng đến mức quên cả việc hỏi tôi về môn đại số và lịch sử đất nước.
Vấn đề người anh em Reyes cuối cùng cũng được giải quyết vì vào Tuần lễ Thánh anh ta cần phải có một số bức vẽ để giảng bài thực vật học và tôi làm việc này không kịp nháy mắt. Anh ta không chỉ thôi săn đuổi tôi mà thỉnh thoảng còn đùa cợt và vui vẻ giảng cho tôi những câu trả lời có đầy đủ cơ sở lý luận cho các câu hỏi mà tôi chưa giải đáp được hoặc là một số câu trả lời cho câu hỏi kỳ lạ, ngẫu nhiên sẽ xuất hiện trong những bài kiểm tra trong năm học đầu tiên của tôi. Tuy vậy mỗi khi tôi đến lớp, các bạn lại cười vỡ bụng, chế giễu tôi là kẻ duy nhất chưa qua trình độ sơ đẳng thứ ba mà lại có thể học tốt trung học phổ thông. Bây giờ tôi nghiệm ra là họ đã có lý. Nhất là trình độ chính tả, vốn là nỗi đau đầu của tôi suốt những năm học ở trường, ngày nay nó vẫn làm cho những người đọc bản thảo của tôi phải hoảng sợ. Những người thông cảm với tôi thì cho rằng đó là các lỗi đánh máy.
Việc bổ nhiệm anh Hector Rojas Herazo, họa sĩ và nhà văn làm thầy dạy môn vẽ đã làm dịu bớt nỗi sợ hãi của tôi. Có lẽ anh ấy khoảng hai mươi tuổi. Anh bước vào lớp cùng với cha đạo trưởng bộ môn và câu chào của anh như cú đập mạnh vào cửa trong bầu không khí ngột ngạt vào lúc ba giờ chiều. Anh có vẻ đẹp và nét duyên dáng của một tài tử điện ảnh với chiếc áo khoác bằng lông lạc đà bó chặt và hàng cúc bằng đồng, áo gi-lê kiểu độc đáo và chiếc cà vạt bằng lụa vẽ hoa. Nhưng lạ nhất là chiếc mũ hình quả dưa rộng vành. Cao lêu đêu như cây sào nên anh phải cúi lom khom xuống để vẽ lên bảng. Bên cạnh anh, cha đạo trưởng bộ môn bé nhỏ như bị bàn tay Đức Chúa bỏ rơi.
Chúng tôi nhận thấy ngay là anh không có phương pháp và cái lòng kiên nhẫn để làm nghề dạy học, nhưng tính khôi hài của anh thì khiến chúng tôi chú ý và những bức tranh vẽ bằng phấn màu trên bảng của anh làm học sinh kinh ngạc. Anh chỉ dạy bộ môn này không quá ba tháng, chúng tôi không bao giờ biết được lý do tại sao, nhưng chắc là phương pháp giảng dạy của anh không phù hợp với đạo đức của dòng tu Chúa Cứu thế.
Từ khi mới vào trường tôi đã nổi tiếng như là một nhà thơ, trước hết do tôi có thể học thuộc lòng một cách dễ dàng và ngâm thật to những bài thơ của các nhà thơ cổ điển và lãng mạn Tây Ban Nha có trong sách giáo khoa, và sau đó là do những bài thơ châm biếm của tôi trêu chọc các bạn học cùng lớp có in trong tạp chí của trường. Nếu biết là những bài thơ đó sẽ có vinh hạnh được in ra thì tôi đã không viết ra hoặc có viết thì cũng phải chú ý hơn. Trên thực tế, đó chỉ là những bài châm biếm dễ thương viết trên giấy và được truyền tay nhau trong một lớp học đang ngái ngủ vào lúc hai giờ chiều. Linh mục Luis Posada - trưởng khối lớp năm thứ hai - nhặt được một tờ, nhíu mày đọc và nghiêm khắc quở mắng tôi, nhưng lại cất tờ giấy vào trong túi. Linh mục Arturo Mejía gọi tôi lên văn phòng đề nghị thu lại các bài châm biếm để đăng trên tạp chí Thanh niên, cơ quan chính thức của học sinh trong trường. Phản ứng tức thời của tôi là vô cùng ngạc nhiên, ngượng nghịu mà hạnh phúc, cách quyết định từ chối không lấy gì làm thuyết phục:
- Đó chỉ là những chuyện ngờ nghệch của em thôi mà.
Cha Mejía ghi lại câu trả lời của tôi và cho in trong số tiếp theo của tờ tạp chí - với sự nhất trí của các nạn nhân - các bài thơ với tiêu đề này, “Trò ngờ nghệch của tôi”, tác giả là Gabito. Trong hai số tiếp theo, theo yêu cầu của bạn học tôi phải xuất bản một loạt bài thơ khác. Như vậy những vần thơ thiếu nhi này - dù muốn hay không - đúng là tác phẩm đầu tiên của tôi.
Thói xấu đọc ngấu nghiến bất cứ cái gì có trong tay đã chiếm hết thời gian rỗi và phần lớn thời gian trên lớp của tôi. Tôi có thể ngâm toàn bộ các bài thơ được mọi người yêu thích nhất ở Colombia lúc bấy giờ, những bài hay nhất của Thế kỷ Vàng và trào lưu lãng mạn của Tây Ban Nha mà phần lớn có trong sách giáo khoa. Những kiến thức không hợp với tuổi của tôi đã làm cho các ông thầy tức giận, vì cứ lần nào trong lớp, thầy đề ra câu hỏi chết người nào là tôi lại đáp bằng một trích dẫn văn học hoặc một ý tưởng sách vở nào đó mà chính các thầy cũng không có đủ điều kiện đánh giá đúng hay sai. Cha Mejía nói: “Đó là một thằng bé thích làm bộ kiểu cách” để tránh không nói toẹt ra rằng tôi là một đứa bé rất khó chịu. Tôi không bao giờ phải cố ép buộc trí nhớ làm việc vì các bài thơ và các đoạn văn cổ điển hay, thực ra tôi chỉ đọc ba hoặc bốn lần là đã hằn sâu vào trong tâm khảm rồi. Chiếc bút máy đầu tiên tôi có là do cha Mejía thưởng cho sau khi tôi đọc trơn tru một mạch năm mươi bảy decima (đoạn thơ mười câu) trong cuốn “Choáng váng” của Gaspar Nunez de Arce.
Trong lớp tôi thường để sách mở sẵn giữa hai đùi để đọc một cách ung dung mà không bị trừng phạt vì đã có sự cho phép ngầm của các thầy giáo. Điều duy nhất mà tôi không sao đạt được bằng mưu kế đọc thơ là các thầy vẫn bắt tôi đi lễ Misa hằng ngày vào lúc bảy giờ sáng. Ngoài việc làm các bài thơ ngờ nghệch, lĩnh xướng trong dàn đồng ca, vẽ tranh châm biếm, đọc thơ trong các dịp long trọng tôi còn làm nhiều thứ khác khiến mọi người không hiểu là tôi học vào lúc nào. Lý do quá ư đơn giản: tôi không tự học.
Đến bây giờ tôi cũng không hiểu tại sao việc hoạt động bề nổi ồn ào như vậy khiến các thầy giáo rất chú ý đến tôi nhưng lại không bao giờ lên tiếng trách móc các lỗi chính tả nghiêm trọng của tôi. Mẹ thì có thái độ khác hẳn, nhiều lần bà phải giấu thư của tôi để bố khỏi tức giận, nhiều lần bà gửi trả lại thư cho tôi sau khi chữa các lỗi chính tả và có khi còn kèm theo những lời chúc mừng một số tiến bộ về mặt ngữ pháp và dùng từ chính xác. Nhưng sau hai năm, tình hình cũng không có cải thiện gì đáng kể. Ngày nay, vấn đề lỗi chính tả của tôi vẫn như vậy: tôi không thể hiểu được tại sao cứ phải viết những phụ âm không đọc hoặc tại sao có hai chữ cùng một âm mà lại viết khác nhau và biết bao nhiêu quy tắc rối rắm khác nữa.
Trong quá trình này tôi cũng tự phát hiện ra một năng khiếu sẽ theo tôi trong cuộc đời: cái thú thích được nói chuyện với những học sinh lớn tuổi hơn mình. Đến tận bây giờ, trong những cuộc hội họp của thanh niên mà về tuổi đời có thể là hàng cháu của mình, tôi vẫn phải cố gắng để không tự cảm thấy mình ít tuổi hơn họ. Lúc đó tôi đã kết thân với hai bạn học lớn tuổi hơn mình mà sau này sẽ trở thành đồng chí trong những giai đoạn lịch sử trong đời tôi. Người đầu tiên là Juan B. Fernandez, con trai của một trong ba người sáng lập và đồng sở hữu tờ báo El Heraldo ở thành phố Barranquilla nơi tôi lần đầu tiên lặn ngụp trong thế giới báo chí và cũng là nơi mà anh ấy sẽ trưởng thành từ những bài viết đầu tiên cho đến chức tổng biên tập. Một người bạn khác là Enrique Scopell, con trai của nhà nhiếp ảnh huyền thoại người Cuba đang hành nghề ở thành phố và sau này anh cũng là một phóng viên ảnh báo chí. Tuy nhiên, tôi ghi ơn anh không chỉ vì cùng làm việc chung trong ngành báo chí mà vì cái nghề thuộc da các loài thú để xuất khẩu đi gần nửa thế giới của anh. Trong một số chuyến đi đầu tiên của tôi ra nước ngoài, anh tặng tôi một bộ da cá sấu dài đến ba mét.
- Bộ da này là cả một đống tiền đấy - anh nói không hề úp mở với tôi, - nhưng mình khuyên cậu đừng bán khi mà cậu chưa cảm thấy sắp chết đói.
Bây giờ tôi vẫn tự hỏi không biết có phải chính nhà thông thái Enrique Scopell đã cho tôi lá bùa vĩnh cửu hay không, bởi vì trong suốt những năm luôn phải nhờ vả mọi người tôi đã nhiều lần suýt phải bán bộ da cá sấu đó. Nhưng tôi vẫn còn giữ nó, đầy bụi bặm và cứng gần như đá, bởi vì từ khi mang nó trong va li đi chu du khắp thế giới, tôi không bao giờ thiếu một đồng xu tiền ăn nào.
Các thầy giáo thuộc dòng Tên rất nghiêm khắc trong lớp học nhưng trong giờ ra chơi thì khác hẳn vì lúc này họ dạy chúng tôi những điều mà họ không nói ở trong lớp và họ thoải mái nói hết những gì mà thực lòng họ muốn dạy chúng tôi. Tôi còn nhớ -theo sự hiểu biết của mình ở tuổi thời đó - sự khác nhau khá rõ ràng, dễ nhận ra và thực sự đã giúp chúng tôi rất nhiều. Cha Luis Posada, một người trai trẻ lịch thiệp có đầu óc tiến bộ, nhiều năm làm việc trong tổ chức công đoàn, đã có một bộ sưu tầm các tấm thẻ hướng dẫn về các loại bách khoa toàn thư, đặc biệt về sách và tác giả. Cha Ignacio Zaldivar, người miền núi xứ Basque (thuộc xứ Baxcơ ở hai bên dãy Pyrenees giữa Pháp và Tân Ban Nha - ND) thường xuyên đi về Cartagena cho đến tận tuổi già mới chịu về ở tu viện San Pedro Claver. Cha Eduardo Nunez đã viết gần xong bộ lịch sử văn học Colombia, nhưng cho đến nay tôi vẫn không rõ số phận cuối cùng của bộ sách này ra sao. Cha Manuel Hidalgo, một thầy giáo già dạy thanh nhạc, khi tuổi cao đã tự phát hiện năng khiếu của mình và tự cho phép mình tham gia vào dòng nhạc tà giáo không có trong chương trình.
Tôi có vài lần được nói chuyện với cha Pieschacón, Hiệu trưởng của trường và qua các buổi nói chuyện đó tôi tin là thầy xem tôi như người lớn, không phải vì những đề tài được đề cập mà do những lời giải thích rất bạo dạn của thầy. Trong đời, tôi thấy việc làm sáng tỏ quan niệm về trời và địa ngục có ý nghĩa quyết định; vì tôi không thể nào dung hòa được với những tài liệu của giáo lý Cơ đốc giáo, chỉ tại những trở ngại về địa lý. Chống lại các giáo điều này, thầy Hiệu trưởng dùng những ý tưởng rất mạnh bạo để giải thích cho tôi dễ hiểu. Không cần những giải thích phức tạp của môn thần học, trời là hiện hữu của Thiên Chúa. Địa ngục, đương nhiên sẽ là điều ngược lại. Nhưng trong hai dịp, ông cũng thổ lộ vấn đề của mình với tôi là “dù sao thì ở địa ngục cũng có lửa”, nhưng ông không giải thích được điều này. Nhờ những bài học trong giờ ra chơi chứ không phải trong giờ học chính thức mà cuối năm học, ngực tôi đã được bọc thép bằng nhiều tấm huy chương.
Kỳ nghỉ hè đầu tiên của tôi ở Sucre (Colombia ở Nam bán cầu nên những tháng cuối năm được coi là mùa hè - ND) bắt đầu từ bốn giờ chiều một ngày Chủ nhật ở bến cảng được trang hoàng rực rỡ bằng những dây hoa và bong bóng màu và một quảng trường được biến thành chợ Noel. Tôi vừa bước xuống đất thì một cô gái xinh đẹp, tóc vàng, vô cùng tự nhiên đã vít cổ tôi xuống mà ôm hôn. Đó là chị Carmen Rosa, con gái riêng của bố tôi trước khi kết hôn với mẹ, chị đã đến Sucre sống một thời gian với gia đình chưa quen biết. Cũng đến vào dịp này, còn có anh Abelardo, con trai riêng khác của bố, vốn là một thợ may giỏi đã mở một tiệm may bên cạnh quảng trường lớn và là thầy dạy tôi vào đời lúc tuổi dậy thì.
Căn nhà mới vừa được trang bị lại nên có không khí ngày hội và có thêm đứa em trai mới: Jaime, sinh vào tháng Năm là thời kỳ cây nẩy mầm. Mãi khi về đến nơi tôi mới biết có em bé vì hình như bố mẹ quyết định sẽ thư thả hơn trong việc sinh nở hàng năm, nhưng mẹ vội giải thích cho tôi rằng em bé này là lộc của nữ thánh Rita đưa thịnh vượng vào nhà. Trông mẹ như trẻ lại. Mẹ vui vẻ và hay hát hơn mọi khi còn bố thì như lơ lửng trên mây, ông vui vì phòng khám bệnh luôn chật cứng bệnh nhân đến khám và dược liệu ở hiệu thuốc thì tiêu thụ được đều đều, nhất là vào Chủ nhật khi các bệnh nhân từ trên vùng núi đổ xuống khá nhiều. Tôi không biết việc người ta đến đông có phải là nhờ danh tiếng chữa bệnh giỏi của bố không. Thực thà mà nói, người miền quê không hề quan tâm đến công hiệu của phương pháp điều trị bằng tiểu vi lượng đồng căn, bằng huyết cầu nhỏ và bằng loại nước kỳ diệu gì gì đó, chẳng qua họ chỉ tin vào mẹo phù thủy rất khéo léo của ông.
Sucre thực còn đẹp hơn so với những gì có trong ký ức của tôi. Theo truyền thống, vào dịp lễ hội Noel, dân thành phố chia đôi theo hai khu phố lớn: Zulia về phía Nam và Congoveo về phía Bắc. Ngoài những cuộc tranh tài nhỏ nhỏ, người ta còn tổ chức cuộc thi nghệ thuật trang trí xe hoa vốn là cuộc ganh đua từ lâu đời giữa hai khu phố. Trong đêm Noel mọi người tập trung ở quảng trường chính, sau những cuộc bàn cãi ồn ào, công chúng sẽ quyết định khu phố nào sẽ là khu phố giành chiến thắng trong năm.
Ngay từ khi mới tới, Carmen Rosa làm cho lễ Noel ở gia đình thêm phần lấp lánh. Chị rất hiện đại và lại đỏm dáng, mau chóng trở thành bà chủ của các cuộc khiêu vũ, kéo theo cả một đám choai choai theo đuổi. Mẹ tôi rất nghiêm khắc với các con gái của mình, nhưng với chị Carmen thì bà lại rất thoải mái, thậm chí còn tạo mọi thuận lợi cho những người theo đuổi chị nữa; đó là một nét lạ lần đầu tiên trong gia đình. Một thứ quan hệ tòng phạm mà mẹ tôi không bao giờ làm với các cô con gái riêng của bà. Về phần mình, trong tiệm may được ngăn bằng một tấm chăn, Abelardo giải quyết chuyện đời theo cách khác. Công việc may vá thì anh giỏi, nhưng khi thực hiện chức năng của con lừa gây giống thì anh lại quá chậm chạp, bởi vì thời gian anh ngủ với một người đẹp trên giường đằng sau tấm chăn thì nhiều hơn thời gian anh vò võ một mình ngồi sau bàn máy may.
Trong kỳ nghỉ hè đó bố bỗng nẩy ra ý nghĩ kỳ lạ là chuẩn bị cho tôi làm nghề kinh doanh. “Để nhỡ ra” - ông cảnh báo với tôi. Việc đầu tiên là ông bày cho tôi cách đi đến tận nhà những người mua thuốc chịu để đòi nợ. Hôm đó, ông bảo tôi đi đòi nợ mấy người ở La Hora, một khu nhà chứa ở vùng ngoại ô.
Tôi ló đầu vào cánh cửa khép hờ của căn phòng mặt tiền đường và thấy một trong những người đàn bà ở trong nhà thổ này đang ngủ trưa trên chiếc giường lộng gió, đôi chân để trần và bộ áo váy “nhà nghèo” không đủ che cặp đùi. Tôi còn chưa kịp nói gì, thì cô ta đã ngồi phắt dậy, ngái ngủ nhìn tôi và hỏi xem tôi muốn gì. Tôi nói là muốn gặp ông chủ nhà Eligio Molina để nói một lời nhắn của bố tôi. Thay vì chỉ đường cho tôi, cô ta lại bảo tôi vào nhà, cài chốt cửa lại và dùng ngón tay trỏ ra hiệu cho tôi :
- Đến đây.
Tôi bước lại gần, càng đến gần thì nhịp thở khó nhọc của cô ta càng dầy đặc trong căn buồng, giống như một cơn lũ trên sông. Rồi cô dùng tay phải túm lấy cánh tay tôi và tay trái lôi tuột tôi đến đũng váy. Tôi cảm thấy một nỗi sợ hãi đầy thích thú.
- Hóa ra cậu là con trai của ông bác sĩ huyết cầu nhỏ - cô ta nói, trong khi mân mó trong đũng quần của tôi bằng năm ngón tay, khéo đến mức tôi tưởng đâu là mười ngón. Cô ta vừa tụt quần cho tôi vừa thủ thỉ bên tai tôi những lời âu yếm, rồi tự cởi chiếc áo váy qua đầu và nằm ngửa xuống giường, lúc này chỉ còn lại duy nhất chiếc quần lót in hoa lòe loẹt trên người. - Cái này thì cậu phải cởi - cô ta nói với tôi. - Đó là phận sự của đàn ông.
Tôi túm mép quần lót lôi ra nhưng vội quá nên không được và cô ta phải giúp đỡ tôi bằng cách duỗi thẳng hai chân và làm động tác thật nhanh như đang bơi. Sau đó cô ta xốc nách tôi bế lên và đặt trên người mình theo đúng cách hàn lâm của người truyền đạo. Những việc tiếp theo cô ta tự làm theo cách của mình cho đến khi tôi chết ngây ngất trên người cô ta, bì bõm trong món xúp hành giữa cặp đùi con ngựa cái non tơ.
Cô ta ngừng lại, nằm nghiêng, chăm chăm nhìn vào mắt tôi và tôi cũng nhìn lại cô ta với ảo tưởng là được bắt đầu lại - không sợ hãi và lâu hơn. Bỗng cô ta nói không đòi hai peso tiền dịch vụ vì tôi chưa được chuẩn bị từ trước. Sau đó cô ta nằm ngửa ra và lại xét nét vẻ mặt tôi.
- Ngoài ra - cô ta nói - cậu còn là anh trai tỉnh táo của Luis Enrique, đúng không nào? Hai người có giọng nói giống nhau.
Tôi ngây thơ hỏi lại tại sao cô ta quen em tôi.
- Sao cậu khờ thế - cô ta cười. - Tôi còn giữ chiếc quần lót của nó vừa giặt xong sau lần gặp nhau gần đây này.
Tôi thấy hình như cô này phóng đại chuyện đó lên so với tuổi em tôi, nhưng khi cô ta đưa cái quần lót ra thì tôi hiểu đó là sự thật.
Sau đó cô ta nhảy thoát y trên giường, thanh thoát như một vũ nữ ba lê, rồi vừa mặc lại y phục vừa nói cho tôi biết là ông Eligio Molina đang ngồi ở cửa tiếp theo trong căn nhà, về phía bên trái.
Cuối cùng cô ta hỏi:
- Lần đầu tiên, đúng không?
Tim tôi đập mạnh.
- Đâu phải - tôi nói dối - tôi làm bảy lần rồi.
- Dù sao thì cậu cũng phải nhờ thằng em nó dạy thêm cho - cô ta nói kèm theo một cử chỉ mỉa mai.
Lần mở đầu này cho tôi nguồn sinh lực mới. Kỳ nghỉ này kéo dài từ tháng Mười hai đến tháng Hai và tôi tự hỏi phải kiếm được bao nhiêu lần hai đồng để quay lại với cô ta. Em Luis Enrique, cựu binh trong chuyện xác thịt, bật cười nói ở tuổi anh em mình chả ai phải trả tiền vì cái việc hai người cùng làm và cùng tận hưởng hạnh phúc.
Theo tập tục phong kiến ở La Mojana, những tay chủ đất thường tận hưởng trinh tiết của những thiếu nữ trong lãnh địa của mình và khi những cuộc truy hoan kết thúc thì phó mặc các cô cho số phận. Tôi thầm nghĩ, trong số các cô làm nghề buôn phấn bán hoa vẫn có thể chọn lựa được vài cô tử tế cho mình. Tuy nhiên, trong kỳ nghỉ đó, tôi vẫn còn lo sợ y như hôm đầu tiên nghe điện thoại và tôi vẫn đứng nhìn các cô đi qua như chuồn chuồn bay trên mặt nước. Tôi vẫn chưa có phút giây nào thanh thản vì nỗi đau do cuộc phiêu lưu đầu tiên để lại trên thân thể mình. Giờ đây tôi không tin cuộc đụng chạm xác thịt ngẫu nhiên này lại là nguyên nhân của trạng thái tinh thần cục cằn của mình khi trở lại trường và hoàn toàn bị ám ảnh bởi điều xằng bậy thiên tài của nhà thơ người Bogota, Ngài José Manuel Marroquín mà ngay từ đoạn đầu tiên đã làm người nghe điên đầu:
Giờ đây khi sủa lũ chó, giờ đây khi gáy lũ gà
Giờ đây tia sáng ban mai ve vuốt tiếng cao chuông ngân nga
Và tiếng hí lũ lừa và ríu rít lũ chim hót
Và rồi tiếng huýt lặng im và ủn ỉn lũ lợn gào thét
Và bình minh tắm hoa hồng màu vàng sáng chói cánh đồng
Ngọc rải lung linh nước cỏ như tôi khóc thương
Và rét run tuy yêu người ôm ấp
Tôi tới thở than quăng kiếm dưới em.
Không chỉ đưa sự hỗn độn vào dây thơ dài bất tận để ngâm nga mà tôi còn học cách nói liến thoắng của người bản địa khi đọc loại thơ này. Chuyện thường xảy ra với tôi: trả lời bất cứ việc gì nhưng theo kiểu thật kỳ quặc hoặc bỡn cợt khiến các thầy phải trốn đi nơi khác. Trong một bài kiểm tra tôi đã đưa ra câu trả lời đúng nhưng mới đọc thì thật khó hiểu làm cho người ta phải quan tâm đến tình trạng tâm lý của tôi. Tôi không nhớ là trong những lời nói đùa dễ dãi đó có cái gì chứa dụng ý xấu không, chứ khi nghe thì mọi người đều cười vui vẻ.
Tôi bỗng chú ý là các vị thầy tu nói chuyện với tôi như nói với kẻ mất trí và tôi bắt đầu theo dõi họ. Một nguyên nhân đáng báo động nữa là tôi hay nghĩ ra những câu ngoại đạo xen vào bài đồng ca thiêng liêng, cũng may là không ai hiểu gì cả. Người đỡ đầu tôi trong trường, theo đề nghị của bố mẹ tôi, đã đưa tôi đến gặp bác sĩ chuyên khoa. Ông này đã bắt tôi làm một cuộc xét nghiệm vô cùng mệt mỏi nhưng rất lý thú bởi vì không chỉ có đầu óc nhanh nhạy, ông ta còn là người dễ thương và có một phương pháp không có cách gì cưỡng lại nổi. Ông ta bắt tôi đọc một bức thư ngắn với những câu đặt lộn ngược và tôi phải sắp xếp lại theo thứ tự. Tôi làm nhiệt tình đến nỗi vị bác sĩ không cưỡng được ý thích tham gia vào trò chơi của tôi và chúng tôi cùng nghĩ ra những bài tập thật thông minh và thú vị. Ông bác sĩ xin ghi lại để bổ sung vào những chương trình xét nghiệm sau này của mình. Sau một hồi tra vấn tỉ mỉ về thói quen của tôi, ông ta hỏi tôi đã thủ dâm bao nhiêu lần rồi. Tôi trả lời theo cái điều đầu tiên mà tôi nghĩ ra: chưa bao giờ tôi dám làm việc đó. Ông ta không tin tôi, nhưng bàn luận thêm rằng nỗi sợ hãi chính là một yếu tố làm hại đến sức khỏe tình dục và tôi thấy hình như điều nghi ngờ của ông chính là một sự xúi giục. Tôi coi ông là một người tuyệt vời nên sau này khi đã lớn và là nhà báo của tờ El Heraldo tôi muốn gặp lại để xin ông nói cho nghe những kết luận riêng về cuộc xét nghiệm của tôi lần đó nhưng tôi được biết là ông đã đi Mỹ từ mấy năm trước. Một trong những bạn cũ của ông biết ông rõ hơn và đã kính cẩn nói với tôi rằng chẳng có gì lạ khi vị bác sĩ ấy ở nhà thương điên vì tình trạng ông ta còn tệ hơn bệnh nhân của mình.
Chẩn đoán căn bệnh của tôi là vì mệt mỏi thần kinh lại bị trầm trọng thêm do đọc sách sau khi ăn, bác sĩ khuyên tôi sau khi ăn phải nghỉ ngơi triệt để hai tiếng đồng hồ và phải chơi một môn thể thao mạnh hơn các môn thông thường. Đến bây giờ tôi vẫn chưa hết ngạc nhiên tại sao bố mẹ và thầy giáo của tôi lại nghiêm túc nghe theo cái mệnh lệnh này của vị bác sĩ. Họ đặt nội quy cho việc đọc sách của tôi và nhiều lần họ đã tịch thu sách khi tôi để dưới bàn học để đọc lén trong lớp. Họ miễn cho tôi những bài học khó và bắt tôi tập thể dục mấy giờ đồng hồ một ngày. Vậy là, trong khi các bạn đang học trong lớp thì tôi chơi bóng rổ một mình ngoài sân, vừa ngơ ngẩn ném bóng vừa ngâm những bài thơ thuộc lòng. Ngay từ đầu các bạn cùng lớp của tôi đã chia làm nhiều phái: một số nghĩ tôi đã bị điên từ lâu, những người khác thì tin rằng tôi chỉ giả vờ điên để tận hưởng thú nhàn tản của cuộc sống và không ít người tiếp tục đối xử với tôi bình thường vì cho rằng chính các thầy giáo mới thực sự là người điên. Từ đó mới có lời đồn đại rằng tôi bị đuổi học bởi vì đã ném lọ mực vào thầy giáo dạy đại số khi ông đang viết bài tập căn bậc ba lên bảng. May mà bố lại hiểu chuyện này một cách giản đơn và quyết định đưa tôi về nhà trước khi kết thúc năm học và không muốn tốn thời gian và tiền bạc cho một căn bệnh mà trên thực tế chỉ tương đương như bệnh nhiễm trùng gan.
Đối với anh Abelardo thì ngược lại, trong đời không có chuyện gì không giải quyết được ở trên giường. Trong khi các chị, em gái lo an ủi tôi thì anh ấy cho tôi một đơn thuốc kỳ diệu ngay từ khi tôi vừa ghé vào phòng may:
- Cái mà em còn thiếu là một cặp đùi non.
Cho rằng việc này rất nghiêm túc nên hầu như ngày nào anh cũng đi ra góc phố chơi bi-da nửa tiếng đồng hồ, để tôi ngồi sau máy may với các đủ loại bạn gái của anh, mỗi ngày một người - không bao giờ giống nhau. Đó là một thời kỳ lầm lạc sáng tạo, mà hình như lại đúng với chẩn đoán của bác sĩ Abelardo, bởi vì năm sau tôi trở lại trường, hệ thống thần kinh hoàn toàn bình phục.
Tôi không bao giờ quên được cảnh mọi người vui vẻ chào đón tôi trở lại trường San José và sự cảm phục của họ đối với liệu pháp huyết cầu nhỏ của bố tôi. Lần này tôi không đến sống ở nhà anh chị Valdeblanquez nữa vì họ mới sinh thêm một đứa con, mà đến ở nhờ nhà Ngài Eliécer Garcia, em trai bà nội, vốn nổi tiếng là người tốt bụng và trọng danh dự. Ông làm việc trong một ngân hàng cho đến khi về hưu và điều làm tôi cảm động nhất là lòng say mê vĩnh hằng của ông đối với tiếng Anh. Suốt cả đời cho đến khi tuổi tác còn cho phép, ông đã học ngôn ngữ này từ tờ mờ sáng cho đến tận đêm khuya, như là môn luyện hát với chất giọng và cách nhấn trọng âm rất chuẩn. Những ngày nghỉ lễ, ông thường đi ra cảng tìm gặp và nói tiếng Anh với khách du lịch, cho nên ông thông thạo ngoại ngữ này như tiếng mẹ đẻ, nhưng vì tính nhút nhát, cả thẹn nên ít khi ông nói tiếng Anh với những người quen biết. Ba người con trai - đều lớn hơn tôi - và cô con gái Valentina không bao giờ nghe thấy ông nói tiếng Anh.
Qua Valentina - người bạn lớn của tôi và cũng là một độc giả say sưa - tôi phát hiện ra sự tồn tại của phong trào Hạt cát và Bầu trời, do một nhóm các nhà thơ trẻ lập ra với mục tiêu đổi mới nền thơ ca ở vùng biển Caribe theo gương của nhà thơ Chile Pablo Neruda. Thực ra đó là bản sao địa phương của nhóm Viên đá và Bầu trời mà vào những năm đó rất thịnh hành trong các quán cà phê thơ ở thủ đô Bogota và trên các phụ trương văn học do Eduardo Carranza khởi xướng dưới cái bóng của nhà thơ Tây Ban Nha Juan Ramon Jimenez, với quyết tâm lành mạnh là quét sạch tất cả lá vàng rơi rớt của thế kỷ XIX. Chỉ có không đến nửa tá nhà thơ vừa qua tuổi niên thiếu nhưng họ ồ ạt tấn công vào các phụ trương văn học ở vùng bờ biển nên bắt đầu được nhìn nhận như những nghệ sĩ đầy triển vọng.
Người đứng đầu nhóm Hạt cát và Bầu trời là Cesar Augusto del Valle, khoảng hai mươi hai tuổi, người đã hăng hái đổi mới không chỉ đề tài, tình cảm mà còn cả quy tắc chính tả và ngữ pháp trong thơ mình. Những người theo phái thuần túy thì coi những bài thơ của ông là dị giáo, tà thuyết; những nhà hàn lâm thì coi là ngớ ngẩn và những nhà thơ theo phái cổ điển thì coi là điên rồ. Thật ra, vượt lên cả tính chiến đấu rất dễ lây lan, cũng giống như nhà thơ Neruda, ông có một tâm hồn lãng mạn sâu lắng.
Chủ nhật nọ, Valentina đưa tôi đến nhà nơi Cesar sống cùng với bố mẹ, ở San Roque, khu vực vui nhộn nhất thành phố. Anh có bộ khung cứng cáp, nước da ngăm ngăm và khuôn mặt gầy gò với bộ răng thỏ to đùng và mái tóc rối tung, đúng cái mốt đầu tóc của các nhà thơ thời bấy giờ. Thú vị nhất là tính tình vui nhộn của anh với cúc quần thường xuyên để hở. Gia đình anh thuộc tầng lớp trung lưu nghèo nhưng trong nhà thì chất đầy những sách. Bố anh là một người nghiêm nghị, nói đúng hơn là một người âu sầu, có dáng vẻ một viên chức đã nghỉ hưu. Ông mang nét đau buồn vì lòng ham thích vô sinh với thơ ca của đứa con trai. Mẹ anh đón tiếp tôi với vẻ thương hại dành cho những đứa con cũng bị nghiệp thơ ca ám ảnh, đã làm bà phải rơi lệ đêm đêm.
Đối với tôi căn nhà đó đã mở ra một thế giới mà ở tuổi mười ba tôi chỉ mới linh cảm thấy chứ chưa hình dung ra hết được. Từ sau ngày đầu tiên ấy, tôi luôn quay lại như một vị khách thường xuyên cần mẫn nhất và tôi đã lấy của nhà thơ biết bao thời gian mà đến tận bây giờ tôi vẫn không hiểu làm sao lúc đó anh có thể chịu đựng được. Đã có lúc tôi nghĩ có lẽ anh dùng tôi để thực tập lý thuyết văn học có thể hơi cực đoan nhưng rất xuất sắc vì tôi bao giờ cũng nghe anh nói với tất cả sự ngưỡng mộ và hoàn toàn thụ động. Anh cho tôi mượn những cuốn thơ của các tác giả mà tôi chưa từng nghe tiếng và tôi trao đổi ý kiến với anh mà không có lấy một chút dũng khí nào. Nhất là về Neruda, trong đó có “Bài thơ hai mươi” tôi đã học thuộc lòng để có thể qua mặt một vài tu sĩ dòng Tên không thạo chuyện thơ phú. Vào những ngày đó bầu không khí văn hóa của thành phố đang sôi sục lên vì bài thơ của Meira Delmar về thành phố Cartagena de Indias được bán đầy các quầy sách báo vùng bờ biển. Cesar del Valle có cách nói và giọng đọc bậc thầy khiến tôi học thuộc lòng bài thơ chỉ sau hai lần đọc.
Nhiều lần khác chúng tôi không nói gì được với nhau bởi vì Cesar viết theo cách của mình. Anh đi lững thững trong phòng và ngoài hành lang như đang ở một thế giới khác và cứ hai hoặc ba phút lại đi qua trước mặt tôi như người mộng du và đột ngột ngồi vào bàn, đánh vào máy chữ một câu thơ, một chữ, một dấu chấm và có lẽ chỉ là một dấu phẩy, rồi sau đó lại đứng dậy đi đi lại lại. Quan sát anh mà lòng tôi xao động bởi cảm xúc thiêng liêng vì đã phát hiện ra bí quyết độc nhất vô nhị của công việc sáng tác thơ. Và cứ thế, suốt những năm học ở trường phổ thông San José tôi đã được trang bị những cơ sở tu từ học để có thể thả những yêu tinh tinh quái trong đầu mình ra tung hoành trên các trang giấy. Hai năm sau, ở thủ đô Bogota, tin tức cuối cùng mà tôi được biết về nhà thơ đáng nhớ đó là bức điện của Valentina chỉ có hai chữ, mà vì đau đớn nên cô không ký tên: “Cesar chết”.
Tình cảm đầu tiên của tôi khi đến ở thành phố Barranquilla mà không có bố mẹ đi cùng là cảm xúc được tự do hoàn toàn. Tôi có những người bạn mới ngoài trường học. Trong số đó có Alvaro del Toro, người chuyên môn phụ họa với tôi trong các buổi ngâm thơ giải trí, và với anh em nhà Arteta tôi thường trốn đi đến các hiệu sách hoặc rạp chiếu phim. Để khỏi ảnh hưởng đến trách nhiệm của mình, ông cậu Eliecer chỉ đề ra một quy định duy nhất mà tôi bắt buộc phải theo là không được về nhà sau tám giờ tối.
Một hôm tôi đang ngồi ở phòng khách vừa đọc sách vừa chờ Cesar del Valle thì có một phụ nữ đẹp lộng lẫy đến tìm anh. Cô tên là Martina Fonseca, người da trắng nhưng có pha nét người lai da nâu, thông minh và tự chủ, có thể là nhân tình của thi sĩ Cesar. Trong hai hoặc ba giờ gì đó, tôi đã sống những phút giây sung sướng tột đỉnh khi nói chuyện với cô ta, cho đến khi Cesar trở về và hai người liền đi khỏi nhà mà không nói là đi đâu. Tôi không biết gì về cô nữa cho đến ngày thứ Tư lễ Tro trong năm đó, khi tôi vừa dự xong lễ Misa thì thấy người đẹp chờ mình trên chiếc ghế băng ở công viên. Tôi ngỡ đâu như tiên nữ hiện hình. Cô mặc chiếc áo choàng bằng vải lanh thêu rất khéo càng làm tôn vẻ đẹp của mình, trên cổ có đeo một chiếc vòng cổ độc đáo và một bông hoa đỏ sặc sỡ cài ngay mép áo hở ngực. Điều mà cho đến giờ này khi nghĩ lại tôi vẫn đánh giá cao là việc cô mời tôi đến nhà không chút đắn đo suy tính trước, thậm chí cũng không để ý đến dấu thập thiêng liêng bằng tro chúng tôi còn đang mang trên trán. Chồng cô là hoa tiêu trên tàu thủy chạy trên sông Magdalena, đang thực hiện công vụ trong mười một ngày. Việc cô vợ mời tôi đến ăn sô cô la với bánh phô-mai vào ngày thứ Bảy nào đó thì có gì là lạ? Chỉ có điều là việc này cứ lặp đi lặp lại suốt một năm trời mỗi khi ông chồng đi tàu và diễn ra từ bốn giờ cho đến bảy giờ chiều, đúng vào thời điểm chương trình chiếu phim thanh niên ở rạp Rex, một lý do hết sức hợp lý giúp tôi ra khỏi nhà ông bác Eliecer để đến với cô.
Nghề chuyên môn của cô là bồi dưỡng nghiệp vụ cho các giáo viên cấp một. Những ông thầy đạt điểm khá nhất được cô đón tiếp tại nhà vào thời gian rảnh rỗi với món sô cô la và bánh phô-mai, chính vì vậy, những bà hàng xóm lắm lời không thấy có gì phải chú ý đến một cậu học trò mới cứ đến vào chiều tối thứ bảy hàng tuần. Ngạc nhiên thay, mối tình bí mật âm ỉ chất lửa điên rồ này đã diễn ra trôi chảy từ tháng Ba đến tận tháng Mười Một. Sau hai thứ Bảy đầu tiên, tôi nghiệm ra là không thể nào cưỡng lại được lòng ham muốn tột độ được ở bên người đẹp vào mọi lúc.
Hai đứa chúng tôi có thể tránh được mọi bất trắc vì chồng cô đã có quy ước báo trước khi nào tàu của mình sắp vào đến cảng. Trong buổi chiều thứ Bảy lần thứ ba của tình yêu, vào lúc chúng tôi đang nằm bên nhau trên giường thì nghe thấy tiếng còi tàu văng vẳng ngoài xa. Gương mặt cô tỏ ra căng thẳng.
- Nằm yên, anh yêu - cô ấy nói với tôi, lắng nghe thêm hai tiếng còi tàu nữa. Cô không nhảy ra khỏi giường vì quá sợ hãi như tôi đã nghĩ, mà vẫn giữ nguyên vẻ liều lĩnh của mình. - Chúng mình còn ba giờ đồng hồ nữa để yêu nhau.
Cô miêu tả chồng mình là “một anh chàng da đen cao hai thước có dư, với một khúc gỗ cỡ trọng pháo”. Tý nữa thì tôi đã nổi khùng vì ghen tức và muốn giết anh ta. Nhưng chính sự già dặn của cô đã giải quyết được vấn đề này, rồi từ đấy, qua chiếc dây thừng dắt mũi, cô đã lôi tôi vượt qua đoạn đường đời thật gập ghềnh như lôi một con sói khoác bộ da cừu.
Việc học hành của tôi trở nên tệ hại, tôi cũng chẳng để ý gì đến việc này, nhưng Martina lại quan tâm đến tình trạng chểnh mảng học tập của tôi. Cô tỏ ra kinh ngạc trước thái độ trẻ con của tôi chẳng thiết gì đến chuyện bồi bổ kiến thức mà chỉ lo thỏa mãn dục vọng quỷ quái của đời thường.
- Tất nhiên rồi - tôi nói với cô ấy. - Nếu chiếc giường là một trường học và em là cô giáo thì anh sẽ là người đứng đầu không phải cả lớp mà cả trường nữa đấy. Cô cười xòa và cho đó là đúng.
- Và chúng ta sẽ làm đúng như vậy - cô nói.
Không phải chịu hy sinh nhiều lắm, cô bắt tay ngay vào làm nhiệm vụ cải tạo tôi theo một thời khóa biểu cố định. Xen giữa những lời âu yếm vui vẻ trên giường và những lời trách mắng của người mẹ, cô làm bài tập về nhà giúp tôi, lại còn chuẩn bị cả bài vở cho tuần lễ tiếp theo. Nếu tôi không học hành tử tế, thì cứ ba lần phạm lỗi cô sẽ phạt tôi một buổi thứ Bảy bị cấm vận. Tôi không bao giờ sai phạm quá lần thứ hai. Việc học tập ở trường của tôi tiến bộ hẳn lên.
Tuy nhiên, điều mà cô giáo ấy dạy tôi trong thực tế là một công thức sống chắc chắn, chỉ tiếc là tôi chỉ kịp áp dụng trong năm cuối cùng của trung học: nếu tôi chú ý nghe giảng trong lớp và tự mình làm bài tập chứ không chép lại kết quả của bạn thì tôi sẽ giành được nhiều điểm giỏi và tha hồ được đọc sách trong lúc rỗi rãi và tiếp tục sống thoải mái mà chẳng cần phải lao vào những chuyện qua đêm mệt nhọc đầy lo âu không cần thiết. Nhờ có phương thuốc diệu kỳ này mà tôi trở thành thủ khoa trong khóa học tốt nghiệp năm 1942 với tấm huy chương xuất sắc và các bằng khen đủ loại. Nhưng những lời cảm ơn chân thành là dành cho những người thầy thuốc đã chữa cho tôi khỏi bệnh điên. Trong lễ tốt nghiệp, tôi bỗng nhận ra những năm trước mình có chút gì giả dối khi xúc động cảm ơn trước những lời ngợi khen mà quả là mình không xứng đáng. Trong năm cuối cùng, khi mà tôi thực sự xứng đáng, tôi tự thấy không nên cảm ơn làm gì. Dù sao, trong buổi lễ tốt nghiệp, tôi cũng đã thực lòng đáp lại mọi người bằng việc ngâm toàn bộ bài thơ “Rạp xiếc” của Guillermo Valencia với sự sợ hãi của kẻ đứng trước con sư tử hung dữ.
Trong kỳ nghỉ của năm hạnh phúc đó tôi có dự định đi thăm bà ngoại Tranquilina ở Aracataca, nhưng bà lại phải đến gấp Barranquilla để mổ mắt chữa bệnh đục thủy tinh thể. Không những vui vì được gặp bà mà còn được ông ngoại gửi cho cuốn từ điển. Trước đó, bà chưa bao giờ để ý là mình không còn nhìn thấy - hay bà cố tình không thú nhận - cho đến khi bà không thể tự đi ra khỏi phòng. Ca mổ ở bệnh viện từ thiện diễn ra nhanh chóng và được dự đoán là sẽ có kết quả tốt đẹp. Khi được tháo băng, ngồi trên giường, mở to cặp mắt sáng rực của tuổi thanh xuân mới mẻ, với bộ mặt rạng rỡ, bà ngoại tóm tắt niềm vui của mình trong mấy chữ ngắn ngủi:
- Ta nhìn thấy rồi.
Bác sĩ phẫu thuật muốn biết cụ thể bà đã nhìn thấy những đồ vật gì và bà lia cặp mắt mới tinh, quét qua một vòng quanh phòng rồi kể từng thứ với những chi tiết cụ thể đến kinh ngạc. Viên bác sĩ mặt xám xịt, nín thở. Nhưng chỉ có tôi là biết rõ rằng những đồ vật mà bà ngoại vừa kể ra hoàn toàn không hề có trong căn phòng ở bệnh viện mà chính là những thứ vốn có ở phòng ngủ của bà ở Aracataca do bà nhớ lại. Bà không bao giờ nhìn thấy được nữa.
Bố mẹ muốn tôi đưa bà ngoại về nghỉ với gia đình ở Sucre. Bà già đi rất nhiều so với tuổi và cái chết thì như đang rình rập đâu đó nhưng tiếng nói của bà thì vẫn sang sảng, bà vẫn hát và hát say sưa hơn bao giờ hết. Mẹ chăm chút từng ly từng tý để cho bà luôn sạch sẽ. Tuy vẫn hiểu hết mọi việc đang xảy ra xung quanh nhưng rõ ràng bà vẫn thích thế giới của quá khứ hơn, nhất là những chương trình phát thanh vốn gợi lên trong bà những ham thích trẻ thơ. Bà nhận ra ngay giọng nói của một số phát thanh viên là bạn quen thời trẻ khi còn ở Riohacha, vì làn sóng đài phát thanh không vào được căn nhà ở Aracataca. Bà vẫn cãi lại hoặc phê phán một số ý kiến của các phát thanh viên, bàn với họ về một số đề tài hoặc trách cứ họ đã phạm lỗi ngữ pháp, làm như họ là những người bằng xương bằng thịt đang đứng ngay cạnh giường mình vậy và nếu chưa nói lời chia tay họ bà cương quyết từ chối không thay đổi xiêm y. Lời chào từ biệt của bà với phát thanh viên bao giờ cũng rất lịch thiệp đúng là người được giáo dục chu đáo:
- Chúc ông ngủ ngon.
Rất nhiều những bí ẩn về đồ vật bị mất, những điều bí mật được giấu kín hoặc những chuyện bị cấm đoán đều được giải mã trong các câu độc thoại của bà: ai đã đem giấu chiếc bơm nước vốn bị mất từ hồi gia đình còn ở Aracataca, ai chính là cha đẻ thực sự của Matilde Salmona mà những người anh em của cô ta đã nhầm với người khác và đã mang súng đạn đến đòi lại.
Những ngày nghỉ đầu tiên của tôi ở Sucre không có mặt Martina Fonseca nên cũng chẳng dễ dàng gì. Nhưng không hề có mảy may khả năng nào cô ta sẽ đi cùng với tôi. Với tôi, hai tháng không gặp cô ấy là một việc phi lý đến không thể chịu được. Nhưng với cô thì không. Khi nói về chuyện này với cô, tôi nhận thấy ngay là cũng như mọi lần khác, cô ta đã đi trước tôi đến ba bước.
- Về chuyện này, em cũng đang định nói với anh đây - cô nói với tôi không hề úp mở gì. - Điều tốt nhất cho anh và em vào lúc này khi cả hai luôn muốn ôm ghì lấy nhau đến phát rồ là anh đi học ở thành phố khác. Chỉ có như vậy, anh mới hiểu là chuyện của chúng mình không bao giờ vượt quá mối quan hệ hiện nay.
Tôi cho là cô ấy nói đùa.
- Ngay mai anh đi và ba tháng nữa sẽ trở về sống mãi mãi bên em.
Cô ấy trả lời tôi bằng tiếng cười theo nhip điệu tango.
- Ha, ha, ha, ha!
Thế là tôi hiểu rằng Martina dễ thuyết phục khi nói có nhưng không thể làm được điều này khi nói không. Như vậy là tôi phải thu đòn tấn công lại, mặt đẫm nước mắt và tự đề ra mình phải trở thành một người khác trong cuộc đời khác do cô ấy nghĩ ra cho: thành phố khác, trường học khác, bạn bè khác và cách sống khác. Tôi chỉ mới hình dung ra sơ sơ. Với cái uy do những tấm huy chương đem lại, điều đầu tiên tôi nghiêm chỉnh nói với bố là sẽ không quay về học ở trường San José. Và không quay lại thành phố Barranquilla.
- Lạy Chúa! - bố nói - bố thường tự hỏi không biết con móc đâu ra cái thói lãng mạn đòi học với những thầy tu dòng Tên.
Mẹ tôi không thèm bình luận.
- Nếu không học ở đó thì phải đi Bogota - bà nói.
- Vậy thì không đi đâu cả - bố đáp lại ngay tức thì - bởi vì không có đủ tiền bạc cho tất cả con cái đâu.
Ý tưởng không còn tiếp tục đi học, vốn là mơ ước của cuộc đời tôi, lúc này lại trở nên thật phi lý. Thậm chí tôi còn cố bào chữa cho một giấc mơ mà trước đây tự mình thấy không thể thực hiện được.
- Có nhiều học bổng mà - tôi nói.
- Rất nhiều - bố nói - nhưng chỉ dành cho những người giàu có.
Lời của bố đúng một phần, nhưng không phải vì lý do đặc quyền đặc lợi mà vì các thủ tục quá khó khăn rắc rối cũng như việc tuyên truyền về các điều kiện để được học bổng quá tệ. Do tính tập trung quan liêu, nên tất cả những ai muốn được học bổng phải đến thủ đô Bogota làm thủ tục, tức là phải làm một cuộc hành trình hàng ngàn cây số trong tám ngày với phí tổn tương đương với ba tháng ăn học trong một trường nội trú vào loại khá. Mà tệ hơn, dù tốn kém và vất vả như vậy nhưng chưa chắc đã được nhận học bổng. Mẹ giận dữ nói:
- Khi mở hầu bao, người ta chỉ biết bắt đầu từ đâu nhưng không thể biết lúc nào kết thúc.
Ngoài ra còn bao nhiêu nhu cầu chi tiêu đang chờ đợi. Luis Enrique, ít hơn tôi một tuổi đã đăng ký học hai trường ở địa phương nhưng chỉ vài tháng lại bỏ học. Hai em gái Margarita (Margot) và Aida đang học tốt bậc tiểu học ở trường dòng nhưng phải bắt đầu nghĩ đến học trung học phổ thông ở một trường ít tốn kém tại thành phố nào gần đây. Các em Gustavo, Ligia, Rita và Jaime chưa có nhu cầu khẩn cấp về chuyện học hành nhưng lại lớn nhanh như thổi. Các em này cũng như ba em sẽ sinh ra sau đó đều nhìn tôi như kẻ thường chỉ ghé qua nhà chút đỉnh rồi đi ngay.
Đây là năm quyết định đối với tôi. Trong suốt những ngày lễ hội, sức hấp dẫn lớn nhất của các xe hoa là những cô con gái làm người mẫu, được chọn vì sắc đẹp và nét duyên dáng, luôn ăn mặc như những bà hoàng và đọc thơ ẩn dụ về cuộc chiến tranh giữa hai bên trong thành phố. Tôi vốn là người xa lạ ở thành phố nên luôn giữ thái độ trung lập trong cuộc tranh chấp này. Tuy nhiên, năm ấy, những người lãnh đạo của phía Congoveo đề nghị tôi làm thơ cho em gái cùng cha khác mẹ Carmen Rosa, là nữ hoàng của xe hoa chính. Tôi vui vẻ nhận lời nhưng không làm thơ đả kích phía địch thủ vì tôi không biết rõ luật chơi. Tôi làm hai bài thơ hòa bình: một bài ngợi ca vẻ đẹp của Congoveo và một bài nói về nét đẹp của Zulia. Sự kiện này làm xôn xao công chúng. Một nhà thơ vô danh ít ai ở địa phương biết đến bỗng trở thành anh hùng của lễ hội. Nhờ vậy tôi bỗng nổi tiếng trong xã hội và được cả hai phía nể trọng. Từ đó tôi không còn đủ thời gian để giúp dàn dựng kịch cho thiếu nhi, lễ hội từ thiện, những buổi xổ số bốc thăm làm phúc và thậm chí soạn diễn văn cho ứng cử viên hội đồng quận.
Luis Enrique có năng khiếu và thực sự đã trở thành nhạc công chơi đàn ghi-ta say sưa. Em đã dạy tôi chơi một khúc nam cao. Cùng với em và ông Filadelfo Velilla chúng tôi trở thành vua của những đêm hội serenata và phần thưởng cao nhất cho chúng tôi là những người được chúc mừng bằng âm nhạc đã mặc vội quần áo, mở rộng cửa nhà, đánh thức hàng xóm dậy và chúng tôi múa hát tưng bừng cho đến giờ ăn điểm tâm. Năm ấy ban nhạc của chúng tôi còn có thêm Jose Palencia, cháu nội của một điền chủ giàu có và nhiều tài. Jose là một nhạc công bẩm sinh có thể chơi bất cứ một nhạc cụ nào rơi vào tay mình. Anh ta có dáng vẻ một diễn viên điện ảnh, một ngôi sao trong ngành múa, một trí thông minh rực rỡ và một số phận đáng ghen tỵ trong việc chinh phục những mối tình lãng mạn.
Tôi, ngược lại, không biết nhảy múa và thậm chí cũng không thể nào học múa được ngay ở nhà các cô gái Loiseau, gồm sáu chị em bị liệt bán thân từ khi mới sinh, chỉ ngồi trên ghế dựa đung đưa mà vẫn dạy múa rất giỏi. Bố tôi chẳng bao giờ quan tâm đến chuyện danh tiếng, lại cho tôi một cách nhìn mới. Đây là lần đầu tiên chúng tôi ngồi nói chuyện với nhau thật lâu. Cho đến lúc ấy chúng tôi mới hiểu sơ về nhau. Bây giờ nhớ lại, tôi thấy trên thực tế mình chỉ sống chung với bố mẹ tổng cộng có hơn ba năm một chút gồm thời gian ở Aracataca, Barranquilla, Cartagena, Sincé và Sucre. Đấy là những dịp may giúp tôi hiểu bố mẹ hơn. Mẹ nói với tôi: “Con làm bạn được với bố thế là tốt lắm đấy”. Mấy ngày sau, khi đang pha cà phê trong bếp, mẹ nói thêm với tôi:
- Bố hãnh diện về con lắm đấy nhé.
Ngày hôm sau, mẹ lại rón rén đến đánh thức tôi dậy và ghé vào tai nói nhỏ: “Bố đang chuẩn bị cho con một điều bất ngờ”. Đúng như vậy, khi tôi vừa xuống bếp chuẩn bị ăn sáng ông đã trịnh trọng công bố tin này trước mặt mọi người trong nhà:
- Con sẽ đi đến thủ đô Bogota đấy.
Cảm xúc đầu tiên của tôi là sự thất vọng, vì lúc đó tôi chỉ mong được tiếp tục chìm đắm trọn đời trong các cuộc lễ hội vui vẻ. Nhưng dù gì thì sự thơ ngây trong trắng vẫn chiến thắng. Không có khó khăn gì trong chuyện chuẩn bị quần áo ấm cho chuyến đi đến vùng đất lạnh lẽo đó. Mẹ vốn có một chiếc áo màu đen bằng lông cừu và một áo bằng nhung sọc to nhưng không có cái nào vừa ý cả. Hai mẹ con liền đến nhà may của ông Pedro Leon Rosales nổi tiếng là một thợ may kỳ tài để sửa lại hai áo đó cho vừa người tôi. Mẹ còn mua cho tôi chiếc áo khoác ngoài bằng da lạc đà của một vị thượng nghị sĩ đã chết. Khi tôi đang ướm thử ở nhà thì em gái Ligia - một thầy bói tiềm năng - đã lộ thiên cơ với tôi rằng bóng ma của viên thượng nghị sĩ vẫn mặc chiếc áo khoác này đi lại trong nhà mình vào ban đêm. Lúc đó tôi không để ý đến lời cảnh báo của em gái nhưng tôi vẫn nhớ nên khi ở thành phố Bogota, vừa mặc xong chiếc áo và nhìn vào trong gương tôi liền thấy bộ mặt của viên thượng nghị sĩ đã chết. Tôi liền đến khu chợ trời Monte de Piedad bán vội lấy mười peso và coi như chiếc áo đã bị mất.
Bầu không khí trong gia đình được cải thiện nhiều khiến tôi suýt bật khóc khi phải chia tay với mọi người, nhưng nói gì thì nói một khi đã lên kế hoạch thì phải thực hiện nghiêm túc, không để cho tình cảm ủy mị xen vào. Trong tuần lễ thứ hai của tháng Giêng, tôi lên tàu David Arango neo trên bến cảng Magangue - chiếc kỳ hạm của hãng Hàng hải Colombia - sau khi đã sống trọn một đêm của người tự do. Người đi cùng phòng trên tàu với tôi là một ông thánh nặng đến hai trăm hai mươi cân Anh (khoảng 110 kg - ND) toàn thân hầu như không lông tơ, cũng chẳng có râu. Anh ta tên là Jack - Kẻ móc ruột - và là người sống sót cuối cùng trong nhóm nghệ sĩ phóng dao trong đoàn xiếc ở vùng Tiểu Á. Lúc mới gặp mặt, tôi cứ tưởng anh ta sẽ rình bóp cổ tôi khi đang ngủ, nhưng sau mấy ngày, tôi nhận ra rằng anh ta cũng đúng với cái vẻ bề ngoài, tức là một đứa bé khổng lồ với một trái tim không chứa nổi trong lồng ngực.
Trong buổi tối đầu tiên, tàu tổ chức một lễ hội chính thức với dàn nhạc và bữa ăn tối thịnh soạn, tôi lẩn trốn lên boong tàu, nhìn lại lần cuối vừng sáng của cái thế giới mà tôi sẵn sàng quên đi không chút đau khổ, nhưng tôi vẫn khóc một cách thích thú cho đến tận bình minh. Ngày hôm nay tôi dám nói thẳng rằng lý do duy nhất mà tôi muốn trở lại tuổi thơ chính là để lại được hưởng trọn vẹn chuyến đi ấy mà thôi. Tôi còn được đi về vài lần trong bốn năm học còn lại của bậc phổ thông và hai năm ở bậc đại học, mỗi chuyến đi tôi lại học thêm và học tốt hơn nhiều điều trong đời thực so với trong trường.
Vào thời kỳ con sông có đủ nước ngập thì tàu thủy chạy mất năm ngày từ thành phố Barranquilla đến cảng Salgar, rồi từ đó phải đi tàu hỏa mất một ngày nữa mới đến thành phố Bogota. Vào thời kỳ khô hạn, đi tàu thủy hết sức thích thú nếu không có việc gì phải đi gấp vì chuyến hành trình có thể kéo dài đến ba tuần lễ.
Các con tàu đều có những cái tên dễ nhớ: Đại Tây Dương, Medellin, Thuyền trưởng Caro, David Arango. Các vị thuyền trưởng của các con tàu này, cũng như các thuyền trưởng của hãng Conrad, đều rất quyết đoán, tốt tính, phàm ăn và không mấy khi chịu ngủ một mình trong những căn phòng vương giả của mình trên tàu. Những chuyến hành trình đều chậm chạp và đầy bất ngờ. Đám hành khách chúng tôi ngồi suốt ngày nhìn những ngôi làng, thị tứ đã bị lãng quên, những con cá sấu nằm há rộng miệng chờ những con bướm dại dột sà xuống đó, nhìn những đàn chim diệc sợ hãi tung cánh bay trốn làn sóng rẽ nước của con tàu, nhìn lũ vịt trời ngụp lặn trong đầm lầy ven sông, những con lợn biển vừa cho con bú vừa hát trên bãi cát. Suốt cả chuyến hành trình, sáng sớm nào hành khách cũng chợt tỉnh vì tiếng quậy phá ồn ào của lũ khỉ và bầy vẹt. Lắm lúc, mùi hôi thối tởm lợm của một con bò bị chết trôi lềnh bềnh trên mặt nước với đàn gà đứng rỉa thịt trên bụng, làm giấc ngủ trưa của mọi người bị ngắt quãng.
Thời nay, ít khi nào người ta làm quen nhau trên một chuyến máy bay. Nhưng vào thời ấy, trên các chuyến tàu thủy chạy trên sông, lũ học sinh, sinh viên chúng tôi thường làm quen với nhau rất nhanh và sau chuyến hành trình thì kết lại như trong một gia đình duy nhất. Năm học nào chúng tôi cũng hẹn nhau đi cùng một chuyến tàu. Có lúc tàu bị mắc cạn trong một bãi cát ngầm đến mươi mười lăm ngày. Vậy mà chẳng ai lo lắng gì, vì chỉ cần có giấy chứng nhận được thuyền trưởng ký tên đóng dấu về nộp cho nhà trường, chứng minh lý do đến học trễ là chính đáng là xong và cuộc vui cứ kéo dài triền miên trên tàu.
Từ ngày đầu tiên tôi đã chú ý đến một anh chàng trẻ nhất đám, chơi đàn phong cầm rất hay và suốt ngày đi lại trên boong ở khoang hạng nhất. Tôi không nén được lòng ghen tị với anh bởi vì từ khi được nghe nhạc công huyền thoại Francisco chơi đàn phong cầm trong ngày lễ 20 tháng Bảy ở Aracataca, tôi đã năn nỉ ông ngoại mua cho một chiếc đàn phong cầm nhưng bà ngoại một mực ngăn cản với lý do kỳ quặc là loại đàn này chỉ dành cho người hạ đẳng. Ba mươi năm sau, ở Paris, tôi ngỡ là mình đã gặp lại người chơi đàn phong cầm nhỏ ngày nọ trên tàu thủy, trong một cuộc hội nghị thế giới về thần kinh học. Thời gian đã để lại dấu ấn trên mặt anh: anh đã cạo đi bộ râu lãng tử và quần áo đã dài thêm hai lần cỡ nữa, nhưng tài đánh đàn bậc thầy của anh vẫn sống động trong lòng tôi khiến tôi không thể không nhận ra anh. Tuy nhiên, anh ta lại phản ứng khá cục cằn khi tôi đến tự giới thiệu để làm quen:
- Ông vẫn chơi đàn phong cầm chứ?
- Tôi không hiểu ông nói chuyện gì.
Tôi như muốn chui ngay xuống đất, vội vã xin lỗi đã nhầm ông với một người sinh viên vốn hay chơi đàn phong cầm nhỏ trên tàu thủy David Arango, khoảng đầu tháng Giêng năm 1944. Lúc ấy ký ức bỗng lóe sáng lên. Đó chính là ông Salomon Hakim, người Colombia, một trong những bác sĩ thần kinh vĩ đại nhất thế giới. Tôi chỉ thất vọng là ông đã đổi đàn phong cầm bằng môn y khoa.
Tôi cũng chú ý đến một hành khách khác từ xa. Anh ta trẻ trung, to lớn, da dẻ hồng hào và đeo kính cận. Anh có dáng vẻ một du khách lịch lãm. Ngay từ ngày đầu tiên, anh ta đã bỏ chiếc ghế bành êm ái, để mấy chồng sách mới trên chiếc bàn con và chăm chú đọc, không kịp gạt tàn thuốc từ sáng sớm cho đến tận khi các cuộc vui buổi tối làm mất tập trung tư tưởng mới thôi. Mỗi ngày anh ta bước vào phòng ăn với một chiếc áo màu sặc sỡ khác nhau, rồi ăn điểm tâm, ăn trưa, ăn tối và ngồi vào bên bàn ở một góc khuất đọc sách. Tôi tin là anh ta không kịp chào hỏi ai cả. Tôi đặt tên cho anh ta là “Người đọc không biết chán”.
Tôi không kìm được khát khao muốn được nhìn qua đống sách của anh ta. Đại bộ phận là những cuốn khái luận về luật không thể nuốt nổi mà anh ta thường đọc vào buổi sáng, gạch dưới các đoạn cần nhớ hoặc ghi chú thích ngoài lề. Buổi chiều mát mẻ anh thường đọc tiểu thuyết. Trong số đó, cuốn làm tôi ngỡ ngàng nhất là Thằng ngốc của Dostoiesvski, mà tôi đã từng tìm cách ăn cắp nhưng không thành trong hiệu sách ở Barranquilla. Tôi thèm đọc nó muốn chết. Nhưng tôi không đủ can đảm để đến xin anh ta cho mượn. Mấy ngày sau xuất hiện cuốn El gran Meaulnes, cho đến lúc ấy tôi chưa hề nghe nói về nó nhưng chỉ một thời gian ngắn sau tôi đã coi nó là một trong những cuốn tiểu thuyết ưa thích nhất của mình. Tôi thì ngược lại, trong chuyến đi này tôi chỉ mang theo những cuốn sách đã đọc và không thể thiếu được: Jeromin của cha cố Coloma dù tôi không bao giờ đọc hết; cuốn Vòng xoáy của Jose Eustasio Rivera, cuốn Từ núi Apeninos đến núi Andes của Edmundo de Amicis, và cuốn từ điển của ông ngoại mà tôi đọc từng đoạn trong những giờ rỗi. Với “Người đọc không biết chán” thì hình như không có đủ thời gian cho bao nhiêu cuốn sách như vậy. Điều mà tôi rất muốn nói nhưng chưa nói ra được là tôi sẵn sàng làm bất cứ việc gì để được như anh ta.
Người thứ ba, tất nhiên là Jack, Kẻ móc ruột, người ở chung phòng với tôi mà mỗi khi ngủ thường nói mớ hàng giờ với thứ tiếng nước ngoài xa lạ. Câu chuyện lảm nhảm trong mơ của anh ta như khúc nhạc nền êm dịu cho buổi đọc sách sáng tinh mơ của tôi. Anh ta nói là không có ý thức gì trong chuyện này cả và cũng không biết trong mơ nói bằng thứ ngôn ngữ nào, bởi vì hồi bé anh đã từng học nói đến sáu thổ ngữ châu Á với những nghệ sĩ nhào lộn trong đoàn xiếc nhưng cũng đã quên sạch sau khi mẹ chết. Anh chỉ còn nhớ tiếng Ba Lan vốn là tiếng mẹ đẻ của mình, nhưng chúng tôi cũng đã xác định đó không phải là thứ tiếng mà anh nói trong khi ngủ. Tôi không nhớ là có người nào đáng kính phục hơn anh khi bôi dầu, mài và thử những con dao ghê rợn trên cái lưỡi hồng hồng của chính mình.
Cái khó khăn duy nhất mà anh gặp phải là ngay vào ngày đầu tiên ở giữa phòng ăn trên tàu, anh đòi người bồi bàn mang cho anh bốn suất ăn mỗi bữa để anh đủ sức đi hết chuyến hành trình mà không chết đói. Viên quản lý giải thích là muốn vậy anh phải trả thêm tiền và nhà hàng sẽ ưu ái giảm giá đặc biệt. Anh viện cớ là đã từng chu du khắp các vùng biển trên toàn thế giới và ở đâu người ta cũng công nhận quyền con người này của anh và không bao giờ để anh phải chết đói. Trường hợp này được báo cáo lên viên thuyền trưởng và ông này giải quyết theo đúng cách của người Colombia tức là cho anh ta hai suất ăn mỗi bữa. Rồi những người bồi bàn lại quá tay vô ý cho thêm anh ta hai suất nữa. Anh ta lại dùng dao cắt thêm thịt trong suất ăn của những người cùng bàn hoặc xin thêm suất của những người chán ăn và thế là bữa nào của anh cũng thịnh soạn. Bạn phải có mặt ở đó mới tin được chuyện này.
Tôi không biết phải làm gì cho đến khi tại cảng La Gloria có một nhóm sinh viên mới lên tàu, ngay lập tức họ lập luôn các tam ca và tứ ca hát các bài tình ca suốt đêm. Khi phát hiện thừa một anh giọng nam cao, tôi liền hợp với anh ta và cùng luyện với các nhóm hát khác vào buổi chiều để đêm đêm cùng hát cho đến tận sáng. Những giờ rỗi rãi chán ngấy của tôi ở trên tàu đã tìm được giải pháp bù đắp bằng một lý do xuất phát từ trái tim: người không hát thì không thể tưởng tượng được niềm thích thú được ca hát.
Một đêm trăng sáng tất cả chúng tôi bỗng bừng tỉnh vì tiếng than thảm thương vọng đến từ bờ sông. Viên thuyền trưởng Climaco Conde Abello, một trong những người nhiều tuổi nhất trên tàu, ra lệnh dùng đèn pha quét lên bờ để tìm nguồn cơn của tiếng than đó. Thì ra đó là tiếng một con lợn biển cái bị mắc kẹt trong đám cành cây đổ gục xuống sông. Thủy thủ nhảy xuống nước, buộc con lợn biển vào dây tời và kéo nó ra khỏi đám cành cây. Đó là một loài thú kỳ lạ và có sức hấp dẫn vào khoảng giữa một người đàn bà và một con bò cái với thân dài đến bốn mét. Da nó màu xám xanh và mềm mại, bộ vú to như người mẹ trong kinh thánh. Chính viên thuyền trưởng Conde Abello - người mà lần đầu tiên đã nói thế giới sẽ sụp đổ nếu người ta cứ tiếp tục giết các loài vật sống trên sông - đã ra lệnh cấm tuyệt đối không ai được bắn từ trên tàu:
- Kẻ nào muốn bắn giết thì cứ việc về nhà mình mà giết! - ông quát. - Không ai được bắn từ tàu của tôi.
Mười bảy năm sau, ngày 19 tháng 1 năm 1961, được tôi nhớ lại như một ngày thê thảm vì hôm đó, một người bạn gọi điện thoại đến Mexico cho tôi biết là chiếc tàu thủy David Arango đã bị cháy và biến thành tro tại bến cảng Magangue. Vừa đặt điện thoại xuống tôi đã nhận ra rằng thực tế khủng khiếp ngày hôm đó đã chấm dứt vĩnh viễn tuổi thanh niên của mình, rằng cái ít ỏi còn lại của dòng sông thương nhớ của chúng tôi đã biến mất rồi. Ngày nay, dòng sông Magdalena đã chết vì dòng nước hôi thối vì ô nhiễm và thú vật thì bị tàn sát đến tuyệt chủng. Việc hồi phục lại dòng sông mà bao nhiêu chính phủ thay nhau nói đã không làm được gì cả vì phải trồng lại bảy mươi triệu cây trên diện tích đến tám mươi phần trăm là đất của tư nhân và để làm điều đó các chủ nhân phải từ bỏ đến chín mươi phần trăm thu nhập hàng năm của mình cho tình yêu tổ quốc.
Mỗi chuyến đi đem lại những bài học để đời cho mỗi chúng tôi về những vùng đất mà mình phải gắn bó vĩnh viễn. Một anh sinh viên trường y đã đưa tôi đến một buổi khiêu vũ nhân dịp lễ cưới của ai đó mà chúng tôi không được mời. Anh ta nhảy với người phụ nữ đẹp nhất đêm hội mà không thèm xin phép và thế là bị người chồng cô ta cho một phát súng chết ngay tại chỗ. Một anh sinh viên khác thì trong một cơn say bí tỉ đã làm lễ cưới với người con gái đầu tiên được làm quen tại cảng Berrio nhưng lại sống rất hạnh phúc với cô và chín người con riêng của cô ta. José Palencia, bạn của tôi ở Sucre, giành được phần thưởng là một con bò trong cuộc thi nhảy ở Tenerife và anh ta liền bán ngay tại chỗ được năm mươi peso, một gia tài lớn vào thời điểm đó. Ở một khu phố tồi tàn ở Barrancabermeja, thủ đô của ngành dầu khí, chúng tôi kinh ngạc gặp lại Angel Casij Palencia, em họ của Jose biệt tích từ hơn một năm trước, đang say sưa hát với một dàn nhạc ở nhà thổ. Chúng tôi đã vui hát cho đến tận sáng.
Kỷ niệm buồn nhất của tôi là hôm ở căng tin cảng Berrio, nơi bốn hành khách chúng tôi bị cảnh sát dùng dùi cui lôi đi mà không hề nói cho biết tại sao và cũng không thèm nghe chúng tôi giải thích. Họ bắt chúng tôi vì nghi là đã hãm hiếp một nữ sinh. Khi chúng tôi bị dẫn đến đồn cảnh sát thì mới biết là thủ phạm chính, một lũ thanh niên cầu bơ cầu bất người địa phương hoàn toàn không liên quan gì đến con tàu thủy của chúng tôi, đã bị nhốt trong phòng giam sau song sắt rồi.
Ở trạm cuối cùng, cảng Salgar, chúng tôi phải rời tàu vào lúc năm giờ sáng với đầy đủ quần áo ấm mặc trên người. Những người quàng khăn đen, vận áo gi-lê và mũ hình nấm trên tay cầm áo khoác đã thay đổi đặc tính giữa kinh cầu của con cóc và bệnh dịch hạch của dòng sông đầy xác thú vật bị chết. Vào lúc rời tàu, tôi gặp một chuyện bất ngờ kỳ quặc. Vào phút chót một người bạn gái đã thuyết phục được mẹ tôi phải chuẩn bị cho tôi một chiếc chiếu bằng mút với một chiếc võng lưới bằng sợi xương rồng, một tấm vải len và một chiếc bô nhỏ dự phòng, tất cả được bọc trong một chiếc thảm cói và buộc chéo bằng dây võng. Các bạn trong đội nhạc của tôi không nhịn được cười khi thấy bọc hành lý ấy của tôi ngay giữa vùng quê hương của nền văn minh và người liều nhất trong bọn họ đã làm cái điều mà tôi không dám: vứt bọc hành lý đó xuống sông. Hình ảnh cuối cùng của chuyến đi mà tôi nhìn thấy là bọc chiếu trở về nguồn cội, trôi lững lờ trên dòng sông.
Trong bốn giờ đầu tiên, con tàu hỏa như bò trên những đường ray men núi đá. Ở những đoạn đường dốc hơn, tàu phải tụt xuống để lấy sức rồi hồng hộc bò lên tiếp như hơi thở của con rồng. Nhiều khi người ta còn bắt hành khách xuống đi bộ cho tàu nhẹ bớt để có thể leo dốc. Những làng mạc, thị trấn ven đường đều mang vẻ buồn bã, giá lạnh và ở những nhà ga quạnh quẽ, đón chúng tôi chỉ có những người bán hàng rong muôn thuở rao bán qua các cửa sổ trên từng toa tàu những con gà nướng béo vàng và những lát khoai tây rán lạnh ngắt tỏa mùi ngai ngái muôn đời. Ở đó lần đầu tiên trong đời tôi cảm nhận được một trạng thái mà cơ thể chưa hề biết đến và rất vô hình: giá rét. Khi chiều tà, thật may mắn, trước mắt chúng tôi là thảo nguyên xanh mướt rộng mênh mông chạy tít đến tận chân trời. Bầu không khí trên tàu tự nhiên thay đổi hẳn.
Trước đó, tôi đã quên mất “Người đọc không biết chán” cho đến khi anh ta bỗng xuất hiện với bộ mặt nghiêm trọng và ngồi xuống ngay trước mặt mình. Quả là kỳ lạ. Anh ta rất xúc động khi nghe chúng tôi hát một bản bolero ở trên tàu thủy và bây giờ nhờ tôi chép lại bài đó. Không những chép lại mà tôi còn dạy anh ta hát nữa. Tôi rất ngạc nhiên về tai nghe nhạc và giọng hát rất chuẩn của anh ta khi tự hát một mình ngay lần đầu tiên.
- Cô ta sẽ chết mê khi nghe bài hát này đấy! - Anh vui vẻ thốt lên.
Tôi hiểu được khát vọng của anh. Ngay khi nghe chúng tôi hát bản bolero trên tàu thủy, anh đã cảm thấy đây sẽ là một quà tặng bất ngờ cho người yêu đã tiễn anh ba tháng trước ở Bogota và sẽ ra đón anh ở sân ga. Anh đã nghe hát lại bài này hai hoặc ba lần, và có thể thuộc từng đoạn, nhưng khi thấy tôi ngồi một mình trên tàu hỏa liền quyết định nhờ tôi chép lại. Và tôi cũng mạo muội nói với anh, với ý đồ rõ ràng và dù không ăn nhập gì với hoàn cảnh lúc đó, là tôi đã rất kinh ngạc thấy trên bàn của anh một cuốn sách rất khó tìm được. Anh thật sự ngạc nhiên:
- Cuốn sách nào vậy?
- Thằng ngốc.
Anh cười vui vẻ.
- Tôi chưa đọc xong - anh nói. - Nhưng đó là một trong những thứ lạ nhất rơi vào tay tôi đấy.
Anh không nói gì thêm, chỉ cảm ơn tôi về bản bolero và xiết chặt tay tôi khi chia tay nhau.
Trời sập tối khi tàu hỏa chậm lại, chạy qua một nhà vòm chứa đầy sắt rỉ và dừng lại ở một đoạn ga tối đen. Tôi kéo hòm hành lý đi vội ra phố để không bị mọi người giẫm nát. Sắp ra đến cổng thì bỗng nghe tiếng gọi:
- Anh bạn trẻ ơi, anh bạn trẻ!
Tôi cũng như một số bạn trẻ khác và cả những người trẻ hơn đang đi liền quay lại nhìn. Khi đó “Người đọc không biết chán” đi ngang qua bên cạnh tôi vừa đưa cho tôi cuốn sách vừa bước tiếp.
- Chúc bạn tận hưởng cuốn sách nhé! - anh nói to với tôi và mất hút trong đám đông.
Đó là cuốn Thằng ngốc. Quá bất ngờ nên tôi không kịp hiểu ra rằng anh đã đưa sách cho mình. Tôi cất cuốn sách vào túi áo khoác và cơn gió lạnh buốt của buổi chiều tà đập rát mặt tôi khi ra khỏi nhà ga. Quá mệt mỏi, tôi đành để hòm đồ đạc lên hè và ngồi thở gấp. Không có bóng dáng một linh hồn nào trên phố. Tôi chỉ loáng thoáng nhìn thấy vài bóng người ở góc đại lộ mờ tối và lạnh lẽo dưới những làn mưa bụi mỏng như khói, ở độ cao bốn trăm mét với bầu không khí bắc cực làm ngạt thở.
Tôi ngồi chờ giữa cái lạnh chết người trong vòng nửa tiếng đồng hồ. Có ai đó phải đến đón, vì bố đã gửi điện tín khẩn báo cho ông Eliecer Torres Arango, một người bà con của ông. Nhưng lúc đó điều tôi băn khoăn không phải có người ra đón hay không mà là việc mình đang ngồi trên một cái hòm như chiếc quan tài và không hề quen biết ai ở thế giới bên kia. Một người dáng vẻ thanh lịch mang chiếc ô và mặc áo khoác da dài đến gót chân, bước xuống từ trên một chiếc xe taxi vừa xịch lại gần. Tôi chắc ông ta đến đón mình dù ông chỉ liếc về phía tôi và đi qua nhanh, nhưng tôi không đủ can đảm vẫy gọi. Ông ấy chạy nhanh vào nhà ga và mấy phút sau quay lại liền với vẻ thất vọng. Cuối cùng ông nhìn thấy tôi và chỉ tay về phía tôi:
- Cháu là Gabito, phải không?
Tôi xúc động trả lời:
- Gần như thế ạ.