Lối Thoát Trong Đêm

Lượt đọc: 6327 | 4 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 1

Đó là một vận đen. Parry vô tội. Thêm vào đó, hắn là một gã tử tế, kẻ chẳng bao giờ quấy rầy ai và chỉ muốn một cuộc sống yên ổn. Nhưng phía bên kia cán cân có quá nhiều thứ, còn phía hắn thì hầu như chẳng có gì. Bồi thẩm đoàn phán quyết hắn có tội. Thẩm phán tuyên án chung thân và hắn bị giải tới nhà tù San Quentin.

Vụ xét xử đã diễn ra rầm rộ dù nó chỉ liên quan đến những nhân vật không quan trọng, và ở nhiều khía cạnh, nó mang tính giật gân. Parry ba mươi mốt tuổi và kiếm được ba mươi lăm đô một tuần với tư cách là thư ký tại một công ty môi giới chứng khoán ở San Francisco. Theo bên công tố, cuộc hôn nhân mười sáu tháng của hắn không hạnh phúc. Và cũng theo bên công tố, một người bạn của gia đình Parry đã đến căn hộ nhỏ vào một buổi chiều mùa đông và thấy bà Parry nằm trên sàn với cái đầu bị vỡ lún vào. Bên công tố cáo buộc rằng bà Parry đang hấp hối và ngay trước khi qua đời, bà đã nói Parry đã phang vào đầu bà bằng một chiếc gạt tàn thủy tinh nặng trịch. Chiếc gạt tàn nằm gần thi thể. Cảnh sát tìm thấy dấu vân tay của Parry trên đó.

Đó mới chỉ là một nửa câu chuyện. Nửa còn lại là dấu chấm hết cho Parry. Hắn phải thừa nhận vài điều. Hắn phải thừa nhận hắn không hòa thuận với vợ. Hắn phải thừa nhận hắn đang qua lại với những người phụ nữ khác. Việc vợ hắn cũng qua lại với những gã đàn ông khác chẳng có ý nghĩa gì trước tòa. Sau đó, họ buộc Parry phải thừa nhận rằng hôm đó hắn không đi làm. Một cơn đau xoang khiến hắn ở nhà cả buổi sáng và buổi chiều hắn đã đi dạo trong công viên. Khi về nhà, hắn thấy một đám đông bên ngoài khu chung cư và vài xe cảnh sát, khung cảnh thường thấy. Đó là những gì hắn khai. Cảnh sát lại nói khác. Cảnh sát nói rằng Parry đã đập gạt tàn vào đầu vợ rồi sắp xếp thi thể để trông như thể bà bị vấp ngã, làm rơi gạt tàn khỏi bàn khi ngã xuống, rồi đầu đập vào gạt tàn khi chạm sàn. Cảnh sát nói đó là một màn kịch rất thông minh và chắc chắn nó đã thành công nếu không có lời trăng trối của bà Parry.

Luật sư của Parry đã cố gắng hết sức nhưng bằng chứng chống lại hắn quá nhiều. Chỉ có một mắt xích yếu trong lập luận của bên công tố. Nó liên quan đến các dấu vân tay. Khi công tố viên tuyên bố Vincent Parry là một kẻ giết người quỷ quyệt và tàn độc, luật sư của Parry phản bác rằng một kẻ giết người quỷ quyệt, tàn độc sẽ lau sạch dấu vân tay trên gạt tàn. Luật sư của Parry nói đó không phải là giết người, đó là tai nạn.

Mọi chuyện chỉ có thế, ngoại trừ mấy vấn đề về tư cách. Rất nhiều người muốn biết tại sao Parry không mặc quân phục. Bên công tố đã thổi phồng chuyện đó lên. Parry thuộc diện 4-F1. Bệnh xoang là một lý do, thận hư là lý do khác. Dù sao thì hắn cũng là một gã 4-F và thêm vào đó là những chuyện liên quan đến khoảng thời gian ở trại giáo dưỡng Arizona khi hắn mười lăm tuổi. Hắn là con một, mồ côi, và người họ hàng duy nhất ở Maricopa đã từ chối cưu mang, một tuần sau đó hắn đói lả và đi cướp tiệm tạp hóa. Rồi lại còn chuyện lăng nhăng với phụ nữ và một tập hợp các lời khai từ những tay pha chế và bán rượu. Parry có thói quen uống rượu Gin nguyên chất bất chấp bệnh thận. Bên công tố khẳng định rượu gin là nguyên nhân chính gây ra bệnh thận. Kết nối rượu gin với quả thận, bên công tố tạo ra một mối liên hệ khác và suy luận rằng tình trạng 4-F có được là do uống quá nhiều gin làm thận yếu đi. Một vài tờ báo vớ lấy tin đó và bắt đầu gọi Parry là kẻ trốn nghĩa vụ. Các tờ báo khác cũng hùa theo. Có những bài xã luận kêu gọi kiểm tra kỹ hơn những gã 4-F than phiền về bệnh thận. Khi Parry bị tuyên án, ảnh hắn nằm trên tất cả các mặt báo và một tờ đã chú thích ảnh hắn là "Kẻ Trốn Nghĩa Vụ Bị Kết Án."

Ngay trước khi bị giải đến San Quentin, Parry được phép nói chuyện với một người bạn. Đó là Fellsinger, lớn hơn Parry vài tuổi và làm cùng công ty chứng khoán. Fellsinger là bạn thân nhất của Parry và là một trong những người tin Parry vô tội. Parry tặng Fellsinger tất cả tài sản của mình. Số này bao gồm một đồng hồ đeo tay chống nước, 63,75 đô la, một đài radio-phono hiệu Packard-Bell, một bộ sưu tập đĩa than gồm các bản đặc biệt của Count Basie do Parry sưu tầm và mớ hỗn độn nhạc Stravinsky cùng các nhạc sĩ hiện đại khác của người vợ quá cố. Parry cũng đưa hết quần áo, nhưng Fellsinger đã đốt chúng và tống khứ mọi thứ thuộc về bà Parry. Fellsinger chưa vợ và dành phần lớn thời gian với gia đình Parry. Anh ta chưa bao giờ thích bà Parry và khi nói lời tạm biệt Vincent Parry, anh ta suy sụp và khóc như một đứa trẻ.

Parry không khóc. Lần cuối cùng hắn khóc là khi ở trại giáo dưỡng tại Arizona. Một tên cai ngục cao lớn đã đấm vào mặt hắn, rồi đấm thêm cái nữa. Khi tên cai ngục đấm cái thứ ba, Parry mất trí và siết tay quanh cổ tên cai ngục. Tên cai ngục hấp hối còn Parry thì nức nở trong nước mắt khi gia tăng lực siết. Rồi những cai ngục khác chạy vào can thiệp. Họ tống Parry vào biệt giam. Sau đó tên cai ngục tàn bạo kia giở một trò đồi bại khác với một trong những đứa trẻ, giám thị đã điều tra và sa thải hắn.

Parry đang nghĩ về chuyện đó khi bước qua cánh cổng San Quentin. Hắn hy vọng sẽ không đụng phải tên cai ngục tàn bạo nào. Hắn có ý nghĩ rằng mình có thể tìm được chút hạnh phúc nào đó trong cuộc sống tù đày. Hắn luôn muốn hạnh phúc, loại hạnh phúc giản đơn và bình thường. Hắn chưa bao giờ muốn rắc rối.

Hắn trông không giống kẻ có thể xử lý rắc rối. Hắn cao một mét bảy mươi, nặng sáu mươi lăm ký, tạng người sinh ra để làm thư ký bàn giấy. Thêm vào đó là mái tóc nâu nhạt xám xịt và đôi mắt màu vàng sẫm u buồn. Đôi môi là loại môi không dành cho nụ cười. Thường có một điếu thuốc dính trên môi. Parry đã chộp lấy công việc ở công ty chứng khoán khi biết đó là nơi hắn có thể hút thuốc thỏa thích. Hắn là một gã hút ba bao một ngày.

Ở San Quentin, hắn xoay xở để có ba bao mỗi ngày. Hắn làm kế toán và có thỏa thuận tài chính với vài tù nhân không hút thuốc. Hắn hòa thuận với các tù nhân khác và bảy tháng đầu không có gì khó khăn. Đến tháng thứ tám, hắn đụng độ một gã cai ngục giống hệt gã đã đấm hắn thời ở Arizona. Tên cai ngục bắt nạt hắn và cuối cùng dàn xếp một tình huống cần phải thể hiện uy quyền. Parry sẵn sàng chịu nghe chửi bới nhưng không chịu ăn đấm. Rồi cú đấm thứ hai giáng xuống. Và đến cú đấm thứ ba, Parry bắt đầu nức nở, hệt như hắn đã nức nở ở Arizona. Hắn siết tay quanh cổ tên cai ngục. Những cai ngục khác lao vào can thiệp. Parry bị tống vào biệt giam.

Hắn bị biệt giam chín ngày. Khi ra ngoài, hắn bị đuổi khỏi vị trí kế toán và chuyển sang khu giam giữ khác, kém thoải mái hơn nhiều so với khu cũ. Hắn biết tin tên cai ngục suýt chết, vụ việc đã lan ra ngoài bức tường nhà tù và lên báo. Giờ đây hắn phải lao động khổ sai với xẻng và búa tạ, đến đêm thì kiệt sức đến mức đứng không vững. Hắn mệt đến nỗi gần như không đọc nổi thư của Fellsinger. Nhưng một đêm nọ, hắn nhận được thư Fellsinger bảo rằng hắn là thằng ngu vì đã dây dưa với tên cai ngục đó. Nó hủy hoại mọi cơ hội được ân xá. Hắn bật cười trước điều đó. Hắn biết mình sẽ dành phần đời còn lại ở chốn này. Hắn biết cuộc đời đó sẽ ra sao.

Đó sẽ là một cuộc đời kinh khủng. Đồ ăn ở San Quentin tạm ổn nhưng không đủ tốt cho tình trạng sức khỏe của hắn. Và chả hiểu sao hắn lại có cảm giác nghịch lý rằng rượu Gin giúp ích cho thận của mình, mà ở đây thì không thể có Gin. Hắn không thể có phụ nữ, không thể có ánh đèn rực rỡ và không thể có lò sưởi. Hắn không thể có những người bạn mình muốn, không thể có những con phố để dạo bước và đám đông để ngắm nhìn. Tất cả những gì hắn có ở đây là những song sắt trên cửa xà lim và sự nhận thức rằng hắn sẽ phải nhìn những song sắt đó suốt phần đời còn lại.

Hắn đang ngồi trên mép chõng. Hắn nhìn những song sắt cửa xà lim. Như một con rắn trườn vào hồ nước, một ý nghĩ trườn vào tâm trí hắn. Hắn đứng dậy. Hắn bước ra cửa và đặt tay lên những thanh thép. Chúng không dày lắm nhưng rất chắc chắn. Hắn nghĩ về độ chắc của những thanh này, độ chắc của cánh cửa thép cuối hành lang D, khẩu súng lục sẵn sàng của tên lính canh cuối hành lang E, rồi hai tên lính canh cuối hành lang F, bức tường cao bao nhiêu, và bao nhiêu khẩu súng máy đang đợi sẵn dọc bức tường. Con rắn uốn mình và bắt đầu trườn ra khỏi hồ nước. Rồi nó uốn mình lần nữa và bắt đầu phình to ra. Nó trở thành một con rắn khổng lồ vì Parry đang nghĩ đến những chiếc xe tải chở các thùng xi măng vào khu vực sân nơi họ đang xây nhà kho. Parry làm việc ở khu sân đó.

Giấc ngủ là một tấm bảng đen và trên bảng đen đó là sơ đồ phấn trắng của cái sân. Hắn cứ tô đi vẽ lại nó và khi đã nắm rõ, hắn tưởng tượng một dấu X trắng tại nơi hắn sẽ đứng khi xe tải dỡ các thùng hàng. Dấu X di chuyển khi những chiếc thùng rỗng được xếp lại lên xe tải. Dấu X di chuyển chậm chạp rồi biến mất vào trong một trong những chiếc thùng đã nằm trên xe.

Tấm bảng đen đen kịt. Nó vẫn đen kịt cho đến khi một tiếng còi vang lên. Động cơ khởi động. Âm thanh đó xuyên qua thành thùng và xuyên qua não Parry. Không có nhiều không khí nhưng đủ để giữ hắn sống một lúc. Một lúc thôi. Tiếng động cơ to hơn. Rồi chiếc xe di chuyển. Hắn biết chính xác xe phải đi bao xa thì ra khỏi sân. Hắn chờ nghe tiếng còi hú. Tiếng còi báo động. Hắn có cảm giác đây chẳng qua chỉ là một ý tưởng ngu xuẩn sẽ chẳng đưa hắn đi tới đâu ngoại trừ quay lại phòng biệt giam. Hắn nhún vai và tự nhủ mình chẳng có gì để mất.

Không có tiếng còi hú. Không có còi báo động. Chiếc xe giờ đang chạy nhanh hơn. Hắn không thể tin nổi. Chuyện này quá dễ dàng. Hắn bảo tâm trí mình câm đi, vì chuyện này chưa xong đâu. Đây mới chỉ là bắt đầu và từ đây trở đi sẽ rất cam go. Hắn phải thoát ra khỏi cái thùng và đó sẽ là một thử thách cực đại. Hắn nằm trong một chiếc thùng ở đáy và chúng được xếp chồng ba tầng. Chiếc xe đang lăn bánh. Hắn cảm nhận nó đang rẽ. Nó rẽ một lần nữa rồi lăn bánh nhanh hơn. Hắn gặp khó khăn khi hít không khí từ bóng tối đen kịt bên trong thùng. Hắn tự nhủ mình có năm phút và không hơn. Hai thùng đè bên trên, và bốn hàng thùng chắn giữa hắn và mép xe tải. Hắn hít một hơi sâu nhưng hóa ra chẳng sâu chút nào. Điều đó làm hắn hoảng sợ. Hắn hít một hơi sâu khác và nó còn nông hơn hơi đầu. Hắn dồn trọng lượng vào thành thùng nhưng cái thùng không nhúc nhích. Hắn thử lại và nhích được khoảng một phân. Hắn thử lần thứ ba và nhích thêm một phân nữa. Hắn tiếp tục cố gắng và nhích từng phân một. Đột nhiên hắn nhận ra mình đang chiến đấu giành giật sự sống. Điều đó làm hắn sợ hãi đến mức ngừng cố gắng và quyết định bắt đầu la hét, van xin họ dừng xe và thả hắn ra khỏi thùng.

Ngay trước khi mở miệng, hắn phân tích ý định đó. Khe hở trên nắp thùng đủ rộng để giọng hắn lọt qua, nhưng nếu giọng hắn lọt qua nghĩa là hắn sẽ sớm quay lại San Quentin.

Miệng hắn vẫn mở nhưng không phát ra âm thanh. Thay vào đó hắn rít thêm một hơi khí. Hắn đẩy thành thùng lần nữa. Bây giờ hắn ước tính ba phút đã bị trừ vào năm phút ban đầu. Hắn còn hai phút để làm nên chuyện. Hắn tiếp tục rít không khí và đẩy thành thùng.

Cái nóng tháng Tám ùa qua khe hở trên nắp thùng, trộn lẫn với sự đậm đặc đen ngòm trong thùng, nỗi thống khổ và sự nỗ lực. Mồ hôi tuôn như suối xuống mặt Parry, đọng thành vũng ở nách. Đột nhiên hắn nhận ra đã hơn hai phút trôi qua, hơn rất nhiều. Coi như là mười phút đi. Hắn nhìn lên và qua khe hở trên nắp thùng, hắn có thể thấy bầu trời vàng. Hắn mỉm cười với bầu trời và giờ hắn hiểu mình có cơ hội tốt. Cùng với bầu trời, một nguồn không khí mới đang tràn qua khe hở.

Gồng mình đẩy thành thùng, đẩy nó ra xa hai thùng bên trên, hắn nới rộng khe hở lên hai mươi lăm phân. Hắn đang xử lý phân thứ hai mươi sáu thì chiếc xe va phải một ổ gà trên đường và hai thùng bên trên trượt lại vị trí cũ. Hắn nhìn lên và thay vì bầu trời, tất cả những gì hắn thấy là màu đen, mặt dưới đen ngòm của chiếc thùng thứ hai. Hắn đã mất khe hở và mất hết không khí. Giờ hắn phải bắt đầu lại từ đầu.

Hắn không muốn bắt đầu lại từ đầu. Hắn muốn khóc. Hắn bắt đầu khóc và nước mắt là những hạt ướt đẫm đặc quánh hòa vào mồ hôi đang tuôn ra nhiều hơn. Tứ chi co quắp làm hắn đau đớn. Hắn đo đếm cơn đau và biết rằng nó rất tệ. Và nó sẽ tệ hơn, cứ tệ hơn mãi cho đến khi cuối cùng hòa lẫn với cơn đau trong buồng phổi đói khí. Một lần nữa hắn tự nhủ mình sẽ chết trong cái thùng này.

Sự căm thù bước vào và trôi nổi bên cạnh nỗi sợ hãi. Căm thù cái ổ gà trên đường đã làm hai cái thùng trượt lại. Căm thù hai cái thùng. Căm thù chiếc xe tải. Căm thù tên công tố viên. Căm thù bà Parry. Căm thù người bạn của bà Parry, kẻ đã vào căn hộ buổi chiều mùa đông ấy và tìm thấy xác chết. Tên ả là Madge Rapf. Tên ả là "Đồ Ký Sinh". Ả là Đồ Ký Sinh ngay từ khoảnh khắc đầu tiên Parry biết ả. Ả luôn ở trong căn hộ, xía vào chuyện người khác. Tự mình tìm cách được mời ăn tối, ở lại muộn và cố tán tỉnh Parry. Có lần ả đã tán tỉnh được hắn một chút và hắn nhớ đó là vào đêm hắn và bà Parry đã có một cuộc cãi vã dữ dội. Bà Parry đi vào phòng và sập cửa lại. Madge đi vào phòng đó và ở đó khoảng hai mươi phút. Khi đi ra, ả nhờ Parry đưa về nhà. Hắn đưa ả về và khi ả dụ được hắn vào trong nhà, ả bắt đầu sấn sổ vào hắn. Hắn không muốn làm gì cả. Ả thực sự không hấp dẫn hắn. Ả chẳng có gì đặc biệt. Nhưng hắn đã chán ngấy bà Parry và hắn cũng chẳng quan tâm chuyện gì xảy ra nữa. Vì thế hắn bắt đầu qua lại với ả và một đêm nọ sự việc đi đến một giới hạn nhất định thì hắn bảo Madge hãy buông tha, hắn sẽ về nhà. Ả bắt đầu quấy rầy hắn. Ả bảo hắn rằng bà Parry đã chán hắn nhưng ả sẽ không chán hắn. Ả bảo hắn nên bỏ vợ và góp gạo thổi cơm chung với ả. Hắn bảo ả hãy lo việc của mình đi. Nhưng bản tính của ả khiến điều đó là không thể và mỗi khi có cơ hội, ả lại bảo hắn bỏ vợ để đến với ả. Ả đã ly thân chồng sáu năm và trong suốt thời gian đó ông chồng luôn cố gắng ly dị. Ả nhất quyết không ly dị Rapf vì ả biết thỉnh thoảng ông ta lại có cô bồ nào đó muốn cưới. Ả chẳng có ai. Ả chẳng có gì ngoài một trăm năm mươi đô mỗi tháng nhận từ chồng. Giờ đây một trăm năm mươi đô mỗi tháng không làm ả thỏa mãn và ả muốn một ai đó. Ả đau khổ và thứ duy nhất làm dịu nỗi đau khổ của ả là nhìn thấy người khác đau khổ. Nếu họ không đau khổ, ả sẽ quấy nhiễu họ cho đến khi họ đau khổ mới thôi. Parry có cảm giác rằng một trong những khoảnh khắc hạnh phúc nhất đời Madge Rapf là khi vị bồi thẩm đoàn trưởng đứng lên và tuyên bố hắn có tội.

Mọi thứ trở nên kinh khủng trong thùng. Parry gạt sự căm thù sang một bên và thay thế nó bằng năng lượng. Hắn đẩy thành thùng. Hắn nhích được ba phân. Hắn nhích thêm ba phân nữa và lại có không khí. Xe tải đang chạy rất nhanh và hắn tự hỏi nó đang đi đâu. Hắn tiếp tục đẩy thành thùng. Chiếc xe va phải một ổ gà khác, ổ gà thứ hai, thứ ba rồi thứ tư. Parry tính toán có thể sẽ có ổ gà thứ năm và hắn tự khuyên mình phải sẵn sàng. Bốn cú xóc đã đẩy hai thùng phía trên trượt lại theo hướng hắn muốn. Hắn có khoảng mười hai phân phía trên. Khi cú xóc thứ năm đến, hắn đã chuẩn bị sẵn sàng và hắn dồn sức đẩy mạnh, nương theo cú xóc, đẩy hai thùng dạt sang bên, nới rộng khe hở đến mức hắn ước lượng là hai mươi ba phân. Hắn thọc tay lên, đẩy hai thùng kia, nới thêm mười phân nữa. Và thế là quá đủ.

Parry kéo mình ra khỏi thùng. Hắn thấy con đường đang lùi xa, một dòng chảy xám xịt trôi tuột lại giữa đồng cỏ xanh nhạt phẳng lì, trôi về phía chân trời vàng vọt. Bên trái, viền quanh màu xanh nhạt, hắn thấy những ngọn đồi lởm chởm, không cao lắm. Hắn quyết định sẽ chạy tới những ngọn đồi.

Giữ đầu cúi thấp, hắn len lỏi qua các thùng hàng. Rồi hắn ra đến mép xe tải, ước tính tốc độ khoảng 80 km/h. Sẽ là một cú ngã đau và có lẽ hắn sẽ bị thương. Nhưng nếu hắn ngã mặt hướng về phía trước, chạy theo đà xe, hắn sẽ nương theo quán tính và điều đó sẽ có chút lợi ích.

Hắn làm đúng như vậy. Hắn đã chạy ngay cả trước khi chạm mặt đường. Hắn chạy được vài mét rồi ngã sấp mặt. Biết mình bị thương nhưng không biết ở đâu và cũng chẳng quan tâm, hắn lồm cồm bò dậy thật nhanh và chạy thục mạng về phía lề đường. Cỏ xanh nhạt khá cao và hắn quăng mình vào đó rồi nằm im, thở dốc, quá hoảng sợ để nhìn ra đường. Nhưng hắn có thể nghe tiếng động cơ xe tải xa dần và hắn biết mình đã an toàn đối với chiếc xe tải. Khi ngóc đầu lên khỏi đám cỏ, hắn thấy một chiếc ô tô đang chạy ngang qua. Hắn thấy người trong xe và mặt họ hướng về phía hắn, hắn chờ chiếc ô tô dừng lại.

Chiếc ô tô không dừng lại. Parry nằm đó thêm một phút nữa. Trước khi đứng dậy, hắn cởi chiếc áo sơ mi xám, chiếc áo lót trắng. Cởi trần đến thắt lưng, hắn cảm nhận sức nóng của mặt trời, độ ẩm dày đặc của giữa mùa hè. Cảm giác thật dễ chịu. Nhưng có thứ khác thật tệ, đó là cơn đau ở cả hai cánh tay, ở khuỷu tay. Hắn đã ngã đập khuỷu tay xuống và da bị rách toạc, máu chảy khá nhiều. Hắn nhổ cỏ, đào đất cho đến khi tạo thành một cái hố, một vũng bùn. Hắn trát bùn lên khuỷu tay, việc đó giúp cầm máu và tạo thành một lớp vỏ bảo vệ. Rồi hắn nhét áo sơ mi và áo lót xuống hố. Hắn đắp lại bằng những mảng cỏ, che phủ cái hố phẳng phiu.

Mặt trời đã lên cao, và Parry quan sát nó khi bắt đầu đi về phía những ngọn đồi. Hắn đoán thời gian khoảng mười một giờ, nghĩa là hắn đã ở trên xe tải gần một tiếng. Điều đó cũng có nghĩa là San Quentin đã mất khá nhiều thời gian để phát hiện ra cuộc đào tẩu của hắn. Một lần nữa hắn lại tự nhủ mọi chuyện quá dễ dàng và không thể kéo dài mãi, rồi hắn nghe thấy tiếng mô tô.

Hắn quăng mình xuống cỏ, cố gắng dán chặt người xuống đất. Hắn chưa thấy những chiếc mô tô, dù mắt hắn quét một vòng rộng trên đường. Thế cũng tốt. Có lẽ chúng cũng không thấy hắn. Chúng đang đi tới từ một khúc cua thoai thoải. Chúng tạo ra rất nhiều tiếng ồn, một thứ tiếng ồn giận dữ khi lại gần. Rồi hắn thấy chúng, vút qua. Hai, ba, rồi năm chiếc. Ngay khi vừa lướt qua hắn, chúng bắt đầu hú còi và hắn biết chúng đang đuổi theo chiếc xe tải.

Hắn có thể hình dung ra cảnh tượng đó. Chiếc xe tải cách đây khoảng năm cây số. Cho chúng năm phút để lục soát các thùng, thẩm vấn tài xế và phụ xe. Cho chúng thêm sáu phút nữa để quay lại đây, vì chúng sẽ đi chậm, soi xét mặt đường và đồng cỏ hai bên đường. Được rồi, đợi thêm một phút nữa và để chúng đi được hai cây số. Cho là hai phút đi, rồi dành ba hoặc bốn phút để chạy tới những ngọn đồi kia, và cầu nguyện sẽ không có thêm chiếc mô tô nào xé gió lao xuống đường nữa.

« Lùi
Tiến »