Hôm đi bán nhà cùng với mẹ, tôi đã nhớ lại tất cả những kỷ niệm ấn tượng nhất trong quãng đời thơ ấu của mình. Nhưng lúc đó, tôi chưa thật chắc cái gì có trước, cái gì có sau và chúng có ý nghĩa thế nào trong cuộc đời mình. Tôi chỉ lờ mờ hiểu rằng trong vầng hào quang giả tạo của Công ty chế biến hoa quả, cuộc hôn nhân của bố mẹ tôi xảy ra trong quá trình chấm dứt những năm suy tàn của thị trấn Aracataca. Kể từ khi bắt đầu nhận thức được thế giới xung quanh, tôi đã nghe đi nghe lại - lúc đầu còn giấu giấu giếm giếm, sau rồi công khai và có phần hoảng hốt - câu nói định mệnh: “Người ta nói rằng Công ty sắp đi khỏi đây”. Tuy nhiên, chẳng ai tin điều đó, hoặc là không có ai dám nghĩ đến những tác hại của việc này.
Lời kể của mẹ tôi chỉ kèm theo những số liệu rất mơ hồ và nơi xảy ra tấn thảm kịch lại quá nhỏ bé không như trí tưởng tượng nên gây bao thất vọng cho tôi. Sau này, khi được nói chuyện với các nhân chứng sống và tham khảo các bài báo và tài liệu chính thức tôi nghiệm ra rằng sự thật không ở hẳn về một phía giải thích nào cả. Những người thỏa hiệp thì nói là không có ai bị chết. Ngược lại, những người quá khích thì khẳng định một cách chắc chắn rằng hơn một trăm người đã bị bắn chết, máu chảy lênh láng trên quảng trường và xác chết chất đầy trên các toa chở hàng đưa đi vưt ra biển, tựa như những nải chuối mất chất bị mang đi đổ tống đổ tháo vậy. Đối với tôi, sự thật nằm ở đâu đó giữa hai thái cực này. Sự kiện này cứ đeo đuổi day dứt trong tôi đến mức, trong một cuốn tiểu thuyết, tôi đã mô tả nó một cách chính xác và đầy vẻ khủng khiếp, như vụ tàn sát do trí tưởng tượng của tôi đã thêu dệt lên từ nhiều năm trước. Tôi đưa ra con số người chết là ba ngàn cho ngang tầm với tấn thảm kịch, và số liệu thực tế đã chứng minh là tôi đúng: cách đây không lâu, trong lễ tưởng niệm sự kiện bi thảm này tổ chức ở Thượng viện, một diễn giả đã đề nghị mọi người giữ một phút im lặng để tưởng nhớ ba ngàn liệt sĩ vô danh đã bị lực lượng cảnh sát giết hại.
Cuộc thảm sát công nhân ngành chuối là đỉnh điểm của những vụ giết người trước đó. Nhưng lần này nó có thêm lý do phụ là vì những người lãnh đạo công nhân đều là cộng sản. Có lẽ họ đúng là cộng sản thật. Trong số họ, người xuất sắc nhất đồng thời là người bị truy lùng gắt gao nhất là Eduardo Mahecha. Tôi gặp ông một cách ngẫu nhiên tại nhà tù Modelo de Barranquilla, trong những ngày đi bán nhà với mẹ. Từ lúc tôi tự giới thiệu mình là cháu ngoại đại tá Nicolas Márquez, ông ta tỏ ý rất thân mật với tôi. Chính Eduardo Mahecha bảo tôi rằng ông ngoại không phải giữ thái độ trung lập, mà chính là người đứng ra thương lượng giải quyết vụ đình công năm 1928 và được đánh giá là một người trung thực. Nhờ vậy, tôi đã hiểu đầy đủ hơn về cuộc thảm sát và có quan điểm khách quan hơn về cuộc xung đột xã hội. Điều duy nhất không thống nhất trong ký ức của mọi người chính là số lượng người bị chết, và tất nhiên đó không phải là ẩn số duy nhất trong lịch sử đất nước này.
Việc nghe nhiều cách giải thích khác nhau về sự kiện này khiến trí nhớ của tôi cũng bị rối tinh lên. Một trong những kỷ niệm kiểu đó là cảnh tôi đội mũ và tay cầm súng đồ chơi đứng trước cửa ra vào, xem đoàn lính nhễ nhại mồ hôi đang duyệt binh dưới hàng cây bàng. Một trong số viên sĩ quan chỉ huy mặc lễ phục đi ngang qua liền chào tôi:
- Tạm biệt, đại úy Gabi! (tên thân mật của Márquez - ND)
Cảnh tượng thì rõ ràng trong kí ức của tôi, nhưng sự việc thì chưa chắc đã có thật trong thực tế. Mũ, lễ phục, súng là những thứ cùng tồn tại trong hồi ức, nhưng đã hai năm trôi qua sau cuộc đình công thì làm gì còn lính tráng ở Cataca nữa. Trong nhà, người ta tạo ra nhiều chuyện kiểu này khiến tôi cảm thấy như đã có những kỷ niệm này từ trong bụng mẹ và có những giấc mơ đậm chất linh tính.
Đó là thực trạng thế giới khi tôi bắt đầu có ý thức về môi trường gia đình mình và tôi chỉ có thể nhắc lại theo công thức này: khổ đau, nhớ nhung, mơ hồ trong nỗi cô đơn trong căn nhà rộng lớn. Trong nhiều năm liền, tôi thấy thời kỳ đó là một cơn ác mộng kéo dài vì sáng nào tỉnh dậy tôi cũng cảm thấy sợ hãi. Thời niên thiếu, bị giam lỏng trong một trường trung học lạnh lẽo trên vùng núi Andes, tôi thường tỉnh dậy trong đêm tối và lại khóc thầm. Mãi đến khi về già, tôi mới chợt hiểu ra, nỗi bất hạnh của ông bà ngoại thời ở Cataca chính là ký ức mà càng cố xua đuổi thì nó càng bám riết hơn.
Nói một cách đơn giản hơn: ông bà tuy sống ở Cataca nhưng tâm hồn của họ thì luôn hướng về Padilla, mà đến tận bây giờ chúng tôi vẫn quen gọi ngắn gọn là tỉnh, làm như trên thế gian này không có tỉnh nào khác vậy. Dù có thể không suy tính từ trước, nhưng ở Cataca, ông bà đã cho xây căn nhà giống hệt căn ở Barrancas vốn có các cửa sổ hướng về phía nghĩa trang nơi chôn cất Medardo Pacheco. Ở thị trấn Cataca, ông bà được mọi người yêu mến, nể trọng, nhưng cuộc đời thì vẫn như bị trói buộc với quê hương, nơi hai người sinh ra. Ở đó, người ta cứ nhất quyết không chịu thay đổi những ham thích, niềm tin, quan điểm, thành kiến của mình và họ vẫn xiết chặt hàng ngũ để chống lại bất cứ cái gì khác với lẽ thường.
Những tình bạn thân thiết nhất của ông bà, trước hết, là những người đến từ tỉnh. Ngôn ngữ dùng trong gia đình vẫn là thứ tiếng nói mà các cụ cố đã mang theo từ đất nước Tây Ban Nha, qua đường Venezuela vào thế kỷ trước. Và tất nhiên, thứ tiếng nói này cũng chịu những ảnh hưởng nhất định của phương ngữ vùng Caribe, của các nước châu Phi, do những người nô lệ da đen mang sang và những từ còn lại của người thổ dân bản xứ. Bà ngoại hay dùng những từ này để giấu giếm, không muốn cho tôi hiểu một chuyện gì đó, nhưng bà đâu biết là qua tiếp xúc trực tiếp với những người làm công, tôi cũng hiểu được thứ ngôn ngữ này. Hiện nay, tôi còn nhớ khá nhiều từ: atunkeshi là tôi buồn ngủ; jamusaitshi taya là tôi đói; ipuwots là người đàn bà có mang; arijuna là người nước ngoài. Từ này bà ngoại thường dùng để chỉ người Tây Ban Nha, người da trắng hoặc những kẻ thù địch. Bà Chon, cũng giống như những người nông dân khác, thường nói thứ tiếng Tây Ban Nha pha tạp với tiếng thổ dân, khiến bà tôi nhiều khi phải rầy la hoặc uốn nắn lại.
Một ngày sẽ là không hoàn chỉnh nếu không có những tin đồn, đại loại như có ai đó mới sinh ở Barrancas, con bò mộng ở trại Fonseca đã húc chết mấy người, ở Manaure có đám cưới của ai đó hoặc giả có ai đó vừa giã từ cõi đời để trở về với ông cụ bà kị ở thế giới bên kia, hoặc là chuyện bệnh tình của tướng quân Socarras ở San Juan del Cesar sáng nay đã đỡ chưa.
Ở cửa hàng của Công ty chế biến hoa quả thường có bán nhiều mặt hàng với giá cả theo thời vụ, nào là táo California được gói trong giấy bóng, cá ướp lạnh, thịt hun khói của vùng Galicia, dầu ăn Hy Lạp. Tuy vậy, đã gọi là thức ăn của gia đình thì phải có hương vị gợi nhớ quê hương: khoai sọ nấu súp phải của vùng Riohacha, ngô làm bánh điểm tâm phải từ vùng Fonseca, dê phải được nuôi bằng thức ăn có trộn muối của Guajira và rùa cùng tôm hùm sống phải được chuyển từ Dibulla đến.
Phần lớn những người khách của gia đình là từ tỉnh đến bằng các chuyến xe lửa hàng ngày. Họ thường mang họ Riascos, Noguera, Ovalle kết duyên với các dòng họ Cotes và Iguarán. Họ thường chỉ mang chiếc ba lô độc nhất và dù không báo trước, nhưng vẫn ở lại dùng bữa cơm trưa. Tôi không bao giờ quên được câu nói bất di bất dịch của bà ngoại mỗi khi bước vào cửa nhà bếp: “Phải nấu đủ các món đấy nhé bởi vì không ai biết số khách sắp tới thích ăn món gì”.
Cái tinh thần xê dịch muôn thuở đó dựa trên điều kiện địa lý thực tế. Tỉnh này vốn tự chủ, có nền văn hóa đồng nhất và cổ lỗ, lại khép kín trong thế giới riêng vì bị kẹp giữa hai dãy núi Sierra Nevada de Santa Marta và Sierra del Perijá và nhô ra biển Caribe. Nó thông thương với thế giới bên ngoài còn dễ dàng hơn với các vùng khác trong nước. Cuộc sống hàng ngày cũng giống như các nước trong quần đảo Antillas vì sự giao lưu đi lại quá dễ dàng với nước Jamaica, hoặc vùng Curazao, và gần như được trộn lẫn với cách sống của người Venezuela qua một vùng biên giới bỏ ngỏ. Tỉnh gắn bó với các vùng khác trong nước chỉ qua hệ thống luật lệ, thuế khóa, lính tráng và những tin tức xấu được truyền đến từ độ cao hai ngàn rưỡi mét, sau tám ngày đi trên tàu thủy chạy bằng hơi nước đốt bằng củi qua con sông Magdalena.
Điều kiện tự nhiên của một bán đảo đã tạo ra một nền văn hóa có đặc tính riêng biệt khép kín từ thời ông bà truyền lại ở Cataca. Mỗi ngôi nhà là một thị tứ riêng biệt. Từ lúc tôi mới lên ba, bữa ăn trong nhà đã luôn diễn ra theo nhiều phiên khác nhau, trong đó hai phiên đầu là thiêng liêng nhất. Trong bàn ăn, ông ngoại bao giờ cũng ngồi đầu bàn, tôi ngồi góc phải ông. Các vị trí còn lại theo thứ tự đàn ông trước, phụ nữ sau và giữa hai khối người luôn phải có khoảng cách nhất định. Nguyên tắc này chỉ không áp dụng trong ngày lễ Quốc khánh 20 tháng Bảy và các buổi ăn trưa theo phiên sẽ kéo dài cho đến khi tất cả mọi người ăn xong. Ban đêm thì không bày bàn ăn, mọi người vào bếp uống cà phê sữa cùng với các món bánh ngọt ngon lành do bà ngoại làm. Khi cửa nhà đóng lại, mỗi người tự mắc võng nơi mình thích, theo độ cao khác nhau, thậm chí cả ở dưới các gốc cây ngoài vườn.
Những năm đó, tôi sống với những chuyện tưởng như huyền thoại. Ví như có lần tôi thấy một nhóm người đàn ông mặc áo, quần đi ngựa và mang giày với những miếng sắt thúc ngựa giống hệt nhau, trên trán cũng có vẽ hình chữ thập ngoặc bằng tro. Họ đều là những người con mà ông ngoại - ngài đại tá - đã để rơi rớt ở nhiều nơi trong tỉnh trong cuộc chiến tranh Một ngàn ngày. Họ từ các làng mạc, thị tứ khác nhau cùng đến chúc mừng sinh nhật của ông ngoại dù có khi đã bị chậm đến một tháng. Trước khi đến nhà, họ đã vào nhà thờ dự lễ Misa Ngày thứ Tư lễ Tro. Chữ thập ngoặc bằng tro mà cha xứ Angarita vẽ cho họ cứ ám ảnh tôi mãi như biểu tượng siêu nhiên đầy bí hiểm, dù sau này tôi đã quen với nó trong nghi thức Tuần lễ Thánh.
Phần lớn họ được sinh ra sau khi ông bà ngoại đã làm đám cưới. Mỗi khi được tin ai đó ra đời, bà ngoại lại cẩn thận ghi tên, họ của người đó vào một cuốn sổ. Khó khăn lắm bà mới tha thứ cho lỗi lầm này của ông ngoại để hết lòng theo dõi và ghi chép đầy đủ vào cuốn gia phả gia đình. Nhưng không có ai, kể cả bà ngoại, có thể phân biệt được sự khác nhau giữa những người con rơi đó của ông ngoại. Mãi đến hôm họ ồn ào đến mừng thọ ông trong ngày sinh nhật, gia đình mới biết rõ tính cách của từng người. Các bác, các cậu đều nghiêm túc, chăm chỉ, lo lắng cho gia đình, sống hòa thuận với những người xung quanh, nhưng cũng không ngại lên cơn bốc đồng trong những cuộc vui, trong các dịp lễ hội: Đập vỡ cốc, chén, giẫm nát vườn hoa hồng chỉ để đuổi bắt con nghé, bắn chết con gà làm món nhậu, thả con lợn động đực chạy rông lao cả vào người các bà, các cô thợ thêu ngồi ở hành lang. Nhưng không ai than phiền vì những chuyện đó vì thấy các bác, các cậu ấy tỏ ra rất vui vẻ, hạnh phúc.
Tôi vẫn thường xuyên gặp lại cậu Esteban Carrillo, người anh song sinh với dì Elvira. Cậu ấy rất khéo tay, đi đâu cũng mang theo một hộp đồ nghề, sẵn sàng sửa chữa bất cứ hỏng hóc nào ở những nhà mà cậu đến thăm. Cậu còn là người vui tính và có trí nhớ rất tốt, thường kể tôi nghe nhiều chuyện về gia đình mà trước đó tôi chưa hề được biết.
Hồi nhỏ, tôi cũng thường đến chơi nhà cậu Nicolas Gomez, người có mái tóc vàng óng và nhiều nốt ruồi son và là doanh nhân có tiếng trong khu vực nhà tù cũ của thị trấn Fundación. Yêu mến tôi vì cho tôi là đứa trẻ ngoan ngoãn, cậu thường cho tôi một bọc hàng thật to trước khi chia tay ra về. Cậu Rafael Arias luôn luôn cưỡi lừa tạt qua nhà, lúc nào cũng vội vội vàng vàng chỉ đủ thời gian uống ly cà phê trong nhà bếp. Còn những ông cậu, ông bác khác thì mãi sau này tôi thỉnh thoảng mới được gặp, vào những dịp đi về các thị trấn trong tỉnh để tìm ý cho những cuốn tiểu thuyết đầu tiên, và bao giờ tôi cũng nhớ lại những dấu thập ngoặc bằng tro trên trán họ như một biểu tượng của gia đình.
Mấy năm sau khi ông bà ngoại mất và gia đình đã không còn ở nhà cũ nữa, tôi mới có dịp trở lại Fundación trên chuyến tàu đêm. Tôi ngồi ở quán ăn duy nhất còn mở cửa ngay trong sân ga. Không còn nhiều thức ăn, nhưng bà chủ quán cũng dọn cho tôi một bữa ăn đêm khá thịnh soạn. Qua cách nói vồn vã và cung cách phục vụ nhiệt tình của bà chủ, tôi linh cảm thấy bà có những phẩm chất của những người phụ nữ trong gia đình mình. Mấy năm sau tôi mới biết là mình đoán đúng: bà chủ quán đó tên là Sara Noriega, một trong những bà dì mà trước đó tôi chưa hề biết.
Apolinar vốn là một người hầu cũ có thân hình nhỏ bé nhưng rắn chắc, người mà tôi thường nhớ như một ông cậu, sau nhiều năm vắng bóng bỗng quay về mà không báo trước. Ông ta mặc đồ tang màu đen, đội mũ rộng vành cũng màu đen, kéo sụp xuống che gần hết cặp mắt buồn lặng lẽ. Khi đi ngang qua nhà bếp, ông nói là về nhà để dự lễ tang, nhưng mãi ngày hôm sau mọi người mới hiểu ý ông; đó là lúc nhận được tin ông ngoại vừa mất ở thị trấn Santa Marta. Trước đó, ông ngoại đã được bí mật đưa đến đó để cấp cứu.
Trong số các ông bác, ông cậu, chỉ có bác José María Valdeblánquez, người lớn tuổi nhất và cũng là người duy nhất theo phái Bảo thủ là có ảnh hưởng đối với đời sống xã hội. Ông là Thượng nghị sĩ nước Cộng hòa trong thời gian xảy ra cuộc chiến tranh Một ngàn ngày và tham dự lễ ký hiệp ước đầu hàng của phái Tự do trong một trang trại gần Neerlandia. Đứng đối diện với ông, trong hàng ngũ những người bại trận là cha ông, tức ông ngoại tôi.
Tôi tin là cách sống và suy nghĩ của tôi về cơ bản là do ảnh hưởng của những người phụ nữ trong gia đình và những người làm công đã chăm sóc tôi lúc bé. Họ có cá tính mạnh mẽ, trái tim dịu dàng và đã đối xử với tôi một cách tự nhiên ngay trong thiên đường hạ giới. Trong số rất nhiều người mà tôi còn nhớ, Lucia là người duy nhất làm tôi kinh ngạc trước sự tinh quái rất trẻ con, khi cô dẫn tôi đến một góc phố cụt đầy cóc nhái, rồi vén áo choàng đến ngang thắt lưng, chỉ cho tôi xem đám lông màu râu ngô xoăn tít. Tuy vậy, cái mà tôi thực sự chú ý lại là những vết ghẻ lở lan khắp bụng, như một tấm bản đồ thế giới thu nhỏ, với những cồn cát màu tím và đại dương màu vàng. Còn những người khác thì trong sạch như các Đại Thiên sứ: họ thay quần áo trước mặt tôi, họ tắm cho tôi cùng lúc với họ, họ đặt tôi ngồi trên cái bô của tôi còn họ ngồi trên cái bô của mình trước mặt tôi để giải tỏa những bí mật, những đau khổ, giận hờn của mình, làm như tôi chẳng hiểu gì cả và chính họ cũng không thèm để ý rằng tôi cũng biết tất cả, hiểu hết những chuyện mà họ vung vít cả ra cho tôi xem và nghe.
Chon là người làm công và là người của đường phố. Người vùng Barrancas, từ khi còn bé, bà đã được ông bà tôi đưa về nhà nuôi và lớn lên ở trong nhà bếp. Bà nhanh chóng hòa nhập với gia đình, rồi trở thành người hầu thân cận nhất trong chuyến hành hương về tỉnh để thử thách tình yêu của mẹ tôi. Những năm cuối đời, bà dọn đến ở một phòng riêng trong khu nghèo nhất của thị trấn, đúng như ý thích thực sự pha chút hài hước của mình, và sống bằng nghề bán rong những nắm bột ngô làm bánh vào lúc sáng sớm mỗi ngày. Tiếng rao trong bầu không khí im ắng của bà đã trở nên quen thuộc với mọi người: “Bột ngô lạnh của già Chon đây...”
Bà có màu da đẹp của thổ dân, dáng người xương xương, bao giờ cũng đi chân đất, khăn bịt đầu màu trắng và khoác trên mình tấm ga bằng vải bông. Bà thường đi chầm chậm giữa lòng đường phố, đàn chó hiền lành và im tiếng chạy xung quanh. Hình ảnh của bà đã đi vào trong văn nghệ dân gian. Trong các ngày hội hóa trang, bao giờ cũng có người mang mặt nạ giống y như bà, cũng khoác vải ga và bắt chước lời rao của bà, nhưng lại không huấn luyện được một đàn chó bảo vệ như bà. Tiếng rao bột ngô lạnh của bà trở nên quen thuộc đến mức được đưa vào một bài hát của nhóm nhạc công đàn phong cầm (accordeon).
Một buổi sáng bất hạnh, hai con chó dại tấn công vào đàn chó của bà, lũ chó quay chống lại hết sức quyết liệt làm bà ngã vật xuống đất, gãy sống lưng. Bà đã không gượng dậy được, mặc dù ông ngoại tôi đã tìm hết cách chữa chạy.
Một kỷ niệm khó quên khác về thời đó là ca sinh đẻ của Matilde Armenta, một thợ giặt bắt đầu làm công trong nhà, năm tôi lên sáu. Lần ấy tôi vào nhầm phòng và thấy bà ta trần truồng đang nằm bất động trên giường, gào khóc thảm thiết vì đau đớn. Vây xung quanh là các bà mụ đang tìm mọi cách giúp bà ta đẻ. Người thì dùng khăn ướt lau mặt cho bà, những người khác thì giữ chặt tay, chân và xoa bóp bụng cho đứa con mau ra đời. Santos Villeros, bình thản đứng giữa cảnh hỗn độn, mắt nhắm nghiền, miệng tụng những câu kinh về biển, trong khi người ta làm như đang đào bới tìm cái gì giữa hai bắp đùi sản phụ. Cái nóng khủng khiếp trong căn phòng đầy hơi nước bốc lên từ những chiếc nồi được đun sôi từ nhà bếp đưa vào. Tôi đứng lặng im ở một góc buồng, vừa sợ vừa tò mò, cho đến khi bà mụ kéo ra từ giữa hai đầu gối sản phụ một đứa bé bê bết máu, còn lòng thòng cuống nhau. Một người đàn bà nhìn thấy tôi đứng trong góc, liền kéo ra khỏi buồng.
- Cháu mắc tội chết rồi đấy - bà ta nói và giơ ngón tay dọa tôi. Cháu phải quên ngay mọi chuyện mới vừa thấy!
Nhưng người phụ nữ đã thực sự làm tôi mất đi sự ngây thơ trong trắng lại không hề biết việc cô ta đã làm. Đó chính là Trinidad, con gái của một trong những người làm công ở nhà và vừa vào tuổi xuân non. Lúc đó, cô ta mười ba tuổi nhưng vẫn mặc bộ váy lúc lên chín nên cứ khít khìn khịt vào người như thể không mặc thứ gì. Một buổi tối, hai chúng tôi đang đứng trong vườn, từ nhà hàng xóm bỗng vọng đến tiếng nhạc rộn rã, Trinidad liền ôm lấy tôi cùng nhảy múa, vòng tay của cô chặt đến mức làm tôi suýt ngạt thở. Tôi không biết hôm ấy cô ta cảm thấy ra sao, chứ riêng tôi, đến tận bây giờ vẫn còn nguyên vẹn niềm kích động mà ngay nửa đêm hôm đó đã làm tôi tỉnh giấc. Trong bóng đêm hôm ấy, toàn bộ xúc giác của tôi đã tìm gặp làn da của cô ta trên từng phân một và mũi thì nồng nặc mùi muông thú. Trong giây lát, thân thể tôi rần rần cái cảm giác bản năng của đàn ông mà sau này không còn thấy lặp lại mạnh mẽ như vậy nữa. Đến tận bây giờ, tôi vẫn nhớ đến thời khắc ấy như cái chết tuyệt vời. Từ hôm ấy, tôi nhận thấy, tuy rất mù mờ và hư hư thật thật, rằng trên đời này có một điều bí ẩn sâu thẳm mà trước đây ta chưa từng biết, nhưng nó lại thường xuyên dằn vặt ta cứ như thể ta đã biết rồi. Trong khi đó, những người phụ nữ trong gia đình lại luôn dẫn dắt tôi đi trên con đường khô khan của sự trong trắng.
Khi đánh mất sự ngây thơ trong trắng cũng là lúc tôi biết được rằng không phải Chúa Hài Đồng đã đem đồ chơi đến cho chúng tôi vào dịp lễ Giáng sinh, nhưng tôi cũng cẩn thận không dám nói ra điều này. Lúc lên mười tuổi, tôi được bố cho biết điều bí mật của người lớn vì ông cho là tôi đã biết cả rồi và ông dẫn tôi đi cửa hàng bán quà Noel chọn mua đồ chơi cho các em. Ở cửa hàng, người ta lại nói với tôi cái điều bí ẩn mà tôi thường nghe trước khi nhìn thấy Matilde Armanta đẻ con, là trẻ em được những con cò mang từ Paris sang; nhưng lần này thì tôi cố nhịn cười. Tôi cũng cần thú nhận rằng ngay từ lúc đó cho đến nay, tôi không bao giờ gắn việc sinh sản với tình dục. Dù sao thì tôi vẫn cho rằng: mối quan hệ thân mật của mình với những người làm công trong nhà có thể là nguồn gốc của sợi chỉ thông tin bí ẩn mà tôi có được với những người phụ nữ và nhờ vậy, trong suốt những năm dài trong đời, tôi luôn cảm thấy ở bên phụ nữ dễ chịu và an toàn hơn so với ở bên cạnh đàn ông. Cũng từ đó, tôi tin tưởng rằng chính đàn bà đã giữ gìn thế giới này, còn đàn ông chúng ta với tính khí hung bạo từ bao đời nay chỉ làm nó rối tinh lên.
Dù không tự biết nhưng chính bà chị họ Sara Emilia Márquez đã liên quan ít nhiều đến số phận của tôi. Từ hồi còn rất trẻ, chị đã được nhiều chàng trai theo đuổi, nhưng không có ai đáng để chị chú ý cả. Vì vậy, chị quyết định hễ gặp được người nào cảm thấy hợp là chọn ngay và không thay đổi nữa. Chàng trai được chọn có điểm giống bố tôi: cũng là người nước ngoài mà người ta không biết đến từ đâu và đến bằng cách nào, có nếp sống trong sạch nhưng tài sản thì ít ỏi. Anh ta tên là José del Carmen Uribe Vergel, nhưng thỉnh thoảng vẫn ký đơn giản là J. del C.
Mất một thời gian dài không rõ anh là ai và từ đâu đến, mãi sau chị mới biết anh là người soạn các bài diễn văn cho các vị công chức và cây bút làm thơ tình chính trên tạp chí văn hóa, có điều việc xuất bản có thường xuyên hay không phải nhờ vào ơn sủng của Chúa Trời. Anh vừa xuất hiện ở nhà tôi là tôi đã phục lăn danh tiếng thi sĩ của anh rồi. Anh là văn nhân đầu tiên mà tôi được làm quen trong đời. Tôi chỉ muốn được trở thành nhà văn như anh và tôi thật sự vui sướng khi bà bác Francisca Simodesea (Mama) học được cách chải tóc cho tôi làm sao cho giống hệt kiểu tóc anh.
Tôi là người đầu tiên trong gia đình biết được mối tình bí mật của họ. Một tối nọ, anh đến chỗ tôi đang chơi với bạn bè, gọi tôi ra một chỗ kín đáo và với vẻ trịnh trọng, nhờ tôi đưa một bức thư cho chị Sara Emilia. Tôi biết chị đang ngồi tiếp bạn gái ngay ở cửa ra vào. Tôi băng qua phố, nấp sau một cây bàng, rồi cẩn thận ném lá thư vào đúng ngay lòng chị Sara. Quá kinh ngạc, chị giơ hai tay lên trời, nhưng chưa kịp kêu lên thì đã phát hiện ra nét chữ ở ngoài bì thư. Sara Emilia và J. del C. trở thành bạn của tôi kể từ hôm đó.
Elvira Carrillo, em gái song sinh của cậu Esteban, dùng hai tay vặn khúc mía lấy nước, mạnh như máy ép làm mật. Dì nổi tiếng với tính thẳng ruột ngựa hơn là tính dịu dàng trong việc chăm sóc các cháu, nhất là đối với Luis Enrique, đứa em trai kém tôi một tuổi. Đối với nó, dì vừa là bà chúa vừa là kẻ tòng phạm, nó đặt cho dì cái tên quái quỷ là dì Pa. Nét đặc biệt của dì là thường làm những điều không thể. Elvira và Esteban là những người đầu tiên tìm đến nhà ở Cataca. Trong khi cậu Esteban nhanh chóng tìm được hướng đi trong nghề nghiệp và buôn bán phát đạt thì Elvira cứ luẩn quẩn mãi là bà dì trong nhà. Dì biến mất khi nhà không còn cần đến, nhưng khi nhà cần đến thì dì bỗng xuất hiện mà không ai biết dì đã đến từ đâu và bằng cách nào. Lúc nào thấy buồn bực trong lòng, dì vừa lắc chiếc nồi, vừa lẩm bẩm một mình và lên tiếng nói ra nơi có những đồ vật đã bị coi là mất. Sau khi an táng xong những người lớn tuổi đã mất, chỉ còn dì ở lại trong nhà giữa đám cỏ dại mọc lan hết khoảng trống trong vườn với đàn gia súc chuyên lang thang vào tận các buồng ngủ.
Francisca Simodosea hay bà bác Mama, chị họ ông ngoại, là nữ tướng trong gia đình, bà mất ở tuổi bảy mươi chín mà vẫn còn trinh tiết. Bà có thói quen và ngôn ngữ khác mọi người vì nền văn hóa mà bà hấp thụ không phải là của tỉnh mà từ thiên đường phong kiến ở bình nguyên Bolivar, nơi cha bà, ông Jose Maria Mejia Vidal, đã di cư từ Riohacha đến từ hồi trẻ cùng với nghề thợ kim hoàn.
Mái tóc của bà dài đến tận đầu gối, đen mãi cho đến khi bà quá già mới chịu ngả bạc. Mỗi tuần, bà gội đầu một lần với nước tinh dầu, rồi ngồi trước cửa phòng ngủ chải tóc theo một nghi lễ thiêng liêng suốt mấy tiếng đồng hồ và từ tốn thưởng thức vài điếu thuốc lá cuộn. Học cách hút của các chiến binh phái tự do dùng để tránh bị kẻ thù phát hiện trong đêm tối, bà hút thuốc ngược, nghĩa là cho đầu lửa vào trong mồm. Cách ăn mặc của bà cũng khác người: váy với áo cánh bằng sợi trơn và đi giày nhung sọc nổi.
Trái ngược với ngôn ngữ chuẩn mực của bà ngoại, cách nói năng của bà bác Mama luôn đầy ắp các từ lóng dân dã. Bà bác không cần giữ mồm giữ miệng trước bất cứ ai và trong bất cứ hoàn cảnh nào; với ai, bà cũng có thể nói sổ toẹt vào mặt. Ngay đối với nữ tu, cô giáo dạy mẹ tôi trong trường nội trú ở thị trấn Santa Marta, bà bác cũng làm cho chết đứng với câu nói tục tĩu: “Bà thuộc loại người chuyên lẫn lộn lỗ đít với tuần chay” . Tuy nhiên, bà bác cũng biết cách giữ gìn không nói năng thái quá để trở thành kẻ thô bỉ hoặc xúc phạm người khác.
Suốt nửa đời mình, bà bác giữ chìa khóa nghĩa địa gia đình, sắp xếp mồ mả cho người chết và chuẩn bị bánh thánh ở nhà cho lễ Misa. Trong gia đình, bà bác là người duy nhất, kể cả đàn ông và đàn bà, không hề vướng vào chuyện tình trắc trở làm tan nát trái tim. Chúng tôi biết được điều này vào một đêm khi thầy thuốc định đặt ống xăm nhưng bị bà từ chối. Bà đã nói câu này, nhưng vào lúc đó tôi không hiểu được hết ý nghĩa: “Thưa bác sĩ, tôi muốn cảnh báo với ngài rằng tôi chưa bao giờ quen biết bất cứ người đàn ông nào”.
Sau đó, tôi còn được nghe bà bác thường xuyên nhắc lại điều này, nhưng không bao giờ bà tỏ ra tự hào hay ân hận mà chỉ với ý nghĩa đó là việc đã rồi và không hề để lại dấu vết gì trong cuộc đời bà. Trong khi đó, ở cương vị mai mối bắt buộc, bà bác Francisca đứng trước tình thế tiến thoái lưỡng nan: vừa phải chuẩn bị phòng tân hôn cho bố mẹ tôi, vừa không được trái ý bà ngoại của tôi.
Tôi cảm thấy bà hiểu bọn trẻ con hơn hiểu người lớn. Bà là người chăm sóc Sara Emilia, chị họ tôi cho đến khi chị ấy tự mình chuyển sang ở phòng có các bức tranh của Calleja. Bà bác lại quay sang chăm sóc em Margot và tôi, mặc dù bà ngoại vẫn lo mọi chuyện sinh hoạt hàng ngày cho tôi và ông ngoại thì lo giáo dục tôi thành người đàn ông.
Kỷ niệm âu lo nhất của tôi thời đó là về bà bác Petra, chị cả của ông ngoại. Mãi đến khi bị mù, bà mới từ Riohacha về sống với gia đình. Bà ngủ ở buồng bên cạnh văn phòng, nơi sau này sẽ là xưởng chế tác kim hoàn. Bà bác có đôi tay khéo léo đến kỳ lạ. Trong không gian tối mù, bà vẫn làm được mọi việc mà không cần ai giúp đỡ. Tôi vẫn còn như thấy bà tựa như mọi chuyện chỉ vừa xảy ra ngày hôm qua: bà đi lại không cần gậy, tuy hơi chậm, nhưng mạnh bạo như thể mắt còn sáng. Bà di chuyển theo mùi vị bà đánh hơi thấy. Bà nhận biết buồng mình nhờ mùi axít clohidric tại xưởng kim hoàn ở phòng bên cạnh, nhận biết hành lang nhờ hương hoa nhài ngoài vườn, buồng ngủ của ông bà ngoại nhờ mùi cồn hai người bôi vào người trước khi ngủ, buồng của bà bác Francisca nhờ mùi dầu thắp trên bàn thờ và đoạn cuối hành lang nhờ mùi thức ăn từ bếp bay ra.
Dáng bà thanh mảnh, nét mặt kín đáo, nước da như cánh hoa huệ héo và mái tóc đen nhánh như xà cừ để xõa đến ngang thắt lưng được bà tự chăm sóc, chải chuốt lấy. Ánh mắt xanh sáng trong của trẻ thơ thay đổi tùy theo trạng thái tâm lý của bà. Bà chỉ thỉnh thoảng ra ngoài đi dạo, còn thì suốt ngày ở trong buồng chốt chặt cửa và hầu như chỉ một mình. Thỉnh thoảng, bà cũng lẩm nhẩm hát một mình, và tiếng hát của bà có khi lẫn với tiếng hát của bà ngoại, nhưng ca từ thì khác hẳn, thường buồn bã hơn. Tôi có nghe ai đó nói rằng, bà thường hát các bài romanzas của vùng Riohacha, nhưng sau này khi đã lớn, tôi mới biết thực ra bà hát các bài do mình tự nghĩ ra, nghĩ đến đâu hát đến đó. Có một hai lần, do không thắng được sự tò mò, tôi đã vào trong buồng nhưng không bao giờ thấy bà bác. Mấy năm sau, khi đã học phổ thông trung học, trong một kỳ nghỉ hè, tôi kể những kỷ niệm này với mẹ và mẹ vội vàng nói ngay là tôi đã nhầm lẫn hoàn toàn. Lý lẽ của mẹ rất vững chắc và chính tôi đã kiểm chứng lại, không chút mảy may nghi ngờ nào: bà bác Petra đã chết khi tôi chưa được hai tuổi.
Dì Wenefrida, mà chúng tôi thường gọi Nana, là người vui tính và dễ thương nhất trong gia đình; tuy nhiên, chỉ khi đứng bên giường bệnh của bà, tôi mới nhớ đầy đủ về bà. Dì kết hôn với dượng Rafael Quintero Ortega - dượng Quinte - một luật sư con nhà nghèo ở Chía, cách thủ đô Bogota khoảng mười lăm dặm và ở cùng độ cao so với mực nước biển. Nhưng ông thích nghi tốt với điều kiện khí hậu vùng bờ biển Caribe đến mức phải cần một chai nước nóng để dưới chân mới ngủ được trong tiết trời mát mẻ tháng Mười hai. Gia đình vừa hồi phục sau vụ thảm họa Medardo Pacheco thì lại đến phiên dượng Quinte gặp rắc rối vì giết chết vị luật sư bào chữa cho phía đối nghịch trong một vụ kiện tụng ở tòa án. Dượng vốn là người hiền lành và tốt bụng, nhưng kẻ địch lại khiêu khích liên tục nên ông buộc lòng phải chuẩn bị vũ khí. Dượng là người gầy gò ốm yếu toàn đi giày trẻ con nên bạn bè trêu là khẩu súng ngắn mà dượng giấu trong áo sơ mi trông chả khác gì khẩu đại bác. Ông ngoại đã cảnh báo cậu bằng câu nói nổi tiếng: “Con chưa biết một xác chết nặng như thế nào đâu”. Nhưng dượng Quinte chưa kịp suy xét việc này thì đã bị kẻ địch chặn bước ở phòng chờ của tòa án và sủa vào mặt là đồ điên rồ, đồ bị quỷ ám. Tấm thân bồ tượng của hắn như muốn đổ sụp lên người dượng. “Thậm chí dượng cũng chẳng hiểu bằng cách nào mình đã rút súng ra và nhắm mắt, dùng cả hai tay bóp cò bắn chỉ thiên” . - Dượng nói với tôi như vậy trước khi mất, sau gần một trăm năm hiện diện trên cõi đời. “Khi mở mắt - dượng kể tiếp - dượng còn thấy hắn đứng đấy sừng sững, to lớn phát khiếp da xanh tái nhợt nhạt rồi cứ thế mềm nhũn đi và đổ sụp xuống sàn”. Đến lúc ấy mà dượng Quinte vẫn chưa biết là mình đã bắn trúng vào giữa trán kẻ địch. Tôi hỏi dượng cảm thấy thế nào khi nhìn thấy ông ta đổ sụp xuống và dượng đã khiến tôi kinh ngạc bằng câu trả lời thẳng thắn:
- Nhẹ cả người!
Kỷ niệm cuối cùng của tôi về dì Wenefrida, vợ của dượng, là một đêm mưa to khi bà phù thủy làm lễ trừ tà cho dì. Đó không phải là một bà phù thủy thông thường, mà là một người phụ nữ dễ thương mặc đúng mốt thời thượng, vừa dùng bó lá cây trừ ma để xua tà khí ra khỏi thân thể người bệnh, vừa tụng bài cầu xin bằng các bài hát ru. Wenefrida bỗng vặn mình quằn quại và một con chim to bằng con gà trống, lông sáng lấp lánh bay ra khỏi những tấm khăn trải giường trắng. Bà phù thủy dùng bộ móng gà chộp được nó trên không và cho vào trong một tấm vải đen đã được chuẩn bị sẵn. Bà ta ra lệnh đốt một đống lửa ở sân sau và vứt túi bọc con chim vào lửa. Nhưng dì Wenefrida vẫn không khỏi bệnh.
Sau đó ít lâu, đống lửa lại được đốt lên ngoài vườn khi một con gà mái đẻ ra một quả trứng kỳ lạ, giống quả bóng bàn nhưng có một cái đuôi trông như mũ bonnet phrygien (Mũ nhỏ không vành màu đỏ thời cách mạng Pháp năm 1793, tượng trưng cho sự tự do, sau này có trên huy hiệu một số quân, binh chủng Mỹ - ND). Bà ngoại xác định ngay: “Đây là trứng con nhông” . Bà vứt ngay vào lửa và lầm rầm đọc lời cầu nguyện.
Hình ảnh ông bà ngoại không bao giờ thay đổi về tuổi tác trong ký ức của tôi. Vẫn giống hệt như trong những bức ảnh chụp khi ông bà vừa bước vào tuổi già, mà các bản sao được truyền lại cho từng người trong bốn thế hệ con cháu đông đúc như một nghi lễ thiêng liêng của gia đình. Nhất là những bức ảnh của bà ngoại Tranquilina, người phụ nữ cả tin, nhẹ dạ và đa cảm nhất mà tôi từng gặp trên đời, người bao giờ cũng lo sợ trước những điều bí ẩn của cuộc sống thường ngày. Để làm dịu bớt nỗi cực nhọc của công việc, bà thường cất giọng khàn đục của người già, hát những khúc tình ca, nhưng thỉnh thoảng lại đệm vào một tiếng thét tuyên chiến chống lại định mệnh:
- Cầu Đức Mẹ Đồng Trinh!
Bà ngoại thấy những chiếc ghế đu có thể tự đu đưa, những bóng ma của bệnh hậu sản đã chui vào buồng các sản phụ, hương hoa nhài ngoài vườn như bóng ma vô hình, những chiếc dây thun bị vứt dưới sàn nhà có hình con số có thể là dấu hiệu của giải thưởng đặc biệt của kỳ xổ số, một con chim không có mắt đã bay lạc vào phòng ăn và chỉ có thể đuổi được nó bằng bài hát Tuyệt vời. Bà tin là có thể giải mã được tên người sáng tác và nơi ra đời của các bài hát từ tỉnh truyền đến. Bà cũng mường tượng ra những tai họa sớm hay muộn cũng sẽ xảy ra, linh cảm thấy ai sẽ đội mũ trắng từ Riohacha đến nhà, hoặc bệnh đau bụng của Manaure chỉ có thể chữa khỏi bằng mật gà. Ngoài nghề bói toán, bà còn là một thầy lang vườn.
Bà ngoại có cách thức rất riêng để đoán mộng của mình và của người khác. Bà tin là nó điều khiển hành vi hàng ngày của mọi người trong nhà và quyết định cuộc đời của tất cả các thành viên. Tuy vậy, bà cũng đã có lần suýt chết mà không kịp biết trước. Lần đó, bà vừa kéo tấm khăn trải giường ra thì đã nghe một tiếng nổ phát ra từ khẩu súng ngắn mà ông ngoại vẫn cất ở dưới gối để phòng thân trong lúc ngủ. Căn cứ vào lỗ thủng trên trần nhà, người ta tính rằng viên đạn đã đi xẹt qua rất gần mặt bà.
Từ khi có trí nhớ, tôi đã cảm thấy hình phạt của mỗi buổi sáng chỉ vì chuyện đánh răng: bà ngoại luôn đè tôi ra để cọ răng cho tôi trong khi bà lại hưởng đặc quyền kỳ lạ là được tháo hàm răng ra rửa, rồi ngâm trong cốc nước khi đi ngủ. Nghĩ hàm răng của bà là răng thật và nhờ cái mẹo nhà quê nào đó mà bà lấy ra được, tôi cứ bắt bà há mồm cho xem phía sau của đôi mắt, bộ não, mũi, tai có cái gì không. Tôi hoàn toàn thất vọng vì chỉ nhìn thấy vòm miệng. Không có ai lý giải cho tôi điều kỳ lạ trên, nên suốt một thời gian dài tôi cố thuyết phục ông nha sĩ làm cho tôi được như bà ngoại, để bà cọ răng cho tôi trong khi tôi vẫn được đi chơi ngoài phố.
Hai bà cháu chúng tôi có mật mã riêng để giao tiếp với vũ trụ vô hình. Ban ngày, thế giới kỳ lạ của bà ngoại làm tôi say mê, nhưng ban đêm lại gây cho tôi nỗi kinh hoàng: nỗi khiếp sợ bóng tối, có trước cả bản thân ta, cứ đeo đuổi suốt cuộc đời tôi trên những con đường cô đơn và cả ở những nơi nhảy múa của toàn thế giới. Ở nhà của ông bà ngoại, mỗi vị thánh lại có một phòng thờ và mỗi phòng lại có một người chết.
Nhưng căn nhà thực sự có tên gọi chính thức “Nhà người chết” chính là nhà hàng xóm của chúng tôi. Tên của người chết đó đã được tìm ra trong một lễ gọi hồn: Alfonso Mora. Một người gần gũi với ông ta đã đi xác minh trong các cuốn sổ theo dõi khai sinh và khai tử, và đã tìm thấy rất nhiều người có tên như vậy, nhưng không có dấu hiệu gì là người chết này thuộc gia đình chúng tôi. Trong nhiều năm, căn nhà này là nhà của cha đạo, người ta đồn rằng bóng ma chính là cha Angarita và chuyện này tung ra chỉ để xua đuổi những kẻ tò mò chuyên đi dò la các hoạt động về đêm của cha xứ.
Tôi chưa có dịp quen biết Meme, nữ nô lệ người địa phương mà gia đình mang theo từ Barrancas. Trong một đêm mưa bão, cô ta cùng em trai Alirio còn ở tuổi thiếu niên đã bỏ trốn. Nhưng tôi thường nghe nói, chính hai chị em cô này đã làm cho cách nói của mọi người trong gia đình pha tạp thêm nhiều từ thổ ngữ. Thứ ngôn ngữ Tây Ban Nha khó hiểu mà hai chị em họ sử dụng làm cho các nhà thơ cũng phải ngạc nhiên. Mọi chuyện bắt đầu từ một ngày đáng nhớ, khi cô ta tìm thấy hộp diêm mà bác Juan de Dios bị mất, liền đem đến trả lại với câu nói lai tạp đầy vẻ đắc thắng:
- Diêm con ở đây của ông.
Khó mà tin được rằng bà ngoại Mina với những người đàn bà lơ ngơ lại là chỗ dựa kinh tế của cả nhà khi mà các nguồn thu nhập bắt đầu có sự trục trặc. Ông đại tá có một số mảnh đất rải rác nhiều nơi đã bị nông dân lấn chiếm và từ chối không chịu đuổi họ đi. Có lần để cứu thanh danh của một trong những đứa con mình, ngài đại tá đã phải cầm cố căn nhà ở Cataca và thế là mất thêm một món tài sản để đổi lấy danh dự. Khi không còn tài sản gì đáng giá để duy trì cuộc sống gia đình, bà ngoại Mina chỉ còn cách dựa vào nghề làm bánh mì, bánh ngọt, bán những con thú bằng kẹo bột ở tất cả các thị tứ, bán những con gà mái lông nhiều màu, giỏ trứng vịt hay mớ rau củ trồng ở vườn sau. Bà cắt giảm triệt để các loại dịch vụ chỉ để lại những gì thiết yếu nhất cho nhu cầu sử dụng của gia đình. Tiền mặt không còn được nhắc đến trong truyền thống ngôn từ ở nhà nữa. Ví như khi cần mua một chiếc đàn dương cầm cho mẹ tôi sau khi học ở trường về, bà bác Pa tính toán chính xác theo đơn vị tiền tệ của gia đình: “Một chiếc đàn dương cầm giá năm trăm quả trứng”.
Trong đội quân phụ nữ thánh thiện đó, ông ngoại trở thành chỗ dựa an toàn cho tôi. Chỉ có ở bên ông, tôi mới cảm thấy hết lo lắng, mới thấy chân mình còn đứng vững trên mặt đất và an tâm trong cuộc đời thực. Bây giờ nghĩ lại, tôi vẫn thấy lạ rằng, khi đó dù rất muốn giống ông ngoại, một người thực tiễn, dũng cảm, chắc chắn, nhưng không bao giờ tôi thắng nổi sự cám dỗ được tham gia vào thế giới của bà ngoại. Tôi vẫn nhớ về ông ngoại như một người thâm thấp, to béo, da đỏ au, tóc đen nhánh điểm vài sợi bạc, ria mép đậm được tỉa tót kỹ lưỡng và luôn đeo kính tròn gọng vàng. Trong thời bình, ông nói năng từ tốn, cẩn trọng và hòa nhã, nhưng những người bạn theo trường phái Bảo thủ của ông thì lại coi ông là một kẻ thù rất đáng sợ trong các cuộc đối đầu thời chiến.
Ông không bao giờ mặc quân phục vì các cấp quân hàm lần lượt giành được đều qua hoạt động cách mạng chứ không phải qua con đường kinh viện. Tuy vậy, nhiều năm sau khi chiến tranh kết thúc, ông vẫn mặc bộ liquilique (áo ngắn có túi), là trang phục của những cựu chiến binh vùng ven biển Caribe. Ngay khi luật về chi trả trợ cấp cho cựu chiến binh được ban hành, ông đã điền đầy đủ các chi tiết vào mẫu yêu cầu được hưởng phần trợ cấp của mình, của vợ và những người thừa kế gần gũi nhất, rồi chờ đợi mãi cho đến tận ngày nhắm mắt. Bà ngoại Tranquilina qua đời ở rất xa ngôi nhà cũ của ông bà, trong cảnh mù loà, già yếu và hơi lẩn thẩn, nhưng trong những giây phút tỉnh táo cuối cùng trước khi nhắm mắt đã nói với tôi: “Bà rất an lòng trước khi về với tổ tiên vì biết rằng các cháu sẽ được nhận trợ cấp của Nicolasito” (tên gọi thân mật của ông ngoại Nicolas - ND).
Đó là lần đầu tiên tôi được nghe lời nói huyền thoại đã gieo vào lòng mọi người trong gia đình mầm mống của ảo tưởng vĩnh hằng: trợ cấp hưu trí. Nỗi mong mỏi, khao khát này đã vào nhà trước khi tôi ra đời, ấy là lúc chính phủ ban hành chế độ trợ cấp cho các cựu chiến binh tham gia cuộc chiến tranh Một ngàn ngày. Ông ngoại trực tiếp điền vào các biểu mẫu, kèm theo lời xác nhận của rất nhiều nhân chứng và nhiều tài liệu bảo đảm khác, rồi tự mình đưa đi nộp ở Santa Marta và ký vào biên bản giao nhận hẳn hoi. Theo những tính toán không lấy gì làm phấn khởi lắm thì ông và người thân đến thế hệ thứ hai sẽ nhận được số tiền trợ cấp cũng kha khá. “Các cháu đừng lo” - bà ngoại nói với chúng tôi - “tiền trợ cấp hưu trí sẽ có đủ cho tất cả mọi người”. Thư tín vốn trước đây chẳng có gì cần thiết đối với gia đình, từ ngày đó trở đi bỗng trở thành đặc phái viên của Thần Hộ mạng.
Dù trong lòng nặng trĩu mối nghi ngờ nhưng bản thân tôi cũng không thể tránh khỏi nỗi ám ảnh về khoản trợ cấp này. Có những lúc, tâm tính của bà ngoại chẳng có gì ăn nhập với tên của mình (Tranquilina có nghĩa là bình tĩnh - ND). Hồi chiến tranh Một ngàn ngày ông ngoại bị một người anh họ của bà, sĩ quan của quân đội theo phái Bảo thủ, bắt giam ở Riohacha. Những người họ hàng theo phái Tự do và cả chính bà cũng coi đó là một lời tuyên chiến, mà để chống lại nó, quyền uy gia đình không hề có một giá trị gì. Nhưng khi nghe tin chồng mình bị cùm như một tên tù thường phạm, bà ngoại cầm roi đánh chó đến bắt ông anh họ phải trao người chồng lành lặn lại cho mình.
Thế giới của ông ngoại thì khác hẳn. Trong những năm cuối đời, ông vẫn tỏ ra nhanh nhẹn, thường ôm hòm đồ nghề đi khắp các nhà để sửa chữa các đồ vật bị hỏng hóc, chuyển nước đến các khu nhà vệ sinh khi thấy người bơm nước bằng tay ở sau vườn, hay leo cầu thang lên tận tháp nước xem nước còn bao nhiêu... Ấy vậy mà nhưng ông lại bắt tôi cúi xuống buộc dây giày vì cảm thấy mình không còn đủ sức để làm việc đó.
Vào một buổi sáng, vì mải đuổi bắt con vẹt mắt kèm nhèm vụt bay lên đậu trên tháp nước, đến khi tóm được cổ nó thì ông ngoại bị trượt tay vịn cầu thang và ngã xuống đất từ độ cao bốn mét. Không ai lý giải được vì sao ông còn sống sót với tấm thân nặng đến chín mươi cân và ở cái tuổi ngoài năm mươi. Tôi nhớ, hôm đó, thầy thuốc khám từng ly từng tý trên tấm thân trần trụi của ông và hỏi vì sao có vết sẹo cũ to nửa phân vuông ở bẹn.
- Đó là vết đạn thời chiến tranh - ông ngoại đáp.
Đến bây giờ, tôi vẫn chưa hết xúc động. Tôi cũng chưa thể quên được cái ngày ông ló đầu ra khỏi cửa sổ văn phòng để nhìn con ngựa nổi tiếng mà người ta định mang đến bán cho ông, và rồi bỗng nhiên, ông cảm thấy mắt mình nhòa lệ. Ông dùng hai tay che mắt và thấy trong lòng bàn tay có một vài giọt nước trong vắt. Không những ông bị hỏng mắt phải mà còn bị bà cấm không được mua con ngựa bị quỷ ám ấy nữa. Trong một thời gian ngắn, ông phải dùng vải che mắt phải, giống như những tên cướp biển, cho đến khi bác sĩ nhãn khoa bán cho cặp kính đúng độ cùng với một chiếc gậy, để sau đó trở thành vật bất ly thân cùng với chiếc đồng hồ quả lắc có dây bằng vàng, mỗi khi mở nắp lại làm vang lên khúc nhạc. Mọi người đều biết, dù bị năm tháng phản bội và dù bắt đầu thấy lo lắng với tuổi già đang ập đến, ông ngoại không bao giờ từ bỏ những mánh lới quyến rũ bí ẩn và cái tư cách của một tình nhân tốt.
Vào những năm cuối đời, ông ngoại luôn chọn tôi cùng thực hiện buổi tắm nghi lễ thông thường, vào lúc sáu giờ sáng hàng ngày. Chúng tôi dùng vỏ quả bí khô múc nước từ bể để tắm, rồi cuối cùng xức lên người nước hoa Agua Florida de Lanman và Kemps. Đó là một loại mỹ phẩm do những kẻ buôn lậu ở Curazao đưa đến bán tận nhà, từng thùng một, cùng với rượu brandy và áo lụa Trung Hoa. Có lần, người ta nghe ông nói là chỉ dùng duy nhất loại nước hoa này vì chỉ có ông mới cảm thấy được ai là người xức nó, nhưng rồi ông không bao giờ tin điều đó nữa, sau khi phát hiện ra một lọ dưới gối một người khác. Suốt mấy năm trời, tôi còn được nghe kể đi kể lại một chuyện khác, rằng trong một đêm mất điện, ông ngoại đã đổ lọ mực lên đầu vì tưởng đó là lọ nước hoa Agua Florida.
Khi làm việc hàng ngày trong nhà, ông ngoại thường mặc quần vải bông thô có hai dây nịt bằng thun bắt chéo trước ngực, đi giày mỏng êm và đội mũ nhung. Đi dự lễ Misa Chủ nhật, một hoạt động mà ít khi ông vắng mặt, trừ khi có lý do gì thật đặc biệt, và vào các dịp kỷ niệm hoặc các ngày lễ khác, ông đều mặc bộ veston trắng cổ cồn thắt cà vạt đen. Trong những dịp hiếm hoi này, ông nổi tiếng là người sành điệu và chơi ngông. Ngày nay, tôi có cảm tưởng rằng căn nhà, với tất cả đồ vật và con người trong đó, đúng là của riêng ông vì đó là một cuộc hôn nhân mẫu mực của chế độ trọng nam khinh nữ trong xã hội mẫu hệ, trong đó người đàn ông là vua, còn người đàn bà lại là người điều hành, quản lý, quán xuyến tất tần tật. Nói thẳng ra là ông là người đàn ông, tức là một người rất dịu dàng tinh tế trong phạm vi riêng tư, nhưng sẽ rất ngượng ngùng nếu biểu hiện tính cách đó trước đám đông, trước công chúng, còn vợ ông phải cố hết sức để làm cho ông được hạnh phúc.
Tháng Mười hai năm 1930, trong những ngày kỷ niệm một trăm năm ngày mất của Simon Bolivar (Người Venezuela, lãnh đạo cuộc khởi nghĩa chống Tây Ban Nha giành độc lập cho các nước Mỹ La tinh - ND), ông bà ngoại cùng đi Barranquilla để chào đón sự ra đời của em gái tôi Aida Rosa, thành viên thứ tư của gia đình. Khi trở về Cataca, ông bà mang theo em Margot, mới hơn một tuổi còn bố mẹ tôi tiếp tục nuôi dưỡng em trai Luis Enrique và em gái mới sinh. Tôi rất khó thích nghi với sự thay đổi này vì Margot về đây như một kẻ đến từ cuộc sống khác. Em gầy còm, quê mùa và âm thầm, không ai hiểu được thế giới của riêng em. Khi nhìn thấy em, bà Abigail - mẹ của Luis Carmelo Correa - không hiểu được tại sao ông bà ngoại lại nhận trách nhiệm nuôi nấng nó. “Đứa con gái này là đứa chết đói” , bà ta nói. Dù sao thì trước đây người ta cũng nói như vậy về tôi, vì tôi rất khảnh ăn, vì tôi hay chớp mắt, vì những điều tôi kể ai cũng cho là phóng đại và dối trá, mà không hiểu rằng phần lớn những điều đó đều đúng theo một cách khác. Mãi mấy năm sau, tôi mới biết rằng chính bác sĩ Barboza là người duy nhất bảo vệ tôi với luận điểm rất sâu sắc: “Những điều nói dối của trẻ em là dấu hiệu của một tài năng lớn”.
Cũng phải mất khá nhiều thời gian Margot mới chịu đầu hàng trước lối sống trong gia đình. Em ngồi trên ghế, mút ngón tay trong một góc ít ai ngờ nhất. Em chẳng chú ý đến bất cứ điều gì, ngoại trừ tiếng chuông đồng hồ mà cứ mỗi giờ em lại lắng tai nghe, với đôi mắt tròn xoe kinh ngạc. Cả nhà làm gì cũng không ép buộc được em ăn bất cứ miếng gì suốt mấy ngày liền. Em nhẹ nhàng từ chối các món ăn hoặc vứt vào góc nhà. Không ai hiểu nổi tại sao em không ăn mà vẫn sống được, cho đến một hôm, mọi người mới phát hiện ra là em chỉ thích ăn đất ẩm ở ngoài vườn và các lớp vôi mà em dùng móng tay cạy ra từ các bức tường. Khi phát hiện ra điều này, bà ngoại liền trộn mật bò vào những chỗ ngon nhất trong vườn và giấu ớt cay vào các chậu gốm trồng hoa. Cha xứ Angarita phải làm lễ thánh đặt tên bất thường cho em, cũng như đã làm cho tôi khi tôi mới chào đời. Khi nhận lễ thánh, tôi phải đứng trên chiếc ghế và dũng cảm chịu đựng vị mặn của những hạt muối mà cha xứ bỏ vào đầu lưỡi và một cốc nước dội xuống đầu. Nhưng Margot đã chống lại hai việc trên bằng tiếng rên khóc của con thú bị thương và tấm thân quằn quại rung lên bần bật đến mức cha và mẹ đỡ đầu phải cố lắm mới giữ em đứng im được.
Ngày nay, tôi nghĩ là em và tôi còn dễ hiểu nhau hơn là giữa cánh người lớn với nhau. Sự cảm thông giữa hai đứa kỳ lạ đến mức có lúc chúng tôi đoán được ý nghĩ của nhau. Một buổi sáng, khi em và tôi đang chơi ở ngoài vườn thì nghe tiếng còi tàu hỏa vào lúc mười một giờ như mọi ngày. Nhưng lần này, trong tiếng còi tàu, tôi như nghe thấy tín hiệu kỳ lạ cho biết người thầy thuốc của Công ty chế biến hoa quả - người mà mấy tháng trước đã cho tôi uống lá thuốc cây đại hoàng và cái mùi thuốc chết tiệt đó đã khiến tôi nôn thốc nôn tháo suốt mấy ngày - sẽ có mặt trên chuyến tàu này. Tôi vừa chạy khắp nhà, vừa gào lên báo tin dữ nhưng không ai tin. Chỉ duy nhất em Margot là tin và cùng tôi đi trốn cho đến khi ông thầy thuốc ăn cơm trưa xong trở ra ga cho kịp chuyến tàu ngược về. “Lạy Đức Mẹ Đồng Trinh - bà ngoại kêu lên khi thấy hai chúng tôi đang trốn dưới gầm giường - với những đứa trẻ này thì chả cần dùng điện tín làm gì”.
Khi ở một mình và nhất là trong bóng tối, tôi không bao giờ thắng được nỗi sợ hãi; tuy nhiên, tôi cho rằng nỗi sợ này có nguồn gốc rất cụ thể, bởi vì trong đêm tối sẽ hiện hình các bóng ma và những điềm báo trước mà bà ngoại vẫn nói. Ở tuổi bảy mươi, tôi vẫn thấy hiển hiện trong các giấc mơ của mình mùi hương nồng nàn của hoa nhài dọc hành lang và những bóng ma trong các buồng ngủ tối thăm thẳm. Thật thế nỗi kinh sợ bóng đêm luôn ám ảnh tôi suốt một thời trẻ dại. Nhiều lần trong những đêm mất ngủ khi đã đi khắp nơi trên thế giới, tôi vẫn có cái cảm giác dai dẳng mình sẽ kéo lê dây xích của căn nhà kỳ lạ đó, đi lang thang trong một thế giới hạnh phúc, nơi chúng ta cứ phải chết hàng đêm.
Điều kỳ lạ nhất là bà vẫn duy trì được nề nếp trong nhà với ý nghĩa phi hiện thực. Làm sao có thể giữ được nhịp sống với vốn liếng ít ỏi như vậy? Không đủ để trang trải các chi phí trong cuộc sống. Ngài đại tá đã học được nghề kim hoàn truyền lại từ đời ông cha mình. Mặc dù những con cá nhỏ bằng vàng bạc khá nổi tiếng và được bày khắp nơi, nhưng đó không phải là món hàng kinh doanh có lời. Thuở nhỏ, tôi đã có cảm tưởng là thỉnh thoảng ông ngoại mới làm ra chúng và cũng chỉ để tặng cho các đám cưới. Bà ngoại nói ông chỉ làm để tặng mà thôi. Tuy vậy, ông lại có tiếng là một viên chức mẫn cán. Khi đảng Tự do lên cầm quyền, ông ngoại được nhận vào làm trong Sở Tài chính nhiều năm và có vài lần được giữ chức quản lý điền trại.
Tôi không thể hình dung nổi là liệu còn có một môi trường gia đình nào thích hợp hơn cho năng khiếu văn chương của tôi so với môi trường điên rồ ấy không, nhất là cộng thêm cá tính của những phụ nữ đã nuôi dưỡng tôi nữa. Trong nhà, phái mạnh duy nhất chỉ là ông ngoại và tôi. Ông lại là người đầu tiên dẫn dắt tôi vào cái thực tế đáng buồn của người lớn với những câu chuyện đánh đấu đẫm máu, những lời giải thích theo kiểu giáo án giảng dạy trong trường học về sự bay nhảy của loài chim, tiếng sấm buổi chiều tà và rốt cuộc, ông khuyến khích tôi vào những đam mê hội họa. Lúc đầu tôi vẽ trên tường cho đến lúc cánh phụ nữ kêu ầm lên rằng tường nhà và tường rào là những trang giấy của lũ bỉ ổi! Ông tôi nổi giận lôi đình, gọi thợ đến sơn trắng các bức tường trong xưởng kim hoàn, rồi mua cho tôi bút chì màu, sau đó là hộp sơn dầu để tôi tha hồ mà vẽ lên đó, trong lúc ông cặm cụi làm các con thú nhỏ bằng vàng nổi tiếng của mình. Có đôi lần, khi nghe ai đó nói rằng, cháu ngoại ông sẽ thành họa sĩ, tôi lại tỏ ra hoàn toàn dửng dưng vì tin rằng họa sĩ chẳng qua chỉ là mấy anh thợ sơn cửa ra vào.
Những người quen tôi từ lúc lên bốn nói rằng tôi là một đứa trẻ xanh xao vàng vọt, trầm ngâm tư lự, chỉ nói rặt những điều ngớ ngẩn. Kì thực những chuyện tôi kể phần lớn lại chính là chuyện đời thường hàng ngày có thêm vài chi tiết huyễn hoặc chỉ để người lớn chú ý đến tôi mà thôi. Nguồn cảm hứng dồi dào nhất của tôi chính là những cuộc đàm thoại của người lớn diễn ra ngay trước mặt tôi, bởi người lớn ấy mà, ai cũng nghĩ là trẻ con thì chẳng hiểu cái gì hết, hoặc giả họ cố nói bóng nói gió để tôi không hiểu. Nhưng ngược lại, tôi đã tiếp thu nó dễ dàng như nuốt bọt biển, sau đó tháo tung nó ra từng mảnh, rồi sắp xếp lại, khéo léo che giấu nguồn gốc câu chuyện đi. Khi tôi kể lại cho chính những người đó nghe, ai nấỵ đều kinh ngạc khi thấy có nhiều điều trùng hợp giữa chuyện tôi kể với những suy nghĩ của họ.
Thỉnh thoảng trước việc này việc nọ, tôi lúng túng không biết xử lý thế nào với lương tâm mình, vì vậy mà cứ chớp mắt lia lịa. Điều này làm một người theo chủ nghĩa duy lý trong gia đình lo lắng buộc tôi phải đi khám bệnh. Vị bác sĩ nhãn khoa cho việc chớp mắt liên tục là vì viêm amiđan nên kê cho tôi một lọ nước củ cải có chứa i-ốt. Dù sao thì toa thuốc này cũng làm cho người lớn đỡ lo lắng về bệnh tật của tôi. Về phần mình, bà ngoại lại rút ra một kết luận thần kỳ là đứa cháu ngoại có tài tiên đoán. Tự nhiên bà trở thành nạn nhân ưa thích nhất của tôi, cho đến một hôm bà choáng váng vì giấc mơ thật của tôi: có một con chim bay ra từ mồm ông ngoại. Mọi người lo lắng, sợ rằng vì lỗi lầm của tôi mà ông ngoại sẽ chết, đó chính là yếu tố đầu tiên chấm dứt sự mở đầu nghiệp văn quá sớm của tôi. Bây giờ, tôi nghĩ đó không phải là sự xúc phạm của đứa trẻ, như mọi người tưởng, mà chẳng qua là người kể dùng kỹ thuật quá thô thiển trong buổi đầu khởi nghiệp để biến thực tế thành chuyện khôi hài và dễ hiểu nhất mà thôi.
Buớc đi đầu tiên trong cuộc đời thực của tôi chính là việc phát kiến ra môn bóng đá trên đường phố, hoặc ở một mảnh vườn hàng xóm. Thầy dạy thể thao của tôi là Luis Carmelo Correa, người vốn có năng khiếu thể thao bẩm sinh và tài năng gia truyền về toán học. Tôi lớn hơn nó năm tháng tuổi, nhưng lại bị nó chê cười thường xuyên vì nó lớn nhanh hơn tôi nhiều. Lúc đầu, chúng tôi chơi với quả bóng bằng giẻ rách và tôi đã là một thủ thành kha khá. Nhưng khi được chơi với quả bóng da bình thường thì tôi bị một cú sút bóng cực mạnh vào vùng bụng và thế là chấm dứt luôn lòng tự đắc của tôi. Tôi vui vẻ nghiệm ra rằng, nhiều khi chúng ta tự cho mình là người lớn nhưng trên thực tế vẫn cứ cư xử theo cách của trẻ con. Tuy nhiên, kỷ niệm ấn tượng nhất của tôi thời kỳ đó là cái lần được ngồi trên xe ô tô mui trần sang trọng, cùng với một người phụ nữ có tóc vàng thả bay trong gió và một con chó béc giê ngự trên ghế danh dự như một ông vua trên ngai vàng, đi lướt qua khu vực Công ty chế biến hoa quả. Đó là sự xuất hiện chớp nhoáng trong một thế giới vừa xa xôi, vừa vô lý, vốn bị cấm cửa đối với những người như chúng tôi.
Tôi bắt đầu đi giúp việc trong lễ Misa với niềm tin chưa thật chắc chắn lắm, nhưng được cái tôi làm việc rất nghiêm túc nên cũng coi như có thêm phần phụ cơ bản cho đức tin. Có lẽ nhờ có đạo đức tốt mà ngay từ năm lên sáu tuổi, tôi đã được đưa đến với cha xứ Angarita để làm quen với những bí ẩn của lễ ban Thánh thể đầu tiên. Đời tôi đã thay đổi. Người ta bắt đầu đối xử với tôi như người lớn và người giữ đồ thờ dạy tôi cách phục vụ lễ Misa. Chỉ có một vấn đề duy nhất, đó là không làm sao hiểu được lúc nào thì phải gõ chuông vì vậy tôi chỉ gõ khi nào có hứng thú. Đến lần thứ ba thì cha xứ quay lại nhìn, ra lệnh cộc lốc không cho tôi được gõ chuông nữa. Phần thích thú nhất của công việc này là lúc người giữ đồ thờ, cậu bé lễ sinh và tôi còn lại ở nhà thờ thu dọn đồ thờ, được ăn số bánh thánh còn lại và uống nốt cốc rượu vang.
Trước hôm diễn ra lễ ban Thánh thể lần đầu tiên, bố cùng tôi thực tập xưng tội: bố ngồi trên ghế như cha xứ còn tôi thì quỳ trước mặt ông. Quan niệm của tôi về thiện và ác khá đơn giản, nhưng bố lại cầm một cuốn từ điển về các tội lỗi để hỏi xem tôi phạm tội nào và không phạm tội nào. Tôi trả lời tương đối tốt cho đến khi ông hỏi tôi có làm điều gì bẩn thỉu đối với súc vật không. Tôi vốn có ý niệm mơ hồ rằng một số người lớn làm ra những việc có tội với lừa cái mà tôi không hiểu rõ, và đến tối hôm ấy, tôi còn hiểu thêm rằng họ còn có tội với cả gà mái nữa. Như vậy, buổi ôn tập đầu tiên cho lễ ban Thánh thể đầu tiên đã là một bước dài tiến đến việc đánh mất sự ngây thơ vô tội trong tôi.
Cuộc thử lửa đầu tiên của tôi diễn ra khi bố mẹ tôi cùng Luis Enrique và Aida dọn đến Cataca. Em Margot chỉ còn nhớ mang máng về bố nên nó rất sợ ông. Tôi cũng vậy, nhưng bố luôn tỏ ra thận trọng đối với tôi. Chỉ duy nhất có một lần, ông cởi thắt lưng ra để đánh tôi, và tôi đứng nghiêm, mím chặt môi, nhìn thẳng vào mắt ông, chuẩn bị tư thế không khóc. Ông hạ cánh tay xuống, cài lại thắt lưng và rít lên trong kẽ răng những lời trách mắng lỗi lầm của tôi. Trong những buổi nói chuyện rất lâu giữa bố và tôi với tư cách người lớn với nhau, ông thừa nhận mình cũng đau lòng lắm lắm khi phải đánh chúng tôi, nhưng có lẽ ông vẫn phải làm như vậy vì sợ chúng tôi hư hỏng. Khi trong lòng vui vẻ, ông cũng thích đùa. Ông rất thích kể chuyện tiếu lâm trên bàn ăn và ông có một số chuyện khá hay, nhưng ông cứ kể đi kể lại mãi khiến một hôm em Luis Enrique phải đứng dậy nói:
- Bao giờ cười xong mọi người báo cho con biết nhé!
Trận đòn roi lịch sử diễn ra ngay đêm hôm nó không có mặt ở nhà bố mẹ mà cũng không có ở nhà ông bà. Mọi người phải đi tìm nó trong phạm vi nửa thị trấn, cho đến khi thấy nó trong rạp chiếu bóng. Vào lúc tám giờ tối, Celso Daza, người bán nước giải khát đã bán cho nó cốc nước ép hồng xiêm và nó biến mất cùng với cái cốc mà không chịu trả tiền. Bà chủ tiệm đồ ăn chiên rán bán cho nó một chiếc bánh nhân thịt, sau đó còn thấy nó nói chuyện với người soát vé. Nghe nó bảo có bố đang chờ ở trong rạp nên người soát vé cho nó vào. Trong rạp đang chiếu phim Quỷ hút máu người của đạo diễn George Melford cùng các diễn viên Carlos Villaría và Lupita Tovar. Trong mấy năm liền, Luis Enrique thường kể cho tôi nghe về nỗi sợ hãi của nó khi ánh đèn trong rạp bỗng bật sáng, đúng lúc bá tước Dracula sắp đưa những chiếc răng nanh của quỷ hút máu về phía cổ người đẹp. Ngồi ở ghế khuất nhất trong rạp, nó thấy bố và ông ngoại cùng chủ rạp và hai viên cảnh sát lần theo từng hàng ghế tìm nó. Họ sắp chịu thua thì ông ngoại bỗng nhìn thấy nó đang ngồi thu lu ở hàng cuối cùng trên gác lửng, ông dùng gậy chỉ về phía đó:
- Nó ở kia kìa!
Bố túm tóc nó lôi đi và trận đòn roi da mà nó phải hứng chịu đã trở thành cuộc trừng phạt huyền thoại trong lịch sử gia đình. Nỗi khiếp sợ cùng với lòng khâm phục của tôi trước thái độ cứng cỏi của em trai còn đọng mãi trong trí nhớ. Nhưng hình như nó đã vượt qua tất cả với thái độ ngày càng ương ngạnh hơn. Tuy nhiên, tôi nghiệm ra rằng, thái độ bướng bỉnh của nó không được bộc lộ trong những dịp hiếm hoi mà bố không có nhà.
Hơn bao giờ hết, lúc này, tôi lại càng núp dưới bóng của ông ngoại. Chúng tôi luôn ở bên nhau, sáng nào tôi cũng ở xưởng kim hoàn hoặc văn phòng của quản lý trang trại, nơi ông ngoại dành cho tôi một công việc mà tôi thích thú: vẽ móng sắt của các con bò cái sắp bị đưa đi giết thịt. Tôi làm việc này nghiêm túc đến mức có một chỗ hẳn hoi trong văn phòng. Vào giờ ăn trưa, kể cả lúc có khách mời, ông ngoại và tôi luôn ngồi đầu bàn, ông thì cầm cốc nhôm to đựng nước lạnh, còn tôi thì cầm chiếc thìa bằng bạc dùng để ăn tất cả các món. Đáng chú ý là khi cần một viên nước đá, tôi luôn dùng tay bóc đá ra từ trong cốc nên trong chiếc cốc đó thường có một lớp váng mỡ. Bà ngoại bênh tôi: “Nó có toàn quyền”.
Vào lúc mười một giờ, hai ông cháu đi đón chuyến tàu hỏa vì cậu Juan de Dios sống ở thị trấn Santa Marta, ngày nào cũng phải trả cho người lái tàu năm xu để nhờ chuyển một bức thư cho ông ngoại. Còn ông lại trả năm xu cho lái tàu chuyến trở về để chuyển thư trả lời cho cậu Juan. Buổi chiều, khi mặt trời vừa xuống núi, ông ngoại lại nắm tay, dắt tôi cùng đi giải quyết các nhu cầu cá nhân. Chúng tôi cùng đi đến tiệm cắt tóc - lâu hơn mười lăm phút so với tiêu chuẩn thông thường trong việc cắt tóc cho trẻ em; đi xem bắn pháo hoa trong dịp kỷ niệm các ngày lễ yêu nước - thường làm tôi rất sợ - xem các đám rước trong Tuần lễ Thánh - thấy tượng Chúa Cristo mà từ lâu tôi cứ tưởng đó là người thật. Hồi ấy, tôi thường đội chiếc mũ kiểu Scốt-len giống hệt như cái mũ của ông mà bà ngoại đã mua để cho tôi càng giống ông hơn. Kết quả mỹ mãn đến mức dượng Quinte nhìn ông cháu chúng tôi như một người ở hai thời kỳ khác nhau.
Bất cứ giờ nào trong ngày, ông ngoại cũng đều đưa tôi đi mua đồ ở cửa hàng đại lý của công ty chế biến hoa quả. Ở đấy, tôi được nhìn thấy cá pargo, lần đầu tiên được sờ nước đá và rùng mình vì cảm giác lạnh buốt. Tôi rất khoái vì được ăn bất cứ thứ gì mình thích, nhưng lại chán ngấy vì phải chơi cờ với ông người Bỉ và nghe mọi người bàn chuyện chính trị. Bây giờ, tôi mới nhận thấy là trong những chuyến dạo chơi với ông ngoại hồi ấy, chúng tôi nhìn thế giới theo hai cách khác nhau. Ông ngoại nhìn thế giới của ông trên đường chân trời của mình, còn tôi chỉ thấy thế giới ngang tầm mắt của mình. Ông chào bạn bè đang ở trên các bao lơn nhà, còn tôi chỉ thích mua đồ chơi bày bán ở vỉa hè.
Trong đêm đầu tiên, hai ông cháu dừng lại khá lâu giữa tiếng ồn ào của hội chợ thế giới Bốn góc phố. Ông ngoại đứng nói chuyện với ngài Antonio Daconte ngay cửa ra vào cửa hàng trang hoàng lòe loẹt của ông ấy, còn tôi thì ngơ ngác, kinh ngạc trước những điều mới lạ của thế giới. Tôi thích thú đến phát điên trước những trò diễn của các nhà ảo thuật trong hội chợ: nào là lôi những con thỏ ra khỏi mũ, nuốt lửa, cả những người dạy thú biết nói, rồi các nhạc công kéo đàn phong cầm và gào lên hát về những sự kiện xảy ra trong tỉnh. Bây giờ nghĩ lại, tôi đồ rằng một trong những nhạc công rất già, râu bạc trắng chính là Francisco huyền thoại.
Mỗi lần có bộ phim nào phù hợp, ngài Antonio Daconte lại mời ông ngoại và tôi đến xem buổi chiếu ra mắt đầu tiên ở rạp Olympia của ông ta, nhưng bà ngoại thì phản đối vì cho đó là trò chơi bời phóng túng rất có hại đối với đứa cháu ngây thơ. Nhưng ông ngoại thì cứ lờ tuốt đi. Và trong bữa ăn trưa ngày hôm sau, thể nào ông cũng bắt tôi kể lại chuyện phim cho mọi người nghe, rồi nhắc những đoạn tôi quên, sửa lại những lỗi tôi mắc và giúp tôi dựng lại những chi tiết khó trong câu chuyện. Đó là những bài học về kịch nghệ, chắc chắn sẽ giúp tôi rất nhiều, nhất là khi tôi mới bắt đầu chấm phá vài nét khôi hài trước khi học viết lách. Lúc đầu, mọi người khen nét hài hước trẻ con trong cách kể lại của tôi, nhưng rồi tôi đâm khoái tiếng vỗ tay dễ dãi của người lớn, đến mức họ phải bỏ đi mỗi khi nghe tiếng chân tôi đi đến gần. Sau này, chuyện tương tự cũng xảy ra như vậy với những bài ca mà người lớn bắt tôi hát trong các đám cưới và lễ sinh nhật.
Trước khi đi ngủ, ông ngoại và tôi còn ghé chơi một lúc ở xưởng vẽ của người Bỉ, một ông già nhút nhát đã xuất hiện ở Aracataca ngay sau Đại chiến thế giới lần thứ nhất. Tôi không nghi ngờ gì việc ông là người Bỉ vì giọng nói lúng túng và nỗi nhớ nghề đi biển của ông. Một nhân vật khác cùng sống trong ngôi nhà này nữa - đó là một người đàn ông Đan Mạch to lớn, ngoài hai đặc điểm nổi bật là điếc đặc và lưỡng tính lại có họ trùng với một vị Tổng thống nước Mỹ: Woodrow Wilson. Lên bốn tuổi, tôi đã biết người Bỉ khi được xem ông ta và ông ngoại chơi những ván cờ im lặng và dài bất tận. Ngay từ đêm đầu tiên, tôi đã ngạc nhiên thấy trong nhà này không có vật gì đáng giá cả. Ông ta là một nghệ sĩ có thể sống trong mớ hỗn độn những tác phẩm của chính mình: bức vẽ phong cảnh biển bằng phấn màu, ảnh những đứa bé trong lễ sinh nhật hoặc lễ ban Thánh thể đầu tiên, những bản sao đồ trang sức châu Á, các bức tượng làm bằng sừng bò, đồ gỗ theo phong cách và thời đại khác nhau được để chất lên nhau.
Tôi chú ý đến thân hình xanh xao đầy lông màu vàng rực như mái tóc của ông mà một đụn xõa xuống tận mặt làm ông gặp không ít khó khăn khi nói. Ông hút thuốc trong cái tẩu giống như những con sói biển, nhưng chỉ đốt lên khi chơi cờ, theo cách nói của ông ngoại nói thì chỉ là một thứ cạm bẫy để quấy rối sự tập trung suy nghĩ của đối thủ. Ông có một mắt giả bằng thủy tinh đung đưa theo người đối thoại nhiều hơn là theo con mắt lành của chính ông. Ông bị tàn tật phần dưới thắt lưng, luôn phải đi lom khom về phía trước, người hơi nghiêng về bên trái. Tuy gần như bị treo trên đôi nạng, ông vẫn như một con cá bơi lội dễ dàng trong bể đồ đạc lộn xộn của xưởng. Tôi chưa bao giờ được nghe kể về những chuyến đi biển của ông, mà hình như khá nhiều và rất mạo hiểm. Tôi chỉ biết nỗi đam mê duy nhất khi ra khỏi nhà của ông là đi xem phim. Cuối tuần, ông không bao giờ bỏ sót một buổi chiếu phim ở bất cứ thể loại nào.
Hồi đó, tôi chẳng bao giờ yêu mến ông già này, nhất là vào lúc chơi cờ vì ông phải suy nghĩ cân nhắc hàng giờ trước mỗi bước đi, còn tôi thì mệt lả đi vì buồn ngủ. Một đêm, nhìn thấy ông ấy quá cô đơn, tôi linh cảm thấy cái chết đang đến gần ông và tự nhiên cảm thấy vô cùng thương cảm ông người Bỉ này. Nhưng rồi sau đó, ông ta lại cứ tiếp tục kéo dài thời gian trước mỗi nước cờ khiến tôi lại thực lòng mong cho ông chết sớm.
Vào thời kỳ đó, ông ngoại treo trên tường buồng ăn một bức tranh vẽ người anh hùng giải phóng dân tộc - Simon Bolivar. Tôi không hiểu được tại sao không thấy vải liệm người chết, như vẫn thường thấy trong các đám tang, mà lại để ngài mặc quân phục nằm trên bàn làm việc ở văn phòng. Ông ngoại giải thích thắc mắc của tôi bằng câu nói dứt khoát:
- Ngài hẳn phải khác đi chứ!
Sau đó, với giọng run run như không phải của mình, ông đọc cho tôi nghe đoạn thơ dài được treo cạnh bức tranh mà tôi chỉ nhớ câu cuối: “Thưa Thánh bà Marta, người vốn mến khách, xin hãy đón vào lòng mình, xin người ban cho ông ấy một khoảnh nhỏ bãi biển để chết” . Kể từ đó, trong nhiều năm trời, tôi cứ nghĩ là người ta đã thấy Simon Bolivar nằm chết trên một bãi biển. Chính ông ngoại đã dạy tôi và nhắc tôi không bao giờ được quên rằng Bolivar là người vĩ đại nhất trong lịch sử thế giới. Tôi đâm lẫn lộn giữa lời của ông với câu nói chắc như đinh đóng cột của bà. Tôi đành hỏi lại ông có phải Bolivar vĩ đại hơn Chúa Jesus không. Ông lắc đầu trả lời tôi, nhưng không được chắc chắn như trước:
- Đó là hai chuyện khác hẳn nhau, cháu không nên lẫn lộn việc này với việc kia.
Bây giờ thì tôi hiểu rằng hồi ấy bà ngoại bắt ông phải đưa tôi cùng đi chơi vào buổi chiều vì bà tin là các chuyến đi này chỉ là cớ để ông đi thăm nhân tình nhân ngãi mà thôi. Có thể một vài lần ông ngoại dùng mẹo nghi binh này, nhưng đúng là không bao giờ ông đưa tôi đến nơi nào không nằm trong lịch trình dự kiến trước. Tuy vậy, bây giờ tôi vẫn nhớ hình ảnh lờ mờ của cái đêm mà vô tình tôi cùng với ai đó đi qua một căn nhà xa lạ và bỗng thấy ông ngoại ngồi ở phòng khách với tư thế người chủ thực sự. Tôi cũng không bao giờ hiểu được tại sao lúc ấy tôi lại có đủ sáng suốt để không kể cho ai biết việc này. Mãi cho đến tận cái ngày thanh thiên bạch nhật hôm nay.
Cũng chính ông ngoại là người cho tôi làm quen với chữ viết. Hồi tôi mới lên năm tuổi, vào một buổi chiều, ông cháu cùng đi xem thú của một đoàn xiếc vừa đến Cataca để biểu diễn dưới mái vòm nhà bạt to như một nhà thờ. Tôi chú ý nhất là một con thú gầy gò và buồn bã, mang dáng vẻ hốt hoảng của con thú mẹ.
- Đó là con lạc đà - ông ngoại nói với tôi.
Ai đó đứng gần liền chữa lại:
- Xin lỗi ngài đại tá, đó là con lạc đà một bướu (dromedario).
Bây giờ, tôi vẫn như hình dung ra lúc đó ông ngoại có cảm giác như thế nào khi có ai sửa lỗi cho mình trước mặt đứa cháu. Không nghĩ ngợi gì nhiều, ông liền khắc phục lại bằng một câu hỏi chính đáng:
- Thế chúng khác nhau như thế nào?
- Tôi không rõ điều đó - người kia trả lời - nhưng đây chính là con lạc đà một bướu.
Ông ngoại không phải là người có trình độ văn hóa cao và cũng không có ý định trở thành người như vậy, vì trước đó đã từng trốn khỏi trường học công lập ở thị trấn Riohacha để đi đùng đoàng ở một trong vô số cuộc nội chiến quanh vùng biển Caribe. Sau đó không bao giờ ông trở lại trường học nữa, nhưng suốt cuộc đời, ông luôn hiểu được sự thiếu thốn này và khao khát được bù đắp kiến thức. Ngay sau buổi chiều đến thăm đoàn xiếc thú đó, ông buồn bã trở về văn phòng và tra cứu ngay cuốn từ điển, hệt như một đứa trẻ. Lúc đó, ông và tôi mới vĩnh viễn hiểu được sự khác nhau giữa con lạc đà và con lạc đà một bướu. Cuối cùng, khi đưa cho tôi cái báu vật quật ngã được lừa đó, ông nói:
- Cuốn sách này không chỉ biết tất cả mọi thứ mà còn là kẻ duy nhất không bao giờ sai sót.
Đó là một cuốn sổ có minh họa, bên gáy sách có in cột đá hình người khổng lồ đội cả vòm trời. Tôi không biết đọc, biết viết, nhưng khi thấy cuốn sách dầy gần hai ngàn trang khổ lớn, đầy màu sắc và hình vẽ tuyệt đẹp thì cũng hiểu ngài đại tá hoàn toàn có lý. Ở nhà thờ, tôi đã hết sức kinh ngạc trước kích thước của cuốn kinh Misa, nhưng cuốn từ điển này còn dầy hơn nữa. Tôi cảm thấy như lần đầu tiên được ngắm nhìn cả thế giới vậy.
- Nó có bao nhiêu từ ngữ nhỉ? - tôi hỏi.
- Nó có đủ tất cả - ông ngoại trả lời.
Thực ra lúc đó, tôi cũng chưa cần phải biết chữ vì đã biết cách bày tỏ mọi ý tưởng bằng hình vẽ. Lúc lên bốn tuổi, tôi đã vẽ cảnh một diễn viên ảo thuật chặt đứt đầu vợ, sau đó lại lắp trở lại, như ông Richardine biểu diễn ở rạp Olympia. Thứ tự các bức tranh bắt đầu bằng việc dùng cưa cưa đứt đầu, sau đó đến cảnh giơ chiếc đầu còn chảy máu đầm đìa và kết thúc bằng cảnh người phụ nữ được lắp lại đầu cảm ơn khán giả đã vỗ tay hoan hô. Truyện tranh đã được người ta phát minh ra từ trước đó rất lâu, nhưng mãi sau này tôi mới được biết qua các phụ trương in màu của các tờ báo chủ nhật. Tôi liền bắt chước nghĩ ra các câu chuyện bằng tranh, nhưng chưa có lời đối thoại. Khi được ông ngoại cho cuốn từ điển, tôi mới tò mò lần theo các chữ theo thứ tự chữ cái và đọc say mê như tiểu thuyết dù chả hiểu được gì. Đó là lần tiếp xúc đầu tiên với cuốn sách sẽ trở thành yếu tố căn bản trong sự nghiệp văn chương của tôi.
Với trẻ con, một khi đã được nghe câu chuyện đầu tiên mà chúng thích thú thì khó mà bắt chúng nghe chuyện khác. Tôi tin là việc này không đúng với những đứa trẻ biết kể chuyện, và cũng không đúng với bản thân tôi. Tôi thường muốn nghe thêm nữa. Tôi thường khát khao chờ đợi được nghe thêm chuyện khác vào ngay ngày hôm sau, nhất là những chuyện bí ẩn về lịch sử các thánh.
Những chuyện xảy ra với tôi ở ngoài đường phố đều có tiếng vọng mạnh mẽ trong nhà. Những người phụ nữ làm bếp kể lại cho những người đến từ các chuyến tàu hỏa, và những người này lại đem đến khối chuyện khác, rồi tất cả được bổ sung vào dòng thác chuyện kể truyền miệng. Một số sự kiện được biết lần đầu qua tiếng hát của các nhạc công chơi đàn phong cầm ở các phiên chợ, sau đó, được các du khách kể lại và bổ sung thêm chi tiết. Tuy nhiên, chuyện gây ấn tượng nhất thuở thiếu niên của tôi xảy ra vào một buổi sáng sớm Chủ nhật, khi chúng tôi chuẩn bị đi lễ nhà thờ thì bà ngoại nói một câu lạc lõng:
- Tội nghiệp ông Nicolas lại không được dự lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống.
Tôi rất mừng vì lễ Chủ nhật thường rất dài đối với tuổi của tôi và những lời giảng đạo của cha xứ Angarita, người mà tôi yêu mến từ nhỏ, khiến tôi buồn ngủ. Nhưng niềm vui của tôi chỉ là ảo tưởng vì ông ngoại đã kéo tôi - vẫn đang bận đồ đi lễ Misa - đến nhà của ông già người Bỉ. Những người canh gác nhận ra ông ngoại từ xa nên mở cửa và nói:
- Mời ngài đại tá vào.
Chỉ lúc này tôi mới hiểu là ông người Bỉ đã cùng con chó hít hơi độc của muối chất cianomic pha với vàng, sau khi xem xong Phía Tây không có gì lạ, một bộ phim của Lewis Milestone được chuyển thể từ tiểu thuyết cùng tên của Erich Maria Remarque. Trực giác của người ta thường dẫn đến sự thật, mỗi khi các phương pháp điều tra không giải thích được nguyên do, vì thế người ta suy đoán rằng, ông người Bỉ đã sốc mạnh khi liên tưởng đến cảnh cả đơn vị tuần tiễu của mình bị tan tác trong đầm lầy vùng Normandia.
Phòng khách nhỏ chìm trong bóng tối mờ mờ vì các cửa sổ đều đóng, nhưng buồng ngủ vẫn được các tia nắng buổi sáng từ ngoài vườn rọi vào. Và ở đó, ngài thị trưởng và hai nhân viên đang chờ ông ngoại đến. Thi hài ông người Bỉ được che kín bởi một tấm vải liệm đặt trên chiếc giường dã chiến, những chiếc nạng được đặt ngay bên cạnh ngang tầm tay, chứng tỏ người quá cố đã để đó trước khi nằm xuống chết. Ở bên cạnh, trên chiếc ghế gỗ nhỏ, có chiếc thùng gỗ đựng chất cianomic vừa bốc hơi hết cùng một tờ giấy có ghi mấy chữ to đùng được vẽ bằng bút lông: “Đừng đổ lỗi cho ai, tôi tự tử vì chuyện tầm phào”. Những thủ tục pháp lý và các chi tiết của tang lễ được ông ngoại giải quyết nhanh gọn trong không đầy mười phút. Tuy vậy, đối với tôi, đó là mười phút ấn tượng nhất trong cuộc đời.
Vừa bước chân vào cửa, tôi đã rùng mình vì cái mùi bốc ra từ buồng ngủ. Mãi sau này tôi mới biết, đó chính là mùi chất cianomic mà ông người Bỉ đã hít cho đến chết. Nhưng cảm giác này cũng chưa gây ấn tượng mạnh và lâu dài bằng việc nhìn thấy xác chết khi ngài thị trưởng kéo tấm vải lên cho ông ngoại xem. Xác chết trần truồng, cứng ngắc và co quắp với làn da thô ráp phủ đầy lông màu vàng, đôi mắt màu xanh vẫn mở trừng trừng nhìn chúng tôi, như đang còn sống. Nỗi hãi hùng vì cảm thấy mình bị người chết nhìn vẫn khiến tôi phải rùng mình suốt nhiều năm sau mỗi khi đi qua một nấm mộ không có cây thập giá, dành cho những người tự vẫn, phải chôn ở cách xa nghĩa trang theo quy định của nhà thờ. Tuy nhiên, khi nhìn thấy xác chết, ngoài nỗi sợ hãi, trong ký ức tôi còn ghi mãi nỗi chán ghét mà tôi phải chịu đựng trong những buổi tối ở nhà ông người Bỉ. Có lẽ vì thế mà tôi đã nói với ông ngoại khi vừa rời khỏi nhà này:
- Thế là ông người Bỉ không còn chơi cờ được nữa rồi!
Đó là một ý nghĩ đơn giản, nhưng khi về đến nhà, ông ngoại đã kể lại cho mọi người nghe như một ý tưởng thiên tài. Rồi những người phụ nữ lại truyền bá nó một cách nhiệt tình đến mức, suốt một thời gian sau đó, tôi phải trốn những người khách đến nhà để khỏi phải nghe mọi người nhắc lại hoặc bắt tôi nhắc lại câu nói đó. Ngoài ra, qua chuyện này, tôi thấy rõ một đặc điểm của người lớn, sẽ rất bổ ích cho nghề viết văn của mình: mỗi người nhắc lại câu chuyện với những chi tiết mới do tự mình thêm thắt vào cho đến khi có nhiều phiên bản khác nhau, và không có cái nào còn giống với nguyên bản nữa. Không ai có thể hình dung ra lòng thương hại, của tôi từ thuở ấy đối với những đứa trẻ đáng thương, được bố mẹ coi là thần đồng rồi bị bắt hát cho những người khách đến thăm nghe, bị buộc phải bắt chước tiếng chim và thậm chí phải nói dối để mua vui. Tuy nhiên, bây giờ tôi nghiệm ra rằng câu nói đơn giản đó chính là thành tựu văn chương đầu tiên của tôi.
Năm 1932, người ta loan tin rằng quân đội Peru, dưới sự chỉ huy quân sự của tướng Luis Miguel Sanchez Cerro, đã chiếm thị trấn Leticia không được phòng ngự bên bờ sông Amazon, phía cực Nam của Colombia. Tin này làm chấn động cả nước. Chính phủ ra lệnh tổng động viên toàn quốc và phát động phong trào quyên góp từng nhà một tất cả những đồ trang sức giá trị nhất. Chủ nghĩa yêu nước đã được nhân dân phát huy đến mức chưa từng thấy trước cuộc tấn công xảo quyệt của quân Peru. Những người đi quyên góp đã không ngừng nhận được sự đóng góp tự nguyện của mọi nhà, nhất là những chiếc nhẫn cưới, vốn được coi là vật quý do giá trị thực cũng như giá trị biểu trưng của nó.
Ngược lại, đó là một trong những thời kỳ hạnh phúc nhất đối với tôi vì có nhiều thứ đã bị đảo lộn. Kỷ luật trường học khô cứng đã rạn vỡ, thay vào đó là hoạt động sáng tạo ngoài đường phố và ở từng nhà của quần chúng. Người ta thành lập tiểu đoàn dân sự, thành viên chủ yếu là thanh niên, không phân biệt giai cấp xã hội và màu da; người ta cũng lập các đội Chữ thập đỏ của phụ nữ; người ta còn tự sáng tác các hành khúc chiến đấu chống quân xâm lược hung ác, và một tiếng hô đồng thanh trên toàn quốc: “Colombia muôn năm, đả đảo Peru!”
Tôi không biết cuộc chiến tranh đó đã kết thúc như thế nào, bởi vì sau một thời gian, tinh thần hăng hái cứ xẹp dần mà không có lời giải thích nào đầy đủ. Nền hòa bình được củng cố sau khi tướng Sanchez Cerro bị một người chống đối vương quốc khát máu của ông ta ám sát, và tiếng hò hét chiến tranh lại trở về trong các trận đấu bóng đá ở trường học. Nhưng bố mẹ tôi, vốn đóng góp những chiếc nhẫn cưới, thì không bao giờ có thể lấy lại được sự tự nhiên của mình.
Theo trí nhớ vào thời điểm sớm nhất, thì nỗi đam mê âm nhạc của tôi vào thời đó khởi đầu từ sự khâm phục các nhạc công đàn phong cầm với các bài hát lãng tử của họ. Tôi thuộc lòng một số bài mà các bà làm việc trong bếp phải hát kín đáo, thì thầm, vì bà ngoại khinh ghét chúng như thể đó là những bài hát của đám người hạ đẳng. Tuy vậy, tôi chỉ thực sự thấy nhu cầu cấp thiết phải ca hát để tự khẳng định mình nhờ ảnh hưởng của những bản tango của Carlos Gardel (nhạc sĩ, ca sĩ hát nhạc tango người Arhentina - ND), những ca khúc làm rung động trái tim một nửa thế giới. Tôi ăn mặc như ông ấy, với chiếc mũ phớt, khăn quàng lụa và chẳng cần ai năn nỉ gì nhiều tôi cũng có thể xông ra hát thật to một khúc tango. Cho đến một sớm mai đen đủi, bà bác Francisca đánh thức tôi dậy bằng cái tin là Carlos Gardel đã tử nạn trong vụ hai chiếc máy bay đâm vào nhau trên bầu trời Medellín. Mấy tháng trước, trong một buổi biểu diễn từ thiện, tôi đã hát bài “Xuống dốc” cùng với hai chị em nhà Echeverri, người gốc thủ đô Bogota, là giảng viên trường sư phạm và là linh hồn của các hoạt động từ thiện và các lễ kỷ niệm ái quốc thường được tổ chức ở Cataca. Giọng hát của tôi có cá tính đến mức mẹ không thể phản đối ý nguyện của tôi muốn học chơi đàn dương cầm chứ không học đàn phong cầm mà bà ngoại vốn rất ghét.
Ngay tối hôm ấy, tôi đưa chị em Echeverri về nhà để họ dạy tôi chơi đàn. Trong khi hai cô gái ngồi nói chuyện, tôi nhìn đắm đuối chiếc đàn dương cầm đặt ở góc phòng khách, ước lượng xem chân mình có với đến bàn đạp không và các ngón cái và ngón út có đủ dài để với tới các phím đàn ở các quãng ngắt hoặc tôi có đọc nổi các nốt trên khuôn nhạc không. Trong hai tiếng đồng hồ có mặt hai vị khách quý, tôi đã ấp ủ bao niềm hy vọng đẹp đẽ. Nhưng thật vô ích, vì cuối cùng các cô giáo đã nói là chiếc đàn dương cầm này không dùng được và họ không biết khi nào mới có thể sử dụng lại được. Ý tưởng học đàn đành gác lại chờ năm sau, khi thợ sửa đàn quay lại; nhưng phải nửa đời sau mới có dịp quay lại chuyện này, khi tôi vô tình nhắc lại với mẹ nỗi đau không biết chơi đàn dương cầm. Mẹ thở dài:
- Còn tệ hơn nữa, con ạ - mẹ nói - hôm đó chiếc đàn không bị hỏng đâu.
Lúc ấy, tôi mới biết là trước đó mẹ đã thỏa thuận với các cô giáo, bịa ra cớ đàn hỏng để tránh cho tôi không phải chịu sự tra tấn của môn học đàn nhàm chán mà bà đã từng chịu đựng suốt năm năm ở trường trung học. Cũng may là vào những năm đó ở Cataca, người ta cho mở một trường tiểu học thực hành theo mẫu của Montessori; (Maria Montessori (1870-1952) nhà sư phạm có tiếng của Italia, người đề xướng lý thuyết về phát triển trí nhớ qua năm giác quan đối với trẻ nhỏ - ND) trong đó, các giáo viên dùng phương pháp luyện tập thực tế để kích thích năm giác quan và dạy hát. Tài năng và sắc đẹp của cô hiệu trưởng Rosa Elena Fergusson đã làm cho việc học hành trở nên tuyệt diệu như chơi đùa vậy. Tôi đã học được giá trị của cách lấy hơi như một năng lực gợi nhớ kỷ niệm. Tôi đã điều chỉnh được vị giác đến mức uống bia rượu mà cảm thấy được mùi cửa sổ, ăn bánh mì cũ lại thấy có mùi chiếc rương, uống nước thánh có mùi lễ Misa. Về mặt lý thuyết, người ta rất khó hiểu những thú vui chủ quan đó, nhưng những ai đã thực hành nó thì sẽ hiểu ngay.
Tôi tin rằng không có phương pháp nào tốt hơn kiểu thực hành trên đây để gợi cho trẻ con những vẻ đẹp của thế giới và đánh thức sự tò mò của chúng về những bí ẩn của cuộc đời. Người ta phản đối phương pháp học này vì cho rằng nó khiến bọn trẻ trở nên bướng bỉnh và tự kỷ - có lẽ điều này nghiệm đúng với tôi.
Ngược lại, tôi không bao giờ học được cách làm phép chia hoặc lấy căn bậc hai cũng như không thể điều khiển được các khái niệm trừu tượng. Hồi đó, bọn tôi quá nhỏ nên bây giờ tôi chỉ còn nhớ hai người bạn. Người thứ nhất là Juanita Mendoza, bị chết vì bệnh thương hàn lúc mới bảy tuổi và ra đi chỉ trong một thời gian ngắn sau khi nhà trường làm lễ khánh thành. Ấn tượng về cô bé sâu sắc đến mức tôi không bao giờ quên được vòng hoa và khăn che mặt cô dâu để trên quan tài trong buổi lễ tang. Người thứ hai là Guillermo Valencia Abdala, người trở thành bạn thân của tôi ngay từ giờ ra chơi đầu tiên và sau này là bác sĩ mà tôi nhờ chữa trị những cơn mệt mỏi vào các sáng thứ Hai sau những ngày rượu chè túy lúy.
Có lẽ em gái Margot cảm thấy rất bất hạnh khi học ở trường đó, mặc dù tôi chưa từng nghe nó nói ra điều này. Nó ngồi im lặng trên ghế, kể cả giờ ra chơi, mắt nhìn đăm đăm vào một điểm mơ hồ cho đến khi nghe tiếng chuông báo tan lớp. Hồi đó, tôi chưa phát hiện kịp thời việc nó nhai đất lấy ở vườn nhà, mà nó giấu trong túi áo những lúc ngồi một mình trong phòng học vắng vẻ.
Tôi học đọc rất vất vả. Tôi không hiểu lý do gì mà chữ m đọc là êmê, còn nguyên âm sau đó lại không đọc là emea, mà lại là ma. Tôi không thể đọc được như vậy. Khi đến trường Montessori, cô giáo không dạy tên mà dạy cách phát âm các phụ âm. Và nhờ vậy, tôi đã đọc được hết cuốn sách đầu tiên nằm trong chiếc rương đầy bụi bặm vứt trong kho. Cuốn sách rách gáy và mất nhiều trang này đã cuốn hút tôi đến mức người yêu của dì Sara phải thốt lên kinh ngạc: “Mẹ kiếp, thằng nhỏ này chắc sẽ thành nhà văn đây”.
Câu nói của một người sống bằng nghề viết lách đã làm tôi vô cùng xúc động. Phải mấy năm sau tôi mới biết đó là cuốn Ngàn lẻ một đêm. Tôi thích nhất một câu chuyện, rất ngắn, giản dị và được coi là hay nhất mà tôi đã đọc trong đời, mặc dù cho đến tận bây giờ tôi vẫn không chắc là có phải đã đọc nó ở trong cuốn sách đó hay không và cũng không có ai làm sáng tỏ việc này cho tôi cả. Truyện thế này: một người đánh cá hứa với bà hàng xóm là sẽ tặng con cá đầu tiên đánh được nếu bà cho anh ta một cục chì để móc vào lưới, và khi bà hàng xóm mổ bụng cá để chuẩn bị rán ăn thì thấy một viên kim cương bằng quả bàng.
Tôi thường coi cuộc chiến tranh của Peru là mở đầu cho thời kỳ suy tàn của thị trấn Cataca, bởi vì ngay sau khi người ta tuyên bố đã lập lại hòa bình, thì bố tôi liền rơi vào trạng thái mơ hồ mất phương hướng, để cuối cùng quyết định đưa cả gia đình về sống ở Sincé, quê hương ông. Tôi và em trai Luis Enrique cùng với bố đi chuyến tiền trạm, mà thực sự là trải qua một trường đời mới mẻ với nền văn hóa khác hẳn với nền văn hóa mà chúng tôi vẫn có; tưởng như chúng tôi đã sống ở hai hành tinh khác hẳn nhau. Một ngày sau khi đến, người nhà đã đưa chúng tôi sang chơi vườn nhà người hàng xóm và ở đó chúng tôi học cưởi lừa, học vắt sữa bò, học hoạn bê, học đặt bẫy chim cút, học câu cá và hiểu tại sao chó đực đứng quay lưng và móc với chó cái.
Luis Enrique thường đi trước tôi trong việc khám phá cái thế giới mà trước đây bà ngoại thường cấm đoán, còn bây giờ bà nội Argemira không hề ngần ngại nói với chúng tôi ở Sincé. Bao nhiêu là chú bác, cô, bao nhiêu anh chị em thúc bá đủ loại màu da, bao nhiêu là bà con thân thích mang nhiều họ kỳ lạ, nói nhiều thứ tiếng lóng làm đầu chúng tôi cứ rối tinh cả lên, mãi sau mới hiểu được. Ông nội, ngài Gabriel Martinez vốn là giáo viên ở một trường học huyền thoại, tiếp hai anh em chúng tôi trong vườn cây mênh mông, với những quả xoài nức tiếng trong vùng vì hương vị ngon và to mập. Ngay từ đầu vụ hàng năm, ông đã đếm từng quả, rồi ông lại tự tay hái từng quả để bán với giá một xu một trái. Trước khi chia tay, sau buổi nói chuyện thân mật về trí nhớ của nhà giáo, ông hái quả xoài trên cây xum xuê nhất cho cả hai đứa.
Bố nói chuyến đi đó là một bước quan trọng trong việc hợp nhất gia đình, nhưng ngay từ khi đến, chúng tôi đã nhận ra mục tiêu bí mật của bố là lập một cửa hàng bán thuốc ở quảng trường lớn của thị trấn. Hai anh em chúng tôi xin vào học ở trường của thầy Luis Gabriel Mesa, nơi chúng tôi cảm thấy tự do hơn và nhanh chóng hòa nhập với cộng đồng. Chúng tôi thuê một căn nhà rộng rãi hai tầng ở góc tốt nhất của thị trấn, lại có ban công hướng ra quảng trường và trong những buồng ngủ vắng lặng, đêm đêm vẳng tiếng chim vạc như tiếng nói của hồn ma vô hình.
Tất cả đã sẵn sàng cho chuyến đổ bộ hạnh phúc của mẹ và hai em gái, nhưng đúng lúc ấy, có điện báo ông ngoại Nicolas Márquez vừa mất. Ông bị đau họng nhưng đã được chẩn đoán là bị ung thư, chỉ vừa kịp chuyển đến Santa Marta để chết. Người duy nhất trong nhà chúng tôi nhìn thấy ông trong cơn hấp hối là em Gustavo, mới sáu tháng tuổi, được ai đó đặt trên giường để tiễn đưa ông ngoại. Trong lúc hấp hối, ông đã vuốt ve em thay cho lời từ biệt. Mãi nhiều năm sau, tôi mới nhận thức được cái chết bất ngờ đó đã có ý nghĩa thế nào đối với tôi.
Dù thế nào đi chăng nữa thì việc chuyển về Sincé vẫn được tiến hành, nhưng không chỉ mẹ và các em mà cả bà ngoại Mina, bà bác Mama lúc này đã ốm yếu lắm rồi và bà bác Pa là người chăm sóc hai bà. Nhưng niềm vui với chỗ ở mới và nỗi buồn vì sự thất bại của dự án đến cùng một lúc - sau không đầy một năm - chúng tôi lại trở về căn nhà cũ kỹ ở Cataca “mũ văng khỏi đầu” như mẹ nói về tình cảnh không lối thoát lúc bấy giờ. Bố ở lại Barranquilla nghiên cứu cách thức mở thêm cửa hàng thuốc thứ tư.
Kỷ niệm cuối cùng của tôi về căn nhà ở Cataca trong những ngày khủng khiếp đó là đống lửa ở ngoài vườn để đốt quần áo của ông ngoại. Những chiếc áo ngắn tay dã chiến, những bộ quần áo bằng vải đay màu trắng của ngài Đại tá dân sự, trông rất giống con người ông nên khi cháy mà người ta vẫn có cảm tưởng như có thân thể ông ở trong đó. Nhất là đống mũ len các màu, vốn là dấu hiệu để phân biệt ông từ xa. Trong số đó, tôi cũng nhận ra chiếc mũ kẻ ca rô của tôi do vô tình bị đốt lầm và tôi chợt rùng mình khi nhận ra rằng qua nghi lễ buồn thảm này đúng là tôi bỗng đóng vai chính trong cái chết của ông ngoại. Bây giờ, tôi nhìn vấn đề rõ ràng hơn: có một chút gì trong tôi đã chết theo ông. Nhưng tôi cũng tin chắc rằng, vào thời điểm đó, tôi đã là một nhà văn của trường tiểu học dù còn phải học viết.
Trong chuyến đi bán nhà không thành cùng với mẹ, tôi cũng giữ được ý chí tiếp tục đó. Vì tàu hỏa trở về có thể đến bất cứ lúc nào nên hai mẹ con phải ra ngay nhà ga mà không kịp chào từ biệt ai cả. “Lần sau mẹ con mình sẽ quay lại nơi này với thời gian lâu hơn” - mẹ nói. Đó là uyển ngữ duy nhất mà mẹ nghĩ ra lúc bấy giờ, để nói rằng sẽ không bao giờ quay về đây nữa. Về phần mình, tôi cũng biết rằng, từ lúc đó cho đến hết đời, mình sẽ không bao giờ thôi nhớ tiếng sấm rền vào lúc ba giờ chiều.
Chúng tôi là những bóng ma duy nhất có mặt ở sân ga, ngoài nhân viên bán vé kiêm thêm những việc lặt vặt, mà bây giờ phải cần đến hai hoặc ba chục người làm hùng hục mới xong. Cái nóng hầm hập như bên lò nung sắt. Phía bên kia đường tàu vẫn còn phế tích khu phố cấm của Công ty chuối ngày xưa, những biệt thự cũ không còn cửa sổ đỏ, những cây cọ khô héo giữa đám cỏ dại, đống đổ nát toàn những xà bần của bệnh xá. Xa hơn là căn nhà của trường Montessori đã bị bỏ hoang phế giữa những cây bàng ủ rũ và bãi đá lổn nhổn trước nhà ga, chẳng còn dấu vết gì của cái quá khứ vĩ đại nữa.
Mỗi vật đập vào mắt lại khơi dậy trong tôi niềm khát khao cháy bỏng phải viết để không bị chết mòn. Cảnh vật vẫn giống như mọi khi, nhưng chỉ sáng nay tôi mới nhận ra rằng, chính nó sẽ tạo cơ hội cho cảm hứng, một từ đáng ghét tuy quá thực tế, có thể quét sạch mọi thứ trên đường đi để ta kịp thời đến thẳng đống tro tàn của chính nó.
Tôi không nhớ là hai mẹ con có nói gì thêm trên chuyến tàu hỏa trở về hay không. Nhưng khi đã ở trên thuyền, vào sáng sớm thứ Hai, trong làn gió mát của đầm lầy còn ngái ngủ, mẹ tôi bỗng nhận thấy tôi cũng không ngủ được, liền hỏi:
- Con đang nghĩ gì thế?
- Con đang viết văn - tôi trả lời. Và tôi cố tỏ ra dễ thương hơn.
- Nói đúng hơn, con đang nghĩ về những điều sẽ viết khi về đến văn phòng.
- Con không sợ bố buồn rầu đến chết sao?
Tôi cố thoát tình cảnh bế tắc bằng một đòn tiến công khác:
- Có nhiều nguyên nhân để chết, nhưng nguyên cớ mà mẹ nói lại ít có khả năng làm chết người hơn cả.
Đây chưa phải là dịp thuận lợi nhất để mạo hiểm lao vào cuốn tiểu thuyết thứ hai, khi còn mắc kẹt trong vũng lầy của cuốn thứ nhất và những truyện ngắn, nhưng ngay trong đêm đó tôi đã tự xác định cho mình lời thề chiến đấu: viết văn hay là chết. Hoặc như Rilke đã nói: “Nếu bạn tin là có thể sống mà không cần viết văn thì tốt nhất là đừng viết”.
Trên chiếc taxi chở hai mẹ con đến bến tàu, tôi ngắm nhìn thành phố Barranquilla cổ lỗ, cảm thấy sao mà nó lạ lẫm và buồn tẻ đến thế, nhất là dưới những tia sáng đầu tiên của những ngày tháng Hai do Chúa Trời sắp xếp. Viên thuyền trưởng của tàu Eline Mercedes mời tôi cùng đi với mẹ đến thị trấn Sucre, nơi gia đình sống từ mười năm nay. Nhưng tôi không hề nghĩ đến chuyện ấy. Tôi ôm hôn mẹ. Mẹ nhìn vào mắt tôi, và lần đầu tiên kể từ chiều hôm trước, mỉm cười với tôi, và như mọi lần, bà tinh quái hỏi:
- Thế mẹ phải nói với bố thế nào đây?
Tôi thành thật trả lời:
- Mẹ nói là con rất thương yêu bố và rằng nhờ có bố mà con sẽ trở thành nhà văn. Rồi tôi lạnh lùng nói chặn trước để mẹ không còn sự lựa chọn khác. - Con sẽ không làm việc gì khác ngoài viết văn.
Tôi thích nói điều này, khi thì đùa cợt khi thì nghiêm túc, nhưng chưa bao giờ với niềm tin vững chắc như hôm ấy. Tôi đứng trên bến tàu, đáp lại cử chỉ vẫy tay từ biệt của mẹ cho đến khi tàu khuất sau những xác tàu đắm. Sau đó, tôi vội về văn phòng báo El Heraldo.
Với niềm háo hức cháy bỏng trong lòng, chưa kịp thở, tôi đã bắt đầu viết ngay cuốn tiểu thuyết thứ hai bằng chính câu nói của mẹ: “Mẹ đến đây đề nghị con cùng đi bán nhà”.
Hồi đó, cách viết của tôi khác với sau này, khi đã trở thành nhà văn chuyên nghiệp. Chỉ viết trên máy chữ bằng những ngón tay trỏ, cũng vẫn như bây giờ, nhưng không xé bỏ từng đoạn cho đến khi thấy hài lòng như bây giờ, mà viết ra hết tất cả những gì trong dạng thô mộc. Tôi nghĩ rằng hệ thống này là do phải theo kích thước của tờ giấy, vốn được cắt ra từ trục giấy trong máy in, nên có khi dài đến năm mét. Kết quả là những bản thảo vừa dài vừa hẹp, như các bản thảo bằng giấy cói, tuôn ra từ máy đánh chữ và lăn lóc dưới đất khi ý tưởng tuôn trào. Tổng biên tập không đặt bài theo trang, cũng không theo số chữ mà theo số lượng milimet giấy. “Một bài phóng sự một mét rưỡi”, ông ta nói. Tôi lại nhớ đến hình thức này khi đã về già, vì nhận thấy nó giống như màn hình của máy vi tính.
Tôi bắt đầu viết cuốn tiểu thuyết này hăng hái đến mức mất luôn cả khái niệm về thời gian. Mười giờ sáng, tôi đã viết được hơn một mét thì Alfonso Fuenmayor bỗng mở cửa chính và đứng như tảng đá, quên cả việc rút chìa khóa, đi nhầm vào nhà vệ sinh. Một lúc sau ông mới nhận ra tôi.
- Mẹ kiếp, ông ở đây làm gì vào giờ này vậy? - Ông ta ngạc nhiên hỏi tôi.
- Tôi đang viết cuốn tiểu thuyết của đời mình - tôi trả lời.
- Cuốn khác nữa à? - Alfonso nói với giọng khích bác - Thì ra ông có nhiều cuộc đời hơn một con mèo đấy nhỉ?
- Cũng như cuốn cũ, nhưng theo cách khác - tôi nói với ông ta để khỏi phải đưa ra những lời giải thích vô ích.
Chúng tôi không xưng mày tao với nhau vì theo thói quen khá lạ lùng của người Colombia: ngay từ lời chào quen nhau đầu tiên thì xưng mày tao, nhưng khi đã thân tình như vợ chồng, thì lại chuyển sang dùng đại từ nhân xưng trang trọng.
Ông ta lôi sách và giấy tờ từ trong chiếc cặp ra để lên bàn viết. Rồi tò mò lắng nghe về những xáo trộn tình cảm mà tôi cố truyền đạt lại qua câu chuyện kể nhiệt tình về chuyến đi vừa qua. Cuối cùng, vì không thể tránh được nỗi bất hạnh là không thể giải thích đầy đủ, tôi đành nói một câu thay lời kết luận:
- Đó là sự việc lớn nhất xảy ra trong đời tôi - tôi khẳng định.
- Cũng còn may rằng đó sẽ không phải là sự việc cuối cùng - Alfonso nói.
Ông ta thậm chí không nghĩ đến điều đó vì không thể chấp nhận ý nghĩ là phải giảm bớt tầm cỡ thực của sự việc. Vì quá hiểu ông nên tôi nhận ra ngay rằng nỗi xúc động của tôi về chuyến đi vẫn không làm ông mủi lòng ở cái mức tôi mong đợi. Nhưng dù sao thì ông cũng để tâm đến việc này nên từ ngày hôm sau, thỉnh thoảng ông lại hỏi tôi về chuyện viết lách; chỉ thái độ này của ông ta cũng đủ để tôi suy nghĩ là có điều gì đó cần phải sửa lại.
Vừa nói chuyện, tôi vừa phải thu dọn mớ giấy tờ của mình để trao lại bàn làm việc cho Alfonso viết bài xã luận đầu tiên của tạp chí Crónica. Nhưng Alfonso lại nói điều khiến tôi vui suốt ngày đó: số báo đầu tiên dự kiến phát hành vào tuần tới đã phải hoãn lại đến lần thứ năm vì chưa mua đủ giấy in. “Nếu may mắn”, Alfonso nói, “thì ba tuần nữa mới xuất bản được”.
Tôi nghĩ rằng khoảng thời gian tạm hoãn ra báo sẽ vừa đủ để tôi xác định bắt đầu cuốn sách như thế nào, vì lúc đó tôi còn quá kém cỏi chưa nhận biết được rằng mỗi cuốn tiểu thuyết không bắt đầu như ta muốn, mà phải như nó cần. Thế là, sáu tháng sau, khi tưởng là đã ở giai đoạn nước rút, tôi vẫn phải viết lại gần như toàn bộ mười trang đầu tiên để có thể thuyết phục được độc giả đọc tiếp; ấy vậy mà đến tận bây giờ, tôi vẫn thấy những trang đó vẫn chưa đạt. Khoảng thời gian tạm hoãn này cũng làm cho Alfonso dễ thở hơn, nên thay vì than thở, thì ông liền cởi áo khoác ngoài, rồi ngồi vào bàn tiếp tục sửa chữa những lỗi của bản in mới nhất, cuốn từ điển do Viện hàn lâm hoàng gia Tây Ban Nha xuất bản, vừa đến tay chúng tôi mấy ngày hôm trước. Đó là thú tiêu khiển thích thú nhất của ông trong lúc rỗi rãi. Mọi chuyện bắt đầu khi tình cờ ông phát hiện ra một lỗi trong cuốn từ điển tiếng Anh và liền gửi cho những người biên tập ở Luân Đôn lá thư kèm với lỗi do chính mình phát hiện cùng một xấp tài liệu lý giải kèm theo. Có lẽ ông cũng không trông mong họ sẽ biết ơn mình, mà chỉ muốn bày tỏ với họ chút hóm hỉnh thường ngày của chúng tôi qua bức thư, trong đó có viết: “Cuối cùng thì Anh quốc cũng mắc chút nợ ân tình với người Colombia”. Những người biên tập đã gửi một bức thư lời lẽ rất đáng yêu, nhận lỗi của mình và đề nghị ông tiếp tục hợp tác. Trong vài năm, không những ông phát hiện ra một số lỗi của cuốn từ điển đó, mà còn ở những cuốn thuộc ngôn ngữ khác. Từ đó, ông có thú tiêu khiển là một mình sửa chữa lỗi các cuốn từ điển tiếng Tây Ban Nha, Anh, Pháp khi thì ở phòng khách hoặc lúc đứng chờ xe buýt, hoặc trong vô vàn những cuộc xếp hàng khác ở đời, ông thích thú cái nhiệm vụ tỉ mẩn săn thỏ non trong đám cỏ dại của ngôn từ.
Vào lúc mười hai giờ, bầu không khí đã trở nên khó chịu hết sức. Khói thuốc lá mà hai người thi nhau phả ra đã che mờ ánh sáng le lói của hai chiếc cửa sổ duy nhất, nhưng không có người nào chịu mở cửa cho thông gió có lẽ là cả hai đều muốn hít thở thứ khói này cho đến chết. Nhưng với cái nóng thì khác. Tôi may mắn được di truyền tính chịu nóng đến tận ba mươi độ trong bóng râm.
Trái lại, khi cái nóng tăng dần, Alfonso cứ phải liên tục cởi dần đồ mặc trên người mà vẫn không ngưng công việc: lúc đầu là chiếc cà vạt, rồi áo sơ mi, áo lót. Việc này cũng có lợi, quần áo bao giờ cũng khô, trong khi người Alfonso thì đẫm mồ hôi và khi mặt trời khuất núi, ông có thể mặc lại áo quần thẳng nếp và mát mẻ như buổi sáng sớm. Có lẽ đó cũng là bí quyết làm cho dù ông đi đâu và lúc nào trông cũng đàng hoàng với áo lanh trắng, cà vạt thắt khéo và mái tóc cứng như rễ tre, chẻ ngôi giữa thẳng tắp như đường thẳng toán học. Lúc một giờ chiều, từ nhà tắm đi ra, ông lại ăn vận như vậy chẳng khác gì vừa thức dậy khỏe khoắn sau giấc ngủ trưa. Khi đi qua chỗ tôi, ông hỏi:
- Chúng mình đi ăn trưa chứ?
- Thưa thầy, con không đói ạ - tôi nhã nhặn trả lời.
Câu trả lời thẳng tuột theo đúng quy tắc gia đình: nếu trả lời đồng ý thì có nghĩa là đang có nhu cầu khẩn thiết đấy, có thể là đã hai ngày nay chỉ có bánh mì và nước lã; và trong trường hợp cụ thể này, tôi sẽ đi cùng với ông mà không kèm theo lời bình nào và tất nhiên là ông phải thu xếp chuyện tiền bạc để mời tôi. Câu trả lời - không đói - bao hàm bất cứ ý nghĩa nào, nhưng theo cách tôi nói thì có ý là tự bản thân tôi không có khó khăn gì trong chuyện ăn trưa. Chúng tôi hẹn gặp nhau vào buổi chiều, ở chỗ như mọi ngàỵ, tức cửa hàng sách Thế giới.
Vào đầu giờ chiều, một thanh niên ăn vận bảnh bao như diễn viên điện ảnh đến văn phòng: mái tóc óng vàng, nước da sạm nắng gió, đôi mắt màu xanh bí hiểm và giọng nói nồng nàn êm ái. Trong lúc chúng tôi đang bàn luận về tờ tạp chí sắp xuất bản, thì anh ta phác họa sáu nét tuyệt vời trên bàn làm việc hình một con bò mộng, rồi thêm vào bên dưới mấy câu nhắn gửi Alfonso Fuenmayor. Sau đó, anh ta vứt chiếc bút chì lên bàn và chào tôi bằng cú đóng cửa thật mạnh. Tôi mải viết đến mức không nhìn cả tên ký dưới bức vẽ. Suốt thời gian còn lại, tôi tiếp tục ngồi viết quên cả ăn uống. Khi tắt nắng buổi chiều, tôi phải mò mẫm đi ra khỏi phòng, nhưng hạnh phúc vì đã có những nét chấm phá của cuốn tiểu thuyết mới và tin chắc rằng, cuối cùng tôi cũng đã tìm ra con đường khác hẳn những gì mà hơn một năm nay đã cặm cụi viết trong vô vọng.
Mãi tối hôm đó, tôi mới biết vị khách buổi chiều chính là họa sĩ Alejandro Obregón, người vừa trở lại Colombia sau chuyến đi châu Âu. Ông không chỉ là một trong những họa sĩ vĩ đại nhất Colombia, mà còn là người đàn ông được bạn bè rất yêu mến. Ông về nước lần này là để tham dự buổi lễ ra mắt tạp chí Cronica. Tôi được gặp ông cùng đám bạn thân trong một quán rượu không tên trong hẻm La Luz thuộc khu Barrio Abajo mà Alfonso Fuenmayor đã dùng ngay tên cuốn sách mới nhất của Graham Greene để đặt tên Người đàn ông thứ ba. Những chuyến trở về của ông luôn được coi là sự kiện lịch sử, và lần này được kết thúc bằng màn trình diễn của con dế mèn được huấn luyện tốt, biết nghe theo lệnh của ông chủ như một người thật sự. Nó đứng trên hai chân sau, xòe đôi cánh rung lên những âm điệu nhịp nhàng và biết cảm ơn những tràng vỗ tay bằng một động tác rất kịch. Cuối cùng, đứng trước người huấn luyện dế đang say sưa đón nhận tràng vỗ tay nhiệt liệt, thì họa sĩ Obregón dùng hai đầu ngón tay nhón hai cánh con dế lên, đút ngay vào mồm nhai ngấu nghiến trong sự kinh ngạc của mọi người. Không dễ dùng bất cứ cử chỉ hoặc lễ vật nào bù đắp được nỗi thất vọng, đau đớn của người huấn luyện dế. Sau này tôi mới biết thêm rằng, đó không phải là con dế đầu tiên mà họa sĩ Obregón nhai sống trước mặt công chúng và chắc cũng không phải là con cuối cùng.
Hơn bao giờ hết, lúc đó tôi cảm thấy mình gắn bó với thành phố cũng như với hơn một tá bạn bè, những người bắt đầu được biết đến trong giới báo chí và trí thức của cả nước như nhóm Barranquilla. Đó là những nhà văn và nghệ sĩ trẻ đang đi đầu trong đời sống văn hóa ở thành phố, dưới sự dìu dắt của người thầy quê xứ Catalán, ngài Ramon Vinyes, nhà viết kịch và kịch bản truyền thanh huyền thoại, đã được ghi danh trong cuốn Bách khoa toàn thư Tây Ban Nha từ năm 1924.
Tôi đã quen biết bọn họ từ tháng Chín năm trước khi từ thành phố Cartagena - nơi tôi cư trú lúc bấy giờ - đến đây theo đề nghị khẩn của Clemente Manuel Zabala, Tổng biên tập báo El Universal vốn đã đăng những bài xã luận đầu tiên của tôi. Suốt đêm, chúng tôi nói đủ thứ chuyện, thỏa thuận sẽ trao đổi sách vở và tác phẩm văn chương và cuối cùng tôi sẽ được làm việc với họ. Ba người trong số thành viên ban đầu của nhóm nổi bật lên nhờ tính độc lập và năng lực sáng tạo là German Vargas, Alfonso Fuenmayor và Alvaro Cepeda Samudio. Chúng tôi có nhiều điểm chung đến mức những kẻ độc mồm nói chúng tôi cùng do một bố sinh ra. Nhưng thật ra, do ý thức độc lập và nỗi đam mê không cưỡng lại nổi của từng người, chúng tôi cũng ít ưa nhau, ai cũng có một quyết tâm sáng tạo riêng mà phải huých nhau để mở đường tiến và mỗi người có cách riêng để giải quyết sự rụt rè, nhưng không phải ai cũng đạt được kết quả.
Alfonso Fuenmayor là một nhà văn và nhà báo xuất sắc, dù mới hai mươi sáu tuổi, nhưng trong nhiều năm đã duy trì chuyên mục thời sự “Bầu không khí hàng ngày” dưới bút danh mang hơi hướng của Shakespeare hay Puck trên báo El Heraldo. Nhiều người thấy tính ông xuề xòa và tếu táo nên không hình dung ra rằng ông đã đọc biết bao nhiêu sách bằng bốn thứ ngoại ngữ về biết bao đề tài. Kinh nghiệm cuối cùng xảy ra với ông khi gần năm mươi tuổi. Lần đó, ông mạo hiểm lái chiếc xe ô tô to kềnh càng và hỏng nát chạy với tốc độ hai mươi cây số một giờ. Khi nhận ra ông từ xa, những người lái taxi, những bạn thân và độc giả thông thái vội nép vào một bên để nhường đường cho xe ông qua.
Germán Vargas Cantillo là người viết xã luận của nhật báo buổi chiều El Nacional, là một nhà phê bình văn học uyên thâm và sắc sảo, có lối viết nhã nhặn đến mức đủ sức thuyết phục độc giả tin rằng mọi việc xảy ra đều đúng như ông kể. Ông còn là một trong những phát thanh viên xuất sắc nhất của đài phát thanh và chắc chắn là người hiểu biết nhất trong số những người làm cái nghề mới mẻ này thời bấy giờ và là tấm gương trong nghề phóng viên mà tôi rất muốn noi theo. Tóc vàng, thân hình xương xẩu, với đôi mắt có màu xanh bí hiểm, đó là con người mà không ai có thể hiểu được làm sao ông có đủ thời gian để ngốn ngấu hết tất cả những gì đáng đọc. Không một phút giây nào ông lơi lỏng nỗi đam mê ám ảnh - tự mình sớm phát hiện ra những tài năng văn học bị che lấp trong những góc khuất xa của tỉnh lẻ để đưa ra trước ánh sáng cho quảng đại công chúng biết. Cũng may là con người đãng trí ấy không hề ham muốn học lái xe ô tô, vì chúng tôi rất lo sợ là ông sẽ không thể cưỡng lại nổi nỗi cám dỗ vừa lái xe vừa đọc sách.
Ngược lại, Alvaro Cepeda Samudio, trước hết là một tay lái đầy ảo tưởng - trong việc lái xe cũng như trong sự nghiệp lái con thuyền chữ nghĩa. Ông là tác giả của nhiều truyện ngắn rất hay đồng thời cũng là nhà phê bình điện ảnh tuyệt vời và chắc chắn là người có kiến thức uyên thâm chuyên khuấy lên các cuộc tranh luận ồn ào. Ở vùng Cienaga Grande, trông ông giống như một người di-gan thực thụ: da sạm nắng, mái tóc xoăn xõa ra rất đẹp và đôi mắt cuồng si không thèm giấu diếm trái tim dễ dãi. Ông thích đi loại dép vải rẻ tiền, miệng luôn ngậm điếu xì gà to tắt ngấm. Ông đã đăng trên báo El Nacional những bài báo và những truyện ngắn đầu tiên. Và năm đó, ông đang chuẩn bị hoàn thành khóa cao học về báo chí tại trường đại học Colombia, New York.
Một thành viên lưu động của nhóm và là người đáng kính nhất cùng với ngài Ramon - đó là Jose Félix Fuenmayor, bố của Alfonso. Jose là nhà báo lịch sử và là nhà văn lớn, tác giả của tập thơ Những nàng thơ xứ nhiệt đới và hai cuốn tiểu thuyết: Vũ trụ in năm 1927 và Một cuộc phiêu lưu buồn của mười bốn nhà bác học in năm 1928. Không có cuốn nào trong số đó bán chạy, nhưng giới phê bình chuyên môn đánh giá Jose Félix như một trong những nhà văn viết truyện ngắn hay nhất, nhưng lại bị bó buộc tài năng ở một tỉnh lẻ xa xôi.
Trước đó, tôi chưa từng nghe nói về ông; nhưng khi được trực tiếp làm quen vào buổi trưa, lúc chỉ có hai chúng tôi ở quán Japy, tôi vô cùng kính phục sự hiểu biết uyên thâm và sự giản dị trong cách nói chuyện của ông. Từng là cựu chiến binh và nhân chứng sống của một nhà tù thời chiến tranh Một ngàn ngày, ông không được hưởng trình độ giáo dục của ngài Ramon Vinyes, nhưng lại rất gần gũi với tôi vì cùng lối sống và nền văn hóa vùng Caribe. Tuy nhiên, điều tôi thích nhất ở ông chính là năng lực kỳ lạ, có thể truyền đạt lại sự hiểu biết của mình một cách giản dị như may vá và ca hát vậy. Đó là một người có phong cách nói chuyện hấp dẫn và là một bậc thầy trong cuộc sống; cách suy nghĩ của ông hoàn toàn khác với những người tôi đã từng quen biết trước đó. Alvaro Cepeda và tôi đã ngồi hàng giờ chăm chú nghe ông nói, nhất là quan niệm cơ bản của ông cho rằng, sự khác nhau về nội dung giữa đời sống và văn chương chỉ là những lỗi đơn thuần về hình thức. Sau đó, tôi không nhớ trong cuốn sách nào, Alvaro đã phóng ra một câu rất xác đáng: “Tất cả chúng tôi đều đến từ Jose Félix”.
Nhóm này được hình thành một cách ngẫu nhiên, chủ yếu là do lực hấp dẫn, nhờ sự tương đồng khá bền chắc nhưng nếu thoáng nhìn thì lại hơi khó hiểu. Nhiều lần chúng tôi tự hỏi: không hiểu sao bọn tôi khác nhau như vậy mà vẫn kết thân và thống nhất mọi việc với nhau được? Rồi chúng tôi phải bịa ra một câu trả lời để không nói lên sự thật: không phải lúc nào chúng tôi cũng có thể thống nhất với nhau, nhưng chúng tôi đều hiểu lý do. Chúng tôi nhận thức được rằng, người ngoài vẫn coi chúng tôi là những kẻ đầy quyền uy, tự phụ và vô chính phủ. Trước hết là vì những quan điểm chính trị của chúng tôi. Alfonso được coi là một người thuộc phái tự do chính thống, German như một nhà tự do tư tưởng hay cáu bẳn, Alvaro như một gã vô chính phủ độc đoán, còn tôi thì như một người cộng sản hay nghi ngờ và rất có khả năng trở thành kẻ tự sát. Tuy nhiên, tôi hoàn toàn tin tưởng rằng tài sản lớn nhất mà chúng tôi có được là: dù trong hoàn cảnh éo le nhất, chúng tôi có thể mất đi sự kiên nhẫn nhưng không bao giờ mất tính hài hước, hóm hỉnh của mình.
Một số bất đồng nghiêm trọng được chúng tôi bàn bạc, giải quyết êm thấm trong nội bộ, tuy đôi lúc cũng xảy ra những cuộc tranh cãi nguy hiểm, nhưng thường thì chúng tôi cũng quên ngay. Và tôi đã nhận được một bài học khó quên trong quán bar Los Almendros, vào đúng cái đêm khi tôi vừa mới đến. Tối đó, Alvaro và tôi tranh cãi quyết liệt về Faulkner. Những nhân chứng duy nhất ngồi cùng bàn là German và Alfonso thì không thèm tham gia, cứ im như thóc khiến người ta phải khó chịu. Tôi không nhớ là vào thời điểm nào, khi cả hai chúng tôi đã quá tức giận và hơi men đã bốc lên, tôi thách Alvaro giải quyết cuộc tranh cãi bằng một cuộc đấm đá. Trong lúc hai chúng tôi đang chuẩn bị đứng dậy, đi khỏi bàn ra ngoài đường thì tiếng nói thản nhiên của German Vargas đã chặn đứng chúng tôi lại và cho chúng tôi một bài học nhớ đời:
- Tay nào đứng dậy trước thì coi như thua.
Lúc đó, không có ai trong chúng tôi đến ba mươi tuổi. Tôi vừa tròn hai mươi ba tuổi, là người trẻ nhất trong nhóm và ngay khi mới đến, hồi tháng Mười hai, đã được mọi người cho nhập nhóm. Quanh bàn của ngài Ramon Vinyes, bốn chúng tôi cư xử như những người truyền lòng tin, luôn đoàn kết với nhau, cùng nói về một chuyện, cùng giễu cợt, chê bai tất cả mọi thứ và cùng thống nhất phản bác lại ý kiến của những người khác, đến mức mọi người cứ nhìn cả bốn chúng tôi như là một người duy nhất.
Người phụ nữ duy nhất được coi như cùng nhóm là Meira Delmar, bắt đầu với tư cách là một thi sĩ. Nhưng chúng tôi chỉ nói chuyện với chị trong một vài trường hợp khi cả bọn đã ra khỏi quỹ đạo của những thói quen xấu. Chúng tôi không thể quên được những buổi dạ hội ở nhà chị để chào đón những nhà văn và nghệ sĩ nổi tiếng ghé thăm thành phố. Một người bạn gái khác của cả nhóm, tuy ít gặp gỡ hơn, là họa sĩ Cecilia Porras, thỉnh thoảng từ thành phố Cartagena đến đây và cùng chúng tôi đi một vòng quán xá ban đêm, bất chấp thành kiến của thiên hạ là phụ nữ không nên vào những quán cà phê la cà với bọn bợm nhậu và những kẻ hư đốn.
Mỗi ngày, những người trong nhóm gặp nhau hai lần ở cửa hàng sách Thế giới, nay đã trở thành trung tâm hội họp văn chương. Nơi đây thật thanh bình giữa cảnh huyên náo của phố San Blas, con đường buôn bán náo nhiệt và nóng nực, chỉ dịu đi sau sáu giờ chiều. Trong phòng làm việc kế bên phòng biên tập của báo El Heraldo, Alfonso và tôi, giống như những cậu học trò chăm chỉ, mải miết viết lách cho đến tận khuya. Alfonso viết những bài xã luận sâu sắc, còn tôi thì chịu trách nhiệm về những chú giải rối rắm. Chúng tôi thường trao đổi ý tưởng cho nhau bằng cách đổi máy đánh chữ, tham khảo số liệu của nhau, giải thích cho nhau cách dùng từ sao cho chuẩn xác nhất, đến mức một số đoạn văn khó mà nhận biết được là của ai.
Cuộc sống hàng ngày của chúng tôi hầu như đã được dự kiến trước, trừ các buổi tối thứ Sáu hàng tuần, những ngày còn lại thì hoàn toàn theo ngẫu hứng và nhiều khi kéo liền một mạch đến bữa điểm tâm ngày thứ Hai. Nếu thích, cả bốn sẽ làm một cuộc hành hương văn học xả láng. Bắt đầu từ quán Người thứ ba với những thợ thủ công trong khu phố và những thợ của xưởng sửa chữa xe ô tô, ngoài ra còn có thêm vài viên chức lạc loài và dăm ba người khác. Lạ nhất là có cả một tay chuyên đào tường khoét ngạch, thường đến trước lúc nửa đêm với đầy đủ trang phục hành nghề: quần của dân múa ba lê, giày chơi tennis, mũ của cầu thủ bóng chày và một túi xách đựng đồ nghề. Ai đó chụp ảnh lúc hắn đang ăn trộm ở nhà mình, rồi cho đăng báo để mọi người xác định xem đó là kẻ nào. Rốt cục taác giả chỉ nhận được vài lá thư của độc giả tỏ ý bực mình vì họ cho đó là trò chơi khăm những kẻ ăn trộm đáng thương.
Tên trộm hóa ra lại có năng khiếu văn chương, không mất lời nào trong các cuộc trò chuyện về nghệ thuật và sách vở, và chính là tác giả e dè của những bài thơ tình tự ngâm trước đám đông khách hàng khi chúng tôi không có mặt. Sau nửa đêm về sáng, anh ta lại hành nghề ăn trộm ở khu phố phía trên và ba hoặc bốn giờ sau, mang tặng chúng tôi vài thứ vớ vẩn trong số chiến lợi phẩm chôm được. “Để cho các em”, anh ta nói mà không thèm hỏi xem chúng tôi đã có những thứ đó chưa. Khi nào vớ được một cuốn sách đáng chú ý thì anh ta lại mang đến tặng chúng tôi. Nếu đó là cuốn sách đáng giá thì chúng tôi tặng lại cho thư viện của quận, nơi bà Meira Delmar làm lãnh đạo.
Cái lớp học di động ấy đem lại cho chúng tôi thứ danh tiếng vẩn đục, trước con mắt của các quý bà đi lễ Misa lúc năm giờ. Thấy bóng chúng tôi, họ vội vàng chuyển sang đi lề đường khác để khỏi đụng đầu với mấy anh chàng mới bảnh mắt ra đã ngà ngà men rượu. Nhưng đúng là không có cuộc vui nào chính đáng và hiệu quả hơn những đêm hội của chúng tôi. Nếu có ai biết rõ ngay điều đó thì người đó phải là tôi vì tôi đã từng hò hét cùng với họ ở trong nhà thổ về những tác phẩm của John Dos Pasos, hoặc về những bàn thắng bị bỏ lỡ của đội Deportivo Junior. Và một trong những chuyện đĩ thõa hài hước đã xảy ra, sau suốt một đêm dài cãi vã vô bổ ở nhà thổ Con Mèo đen, khi đám con gái nói với chúng tôi:
- Nếu các anh cũng chịu chơi như các anh vẫn hò hét thì bọn em đã được tắm trong đống vàng rồi!
Nhiều lần chúng tôi đón những tia sáng mặt trời của ngày mới trong nhà thổ không tên ở phố Tàu, nơi Orlando Rivera, tức Figurita, đã sống nhiều năm để vẽ một bức tranh tường nổi tiếng. Tôi không nhớ có quen biết ai hay nói tục hơn cái người đàn ông có cái nhìn dài dại, có chòm râu dê và lòng tốt của một đứa trẻ mồ côi ấy không. Ngay từ thời tiểu học, ông ta đã ngạo mạn tự nhận mình là người Cuba và cuối cùng thì còn Cuba hơn cả người Cuba đích thực. Ông nói, ăn, vẽ, mặc, yêu đương, nhảy múa và sống như người Cuba thực thụ, một người Cuba mà đến chết vẫn chưa được đặt chân lên đất nước này.
Orlando Rivera hầu như không ngủ. Tờ mờ sáng, khi chúng tôi đến thăm, ông nhảy vội xuống khỏi giàn giáo, với bộ quần áo còn nhiều màu hơn là bức tranh tường đang vẽ, và như đang trong cơn nghiền ma tuý, ông báng bổ lung tung theo giọng điệu người Mambi (nghĩa quân Cuba trong chiến tranh chống Tây Ban Nha cuối thế kỷ XIX - ND). Alfonso và tôi thường mang những bài báo và truyện ngắn đến cho ông minh họa. Chúng tôi phải nói tóm tắt nội dung các tác phẩm đó chứ ông không có đủ kiên nhẫn đọc cho ra đầu ra đũa. Ông vẽ minh họa ngay tức thì theo kỹ thuật tranh châm biếm, loại hình nghệ thuật duy nhất mà ông tin tưởng. Hầu hết các bức tranh này ông đều cho là đạt, mặc dù German Vargas có nói dí dỏm rằng, sẽ tuyệt hơn nếu ông ấy cho là không đạt.
Barranquilla là như vậy, một thành phố chẳng giống bất cứ thành phố nào khác, nhất là từ tháng Mười hai đến tháng Ba, khi những đợt gió mùa từ miền bắc xua đuổi những ngày địa ngục đi qua và tạo thành những cơn lốc, đêm đêm hất tung đàn gà mái ở trong vườn lên trời. Chỉ còn các nhà trọ và các quán rượu gần cảng là còn sống động. Dăm cô gái làng chơi đợi chờ suốt đêm những khách hàng không có gì là chắc chắn sẽ đến từ các con tàu chạy trên sông. Một dàn kèn đồng dạo khúc valse mỏi mệt dưới hàng bạch dương, nhưng chả có ai để ý nghe cả vì nó không thể át được tiếng hò hét cãi vã về trận bóng đá của những gã lái xe taxi đang đứng chờ khách ở đại lộ Bolivar. Nơi khả dĩ đến được là quán cà phê Roma, nơi bán rượu của những người lưu vong Tây Ban Nha mà cửa không bao giờ đóng, vì đơn giản là nó không hề có cửa. Nó cũng không có mái che, dù ở một thành phố thường xuyên có những cơn mưa như trút nước, nhưng cũng không nghe thấy ai than phiền là ở đó không thể ăn nổi một đĩa trứng tráng với khoai tây, hoặc không đạt được kết quả trong việc thương thảo hợp đồng buôn bán chỉ vì trời mưa.
Đó là một nơi kín đáo giữa trời, với những chiếc bàn tròn nhỏ sơn màu trắng và những chiếc ghế bằng sắt dưới bóng những cây quỳ nở hoa. Vào lúc mười một giờ, khi các báo buổi sáng - El Heraldo và La Prensa - đã đóng cửa, những biên tập viên trực ca đêm tập trung lại đi ăn. Còn những người lưu vong Tây Ban Nha thì đã có mặt từ lúc bảy giờ, sau khi ở nhà đã nghe xong nhật báo nói của giáo sư Juan José Perez Domenech, một tờ báo vẫn tiếp tục đưa tin về cuộc Nội chiến ở Tây Ban Nha, dù nó đã kết thúc từ mười hai năm trước.
Một đêm may mắn nọ, nhà văn Eduardo Zalamea, từ thị trấn La Guajira trở về, đến quán này và bỗng rút súng ngắn tự bắn vào ngực mình nhưng vết thương không trầm trọng lắm. Chiếc bàn này đã trở thành di vật lịch sử mà bạn rượu thường trịnh trọng giới thiệu với khách du lịch, nhưng không cho phép ai được ngồi vào đó. Mấy năm sau, Zalamea đã kể lại chuyện phiêu lưu này trong Chuyến đi bốn năm trong bản thân mình, một cuốn tiểu thuyết đã mở ra chân trời đáng tin cậy cho thế hệ chúng tôi.
Tôi là kẻ bơ vơ nhất trong phường hội này, và nhiều lần tôi trốn vào một góc khuất nhất của quán cà phê Roma để viết mải miết cho đến tận tảng sáng, vì cả hai nghề mà tôi theo đuổi đều có chung một nghịch cảnh là rất quan trọng nhưng được trả công rất thấp. Trời sáng bạch mà tôi vẫn đọc một cách say sưa, và khi cái đói hành hạ, tôi chỉ ăn một thanh sô cô la to với ổ bánh mì kẹp thịt hun khói Tây Ban Nha, rồi đi dạo với những tia nắng đầu ngày dưới hàng cây trên đại lộ Bolivar. Những tuần lễ đầu tiên, tôi thường ngồi viết rất khuya ở ngay phòng biên tập của báo và ngủ chỉ vài giờ ở một phòng trống nào đó hoặc trên cuộn giấy in, nhưng sau đó, tôi phải tìm một nơi ở khác ít độc đáo hơn.
Giải pháp cho việc này, cũng như những lần khác trong tương lai, đã được một số lái xe taxi vui tính trên tuyến đại lộ Bolivar tìm cho, đó chính là cái nhà trọ bình dân cách nhà thờ lớn một dãy phố, nơi bất cứ ai muốn ngủ qua đêm một mình hay cùng người khác cũng chỉ phải trả có một đồng rưỡi. Đó là một tòa nhà rất cũ nhưng được giữ gìn cẩn thận nhờ sự đóng góp của các cô gái điếm mà ngày ngày, từ sáu giờ sáng, vẫn lượn lờ săn tìm các mối tình lưu lạc dọc đại lộ Bolivar. Người gác cổng tên là Lacides, một người đàn ông có một con mắt bằng thủy tinh lệch tâm và nói ngọng nghịu nhưng làm tôi nhớ mãi hành động ân tình ngay từ buổi tối đầu tiên. Tôi bỏ một đồng rưỡi vào ngăn kéo quầy, trong đó đã đầy những đồng tiền lẻ nhàu nát của các em chơi đêm, và liền được ông ta đưa cho chìa khóa phòng số sáu.
Tôi chưa bao giờ được ở một nơi yên tĩnh như vậy. Tôi chỉ nghe tiếng bước chân ngượng ngập, tiếng thì thầm khó hiểu và thỉnh thoảng tiếng lò xo han gỉ rên lên thảng thốt. Không hề có tiếng thì thào hay tiếng thở dài. Điều khó chịu nhất là cái nóng hầm hập như trong lò thiêu vì các cửa sổ đã được những thanh gỗ bịt kín lại. Tuy nhiên, ngay từ buổi tối đầu tiên, tôi đã say sưa đọc William Irish gần như đến tận sáng.
Đó là một căn nhà lớn của các hãng tàu thủy trước đây, với những hàng cột chạm đá hoa cương trắng và đường viền bằng đồng giả vàng quây quanh một khu vườn, trong nhà được che bằng vòm thủy tinh ngoại nhập lấp lánh như trong nhà kính. Tầng trệt là trụ sở phòng công chứng thành phố. Ba tầng lầu của căn nhà nguyên thủy được dành cho các phòng trọ, mỗi tầng có sáu phòng, bằng đá hoa cương nhưng bây giờ được ngăn bằng bìa các tông thành từng buồng nhỏ - giống như buồng tôi đang trọ - nơi những cô gái ăn sương trong vùng đến thu hoạch mùa màng. Căn bẫy tình hạnh phúc đó đã có lúc được mang tên là khách sạn New York, và sau đó, Alfonso Fuenmayor còn gọi nó là Nhà chọc trời để tưởng nhớ những vụ tự tử thường xảy ra thời đó khi người ta lao từ sân thượng tòa Empire State xuống đất.
Nhưng dù sao thì hàng ngày, vào lúc mười một giờ sáng và sáu giờ chiều, cuộc sống của chúng tôi vẫn xoay quanh hiệu sách Thế giới, tọa lạc trong khu phố đông đúc nhất của San Blas. German Vargas, bạn thân của ông chủ Jorge Rondon, đã thuyết phục được ông ta mở cửa hàng sách này làm nơi tụ họp của các nhà báo, nhà văn và các chính khách trẻ. Tuy không có kinh nghiệm về buôn bán, nhưng ông Rondon nhanh chóng học được nghề này, rồi với lòng nhiệt tình và hào hiệp, ông trở thành mạnh thường quân đáng nhớ của tất cả chúng tôi. German, Alvaro và Alfonso là những cố vấn của ông trong việc đặt mua sách, nhất là những cuốn mới in ở Buenos Aires, thủ đô Argentina, nơi các nhà xuất bản bắt đầu cho dịch, in và phát hành hàng loạt các tác phẩm văn học mới khắp nơi trên trái đất sau cuộc Chiến tranh thế giới. Nhờ vậy, chúng tôi được sớm thưởng thức những cuốn sách mà bằng con đường khác chưa đến được thành phố. Những người này cũng tạo ra được niềm say mê nơi khách hàng, biến Barranquilla thành trung tâm đọc sách như xưa, thời còn có hiệu sách lịch sử của ngài Ramon.
Không lâu sau khi đến đây, tôi đã gia nhập vào nhóm những người ngóng đợi các nhà buôn chuyên đưa sách của các nhà xuất bản Argentina sang bán. Nhờ họ mà chúng tôi sớm trở thành những người hâm mộ của các nhà văn Jorge Luis Borges, Julio Cortazar và Felisberto Hernandez và những nhà văn Anh, Mỹ qua các bản dịch tuyệt vời của nữ văn sĩ Victoria Ocampo. Tôi luyện một người khởi nghĩa của Arturo Barea là thông điệp đầu tiên đầy hy vọng của Tây Ban Nha xa xôi, bị gián đoạn mất một thời gian vì hai cuộc chiến. Một trong những lữ khách, người thường xuyên đến đúng lúc là Guillermo Davalos, có thói quen tốt là chịu giao du với chúng tôi trong những đêm hội và tặng lại chúng tôi những sách hàng mẫu, sau khi đã hoàn thành các phi vụ buôn bán.
Các thành viên của nhóm sống xa trung tâm thành phố nên buổi tối chỉ đi đến quán cà phê Roma khi có lý do cụ thể. Nhưng với tôi thì ngược lại, đó chính là ngôi nhà mà tôi không có. Buổi sáng, tôi làm việc trong phòng biên tập khá yên tĩnh của tờ báo El Heraldo, tùy nghi ăn trưa vào những lúc và ở những nơi nào có thể, nhưng thường thì ăn theo nhóm do bạn quen hoặc chính khách quan tâm mời.
Buổi chiều tôi viết “La Jirafa”, chuyên mục hàng ngày của tôi trên báo, hoặc truyện ngắn hay bài viết nào đó. Vào lúc mười một giờ trưa và sáu giờ chiều, tôi là người đến đúng giờ nhất ở quán sách Thế giới. Trong nhiều năm, nhóm bọn tôi thường dùng món khai vị cho bữa ăn trưa ở quán cà phê Colombia, sau đó chuyển sang quán cà phê Japy trên vỉa hè đối diện vì đó là nơi thoáng mát và vui vẻ nhất trên phố San Blas. Chúng tôi sử dụng nơi này làm nơi đón khách, văn phòng làm việc, bàn chuyện làm ăn, thực hiện phỏng vấn và cũng là điểm hẹn dễ tìm nhất của nhóm.
Bàn của ngài Ramon ở quán cà phê Japy, theo thói quen, có những luật lệ không thể vi phạm được. Ông là người đầu tiên đến đây vì thời khóa biểu của giáo sư thường chấm dứt trước bốn giờ chiều. Bàn này chỉ ngồi tối đa là sáu người. Chúng tôi ngồi theo mối quan hệ với ông và sẽ bị coi là hết sức vô duyên nếu có ai kéo thêm ghế ngồi vào bàn này. Vốn là bạn lâu năm và thân tình nhất với ông nên German được ngồi phía bên phải ngay từ ngày đầu tiên và là người phụ trách mọi chuyện vật chất cho ông. Mặc dù không được nhờ chính thức, nhưng German thường xuyên giải quyết mọi việc cho ông vì nhà bác học có niềm đam mê bẩm sinh này không cần hiểu đời sống thực tế làm gì. Vào những ngày đó, vấn đề chủ yếu là bán sách của ông cho thư viện tỉnh và giải quyết dứt điểm một số việc khác trước khi ông trở về Barcelona. Hơn cả thư ký riêng, German như đứa con ngoan của ông.
Ngược lại, các mối quan hệ của ngài Ramon với Alfonso chủ yếu dựa trên các vấn đề văn học và chính trị khó khăn nhất. Về phần Alvaro, tôi cảm thấy như anh ta luôn bị ức chế khi ngồi một mình trong bàn và phải chờ có thêm người khác mới bắt đầu cuộc hành trình. Người duy nhất có quyền tự do chọn lựa chỗ ngồi ở bàn là Jose Félix. Vào buổi tối, ngài Ramon không đến quán Japy mà đến quán cà phê Roma gần nhà hơn, cùng với các bạn Tây Ban Nha lưu vong của mình.
Người cuối cùng đến với bàn này chính là tôi. Ngay từ ngày đầu tiên, dù không được quyền, tôi cũng đã mạo muội ngồi vào ghế của Alvaro Cepeda, lúc đó đang ở New York. Ngài Ramon đón tôi như một học trò mới vì ông cũng đã đọc những truyện ngắn của tôi trên tờ El Espectador. Tuy vậy, lúc đó tôi không thể tưởng tượng được là mình sẽ có đủ sự tin cậy của ông để xin vay tiền cho chuyến đi Aracataca cùng với mẹ. Sau đó, do tình cờ không hề hẹn trước, lần đầu tiên và duy nhất, ông và tôi có một cuộc nói chuyện riêng. Hôm đó, tôi đến quán Japy sớm hơn những người khác để trả lại sáu peso mà ông đã cho mượn.
- Xin chào, tài năng trẻ! - ông chào tôi như mọi lần. Nhưng hình như trên mặt tôi có điều gì làm ông chú ý - Anh bị ốm à?
- Thưa ông, tôi tin là không ạ - tôi lo lắng trả lời - Nhưng tại sao ạ?
- À, tôi thấy anh có vẻ gầy hơn - ông nói với tôi - Nhưng đừng để ý đến lời tôi nói làm gì, mấy ngày hôm nay chúng ta đều bị cái nóng hành hạ cả mà.
Ông kín đáo nhét sáu peso vào trong ví như thể đó là những đồng tiền bất chính.
- Tôi nhận số tiền này - ông đỏ mặt khi giải thích cho tôi - như là một kỷ niệm của người thanh niên nghèo khó cương quyết trả nợ cho người không có ý định đòi lại.
Tôi không biết nói sao nên đành giữ im lặng. Tôi chưa bao giờ dám mơ tưởng có may mắn gặp riêng ông như vậy. Tôi có cảm tưởng rằng trong các buổi nói chuyện của cả nhóm, mỗi người bỏ thêm một hạt cát vào trong mớ hỗn độn và rằng cái duyên và cái vô duyên của từng người hòa lẫn vào cái chung của cả nhóm, nhưng tôi không bao giờ nghĩ rằng mình lại có thể ngồi riêng đàm đạo về nghệ thuật và niềm vinh quang với một người đã sống hàng trăm năm trong cuốn bách khoa toàn thư. Nhiều đêm khuya, khi đọc sách một mình trong phòng ngủ, tôi thường tưởng tượng ra những cuộc đối thoại với ông để giải tỏa những thắc mắc về văn học, nhưng những lời thoại đó đã tan biến, không để lại dấu vết gì khi gặp những tia nắng đầu tiên của ngày hôm sau. Tính nhút nhát của tôi càng trở nên trầm trọng hơn, mỗi khi Alfonso bày tỏ với ông những ý tưởng khổng lồ của mình, hoặc khi German bác bỏ một ý kiến vội vàng của vị giáo sư, hay khi Alvaro gào thét trình bày một dự án thay cho chúng tôi.
Cũng may, ngày hôm ấy, ở quán Japy chính ngài Ramon là người chủ động hỏi tôi về việc đọc sách. Cho đến lúc đó tôi đã đọc hết tất cả những gì tìm được về thế hệ đã mất, qua bản dịch tiếng Tây Ban Nha và cẩn thận đối xử đặc biệt với Faulkner vì sợ rằng, về lâu về dài, ông ta chỉ còn là một kẻ láu cá hoa mỹ. Nói xong, người tôi cứ run lên bần bật vì sợ đó có thể là một sự khiêu khích nên tôi muốn làm dịu bớt căng thẳng. Nhưng ngài Ramon không cho tôi kịp làm điều đó.
- Gabito, ông đừng lo - ông bình thản nói với tôi - Nếu Faulkner có mặt ở Barranquilla thì ông ta cũng sẽ ngồi ở bàn này.
Ngoài ra, tôi cũng lưu ý ngài Ramon rằng tôi quan tâm đến Ramon Gomez de la Serna đến mức muốn mời ông ấy đến quán La Jirafa cùng với các nhà văn viết tiểu thuyết khác. Tôi giải thích thêm rằng mình làm việc đó không chỉ vì những cuốn tiểu thuyết của ông ta, ví như cuốn Biệt thự hoa hồng tôi đặc biệt thích, mà vì cái hay nhất của ông ta chính là sự can đảm và tài năng trong cách diễn đạt bằng lời nói như bài tập thể dục nhịp điệu để luyện viết văn. Trên tinh thần đó, tôi không nhớ có thể loại nào thông minh hơn những bài greguerias của ông hay không (những bài thơ ngắn bằng văn xuôi chứa đựng yếu tố hài và thách đố - ND). Ngài Ramon mỉm cười sắc lẹm, ngắt lời tôi:
- Cái nguy đối với ông chính là đang học cách viết dở mà không biết.
Tuy nhiên, trước khi chấm dứt cuộc thảo luận về đề tài này, ông thừa nhận rằng trong cái mớ hổ lốn sáng chói của mình, Gomez de la Serna cũng là một nhà thơ giỏi. Đó chính là câu trả lời nhanh và uyên bác của ngài Ramon mà đầu óc tôi phải cố lắm mới tiếp thu được và tôi cũng sợ ai đó vô tình làm hỏng mất dịp may duy nhất này. Nhưng ông biết cách điều khiển thời gian. Người bồi bàn mang đến cho ông một ly coca-cola thường dùng vào lúc mười một giờ rưỡi, ông uống một hơi rồi tiếp tục giảng giải. Đông đảo khách hàng từ cửa đã cất tiếng chào: “Thưa ngài Ramon, ông vẫn khỏe chứ?” Không nhìn họ, ông vẫy tay đáp lại, điệu nghệ như một nghệ sĩ.
Trong khi nói, ngài Ramon thỉnh thoảng lại nhìn chiếc cặp da mà tôi ôm chặt bên mình. Sau khi uống xong ly coca-cola đầu tiên, ông gọi tiếp ly thứ hai. Tôi cũng gọi một ly cho mình vì biết là trong bàn này, mỗi người tự trả tiền thứ mà mình gọi. Cuối cùng, ông hỏi tôi chiếc cặp da bí hiểm mà tôi ôm chặt như phao cứu sinh là cái gì.
Tôi phải nói sự thật với ông: đó là bản nháp chương đầu tiên của cuốn tiểu thuyết mà tôi bắt đầu viết sau chuyến đi Cataca với mẹ trở về. Với vẻ liều lĩnh của kẻ không bao giờ dám làm lại một hành động đã từng diễn ra trong giây phút quyết định giữa sự sống và cái chết, tôi khẽ khàng mở chiếc cặp và đặt bản thảo lên bàn trước mặt ông. Đôi mắt xanh sáng đến bí hiểm của ông chăm chú nhìn tôi. Ông hơi ngạc nhiên hỏi:
- Ông cho phép chứ?
Những dòng viết bằng máy chữ đầy những lỗi đã được sửa chữa bên lề trên trang giấy in dài, được gập lại như phần xếp của chiếc đàn phong cầm. Ông từ từ đeo kính viễn, với một động tác rất chuyên nghiệp, lần mở tờ giấy trải ra trên bàn. Ông đọc nhưng không thay đổi động tác, làn da, hơi thở, chỉ có chỏm tóc hơi lay động theo dòng suy nghĩ. Khi đọc xong hai đoạn giấy, ông lặng im gấp lại như trong nghệ thuật thời trung cổ và đóng chiếc cặp da lại. Ông cho cặp kính vào bao và đút vào túi áo ngực.
- Rõ là một tài liệu còn thô mộc, tất nhiên rồi- ông nói với tôi một cách giản dị - Nhưng ông viết tốt đấy.
Ông cũng có nhận xét thêm về nghệ thuật điều khiển thời gian, vốn là vấn đề sinh tử của tôi và dĩ nhiên cũng là điều khó nhất, rồi bổ sung thêm:
- Chắc ông cũng hiểu rõ là tấn kịch đã diễn ra rồi và các nhân vật có mặt ở đó chỉ để tưởng nhớ lại mà thôi. Thế thì ông phải đánh vật với hai dòng thời gian đấy.
Sau khi đưa ra một số đánh giá cụ thể về kỹ thuật, mà lúc đó do thiếu kinh nghiệm tôi chưa nhận thức được hết, ông khuyên tôi đừng đặt tên cho thành phố trong cuốn tiểu thuyết này là Barranquilla như trong bản thảo, bởi cái tên này đã quá quen thuộc và bị gắn chặt với các điều kiện thực tế nên sẽ có quá ít khoảng trống cho độc giả mơ tưởng thêm. Rồi ông kết thúc bằng giọng đùa cợt:
- Hoặc hãy làm kẻ xoàng xĩnh và chờ ơn mưa móc từ trên trời rơi xuống, vì cuối cùng thì thành Aten của Sófocles không bao giờ lại chính là thành Antígona.
Nhưng điều mà tôi đã nghe theo và thực hiện một cách triệt để chính là câu nói của ông khi chia tay tôi buổi chiều hôm đó:
- Tôi xin cảm ơn sự tôn trọng của ông, và xin đáp lại bằng một lời khuyên: đừng bao giờ đưa cho ai xem trước bản thảo về cái mà mình đang viết.
Đó là lần duy nhất tôi được đàm đạo riêng với ông, có giá trị bằng tất cả các cuộc trò chuyện khác cộng lại. Như dự kiến trước đó một năm, ngày 15 tháng 4 năm 1950, ông đã lên đường trở về Barcelona trong trang phục và mũ của vị giáo sư giông giống tựa như đưa trẻ con đến trường học. Lúc đó ông rất khỏe mạnh, đầu óc sáng suốt như thời trai trẻ, mặc dù đã ở tuổi sáu mươi sáu, nhưng những người đi tiễn ông ở sân bay như chúng tôi vẫn linh cảm là ông trở về quê hương để tự tham dự lễ tang của chính mình.
Ngay ngày hôm sau, khi đến quán Japy, chúng tôi đã thấy ngay sự trống vắng nơi ghế ngồi mà ông để lại. Không có ai muốn ngồi vào đó nên chúng tôi thống nhất để dành cho German. Phải mất mấy ngày chúng tôi mới quen với nhịp điệu trò chuyện hàng ngày, cho đến khi nhận được bức thư đầu tiên của ngài Ramon, được viết bằng giọng văn sang sảng và với nét chữ cẩn thận trong màu mực tím. Thế là bắt đầu thời kỳ trao đổi thư từ thường xuyên và liên tục giữa ông với chúng tôi thông qua German. Ông ít kể về đời sống của mình nhưng nói nhiều về Tây Ban Nha dưới quyền của Franco, (tướng Francisco Bahamonde Franco, năm 1936 làm đảo chính quân sự lật đổ chế độ cộng hòa - ND) lúc đó vẫn tiếp tục được coi là đất nước thù địch và duy trì đế chế Tây Ban Nha trên vùng Cataluna.
Ý tưởng về xuất bản tờ tuần báo là của Alfonso Fuenmayor từ rất lâu trước đó, nhưng tôi có cảm tưởng là nó được chính thức đưa ra sớm hơn dự kiến vì chuyến trở về nước đột xuất của giáo sư Ramon. Ba đêm sau đó, khi chúng tôi tụ tập ở quán cà phê Roma thì Alfonso thông báo đã chuẩn bị đầy đủ điều kiện để xuất bản.
Đó sẽ là một tuần báo độ hai mươi trang, vừa có tin tức báo chí vừa có những nội dung văn chương, dù tên gọi của nó Crónica (ký sự) không thể hiện đầy đủ. Bản thân chúng tôi cũng rất háo hức vì đã mất bốn năm mới tập hợp đủ điều kiện vật chất. Có thể Alfonso Fuenmayor đã thu thập được sự đóng góp của những người thợ thủ công, thợ sửa chữa ô tô, nhà giáo về hưu và thậm chí cả những người bán rượu cũng chấp nhận trả bằng rượu rum được chế ra từ mía. Trong một thành phố công nghiệp sôi động và đông đảo người dân rất say mê thơ ca, có thể tin rằng tuần báo sẽ được đón nhận nồng nhiệt.
Ngoài thành viên nhóm chúng tôi, còn có một số cộng tác viên thường xuyên cho tờ tuần báo. Trong số đó, nhà báo chuyên nghiệp duy nhất có đôi chút kinh nghiệm chính là Carlos Osío Noguera - el Vate Osío - nhà thơ và nhà báo rất được cảm tình và có thân hình lực lưỡng, là nhân viên nhà nước và người kiểm duyệt trong tờ El Nacional, nơi ông đã từng làm việc chung với Alvaro Cepeda và German Vargas. Một cộng tác viên khác là Roberto (Bob) Prieto, một nhà học giả uyên thâm kỳ lạ trong giới thượng lưu có thể suy nghĩ bằng tiếng Anh hoặc tiếng Pháp thành thạo như bằng tiếng Tây Ban Nha và có thể chơi đàn dương cầm một số bản nhạc của các nhạc sĩ bậc thầy. Người mà Alfonso Fuenmayor ít để ý nhất trong danh sách cộng tác viên là Julio Mario Santodomingo, một người có cá tính riêng. Nhưng ít người hiểu được là tại sao ông ta lại có tên trong hội đồng biên tập, khi đáng ra ông ta phải được coi là một Rockefeller La-tinh, một người thông minh, có học thức và hòa đồng và đang quay cuồng trong màn sương quyền lực. Rất ít người biết, ngoài bốn thành viên sáng lập của tạp chí chúng tôi, rằng ước mơ thầm kín của chàng trai hai mươi lăm tuổi này là muốn trở thành nhà văn.
Tổng biên tập tất nhiên là Alfonso. Còn German Vargas, trước hết sẽ là một phóng viên lớn, người mà tôi mong được cùng làm việc chung, không phải khi tôi có thời gian rỗi - vì thực tế không bao giờ có - mà khi tôi đủ sức hiểu được ông. Alvaro Cepeda sẽ gửi các bài từ New York khi rảnh việc ở trường đại học Colombia. Ở cuối hàng, không ai, ngoài tôi ra được tự do và khao khát trở thành Thư ký tòa soạn của một tuần báo độc lập và bấp bênh. Và đúng là tôi đã được chọn.
Từ mấy năm trước, Alfonso đã có dự trữ sẵn nhiều tư liệu, và từ sáu tháng trước cũng đã chuẩn bị trước các bài xã luận, bài về văn học, các thiên phóng sự bậc thầy và nhiều lời cam kết quảng cáo của bạn bè giàu có. Thư ký tòa soạn, không có thời gian làm việc cố định và được hứa lương cao hơn bất cứ nhà báo nào tầm cỡ như tôi, tất nhiên với điều kiện tùy thuộc vào mức thu nhập sau này của tạp chí, cũng đã chuẩn bị cho việc tạp chí xuất bản có chất lượng tốt và kịp thời. Cuối cùng, hôm thứ Bảy tuần sau đó, khi tôi bước vào phòng mình ở báo El Heraldo vào lúc năm giờ chiều, Alfonso Fuenmayor vẫn không ngửng lên nhìn để hoàn thành nốt bài xã luận của mình.
- Chuẩn bị gươm giáo nhanh lên đi, anh bạn - ông nói với tôi. - Tuần tới Crónica sẽ xuất bản đấy.
Tôi không giật mình vì đã nghe câu này hai lần trước đó rồi. Tuy nhiên lần thứ ba thì thật. Sự kiện báo chí lớn nhất trong tuần - với ưu thế tuyệt đối - chính là việc cầu thủ bóng đá người Brazil, Heleno de Freitas, đến đầu quân cho đội Deportivo Junior. Nhưng chúng tôi không cạnh tranh với các báo chuyên ngành mà chỉ đưa tin lớn trong mục văn hóa và xã hội. Crónica sẽ không bao giờ chỉ đóng khung trong các sự kiện như thế này, kể cả trong lĩnh vực bóng đá là nỗi đam mê của quảng đại quần chúng. Đó là quyết định thống nhất.
Trong khi chờ đợi, chúng tôi đã chuẩn bị sẵn rất nhiều bài vở và vào phút cuối cùng, chỉ còn thiếu bài phóng sự về cầu thủ Heleno do German Vargas - bậc thầy của thể loại này và cũng là một cổ động viên cuồng nhiệt của bóng đá - viết. Số đầu tiên của tuần báo có mặt đúng hẹn tại các quầy báo vào sáng sớm thứ Bảy, ngày 29 tháng 4 năm 1950, đúng ngày Thánh Santa Catalina de Siena, người viết các bức thư màu xanh trong quảng trường đẹp nhất thế giới. Câu do tôi nghĩ ra vào giờ chót: “Weekend tuyệt nhất của bạn” được in ngay dưới tên Crónica. Chúng tôi biết là mình đang thách thức thói quen giữ gìn trong sáng ngôn ngữ đang ngự trị trong nền báo chí Colombia những năm đó, nhưng chúng tôi muốn nói rằng khái niệm Weekend (những ngày nghỉ cuối tuần) vẫn chưa có từ ngữ tương tự trong tiếng Tây Ban Nha. Trang bìa có hình cầu thủ Heleno de Freitas vẽ bằng mực, tác phẩm của Alfonso Melo, người vẽ chân dung duy nhất trong ba họa sĩ minh họa của tạp chí lúc đó.
Dù có đôi chút vội vã vào phút chót và thiếu sự quảng cáo kịp thời, nhưng số đầu tiên của tuần báo đã được bán hết sạch sớm hơn nhiều trước khi tất cả các thành viên trong ban biên tập có mặt đầy đủ ở sân vận động thành phố vào hôm sau - ngày 30 tháng Tư - nơi diễn ra trận đấu bóng đá giữa hai đội của tỉnh Barranquilla là Deportivo Junior và Sporting. Ban biên tập tuần báo cũng chia làm hai phe vì German và Alvaro ủng hộ đội Sporting còn Alfonso và tôi ủng hộ đội Junior. Tuy nhiên, chỉ riêng tên Heleno in đậm và bài phóng sự tuyệt vời của German Vargas đã gây ra một sự hiểu lầm tai hại là Crónica sẽ là tạp chí thể thao lớn mà bấy lâu nay cả nước Colombia đang chờ đợi.
Cả sân vận động ngập đầy cờ. Ngay phút thứ sáu của hiệp một, Heleno de Freitas đã ghi bàn thắng đầu tiên trên đất Colombia bằng chân trái từ giữa sân. Mặc dù, cuối cùng thì Sporting thắng 3-2, nhưng buổi chiều hôm đó là của Heleno và sau đó là của chúng tôi, nhờ bức chân dung của anh ta được đăng trên trang nhất của tuần báo. Tuy nhiên, không có quyền năng nào, dù là người hay thánh thần, đủ sức làm cho quần chúng hiểu được rằng Crónica không phải là một tạp chí thể thao mà là một tuần báo văn hóa và chỉ coi sự kiện Heleno de Freitas như một tin lớn nhất trong năm mà thôi.
Đó không phải là vận may của kẻ mới vào nghề. Ba trong số bốn người chúng tôi, tất nhiên bao gồm cả German Vargas, thường viết về đề tài bóng đá trong các chuyên mục mà mọi người đều quan tâm. Alfonso Fuenmayor là một người hâm mộ trung thành của bóng đá, và trong nhiều năm Alvaro Cepeda đã từng là phóng viên thường trú ở Colombia của tờ báo Sporting News của Saint Louis, bang Missouri. Tuy nhiên, những độc giả mà chúng tôi mong muốn đã không thèm giang rộng cánh tay đón những số tiếp theo của tuần báo và những người hâm mộ cuồng nhiệt của sân vận động đã lạnh lùng từ bỏ chúng tôi.
Để vá lại chỗ thủng, hội đồng biên tập đã quyết định giao cho tôi viết các thiên phóng sự trung tâm về Sebastían Berascochea, một ngôi sao bóng đá khác người Uruguay của đội bóng Deportivo Junior với hy vọng kết hợp được bóng đá với văn học, như bao nhiêu lần tôi đã từng làm với các ngành khoa học - giấu kín trong chuyên mục hàng ngày của mình. Cơn sốt trái bóng mà người bạn thuở nhỏ Luis Carmelo Correa gieo vào lòng tôi như một thủ môn ở Cataca đã bị hạ nhiệt đến số không. Ngoài ra tôi lại thuộc nhóm những người sớm hâm mộ môn bóng chày vùng Caribe. Nhưng dù sao tôi cũng chấp nhận sự thách thức này.
Hình mẫu của tôi tất nhiên sẽ là bài phóng sự của German Vargas. Tôi cũng cố bổ sung thêm kinh nghiệm của người khác. Và tôi thấy nhẹ cả người sau buổi nói chuyện khá lâu với Berascochea, vốn là một người thông minh và đáng yêu và luôn có ý thức giữ gìn hình ảnh của mình trước công chúng. Nhưng điều tệ hại là tôi, căn cứ vào họ của anh ta, đã khắc họa và mô tả anh như một mẫu người xứ Vasco của Pháp mà không nghĩ đến một chi tiết là anh ta vốn là người da đen thuần chủng châu Phi. Đó là sự nhầm lẩn lớn trong đời tôi và là thời khắc tệ hại nhất đối với tờ tuần báo. Tâm hồn tôi đau đớn khi nhận được bức thư của độc giả coi tôi như một nhà báo thể thao mà không biết phân biệt sự khác nhau giữa trái bóng và chiếc xe điện. Ngay German Vargas, người vốn rất cẩn trọng trong các nhận xét, mấy năm sau trong một cuốn sách cũng khẳng định là bài phóng sự về Berascochea là bài dở nhất trong tất cả những gì mà tôi đã viết ra. Tôi tin là ông đã phóng đại, nhưng không nhiều lắm, vì không ai viết phóng sự hay hơn ông.
Chúng tôi không từ bỏ bóng đá và bóng chày vì cả hai môn này đều rất được quần chúng nhân dân ở vùng ven bờ biển Caribe ưa thích, nhưng chúng tôi cũng tăng thêm các bài về đề tài hiện tại và những cái mới trong đời sống văn học. Nhưng tất cả đều vô ích: không bao giờ chúng tôi có thể khắc phục được sự hiểu lầm của mọi người rằng Crónica là một tạp chí thể thao. Nhưng ngược lại, những người say mê sân vận động cũng tự quên điều đó và họ mặc kệ cho số phận của chúng tôi. Và như vậy chúng tôi có thể tiếp tục làm tạp chí này theo đúng như đã dự định trước đây, mặc dù từ tuần lễ thứ ba, tuần báo vẫn đánh đu trong sự nhập nhằng nước đôi này.
Tôi không mất tinh thần. Chuyến đi với mẹ về Cataca, cuộc nói chuyện lịch sử với Don Ramon Vinyes và sự gắn bó chặt chẽ với nhóm Barranquilla đã tiếp cho tôi sinh khí mới và nó sẽ tồn tại mãi trong tôi. Từ lúc đó tôi không kiếm được xu nào ngoài sản phẩm từ máy đánh chữ, và điều này đáng được khen hơn tôi tưởng. Mãi khi đã ngoài bốn mươi tuổi tôi mới được trả những đồng nhuận bút đầu tiên cho phép tôi sống được nhờ truyện ngắn và tiểu thuyết mặc dù trước đó tôi đã từng cho in bốn cuốn sách với mức thu nhập quá ít ỏi. Trước nữa, tôi phải thường xuyên bày mưu tính kế gài bẫy, tìm cách né tránh và nuôi ảo tưởng thoát khỏi những miếng mồi định biến tôi trở thành bất cứ người nào khác chứ không phải là nhà văn.