Tôi buộc phải yêu cầu bạn đọc trở lại quãng đời mà lần đầu tiên tôi gặp hiệp sĩ đơ Griơ. Đó là vào khoảng sáu tháng trước khi tôi khởi hành đi Tây Ban Nha. Tuy ít khi ra khỏi cuộc sống cô độc của mình, đôi khi chiều theo ý con gái, tôi cũng có những chuyến đi nho nhỏ mà tôi cố rút ngắn chừng nào tốt chừng ấy.
Một hôm tôi từ Ruăng [6] trở về. Con gái tôi nhờ tôi đến đấy để xin hội đồng xử Normandie giải quyết việc thừa kế một số ruộng đất của phía ông ngoại tôi mà tôi có ý định nhượng lại cho nó. Đêm đầu, tôi nghỉ lại ở Evơrơ [7] , hôm sau tôi đến ăn trưa ở Pacy, một thị trấn cách Evơrơ khoảng năm, sáu dặm. Bước vào cái thị trấn nhỏ này, tôi ngạc nhiên thấy dân chúng hết sức nhốn nháo. Họ đổ xô ra khỏi nhà, lũ lượt kéo đến cửa một lữ điếm tồi tàn; trước cửa lữ điếm có hai chiếc xe ngựa mui bịt kín. Mấy con ngựa kéo xe, chưa được tháo ách, thở hổn hển vì mệt và nóng, chứng tỏ hai chiếc xe kia vừa mới đến. Tôi dừng lại một lát để dò hỏi do đâu có sự huyên náo đó; nhưng đám dân chúng tò mò, không chú ý gì đến các câu hỏi của tôi, lại cứ xô đẩy nhau kẻo đến trước khách sạn, chẳng làm sáng tỏ chút ít gì cho tôi cả. Cuối cùng, một viên cảnh sát, súng quàng vai, xuất hiện ở cửa. Tôi lấy tay ra hiệu cho anh ta lại gần và yêu cầu anh ta nói cho biết nguyên nhân của sự lộn xộn đó. Anh ta bảo:
– “Không có gì đâu ông ạ, đấy chỉ là một tá điếm mà tôi và các đồng sự có phận sự đưa đến cảng Lơ Havarơ đơ Graxơ [8] rồi đưa sang Mỹ. Có một vài ả khả xinh, chắc vì thế mà các bác nhà quê nhà ta mới tò mò như vậy.”
Sau lời giải thích đó, chắc là tôi đã bỏ đi nếu những lời than vãn của một bà lão từ khách sạn bước ra không buộc tôi dừng lại. Và vừa chắp tay vừa kêu lên rằng đó là một sự dã man, một điều khiến người ta ghê tởm và thương hại. Tôi hỏi bà:
- Có việc gì thế? Bà lão đáp:
- Chao ôi! Xin ông cứ vào xem rồi sẽ thấy cảnh tượng ấy thương tâm đến chừng nào!
Vì tò mò, tôi xuống ngựa, trao ngựa cho tên giám mã. Khó khăn lắm tôi mới lách qua đám đông, chen vào trong. Quả nhiên tôi nom thấy một cảnh rất xúc động. Trong số mười hai cô gái bị xích ở ngang thắt lưng, thành từng nhóm sáu cô, có một cô mà phong thái và gương mặt không phù hợp với cảnh ngộ của mình, đến mức ở vào bất cứ một hoàn cảnh nào khác, tôi sẽ cho đó là một bà mệnh phụ. Nỗi buồn và quần áo bẩn thỉu chỉ làm cô ta xấu đi chút ít thôi. Nhìn cô ta, tôi thấy kính nể và thương cảm. Dù vậy, cô ta vẫn cố tình quay mặt đi, trong chừng mực mà sợi dây xiềng cho phép, để tránh cái nhìn của đám người xem. Sự cố gắng của cô ta để giấu mình hết sức tự nhiên, dường như đó là do một tình cảm khiêm nhường nào đó. Vì cả sáu người lính áp giải đoàn người khốn khổ này đều ở cả trong phòng, nên tôi gọi riêng viên đội trưởng ra hỏi đôi điều về số phận của cô gái xinh đẹp kia. Anh ta cũng chỉ cho tôi biết một vài điều khá chung chung. Anh ta nói:
- “Chúng tôi đã lôi cô ta ra từ Nhà trừng giới [9] theo lệnh của ngài cảnh sát trưởng Paris. Không có vẻ gì là cô ta bị bắt giam nhầm vào đấy. Dọc đường, tôi đã nhiều lần hỏi cô ta về chuyện này, nhưng cô ta một mực không chịu trả lời. Nhưng dù không được lệnh nương nhẹ cô ta so với các cô kia, tôi vẫn quan tâm đôi chút đến cô ta, vì tôi thấy hình như so với các người bạn đồng hành, cô ta có giá trị hơn một tí. À đây rồi, chàng thanh niên kia có thể nói để ông hiểu rõ hơn nguyên nhân sự sa đọa của cô ta. Anh chàng đã đi theo cô ta từ Paris và lúc nào cũng khóc sướt mướt. Chắc anh ta là anh em ruột hoặc là người yêu của cô nàng”.
Tôi quay lại nhìn vào góc phòng, nơi chàng thanh niên đang ngồi. Anh chàng dường như chìm đắm trong cơn mộng. Tôi chưa hề nhìn thấy một hình ảnh sinh động hơn về nỗi khổ đau. Anh ta ăn mặc hết sức giản dị, nhưng chỉ thoáng nhìn, người ta cũng thấy ngay đó là một người có gia phong và học vấn. Tôi lại gần anh ta. Anh ta đứng dậy; từ đôi mắt, khuôn mặt và từ các cử động của anh ta, toát ra một vẻ tao nhã và cao quý đến nỗi tự nhiên tôi cảm thấy mình chỉ muốn những điều tốt lành cho anh ta. Ngồi xuống cạnh anh ta, tôi bảo:
- “Tôi không làm gì phiền hà anh đâu. Mong anh thỏa mãn sự tò mò của tôi muốn biết rõ về cô gái xinh đẹp mà tôi cho là hoàn toàn không đáng phải chịu đựng cái tình cảnh hiện nay của cô ta”.
Anh chàng thật thà trả lời rằng anh ta không thể cho tôi biết rõ cô ta mà không để lộ mình là ai, và anh ta có những lý do xác đáng để mong muốn được mai danh ẩn tích. Rồi chỉ vào những tên cảnh sát áp giải, anh ta nói tiếp:
- “Tuy nhiên, tôi xin thưa với ông rằng những thằng khốn nạn đó thừa biết rằng tôi yêu nàng với một đam mê mãnh liệt khiến tôi trở thành một kẻ khốn khổ nhất trần gian. Ở Paris, tôi đã làm mọi thứ để cho nàng được tự do. Cầu xin, mưu mẹo, rồi vũ lực đều vô ích, tôi đành chọn lấy con đường là đi theo nàng, dù cho phải đi đến cùng trời cuối đất. Tôi sẽ cùng xuống tàu với nàng, tôi sẽ sang Mỹ. Nhưng, cái điều tàn nhẫn nhất là – anh ta nói thêm về những tên áp giải – những thằng vô lại hèn nhát đó lại không cho tôi đến gần nàng. Kế hoạch của tôi là công khai tấn công chúng nó, cách Paris vài dặm. Với một món tiền lớn, tôi đã thuê được bốn người, họ hứa giúp tôi trong công cuộc đó. Những tên phản bội ấy đã bỏ tôi lại một mình, mang theo cả số tiền của tôi. Dùng vũ lực không thành, tôi đành phải hạ vũ khí. Tôi đề nghị với bọn cảnh sát áp giải là ít nhất cũng để tôi đi theo và hứa thưởng tiền cho bọn chúng. Vì hám lợi, bọn chúng đồng ý. Cứ mỗi lần cho phép tôi được tự do nói chuyện với người yêu, chúng lại bắt tôi phải trả tiền. Chẳng bao lâu tôi cạn hết tiền và bây giờ, không còn một xu dính túi, cứ mỗi khi tôi bước lại gần nàng, chúng lại dã man đẩy tôi ra. Chỉ vừa mới ban nãy, chỉ vì tôi dám tiến lại gần nàng, bất chấp những đe dọa của chúng, chúng đã ngang ngược chĩa cả súng vào người tôi. Để thỏa mãn trò ti tiện của chúng và cũng để có cái ăn mà tiếp tục đi bộ theo nàng, tôi đã phải bán con ngựa gầy từ trước đến nay tôi vẫn dùng”.
Tuy kể lại với vẻ khá bình tĩnh, anh ta đã để rơi một vài giọt nước mắt khi kết thúc câu chuyện. Đối với tôi đây là câu chuyện kỳ lạ và gây xúc động nhất. Tôi nói với anh:
- “Tôi không ép anh bộc bạch với tôi điều bí mật của anh đâu. Nhưng nếu như tôi có thể làm được điều gì có ích cho anh, tôi sẵn lòng giúp đỡ”. Anh ta nói tiếp:
- Than ôi! Tôi chẳng thấy còn chút ánh sáng hy vọng nào. Tôi đành cam chịu cái số kiếp gian nan của tôi thôi. Tôi sẽ sang Mỹ. ở đấy, ít nhất tôi cũng sẽ được tự do với người tôi yêu. Tôi đã viết thư cho một người bạn của tôi, anh ta sẽ mang đến tại Havơrơ đơ Graxơ một vài sự giúp đỡ cho tôi. Tôi chỉ lúng túng là làm sao có thể đi đến đó và làm sao cho con người tội nghiệp kia, – vừa nói anh ta vừa buồn bã nhìn người tình, – khuây khỏa đôi chút trên đường đi.
Tôi nói với anh ta:
“Thế thì tôi xin giúp anh thoát khỏi cái vòng lúng túng đó. Tôi xin anh nhận một ít tiền. Rất tiếc là không thể có cách nào khác để giúp anh”.
Tôi trao cho anh ta bốn đồng lui [10] vàng mà không cho bọn cảnh sát áp giải trông thấy, bởi vì tôi nghĩ rằng nếu bọn chúng mà biết anh ta có món tiền đó thì chúng sẽ càng bắt chẹt anh ta. Tôi còn nghĩ đến cả việc mặc cả với chúng để cho anh ta luôn được tự do nói chuyện với người tình cho tận khi đến Havơrơ. Tôi ra hiệu cho viên đội trưởng lại gần và đưa ra đề nghị với hắn. Tuy trâng tráo, hắn cũng tỏ ra đôi chút xấu hổ. Hắn lúng túng trả lời:
“Thưa ông, chẳng phải là chúng tôi từ chối không để anh ta nói chuyện với cô gái ấy, nhưng mà anh ta lúc nào cũng muốn ở gần cô ả, điều này thật là bất tiện cho chúng tôi, vì vậy anh ta phải trả giá cho sự bất tiện đó là đúng thôi!” Tôi hỏi hắn:
“Thế thì các chú cần bao nhiêu để khỏi cảm thấy sự bất tiện đó?”
Thằng cha dám đòi tôi đến những hai lui. Tôi đưa cho hắn ngay và bảo:
“Coi chừng, đừng có mà giở trò gian lận đấy, bởi vì ta sẽ để lại địa chỉ của ta cho chàng thanh niên kia để anh ta có thể thông báo lại với ta, và các chú nên biết rằng ta có thể làm cho các chú bị trừng phạt đấy.”
Như thế là tôi đã bỏ ra sáu đồng lui vàng. Sự hoan hỉ và biết ơn nồng hậu mà anh chàng trẻ tuổi chưa quen biết ấy biểu lộ ra với tôi khiến tôi càng tin rằng anh ta là con nhà gia thế và xứng đáng với sự hào phóng của tôi. Tôi nói vài lời với cô tình nhân của anh ta trước khi bước ra. Cô ta trả lời tôi với một vẻ khiêm nhường hiền dịu và duyên dáng đến nỗi khi bước ra, tôi không thể không suy nghĩ rất nhiều về cái tính chất không thể nào hiểu được của đàn bà.
Trở về với tình trạng cô đơn, tôi chẳng được thông báo gì về đoạn tiếp theo của câu chuyện trên. Hai năm trôi qua làm tôi quên bẵng nó đi cho đến khi một sự tình cờ lại làm cho tôi có cơ hội hiểu biết sâu mọi tình tiết của câu chuyện.
Tôi từ Luân Đôn đến Cale [11] cùng với anh học trò của tôi là nam tước... [12] Nếu tôi nhớ không nhầm, chúng tôi đã trọ ở khách sạn Sư tử vàng là nơi vì một vài lý do nào đó, chúng tôi phải qua một ngày và một đêm. Buổi chiều, khi thả bộ trên đường phố, tôi nhận ra chàng thanh niên mà tôi đã làm quen ở Paris. Anh ta ăn mặc khá tồi tàn và xanh xao hơn lúc tôi gặp anh ta lần đầu nhiều. Anh ta xách một cái va-li lớn, chắc là vừa mới đến thành phố này. Vì anh ta có khuôn mặt rất đẹp, rất dễ nhận, nên tôi nhận ra anh ta ngay. Tôi nói với nam tước... – “Chúng ta phải đến gặp chàng thanh niên kia”.
Anh ta mừng khôn xiết khi kịp nhận ra tôi:
- Ôi, thưa ông, – anh ta thốt lên vừa ôm hôn tay tôi. – như vậy là một lần nữa tôi lại có thể bày tỏ với ông lòng biết ơn ngàn đời của tôi.
Tôi hỏi anh ta từ đâu đến. Anh ta trả lời rằng anh ta đến đây bằng đường biển từ Havơrơ đơ Graxơ, là nơi anh ta vừa từ Mỹ về đến, mới cách đây ít lâu thôi. Tôi nói với anh ta:
- Tôi thấy hình như anh chẳng có tiền bạc gì nhiều. Hãy đến “Sư tử vàng” đi. Tôi trọ ở đấy. Một lát nữa, tôi sẽ gặp lại anh.
Tôi trở lại khách sạn ngay, nóng lòng muốn biết chi tiết về sự bất hạnh cùng những tình tiết trong chuyến đi Mỹ của anh ta. Tôi hết sức chiều chuộng anh ta, ra lệnh cho khách sạn không để anh ta thiếu thứ gì. Không chờ tôi ép anh kể cho tôi nghe câu chuyện đời anh. Anh ta nói:
- Thưa ông, ông đã đối xử với tôi cao thượng quá, đến mức tôi tự thấy mình là thằng vong ân bội nghĩa đốn mạt nếu tôi còn giấu giếm điều gì với ông. Tôi muốn kể cho ông rõ không chỉ về những nỗi khổ sở, buồn đau mà cả về những sự buông tuồng, sa ngã đáng hổ thẹn nhất của tôi. Tôi chắc rằng trong khi lên án tôi, ông cũng không thể không tỏ lòng thương xót tôi.
⚝ ✽ ⚝
Tôi xin báo trước với bạn đọc rằng tôi đã viết lại câu chuyện của anh ta ngay sau khi nghe và vì vậy, người ta có thể được đảm bảo rằng không có gì chính xác hơn, trung thực hơn, là câu chuyện kể này. Tôi nói “trung thực” cả đến trong mối quan hệ giữa những suy nghĩ và tình cảm mà chàng trai phiêu bạt đó đã thuật lại một cách có duyên nhất trần đời. Sau đây là câu chuyện của anh ta, trong đó tôi không hề chen vào một điều gì không phải là của anh ta, cho đến khi kết thúc.
⚝ ✽ ⚝
Tôi lên mười bảy tuổi và tốt nghiệp khoa triết ở Amien là nơi bố mẹ tôi, một trong những gia đình, danh giá nhất ở P..., gửi tôi đến học. Tôi sống ngoan ngoan, quy củ đến mức các thầy giáo nêu tôi làm gương cho toàn trường trung học. Không phải tôi đã có những cố gắng phi thường gì để xứng đáng với sự ngợi khen đó mà là do bản tính của tôi vốn dịu dàng và trầm tĩnh; tôi chăm học vì thích học và người ta đã xem một vài biểu hiện ghê tởm của tôi đối với thói hư tật xấu là đức hạnh. Dòng dõi của tôi, những kết quả trong học tập cùng với một vài giao tiếp bên ngoài đã làm cho tất cả những người trung thực trong thành phố biết đến và mến chuộng tôi. Tôi hoàn thành việc thực tập nói chuyện nơi công cộng, được mọi người tán thưởng đến nỗi đức giám mục có đến dự, đã khuyên tôi nên đi học để trở thành giáo phẩm, mà theo Người nói, sẽ đem lại cho tôi nhiều trọng vọng hơn là vào giáo đoàn Malte, là tổ chức mà cha mẹ tôi muốn tôi gia nhập. Hai vị đã cho tôi đeo chữ thập của Giáo đoàn với cái tên là “hiệp sĩ” đơ Griơ [13] .
Sắp đến nghỉ hè, tôi sửa soạn trở về nhà cha tôi và người đã hứa chẳng bao lâu nữa sẽ cho tôi vào đại học. Khi từ giã Amien, niềm luyến tiếc duy nhất của tôi là đã để lại đấy một người bạn mà tôi luôn gắn bó mật thiết. Anh ấy hơn tôi vài tuổi. Chúng tôi cùng lớn lên với nhau, nhưng do nhà quá nghèo nên anh ấy buộc phải vào chủng viện, và do vậy phải ở lại Amien sau tôi để tiếp tục công việc học tập phù hợp với cái nghề đó. Anh ấy có bao nhiêu là đức tốt. Rồi ông sẽ biết rõ anh ấy, qua những đức tính tốt đẹp nhất của anh ấy, trong đoạn sau của câu chuyện của tôi, nhất là qua lòng nhiệt tình và sự hào hiệp của anh ấy trong tình bạn là những thứ vượt hẳn những tấm gương nổi tiếng nhất thời xưa. Nếu như tôi nghe theo lời anh ấy, chắc là tôi sẽ luôn luôn khôn ngoan và hạnh phúc. Nếu như ít nhất, trong cái vực thẳm mà những nỗi si mê cuồng dại đã xô đẩy tôi vào, tôi biết sử dụng những lời quở trách của anh ấy, tôi cũng đã có thể cứu vãn một chút gì đó khi cả tài sản và thanh danh của tôi bị chìm sạch. Nhưng để đáp lại những khuyên răn ân cần của anh ấy, anh ấy chỉ nhận được trở lại nỗi buồn phiền khi thấy chúng đều vô ích. Đôi khi thằng bạn bội bạc là tôi lại “trả ơn” anh một cách thô lỗ, cho là mình bị xúc phạm hoặc là cho những lời khuyên can ấy quấy rầy mình.
Tôi đã quyết định ngày rời Amien. Than ôi! Sao tôi lại không định sớm hơn một ngày! Tôi đã có thể mang về cho cha tôi cả tấm lòng ngây thơ trong trắng của tôi rồi! Vào hôm trước cái ngày mà tôi định rời Amien, trong khi đi dạo với người bạn tôi, tên anh ấy là Tibecgiơ, chúng tôi thấy một đoàn xe ngựa từ Aras [14] đến và chúng tôi đi theo những chiếc xe đó cho đến lữ điếm nơi chúng đỗ lại. Cũng chỉ là do tò mò thôi. Mấy phụ nữ từ trong xe bước ra là quay vào trong ngay. Nhưng còn lại một người rất trẻ, đứng lại trong sân một mình, trong khi một người đàn ông đã đứng tuổi, chắc là người đánh xe cho nàng đang vội vàng lôi hành trang của nàng ra từ những chiếc sọt. Tôi thấy nàng xinh đẹp đến nỗi tôi, một kẻ chưa bao giờ nghĩ đến sự khác nhau giữa hai giới tính, cũng chưa hề chú ý nhìn một cô gái nào, tôi mà mọi người đều khen ngợi về sự khôn ngoan và thận trọng, bỗng thấy bùng cháy trong người một niềm hoan lạc. Tôi vốn có nhược điểm là rụt rè quá mức và dễ bối rối; nhưng không hề bị cái nhược điểm đó ngăn lại, tôi tiến lại gần ý trung nhân của lòng tôi. Tuy còn ít tuổi hơn tôi, nàng nhận những lời chào hỏi của tôi mà chẳng hề lúng túng. Tôi hỏi nàng đến Amien để làm gì và có người quen biết ở đây không? Nàng trả lời tôi với bao vẻ ngây thơ, rằng bố mẹ nàng gọi nàng đến đây là nàng trở thành nữ tu sĩ. Tình yêu chỉ mới len vào tim tôi một lát, đã làm cho tôi đủ sáng suốt để thấy rằng ý đồ đó là một ngọn đòn chí tử đánh vào khát vọng yêu đương của tôi. Tôi tìm cách nói để cho nàng hiểu thấu những tình cảm của tôi, vì nàng có kinh nghiệm hơn tôi nhiều. Dù nàng không muốn, người ta vẫn gửi nàng vào nhà tu kín, chắc là để chặn đứng cái thiên hướng muốn ăn chơi đã bộc lộ ra ở nàng, cái thiên hướng mà về sau đã gây ra bao nhiêu tai họa cho nàng và cả cho tôi. Tôi đả kích kịch liệt ý đồ độc ác của bố mẹ nàng bằng tất cả những lý lẽ mà tình yêu mới chớm và sự hùng biện học ở trường có thể gợi ra cho tôi. Nàng nghe có vẻ thờ ơ. Sau một lát yên lặng, nàng nói với tôi rằng nàng thấy trước rằng nàng sẽ đau khổ, nhưng chắc đấy là do ý Chúa, vì chẳng còn cách nào tránh được.
Vẻ hiền dịu của đôi mắt nàng, một thoáng buồn quyến rũ khi nàng nói những lời đó hay đúng hơn, chính là sự dun rủi của số phận đã khiến tôi không chút do dự khi trả lời nàng. Tôi đảm bảo với nàng rằng nếu nàng tin vào danh dự của tôi và vào tình yêu bao la mà nàng vừa nhen nhóm trong tôi, thì tôi sẽ cống hiến cả cuộc đời tôi để giải thoát nàng khỏi sự độc đoán của bố mẹ nàng và sẽ làm cho nàng sung sướng. Lắm khi nghĩ lại, không biết bao nhiêu lần tôi đã ngạc nhiên không hiểu lúc đó tôi tìm ở đâu ra bao nhiêu dũng khí và hoạt bát để diễn đạt tình cảm của mình dễ dàng đến thế, nhưng người ta đã không xem “tình yêu” là một vị thần nếu nó không tạo ra những phép mầu như vậy. Tôi còn nói thêm nhiều nữa để thúc giục nàng. Và người đẹp còn chưa quen biết ấy thấy rõ rằng ở vào lứa tuổi tôi, người ta không thể là thằng bịp bợm; nàng thổ lộ rằng nếu quả thật tôi có thể đem lại tự do cho nàng thì nàng sẽ mang một món nợ với tôi mà cả sinh mạng nàng cũng không trả được. Tôi nhắc lại với nàng rằng tôi sẵn sàng làm tất cả mọi việc; nhưng vì chưa có kinh nghiệm để có thể một lúc nghĩ ngay ra được những phương sách để giúp nàng, tôi đành phải nói những lời đảm bảo chung chung, không ích lợi gì nhiều cho nàng và cả cho tôi.
Bác xà ích Argus của nàng trở lại chỗ chúng tôi, những hy vọng của tôi cơ hồ sụp đổ nếu như nàng không nhanh trí bổ khuyết cho sự khờ khạo của tôi. Khi thấy bác xà ích vừa đi đến tôi ngạc nhiên thấy nàng gọi tôi là anh họ, và không một chút lúng túng, nàng bảo rằng vì nàng rất sung sướng gặp tôi ở Amien nên nàng hoãn ngày vào tu viện đến mai để có dịp vui được ăn tối với tôi. Tôi hiểu ngay mưu kế của nàng. Tôi đề nghị nàng đến nghỉ tạm lại một lữ điếm mà người chủ trước đây từng là xà ích của cha tôi đã dọn đến Amien và hoàn toàn tuân thủ mệnh lệnh của tôi. Tôi thân hành đưa nàng đến đó trong khi bác xà ích già hình như có ca cẩm chút ít, còn anh bạn Tibecgiơ chẳng hiểu tí gì về cái màn kịch đó, cứ lặng lẽ đi theo tôi. Anh ấy không nghe cuộc chuyện trò của chúng tôi. Trong khi tôi nói chuyện yêu đương với có bạn tình xinh đẹp của tôi thì anh ấy tản bộ ở trong sân. Vì sợ sự khôn ngoan của anh ấy, tôi đã nhờ anh ấy chạy giúp tôi một việc gì để đuổi khéo anh ấy đi. Nhờ vậy khi đến nhà trọ, tôi thú vị được một mình nói chuyện với người đã chiếm được trái tim tôi. Tôi nhận ngay ra rằng, tôi không còn là trẻ con như tôi tưởng. Trái tim tôi chan chứa vô vàn những cảm xúc thú vị mà tôi chưa hề biết. Một làn hơi nóng êm dịu lan tỏa khắp các mạch máu của tôi. Tôi như bị một thứ rung cảm si mê xâm chiếm khiến tôi không nói ra lời và chỉ có thể biểu hiện tình cảm bằng đôi mắt. Tiểu thư Manông Lexcô (nàng cho tôi biết tên nàng là vậy) tỏ ra rất hài lòng về tác động của những nét kiều diễm quyến rũ của nàng đối với tôi. Tôi thấy rằng nàng cũng cảm động chẳng kém gì tôi. Nàng thổ lộ rằng nàng thấy tôi rất dễ mến và rằng nàng sẽ rất vui thích được tôi giúp đỡ để lại được tự do. Nàng muốn biết tôi là ai và khi đã biết rồi, nàng càng tỏ ra trìu mến tôi hơn, bởi vì xuất thân từ một gia đình tầm thường, nàng cảm thấy vui sướng khi đã chinh phục được một người tình như tôi. Chúng tôi bàn với nhau về các phương sách để có thể sống chung với nhau. Sau bao nhiêu suy nghĩ, trù tính, chúng tôi thấy không có con đường nào tốt hơn là bỏ trốn. Phải đánh lừa sự cảnh giác của bác xà ích là người phải nương nhẹ, tuy bác ta chỉ là một gia nhân. Chúng tôi bàn định với nhau rằng tôi hôm ấy tôi sẽ thuê một cỗ xe trạm và sáng tinh mơ hôm sau, tôi sẽ trở lại quán trọ trước khi bác ta thức dậy, rằng chúng tôi sẽ bí mật lẻn ra đi và đến thẳng Paris rồi tại đó, khi đến nơi là chúng tôi làm lễ thành hôn ngay.
Tôi có khoảng năm mươi đồng “êquy” [15] số tiền tôi dè xẻn được, nàng có gần gấp đôi món tiền đó. Như những đứa trẻ không kinh nghiệm, chúng tôi cứ tưởng rằng món tiền đó sẽ không bao giờ cạn và chúng tôi cũng còn tin vào kết quả của những biện pháp khác nữa.
Sau khi ăn tối một cách vô cùng thỏa thích, tôi ra về để thực hiện kế hoạch. Tôi thu xếp khá dễ dàng do đã có ý định trở về nhà cha tôi ngày hôm sau, nên hành trang đã sẵn sàng. Vì vậy tôi sẽ chẳng có khó khăn gì khi sai chuyển cái rương của tôi và thuê một cỗ xe trạm sẵn sàng lên đường vào năm giờ sáng là lúc các cửa thành đã mở, nhưng tôi lại vấp phải một chướng ngại không ngờ và có cơ làm sụp đổ hoàn toàn dự định của tôi.
Anh bạn Tibecgiơ dù chỉ hơn tôi có ba tuổi, là một chàng trai chín chắn và biết cách đối nhân xử thế. Anh ấy yêu tôi với một tình thương mến lạ lùng. Thấy một cô gái xinh đẹp như cô Manông xuất hiện, sự hăng hái của tôi để đưa cô ấy đi và việc tôi cố tìm cách để thoát khỏi anh ấy đã làm anh ấy có đôi chút nghi ngờ về mối tình của tôi. Anh không dám trở lại quán trọ, nơi anh đã để tôi lại một mình vì sợ tôi phật ý; nhưng anh đã đến đợi tôi ở phòng tôi cho đến khi tôi về, lúc mười giờ đêm. Sự có mặt của anh ấy làm tôi ỉu xìu. Anh ấy dễ dàng nhận ra sự bực dọc, của tôi. Anh bảo thẳng tôi:
- Mình chắc rằng cậu đang mưu toan gì đó mà cậu giấu mình. Nhìn vẻ mặt của cậu là mình thấy ngay.
Tôi trả lời khá thô bạo rằng tôi chẳng việc gì phải báo cáo với anh ấy mọi dự định của tôi. Anh ấy bảo:
- Hẳn là thế rồi, nhưng cậu vẫn luôn luôn xem mình là bạn thân của cậu, và với tư cách đó, mình nghĩ cũng cần tin cậy và cởi mở với nhau.
Tibecgiơ thúc ép tôi phải tiết lộ điều bí mật cho anh ấy; anh nói đi nói lại mãi đến nỗi tôi đã thổ lộ với anh niềm tâm sự của tôi, vì tôi chưa hề che giấu bất cứ một điều gì với anh. Tibecgiơ tiếp nhận điều bí mật của tôi với một vẻ bất bình làm tôi run sợ. Tôi hối hận nhất là để lộ ra cho anh ấy biết dự định bỏ trốn của tôi. Anh ấy nói với tôi rằng vì là bạn quá thân thiết của tôi nên anh không thể không kiên quyết chống lại dự định đó của tôi, rằng anh ấy muốn trước hết tôi hình dung những gì mà anh ấy tin là có thể khiến tôi từ bỏ cái ý định đó; rằng sau đó nếu tôi không từ bỏ cái quyết định khốn kiếp đó, anh sẽ thông báo cho những người có khả năng chắc chắn ngăn chặn tôi lại được. Anh ấy lên lớp tôi một cách nghiêm chỉnh trong mười lăm phút, rồi dọa sẽ tố cáo tôi nếu tôi không hứa là sẽ xử sự khôn ngoan hơn, biết điều hơn. Tôi hết sức tuyệt vọng vì đã để lộ bí mật của mình một cách không đúng lúc như vậy. Tuy nhiên, trong hai ba giờ đồng hồ, tình yêu đã làm tôi tinh khôn ra rất nhiều và tôi đã chú ý ngay rằng tôi chưa để lộ với anh ấy là ý đồ của tôi sẽ được thực hiện vào ngày mai. Tôi quyết định đánh lừa anh ấy nhờ lối nói lập lờ. Tôi nói:
- “Này Tibecgiơ, cho đến nay, cậu là bạn thân của mình nên mình muốn chứng minh điều đó bằng cách thổ lộ tâm tình với cậu. Tất nhiên là mình đã yêu, mình chẳng lừa dối cậu làm gì nhưng về cái khoản bỏ trốn ấy mà, đâu phải là chuyện có thể trù tính một cách hời hợt được. Chín giờ sáng mai cậu đến đây, mình sẽ dẫn cậu đến gặp người yêu của mình để cậu thấy cô ấy có xứng đáng được mình tổ chức cuộc trốn đi không”.
Sau bao nhiêu những lời thề thốt về tình bạn, anh ấy để tôi lại một mình. Tôi thức cả đêm để thu xếp mọi thứ và khi vừa tang tảng sáng, lúc tôi đến lữ điếm của tiểu thư Manông thì đã thấy nàng đang chờ tôi. Nàng đúng bên cửa sổ, mở ra phía mặt đường, nên khi thấy tôi nàng đích thân ra mở cửa chờ tôi. Chúng tôi bước ra ngoài không một tiếng động. Nàng chẳng có hành trang gì ngoài một bọc quần áo do tự tôi mang lấy. Cỗ xe trạm đã chờ sẵn, chẳng mấy chốc chúng tôi đã rời xa thành phố Amien.
Sau này, tôi sẽ kể lại Tibecgiơ đã xử sự ra sao khi anh ấy thấy mình bị lừa. Nhiệt tình của anh ấy với tôi không vì thế mà giảm sút. Ông sẽ thấy anh ấy nhiệt tình đến mức nào và tôi phải đổ bao nhiêu là nước mắt khi nghĩ đến anh ấy đã được tôi đền đáp thế nào.
Chúng tôi hối hả đi thật nhanh và đến Xanh Đơni [16] trước khi trời tối. Tôi cỡi ngựa theo xe, nên chỉ có thể trò chuyện với nàng mỗi lần thay ngựa; nhưng khi thấy đã gần đến Paris, nghĩa là hầu như an toàn rồi, chúng tôi giải lao một lát vì chưa được ăn gì từ khi rời Amien. Dù tôi say đắm Manông tột độ, nàng cũng tìm cách thuyết phục tôi rằng nàng cũng đắm say tôi không kém. Chúng tôi không hề è dè trong việc vuốt ve tỏ tình với nhau và không thể kiên trì chờ cho đến lúc chỉ có một mình với nhau. Các bác đánh xe và những người cũng đi kinh ngạc nhìn chúng tôi và tôi nhận thấy rằng họ không hiểu sao hai đứa trẻ vào lứa tuổi chúng tôi lại có vẻ yêu nhau đến điên cuồng như vậy. Ở Xanh Đơni, những dự định về hôn lễ của chúng tôi bị quên lãng; chúng tôi bất chấp phép tắc nhà thờ và đã ăn ở với nhau như vợ chồng mà không hề lo nghĩ gì cả.
Chắc chắn rằng với bản chất hiền dịu và chung thủy của tôi, tôi sẽ sung sướng suốt đời, nếu Manông trung thành với tôi. Tôi càng hiểu rõ nàng, càng thấy nàng có những tính nết dễ thương. Trí tuệ, tâm hồn, sự hiền dịu và sắc đẹp của nàng hợp thành một sợi dây xiềng bền chắc và quyến rũ đến nỗi tôi nghĩ rằng tất cả hạnh phúc của đời tôi không bao giờ thoát khỏi sợi dây xiềng đó. Nhưng sự thay đổi mới khủng khiếp làm sao! Cái điều làm tôi tuyệt vọng lại chính là điều có thể mang hạnh phúc đến cho tôi. Tôi trở nên con người đau khổ nhất trên đời chỉ vì tôi đã kiên trì chờ đợi được hưởng một số phận ngọt ngào nhất và những phần thưởng hoàn hảo nhất của tình yêu!
Chúng tôi thuê một căn phòng có đủ đồ đạc ở Paris. Nó ở đường V... và chẳng may cho tôi, lại ở gần nhà ông M.B. một viên quan thuế vụ nổi tiếng. Ba tuần lễ trôi qua, trong khoảng thời gian đó tôi sống trong đam mê hoan lạc chẳng nghĩ gì đến gia đình, và nỗi phiền muộn của cha tôi do sự vắng mặt của tôi gây ra. Tuy nhiên, tôi không phải là kẻ trác táng và Manông cũng tỏ ra giữ gìn ý tứ; sự yên bình trong cuộc sống của chúng tôi giúp cho tôi dần dần nhớ lại bổn phận của mình. Tôi quyết tâm nếu có thể, hòa giải với cha tôi. Người yêu của tôi đáng yêu đến nỗi tôi tin chắc rằng cha tôi có thể hài lòng, nếu tôi tìm được cách làm cho người biết được sự khôn ngoan và giá trị của nàng; nói tóm lại là tôi cứ tưởng rằng cha tôi sẽ cho phép tôi cưới nàng, vì tôi không còn hy vọng có thể làm được điều đó nếu không có sự đồng ý của người.
Tôi đem ý định đó nói với Manông và làm cho nàng hiểu rằng ngoài những lý do về tình yêu và bổn phận, còn có cả lý do về tình trạng nghèo túng của chúng tôi, bởi vì vốn liếng của chúng tôi hầu như đã cạn và tôi đã bắt đầu từ bỏ cái ý nghĩ rằng món tiền đó là vô tận. Manông lạnh nhạt tiếp nhận đề nghị đó. Tuy vậy, những khó khăn mà nàng nêu lên để không tán thành, lại do là chính tấm lòng yêu thương của nàng, là dù nàng sợ sẽ mất tôi, vì nếu cha tôi không đồng ý với kế hoạch của chúng tôi mà lại biết nơi ẩn náu của chúng tôi, thì chắc chắn người ta sẽ giáng cho chúng tôi một đòn tàn nhẫn. Đối với lời phản bác của tôi về sự túng quẫn, nàng trả lời rằng cũng còn chút ít để sống qua vài tuần nữa và rồi sau đó nàng sẽ tìm ra tiền bằng cách viết thư xin một vài người bà con xưa nay vẫn quý mến nàng ở tỉnh lẻ. Nàng còn làm giảm nhẹ sự từ chối của mình bằng những cử chỉ vuốt ve êm dịu và đắm đuối đến nỗi tôi là kẻ chỉ sống vì nàng, trong nàng, và chẳng có gợn chút nghi ngờ nào đối với tấm lòng nàng, tôi đã hoan nghênh mọi câu trả lời và mọi quyết định của nàng.
Tôi đã giao cho Manông sử dụng món tiền của chúng tôi và nhiệm vụ thanh toán những món chi tiêu thông thường. Sau đó ít lâu, tôi nhận ra rằng trên bàn ăn của chúng tôi có nhiều món ăn hơn và Manông thì có thêm vài thứ trang sức rất đắt tiền. Vì tôi đã biết rõ rằng chúng tôi chỉ còn từ mười hai đến mười lăm pixtôn là nhiều, tôi bày tỏ nỗi ngạc nhiên đối với sự gia tăng rõ rệt đó. Nàng cười bảo tôi là đừng nên thắc mắc. Nàng nói:
- “Em chẳng đã hứa với anh là sẽ tìm ra tiền là gì?”
Tôi yêu nàng hết sức chất phác nên chẳng hề lo sợ tí gì.
Một hôm, tôi đi chơi vào lúc ban chiều và báo trước với nàng rằng tôi sẽ vắng mặt lâu hơn thường lệ; khi trở về, tôi ngạc nhiên vì phải đứng chờ đến hai, ba phút ở cửa. Chúng tôi chỉ có một cô gái nhỏ gần trạc tuổi chúng tôi giúp việc. Khi em nhỏ ra mở cửa, tôi hỏi em sao lại bắt tôi chờ lâu vậy. Em lúng túng trả lời tôi rằng vì không nghe tiếng gõ cửa. Tôi chỉ gõ có một lần, nên tôi nói với em: “Nếu em không nghe, làm sao em lại ra mở cửa?” Câu hỏi đó đã làm em bối rối đến mức không đủ nhanh trí để trả lời, em òa lên khóc và đảm bảo với tôi rằng đó không phải lỗi của em mà là do bà chủ đã cấm em mở cửa chính, cho đến lúc ông M.B. ra thoát theo lối cầu thang kia, thông với phòng chúng tôi. Tôi hoang mang đến nỗi không đủ sức để bước vào phòng. Tôi quyết định quay trở xuống với lý do là có công việc và tôi ra lệnh cho con bé nói lại với bà chủ là tôi sẽ quay về trong giây lát nhưng không được cho bà chủ biết là em đã nói với tôi về ông M.B.
Tôi rụng rời đến mức vừa bước xuống cầu thang vừa khóc, mà không biết do đâu mà mình rơi nước mắt. Tôi vào một quán cà phê gần nhất rồi ngồi xuống cạnh một cái bàn, gục đầu vào hai bàn tay để cố hiểu những gì đang diễn biến trong trái tim mình. Tôi không dám nhắc lại những gì tôi vừa nghe. Tôi muốn sau đó chỉ là ảo giác và đã hai, ba lần tôi định đứng dậy về nhà mà không chú ý đến cử chỉ đó của mình. Tôi thấy không thể nào Manông lại phản bội tôi, và tôi sợ sẽ sỉ nhục nàng nếu tôi nghi ngờ nàng. Tôi tôn thờ nàng, điều này là chắc chắn; tôi không đem lại cho nàng nhiều bằng chứng về tình yêu của tôi hơn là nàng đem lại cho tôi, thế thì tại sao tôi lại buộc tội nàng là không thành thật, kiên trinh bằng tôi? Nàng có lý do nào để lừa dối tôi? Chỉ mới cách đây ba giờ thôi, nàng đã nồng nàn âu yếm vuốt ve tôi và nàng cũng nhận được ở tôi sự âu yếm nồng nàn như vậy; tôi biết rõ trái tim nàng như trái tim tôi. Tôi tự nhủ:
“Không, không, không thể nào Manông lại phản bội mình. Nàng không thể không biết rằng mình chỉ sống vì nàng. Nàng biết rõ rằng mình tôn thờ nàng. Đó đâu phải là một lý do để căm ghét mình.”
Tuy nhiên cuộc viếng thăm và sự ra về lén lút của ông M.B. làm cho tôi bối rối. Tôi cũng nhớ lại những thứ lặt vặt mà Manông đã sắm được, chúng vượt quá số tiền hiện có của chúng tôi. Điều này làm người ta cảm thấy có sự hào phóng của một người tình. Nhưng còn cả lòng tin cậy của nàng đã biểu lộ với tôi về những nguồn tiền nong mà tôi không biết nữa chứ! Tôi khó khăn lắm mới đem lại cho những điều bí hiểm đó một lời giải đáp phù hợp với điều mà trái tim tôi mong đợi. Mặc khác, từ khi chúng tôi ở Paris, tôi hầu như không rời nàng một bước. Làm việc nhà, đi dạo chơi, giải trí, lúc nào chúng tôi cũng kè kè bên nhau; lạy Chúa! Một phút rời nhau có thể làm chúng tôi sầu muộn biết bao! Chúng tôi luôn luôn nói với nhau rằng chúng tôi yêu nhau, rằng không có tình yêu đó, chúng tôi sẽ chết vì khắc khoải. Vì vậy, tôi không thể nào tưởng tượng nổi rằng Manông có thể lại đi chăm sóc một kẻ nào khác, dù là trong chốc lát. Cuối cùng, tôi tưởng tìm ra được lời giải đáp cho điều bí ẩn đó. Tôi tự nhủ: “Ông M.B. là một nhà kinh doanh lớn, giao thiệp rộng; cha mẹ của Manông đã qua ông ta mà cung cấp cho nàng chút ít tiền. Chắc là nàng đã nhận tiền ở ông ta rồi và hôm nay, ông ta lại mang đến thêm. Chắc là nàng bày trò giấu tôi để làm cho tôi bị bất ngờ một cách thú vị. Có thể là nàng sẽ nói thật hết với tôi nếu tôi về nhà như thường lệ, thay vì đến đây để sầu muộn; ít nhất là nàng sẽ không giấu giếm tôi nữa khi tự tôi hỏi thẳng nàng chuyện này”.
Ý kiến đó tràn ngập trong tôi mạnh đến nỗi nó làm tiêu tan gần hết nỗi buồn của tôi. Tôi lập tức trở về nhà. Tôi âu yếm ôm hôn Manông như thường lệ. Nàng tiếp tôi rất đỗi thân thương. Trước tiên, tôi định thổ lộ với nàng những điều tôi phỏng đoán mà hơn bao giờ hết tôi thấy là chắc chắn; nhưng tôi dừng lại, với hy vọng có thể là tự nàng sẽ nói cho tôi rõ hết những gì đã xảy ra.
Bữa ăn tối dọn ra. Tôi vui vẻ ngồi vào bàn ăn nhưng nhờ có ánh sáng của cây nến đặt giữa nàng và tôi, tôi thấy trên mặt và cặp mắt của người yêu thoáng có nét buồn. Ý nghĩ đó cũng làm tôi buồn theo. Tôi nhận thấy nàng nhìn tôi chăm chú khác hơn thường lệ. Tôi không thể phân biệt được đó là tình yêu hay là lòng thương hại, dù tôi cảm thấy đó là một thứ tình cảm dịu dàng, khắc khoải. Tôi cũng chăm chú nhìn nàng như vậy và có thể qua cái nhìn của tôi, nàng cũng chẳng khó khăn gì để nhận ra tâm trạng của tôi. Chúng tôi không nói với nhau lời nào, cũng chẳng ăn uống gì. Rồi tôi thấy từ đôi mắt đẹp của nàng, những giọt nước mắt rơi xuống. Ôi những giọt nước mắt gian dối! Tôi thốt lên:
“Ôi lạy Chúa! Em khóc ư, Manông thân thương của anh! Em buồn đến phải khóc, thế mà em chẳng nói một lời nào với anh về những buồn khổ của em!”
Nàng đáp lại tôi bằng tiếng thở dài càng làm tôi thêm lo lắng. Tôi run run đứng dậy. Với tất cả sự nồng nhiệt của tình yêu, tôi thề thốt với nàng rằng tôi sẽ tìm ra lý do vì sao nàng khóc. Rồi tôi vừa khóc vừa lau nước mắt cho nàng; tôi như kẻ đã chết rồi. Đến một người dã man chắc cũng sẽ mủi lòng trước những biểu lộ của nỗi đau khổ và sợ hãi của tôi. Trong khi tôi đang để hết tâm trí lo lắng cho Manông như vậy, thì nghe tiếng động của nhiều người bước lên cầu thang. Người ta gõ nhẹ vào cửa. Manông hôn tôi, rời khỏi vòng tay tôi đang ôm nàng rồi vội vã bước vào phòng ngủ, đóng chặt cửa lại ngay. Tôi cho rằng vì đang ăn mặc lôi thôi, nàng muốn lánh mặt những người khách lạ vừa gõ cửa. Tự tôi ra mở cửa. Cửa vừa mở, tôi bị ngay bọn người, mà tôi nhận ra ngay là bọn gia nhân của cha tôi tóm lấy. Chúng không ngược đãi gì tôi; nhưng hai thằng thì giữ chặt tay tôi, còn thằng thứ ba thì khám túi áo tôi, lôi ra một con dao con, đó là vật bằng kim khí duy nhất tôi mang trong người. Chúng xin lỗi tôi vì buộc phải đối xử thiếu lễ độ đối với tôi, và đương nhiên chúng nói là chúng hành động theo lệnh của cha tôi, và ông anh cả của tôi đang chờ tôi ở dưới nhà, trong một cỗ xe ngựa. Tôi hoang mang đến nỗi tôi để chúng dẫn đi mà chẳng có chống cự và cũng chẳng nói năng gì. Quả nhiên, ông anh tôi đang chờ tôi thật. Người ta cho tôi lên xe, ngồi gần anh tôi và bác xà ích, theo lệnh anh tôi, phóng nước đại về Xanh Đơni. Anh tôi âu yếm hôn tôi nhưng không nói gì, nhờ vậy tôi tha hồ có thì giờ cần thiết để suy ngẫm đến nỗi bất hạnh của tôi.
Trước tiên, tôi thấy trong đó có bao nhiêu điều mờ ám mà bất cứ điều phỏng đoán nào cũng không rọi cho tôi chút ánh sáng. Tôi đã bị phản bội một cách tàn nhẫn. Nhưng mà kẻ nào đã phản tôi? Tôi nghĩ ngay đến Tibecgiơ. Tôi nhủ thầm: “Thằng phản bội! Mày sẽ hết đời nếu những điều nghi ngờ của tao là đúng”. Tuy vậy, tôi ngẫm ra rằng Tibecgiơ không biết chỗ ở của tôi và do đó, người ta không thể qua anh mà lần ra địa chỉ của tôi được. Buộc tội Manông là điều mà trái tim tôi không cho phép. Nỗi đau buồn kỳ lạ của nàng, những giọt lệ, cái hôn âu yếm của nàng trước khi bỏ vào phòng là một điều bí ẩn đối với tôi; nhưng tôi lại nghiêng về cách giải thích cho rằng đó là do nàng dự cảm được tai họa chung của chúng tôi và trong quãng thời gian tôi tuyệt vọng vì cái sự biến đã tách lìa tôi với nàng, tôi lại ngây thơ tưởng rằng nàng còn đáng thương hơn tôi. Kết quả của sự suy ngẫm như vậy làm cho tôi tin chắc rằng tôi đã bị một ai đó quen biết tôi, nhận ra trên đường phố Paris và đã bảo lại với cha tôi. Ý nghĩ đó an ủi tôi. Tôi tính chỉ còn phải chịu đựng những lời trách mắng hoặc một vài sự đối xử thô bạo của cha tôi nữa thôi. Tôi quyết tâm sẽ kiên trì chịu đựng và sẽ hứa làm mọi thứ mà người ta yêu cầu ở tôi để tạo cho tôi cơ hội nhanh chóng trở về Paris đem lại cho Manông thân yêu của tôi cuộc sống và niềm vui.
Chẳng mấy chốc, chúng tôi đến Xanh Đơni. Ngạc nhiên vì sự im lặng của tôi, anh tôi tưởng đó là do tôi sợ. Anh ấy cố an ủi tôi bằng cách đảm bảo với tôi rằng chẳng có gì phải ngại sự nghiêm khắc của cha tôi, miễn là tôi sẵn sàng trở về với bổn phận của mình và tỏ ra xứng đáng với sự thương yêu của người. Anh tôi cho tôi nghỉ đêm lại ở Xanh Đơni và cẩn thận cho ba tên gia nhân đến ngủ cùng phòng với tôi. Điều làm cho tôi đau khổ nhất là thấy mình ngủ lại ở chính cái lữ điếm mà tôi đã dừng chân cùng với Manông trên đường từ Amien đi Paris. Ông chủ và bọn gia nhân đều nhận ra tôi đồng thời cũng đoán ra sự thật của câu chuyện của tôi. Tôi nghe bọn chúng kháo với ông chủ:
“À, chính là cái anh chàng bảnh trai đã đi qua đây sáu tuần trước với một cô tiểu thư nhỏ nhắn mà anh ta yêu hết mực đó mà! Cô nàng đẹp tuyệt trần! Đôi thiếu niên tội nghiệp ấy, họ âu yếm nhau nồng nhiệt quá đỗi! Chà, chia lìa họ ra thật là đáng tiếc!”
Tôi làm ra vẻ không nghe gì hết và tìm cách lánh mặt mọi người được chừng nào tốt chừng ấy.
Ở Xanh Đơni, anh tôi có một cỗ xe ngựa hai chỗ ngồi, chúng tôi khởi hành từ sáng sớm và về đến nhà tối hôm sau. Anh tôi lên gặp cha tôi trước để thuật lại với người rằng tôi đã để dẫn về êm thấm, ngoan ngoãn như thế nào, nhờ thế tôi được cha tôi tiếp đón ít nghiêm khắc hơn là tôi tưởng. Người chỉ nói với tôi vài lời quở trách chung chung về lỗi lầm của tôi là đã vắng nhà mà không được người cho phép. Còn đối với cô tình nhân của tôi, người bảo rằng tôi xứng với những gì vừa xảy ra vì tôi đã hiến mình cho một đứa con gái chưa hề quen biết, rằng trước đây người có ý kiến tốt hơn đối với sự thận trọng của tôi, nhưng hy vọng cuộc phiêu lưu nho nhỏ này sẽ làm cho tôi khôn ra.
Tôi chỉ hiểu những lời răn dạy đó theo cái nghĩa nó phù hợp với những ý tưởng của tôi thôi. Tôi cảm ơn cha tôi đã có lòng nhân từ tha thứ cho tôi và tôi hứa với người sẽ biết phục tùng và nề nếp hơn. Nhưng từ đáy lòng, tôi thấy là mình thắng lợi bởi vì theo cái cung cách mà mọi sự được dàn xếp, tôi tin chắc rằng tôi sẽ lại được tự do để trốn khỏi nhà, ngay cả khi trời chưa tối.
Cả nhà ngồi vào bàn ăn tối. Người ta chế giễu tôi về “cuộc chinh phục” của tôi ở Amien và về việc tôi bỏ trốn với người tình “chung thủy” của tôi. Tôi vui vẻ đón nhận những lời chế giễu đó. Tôi lại còn thích thú vì được phép tán chuyện về cái điều đang luôn luôn ngự trị trong tâm trí. Nhưng một vài lời do cha tôi buột miệng nói ra đã làm tôi chú ý lắng tai nghe: cha tôi nói đến việc giúp đỡ vụ lợi và nham hiểm của ông M.B... Tôi sửng sốt khi nghe cha tôi nói ra cái tên ấy và tôi khẩn khoản xin người nói rõ hơn. Cha tôi quay lại hỏi anh tôi rằng đã kể tất cả câu chuyện cho tôi chưa? Anh tôi trả lời rằng trên đường đi, tôi tỏ ra bình thản đến nỗi anh không nghĩ rằng tôi cần đến vị thuốc đó để chữa khỏi bệnh điên dại của tôi. Tôi nhận ra rằng cha tôi lưỡng lự không biết có nên giải thích tường tận hay không. Tôi van nài hết sức khẩn khoản nên cha tôi đã thỏa mãn yêu cầu của tôi, hay đúng hơn, đã giết chết tôi một cách tàn nhẫn bằng một câu chuyện ghê tởm nhất.
Trước tiên người hỏi rằng tôi có luôn luôn thật sự tin rằng mình được yêu không? Tôi mạnh dạn đoan chắc không có gì có thể làm tôi nghi ngờ về tình yêu đó. Cha tôi cười phá lên:
“Hà! Hà! Hà! Thật là tuyệt! Anh bị lừa mới đẹp làm sao chứ! Ta thích nhìn thấy anh bị đánh lừa như thế! Ôi, anh chàng hiệp sĩ của ta ơi! Thật đáng tiếc là ta đã cho anh gia nhập giáo đoàn Malte, bởi vì anh tỏ ra có năng khiếu để làm một đức ông chồng kiên trì và dễ tính đấy.”
Cha tôi còn bồi thêm bao nhiêu lời chế giễu theo kiểu như vậy đối với điều mà người gọi là sự khờ dại và tính cả tin của tôi. Cuối cùng, vì tôi im lặng, cha tôi tiếp tục nói với tôi rằng theo sự tính toán của người về quãng thời gian từ khi tôi rời Amien thì Manông chỉ yêu tôi khoảng mười lăm ngày: “Bởi vì, cha tôi nói thêm, ta biết là anh rời Amien ngày 28 tháng trước, hôm nay là ngày 29 của tháng này, cách đây mười một ngày, lão M.B. đã viết thư cho ta, giả thiết rằng lão ta phải mất tám ngày để làm quen thân với người tình của anh, như vậy là trong số ba mươi mốt ngày, tính từ 28 tháng trước đến 29 tháng này, đã mất đi mười một cộng với tám ngày, vị chi còn là chừng mười hai ngày”.
Đến đây những trận cười lại vang lên. Tôi nghe tất cả mà đau nhói trong tim, chỉ sợ rằng mình không thể chịu đựng nổi cho đến lúc màn hài kịch đáng buồn này kết thúc. Cha tôi nói tiếp:
“Vì anh chưa biết nên nói như vậy để anh thấy rõ rằng thằng cha M.B. đã chiếm được trái tim của nàng “công chúa” của anh rồi. Hắn đã xem thường ta khi hắn ngờ đã thuyết phục được ta, tin rằng chính là do nhiệt tình giúp ta một cách vô tư mà hắn đã cuỗm mất người đẹp của anh. Từ những con người vào loại như hắn, vả lại hắn cũng chẳng quen biết gì ta, người ta lại có thể chờ đợi có được những tình cảm cao thượng đến thế sao? Qua cô tình nhân của anh, hắn biết anh là con ta, và để khỏi bị anh quấy nhiễu, hắn viết thư cho ta biết nơi ăn chốn ở cùng cách sống hoang toàng của anh và ngầm cho ta hiểu là phải có sự giúp sức mới bắt được anh. Hắn ta xin được giúp ta để tóm cổ anh một cách dễ dàng, và chính là nhờ sự chỉ dẫn của hắn và của cô tình nhân của anh, mà ông anh của anh đã tìm ra thời gian thích hợp để tóm được anh một cách bất ngờ. Bây giờ thì anh có thể tự hào về cái thời hạn chiến thắng của anh rồi đấy! Anh chàng hiệp sĩ ơi! Anh biết chiến thắng khá nhanh nhưng lại không biết gìn giữ chiến quả của mình!”
Tôi không còn đủ sức để chịu đựng lâu hơn nữa cái bài diễn văn mà mỗi lời là một lưỡi dao xuyên qua tim tôi. Tôi đứng dậy, nhưng chỉ mới bước vài bước để ra khỏi bàn ăn là tôi đã ngã vật ra sàn, ngất đi không còn biết gì nữa. Nhờ cấp cứu, tôi tỉnh lại. Tôi vừa khóc nức nở vừa thốt lên những lời kêu than buồn thảm nhất. Cha tôi vốn luôn luôn yêu tôi một cách trìu mến, ra sức khuyên giải tôi với tất cả tình thương của người. Tôi nghe người nói mà không hiểu người nói gì. Tôi quỳ xuống chắp tay van xin người để cho tôi quay trở lại Paris để đâm chết M.B. Tôi nói:
“Không, hắn không chiếm được trái tim của Manông đâu, mà hắn đã bức bách nàng, hắn đã cám dỗ nàng bằng bùa mê hay độc được, có thể hắn đã cưỡng ép nàng một cách thô bạo, Manông yêu con. Lẽ nào con lại không biết hay sao? Chắc là hắn đã cầm dao găm đe dọa nàng, buộc nàng phải từ bỏ con. Hắn còn từ một điều gì không làm để cướp mất người tình xinh đẹp đến thế của con? Lạy Chúa! Chúa ơi! Có thể nào Manông lại phản bội con và không còn yêu con nữa!”
Vì tôi cứ luôn luôn nói đến chuyện trở lại Paris và chốc chốc tôi lại nhỏm dậy để đòi đi, cha tôi thấy rõ ràng trong tâm trạng xúc động của tôi, không có gì để có thể ngăn tôi lại. Người dẫn tôi đến một căn phòng ở trên cao và cắt hai tên gia nhân canh chừng tôi. Tôi không còn tự chủ được nữa. Tôi sẵn sàng đổi một nghìn mạng sống để có được chỉ mười lăm phút ở Paris. Tôi hiểu rằng vì đã nói lộ ra ý đồ của mình như vậy, người ta sẽ không để tôi ra khỏi phòng một cách dễ dàng. Tôi đưa mắt ước lượng chiều cao từ cửa sổ xuống đất và thấy không có khả năng thoát ra được bằng lối đó, tôi năn nỉ dịu dàng với hai tên đầy tớ. Tôi nặng lời thề thốt với chúng là một ngày nào đó, tôi sẽ làm cho chúng giàu có nếu chúng đồng ý để tôi trốn đi. Tôi thúc ép, mơn trớn, đe dọa chúng, nhưng mưu toan này cũng chẳng đi đến đâu. Thế là tôi tuyệt vọng. Tôi nhất quyết chết và nằm vật ra giường với ý đồ là sẽ nằm lì ở đây cho đến lúc từ giã cõi đời.
Tôi trải qua đêm hôm đó và ngày hôm sau trong một tình trạng như vậy. Tôi từ chối không chịu ăn gì vào ngày hôm sau nữa. Cha tôi đến thăm tôi vào buổi chiều. Người nhân từ cố gắng làm tôi vợi bớt đau khổ bằng những lời khuyên giải dịu dàng nhất. Người ra lệnh cho tôi phải ăn một cái gì, kiên quyết đến nỗi tôi phải ăn chút đỉnh vì kính nể người. Một vài ngày nữa trôi qua, trong đó tôi cũng chỉ ăn qua quýt khi có mặt cha tôi để tỏ ra biết vâng lời người. Cha tôi vẫn tiếp tục cung cấp cho tôi những lý lẽ có thể làm cho tôi trở lại với lương tri và làm cho tôi khinh ghét Manông bội bạc. Quả thật là tôi không còn quý trọng nàng nữa, làm sao tôi còn có thể quý trọng một con người thay lòng đổi dạ, xấu xa đến như vậy được? Nhưng hình ảnh của nàng, những nét quyến rũ của nàng mà tôi mang trong tâm khảm vẫn luôn luôn nằm ở đấy. Tôi lại cảm thấy dễ chịu. Tôi tự nhủ:
“Ta có thể chết, ta thật đáng chết sau bao nhiêu xấu hổ và đau khổ đến vậy, nhưng ta lại có thể nếm trải một nghìn lần cái chết mà không thể nào quên được Manông bội bạc.”
Cha tôi ngạc nhiên khi thấy tôi vẫn cứ bị xúc động mạnh đến như vậy. Người biết rõ là tôi rất coi trọng danh dự và tin chắc rằng sự tráo trở của Manông không thể không làm tôi khinh bỉ nàng; người ngỡ rằng sự chung thủy của tôi trong tình yêu không phải là do sự say mê cá biệt nàng mà là do tính si tình của tôi nói chung. Người khư khư bám chặt lấy ý nghĩ đó, và một hôm, chỉ bằng vào lòng yêu thương hiền dịu của mình, người đến thổ lộ với tôi:
“Này, anh chàng hiệp sĩ, cho đến bây giờ, cha vẫn có ý để cho con gia nhập Giáo đoàn Malte, nhưng cha thấy rõ là ý hướng của con không hề nghiêng về phía ấy. Con thích những phụ nữ đẹp. Cha đồng ý tìm cho con một người mà con vừa ý. Dĩ nhiên là con hãy trình bày với cha con nghĩ thế nào về điều đó.”
Tôi trả lời với người rằng sau cái tai họa vừa đến với tôi, tôi thấy phụ nữ chẳng khác gì nhau cả, tôi đều căm ghét họ như nhau. Cha tôi vừa mỉm cười vừa nói tiếp: “Cha sẽ tìm cho con một cô giống như Manông nhưng chung thủy hơn”.
- Than ôi, nếu cha còn chút nhân từ đối với con, tôi đáp, thì chính là nàng mà con xin cha trả lại cho con. Cha ơi, con tin chắc rằng nàng không phản bội con, nàng không thể nào có thể hèn hạ một cách đen tối độc ác vậy đâu. Chính lão M.B. nham hiểm kia đã lừa dối chúng ta: cả cha, cả nàng và con. Nếu cha biết nàng hiền dịu, thành thật như thế nào, nếu cha biết rõ nàng con chắc thế nào cha cũng sẽ mến nàng.
- Con còn trẻ con lắm, cha tôi bảo, làm sao con lại có thể mù quáng đến mức như vậy sau khi cha đã kể cho con nghe câu chuyện về con nhân tình của con? Chính là nó đã nộp con cho anh con đấy. Con phải quên đến cả tên của con bé đó đi và nếu con khôn ngoan thì nên biết hưởng lấy sự độ lượng của cha.
Tôi thấy quá rõ rằng cha tôi có lý. Chính là tôi đã bênh vực cho người yêu phản trắc của tôi một cách vô ý thức. Sau một lúc im lặng, tôi nói:
“Than ôi! Rõ ràng con là nạn nhân đau khổ của một sự phản bội đê tiện nhất.” Rồi vừa nhỏ những giọt nước mắt buồn đau, tôi nói tiếp: “Vâng! Con thấy rõ con chỉ là đứa trẻ con. Sự ngây thơ cả tin của con đã khiến chúng dễ dàng đánh lừa con. Nhưng con biết rõ con phải làm gì để trả thù”.
Cha tôi muốn biết ý đồ của tôi. Tôi trả lời: “Con sẽ đi Paris, đốt nhà của lão M.B và sẽ thiêu sống hắn và cả con Manông hiểm độc”.
Nỗi giận dữ đã làm cha tôi phì cười và càng khiến người cho canh giữ tôi nghiêm ngặt hơn.
Tôi đã trôi qua sáu tháng ròng rã trong “phòng giam” của cha tôi, và trong tháng đầu tiên, chẳng có mấy thay đổi trong tâm trạng của tôi. Toàn bộ tình cảm của tôi chỉ là sự xen kẽ bất tận giữa căm giận và yêu thương, giữa thất vọng và tuyệt vọng, tùy theo những ý nghĩ của tôi về Manông. Khi thì tôi cho rằng nàng là người con gái dễ thương nhất trên đời và tôi héo hon vì muốn gặp lại nàng; khi thì tôi chỉ thấy ở nàng một con tình nhân đê tiện và nham hiểm và tôi thể là sẽ tìm gặp nàng lại cốt chỉ để trừng phạt nàng. Người ta đem sách đến cho tôi để giúp tôi tìm lại sự bình an trong tâm hồn. Tôi đọc lại tất cả những tác giả quen thuộc, tôi tiếp thu thêm nhiều kiến thức mới, tôi trở lại say mê học tập. Rồi ông sẽ thấy, về sau việc học tập đó có ích cho tôi như thế nào. Những nguồn sáng do tình yêu mang lại đã giúp tôi hiểu được rõ ràng vô khối những đoạn văn của Horaxơ và Viêcgilơ [17] mà trước đây tôi không hiểu được. Tôi viết một luận văn chuyên khảo về tình yêu trong khúc thứ tư của Ênêiđơ [18] , tôi mong nó được xuất bản và tự hào rằng chắc công chúng sẽ hài lòng. Trong khi viết luận văn đó, tôi thường than thở: “Than ôi! Nàng Didon [19] chung thủy cần có một tấm lòng như tấm lòng của ta đền đáp lại”.
Một hôm, Tibecgiơ đến thăm tôi. Tôi ngạc nhiên trước sự hoan hỉ của anh ấy khi anh ấy ôm hôn tôi. Trước đây tôi chưa hề có bằng chứng nào về tình thương của anh ấy với tôi để tôi có thể xem tình thương ấy là cái gì khác hơn thứ tình bè bạn ở trường trung học, thường xảy ra giữa những trang thanh niên gần cùng một lứa tuổi. Tôi thấy trong thời gian năm, sáu tháng qua mà tôi không gặp lại, anh ấy thay đổi và trưởng thành đến mức cả vẻ mặt và lời nói của anh ấy đều khiến tôi kính nể. Anh ấy nói với tôi như là một người cố vấn khôn ngoan hơn là như một người bạn học. Anh trách tôi đã lầm đường lạc lối. Anh khen tôi đã tỉnh ngộ, cuối cùng anh động viên tôi nên từ sai lầm của tuổi trẻ đó, nhìn rõ sự phù phiếm của những lạc thú trên đời.
Tôi ngạc nhiên nhìn anh ấy. Anh nhận ra cái nhìn ấy bèn nói với tôi:
“Chàng hiệp sĩ thân mến ơi! Mình đã nói với cậu những điều tuyệt đối đúng mà mình đã nhận chân được sau khi đã nghiêm túc thẩm tra. Mình cũng có thiên hướng thích khoái lạc không kém gì cậu đâu, nhưng đồng thời Trời lại phú cho mình tính thích đức hạnh. Mình dùng lý trí để so sánh kết quả của hai thứ đó và chẳng lâu la gì, mình đã tìm ra sự khác nhau. Sự cứu giúp của Chúa Trời đã bổ sung cho những điều suy ngẫm của mình. Mình đã chán ghét cái thế giới này không có gì sánh được. Cậu có đoán được điều gì đã giữ mình lại ở cõi trần này, đã ngăn cản mình đi ẩn dật không? Đó chỉ là do mối tình bạn thắm thiết của mình với cậu. Mình biết rõ sự tuyệt vời của trái tim và khối óc của cậu, không có điều tốt lành nào mà cậu không làm được. Chính chất độc của khoái lạc đã làm cậu đi chệch đường. Thật là một sự mất mát to lớn biết bao nhiêu cho đức hạnh! Việc cậu bỏ trốn ở Amien đã làm mình đau buồn đến nỗi từ đó đến nay mình không còn có được một phút giây thoải mái nào nữa. Tự cậu hãy phán xét việc bỏ trốn đó qua những công việc mà nó buộc mình phải tiến hành”.
Rồi Tibecgiơ thuật lại rằng sau khi thấy tôi đã lừa anh ấy và đã ra đi cùng với người tình, anh ấy lên ngựa đuổi theo, nhưng vì tôi đi trước anh ấy đến bốn, năm giờ nên anh không thể nào đuổi kịp; tuy vậy anh cũng đến được Xanh Đơni nửa giờ sau khi tôi xuất phát; rằng vì biết chắc tôi sẽ dừng lại ở Paris, anh đã bỏ ra sáu tuần lễ để tìm tôi, nhưng vô ích, anh đã đến tất cả những nơi mà anh đoán có thể tìm thấy tôi, rồi cuối cùng một hôm anh đã nhận ra cô tình nhân của tôi ở Rạp hát kịch quốc gia, rằng nàng đeo đồ nữ trang sáng chói đến mức anh nghĩ rằng nàng có được sự giàu sang đó là nhờ ở một anh tình nhân mới; rằng anh đã bám theo xe của nàng về nhà nàng và qua một tên đầy tớ biết được rằng nàng được sự hào phóng của ông M.B... chu cấp. Anh ấy nói tiếp:
“Mình không dừng lại ở đấy đâu. Hôm sau mình trở lại để hỏi cô nàng tin tức về cậu, nhưng cô nàng đã đột nhiên bỏ đi khi nghe mình nói đến cậu, thế là mình buộc phải quay về tỉnh mà chẳng có được tia sáng nào về cậu. Sau đó mình biết được cuộc phiêu lưu của cậu và nỗi hoang mang của cậu, nhưng mình không muốn đến gặp cậu trước khi biết rõ rằng cậu đã bình tâm trở lại.”
Tôi trả lời anh bạn trong tiếng thở dài: “Như vậy là cậu đã gặp được Manông. Ôi, cậu sung sướng hơn mình là kẻ từ đây không bao giờ còn được gặp lại nàng”.
Anh ấy rầy tôi và tiếng thở dài đó vì nó chứng tỏ tôi còn say mê nàng. Anh ấy ca ngợi bản chất nhân hậu của tôi, những thiên hướng tốt đẹp của tôi, khéo đến nỗi sau cuộc viếng thăm đầu tiên đó của anh, tôi thấy nẩy nở trong tôi ý muốn mạnh mẽ từ bỏ mọi lạc thú ở đời để đi học trở thành tăng lữ như anh.
Tôi thích thú với ý nghĩ đó đến mức khi ngồi một mình, tôi không suy tính việc nào khác nữa. Tôi nhớ lại những lời của vị giám mục ở Amien cũng đã từng khuyên tôi như vậy cùng những lời tiên đoán tốt đẹp của Ngài về tôi, nếu tôi đi theo con đường đó. Lòng sùng đạo cũng có ảnh hưởng đến những suy nghĩ đó. Tôi tự nhủ: “Ta sẽ sống một cuộc đời ngoan ngoãn và thánh thiện, ta sẽ chăm lo học tập và tu hành là hai việc không để cho ta nghĩ đến những lạc thú nguy hiểm của tình yêu. Ta sẽ xem khinh những thứ mà con người tầm thường khen ngợi và vì hiểu rõ rằng trái tim ta chỉ ước muốn những gì mà nó trọng thị, ta chẳng lo gì đến những dục vọng thấp hèn”.
Từ đó tôi phác họa trước cho mình một cách sống thanh thản và cô độc. Tôi nghĩ đến một gian nhà biệt lập với một khu rừng nhỏ và con suối nước ngọt ở một góc vườn, một tủ sách gồm toàn sách chọn lọc, một số ít bạn bè có đạo đức và tương lai, một cái bàn ăn sạch sẽ nhưng ăn uống thanh đạm và điều độ. Kèm vào đó, tôi cần tính đến việc trao đổi thư từ với một người bạn sẽ đến ở Paris, anh này sẽ thông báo cho tôi những tin tức công khai, nhằm thỏa mãn sự hiếu kỳ của tôi thì ít mà chủ yếu là để cho tôi tiêu khiển trước những hoạt động rồ dại của con người. Tôi lại nghĩ thêm: “Hỏi ta sẽ có hạnh phúc không? Tất cả những tham vọng của ta có thực hiện được không?”. Có điều chắc chắn là cái dự án đó thỏa mãn đầy đủ những thiên hướng của tôi. Nhưng vào đoạn cuối của các dự án khôn ngoan đến như vậy, tôi cảm thấy lòng mình còn chờ mong một cái gì đó, và để cho không còn có cái gì đó phải ước muốn nữa. Trong sự cô quạnh êm đềm nhất, tôi thấy phải sống trong cảnh đó với Manông!
Trong lúc đó, Tibecgiơ thường xuyên đến thăm tôi, và theo ý đồ mà anh ấy gợi ra cho tôi, tôi thổ lộ với cha tôi ước nguyện của mình. Người tuyên bố rằng ý định của người là để cho con cái tự do chọn lựa lấy thân phận của mình, rằng dù tôi muốn quyết định như thế nào về tôi, người chỉ dành cho mình cái quyền được giúp đỡ tôi bằng những lời khuyên nhủ. Người đã cho tôi những lời khuyên rất đúng mực, chỉ làm tôi càng hiểu ý nghĩa hơn và gắn bó với cái dự án của tôi. Việc khai giảng năm học mới của chủng viện đến gần. Tôi thỏa thuận với Tibecgiơ là chúng tôi sẽ cùng vào học chủng viện Xanh Xuynpixơ [20] , anh ấy thì để hoàn tất môn thần học, còn tôi thì để bắt đầu. Tài học của Tibecgiơ được cả đức giám mục địa phận biết đến, khiến cho anh ấy được ngài ban cho một món học bổng rất lớn trước khi chúng tôi khởi hành.
Vì tin là tôi đã từ bỏ hẳn dục vọng say đắm, cha tôi để tôi ra đi một cách dễ dàng. Chúng tôi đến Paris. Bộ trang phục tu sĩ thay cho chiếc thập tự của Giáo đoàn Malte, và cái tên “tu sĩ” Griơ thay cho cái tên “hiệp sĩ” Griơ. Tôi chăm học đến nỗi chỉ trong vài tháng tôi đã có những tiến bộ phi thường. Tôi dành một phần lớn ban đêm và không bỏ một giây phút nào ban ngày để học. Tiếng tốt của tôi rạng rỡ đến mức người ta đã chúc mừng tôi về những chức vị tương lai mà thế nào tôi cũng giành được và tuy tôi không xin, tên tôi cũng được ghi vào danh sách những người được có học bổng. Lòng mê đạo cũng không hề bị lãng quên; tôi nhiệt tình tham gia tất cả những buổi lễ nguyện. Tibecgiơ hân hoan về cái mà anh ấy xem như là tác phẩm của anh và đã bao nhiêu lần tôi thấy anh ấy vừa rơi nước mắt vừa khen ngợi cái mà anh gọi là sự “quy y” của tôi.
Những ý định của con người có thể đổi thay, đó là điều chẳng hề làm tôi ngạc nhiên; một sự đam mê này làm nảy sinh một số ý định; một đam mê khác lại hủy bỏ chúng đi; nhưng khi tôi nghĩ về những điều thánh thiện trong những ý định đã đưa tôi đến chủng viện Xanh Xuynpixơ và đến nguồn vui nội tâm mà Chúa Trời đã cho tôi được hưởng khi thực hiện những ý định đó, tôi cảm thấy hãi hùng trước việc tôi đã dễ dàng từ bỏ những ý định đó. Quả đúng là bất cứ lúc nào, sự hỗ trợ của Chúa Trời cũng mạnh bằng sức mạnh của những nỗi đam mê; nhưng thế thì xin hãy giải thích cho tôi rõ do một ảnh hưởng tai ác nào mà bỗng nhiên người ta bị lôi cuốn xa rời bổn phận, mà không có khả năng chống lại, cũng chẳng có chút hối hận nào? Tôi cứ ngỡ mình đã được giải thoát hẳn khỏi những sa ngã của tình yêu. Tôi tưởng như tôi thích việc đọc một trang sách của thánh Ôguystanh [21] hoặc mười lăm phút suy tư về Thiên Chúa hơn mọi lạc thú trên đời, không loại trừ cả những lạc thú mà Manông có thể đem đến cho tôi. Tuy nhiên, một phút giây bất hạnh đã lại ném tôi xuống vực thẳm và sự sa ngã của tôi càng không thể nào cứu vãn được, bởi vì đột nhiên tôi rơi xuống sâu đúng vào nơi tôi vừa thoát ra, và những điều hoang toàng mà tôi sa vào càng lôi tôi xuống gần đáy của vực thẳm.
Tôi đã sống gần một năm ở Paris mà không hề hỏi thăm tin tức gì về Manông. Thoạt đầu, sự tự kiềm chế ghê gớm này đã đòi hỏi ở tôi bao nhiêu nỗ lực, nhưng nhờ những lời khuyên răn không ngớt của Tibecgiơ và những suy nghĩ của chính tôi, tôi đã chiến thắng. Những tháng cuối cùng của năm học trôi qua êm ả đến mức tôi ngờ mình đã gần vĩnh viễn quên đi cái con người quyến rũ và nham hiểm ấy. Đến thời hạn tôi phải thực tập giảng đạo ở trường thần học. Tôi gửi giấy mời nhiều vị có tên tuổi đến dự. Vì vậy tên tôi lan rộng khắp các khu phố Paris, nó thấu đến tai người tình bội bạc của tôi. Nàng không chắc đúng là tôi, với cái chức “tu sĩ”, nhưng một phần vì tò mò hoặc có thể do một chút hối hận vì đã phản bội tôi, (tôi chưa bao giờ phân tích được là do cái nào trong hai tình cảm này) nàng quan tâm đến một cái tên gần giống với tên tôi như vậy [22] ; nàng đến Soócbôn [23] với một vài bà mệnh phụ khác. Nàng dự buổi thực tập của tôi và chắc là chẳng khó khăn gì mà không nhận ra tôi.
Tôi không hề hay biết gì về cuộc viếng thăm này. Người ta biết rằng ở những nơi như Soócbôn, có những buồng riêng dành cho các bà, để các bà ngồi khuất sau một bức mành. Tôi trở về Xanh Xuynpixơ, tràn ngập vinh quang và lời khen ngợi.
Lúc đó vào khoảng sáu giờ tối. Một lát sau khi tôi trở về, người ta báo với tôi có một phụ nữ đang chờ gặp tôi. Tôi vội đến ngay phòng tiếp khách. Lạy Chúa! Một sự xuất hiện không ngờ! Trước mắt tôi là Manông. Chính là nàng, nhưng dễ thương hơn, rạng rỡ hơn, tôi chưa từng thấy bao giờ. Nàng vừa đến tuổi mười tám. Những nét kiều diễm của nàng vượt quá tất cả những gì người ta có thể miêu tả. Nàng có một phong thái hết sức tinh tế, hết sức dịu dàng, hết sức khêu gợi, cái phong thái của chính tình yêu! Toàn bộ khuôn mặt của nàng đối với tôi là cả một điều mê li.
Tôi sững sờ khi thấy nàng và vì không thể đoán được nàng đến gặp tôi với ý đồ gì, tôi đứng chờ nàng giải thích mà mắt thì nhìn xuống và chân tay thì run rẩy. Trong một lát, nàng luống cuống cũng chẳng kém gì tôi, nhưng thấy tôi vẫn im lặng, nàng lấy tay đưa ra trước mặt để che một vài giọt nước mắt. Bằng một giọng rụt rè, nàng nói với tôi rằng nàng thừa nhận là sự lừa lọc của nàng đáng bị tôi căm ghét, nhưng nếu quả thật là tôi có đôi chút tình thương đối với nàng thì cũng quả là tôi đã quá tàn nhẫn vì đã để hai năm trời qua mà chẳng chút quan tâm dò hỏi về số phận của nàng, rằng tôi càng tàn nhẫn hơn nữa khi thấy nàng trong tình trạng như đang đứng trước mặt tôi mà tôi lại chẳng nói với nàng lấy một lời. Nghe nàng nói, sự xáo động trong tâm hồn tôi không thể nào diễn đạt được.
Nàng ngồi. Còn tôi thì đứng, hơi quay lưng lại vì không dám nhìn thẳng vào mặt nàng. Nhiều lần, tôi tìm một lời đáp lại, nhưng tôi không còn sức để nói hết câu. Cuối cùng, tôi cố gắng thốt lên một cách đau khổ:
“Manông, đồ nham hiểm! Đồ nham hiểm!”
Nàng lặp lại lời tôi nói và khóc nức nở rồi nói rằng nàng không hề có ý định bào chữa sự nham hiểm của mình.
Tôi lại hét lên:
“Thế thì cô có ý định gì?”
Nàng đáp lại:
“Em có ý định chết, nếu anh không trao lại cho em trái tim của anh vì không có nó thì em không thể nào sống nổi.”
“Đồ phản bội mà lại còn đòi mạng sống của tôi nữa ư? Tôi vừa đáp lại vừa để rơi những giọt nước mắt mà tôi không thể nào cầm lại được. Chính cô đã đòi mạng sống của tôi vì đó là cái duy nhất tôi còn lại để hy sinh cho cô bởi vì trái tim của tôi thì đã mãi mãi thuộc về cô rồi!”
Tôi chỉ vừa nói xong những lời cuối cùng thì nàng đứng phắt dậy và chạy đến ôm hôn tôi. Nàng phủ lên tôi không biết bao nhiêu những cái vuốt ve say đắm. Nàng gọi tôi bằng tất cả những cái tên mà tình yêu đã sáng tạo ra để thể hiện sự âu yếm nồng nhiệt của nàng. Tôi vẫn còn dè dặt đáp lại những cái đó. Thực vậy, từ tình trạng thanh thản trước đó của tôi cho đến những chuyển động xô bồ mà tôi cảm thấy đang nảy nở trong người, sự chuyển tiếp mới ghê gớm làm sao! Tôi kinh hoàng vì điều đó. Tôi run rẩy, y như ban đêm người ta lạc vào chốn đồng không mông quạnh: người ta tưởng mình rơi vào một tình trạng hỗn mang, bị một nỗi sợ hãi âm thầm xâm chiếm và chỉ hoàn hồn sau khi đã xem xét rất lâu những vật ở chung quanh.
Chúng tôi ngồi xuống bên cạnh nhau. Tôi nắm lấy tay nàng rồi buồn bã nhìn nàng nói:
“Ôi! Manông, anh không ngờ em đã đền đáp mối tình của anh bằng một sự phản bội đê hèn như vậy. Đối với em, lừa dối một trái tim mà em đã làm chủ, một trái tim coi việc vâng phục em làm cho em hài lòng là niềm hạnh phúc, thì dễ biết bao. Em hãy nói cho anh biết em đã tìm đâu ra được những trái tim yêu đương đằm thắm và biết vâng phục như trái tim anh. Không, không, tạo hóa không tạo ra những trái tim cùng một loại với trái tim anh đâu! Ít nhất, em phải nói cho anh rõ có khi nào em nuối tiếc nó không? Anh phải hiểu như thế nào về việc hôm nay em lại nhân hậu quay về để an ủi nó? Anh càng thấy là bây giờ em quyến rũ hơn bao giờ hết, nhưng nhân danh tất cả những đau thương mà vì em, anh phải chịu đựng, Manông ơi! Em hãy nói cho anh biết em sẽ có chung thủy hơn không?”
Nàng nói với tôi những điều hết sức xúc động về sự hối hận của nàng và nàng hứa hẹn sẽ thủy chung với bao nhiêu lời thề non hẹn biển khiến tôi cảm động khôn cùng. Tôi lại nói với nàng bằng lối nói pha lẫn những từ ngữ của tình yêu thần học:
“Manông yêu quý! Em quả xứng đáng để được tôn thờ. Anh cảm thấy tim anh rung động vì niềm hoan lạc của chiến thắng. Tất cả những gì người ta nói về tự do ở Xanh Xuynpixơ đều là ảo giác. Anh thấy trước là vì em, anh sẽ đánh mất cả giàu sang, cả tiếng tăm, tên tuổi; anh đã đọc được số kiếp của anh trong đôi mắt đẹp của em, nhưng còn có mất mát nào mà anh lại không được bù đắp bằng tình yêu của em! Anh chẳng còn thiết gì đến vận hội giàu sang; vinh quang đối với anh chỉ là làn khói; tất cả những dự định của anh về một cuộc sống tăng lữ đều là những điều tưởng tượng điên rồ, tóm lại là tất cả những điều tốt lành không giống với những điều tốt lành mà anh hy vọng có được cùng em đều là đáng khinh, bởi vì chúng không thể đọng lại trong trái tim anh một phút giây nào trước ánh mắt của em”.
Tuy đã hứa với nàng là tôi sẽ quên đi hết những lỗi lầm của nàng, tôi vẫn muốn biết nàng đã bị M.B... quyến rũ như thế nào. Manông cho tôi biết rằng y đã say mê nàng khi thấy nàng hiện ra ở cửa sổ; rằng y đã tỏ tình theo cung cách của một viên quan thuế vụ, nghĩa là trong một bức thư, y cho biết là món tiền thù lao sẽ tương ứng với những sự chiều chuộng của nàng; rằng thoạt đầu, nàng đã tuân theo, nhưng chỉ với ý đồ bòn rút của y một món tiền lớn để có thể giúp chúng tôi sống một cách đường hoàng, rằng y đã làm nàng choáng ngợp bằng những lời hứa hẹn tuyệt vời và nàng đã bị y lung lạc từng bước một; rằng tôi phải đánh giá sự hối hận của nàng qua nỗi đau khổ của nàng vào cái ngày trước khi chúng tôi chia tay nhau, rằng tuy sống trong sự thừa mứa của y nhưng nàng không bao giờ thấy hạnh phúc với y, không phải chỉ vì nàng không tìm thấy ở y những tình cảm tinh tế, những phong cách thanh tao như của tôi, mà còn là vì ngay giữa những lạc thú mà y không ngừng đem lại cho nàng, từ trong thâm tâm, nàng vẫn luôn luôn nhớ đến tình tôi và hối hận vì đã phụ bạc tôi.
Nàng nói với tôi về anh bạn Tibecgiơ và về nỗi thẹn thùng cực độ của nàng khi anh ấy đến gặp nàng:
“Một nhát kiếm đâm vào tim cũng không làm em xúc động đến thế. Em quay lưng về phía anh ấy và không thể chịu đựng nổi sự có có mặt của anh ấy trong chốc lát.”
Nàng còn tiếp tục thuật lại với tôi bằng cách nào nàng đã biết được việc cư trú của tôi ở Paris, sự thay đổi hoàn cảnh của tôi, những buổi thực tập của tôi ở Soócbôn. Nàng đảm bảo với tôi rằng trong lúc tôi tranh luận, nàng xúc động đến mức khó khăn lắm mới kìm được không chỉ nước mắt mà cả những tiếng kêu rên chỉ chực bùng ra. Cuối cùng, nàng cho biết rằng nàng là người cuối cùng rời khỏi Soócbôn để che giấu sự xúc động, rằng chỉ còn đi theo tiếng gọi của trái tim và sự thôi thúc của dục vọng, nàng đã đi thẳng đến chủng viện với quyết tâm là sẽ chết ở đấy nếu như thấy tôi không sẵn sàng tha thứ.
Tìm đâu ra một con người dã man đến độ không xúc động trước một sự ăn năn vừa nồng nàn vừa dịu dàng đến thế? Đối với tôi, trong giờ phút ấy, tôi cảm thấy có thể vì Manông mà hy sinh tất cả cái tòa giám mục của thế giới Thiên Chúa giáo. Tôi hỏi nàng tính sẽ thu xếp công việc sắp đến thế nào? Nàng bảo rằng phải lập tức thoát ra khỏi chủng viện và tìm một nơi an toàn hơn để bàn định công việc. Tôi vâng theo tất cả những ý muốn của nàng mà không hỏi lại một lời. Nàng lên xe để đến chờ tôi ở một góc phố. Một lát sau, tôi thoát ra khỏi chủng viện, không để cho người gác cửa trông thấy. Tôi leo lên xe với nàng. Chúng tôi đến cửa hàng quần áo cũ. Tôi mua lại những galông [24] và thanh kiếm, Manông phải trả tiền vì tôi chẳng có một xu dính túi, chẳng là do sợ rằng tôi có thể gặp trở ngại khi thoát ra khỏi Xanh Xuynpixơ, nàng không muốn tôi trở về phòng của tôi để lấy liền, vả lại, tài sản của tôi chẳng đáng là bao, còn nàng thì khá giàu nhờ sự hào phóng của M.B... để xem rẻ những gì mà nàng buộc tôi phải bỏ lại. Chúng tôi thảo luận ngay tại cửa hàng quần áo cũ sẽ quyết định như thế nào: Để cho tôi thấy rõ hơn nàng đã vì tôi mà hy sinh tay M.B .. như thế nào, nàng quyết định không có nương nhẹ gì với y nữa. Nàng bảo tôi:
“Em muốn để lại bàn ghế cho hắn, vì đó là đồ đạc của hắn, nhưng em sẽ mang theo nữ trang và gần sáu chục ngàn phơrăng mà em đã bòn rút của hắn từ hai năm nay. Em cũng chẳng cho hắn chút quyền lực gì đối với em, do đó chúng ta có thể sống đường hoàng ở Paris, chúng ta sẽ thuê một căn nhà thuận tiện và sẽ sống hạnh phúc ở đấy.”
Tôi nói cho nàng hiểu rằng đối với nàng thì không có nguy cơ gì, nhưng với tôi lại có nhiều, vì sớm muộn người ta sẽ nhận ra tôi và tôi sẽ luôn luôn bị đe dọa phải nếm trải lại những hoạn nạn mà tôi đã từng phải chịu đựng. Nàng cho tôi hiểu là nàng không muốn rời khỏi Paris. Tôi thì rất sợ làm nàng phiền muộn đến nỗi tôi coi khinh mọi sự nguy hiểm để làm vừa lòng nàng; tuy nhiên chúng tôi cũng tìm ra một biện pháp dung hòa là thuê một ngôi nhà trong một cái làng ở gần Paris, nơi chúng tôi có thể dễ dàng ra thành phố khi cần vui chơi hoặc vì công việc cần thiết. Chúng tôi chọn Chaiô, không xa Paris bao nhiêu. Manông lập tức quay về nhà nàng. Tôi chỉ đến đợi nàng ở cái cửa nhỏ của công viên Tuylơri [25] . Một giờ sau nàng trở lại trên một chiếc xe ngựa thuê, cùng với một con hầu và vài ba cái hòm trong đó đựng quần áo và tất cả những thứ quý giá của nàng.
Chúng tôi đến ngã Chaiô. Đêm đầu tiên, chúng tôi trú tại một quán trọ để có thì giờ tìm một ngôi nhà hay ít nhất một căn hộ có tiện nghi. Hôm sau, chúng tôi tìm được một ngôi nhà vừa ý.
Thoạt tiên, tôi thấy hạnh phúc của tôi đã vững như bàn thạch. Manông là hiện thân của hiền dịu và chiều chuộng người yêu. Đối với tôi, nàng có những sự quan tâm tinh tế đến mức tôi nghĩ rằng mình được đền bù quá mức so với những khổ đau đã phải chịu đựng. Do cả hai đã có được đôi chút kinh nghiệm, chúng tôi thảo luận với nhau về sự bền vững của tài sản của chúng tôi. Sáu vạn phơrăng, món chủ yếu trong của cải mà chúng tôi có, không phải là món tiền có thể đủ chi dùng cho suốt cả một đời người. Vả lại chúng tôi cũng không muốn ăn tiêu chắt bóp quá. Đức tính đầu tiên của Manông cũng như của cả tôi, không phải là biết tiết kiệm.
Sau đây là cái kế hoạch chi tiêu mà tôi đề nghị. Tôi bảo với Manông:
“Sáu chục nghìn phơrăng có thể giúp chúng ta sống trong mười năm. Nếu chúng ta cứ sống ở Chaiô thì mỗi năm chúng ta chỉ cần hai nghìn êquy. Chúng ta sẽ sống ở đó một cuộc sống trung thực giản dị. Chi phí duy nhất của chúng ta là tiền bảo dưỡng một cỗ xe ngựa và tiền đi xem kịch, hát. Chúng ta, đã thỏa thuận với nhau: em thích Ôpêra, vậy thì một tuần chúng ta xem hai buổi. Còn về thú đỏ đen, chúng ta sẽ hạn chế đến mức không bao giờ chúng ta thua quá hai pixtôn. Trong vòng mười năm, không thể không xảy ra những thay đổi trong gia đình của anh! Cha anh đã già rồi, ông cụ có thể qua đời. Anh sẽ có tài sản và lúc đó chúng ta sẽ khỏi lo lắng gì nữa”.
Việc tính toán đó sẽ không phải là hành động rồ dại nhất trong đời tôi, nếu chúng tôi có đủ khôn ngoan để luôn luôn tuân theo nó. Nhưng quyết tâm của chúng tôi chỉ kéo dài không đầy một tháng. Manông đam mê những thú vui, còn tôi thì vì nàng mà đam mê. Lúc nào cũng thấy nảy ra những cơ hội mới để tiêu tiền và không những không biết những món tiền mà đôi lúc nàng tiêu pha một cách quá rộng rãi, tôi là người đầu tiên cung cấp cho nàng tất cả những gì mà tôi nghĩ là có thể làm cho nàng vui thích. Ngay ngôi nhà của chúng tôi ở Chaiô cũng bắt đầu làm cho nàng khó chịu. Mùa đông sắp đến, mọi người quay trở về thành phố và vùng nông thôn trở nên hiu quạnh. Nàng đề nghị với tôi mua lại một ngôi nhà ở Paris. Tôi không đồng ý, nhưng để vừa lòng nàng trong chừng mực nào đó, tôi nói với nàng rằng chúng tôi có thể thuê một căn hộ có tiện nghi ở Paris để chúng tôi có thể nghỉ lại ban đêm ở đó khi chúng tôi đi xem hát về muộn (mà chúng tôi thì đi xem nhiều lần trong tuần), bởi vì việc trở về Chaiô quá khuya là lý do nàng viện ra để muốn rời bỏ nơi đó. Như vậy là chúng tôi có hai nơi ở, một ở thành phố, một ở nông thôn. Sự thay đổi chẳng mấy chốc đã đem lại sự hỗn loạn cuối cùng trong công việc của chúng tôi và làm nảy sinh hai sự biến làm chúng tôi sạt nghiệp.
Manông có một người anh làm lính túc vệ. Chẳng may là anh ta lại cư trú ở Paris cùng một đường phố với chúng tôi. Anh ta nhận ra cô em gái vào một buổi sáng ở cửa sổ. Anh ta chạy ngay đến chỗ chúng tôi ở. Đó là một con người thô bạo, không biết tự trọng. Anh ta vào phòng chúng tôi, chửi thề tục tĩu và vì anh ta biết một phần những chuyện lang bạt của cô em, đã trách mắng, chửi rủa nàng một cách thậm tệ. Tôi vắng nhà trước đó một lát và đó chắc là một điều mong muốn cả cho anh ta hoặc là cho tôi vì tôi vốn không phải là kẻ sẵn sàng chịu đựng một điều sỉ nhục. Tôi trở về nhà sau khi anh ta đã bỏ đi. Vẻ buồn bã của Manông cho tôi đoán rằng một điều gì đó bất thường đã xảy ra. Nàng thuật lại với tôi câu chuyện bực mình mà nàng vừa phải chịu đựng cùng những lời hăm dọa tàn nhẫn của ông anh. Tôi tức giận đến mức muốn chạy đi báo thù ngay, nếu nàng không khóc để ngăn tôi lại. Trong khi tôi đang nói chuyện với nàng biến cố vừa xảy ra thì anh chàng lính túc vệ đó bước vào phòng chúng tôi đang ngồi mà không hề gõ cửa. Tôi sẽ không tiếp đón anh ta lịch sự đến thế nếu tôi đã biết anh ta trước; nhưng sau khi tươi cười chào hỏi chúng tôi, anh ta nói với Manông rằng anh ta trở lại để xin lỗi nàng về sự nóng giận của anh ta; rằng anh ta cứ tưởng là nàng sống buông tuồng và vì vậy mà anh ta nổi giận; nhưng sau khi thông qua một tên đầy tớ của chúng tôi, biết được tôi là ai, và đã nghe được bao nhiêu điều tốt đẹp về tôi, đến nỗi anh ta muốn đến sống chung với chúng tôi. Trong cái luồng thông tin mà anh ta thu thập được qua một tên gia nhân của tôi đã có cái gì kỳ quặc và chướng tai, tôi vẫn nhận những lời khen ngợi của anh ta một cách chân thành. Tôi tưởng làm như thế Manông sẽ hài lòng. Nàng có vẻ hớn hở khi thấy anh ta sẵn sàng hòa hợp. Chúng tôi giữ anh ta ở lại ăn trưa. Chỉ trong chốc lát, anh ta tỏ ra thân mật đến mức khi nghe chúng tôi nói đến việc trở về Chaiô, anh ta nhất quyết đòi đi theo. Phải dành cho anh ta một chỗ ngồi trên xe ngựa. Rồi diễn ra một cuộc xâm chiếm thật sự, bởi vì anh ta quen đến thăm chúng tôi với một niềm thích thú đến nỗi anh ta xem nhà của chúng tôi như nhà của anh ta và có thể nói anh ta tự xem mình là chủ nhân ông tất cả những gì thuộc quyền sở hữu riêng của tôi. Anh ta gọi tôi là “em” và với cái lý do “chỗ anh em với nhau”, anh ta đưa về nhà chúng tôi ở Chaiô tất cả bạn bè của anh ta và buộc chúng tôi chiêu đãi. Anh ta bắt chúng tôi sắm cho những bộ y phục sang trọng. Anh ta còn đòi chúng tôi phải thanh toán cả nợ nần cho nữa. Tôi nhắm mắt làm ngơ trước sự lộng hành đó để khỏi mếch lòng Manông, thậm chí tôi còn giả vờ không thấy việc thỉnh thoảng anh ta lại bòn rút của nàng những món tiền lớn. Anh ta là một cánh tay đánh bạc có cỡ và đúng là khi nào gặp vận may, anh ta cũng trung thực trao cho Manông một phần số tiền được bạc. Nhưng tài sản của chúng tôi chẳng được bao lăm để chu cấp cho những món chi tiêu quá đáng như vậy. Tôi vừa định giải thích một cách kiên quyết với anh ta để anh ta đừng quấy rầy chúng tôi nữa, thì một tai biến đã khiến tôi không cần làm điều đó nữa, nhưng lại gây ra cho chúng tôi một sự buồn phiền khác làm chúng tôi phải khuynh gia bại sản.
Một hôm chúng tôi ở lại Paris để ngủ lại ở đó như chúng tôi vẫn thường làm. Sáng hôm sau, người hầu gái mà chúng tôi để lại một mình ở Chaiô trong những trường hợp như vậy, đến báo với tôi rằng tối hôm ấy nhà tôi bị cháy và khó khăn lắm người ta mới dập tắt lửa được. Tôi hỏi cô ta bàn ghế trong nhà có bị thiệt hại gì không thì cô ta đáp rằng đã có một sự hỗn độn cực kỳ do một số đông người lạ đổ đến chữa lửa, nên cô ta không có thể nói chắc được gì hết. Tôi run lên, lo cho món tiền của chúng tôi cất trong một cái két nhỏ. Tôi lập tức quay trở về Chaiô. Một sự vội vàng vô ích. Két bạc đã biến mất. Lúc ấy tôi mới cảm thấy rằng người ta có thể thích tiền mà không phải là keo kiệt. Sự mất mát đó làm tôi đau đớn đến mức nghĩ rằng có thể mình mất trí. Tôi hiểu ngay ra rằng tôi sẽ phải đương đầu với những tai họa mới trong đó sự nghèo túng chỉ là cái nhỏ nhất. Tôi đã biết rõ tính nết của Manông, đã được thử thách quá nhiều để biết rằng dù nàng có chung thủy, gắn bó với tôi bao nhiêu đi nữa khi sung túc, thì trong cơn túng thiếu, không thể nào tin cậy gì được ở nàng. Nàng ưa thích quá đỗi sự giàu sang và lạc thú để có thể hy sinh những cái đó vì tôi. Tôi thốt lên: “Ta lại sẽ mất nàng! Hỡi chàng hiệp sĩ khốn khổ ơi! Mà lại mất đi những gì mà mày yêu quý!”
Ý nghĩ đó làm tôi hoang mang cực độ đến mức trong giây lát, tôi phân vân có nên tốt hơn hết là chấm dứt những nỗi đau của mình bằng cái chết hay không. Tuy vậy, tôi cũng còn đủ tỉnh táo, để trước hết soát lại thử tôi còn có cách gì nữa không? Chúa Trời đã đem lại cho tôi một ý nghĩ nó làm cho tôi thôi tuyệt vọng. Tôi nghĩ rằng có thể giấu sự mất mát của chúng tôi với Manông, e rằng nhờ một sự khôn khéo hoặc tình cờ nào đó, tôi có thể lương thiện chu cấp đầy đủ cho nàng để nàng khỏi thấy thiếu thốn.
Tôi tự an ủi: “Mình đã tính rằng hai chục nghìn êquy có thể chi dùng đủ cho hai đứa trong mười năm. Cứ giả thiết rằng mười năm đó đã trôi qua rồi, rằng trong gia đình mình đã không diễn ra sự thay đổi nào như mình từng hy vọng. Thế thì mình phải làm gì nào? Cũng chưa rõ lắm, nhưng điều mà mình sẽ làm trong mười năm nữa, ai ngăn cản mình làm ngay bây giờ? Có bao nhiêu kẻ ở Paris, chẳng có được sự thông minh cùng những đức tính trời cho như mình mà vẫn sống được nhờ tài năng của họ đó sao?” Suy ngẫm về những tình trạng khác nhau trong cuộc đời, tôi lại nghĩ thêm: “Chẳng phải là Thượng đế đã an bài mọi việc một cách rất khôn khéo đó sao? Phần lớn những kẻ quyền quý và giàu có đều là những thằng ngốc: điều này đã rõ ràng đối với những ai hiểu biết chút ít cái thế giới này. Thế nhưng trong các điều đó lại ẩn một sự công bằng tuyệt diệu: nếu bọn họ mà lại vừa có trí tuệ lại vừa giàu sang thì chúng quả sướng còn những người còn lại thì lại quả khốn khổ. Những người sau này được trời phú cho những phẩm chất về thân thể và tâm hồn để họ sử dụng những phẩm chất đó thoát ra khỏi sự nghèo hèn, túng thiếu. Một số thì chia sẻ sự giàu có của những kẻ quyền quý cao tuy bằng cách phục vụ những lạc thú của bọn này, họ biến chúng thành những kẻ bị lừa; một số khác thì lo cho sự giáo dục của những kẻ cao sang quyền quý kia, họ cố làm cho chúng thành những con người lương thiện, và thật ra hiếm khi họ thành công, nhưng đó không phải là mục đích của Thượng đế anh minh: bao giờ họ cũng thu lượm được một vài thành quả do công lao của họ, đó là sống nhờ vào những kẻ mà họ dạy dỗ; và dù người ta có nói gì đi nữa, thì sự ngu ngốc của những kẻ quyền quý, giàu sang vẫn là một nguồn thu nhập tuyệt vời cho những người hèn mọn”.
Những ý nghĩ đó làm cho tôi bình tĩnh lại. Trước tiên, tôi quyết định hỏi ý kiến Lexcô, anh của Manông. Anh ta biết rất rõ Paris và tôi đã có quả nhiều trường hợp để nhận ra rằng không phải nhờ vào gia sản hoặc tiền lương lãnh của nhà vua mà anh ta có tiền. May sao, trong túi tôi còn sót lại chưa đầy hai chục pixtôn. Tôi cho anh ta xem số tiền đó, giải thích cho anh ta rõ tai họa và những nỗi lo sợ của tôi và hỏi anh ta rằng tôi còn có cách nào khác để khỏi phải chết đói hoặc là tự đập đầu vì tuyệt vọng không. Anh ta trả lời tôi rằng đập đầu là phương sách của những thằng ngốc, còn chết đói thì cũng có khối đứa thông minh chịu chết vì không biết sử dụng những tài năng của mình; rằng chính tự tôi phải xét mình có khả năng tìm được cái gì; rằng anh ta hứa chắc sẽ giúp đỡ và cố vấn cho tôi trong mọi công việc làm ăn của tôi.
Tôi nói với anh ta:
“Điều anh nói quả mơ hồ, anh ạ. Tôi cần phải có một phương thuốc có hiệu quả ngay, bởi vì anh bảo tôi nói với Manông, làm sao bây giờ?”
Anh ta bảo tôi:
“Về phần cô Manông, việc gì mà chú phải lo? Chẳng phải là với cô ấy, chú đã luôn luôn có phương tiện để khỏi phải lo nghĩ khi chú muốn đấy à? Một đứa con gái như cô ấy thì phải chu cấp đủ cho chú, cho cô ấy và cả cho tôi nữa ấy chứ!”
Tôi vừa định đáp lại câu nói xấc xược ấy thì anh ta cắt ngang và nói tiếp rằng nếu tôi nghe theo lời khuyên của anh ta thì ngay trước tối nay, anh ta đảm bảo có được một nghìn êquy để chia nhau; rằng anh ta có quen một lão quý tộc rất hào phóng trong cái khoản tìm thú vui nhục dục đến nỗi đối với lão một nghìn êquy chẳng là cái thá gì để có được những sự nâng niu của một cô gái như Manông. Tôi ngăn anh ta lại và bảo anh ta:
“Trước đây, tôi có ý kiến tốt hơn về anh; tôi cứ tưởng rằng lý do khiến anh đối xử với tôi như bạn bè là một thứ tình cảm khác hẳn với tình cảm của anh bây giờ.”
Anh ta trâng tráo thú nhận rằng anh ta vẫn luôn luôn nghĩ như vậy và do rằng cô em gái của anh ta đã một lần vi phạm những quy phạm của giới phụ nữ, dù chỉ vì một người mà anh ta quý mến nhất là tôi, anh ta đã hòa hợp với nàng chỉ cốt để mong lợi dụng được sự hư đốn của nàng. Tôi dễ dàng nhận ra rằng cho đến lúc đó, chúng tôi đều đã bị anh ta lừa. Tuy những lời lẽ của anh ta có gây cho tôi xúc động mạnh mẽ, việc tôi cần đến anh ta buộc tôi phải vừa cười vừa đáp lại rằng lời khuyên của anh ta là phương sách phải tính đến khi gặp bước đường cùng. Tôi yêu cầu anh ta chỉ cho tôi một con đường khác. Anh ta bèn đề nghị với tôi hãy lợi dụng sự tươi trẻ và khuôn mặt xinh đẹp mà trời phú cho tôi để đi lại với một bà mệnh phụ già nhưng hào phóng. Tôi cũng không thích cái phương sách này vì nó làm cho tôi không còn chung thủy với Manông. Tôi nói với anh ta về trò đánh bạc là phương sách mà tôi cho là dễ nhất, phù hợp với tình cảnh của tôi nhất. Anh ta nói với tôi rằng trò đỏ đen thật ra cũng là một phương sách đấy, nhưng mà nó cần được chỉ dẫn; rằng đi đánh bạc một cách giản đơn chỉ trông cậy vào sự may rủi thường tình, thì đó chính là cách tốt nhất để làm tôi phá sản hoàn toàn, rằng cho là có thể một mình, không có ai hỗ trợ, sử dụng những mánh khóe vặt của một người khéo chân khéo tay để ăn gian là một nghề hết sức nguy hiểm; rằng còn có con đường thứ ba, đó là con đường vào hội đánh bạc bịp, nhưng vì tôi còn trẻ quá nên anh ta sợ rằng những vị hội viên chưa cho tôi có đủ tư cách để gia nhập hội. Tuy nhiên anh ta cũng hứa là sẽ làm môi giới với các vị ấy và điều mà tôi không ngờ đến là anh ta hứa sẽ cho tôi một số tiền trong trường hợp tôi bị bức bách quá. Ân huệ duy nhất mà tôi cầu xin ở anh ta trong tình thế này là không được nói gì với Manông vì sự mất mát của tôi cũng như về chủ đề câu chuyện trao đổi giữa anh ta và tôi.
Tôi ở chỗ Lexcô ra về, càng buồn bực hơn là lúc đến. Tôi còn hối tiếc là đã thổ lộ điều bí mật của tôi với anh ta. Có thổ lộ thì anh ta cũng chẳng làm gì được cho tôi y như là tôi không thổ lộ vậy thôi. Tôi còn sợ rằng anh ta không giữ lời hứa với tôi là không hé điều gì với Manông. Tôi còn có lý do để lo ngại nữa là, theo chính lời anh ta bộc bạch, anh ta chẳng lại có ý đồ “lợi dụng” cô em như chính từ ngữ anh ta dùng, để cướp nàng khỏi tay tôi, chí ít là cũng khuyên nàng rời bỏ tôi để gắn bó với một người tình nào đó giàu hơn tôi, sung sướng hơn tôi. Từ đó tôi lại suy nghĩ lung tung, chỉ tổ làm tôi thêm day dứt và còn tuyệt vọng hơn lúc ban sáng. Nhiều lần tôi có ý nghĩ viết thư cho cha tôi, giả vờ cải tà quy chính một lần nữa để xin người giúp cho tôi một món tiền; nhưng tôi nhớ ngay ra rằng dù rất nhân từ, người đã giữ tôi sáu tháng trong một phòng “giam” chật hẹp do lỗi lầm thứ nhất của tôi, tôi chắc rằng sau tai tiếng do vụ tôi trốn khỏi chủng viện Xanh Xuynpixơ gây ra, người sẽ còn đối xử với tôi nghiêm khắc hơn nữa. Cuối cùng, sau khi suy nghĩ lung tung tôi này ra một ý kiến làm tôi đột nhiên bình tâm trở lại và tôi ngạc nhiên là sao lại không nghĩ ra sớm hơn. Đó là nhờ đến anh bạn Tibecgiơ mà tôi tin chắc rằng sẽ tìm lại được ở anh nguồn nhiệt tình và tình bè bạn chí cốt như trước.
Không có gì tuyệt vời hơn và phù hợp với đạo đức hơn là lòng tin cậy ở những người mà ta biết rõ lòng trung thực. Người ta cảm thấy chẳng hề có mối nguy nào hết. Nếu không phải lúc nào họ cũng có thể giúp đỡ ta, thì cũng cầm chắc nhận được ở họ tấm lòng nhân ái và sự thương cảm. Với sự có mặt của họ, trái tim con người vốn khép chặt với những người khác, thường lại mở ra một cách tự nhiên như bông hoa nở ra dưới ảnh hưởng nhẹ nhàng của ánh mặt trời.
Tôi xem việc sực nhớ đến Tibecgiơ đúng lúc như vậy là nhờ sự che chở của Thượng đế đối với tôi và tôi quyết định tìm mọi cách để gặp anh ấy trước khi trời tối. Tôi trở về nhà ngay lập tức để viết cho anh ấy mấy chữ và chỉ cho anh ấy một địa điểm thích hợp cho cuộc nói chuyện của chúng tôi. Tôi dặn anh ấy phải im lặng và kín đáo, xem đó như là một trong những sự giúp đỡ quan trọng nhất của anh đối với tôi. Niềm vui do hy vọng gặp lại Tibecgiơ đem lại đã xóa bỏ những dấu vết buồn phiền mà chắc Manông thể nào cũng nhận thấy trên mặt tôi. Tôi nói với nàng về tai họa của chúng tôi ở Chaiô như là về một chuyện vặt vãnh không đáng cho nàng phải lo sợ, và vì Paris là nơi mà nàng thích xuất hiện nhất, nàng chẳng phật ý chút nào khi nghe tôi nói rằng chúng tôi sẽ ở lại luôn Paris trong khi chờ đợi người ta sửa chữa xong một đôi chỗ hư hỏng nhẹ do cháy nhà ở Chaiô. Một giờ sau, tôi nhận được trả lời của Tibecgiơ, anh ấy hứa sẽ gặp tôi ở nơi hẹn. Tôi vội chạy đến nơi. Dẫu sao, tôi cũng cảm thấy đôi chút xấu hổ khi phải xuất hiện trước mặt một người bạn mà chỉ sự có mặt của anh ấy đã là một lời trách cứ đối với những điều bậy bạ của tôi; nhưng ý nghĩ về sự nhân hậu của anh ấy cũng như lợi ích của Manông làm tôi mạnh bạo hẳn lên.
Tôi đã yêu cầu Tibecgiơ chờ tôi ở công viên Pale Royan [26] . Anh ấy đến đó trước tôi. Ngay khi thấy tôi, anh đã đến ôm hôn tôi. Anh ôm chặt lấy tôi một lúc lâu và mặt tôi đầm đìa nước mắt của anh. Tôi nói rằng tôi xấu hổ khi gặp lại anh, rằng tôi luôn luôn cảm thấy tôi đã bội bạc với anh; rằng điều đầu tiên mà tôi van xin anh là anh hãy nói cho tôi biết là tôi còn được phép xem anh ấy là bạn nữa không, sau khi đã để mất sự quý mến và lòng thương yêu của anh như vậy. Bằng một giọng hết sức thân thương, anh trả lời rằng không có gì có thể làm anh thôi không còn là bạn của tôi nữa, rằng chính những hoạn nạn của tôi và (nếu tôi cho phép anh được gọi như thế) cả những lỗi lầm và bừa bãi của tôi, càng làm cho anh thêm thương mến tôi, nhưng đó là một niềm thương mến pha trộn với nỗi đau khổ xót xa như nỗi đau khi ta thấy một người thân trượt xuống hố diệt vong mà không thể cứu vớt được.
Chúng tôi cùng ngồi xuống một chiếc ghế dài. Tôi nói với anh ấy qua một tiếng thở dài não nuột:
“Tibecgiơ thân mến ạ! Những đau khổ của mình cũng quá mức như lòng thương cảm của cậu đối với mình. Mình xấu hổ khi bày tỏ với cậu những đau khổ của mình bởi vì mình phải thừa nhận với cậu rằng nguyên nhân gây ra những đau khổ ấy chẳng có gì là vinh quang, nhưng hậu quả thì đáng buồn đến mức chẳng cần phải thương yêu mình nhiều như cậu để xót thương cho mình.”
Tibecgiơ yêu cầu tôi kể hết lại cho anh ấy nghe những gì đã xảy ra với tôi từ khi tôi rời Xanh Xuynpixơ, xem đó là biểu hiện của tình bạn của tôi với anh. Tôi thỏa mãn yêu cầu đó và thay vì bớt đi chút gì trong sự thật hoặc làm giảm nhẹ những lỗi lầm của mình để mong dễ được tha thứ, tôi đã say sưa thuật lại với anh ấy về nỗi si mê của tôi. Tôi miêu tả sự si mê đó như là một trong những ngón đòn đặc biệt của định mệnh, nó đeo đuổi để tàn hại một kiếp người khốn khổ, đến nỗi đức hạnh không ngăn chặn nổi mà khôn ngoan cũng không thể lường trước được. Tôi vẽ lên một cách sinh động những bồn chồn lo sợ, tuyệt vọng của tôi cách đây hai giờ, trước khi gặp anh mà rồi tôi sẽ lại sa vào nếu tôi bị bạn bè tàn nhẫn bỏ rơi như số phận đã bỏ rơi tôi; cuối cùng tôi đã làm cho Tibecgiơ tốt bụng mủi lòng đến mức tôi thấy anh cũng buồn khổ vì thương xót tôi y như tôi buồn khổ về những nỗi cực nhục của mình. Anh ấy ôm hôn tôi và động viên tôi can đảm lên và khuây khỏa lại, nhưng anh ấy cứ giả thiết rằng tôi cần phải xa rời Manông, tôi mới nói thẳng ra rằng đối với tôi, chính sự xa cách đó mới là nỗi bất hạnh lớn nhất, rằng tôi thà chịu đựng không những sự khốn khổ tàn tệ nhất, mà cả cái chết đau xót nhất còn hơn là xa rời nàng, cái phương thuốc không thể nào chịu đựng nổi so với tất cả những nỗi đau của tôi cộng lại. Tibecgiơ bèn hỏi tôi:
“Thế thì cậu hãy giải thích cho mình biết có khả năng giúp đỡ cậu cái gì một khi cậu bác bỏ hết các đề nghị của mình?”
Tôi không dám nói trắng ra rằng cái tôi cần là túi tiền của anh ấy. Nhưng cuối cùng, anh cũng hiểu ra và anh thú nhận với tôi rằng sau khi hiểu tôi muốn gì, anh cảm thấy lưỡng lự trong chốc lát. Với vẻ mặt của một người đang băn khoăn một điều gì, anh nói tiếp:
“Cậu đừng nghĩ rằng mình băn khoăn là do mình giảm sút nhiệt tình hay tình bè bạn với cậu. Nhưng mà cậu đã dồn mình đến cái thế tiến thoái lưỡng nan rồi đấy, hoặc là mình buộc phải từ chối không trao cho cậu sự giúp đỡ duy nhất mà cậu có thể nhận, hoặc là mình phải làm trái với nhiệm vụ của mình khi đồng ý trao cho cậu sự giúp đỡ đó; bởi vì chẳng phải là đồng lõa với cậu trong sự sa ngã buông tuồng một khi mình lại giúp cậu đắm sâu vào tội lỗi đó sao?”
Nhưng rồi, sau khi suy nghĩ một lát, anh ấy lại tiếp: “Tuy vậy, mình nghĩ rằng có thể là sự túng bấn đã làm cậu rơi vào tình trạng quẫn bách đến nỗi cậu không còn có tự do để chọn con đường tốt nhất, cần phải có đầu óc thảnh thơi mới hiểu được đạo lý và chân lý. Mình sẽ tìm cách giúp cho cậu ít tiền. Chỉ xin phép cậu cho mình đặt ra với cậu, chàng hiệp sĩ thân mến của tôi ơi, – anh vừa nói vừa ôm hôn tôi, – một điều kiện: đó là cậu cho mình biết chỗ ở của cậu và ít nhất cậu để cho mình tiếp tục cố gắng lôi cậu trở lại con đường đức hạnh mà mình biết là cậu thích đi theo, nhưng chỉ do quá cuồng nhiệt trong dục vọng mà cậu đã đi chệch.”
Tôi thành thực thỏa mãn tất cả những gì mà Tibecgiơ mong muốn và tôi van anh hãy thương xót cái số kiếp chẳng ra gì của tôi đã làm tôi không thể vâng theo những lời khuyên bảo của một người bạn đức hạnh như anh ấy. Tibecgiơ đưa ngay tôi đến một ông chủ ngân hàng mà anh quen, ông này ứng trước cho tôi một trăm pixtôn theo biên lai của anh, vì anh cũng chẳng sẵn tiền mặt. Tôi đã nói rằng Tibecgiơ cũng chẳng giàu có gì. Học bổng của anh ấy đáng giá một nghìn êquy, nhưng vì anh mới được cấp năm đầu tiên nên anh ấy chưa nhận được đồng lãi nào; anh đã ứng trước cho tôi món lợi nhuận trong tương lai của anh.
Tôi cảm nhận tất cả giá trị của lòng hào hiệp của anh ấy. Tôi xúc động đến mức xót xa cho sự mù quáng trong một mối tình nghiệp chướng đã làm cho tôi xa rời mọi bổn phận. Trong lòng tôi, trong một giây lát nào đó, đức hạnh đã có đủ sức mạnh để trỗi dậy chống lại dục vọng và trong phút giây tỏa sáng đó, ít nhất tôi cũng thấy được nỗi xấu hổ và tủi nhục của những xiềng xích của tình yêu ràng buộc tôi. Nhưng cuộc đấu tranh nội tâm đó rất là nhẹ nhàng và chẳng được bao lâu. Nhìn thấy Manông là tôi như từ trên trời rơi xuống và khi đã ở gần nàng, tôi ngạc nhiên sao trong một lúc nào đó lại có thể xem sự yêu thương đứng đắn một đối tượng tuyệt vời đến thế là một điều đáng xấu hổ.
Manông là một con người có tính nết kỳ quặc. Không một cô gái nào coi thường tiền bạc như nàng, nhưng nàng không thể bình yên một phút khi nàng sợ thiếu tiền. Cái mà nàng cần là những thú vui, những trò giải trí. Nếu có thể chơi bời, tiêu khiển không mất tiền thì nàng chẳng cần sờ đến một xu. Ngay cả đến tiền bạc của chúng tôi còn hay hết, nàng chẳng hề màng đến, miễn là ngày nào nàng cũng được vui chơi thú vị. Và vì nàng không quá đam mê cờ bạc cũng chẳng dễ bị choáng ngợp bởi những trò xa hoa lãng phí, nên không gì dễ dàng như việc làm cho nàng thỏa thích bằng cách mỗi ngày bày ra cho nàng những trò vui nho nhỏ, hợp với sở thích của nàng. Nhưng được bận bịu bởi những thú vui như vậy là một điều hết sức cần thiết đối với nàng đến nỗi nếu không có nó thì ta không thể nào tin được tính cách và ý hướng của nàng. Dù nàng yêu tôi đắm đuối và như nàng sẵn sàng thừa nhận tôi là người duy nhất có thể làm cho nàng hưởng thụ một cách trọn vẹn những dịu ngọt của tình yêu, tôi gần như chắc chắn rằng sự đắm đuối của nàng không thể chống lại một số điều sợ hãi. Nàng sẽ thích tôi hơn bất cứ ai trên trái đất này nếu tôi có được một món tài sản nho nhỏ, chúng tôi chẳng chút nghi ngờ rằng nàng sẽ bỏ tôi để đi theo một lão M.B... mới nào đó khi tôi chỉ còn có lòng kiên trinh, chung thủy để dâng nàng. Vì vậy tôi quyết tâm chi tiêu dè sẻn riêng cho mình để có thể chu cấp những món chi của nàng và tôi thà chịu thiếu những thứ cần thiết còn hơn là hạn chế cả sự thừa mứa của nàng. Chiếc xe ngựa là thứ làm tôi lo ngại nhất vì rõ là chẳng có khả năng nào để bảo dưỡng được ngựa và người đánh xe. Tôi thổ lộ sự lo lắng cho anh Lexcô. Tôi cũng không giấu anh ta là tôi đã nhận được một trăm pixtôn của một người bạn. Anh ta nhắc lại với tôi rằng nếu tôi muốn thử thời vận bằng đánh bạc, anh ta tin rằng nếu tôi vui lòng bỏ ra khoảng một trăm phơrăng để tiếp đãi những hội viên, thì theo lời tiến cử của anh ta, tôi sẽ được kết nạp vào Liên minh cờ bạc bịp. Dẫu tôi ghê tởm việc đi bịp người ta, tôi vẫn để cho sự nghèo túng lôi đi.
Ngay tối hôm đó, anh Lexcô đã giới thiệu tôi là một người bà con của anh ta, rồi nói thêm rằng tôi rất muốn thành công vì tôi rất cần trúng được một món tiền lớn. Tuy vậy, để tỏ ra rằng tôi chưa phải là một tay kiết xác, anh ta bảo họ rằng tôi có ý mời họ ăn tối. Họ nhận lời mời. Tôi chiêu đãi họ thỏa thuê. Người ta bàn tán khá lâu về vẻ mặt dễ thương và phong độ thích hợp của tôi. Người ta dự đoán rằng có thể hy vọng nhiều ở tôi vì do vẻ mặt của tôi toát ra sự thật thà nên không ai có thể nghi ngờ gì những trò gian lận của tôi. Cuối cùng, người ta cảm ơn ông Lexcô đã đem lại cho hội một người mới vào nghề có giá trị như tôi và giao nhiệm vụ cho một “hiệp sĩ” hội viên huấn luyện cho tôi những điều cần thiết trong đôi ba ngày. “Chiến trường” chính để tôi thi thố tài năng là khách sạn Transylvanie, nơi có một sòng đánh pharaông [27] trong một gian phòng lớn và nhiều sòng bài lá, xúc xắc trong hành lang. Nhà gá bạc này là của ông hoàng R... lúc bấy giờ ở Clanhi và phần lớn bộ hạ của ngài đều tham gia hội của chúng tôi. Có phải tôi nói lên điều đó để dễ xấu hổ không? Chẳng bao lâu tôi đã sử dụng được những bài học của thầy. Nhất là tôi rất sành trong ngón tráo bài, chui bài, và nhờ hai cái măng-sét của ống tay áo, tôi đã giấu đi nhẹ nhàng các quân bài và đánh lừa được những cặp mắt tinh nhanh nhất và đã thực sự làm phá sản khối những con bạc thật thà. Sự nhanh nhẹn kỳ lạ đó làm cho tôi mau chóng phất lên và chỉ trong vài tuần, tôi đã có được những món tiền rất lớn, ngoài những món tiền mà tôi sẵn sàng chia cho các hội viên trong liên minh của tôi. Thế là tôi không còn sợ tiết lộ với Manông sự mất mát của chúng tôi ở Chaiô nữa và để an ủi nàng trong khi báo cái tin buồn đó, tôi thuê ngay một ngôi nhà có đầy đủ đồ đạc và chúng tôi đến sống ở đó trong sự sung túc và an nhàn.
Trong thời gian đó, Tibecgiơ thường xuyên đến thăm tôi. Anh ấy vẫn không ngớt thuyết giáo về đạo đức. Anh ấy luôn luôn trình bày những thiệt hại mà tôi gây ra đối với lương tâm, danh dự và vận hội của tôi. Tôi đón nhận những ý kiến của anh ấy với tình bè bạn và tuy tôi chẳng sẵn sàng chút nào để nghe theo những ý kiến đó, tôi vẫn biết ơn nhiệt tình của anh ấy vì tôi biết rõ nguồn gốc của sự nhiệt tình đó. Đôi lúc, tôi chế giễu anh ấy một cách nhẹ nhàng, ngay cả khi Manông có mặt, và tôi khuyên anh ấy đừng tỏ ra nghiêm cẩn hơn cả một số đông đức giám mục và các vị chăn chiên khác đã biết cách kết hợp tài tình một cô tình nhân với bổng lộc của chức vị.
Tôi vừa chỉ vào đôi mắt người tình của tôi vừa bảo anh:
“Cậu hãy xem đấy và nói cho mình rõ có còn có những lỗi lầm nào mà không được một sự nghiệp đẹp đẽ đến thế biện minh cho?”
Anh ấy rất kiên trì, và ngày càng tỏ ra kiên trì nhưng đến khi anh thấy của cải của tôi tăng lên, không những trả xong món nợ một trăm pixtôn cho anh mà tôi còn thuê được một ngôi nhà mới, tăng gấp đôi chi tiêu và lại lao vào việc hưởng thụ những khoái lạc hơn bao giờ hết, anh ấy thay đổi hoàn toàn giọng nói và cách đối xử. Anh ấy phiền trách sự ngoan cố của tôi, đe dọa rằng tôi sẽ bị trời trừng phạt và tiên đoán một phần những tai họa chẳng bao lâu nữa sẽ ập lên đầu tôi. Anh ấy nói:
“Những của cải dùng để chu cấp cho những sự trác táng của cậu không thể do con đường chân chính mà có được. Cậu đã có được những của cải đó một cách bất minh; rồi cậu cũng sẽ đánh mất chúng đi như vậy. Sự trừng phạt khủng khiếp nhất của Chúa Trời là Người để cậu bình thản hưởng thụ những của cải đó. Tất cả những lời khuyên răn của mình đối với cậu đều vô ích; mình đã không thấy trước quá rõ ràng đối với cậu, những lời khuyên đó chỉ quấy rầy cậu thôi. Vĩnh biệt, hỡi người bạn vô ơn và nhu nhược! Mong sao những lạc thú tội lỗi của cậu sẽ tan đi như một cái bóng! Mong sao của cải, tiền bạc của cậu sẽ tiêu tán đi và cậu sẽ cô độc, trần trụi để cảm thấy tất cả sự phù phiếm của những thứ tiền của mà cậu đã mê say một cách rồ dại! Rồi đến lúc đó cậu mới thấy mình sẵn sàng thương yêu cậu, giúp đỡ cậu, nhưng hôm nay thì mình cắt đứt mọi quan hệ với cậu và mình căm ghét cái cuộc sống mà cậu đang sống!”
Anh ấy đã đọc cái bài thuyết giáo đó ngay trong phòng tôi, trước mặt Manông. Anh ấy đứng dậy để ra về. Tôi muốn giữ anh ấy lại, nhưng Manông ngăn tôi lại và nói rằng đó là một thằng điên cần phải tống đi.
Bài diễn thuyết ấy của Tibecgiơ cũng gây cho tôi ít nhiều ấn tượng. Tôi nhận ra rằng trong nhiều trường hợp trái tim tôi cũng muốn quay về với điều thiện, bởi vì chính là nhờ những kỷ niệm như vậy mà sau này tôi đã tìm được một phần sức mạnh để chống chọi với những điều bất hạnh lớn nhất của đời tôi. Những vuốt ve mơn trớn của Manông trong giây lát đã làm tiêu tan mối phiền muộn mà màn kịch vừa rồi đã gây ra cho tôi. Chúng tôi lại tiếp tục sống một cuộc sống tràn đầy lạc thú và tình yêu. Chúng tôi càng giàu lên thì tình yêu của chúng tôi càng tăng lên. Thần Vệ nữ và Thần Tài chưa hề có được những tên nô lệ nào hạnh phúc và thắm thiết như chúng tôi. Lạy Chúa! Tại sao lại gọi cái thế giới này là nơi khốn khổ khi ở đó người ta có thể nhấm nháp những thú vui kỳ diệu? Nhưng, than ôi, nhược điểm của chúng là trôi đi nhanh quá. Với lại nếu niềm hoan lạc cứ kéo dài mãi mãi thì người ta còn biết tìm đâu ra những lạc thú mới? Những lạc thú của chúng tôi cũng đều nằm trong cái số phận chung đó, nghĩa là ngắn ngủi và tiếp liền theo là những nỗi nuối tiếc đắng cay. Trong trò chơi đen đỏ, tôi đã thu được những mối lợi rất lớn đến mức tôi đã tính đến chuyện đem một phần tiền của tôi cho vay lấy lãi. Bọn người giúp việc chúng tôi không phải là không biết những thành quả của tôi, nhất là tên hầu phòng của tôi và con hầu của Manông, vì chúng tôi hay chuyện trò với nhau cả khi chúng có mặt mà không nghi ngờ gì. Con hầu ấy khá xinh, thằng hầu phòng của tôi mê nó. Chúng nó lại vớ được những ông bà chủ còn trẻ và dễ tính mà chúng nghĩ là có thể đánh lừa một cách dễ dàng. Chúng âm mưu lừa chủ và đã thực hiện âm mưu đó, làm cho chúng tôi điêu đứng, và đẩy chúng tôi vào trong một tình trạng mà chúng tôi không còn cách gì để gượng dậy nữa.
Một hôm, anh Lexcô mời chúng tôi ăn tối. Khi chúng tôi về đến nhà thì vào quãng nửa đêm. Tôi gọi thằng hầu phòng, còn Manông thì gọi con hầu gái. Chẳng có đứa nào ra mặt. Người ta cho chúng tôi biết là không hề trông thấy chúng có mặt ở nhà từ lúc tám giờ tối và chúng đã bỏ đi sau khi đã cho khiêng đi một vài cái hòm theo lệnh mà chúng bảo là của tôi. Tôi linh cảm một phần sự thật, nhưng những gì tôi trông thấy khi bước về phòng của tôi đã vượt quá những mối hoài nghi của tôi. Ống khóa phòng bị bẻ, tiền bạc và tất cả áo quần của tôi bị cuỗm sạch. Trong khi tôi đang một mình suy nghĩ về tai biến này thì Manông hớt hải chạy đến báo rằng bọn chúng cũng phá hoại y như vậy ở phòng nàng. Cái đòn này đối với tôi tàn nhẫn quá đến mức phải tự trấn tĩnh ghê gớm tôi mới không bật khóc và kêu lên. Vì sợ làm cho Manông lây sự thất vọng của tôi, tôi cố làm ra vẻ bình tĩnh. Tôi vừa nói đùa với nàng rằng tôi sẽ trả thù bằng một vài ngón bịp ở khách sạn Transylvanie. Tuy vậy, nàng rất nhạy cảm với tai họa của chúng tôi, và rồi nỗi buồn của nàng lại lây sang tôi mạnh hơn là niềm vui giả vờ của tôi có thể ngăn nàng khỏi quá ủ ê. Nàng bảo tôi, nước mắt lưng tròng: “Chúng ta nguy mất!”
Tôi cố gắng nhưng vô hiệu an ủi nàng bằng những vuốt ve mơn trớn; những giọt lệ của chính tôi đã để lộ nỗi tuyệt vọng và nỗi kinh hoàng của tôi. Mà thật vậy, chúng tôi đã phá sản cùng cực, cho đến một cái sơ-mi cũng không còn.
Tôi quyết định cho đi mời ngay anh Lexcô lại. Anh khuyên tôi nên đi trình ngay với ông cảnh sát trưởng và ông chỉ huy hiến binh ở Paris. Tôi đi trình, nhưng việc đó lại gây cho tôi một tai họa lớn nhất, bởi vì việc trình báo của tôi và những cuộc vận động mà tôi nhờ người khác làm đối với hai ngài sĩ quan hình luật đó chẳng những có kết quả gì, mà tôi lại còn để cho Lexcô có thì giờ trò chuyện với cô em gái và trong khi tôi vắng mặt, đã mớm cho nàng một quyết định khủng khiếp. Anh ta nói với nàng về lão G.M..., một lão dê cụ sẵn sàng trả tiền mặt một cách hào phóng cho những thú vui, rồi anh ta hé cho nàng thấy bao nhiêu những mối lợi nếu nàng chịu phục vụ lão ta, đến nỗi trong tình trạng gan ruột rối bời vì nỗi bất hạnh của chúng tôi, nàng vâng chịu tất cả những gì mà anh ta thuyết phục nàng làm. Cuộc mặc cả “cao quý” đó kết thúc trước khi tôi trở về nhưng việc thực hiện thì để đến hôm sau, sau khi Lexcô đã báo trước cho lão G.M... Anh ta vẫn đợi tôi ở nhà, còn Manông thì đi nằm ở trong phòng của nàng. Nàng đã ra lệnh cho tên người hầu thưa lại với tôi rằng vì nàng cần nghỉ ngơi đôi chút nên xin tôi để nàng ngủ một mình đêm hôm đó. Lexcô từ giã tôi sau khi đã trao cho tôi dăm đồng pixtôn.
Cho đến gần bốn giờ sáng tôi mới đi ngủ và sau khi suy nghĩ một lúc lâu về phương sách làm thế nào để phục hồi gia sản, tôi ngủ muộn đến mức khi tỉnh giấc thì đã mười một hay mười hai giờ trưa. Tôi thức dậy ngay để đi vấn an Manông, người ta bảo tôi rằng nàng ra ngoài cách đấy một giờ, cùng với ông anh đã đến đón nàng đi trong một cỗ xe ngựa thuê. Một cuộc đi dạo như vậy lại có Lexcô đi cùng, là một điều bí hiểm đối với tôi, nhưng tôi vẫn cố sức dẹp đi những mối nghi ngờ. Tôi để một vài giờ trôi qua bằng cách đọc sách. Cuối cùng, tôi đi bách bộ qua các căn phòng của chúng tôi để tự trấn an. Trong phòng của Manông, tôi thấy một bức thư niêm phong cẩn thận đặt trên cái bàn của nàng. Thư gởi cho tôi và nét chữ là của nàng viết. Tôi run rẩy bóc bức thư. Bức thư đó viết:
“Chàng hiệp sĩ thân yêu của em ơi! Em xin thề rằng anh là thần tượng của trái tim em và trên cõi đời này chỉ có anh là người mà em có thể yêu như em đã từng yêu anh, nhưng anh đã chẳng thấy rằng trong cảnh ngộ của chúng ta lâm vào, thì chung thủy là một đức tính ngu ngốc đó sao? Có thể nào anh lại tin rằng khi thiếu bánh mì, người ta vẫn có thể yêu nhau thắm thiết? Cái đói rồi sẽ làm em có một vài điều lầm lẫn cuối cùng, một ngày nào đó em trút hơi thở cuối cùng thì em lại sẽ ngỡ rằng đó là mình thở than vì tình yêu. Anh hãy tin rằng em tôn thờ anh, nhưng anh hãy để em thu xếp cho vận hội của chúng ta trong một thời gian. Kẻ nào mà rơi vào cái lưới của em thì hãy coi chừng! Em làm việc để cho chàng hiệp sĩ của em giàu có và sung sướng. Ông anh của em sẽ cho anh biết những tin tức về Manông của anh và rằng em đã khóc vì bắt buộc phải rời bỏ anh”.
Sau khi đọc xong bức thư, tôi rơi vào trong một tình trạng khó mà tả lại được, bởi vì cho đến hôm nay tôi vẫn còn không biết lúc đó tôi bị những tình cảm nào làm xáo động. Đó là một tình huống duy nhất người ta chưa hề cảm thấy một điều gì tương tự. Người ta không thể giải thích điều đó cho những người khác được vì họ chưa bao giờ có ý niệm về nó, và chính bản thân mình cũng không thể đem nó so sánh với bất cứ thứ tình cảm nào mà mình đã trải qua. Nhưng dù cho tâm trạng của tôi lúc đó ra sao đi nữa, chắc chắn trong đó đã pha trộn đau khổ, hờn dỗi, ghen tuông và xấu hổ. Sung sướng biết bao nếu trong đó không còn pha chút yêu đương! Tôi thốt lên:
“Nàng yêu ta, ta muốn tin như thế, nhưng nàng hẳn phải là con quái vật mới căm ghét ta? Có bao giờ người ta có được những quyền lực đối với một trái tim như ta đã từng có đối với trái tim nàng? Ta còn gì để làm cho nàng nữa sau tất cả những gì ta đã hy sinh vì nàng? Ấy thế mà nàng đã bỏ ta! Và con người bội bạc đó còn tưởng có thể trốn khỏi những lời trách cứ của ta bằng cách nói với ta rằng nàng vẫn yêu ta! Nàng sợ đói! Lạy thần tình ái! Đó là một thứ tình cảm mới thô bỉ làm sao, đó là đáp lại một cách xấu xa sự tế nhị của ta. Ta nào có sợ đói, ta là kẻ đã sẵn sàng chịu đói vì nàng khi ta từ bỏ cả cơ nghiệp và những lạc thú ở nhà cha ta; ta là kẻ đã chịu thiếu thốn đến cùng cực để thỏa mãn tính khí thất thường của nàng. Nàng nói là nàng tôn thờ ta. À, nếu quả có em tôn thờ tôi thật, hỡi con người bội bạc kia, thì ta biết rõ cô em đã hỏi ý kiến người nào; ít nhất cô em đã không ra đi mà không nói với ta là vĩnh biệt. Chính là phải hỏi ta để biết rằng người ta cảm thấy đau khổ thế nào khi phải xa cách người mà mình tôn thờ chứ. Phải là con người mất trí mới tự nguyện từ bỏ người mình tôn thờ!”
Những lời than thân trách phận của tôi bị đứt đoạn vì một cuộc thăm viếng bất ngờ. Đó là Lexcô.
“Thằng đao phủ kia! Manông ở đâu? Mày làm gì cô ta rồi?” Tôi vừa quát hỏi anh ta vừa chộp lấy thanh kiếm.
Động tác ấy làm anh ta hoảng sợ, anh ta đáp lại tôi rằng nếu tôi đón tiếp anh như vậy khi anh ta đến để báo lại với tôi về một sự giúp đỡ to lớn nhất mà anh vừa tiến hành với tôi, thì anh ta sẽ ra về ngay và chẳng bao giờ còn đặt chân đến nhà tôi nữa. Tôi chạy ngay ra cửa phòng, khóa chặt cửa rồi quay lại nói với anh ta:
“Mày đừng tưởng có thể cho ta là một thằng ngu một lần nữa và có thể lại lừa ta bằng những câu chuyện vớ vẩn. Hoặc là mày phải bảo vệ mạng sống của mày hoặc là phải tìm lại Manông cho tao.”
Anh ta bảo tôi:
“Chú mày nóng nảy quá đấy! Chính chỉ là vì việc đó mà anh đến đây. Anh đến bảo với chú một hạnh phúc mà chú không ngờ đến và chú có thể vì nó mà phải biết ơn anh ấy đấy.”
Tôi muốn anh ta nói ngay ra tức thì. Anh ta bèn kể với tôi rằng Manông, do không chịu nổi sự lo sợ phải rơi vào cảnh túng thiếu, nhất là không chịu nổi ý nghĩ phải đột nhiên thay đổi hoàn cảnh sống, đã yêu cầu anh ta làm môi giới để nàng làm quen với lão M. đơ G.M là người nghe nói là hào hiệp (anh ta không dám nói với tôi là chính anh ta đã khuyên nàng làm như vậy và chính anh ta đã chuẩn bị mọi đường đưa đón, trước khi đưa nàng đi).
Anh ta nói tiếp:
“Sáng nay, anh đưa cô ấy đến nhà lão ta và con người trung hậu ấy tỏ ra thích thú giá trị của cô ấy đến mức trước hết đã mời cô ấy đi theo lão về ngôi nhà nghỉ của lão ở nông thôn là nơi lão sẽ về ở trong vài ba ngày. Còn anh thì đột nhiên nghĩ ra rằng điều đó sẽ có thể có lợi cho chú như thế nào, anh bèn khéo léo làm cho lão hiểu rằng Manông đã bị thua thiệt rất lớn, và anh đã làm lão động lòng hào hiệp đến mức lão bắt đầu tặng cho cô ấy hai trăm pixtôn. Anh bèn nói với lão ta rằng món tiền ấy có thể đủ lúc này, nhưng trong tương lai, cô em tôi sẽ cần những món chi phí lớn; rằng cô ấy còn phải lo cho một cậu em trai mà chúng tôi phải chăm sóc sau khi cha mẹ chúng tôi qua đời; rằng nếu lão thấy cô ấy xứng đáng với sự quý mến của lão thì xin lão đừng để cô ấy đau khổ vì cậu em nhỏ mà cô ấy xem như là máu thịt của mình. Câu chuyện phịa đó đã làm lão cảm động. Lão hứa chắc là sẽ thuê một ngôi nhà tiện lợi cho chú và Manông, bởi vì chính là chú sẽ là cậu em trai mồ côi khốn khổ đó. Lão còn hứa là sẽ trang bị đầy đủ cho cô chú và hàng tháng cung cấp cho cô chú bốn trăm livre, vị chi là bốn nghìn tám trăm livre vào cuối năm, nếu anh tính không nhầm. Trước khi đi nghỉ ở nông thôn, lão đã lệnh cho viên quản lý đi tìm một ngôi nhà và phải sẵn sàng khi lão trở về. Như vậy là chú sẽ gặp lại Manông, cô ấy có nhờ tôi thay cô ấy gởi chú nghìn cái hôn và đảm bảo với chú rằng cô ấy yêu chú hơn bao giờ hết.”
Tôi ngồi suy nghĩ đến sự an bài kỳ quặc của số phận. Tôi cảm thấy tình cảm bị chia xẻ và do đó ở trong tâm trạng phân vân khôn dứt nên một hồi lâu tôi không trả lời vô số những câu hỏi mà Lexcô đặt ra. Chính trong lúc đó mà danh dự và đức hạnh đã giúp tôi còn cảm thấy ăn năn hối hận và tôi đã thở dài, nhìn về lại Amien, về ngôi nhà của cha tôi, về Xanh Xuynpixơ, về tất cả những nơi mà tôi đã sống trong ngây thơ trong trắng. Giờ đây, tôi đã cách biệt với tình trạng sung sướng thuở ấy bởi một quãng bao la biết dường nào! Tôi chỉ từ xa mà nhìn lại nó, như nhìn một cái bóng còn thu hút những niềm nuối tiếc và khát vọng của tôi, nhưng yếu quá để kích thích tôi cố gắng. Tôi tự nhủ: “Định mệnh nào đã biến tôi thành một kẻ phạm tội? Tình yêu là một niềm đắm say vô tội, làm sao đối với tôi, nó lại biến thành nguồn gốc của khốn khổ và rối loạn? Ai ngăn cấm tôi được sống yên ổn và đức hạnh với Manông? Tại sao tôi lại không cưới nàng trước khi chưa nhận được cái gì hết từ tình yêu của nàng? Cha tôi, người đã từng thương yêu tôi thắm thiết, có thể đồng ý cho tôi cưới nàng không, nếu tôi làm áp lực với người bằng những khẩn khoản, cầu xin chính đáng? Ôi, cha tôi có lẽ sẽ yêu quý nàng như yêu quý một đứa con gái kiều diễm, quá xứng đáng để trở thành vợ của con trai người; tôi đã có thể sung sướng với tình yêu của Manông, với tình thương của cha tôi, với sự quý mến của những con người trung thực, với những của cải của cơ nghiệp và sự bình an của đức hạnh. Ôi! Những sự đảo ngược tai hại! Cái nhân vật đốn mạt mà người ta đề nghị với tôi là kẻ nào thế? Sao? Tôi lại đi chia xẻ... Nhưng còn đắn đo gì nữa khi chính Manông đã xếp đặt như thế và nếu tôi lại mất nàng vì không chìu ý nàng thì sẽ ra sao? Tôi nhắm mắt lại như để xua đi những ý nghĩ sầu muộn đến như vậy rồi thốt lên:
“Anh Lexcô ạ, nếu anh muốn giúp tôi, tôi xin cảm ơn anh. Anh có thể chọn một con đường trung thực hơn, nhưng bây giờ thì xong cả rồi, phải không? Như vậy thì chỉ cần suy nghĩ để tận dụng sự chăm sóc của anh và thực hiện cái kế hoạch của anh thôi.”
Lexcô đang lúng túng trước cơn giận dữ và sau đó là sự im lặng kéo dài của tôi, hết sức hớn hở khi thấy tôi chọn con đường hoàn toàn khác với điều mà chắc là anh ta lo lắng; hắn chẳng can đảm chút nào, và về sau tôi cũng có những chứng cớ về điều này. Hắn vội vã đáp:
“Vàng, vâng, đúng là tôi đã giúp chú một việc tốt đẹp và chú sẽ thấy rằng chúng ta sẽ thu được nhiều điều lợi mà chú không ngờ đến.”
Chúng tôi bàn luận làm thế nào để cho lão G.M khỏi nghi ngờ về mối quan hệ anh em ruột thịt giữa chúng tôi, khi trông thấy tôi cao lớn và có thể là nhiều tuổi hơn là lão tưởng. Chúng tôi không tìm ra cách nào hơn là trước mặt lão, tôi sẽ làm ra vẻ khù khờ, quê mùa và làm cho lão tin rằng tôi có ý đồ đi học trường dòng, và vì vậy hàng ngày tôi vẫn đến trường trung học. Chúng tôi cũng quyết định rằng tôi sẽ ăn mặc rất luộm thuộm trong lần đầu tiên tôi được phép có vinh dự đến chào lão. Lão ta trở về thành phố ba, bốn ngày sau đó, chính lão thân hành dẫn Manông đến ngôi nhà mà viên quản gia đã cho sửa chữa lại, Manông lập tức báo cho Lexcô biết tin nàng đã trở về và hắn lại báo cho tôi, cả hai chúng tôi kéo nhau đến nhà nàng. Lão tình nhân già đi vắng.
Dù đã nhẫn nhục vâng theo ý muốn của nàng, tôi không thể kìm lại một tiếng thở dài khi thấy lại Manông. Nàng thấy tôi buồn bã, ủ dột. Niềm vui được gặp lại nàng không hoàn toàn át được nỗi sầu muộn, khi nghĩ đến sự phản trắc của nàng. Ngược lại, nàng như tràn đầy hoan lạc được gặp lại tôi. Nàng phiền trách sự lạnh nhạt của tôi. Tôi không thể nào kìm lại và thốt lên những tiếng “phản bội”, “không chung thủy” kèm với những cái thở dài. Thoạt đầu nàng còn chế nhạo sự giản đơn của tôi, nhưng khi thấy tôi cứ buồn bã nhìn nàng và nỗi buồn khổ của tôi khi phải chấp nhận một sự thay đổi hoàn toàn trái với tính khí và mong muốn của tôi, nàng bỏ sang phòng nàng một mình. Một lát sau, tôi đi theo sang phòng của nàng. Thấy nàng đang khóc nức nở, tôi bèn hỏi vì sao nàng lại khóc. Manông bảo tôi:
“Anh khó gì mà không nhận ra vì sao em khóc. Làm sao em có thể sống được nếu nhìn thấy em chỉ làm cho anh u uất và sầu muộn? Anh đến đây đã hơn một giờ mà chẳng thèm vuốt ve em một cái nào trong khi anh nhận những cái vuốt ve âu yếm của em với cái vẻ suy nghĩ của ông vua trong tam cung lục viện.”
Tôi vừa ôm hôn nàng vừa đáp:
“Này, Manông, anh không thể giấu em là trái tim anh hết sức đau buồn. Giờ đây, anh không nói đến nỗi hoang mang lo sợ của anh khi em đột nhiên biến đi, đến sự tàn nhẫn của em khi bỏ rơi anh mà không một lời an ủi sau khi đã ngủ chung một giường với một kẻ không phải là anh nữa. Sự quyến rũ của em khi em có mặt có thể làm anh quên đi những điều còn độc địa hơn. Nhưng có thể nào em lại cho rằng anh có thể nghĩ đến cuộc sống buồn bã và đau khổ mà em muốn anh sống trong cái nhà này, mà không thở than, rơi lệ chăng? – Và tôi vừa nói, vừa rơi nước mắt. – Hãy để ra một bên dòng dõi và danh dự của anh, đó chỉ còn là những lý do quá yếu ớt để có thể cạnh tranh nổi với một mối tình như tình của anh đối với em; nhưng em chẳng thấy rằng ngay cả mối tình đó đang rên siết vì không được đền bù xứng đáng hay đúng hơn là bị đối xử một cách tàn nhẫn bởi một người yêu bội bạc và nhẫn tâm đó sao.”
Nàng ngắt lời tôi:
“...Này, chàng hiệp sĩ của em, anh cứ làm em khổ sở với những lời trách móc đâm vào trái tim em. Như thế chẳng ích lợi gì đâu. Em thấy rõ cái gì làm anh bực tức rồi. Trước đây, em đã hy vọng anh đồng ý với những dự án của em nhằm khôi phục lại chút ít gia sản của bọn mình và chính là vì nương nhẹ sự tế nhị của anh mà em đã bắt đầu thực hiện dự án đó mà không có sự tham gia của anh, nhưng bây giờ thì em từ bỏ nó bởi vì anh không tán thành.”
Manông nói thêm rằng nàng chỉ xin tôi chiều ý nàng một chút, cho đến tối thôi; rằng nàng đã nhận được của ông tình nhân già hai trăm pixtôn, và lão ta còn hứa với nàng tối đến sẽ mang đến một chiếc vòng hạt trai cùng nhiều thứ trang sức khác và quý hơn tất cả là một nửa số tiền trợ cấp hàng năm mà lão ta đã hứa với nàng. Nàng bảo tôi:
“Chỉ xin anh để cho em có thời giờ nhận quà tặng của lão, em xin thề với anh rằng lão không thể khoe rằng lão đã ăn nằm với em vì cho đến nay, em hẹn lão đợi khi trở về thành phố đã. Đúng là lão đã hàng triệu lần hôn tay em và lão phải trả giá cho cái thú đó là đúng thôi, và nếu tính tỷ lệ theo sự giàu có và tuổi tác của lão thì năm hoặc sáu nghìn phơrăng đâu có phải là nhiều.”
Quyết định của Manông đối với tôi còn thú vị hơn cả hy vọng có được năm nghìn phơrăng. Tôi lại có dịp để nhận ra rằng tôi hãy còn chưa để mất hẳn mọi ý thức về danh dự, bởi vì tôi hết sức hài lòng khỏi phải bị ô nhục. Nhưng mà cái số tôi sinh ra là để hưởng những niềm vui ngắn ngủi và chịu đựng những nỗi đau khổ kéo dài. Thần số mệnh chỉ vớt tôi lên từ một vực thẳm này để ném tôi vào một vực thẳm khác. Sau khi bằng hàng nghìn cái vuốt ve mơn trớn để tỏ cho Manông thấy rằng tôi sung sướng biết bao vì sự thay đổi ý định của nàng, tôi bảo nàng rằng cần phải báo cho Lexcô rõ để phối hợp nhịp nhàng biện pháp của chúng tôi. Thoạt tiên anh ta còn làu bàu, nhưng bốn, năm nghìn phơrăng tiền mặt đã khiến anh ta vui vẻ chia sẻ quan điểm của chúng tôi. Rồi chúng tôi thỏa thuận rằng cả ba chúng tôi cùng ăn tối với lão G.M..., và như thế là vì hai lý do: một là để cho chúng tôi có cái thú chứng kiến một màn kịch thú vị trong đó tôi đóng vai trò học sinh, em trai của Manông, thứ hai là để ngăn chặn lão dê cụ quá sàm sỡ với người tình của tôi, do cái quyền mà lão tưởng có được đối với nàng sau khi trả tiền trước một cách hào phóng như vậy. Cũng định rằng khi lão ta lên căn phòng mà lão định ngủ tại đấy thì Lexcô và tôi sẽ phải rút lui, còn Manông thì thay vì đi theo lão ta, hứa với chúng tôi là sẽ bỏ ra ngoài và đến ngủ với tôi. Lexcô chịu trách nhiệm lo sao cho đúng vào giờ đó có một chiếc xe ngựa ở cổng.
Giờ ăn tối đã đến. Lão G.M... không bắt phải chờ đợi lâu. Lexcô và Manông đều đã ở trong phòng ăn. Lời chúc tụng đầu tiên của lão già là tặng cho người đẹp của lão một sợi dây chuyền, mấy cái vòng và hoa tai bằng ngọc trai trị giá ít nhất một nghìn êquy. Sau đó lão đếm trao cho nàng toàn bằng những đồng lui vàng, món tiền hai nghìn bốn trăm phơrăng là một nửa số tiền trợ cấp. Lão còn thêm mắm thêm muối vào món quà tặng của lão bằng vô khối những lời lẽ êm dịu theo kiểu cách cung đình ngày trước. Manông phải để cho lão hôn vài cái, đó là cái giá nàng phải trả cho món tiền mà lão vừa trao cho nàng. Tôi đứng ở cửa, dỏng tai ra nghe trong khi chờ đợi Lexcô ra hiệu cho tôi bước vào. Anh ta đến cầm tay tôi, sau khi Manông đã ôm chặt lấy tiền và đồ nữ trang, vừa dẫn tôi đến trước mặt lão G.M... vừa lệnh cho tôi phải quỳ gối cúi chào lão. Tôi phục xuống, chào lão hai, ba lần rất cung kính. Lexcô thưa với lão:
“Xin ngài tha lỗi, chú em đây còn trẻ con lắm. Như ngài đã thấy, hắn còn xa lạ với phong độ của Paris, nhưng chúng tôi hy vọng rằng hắn sẽ quen dần dần. Rồi quay sang phía tôi anh ta căn dặn: “Chú có vinh dự được gần gũi tôn ông đây, chú phải gắng sức mà học tập cái gương của tôn ông.”
Lão tình nhân già tỏ ra thích thú khi gặp tôi. Lão tát yêu vào mà tôi hai, ba cái và nói rằng tôi là cậu thiếu niên xinh trai, nhưng phải cẩn thận trong khi sống ở Paris là mà nơi thanh thiếu niên dễ đến chỗ trác táng chơi bời. Lexcô đảm bảo với lão rằng bản chất tôi ngoan ngoãn đến mức tôi chỉ nói đến việc trở thành linh mục và niềm vui thích duy nhất của tôi là làm những nhà thờ nho nhỏ.
“Ta thấy em giống Manông”, lão già vừa nói vừa lấy tay nâng cằm tôi lên.
Tôi đáp lại với cái vẻ rất ngố:
“Thưa ông, đó là vì máu thịt của chúng tôi gần nhau và vì vậy tôi yêu chị Manông cũng như yêu chính bản thân mình.”
“Anh nghe rõ chứ? – Lão nói với Lexcô. – Chú em thông minh đây. Tiếc rằng chú bé này chưa được tiếp xúc nhiều với nhiều người.”
“Ồ, thưa ông, tôi đáp, ở chỗ chúng tôi, tôi thấy bao nhiêu là người trong các nhà thờ và tôi nghĩ rằng ở Paris tôi cũng có thể tìm thấy những thằng còn ngốc hơn tôi.”
“Anh thấy đấy, – lão nói thêm, – đối đáp như thế là đáng phục đối với một chú bé tỉnh lẻ.”
Suốt trong bữa ăn tối, toàn bộ cuộc chuyện trò của chúng tôi gần như đã diễn ra theo cung cách đó. Manông vốn hay đùa cợt, nhiều lần suýt làm hỏng cả mọi việc. Trong khi ăn, tôi tìm được cơ hội kể cho lão nghe câu chuyện của chính lão về mối nguy đang chờ lão, Lexcô và Manông đã run lên khi tôi kể chuyện, nhất là khi tôi tả chân dung của lão gần như thật, nhưng lòng tự ái ngăn không cho lão nhận ra đấy là chuyện của lão và tôi đã kết thúc câu chuyện khéo đến nỗi lão ta là người đầu tiên thầy nó rất khôi hài. Ông thấy rằng không phải là không có lý do mà tôi đã thuật lại dài dòng cái màn kịch lố bịch đó. Cuối cùng, giờ đi ngủ đã đến, lão lại nói đến tình yêu và sự nôn nóng của lão. Lexcô và tôi rút lui; người ta đưa lão về phòng ngủ còn Manông thì bước ra, lấy cớ đi ngoài rồi đến gặp chúng tôi ở cửa. Cỗ xe ngựa chờ chúng tôi cách đấy ba, bốn nhà về phía dưới tiến lên đón chúng tôi. Trong chốc lát, chúng tôi đã rời xa khu phố đó.
Dù rằng theo chính con mắt tôi thấy, hành động này quả là một sự lừa đảo thực sự, nhưng đó không phải là hành động bất lương nhất mà tôi phải ăn năn. Tôi băn khoăn nhiều hơn về khoản tiền kiếm được nhờ đánh bạc. Nhưng chúng tôi hưởng chẳng được bao nhiêu, tiền đánh bạc cũng như tiền lừa đảo, và Trời đã làm cho tội lỗi nhẹ nhất lại là trừng phạt nghiêm khắc nhất.
Lão G.M... chẳng bao lâu đã nhận ra là lão bị lừa. Tôi không được rõ là ngay đêm hôm đó lão có tiến hành những biện pháp gì không để tìm ra chúng tôi, nhưng lão có khá nhiều uy tín để không mất thì giờ vào những biện pháp vô ích, còn chúng tôi thì lại khá chủ quan, khinh suất để tin vào sự rộng lớn của Paris và vào quãng cách giữa khu phố chúng tôi dọn đến ở và khu phố của lão. Không những lão được thông tin về chỗ ở và về công việc hiện tại của chúng tôi mà lão còn biết được tôi là ai, cuộc sống của tôi ở Paris, mối liên hệ cũ của Manông với B…, việc nàng đánh lừa B..., tóm lại tất cả những quãng đời gây tai tiếng nhiều nhất trong tiểu sử của chúng tôi. Do đó, lão quyết định cho bắt giữ chúng tôi và đối xử với chúng tôi không phải như đối với những tội phạm, mà như là đối với những kẻ phóng đãng, lọc lõi.
Chúng tôi còn đang ngủ thì một viên sĩ quan cảnh sát bước vào phòng chúng tôi với nửa tá cảnh sát. Thoạt tiên, chúng tịch thu tiền của chúng tôi, hay đúng hơn là của lão G.M... rồi chúng đột ngột bắt chúng tôi trở dậy, dẫn chúng tôi ra cửa, ở đó đã có hai cỗ xe ngựa chờ sẵn. Manông bị bắt đưa lên một chiếc mà không có lời giải thích nào, còn tôi thì bị đẩy lên chiếc kia và bị tống về Xanh Lazarơ [28] . Phải trải qua những thất bại kiểu như thế mới đánh giá được nỗi tuyệt vọng do chúng gây ra. Bọn cảnh sát nhẫn tâm không cho phép tôi được ôm hôn Manông, cũng không được nói với nàng một lời nào. Trong một thời gian dài, tôi không biết Manông ra sao. Chắc hẳn đó là một điều may đối với tôi vì nếu tôi biết được sớm cái tai họa khủng khiếp đến thế ập xuống nàng, tôi đã hóa điên và có thể là chết.
Như vậy là cô tình nhân khốn khổ của tôi bị bắt cóc trước mắt tôi và đưa đến một nơi giam giữ mà tôi tởm lợm không muốn nói tên. Cái số phận dành cho con người diễm lệ đến thế, con người có thể chiếm cái ngai vàng thứ nhất trên thế giới này, nếu mọi người đều có con mắt và trái tim giống tôi, mới thảm hại làm sao! Người ta không đối xử dã man với nàng, nhưng nàng bị nhốt vào trong một phòng giam chật hẹp, một mình và hàng ngày buộc phải hoàn thành một phần công việc nào đó, xem đó là điều kiện cần thiết để có được đôi chút thức ăn tởm lợm. Mãi về sau, tôi mới biết được những chi tiết buồn thảm đó, sau khi bản thân tôi cũng phải trải qua trong nhiều tháng một cuộc sống giam cầm khắc nghiệt và chán chường. Những tên cảnh sát áp giải tôi không báo cho tôi biết được lệnh đưa tôi đến đâu và tôi chỉ biết số phận dành cho tôi trước cửa Xanh Lazarơ. Trong lúc đó, tôi muốn chết đi còn hơn rơi vào tình thế đó. Tôi có những ý niệm khủng khiếp về cái nhà này. Sự kinh hoàng còn tăng lên khi bước vào, bọn cảnh sát còn khám túi tôi một lần nữa để chắc rằng tôi không có vũ khí hoặc phương tiện tự vệ. Ngay lúc đó, cha bề trên đến ngay, Ông đã được báo trước về việc tôi đến và hòa nhã chào tôi. Tôi nói với ông:
“Thưa cha, xin đừng đối xử tàn tệ với con. Con thà chết một nghìn lần còn hơn là phải chịu đựng một sự đối xử tàn tệ nào.”
Ông đáp:
“Không đâu, không đâu, nếu con tỏ ra ngoan ngoãn biết điều thì chúng ta sẽ bằng lòng lẫn nhau.”
Ông bảo tôi cùng đi lên một căn phòng ở trên cao. Tôi liền đi theo ngay. Bọn cảnh sát hộ tống chúng tôi đến tận cửa phòng và cha bề trên, khi đã bước vào phòng cùng với tôi, ra hiệu cho họ rút lui. Tôi nói với ông:
“Như vậy con là tù nhân của cha rồi. Thế thì thưa cha, cha sẽ làm gì con?”
Ông nói với tôi rằng ông thích thú thấy tôi ăn nói có chừng mực, rằng nhiệm vụ của ông là làm sao cho tôi cảm thấy say mê đạo đức và tôn giáo, còn nhiệm vụ của tôi là biết tận dụng những lời khích lệ và khuyên nhủ của ông; rằng chỉ cần tôi tìm thấy chút ít lạc thú trong sự cô đơn của mình. Tôi lại nói:
“Ôi, lạc thú! Cha không biết được cái vật duy nhất có thể làm cho con hưởng được lạc thú đâu!”
“Ta biết, nhưng ta hy vọng rằng con sẽ thay đổi ý hướng đó, ông đáp.”
Câu trả lời của ông cho tôi biết rằng ông đã biết được những chuyện “phiêu lưu” của tôi và có thể cả tên tôi nữa. Tôi yêu cầu ông làm sáng tỏ cho tôi điểm này. Ông trả lời rằng tất nhiên là người ta đã thông báo cho ông tất cả.
Việc cha bề trên biết được mọi chuyện về tôi là sự trừng phạt nghiêm khắc nhất đối với tôi. Nước mắt tôi tuôn ra như suối với tất cả những dấu hiệu của một nỗi tuyệt vọng kinh khủng. Tôi không thể nào khuây khỏa được đối với một sự nhục nhã, nó sẽ biến tôi thành đề tài đàm tiếu của tất những người quen biết tôi, và thành sự điếm nhục của gia đình. Tôi trải qua tám ngày như vậy trong tình trạng rã rời ê ẩm, không còn có thể nghe điều gì, lo nghĩ đến điều gì khác ngoài điều sỉ nhục của mình. Ngay cả ký ức về Manông cũng không làm tôi đau khổ thêm. Ký ức đó đi vào nỗi đau của tôi chỉ nhờ một xúc cảm đã có trước khi có nỗi đau khổ mới, và nỗi đau chủ yếu trong tâm hồn tôi lúc đó là sự xấu hổ và nhục nhã. Ít người biết được sức mạnh của những rung động đặc biệt đó của trái tim. Những con người bình thường chỉ có năm hoặc sáu tình cảm, họ sống quần quanh trong vòng những tình cảm đó và mọi sự xúc động của họ rốt cuộc cũng chỉ quy về những tình cảm đó thôi. Lấy mất đi ở họ yêu thương và căm giận, lạc thú và đau khổ, hy vọng và sợ hãi thì họ sẽ chẳng còn cảm xúc gì nữa. Nhưng những người có bản tính cao thượng hơn đều có thể xúc động theo hàng nghìn cách khác nhau, hình như họ có nhiều hơn năm giác quan và họ có thể tiếp thu những ý niệm và cảm xúc vượt ra ngoài giới hạn bình thường của tự nhiên; và vì họ ý thức được cái tầm vĩ đại nó đưa họ vượt lên quá cái tầm thường, không có điều gì được họ trân trọng gìn giữ hơn là cái ý thức đó. Vì thế mà họ không thể chịu đựng nổi sự khinh bỉ và chế nhạo; và xấu hổ là một trong những tình cảm mãnh liệt nhất của họ.
Ở Xanh Lazarơ, tôi đã có sự xấu hổ đó. Cha bề trên thấy tôi đau khổ quá mức, nên ông vừa e ngại hậu quả, vừa thấy cần phải đối xử dịu dàng, khoan dung độ lượng với tôi. Mỗi ngày ông đến thăm tôi hai, ba lần. Ông thường kéo tôi đi dạo trong vườn và ông ra sức động viên, khuyên giải tôi. Tôi bình tĩnh tiếp thu những lời khuyên giải, động viên đó, lại còn bày tỏ với ông cả lòng biết ơn của tôi. Nên từ đó, ông hy vọng tôi sẽ cải tà quy chính. Một hôm, ông nói với tôi:
“Bản tính của con rất hiền lành và dễ thương đến nỗi cha không hiểu được những sự buông tuồng mà người ta buộc tội con. Có hai việc làm cho cha ngạc nhiên: thứ nhất là làm sao mà một người có những đức tính tốt đẹp như con lại có thể lao vào trò ăn chơi truy lạc vô độ như vậy; và điều thứ hai mà cha phục hơn nữa là tại sao sau nhiều năm quen sống bừa bãi như vậy, con lại tự nguyện vâng theo những lời chỉ bảo, khuyên răn của cha? Nếu đó là tại con hối hận thì con là một tấm gương nổi bật của lòng thương xót của Chúa, còn nếu đó là do lòng nhân hậu tự nhiên thì ít nhất con cũng có một bản chất tốt đẹp làm cha hy vọng rằng không cần lưu giữ con ở đây lâu mới có thể đưa con trở lại với cuộc sống trung thực và nề nếp.”
Tôi hết sức vui mừng trước ý kiến đánh giá tôi như vậy. Tôi quyết định làm tăng thêm ý kiến đó bằng lối cư xử sao cho cha bề trên hoàn toàn hài lòng, vì tôi tin rằng đó là cách chắc chắn nhất để rút ngắn thời hạn ở tù của tôi. Tôi xin ông cung cấp cho tôi sách học. Ông lấy làm ngạc nhiên khi để cho tôi tự do chọn lấy sách, tôi đã chọn một vài tác giả đứng đắn. Tôi giả vờ miệt mài học tập và như vậy, lúc nào cũng chứng tỏ cho ông sự thay đổi mà ông chờ đợi ở tôi.
Tuy nhiên, sự thay đổi đó chỉ là bề ngoài. Tôi phải xấu hổ mà nhận rằng ở Xanh Lazarơ tôi đã đóng vai một nhân vật đạo đức giả. Thay vì học tập, khi có một mình, tôi chỉ rên siết cho số kiếp của tôi, nguyền rủa cái nhà tù của tôi và sự độc đoán của những kẻ giữ tôi lại trong đó. Ngay khi nỗi xấu hổ còn chưa hết đè nặng lên tâm hồn tôi thì tình yêu đã lại giằng xé tôi. Việc Manông vắng mặt, sự mơ hồ về số phận của nàng, nỗi sợ hãi không còn bao giờ gặp lại nàng nữa là để tài duy nhất của những suy tư buồn bã của tôi. Tôi hình dung nàng nằm trong vòng tay của lão G.M..., vì đấy là ý nghĩ đầu tiên của tôi, tôi không hề nghĩ rằng lão cũng đối xử với nàng như đối xử với tôi, tôi tin chắc rằng lão bắt tôi phải xa nàng là chỉ cốt để yên ổn chiếm đoạt nàng. Tôi trải qua những ngày đêm mà tôi thấy dài dằng dặc. Tôi chỉ còn hy vọng ở thành công của thái độ đạo đức giả của tôi. Tôi quan sát chi li vẻ mặt và giọng nói của cha bề trên và tôi nghiên cứu cách để làm vừa lòng ông mà tôi xem như là người quyết định số phận của tôi. Dễ dàng nhận ra rằng tôi được ông ưu ái. Tôi không còn hoài nghi nữa là ông sẵn lòng giúp đỡ tôi.
Một hôm tôi bạo gan hỏi ông có phải việc tôi được thả ra tùy thuộc ở ông không? Ông nói với tôi rằng ông không hoàn toàn là người chủ ở đây, nhưng ông hy vọng rằng, theo sự chứng thực của ông, ông G.M... người đã xin ông Tổng giám đốc cảnh sát bắt giam tôi, sẽ đồng ý trả lại tự do cho tôi. Tôi nhẹ nhàng đáp lại:
“Con có thể mong rằng ông ấy xem hai tháng trong tù mà con đã chịu đựng là đủ để chuộc tội không?”
Cha bề trên hứa với tôi là sẽ nói lại với lão G.M... nếu tôi muốn. Tôi bèn xin với ông giúp đỡ tôi chuyện đó. Hai ngày sau, ông cho tôi biết rằng G.M.. đã hết sức xúc động khi nghe những điều tốt lành về tôi đến mức không những ông ta có ý đồ trả tự do lại cho tôi mà còn muốn biết rõ tôi hơn và ông ta muốn đến gặp tôi tại phòng giam. Tuy tôi chẳng thích thú gì lắm sự có mặt của lão ta, tôi vẫn xem đó là con đường dẫn đến tự do sắp đến của mình.
Lão ta đến Xanh Lazarơ thật. Tôi thấy lão có về nghiêm trang hơn và ít đần độn hơn so với lúc ở nhà Manông. Lão nói vài câu đạo lý về hạnh kiểm xấu của tôi. Và chắc là để biện minh cho chính những trò trụy lạc của lão, lão nói thêm rằng có thể cho phép con người, khi không giữ mình được, tìm đến một vài lạc thú mà bản năng đòi hỏi; nhưng những trò lừa đảo, gian lận thì đáng bị trừng trị. Tôi nghe lão nói với một vẻ tuân phục khiến lão tỏ ra hài lòng. Tôi cũng không hề nổi cáu cả khi nghe lão phun ra vài lời chế giễu mối quan hệ anh em giữa tôi với Lexcô và Manông, về những đồ thờ nho nhỏ mà lão nghĩ rằng tôi làm được nhiều lắm ở Xanh Lazarơ, vì tôi đã tỏ ra thích thú biết bao với công việc mộ đạo đó. Nhưng khổ thay cho lão và cả cho tôi nữa, khi lão buột miệng nói ra với tôi rằng chắc Manông cũng đã làm được những cái như vậy rất đẹp ở Nhà trừng giới. Mặc dù lạnh cả người khi nghe cái tên Nhà trừng giới, tôi vẫn còn đủ sức để nhẹ nhàng xin lão giải thích cho. Lão nói tiếp:
“Ừ, đúng là vậy đấy! Từ hai tháng nay, cô ấy học tập môn đức hạnh ở Nhà trừng giới trung ương và ta hy vọng cô ấy cũng rút tỉa được những điều bổ ích như chú mày ở Xanh Lazarơ đây.”
Dù cho có bị tù đày vĩnh viễn hoặc khi cái chết có sừng sững trước mắt, tôi cũng không bị rung động như khi nghe được cái tin khủng khiếp đó. Tôi xông vào lão G. M... với một nỗi điên dại đến mức như mất đi một nửa sức lực. Tuy vậy, tôi vẫn còn đủ sức để quật lão xuống đất và nắm chặt lấy cổ lão. Tôi bóp cổ lão cho đến khi tiếng động do lão ngã xuống, và vài tiếng ú ớ mà tôi còn để lão thốt ra được làm cha bề trên và nhiều tu sĩ đổ xô vào phòng tôi. Người ta giải thoát lão khỏi tay tôi. Bản thân tôi gần như đứt thở và rã rời. Tôi vừa thở vừa kêu lên:
“Chúa ơi! Trời ơi! Làm sao ta có thể sống được một phút sau một sự ô nhục như vậy?”
Tôi muốn nhảy xổ một lần nữa vào cái tên dã man kia nó vừa giết chết tôi. Người ta giữ chặt tôi lại. Nỗi tuyệt vọng, tiếng kêu than, và những giọt nước mắt của tôi vượt quá mọi sự tưởng tượng. Tôi làm những điều quá kỳ quặc đến nỗi những người chứng kiến, không rõ nguyên cớ vì đâu, đều ngơ ngác và sợ hãi nhìn nhau. Trong khi đó, lão G.M... sửa lại mái tóc giả và cà vạt và trong cơn tức giận do bị đối xử tàn tệ như vậy, lão ra lệnh cho cha bề trên phải giam tôi chặt chẽ hơn và dùng mọi biện pháp tàn khốc mà người ta từng biết ở Xanh Lazarơ để trừng trị tôi. Cha bề trên bèn trả lời lão:
“Không! Thưa ông, đối với một người dòng dõi như ông hiệp sĩ này thì chúng tôi không thể đối xử như vậy được. Vả lại, ông ấy hiền từ và trung hậu, đến nỗi tôi thật khó hiểu vì sao ông ta lại làm một điều quá đáng như vậy mà không có lý do gì.”
Câu trả lời đó làm cho lão G.M... chưng hửng. Lão bỏ về và nói rằng lão biết cách làm cho cả cha bề trên, cả tôi và tất cả những ai dám chống lại lão phải quy phục lão.
Cha bề trên, sau khi ra lệnh cho các tu sĩ đưa lão về, ngồi lại một mình với tôi. Ông van tôi nói vắn tắt do đâu mà tôi hành động bừa bãi như vậy. Tôi vừa khóc như đứa trẻ con vừa thưa với ông:
“Cha ơi! Cha hãy tưởng tượng đến sự độc ác khủng khiếp nhất, cha hãy nghĩ đến một điều dã man đáng tởm nhất, đó chính là hành động của lão G.M... khốn kiếp. Chao ôi! Lão ta đâm nát trái tim con. Con sẽ không bao giờ gượng lại được. Con xin thuật lại tất cả với cha. Cha rất tốt bụng, cha sẽ thương xót con.”
Rồi tôi thuật lại vắn tắt với cha câu chuyện về nỗi đắm say lâu dài và không thể chế ngự được của tôi với Manông, về tình trạng sung túc của chúng tôi trước khi bị bọn gia nhân lấy trộm sạch; về những đề nghị của lão G.M... đối với người yêu của tôi, về cái giao kèo giữa hai bên và việc nó bị cắt đứt như thế nào. Nói cho đúng ra, tôi đã trình bày câu chuyện theo khía cạnh có lợi nhất cho chúng tôi.
“Đấy! tôi nói tiếp, do đâu mà lão G.M... hăng hái đến thế trong việc bắt con cái tà quy chính. Lão có uy thế để luôn cho con bị giam giữ ở đây, cốt là chỉ để trả thù. Con tha thứ cho lão về chuyện đó, nhưng thưa cha, còn chưa hết. Lão đã cho bắt cóc một cách tàn nhẫn con người mà con xem như nửa thân mình của con và đưa cô ấy một cách nhục nhã vào Nhà trừng giới và hôm nay chính miệng lão đã trâng tráo báo điều đó. Ôi! Thưa cha, ở Nhà trừng giới ! Trời ơi, người yêu kiều diễm của tôi, bà hoàng thân thương của tôi ở Nhà trừng giới như là một con vật bỉ ổi nhất!
Con còn biết tìm đâu ra sức lực để khỏi héo hon vì đau khổ và nhục nhã!”
Cha bề trên nhân hậu thấy tôi quá đỗi thảm sầu như vậy, bèn tìm cách an ủi tôi. Ông nói với tôi rằng ông chưa bao giờ hiểu sự tình của tôi như tôi vừa thuật lại, rằng thực ra, ông cũng biết rằng tôi sống buông tuồng, nhưng ông cứ tưởng rằng điều khiến lão G.M... quan tâm đến việc đó là do một mối quan hệ kính yêu và bạn bè nào đó của lão đối với gia đình tôi, rằng chính lão cũng giải thích với ông như vậy; rằng những điều tôi vừa cho ông biết sẽ làm cho công chuyện của tôi thay đổi nhiều và ông tin rằng câu chuyện xác thực mà ông có ý định kể lại cho ông Tổng giám đốc cảnh sát, sẽ góp phần làm cho tôi sớm được trả lại tự do. Sau đó ông hỏi tôi tại sao tôi lại chưa nghĩ đến việc báo tin cho gia đình tôi, vì gia đình tôi chẳng hay biết gì về việc tôi bị giam giữ. Để trả lời, tôi thưa lại với ông rằng đó là do tôi sợ gây ra đau khổ cho cha tôi và cả nỗi xấu hổ mà bản thân tôi cũng cảm thấy. Cuối cùng, cha bề trên hứa với tôi là sẽ đi gặp ngay ông Tổng giám đốc cảnh sát “dù chỉ để phòng trước một việc gì đó tệ hại hơn do lão G.M... gây ra vì lão đã bỏ về hết sức bất mãn, mà lão thì có đủ uy thế để làm cho người ta phải dè chừng”.
Tôi mong đợi cha bề trên trở về trong tâm trạng xáo động của một con người bất hạnh chờ đợi lời tuyên án. Đối với tôi, hình dung cảnh Manông bị giam ở Nhà trừng giới là cả một cực hình. Ngoài tính chất bỉ ổi của ngôi nhà đó, tôi không biết ở đó nàng bị đối xử ra sao và việc nhớ lại một vài đặc điểm mà tôi đã nghe kể lại về cái ngôi nhà khủng khiếp đó lúc nào cũng làm tôi rung động. Tôi quyết tâm cứu vớt nàng với bất cứ giá nào, bằng bất cứ biện pháp nào đến mức tôi có thể đốt cháy cả Xanh Lazarơ nếu tôi không có cách nào khác để thoát ra khỏi chốn này. Như thế là tôi bắt đầu suy nghĩ về những phương án mà tôi phải tiến hành nếu ông Tổng giám đốc cảnh sát có tiếp tục giam giữ tôi. Tôi đắn đo suy tính mọi mưu kế, đặt ra mọi khả năng. Tôi không thấy điều nào có thể đảm bảo cho tôi vượt ngục an toàn và tôi còn sợ sẽ bị giam giữ chặt hơn nếu mưu toan của tôi thất bại. Tôi nhớ lại một vài người bạn mà tôi có thể hy vọng họ giúp đỡ, nhưng làm thế nào cho họ biết rõ hoàn cảnh của tôi? Cuối cùng, tôi nghĩ ra được một kế hoạch khéo léo đến độ có thể thành công và tôi có ý định sẽ bổ sung cho hoàn chỉnh hơn sau khi cha bề trên về, nếu thấy cuộc vận động của ông thất bại và làm cho tôi cần đến cái kế hoạch đó. Chẳng bao lâu ông trở về. Trên mặt ông, tôi không thấy những nét vui vẻ thường kèm theo một tin tốt lành. Ông bảo tôi:
“Cha đã trình bày với ông Tổng giám đốc cảnh sát, nhưng đã quá muộn. Ông G.M... ngay khi ở đây ra, đã đến gặp ông Tổng giám đốc trước và đã nói về con đến mức ông này sắp gởi cho ta những mệnh lệnh mới để giam con chặt chẽ hơn. Tuy vậy, sau khi cha đã thuật lại cho ông ta biết nội dung câu chuyện của con, ông ấy tỏ vẻ dịu đi nhiều và vừa chế giễu đôi chút sự dâm dật của lão già G.M.., ông ấy bảo cha rằng cần phải giữ con ở đây sáu tháng để thỏa mãn lão ta, hơn thế nữa, ông ta còn nói rằng ở đây không phải là vô ích đối với con. Ông ấy dặn cha phải đối xử trung hậu với con. Và cha trả lời rằng con không có điều gì phải than phiền về cung cách đối xử của cha.”
Lời giải thích đó của cha bề trên khá dài dòng đủ để cho tôi có thời gian để đi đến một suy nghĩ khôn ngoan. Tôi nhận ra rằng nếu tôi tỏ ra quá nôn nóng đòi được tự do thì tôi sẽ đảo lộn hết mọi ý đồ của tôi. Ngược lại, tôi đã chứng tỏ cho ông thấy rằng trong trường hợp buộc phải ở lại, thì có được sự quý mến của ông là một sự an ủi dịu dàng đối với tôi. Sau đó, không chút giả tạo tôi xin ông ban cho tôi một ân huệ không quan trọng gì đối với bất cứ ai, nhưng nó sẽ giúp tôi rất nhiều để có được sự bình an trong tâm hồn, đó là việc được báo cho một người bạn của tôi, một tu sĩ rất thánh thiện ở Xanh Xuynpixơ, biết rằng tôi đang ở Xanh Lazarơ, và cho phép tôi thỉnh thoảng được tiếp anh ta đến thăm. Cha bề trên đồng ý ban cho tôi đặc ân đó ngay. Người bạn mà tôi nói đó là Tibecgiơ, không phải là tôi hy vọng anh ấy giúp tôi được tự do, nhưng tôi muốn sử dụng anh ấy làm một công cụ gián tiếp, mà đến anh ấy cũng không biết vai trò của mình. Nói tóm lại, sau đây là phương án của tôi: tôi muốn viết thư cho Lexcô và trao cho hắn ta nhiệm vụ là cùng với những người bạn chung của hai đứa tìm cách giải thoát tôi. Khó khăn đầu tiên là làm sao Lexcô nhận được thư tôi, điều này cần sự trung gian của Tibecgiơ. Tuy nhiên do Tibecgiơ biết Lexcô là anh của người yêu của tôi, tôi sợ rằng anh ấy không chịu nhận sự ủy thác đó. Ý đồ của tôi là bỏ lá thư gửi cho Lexcô trong một phong thư khác mà tôi sẽ gửi cho một người đứng đắn mà tôi quen biết và nhờ người này trao ngay lá thư đầu tiên đến địa chỉ của nó, và vì tôi rất cần gặp Lexcô để phối hợp các biện pháp của chúng tôi, tôi muốn nhắn hắn ta đến Xanh Lazarơ và yêu cầu được gặp tôi với danh nghĩa là ông anh cả của tôi đến Paris để tìm hiểu công việc của tôi. Tôi dự định thỏa thuận với hắn ta những biện pháp mà chúng tôi cho là chóng vánh và chắc chắn nhất. Cha bề trên báo cho Tibecgiơ ý muốn của tôi muốn gặp anh ấy. Người bạn chung thủy ấy không phải là bặt tin tôi và không phải không biết đến cuộc phiêu lưu của tôi, anh ấy biết tôi bị giam ở Xanh Lazarơ, và có thể là anh ấy không buồn bực gì mấy về vận rủi ro đó của tôi vì anh ấy cho rằng việc đó có thể đưa tôi trở về với bổn phận của mình. Anh ấy chạy ngay đến phòng tôi.
Cuộc nói chuyện của chúng tôi hết sức thân ái. Tibecgiơ muốn biết tâm trạng của tôi. Tôi bộc bạch hết nỗi niềm tâm sự với anh, không giấu giếm điều gì, trừ cái ý đồ bỏ trốn của tôi. Tôi nói với anh ấy:
“Bạn thân mến ạ, mình không muốn xuất hiện dưới mắt cậu như là một con người không phải là mình. Nếu cậu nghĩ rằng có thể tìm thấy ở đây một người bạn ngoan ngoãn và chừng mực trong dục vọng, một kẻ phóng đãng được những trừng phạt của Chúa Trời làm cho tỉnh ngộ, nói tóm lại, một trái tim đã thoát ra khỏi tình yêu và không bị những nét kiều diễm của Manông quyến rũ nữa, thì cậu đã đánh giá mình quá cao đấy! Cậu thấy mình cũng y như cách đây bốn tháng, khi cậu xa mình; vẫn yêu đương và vẫn đau khổ vì mối tình nghiệp chướng trong đó mình vẫn luôn luôn tìm thấy hạnh phúc.”
Tibecgiơ trả lời tôi rằng lời thú nhận đó làm cho tôi trở thành con người không thể tha thứ được; rằng có những người phạm tội say sưa với hạnh phúc giả tạo do tội lỗi mang lại, đến mức họ thích thứ hạnh phúc đó còn hơn hạnh phúc do đức hạnh mà có, nhưng ít nhất, những người đó cũng gắn bó với những ảo ảnh của hạnh phúc và họ bị cái vẻ bề ngoài đánh lừa; còn tôi, khi thừa nhận rằng đối tượng mà tôi gắn bó chỉ có làm cho tôi phạm tội lỗi và đau khổ và tự nguyện lao sâu vào hoạn nạn và tội lỗi, thì đó là một mâu thuẫn trong ý nghĩ cũng như trong hành động nó không phù hợp với lý trí của tôi. Tôi đáp lại anh ấy:
“Tibecgiơ ạ, cậu có thể chiến thắng dễ dàng khi chẳng có cái gì chống lại vũ khí của cậu! Hãy để đến lượt mình lý luận, có thể nào cậu cho rằng cái mà cậu gọi là hạnh phúc do đức hạnh mang lại không kèm theo những nhọc nhằn, khó khăn và khắc khoải hay sao? Vậy thì cậu gọi nhà tù, đóng đinh câu rút trên thập tự, những nhục hình tra tấn của bọn bạo Chúa là gì? Có thể cậu cũng cho rằng cái gì làm cho thể xác đau đớn là hạnh phúc cho tâm hồn như những kẻ thần bí sao? Cậu sẽ không dám nói như vậy đâu, bởi vì đó là một nghịch lý không thể nào bảo vệ được. Như vậy cái hạnh phúc mà cậu ra sức đề cao nó trộn lẫn với hàng nghìn gian khổ, hoặc nói đúng hơn, đó là một chuỗi những đau khổ mà qua đó con người hướng đến cực lạc. Thế nhưng, nếu sức mạnh của tưởng tượng làm cho người ta tìm thấy lạc thú ngay trong những nỗi đau bởi vì chúng có thể đưa đến cái chung cục hạnh phúc mà người ta mong đợi, thì tại sao cậu lại cho lối cư xử của mình cũng cùng một thiên hướng y như vậy là mâu thuẫn, là mất trí? Mình yêu Manông, mình trải qua hàng nghìn đau khổ để được sống sung sướng và yên ổn với nàng. Con đường mà mình đi là con đường đau khổ, nhưng niềm hy vọng đi đến đích vẫn luôn luôn tỏa ra, dọc con đường ấy mùi hương dịu ngọt, và mình nghĩ rằng chỉ với một phút giây được sống gần nàng là mình đã được đền bù quá đầy đủ cho những nỗi đau buồn mình phải trải qua để có được cái giây phút đó. Như vậy là mình thấy cả hai loại hạnh phúc đó đều giống nhau, và nếu có sự khác nhau, thì sự khác nhau đó lại có lợi cho phần mình, bởi vì hạnh phúc mà mình hy vọng thì gần gũi, còn hạnh phúc kia thì xa vời, hạnh phúc của mình cũng giống như những khổ đau, nghĩa là xác thịt có thể cảm nhận được, còn hạnh phúc kia thì còn chưa ai biết được, chỉ cảm nhận được qua đức tin mà thôi.”
Tibecgiơ có vẻ kinh hoàng trước lý luận của tôi. Anh lùi lại hai bước và với thái độ hết sức nghiêm chỉnh, anh ấy nói với tôi rằng những điều tôi vừa nói không chỉ làm tổn thương đến lương tri mà còn là một điều ngụy biện khốn khổ đầy rẫy bất kính và vô đạo, bởi vì như anh nói thêm “đem so sánh cái chung cục của những đau khổ của cậu với cái chung cục do tôn giáo đưa ra là một ý nghĩ hết sức vô đạo và kỳ quái”. Tôi đáp:
“Mình thừa nhận sự so sánh đó là không đúng, nhưng cậu hãy coi chừng, lý lẽ của mình đâu có nhằm vào sự so sánh đó. Mình chỉ muốn giải thích cái mà cậu gọi là mâu thuẫn trong việc mình kiên trì đeo đuổi một mối tình đau khổ, và mình nghĩ rằng mình đã chứng minh khá rõ rằng nếu như có mâu thuẫn thì cậu cũng sa vào mâu thuẫn đó không kém gì mình. Chỉ có đứng về phương diện đó mà mình đã cho rằng cả hai bên đều bằng nhau và bây giờ mình vẫn cho là như vậy. Cậu sẽ trả lời cho mình rằng mục đích của đức hạnh cao cả hơn nhiều mục đích của tình yêu chứ gì? Nào có ai chối cãi điều đó đâu! Nhưng có phải vấn đề là ở đấy đâu? Có phải vấn đề là ở chỗ sức mạnh mà mỗi mục đích đó đem lại có giúp cho con người chịu đựng được những nhọc nhằn đau khổ không? Chúng ta hãy đem hậu quả ra để xem xét. Có biết bao nhiêu người đã chối bỏ đạo đức khắc khổ, còn số người chối bỏ tình yêu thì ít hơn nhiều. Chắc cậu lại sẽ trả lời rằng trong việc theo đuổi điều thiện có nhọc nhằn, gian khổ đấy, nhưng đó không phải là điều không thể tránh khỏi và tất yếu, rằng những tên bạo chúa không nhiều hơn những người tử vì đạo và người ta thấy khối người có đức hạnh sống cuộc đời êm dịu và bình yên chứ gì? Thế thì tớ cũng trả lời lại với cậu rằng cũng có những mối tình êm ả và may mắn, và điều này lại có một sự khác nhau hết sức có lợi cho mình và mình xin nói thêm rằng quả tình yêu có hay lừa dối thật đấy, nhưng ít nhất nó cũng đem lại những niềm vui và thỏa mãn trong khi tôn giáo lại buộc người ta phải tu hành buồn tẻ và khổ hạnh.”
Trông thấy Tibecgiơ có vẻ bực bội, tôi nói thêm:
“Xin cậu đừng hoảng lên như vậy, điều duy nhất mà mình muốn kết luận ở đây là không có một phương pháp nào dở hơn để làm cho một trái tim từ bỏ ái tình, bằng cách gièm pha những lạc thú của ái tình và hứa hẹn nhiều hạnh phúc hơn trong việc đi theo đức hạnh. Đối với con người như chúng ta đã sinh ra, rõ ràng là hạnh phúc nằm trong lạc thú; mình thách người nào có thể nói khác điều đó; thế mà trái tim con người thì chẳng cần tự vấn lâu la gì để cảm thấy ngay rằng trong các lạc thú thì lạc thú êm dịu nhất là lạc thú của tình yêu. Trái tim thấy ngay rằng người ta đã lừa dối nó khi hứa với nó rằng có thể tìm những lạc thú êm dịu hơn ở nơi khác, và sự lừa dối đó càng làm cho nó hoài nghi những lời hứa hẹn chắc chắn nhất. Hỡi những kẻ thuyết giáo muốn đưa tôi trở về với đức hạnh, xin các người hãy nói với tôi rằng đức hạnh là tối cần thiết, nhưng xin đừng nói dối với tôi rằng nó không nghiêm khắc và gian khổ. Hãy xác định rằng những lạc thú của tình yêu là phù du, là quả cấm, rằng đi liền theo đó là những đau khổ khôn nguôi, và điều có thể gây cho tôi ấn tượng nhiều hơn, là nói rằng những lạc thú đó càng êm dịu, càng quyến rũ bao nhiêu thì Chúa Trời càng rộng rãi ban thưởng cho người biết hy sinh những lạc thú đó bấy nhiêu; nhưng hãy thừa nhận rằng với những trái tim như chúng ta đang có, thì những lạc thú đó chính là hạnh phúc hoàn hảo nhất.”
Đoạn kết của bài diễn thuyết của tôi làm cho Tibecgiơ vui vẻ trở lại. Anh ấy thừa nhận rằng trong những ý nghĩ của tôi cũng có cái gì đấy hợp lý. Anh ấy chỉ có một điều phản bác duy nhất là hỏi lại tôi rằng tại sao tôi không thực hiện những nguyên tắc của chính tôi đề ra, bằng cách hy sinh tình yêu của tôi cho niềm hy vọng được Chúa Trời ban thưởng mà tôi đánh giá cao đến vậy. Tôi đáp:
“Bạn thân mến ơi, chính ở điểm này mình thừa nhận sự khốn khổ và yếu đuối của mình. Ôi! Đúng là mình phải hành động như mình lý luận! Nhưng mình nào có làm chủ được hành động của mình. Để có thể quên đi những nét quyến rũ của Manông, có sự giúp đỡ nào mà mình không cần đến!”
Tibecgiơ đáp:
“Lạy Chúa, mình nghĩ đây lại thêm một người gianxênít [29] nữa của chúng ta!”
“Mình không biết mình là gì, tôi đáp, và mình cùng chẳng rõ mình phải là gì, nhưng mình thấy những điều họ nói là chân lý đấy!”
Cuộc nói chuyện này ít nhất cũng làm cho anh bạn tôi trở lại thương xót tôi. Anh ấy hiểu rằng nếu tôi sống buông tuồng là do tôi yếu đuối chứ không phải do bản chất xấu xa. Nhờ đó mà về sau, anh đã sẵn sàng giúp đỡ tôi mà nếu không có những sự giúp đỡ đó, chắc tôi đã tiêu vong trong cảnh khốn cùng. Tuy vậy tôi không hề tiết lộ với anh ấy ý đồ trốn khỏi Xanh Lazarơ. Tôi chỉ nhờ anh ấy chuyển giúp bức thư. Tôi đã viết sẵn bức thư đó khi anh ấy chưa đến, và tôi đã không thiếu những lý do để nhấn mạnh sự cần thiết phải viết thư của tôi. Anh ấy đã tận tình đưa thư tới nơi và trước khi trời tối, Lexcô đã nhận được bức thư tôi gửi cho anh ta.
Ngày hôm sau, Lexcô đến thăm tôi với danh nghĩa là anh cả tôi. Tôi vui mừng tột độ khi trông thấy hắn trong phòng tôi. Tôi cẩn thận đóng chặt cửa lại. Tôi nói với hắn ta:
“Chúng ta không được bỏ phí một phút. Trước hết, anh hãy cho tôi biết tin tức của Manông, sau đó anh hãy bày cho tôi cách nào để tháo cũi sổ lồng.”
Hắn đoan chắc với tôi rằng hắn không gặp lại cô em gái từ cái hôm trước khi tôi bị bắt; rằng chỉ biết được tin về số phận của Manông và của tôi sau khi đã mất công dò hỏi; rằng hắn đã hai, ba lần đến Nhà trừng giới nhưng người ta đã không cho phép hắn gặp nàng.
“Thằng G.M... khốn kiếp! – Tôi kêu lêu – rồi mày sẽ biết tay tao!”
Lexcô nói tiếp:
“Về việc giải thoát cho chú thì không phải dễ như chú nghĩ đâu. Tối qua, hai người bạn của anh cùng với anh, chúng tôi đã đi quan sát bên ngoài tòa nhà này và chúng tôi thấy rằng cửa sổ của phòng chú nhìn xuống một cái sân chung quanh có nhà cửa bao bọc, như chú đã báo cho chúng tôi biết, do đó chủ khó mà thoát ra được. Hơn nữa chú lại ở tầng ba và chúng tôi thì không thể đưa vào đây dây thừng và thang được. Như vậy là về mặt ngoài, tôi thấy không có cách nào. Chúng ta phải nghĩ cách thoát ra từ bên trong thôi.”
“Không được đâu! Tôi đã quan sát tất cả rồi, nhất là từ khi nhờ sự khoan dung của cha bề trên, việc giam giữ tôi có nới lỏng đôi chút. Cửa phòng tôi không khóa, tôi được tự do đi lại trong các hành lang dành cho các tu sĩ; nhưng các cầu thang đều bị cánh cửa dày bịt chặt, suốt ngày đêm cài cần thận, do đó chỉ với sự nhanh nhẹn không thì tôi không thể nào thoát ra được. À này! – tôi nói tiếp sau khi đã suy nghĩ về một phương sách mà tôi cho là tuyệt, – anh có thể mang đến cho tôi một khẩu súng lục không?
Lexcô đáp:
“Dễ thôi, nhưng chú định giết ai vậy?”
Tôi bảo đảm với hắn rằng tôi không hề có ý định giết người nên súng không cần phải nạp đạn. Tôi bảo hắn:
“Ngày mai anh mang súng lại cho tôi và nhớ là tối mai, lúc mười một giờ, anh phải có mặt đối diện với cổng của tòa nhà này cùng với hai ba ông bạn của bọn mình. Tôi hy vọng sẽ gặp được các anh.”
Lexcô cố ép tôi phải nói rõ hơn, nhưng vô hiệu. Tôi nói với hắn rằng một kế hoạch như kế hoạch tôi đã nghĩ ra chỉ tỏ ra là hợp lý sau khi nó đã thành công.
Tôi bảo hắn rút ngắn cuộc thăm viếng để ngày mai có thể dễ dàng vào thăm tôi lại. Hôm sau, hắn cũng được vào thăm tôi dễ dàng như hôm trước. Hắn có vẻ hết sức nghiêm chỉnh. Không có ai lại không xem hắn là con người đứng đắn.
Khi tôi đã có được khẩu súng lục, tôi tin chắc rằng mình sẽ thành công. Phương án của tôi kỳ quặc và táo bạo, nhưng còn có điều gì mà tôi không làm được khi đã có những động cơ như động cơ đang thúc đẩy tôi. Từ khi tôi được phép ra khỏi phòng và được đi dạo trong các hành lang, tôi đã chú ý rằng vào buổi tối hàng ngày, người gác cổng mang nộp cho cha bề trên chìa khóa của tất cả các cửa và sau đó ngôi nhà hoàn toàn im lặng, chứng tỏ mọi người đã rút lui về phòng mình. Do đó tôi có thể đi qua hành lang dẫn đến phòng của cha bề trên mà không gặp chướng ngại nào. Quyết tâm của tôi là đoạt cho bằng được xâu chìa khóa bằng cách dùng khẩu súng lục dọa ông ta nếu ông ta không chịu trao cho tôi, rồi dùng xâu chìa khóa đó để thoát ra đường. Tôi nóng lòng chờ đợi đến lúc đó. Người gác cổng đến, theo giờ thường lệ, nghĩa là quá chín giờ một phút. Tôi để một giờ nữa trôi qua để chắc chắn rằng các tu sĩ và người giúp việc đều đã đi ngủ. Cuối cùng tôi đi ra với khẩu súng và một ngọn nến đã thắp. Thoạt tiên, tôi gõ nhẹ vào cửa phòng cha bề trên để đánh thức ông dậy mà không gây tiếng động. Gõ đến lần thứ hai thì ông nghe thấy và chắc rằng ông nghĩ đó là một tu sĩ nào bị ốm đến xin ông cứu giúp, ông trở dậy để mở cửa. Tuy nhiên, ông cũng cẩn thận hỏi qua khe cửa để biết ai gõ và cần gì ông. Tôi buộc phải xưng tên, nhưng tôi giả vờ rên rỉ để làm cho ông hiểu rằng tôi khó ở . Ông vừa mở cửa cho tôi vừa hỏi:
“À, con đấy à, có việc gì mà con đến vào lúc đêm khuya thế này?”
Tôi bước vào phòng ông và sau khi kéo ông ra một góc phòng đối diện với cửa ra vào, tôi tuyên bố với ông rằng tôi không thể nào lưu lại Xanh Lazarơ lâu hơn nữa, rằng ban đêm là lúc thuận tiện để thoát ra mà không ai trông thấy, rằng tôi mong vì tình nghĩa đối với tôi mà ông vui lòng mở cửa cho tôi, hoặc cho tôi mượn chìa khóa để tự tôi mở lấy.
Lời lẽ của tôi hẳn là làm cho ông ngạc nhiên. Ông nhìn tôi một lúc lâu, không nói gì. Phần tôi thì không có thì giờ đâu để lãng phí, tôi nói lại với ông rằng tôi rất xúc động về sự đối xử nhân hậu của ông, nhưng vì tự do là cái quý giá hơn cả, nhất là đối với tôi đã bị người ta cướp mất tự do một cách hết sức bất công, nên tôi quyết định giành lại tự do ngay trong đêm nay, bằng bất cứ giá nào, vì sợ ông có thể cất cao giọng để kêu cứu, tôi cho ông thấy khẩu súng, cái lý do xác đáng để buộc ông im lặng, mà tôi chĩa ra dưới cái áo chẽn. Ông bảo tôi:
“Súng lục ư? Sao? Con lại muốn cướp mất mạng sống của cha để đền ơn cho cha đã đối xử tốt với con sao?”
“Con đâu dám! Cha có thừa thông minh và lý trí để không buộc con đi đến nước phải làm như vậy; nhưng con muốn được tự do và con quyết tâm đến nỗi nếu do cha mà kế hoạch của con thất bại, thì nhất thiết cha sẽ lìa đời.”
“Nhưng cha đã làm điều gì tệ với con đâu, con thân mến! – Ông tái mặt và kinh hãi hỏi lại tôi. – Vì sao con lại muốn giết cha?”
“À, không đâu! – Tôi sốt ruột trả lời. – Con không hề muốn giết cha, nếu cha còn muốn sống! Cha hãy mở cửa cho con và con sẽ là người bạn tốt nhất của cha.”
Tôi thấy xâu chìa khóa đặt ở trên bàn. Tôi nhặt lấy và bảo ông đi theo tôi và im lặng chừng nào tốt chừng ấy. Ông buộc phải nghe theo. Chúng tôi càng tiến ra và cứ mỗi lần mở một cánh cửa, ông lại than: “Ôi, con ơi, có ai ngờ cơ sự lại thế này!”
Tôi phải luôn luôn nhắc ông: “Thưa cha, im lặng cho!”
Cuối cùng rồi chúng tôi cũng ra đến nơi có cái barie chắn trước cổng lớn mở ra đường phố. Tôi tưởng mình đã được tự do rồi, lúc đó tôi đứng sau cha bề trên, tay thì cầm cây nến, tay thì cầm súng lục. Trong khi ông hối hả mở cửa thì một người giúp việc ngủ trong một căn phòng nhỏ gần đó, nghe tiếng lanh canh của chìa khóa, thức dậy và ló đầu nhìn ra. Cha bề trên chắc là nghĩ rằng hắn ta có thể bắt giữ tôi lại. Một cách hết sức khinh suất, ông ra lệnh cho hắn ra tiếp cứu cho ông. Đó là một thằng cha lực lưỡng, hắn lao vào tôi không chút do dự. Tôi chẳng chần chừ gì, nện cho hắn một phát ngay vào giữa ngực. Rồi tôi nói một cách tự hào với ông cha đang đi theo tôi:
“Đó là do cha gây nên đấy! Nhưng cha cũng vẫn phải hoàn thành công việc thôi!” Vừa nói, tôi vừa đẩy ông ra đến cái cổng cuối cùng.
Ông không dám mở. Tôi thoát ra một cách sung sướng và thấy Lexcô đã cùng với hai người bạn đúng theo lời hứa, chực sẵn ở đây chờ tôi. Chúng tôi bỏ đi ngay. Lexcô hỏi tôi rằng anh ta có nghe tiếng súng nổ. Tôi bảo anh ta:
“Lỗi của anh đấy! Tại sao anh lại đem súng đã nạp đạn cho tôi?”
Tuy vậy, tôi cũng cảm ơn anh ta về sự thận trọng đó, vì nếu không thì chắc tôi còn bị giam lâu dài ở Xanh Lazarơ. Chúng tôi nghỉ đêm tại một cửa hàng bán thức ăn nấu sẵn và tôi đã ăn bù lại gần ba tháng trời ăn uống kham khổ. Nhưng tôi cũng không thấy thú vị gì. Tôi đau khổ nghĩ đến Manông, tôi nói với ba anh bạn:
“Cần phải giải thoát cô ấy. Tôi muốn được tự do chỉ là nhằm vào việc đó. Tôi mong các bạn giúp đỡ bằng sự khôn khéo của các bạn, còn tôi, sẽ hy sinh cả tính mạng tôi.”
Lexcô là người khôn ngoan và thận trọng khuyên tôi rằng phải đi từ từ, rằng việc tôi trốn khỏi Xanh Lazarơ và tai họa mà tôi đã gây ra khi trốn đi nhất định sẽ gây ra tai tiếng, rằng ông Tổng giám đốc cảnh sát sẽ ra lệnh truy nã tôi và bàn tay ông ta lại có thể vươn xa, và cuối cùng, nếu tôi không muốn bị bắt giam tại một nơi còn tệ hơn là Xanh Lazarơ, tôi cần phải ẩn náu, im hơi lặng tiếng trong năm ba ngày, chờ cho sự tức giận của những kẻ thù của tôi có thời gian xẹp xuống đi đã. Lời khuyên nhủ của hắn là khôn ngoan, nhưng cũng phải khôn ngoan mới có thể làm theo được. Bao nhiêu sự chậm chạp, dè dặt như vậy không phù hợp tí nào với tâm trạng si mê của tôi. Tôi chỉ hứa với hắn là tôi sẽ dành ngày hôm sau để ngủ. Hắn nhốt tôi vào phòng của hắn, và tôi ở đấy cho đến tối.
Tôi sử dụng một phần thời gian vạch ra phương án và mưu mẹo để cứu Manông. Tôi chắc rằng nhà giam nàng còn khó vào hơn nhà giam tôi nhiều. Vấn đề không phải là dùng bạo lực hoặc sức mạnh mà phải dùng mưu mẹo; nhưng ngay đến ông thần tinh ranh nhất lúc ấy cũng không biết bắt đầu từ đâu. Tôi chẳng thấy tia sáng nào và nghĩ rằng chỉ có thể xem xét vấn đề tốt hơn sau khi đã có được một số thông tin về cách xếp đặt bên trong Nhà trừng giới.
Khi trời vừa sập tối, lúc tôi có thể tự do ra đường, tôi yêu cầu Lexcô đi theo tôi đến Nhà trừng giới. Chúng tôi bắt chuyện với một tay gác cổng mà chúng tôi thấy có vẻ lương thiện. Tôi giả vờ là người lạ đã từng nghe nói những điều đáng cảm phục về Nhà trừng giới và về trật tự ở trong đó. Tôi hỏi anh ta những chi tiết nhỏ nhặt nhất rồi từ tình tiết này sang tình tiết khác, chúng tôi đề cập đến những nhân viên quản trị. Tôi đề nghị anh ta cho tôi biết tên và tính nết từng người. Những câu trả lời của anh ta về vấn đề này làm tôi nảy ra được một ý đồ mà tôi cho là rất tuyệt và tôi bắt tay ngay vào thực hiện. Tôi hỏi anh ta, xem đấy như là điều chủ yếu trong ý đồ của tôi, rằng các ông quản trị có con cái gì không? Anh ta đáp lại rằng không thể cho tôi biết chắc con số, nhưng anh ta biết rõ rằng ông M.T..., một trong những người quản trị chính, có một người con đến tuổi lấy vợ và anh này đã nhiều lần theo cha đến Nhà trừng giới. Tôi thấy điều khẳng định này là đủ rồi. Tôi cắt đứt ngay câu chuyện và trong khi trở về, tôi trao đổi với Lexcô về cái kế hoạch mà tôi vừa nghĩ ra. Tôi bảo anh ta:
“Tôi nghĩ rằng M.T... con, thuộc gia đình giàu có và danh giá, thế nào cùng thích ăn chơi, như phần đông những người vào lứa tuổi cậu ta. Cậu ta không thể không thích phụ nữ, càng không thể lố bịch đến mức từ chối không chịu ra tay giúp đỡ cho một cuộc tình duyên. Tôi có ý định làm cho cậu ta quan tâm đến tự do của Manông. Nếu cậu ta là một người trung hậu và tình cảm, chắc cậu ta sẽ vì lòng hào hiệp mà giúp đỡ chúng ta. Nếu như cậu ta không hành động vì hào hiệp đi nữa thì chí ít, cậu ta cũng làm một cái gì đó cho một cô gái dễ thương, dù chỉ nhằm được chia xẻ cảm tình của cô ta. Tôi muốn đến gặp cậu ta ngay vào ngày mai. Tôi rất khoái cái kế hoạch này đến mức tôi thấy có cơ thành công đấy.”
Lexcô đồng ý rằng trong những ý nghĩ đó cũng có đôi chút khả năng và chúng tôi có thể hy vọng đạt được một cái gì thông qua con đường đó. Đêm hôm ấy, tôi đỡ buồn hơn.
Sáng hôm sau, tôi ăn mặc tươm tất theo khả năng mà tình trạng nghèo túng của tôi cho phép rồi thuê một chiếc xe ngựa đến nhà M.T... Cậu ta ngạc nhiên khi thấy có người không quen biết đến thăm. Tôi đã đoán đúng vẻ mặt và phong thái lịch sự của cậu ta. Tôi giãi bày tâm sự với cậu ta, nói với cậu ta về nỗi đắm say của tôi cũng như về giá trị của người yêu của tôi như là về hai thứ chỉ có thể đem so sánh với nhau mà thôi. Cậu ta nói với tôi rằng tuy chưa hề gặp Manông, nhưng đã được nghe nói về nàng, ít nhất đã nghe nói nàng là người tình của lão già G.M... Tôi chắc rằng cậu ta cũng đã biết về vai trò của tôi trong câu chuyện đó, và để tranh thủ cậu ta, để tỏ ra rằng tôi tin cậy cậu ta, tôi đã thuật lại hết sức chi tiết tất cả những gì đã xảy ra cho Manông và cho tôi. Tôi nói tiếp:
“Ông thấy đấy, mạng sống của tôi, tình duyên của tôi bây giờ nằm trong tay ông. Đối với tôi, cái nào cũng thiết thân hết. Tôi không hề dè dặt với ông vì tôi đã được biết về lòng hào hiệp của ông và vì tuổi tác của chúng ta cũng gần giống nhau làm cho tôi hy vọng rằng một vài sở thích của ông cũng giống của tôi.”
Cậu ta có vẻ rất xúc động trước sự cởi mở và chân thành của tôi. Câu trả lời của cậu ta là của một con người lịch lãm và có tình cảm, câu trả lời mà thiên hạ không phải lúc nào cũng nói lên được và thường là để cho qua đi. M.T... nói với tôi rằng cậu ta đặt cuộc viếng thăm của tôi vào hàng những may mắn trong đời mình, rằng cậu ta xem tình bạn của tôi như là một trong những thu hoạch đẹp đẽ nhất của mình và rằng cậu ta sẽ cố gắng xứng đáng với mối tình bạn đó bằng cách nỗ lực để giúp đỡ tôi. Cậu ta không hứa là sẽ trao lại Manông cho tôi, bởi vì, như cậu ta nói với tôi, cậu ta không có mấy uy thế; nhưng hứa rằng sẽ đem lại cho tôi niềm vui được gặp Manông và sẽ cố gắng làm tất cả những gì trong phạm vi có thể của mình để trao Manông trong vòng tay của tôi. Tôi hài lòng về sự dè dặt của cậu ta hơn là thấy cậu ta đảm bảo rằng sẽ thỏa mãn tất cả những ước muốn của tôi. Tôi thấy trong sự dè dặt đó lòng chân thành mà tôi rất quý trọng. Nói tóm lại, tôi trông đợi rất nhiều ở sự giúp đỡ của cậu ta. Chỉ nguyên lời hứa giúp tôi gặp lại Manông đã có thể làm cho tôi sẵn sàng làm mọi việc vì cậu ta. Tôi bày tỏ một phần những tình cảm đó khiến cậu ta cũng tin rằng bản thân tôi không phải là con người xấu. Chúng tôi thân thiết ôm hôn nhau và chúng tôi trở thành đôi bạn, không vì cái gì khác hơn là tấm lòng nhân hậu của chúng tôi và cái thiện ý thúc đẩy một con người hiền dịu và hào hiệp đến với một con người khác, giống mình. M.T... còn đi xa hơn nữa trong việc bày tỏ sự mến mộ đối với tôi, bởi vì sau khi tính đến những chuyện không may của tôi và nghĩ rằng sau khi thoát khỏi Xanh Lazarơ, chắc là tôi không sung túc gì, cậu ta tặng tôi một món tiền và ép tôi phải nhận. Tôi kiên quyết từ chối, và nói với cậu ta:
“Như vậy thì quá mức. Nếu như với bao nhiêu nhân từ và tình bè bạn, bạn giúp cho tôi gặp lại Manông thì tôi cũng đã nguyện trung thành suốt đời với bạn. Còn nếu bạn giúp tôi giành lại được hoàn toàn con người thân thương đó, tôi xin nguyện đổ cả máu tôi để đền đáp công ơn của bạn.”
Chúng tôi chia tay nhau sau khi đã thỏa thuận về thời gian và địa điểm gặp lại. Cậu ta còn chiều ý tôi bằng cách định giờ hẹn ngay vào buổi chiều hôm đó. Tôi chờ cậu ta trong một hiệu cà phê và cậu ta đến gặp tôi vào lúc bốn giờ, rồi chúng tôi cùng đi đến Nhà trừng giới . Hai đầu gối tôi run lên khi tôi đi qua sân của ngôi nhà này. Tôi nhủ thầm:
“Ôi thần tình ái! Như vậy là ta sắp thấy lại được thần tượng của tim ta, đối tượng của bao nhiêu nước mắt và âu lo của ta! Lạy Chúa! Xin hãy cho con có đủ sức để đến được chỗ nàng rồi sau đó hãy quyết định về số phận và tính mạng của con. Con chẳng còn ơn huệ nào hơn để cầu xin Chúa nữa!”
M.T... trao đổi với vài người gác cửa, họ sốt sắng làm mọi việc tùy thuộc họ để thỏa mãn yêu cầu của cậu ta. M.T... yêu cầu họ chỉ cho khu nhà trong đó có phòng của Manông. Người đưa chúng tôi đi mang theo một cái chìa khóa to khủng khiếp dùng để mở cửa phòng nàng. Tôi hỏi người hầu phòng đưa chúng tôi đi và cũng là người phụ trách việc trông coi nàng, về cung cách nàng sống trong ngôi nhà này. Anh ta cho chúng tôi biết rằng nàng dịu dàng hết mức; rằng chưa bao giờ anh ta bị nàng nói nặng lấy một lời; rằng trong suốt sáu tuần lễ đầu tiên sau khi đến đây, nàng không ngừng than khóc, nhưng gần đây, nàng đã tỏ ra kiên trì hơn với hoạn nạn của mình và suốt từ sáng cho đến tối, nàng chỉ lo khâu vá, trừ một vài giờ dành để đọc sách. Tôi còn hỏi anh ta rằng nàng có được chăm sóc thỏa đáng không? Anh ta trả lời tôi rằng ít ra nàng không thiếu những gì là cần thiết nhất.
Chúng tôi đến gần cửa phòng nàng. Tim tôi đập thình thịch. Tôi nói với M.T...:
“Bạn hãy vào một mình trước đã và báo cho nàng biết trước việc mình đến thăm, bởi vì mình lo rằng nàng xúc động quá mạnh khi đột ngột thấy mình.”
Cửa mở. Tôi đứng chờ trong hành lang. Tuy nhiên, tôi cũng nghe được cuộc nói chuyện giữa hai người. M.T... nói rằng cậu ấy đến để đem lại cho nàng đôi chút an ủi, rằng cậu ấy là bạn tôi và hết sức quan tâm đến hạnh phúc của chúng tôi. Manông vội vàng hỏi lại rằng anh bạn có biết tôi ra sao không? M.T... hứa rằng sẽ đem tôi đến dưới chân nàng, cũng tha thiết, cũng chung thủy như nàng mong đợi. Nàng hỏi lại:
“Bao giờ?”
“Ngay trong hôm nay, cậu ấy đáp lại, cái giây phút hạnh phúc ấy sẽ chẳng lâu la gì đâu, anh ấy sẽ xuất hiện ngay bây giờ nếu chị muốn!”
Nàng hiểu ngay rằng tôi đang đứng ở ngoài cửa. Tôi bước vào còn nàng thì đâm bổ ra để gặp tôi. Chúng tôi ôm hôn nhau, dạt dào âu yếm, sự âu yếm mà ba tháng vắng nhau đã làm cho đôi tình nhân tha thiết yêu nhau cảm thấy là tuyệt vời.
Trong mười lăm phút đồng hồ, những tiếng thở dài, những lời than thở đứt quãng, hàng nghìn lời nói yêu đương lặp đi lặp lại trong buồn thương đã tạo nên một quang cảnh làm cho M.T... xúc động. Cậu ấy ép chúng tôi ngồi xuống rồi nói với tôi:
“Tôi đâm ra ghen với anh, tôi thích có được một người yêu đẹp và say đắm tuyệt vời như vậy còn hơn bất cứ vinh quang nào.”
“Chính vì thế mà tôi coi khinh hết thảy những đế chế trên thế giới này để có được cái hạnh phúc được nàng yêu”, – tôi đáp lại.
Phần còn lại của cuộc nói chuyện mà chúng tôi từng khát khao mong đợi đó hết sức thắm thiết, Manông tội nghiệp đã kể lại cho tôi nghe những gì đã xảy ra với nàng, tôi cũng thuật lại cho nàng những chuyện của tôi. Khi hỏi về tình trạng của nàng hiện nay và về tình trạng mà tôi vừa mới thoát ra, chúng tôi khóc than cay đắng. M.T... an ủi chúng tôi bằng cách hứa rằng sẽ cố gắng hết sức để chấm dứt những đau khổ của chúng tôi. Cậu ấy khuyên chúng tôi không nên kéo dài quá lâu cuộc gặp gỡ đầu tiên này để giúp cậu ấy dễ dàng bố trí những cuộc gặp khác. Cậu ấy khó khăn lắm mới làm chúng tôi vâng theo lời khuyên đó; nhất là Manông cứ không chịu để tôi đi. Nàng cứ bắt tôi đứng lên ngồi xuống hàng trăm lần, níu áo, nắm tay tôi giữ lại. Nàng than thở:
“Chao ôi! Anh để em ở lại trong một nơi như thế này đây! Ai đảm bảo rằng em còn được gặp lại anh?”
M.T... hứa với nàng sẽ cùng tôi thường xuyên đến thăm nàng. Cậu ta nói đùa một cách ý vị:
“Còn về nơi gặp gỡ thì không nên gọi là Nhà trừng giới nữa mà nên gọi đây là Vécxây [30] từ khi có một người đẹp xứng đáng với sự tôn thờ của tất cả các trái tim, đến ở.”
Khi ra về, tôi cho người hầu chăm sóc nàng một ít tiền để khuyến khích anh ta chăm sóc nàng tốt hơn. Tay thanh niên này có tâm hồn không đến nỗi đê tiện và tàn nhẫn như những đồng sự của anh ta. Anh ta đã chứng kiến cuộc gặp gỡ của chúng tôi; cái cảnh tượng thảm thiết đó đã làm anh ta xúc động. Một đồng lui vàng mà tôi tặng anh ta càng làm anh ta thêm gắn bó với tôi. Khi bước xuống dưới sàn, anh ta kéo riêng tôi ra một chỗ rồi nói:
“Thưa ông, nếu ông lấy tôi vào giúp việc cho ông hoặc ông đền bù xứng đáng việc tôi mất việc làm ở đây thì tôi nghĩ rằng tôi có thể dễ dàng giải thoát cho cô Manông.”
Tôi dỏng tai ra nghe lời đề nghị của anh ta và tuy đang kiết xác, tôi đã hứa với anh ta qua những điều mà anh ta mong muốn. Tôi tính rằng tôi luôn luôn có thể thưởng công dễ dàng cho những người vào loại anh ta. Tôi bảo:
“Ông bạn ơi, hãy tin rằng không có chuyện gì mà tôi không làm được cho anh và vận hội của anh cũng sẽ được đảm bảo như vận hội của tôi vậy.”
Tôi muốn biết anh ta sẽ dùng biện pháp gì để giải thoát Manông. Anh ta đáp:
“Không có cách nào khác là vào buổi tối mở cửa phòng của cô ấy rồi dẫn cô ấy ra đến cổng mở ra đường phố; tại đây, ông phải sẵn sàng để đón cô.”
Tôi hỏi anh ta rằng có sợ người ta nhận ra nàng khi phải vượt qua các hành lang và các dãy sân không? Anh ta thừa nhận rằng cũng có đôi điều nguy hiểm, nhưng mà cứ phải mạo hiểm ít nhiều. Tuy rất vui mừng thấy anh ta quyết tâm như vậy, tôi vẫn gọi M.T... đến và nói với cậu ấy về kế hoạch đó và cái lý do duy nhất làm cho nó có vẻ khó thành công. M T... còn thấy nhiều khó khăn hơn tôi. Cậu ấy không đồng ý rằng Manông có thể thoát ra ngoài bằng cách đó, nhưng cậu ta nói thêm: “Nếu người ta nhận ra chị ấy, nếu chị ấy bị bắt lại khi chạy trốn thì có thể là hết đời chị ấy. Với lại như vậy là anh phải rời Paris ngay lập tức, bởi vì anh không thể nào ẩn náu hoàn toàn kín đáo được. Người ta sẽ tăng cường công việc truy nã, cả anh và cả chị. Một người đàn ông có thể dễ dàng trốn thoát khi chỉ có một mình, nhưng anh ta không thể nào mai danh ẩn tích khi sống chung với người vợ đẹp”.
Dẫu lý lẽ của cậu ấy có vẻ vững vàng, trong tâm trí tôi, nó vẫn không thắng được niềm hy vọng có thể mau chóng giải thoát Manông. Tôi nói điều ấy với M.T... và mong cậu ta tha thứ cho sự khinh suất và táo bạo của tình yêu. Tôi nói thêm rằng vả chăng ý đồ của tôi cũng là rời bỏ Paris để đến ở một vùng lân cận như tôi đã từng làm. Như vậy là chúng tôi thỏa thuận với người hầu là không hoãn công việc đến quá ngày hôm sau, và để làm những gì chúng tôi có thể làm được để bảo đảm thắng lợi, chúng tôi quyết định mang theo áo quần nam giới nhằm thoát ra được dễ dàng hơn. Cũng không dễ dàng mang những thứ ấy vào, nhưng tôi không thiếu gì sáng kiến để làm được. Tôi chỉ nhờ M.T... hôm sau mặc hai cái áo vét mỏng, cái này chồng lên cái kia, phần còn lại thì tôi phụ trách.
Sáng hôm sau, chúng tôi trở lại Nhà trừng giới. Tôi mang theo cho Manông quần áo, bít tất v.v.. và bên ngoài cái áo chẽn của tôi, tôi khoác một cái áo choàng để che bớt những cái túi phình ra quá lớn của tôi. Chúng tôi chỉ lưu lại chốc lát trong phòng của Manông. M.T... để lại cho nàng một trong hai cái áo vét của cậu ấy, tôi trao cho nàng chiếc áo của tôi, cái áo choàng cũng đủ cho tôi đi ra. Chẳng thiếu thứ gì để nàng cải trang, trừ một cái quần cộc mà hại thay tôi quên đem theo. Việc quên cái vật cần thiết đó vào một lúc khác có thể làm chúng tôi cười rũ ra, nếu lúc đó nó làm cho chúng tôi ít lúng túng hơn. Tôi ngao ngán hết sức vì một việc vặt vãnh như vậy lại có thể cản trở chúng tôi. Tuy vậy, tôi quyết định ngay là tôi sẽ đi ra mà không cần quần cộc. Tôi để lại quần cộc của tôi cho Manông. Cái áo choàng của tôi khá dài và với vài cái đinh ghim, tôi có thể đi ra khỏi cổng một cách tử tế.
Phần còn lại của ngày hôm đó đối với tôi dài bất tận đến không thể nào chịu đựng nổi. Cuối cùng, màn đêm buông xuống, chúng tôi đi trong một cỗ xe ngựa, đến cách cổng của Nhà trừng giới một chút về phía dưới. Chúng tôi chờ chẳng bao lâu thì đã thấy Manông cùng với người hầu dẫn đường xuất hiện, cửa xe đã mở sẵn, hai người bước lên ngay. Tôi đón người yêu thân thương của tôi vào trong vòng tay. Nàng run như tàu lá. Người đánh xe hỏi tôi đi đến đâu. Tôi bèn trả lời anh ta:
“Hãy đi đến cùng trời cuối đất, hãy đưa đến nơi nào mà tôi mãi mãi không còn phải xa cách Manông nữa!”
Suýt nữa cơn say sưa mà tôi không làm chủ được đó đã gây cho tôi một sự lúng túng đáng tiếc. Người đánh xe suy nghĩ về lời nói của tôi và sau đó, khi tôi chỉ cho anh ta tên đường phố mà chúng tôi muốn đến, anh ta trả lời tôi rằng anh ta sợ tôi lôi anh ta vào một việc mờ ám, rằng anh ta thấy rõ ràng người thanh niên bảnh trai tên gọi Manông là một cô gái mà tôi vừa bắt cóc ở Nhà trừng giới và rằng anh ta không hề muốn vì thương tôi mà bị họa lây. Sự tinh tế của thằng cha vô lại này chỉ cốt bắt tôi trả tiền thuê xe đắt hơn. Chúng tôi còn ở gần Nhà trừng giới quá nên phải chuồn cho êm. Tôi bảo hắn:
“Im mồm! Này, ta sẽ thưởng cho anh một lui vàng đấy”.
Sau đó thì thằng cha láu cá ấy sẵn sàng giúp tôi đốt cả Nhà trừng giới. Chúng tôi đến nhà trọ của Lexcô. Vì đã khuya, M.T... từ biệt chúng tôi dọc đường và hứa hôm sau sẽ gặp lại. Chỉ còn người hầu ở lại với chúng tôi.
Tôi ôm Manông chặt vào lòng đến nỗi hai chúng tôi chỉ chiếm mất một chỗ ngồi trong xe. Nàng khóc vì sung sướng và tôi cảm thấy nước mắt nàng đẫm ướt mặt tôi. Khi chúng tôi bước xuống xe để vào nhà Lexcô trọ thì tôi lại có một cuộc cãi cọ nữa với người đánh xe mà hậu quả thật tai hại. Tôi hối hận đã hứa cho hắn một lui vàng. Không chỉ vì đó là một món tiền thưởng quá đáng mà còn là vì tôi không có khả năng trả được. Tôi cho gọi Lexcô. Hắn trong phòng bước ra và đến gần cửa. Tôi rỉ tai hắn về sự lúng túng của tôi. Do bản tính thô bạo và không quen nhường nhịn một anh đánh xe, hắn trả lời tôi rằng tôi trêu cợt hắn. Rồi hắn nói tiếp:
“Một lui vàng à! Hai chục gậy nện cho thằng vô lại đó thì có!”
Tôi hết sức nói nhẹ nhàng với hắn rằng làm như thế, chúng tôi nguy mất, nhưng vô hiệu. Hắn giật cái gậy ở tay tôi ra vẻ dọa đánh người đánh xe. Anh này, chắc là đã đôi khi rơi vào tay một viên cảnh sát hoặc một anh lính ngự lâm nào đó, liền sợ hãi đánh xe bỏ chạy, vừa la lên rằng tôi đã đánh lừa hắn, nhưng rồi sẽ biết tay. Tôi chắc rằng hắn sẽ đi báo cảnh sát trưởng. Tôi nói với Lexcô:
“Anh làm hại chúng tôi rồi! Chúng tôi không thể an toàn ở nhà anh được nữa. Chúng tôi phải rời đây ngay!”
Tôi đưa tay cho Manông vịn để đi và chúng tôi nhanh chóng rời khỏi con đường nguy hiểm đó. Lexcô đi theo chúng tôi. Cái cung cách mà Thượng đế an bài các sự kiện thật đáng khâm phục. Chúng tôi vừa đi được năm hay sáu phút, thì một người mà tôi không nhìn rõ mặt, nhận ra Lexcô. Chắc là hắn đi tìm Lexcô ở chung quanh nhà của Lexcô với ý đồ độc ác mà hắn thực hiện ngay tại trận. Hắn thốt lên: “Lexcô đây rồi! Cho mày đi chầu trời tối nay!” rồi nện cho Lexcô một phát súng vào người. Hắn lủi đi ngay. Lexcô ngã vật ra, không động đậy. Tôi buộc Manông phải bỏ trốn ngay, bởi vì không thể cứu chữa gì được một cái xác chết, và tôi còn sợ bị lính gác bắt giữ vì thế nào họ cũng đến ngay. Cùng với người hầu và Manông, chúng tôi rẽ qua con đường hẻm đầu tiên. Manông thảng thốt đến tột độ, tôi khó khăn lắm mới dìu nàng đi được. Cuối cùng tôi trông thấy một cỗ xe ngựa ở đầu đường. Chúng tôi lên xe, nhưng khi người đánh xe hỏi tôi đi đâu, tôi lúng túng không biết trả lời thế nào. Tôi chẳng có nơi ở nào an toàn cũng không có người bạn nào tin cậy để nhờ giúp đỡ . Tôi không còn tiền bạc gì, chỉ còn hơn nửa pixtôn. Sợ hãi và mệt nhọc đã làm cho Manông gần như ngất xỉu bên cạnh tôi. Ngoài ra, tôi còn bị vụ mưu sát Lexcô ám ảnh và không phải là không lo ngại lính gác. Làm sao bây giờ? May sao, lúc đó tôi nhớ đến cái quán trọ ở Chaiô mà tôi cùng Manông đã đến ở vài ba hôm khi chúng tôi định đến ở hẳn tại ngôi làng này. Ở đây, tôi hy vọng không những được an toàn mà còn có thể sống qua một thời gian mà không bị thúc ép phải trả tiền ngay. Tôi bảo người đánh xe: “Đưa chúng tôi đến Chaiô”. Hắn ta bảo đêm hôm khuya khoắt, hắn không chịu chạy nếu không được một pixtôn. Lại một sự lúng túng nữa. Cuối cùng, chúng tôi thỏa thuận với cái giá sáu phơrăng; đó là toàn bộ số tiền còn lại trong túi tôi.
Trong khi đi đường, tôi an ủi Manông, nhưng thực ra lòng tôi rối như tơ vò. Tôi sẵn sàng chết đi ngàn lần nếu như trong vòng tay, tôi không ôm chặt cái báu vật duy nhất còn gắn bó tôi với cuộc sống. Chỉ có cái ý nghĩ đó đã làm tôi vững tâm lại. Tôi tự nhủ: “Ít nhất là ta đã có được nàng. Nàng yêu ta, nàng thuộc về ta. Dù Tibecgiơ có nói gì đi nữa, đó không phải là bóng ma của hạnh phúc. Ta có thể nhìn thấy cả vũ trụ này bốc cháy mà chẳng cần quan tâm đến! Vì sao vậy? Bởi vì ta chẳng còn yêu thương cái gì ngoài nàng cả.”
Tình cảm đó là chân thật; nhưng vào cái thời điểm mà tôi coi thường mọi của cải trên đời này như vậy thì tôi lại cảm thấy mình cần đến ít nhất một phần nhỏ số của cái đó để có thể cao đạo khinh bạc phần còn lại. Tình yêu mạnh hơn sự sung túc, mạnh hơn châu báu và giàu sang, nhưng nó lại cần sự hỗ trợ của những thứ đó, và đối với một người tình tế nhị, không có gì tuyệt vọng hơn là thấy mình bị buộc phải, dù mình không muốn, đi đến chỗ thô bạo của những tâm hồn đê tiện nhất.
Khi chúng tôi đến Chaiô thì đã mười một giờ đêm. Chúng tôi được tiếp đón như những người khách quen biết cũ; người ta cũng chẳng ngạc nhiên khi thấy Manông mặc quần áo nam giới, bởi vì ở Paris và vùng phụ cận, người ta đã quen thấy phụ nữ ăn vận đủ kiểu. Tôi bảo người ta phục vụ nàng tử tế y như vào lúc tôi giàu sang nhất. Manông không biết là tôi chẳng còn một xu dính túi; tôi không cho nàng biết tí gì về việc đó, bởi vì tôi quyết tâm sáng hôm sau trở lại Paris một mình, để tìm một phương thuốc cho căn bệnh đáng ghét đó.
Trong khi ăn tối, tôi thấy nàng xanh và gầy. Lúc ở Nhà trừng giới, tôi không nhận ra điều này vì căn phòng ở đó tôi gặp nàng không sáng lắm. Tôi hỏi có phải đó là do nàng khiếp sợ khi thấy anh nàng bị ám sát hay không. Nàng đảm bảo với tôi rằng nàng rất xúc động trước tai nạn đó, nàng xanh xao chính là vì ba tháng vắng tôi. Tôi bèn hỏi lại:
“Em yêu anh đến thế kia ư?”
Nàng đáp:
“Một nghìn lần hơn những điều em có thể nói ra với anh.”
“Như vậy là không bao giờ em bỏ anh nữa chứ?”
“Không đời nào!” – Nàng đáp. Và lời đảm bảo đó được chứng minh bằng bao nhiêu những vuốt ve âu yếm, bao nhiêu lời thề thốt đến nỗi tôi nghĩ rằng không đời nào quên được.
Tôi luôn luôn tin rằng nàng thành thật; nàng có lý do gì để giả vờ đến như vậy? Nhưng nàng là con người rất dễ thay đổi, hay đúng hơn nàng không là cái gì hết, và nàng không còn nhận ra mình là ai nữa một khi nàng thấy những phụ nữ khác sống trong nhung lụa còn mình thì nghèo khổ thiếu thốn mọi bề. Tôi lại sắp có cái bằng chứng cuối cùng về tính khí đó của nàng, một bằng chứng vượt tất cả những cái khác và đã đưa đến một biến cố kỳ lạ chưa từng xảy đến với một người có gia phong và địa vị như tôi.
Vì tôi đã biết cái tính khí đó của Manông nên hôm sau tôi hối hả đi Paris. Cái chết của ông anh của nàng cộng với việc cần có áo quần cả cho nàng và cho tôi là những lý do khiến tôi không thể không đi. Tôi ra khỏi quán trọ, nói với Manông và ông chủ quán rằng tôi sẽ thuê một cỗ xe ngựa để đi, nhưng đó chỉ là lời nói phét. Vì không có tiền, tôi phải cuốc bộ; tôi đi khá nhanh cho đến Cua la Rênơ và dừng chân tại đấy. Tôi cần có một lúc ngồi một mình và yên tĩnh để tính toán và dự kiến những gì sẽ làm ở Paris.
Tôi ngồi bệt xuống cỏ suy nghĩ miên man để rốt cuộc nhận thấy có ba khoản quan trọng cần giải quyết.
Tôi hiện cần một sự giúp đỡ tức thời để giải quyết ngay vô vàn những nhu cầu trước mắt. Tôi cần tìm ra một con đường có thể ít nhất mở ra cho tôi những hy vọng trong tương lai, và một điều không kém phần quan trọng nữa là tôi cần có những thông tin và biện pháp để đảm bảo an toàn cho Manông và cho tôi. Sau khi đã nát óc suy đi tính lại về ba khoản trên đây, tôi thấy tốt hơn là tạm gác lại hai khoản cuối. Trong căn phòng ở Chaiô, chúng tôi chưa bị lộ, còn về những nhu cầu trong tương lai, tôi nghĩ rằng sẽ tính đến, sau khi đã thỏa mãn những nhu cầu hiện tại.
Như vậy vấn đề đặt ra ngay bây giờ là làm sao có tiền. M.T… đã hào hiệp ngỏ ý tặng tôi túi tiền của cậu ấy, nhưng tôi hết sức ngại ngùng trong việc nhờ cậy cậu ấy trong vấn đề tiền nong. Có ai lại đi thổ lộ sự nghèo túng của mình với một người xa lạ rồi lại yêu cầu người ấy chia bớt tài sản cho mình? Phải là một con người hèn hạ có một tâm hồn đê tiện đến mức không thấy nhục hoặc là một tín đồ Cơ đốc hết sức khiên cưỡng, do một tình cảm hào hiệp nó giúp anh ta vượt lên trên sự xấu hổ mới có thể làm được một điều như vậy. Tôi không phải là một con người hèn hạ, cũng chẳng phải là một tín đồ Cơ đốc sùng đạo nên tôi sẵn sàng để một nửa máu của tôi để tránh làm cái việc hèn hạ đó. Tôi lại tự nhủ: “Tibecgiơ, Tibecgiơ tốt bụng, liệu anh ấy có từ chối giúp cho mình cái mà anh có thể giúp không? Không, anh ấy sẽ xúc động vì sự nghèo túng của mình, nhưng anh ấy sẽ làm mình chết đi được vì những lời thuyết giáo của anh ấy về đạo lý. Phải chịu đựng những lời trách cứ, động viên, hăm dọa của anh ấy; anh ấy sẽ buộc mình phải trả một cái giá quá đắt cho sự giúp đỡ của anh ấy đến mức mình thà phải để một phần máu của mình còn hơn là hứng chịu cái quang cảnh đáng buồn đó nó sẽ đem lại cho mình băn khoăn, hối hận. Thôi được! – Tôi tạm tự nhủ. – Như vậy là phải từ bỏ mọi hy vọng bởi vì chẳng còn con đường nào khác. Mà trong cả hai đường đó mình lại quyết định chẳng theo đường nào; mình sẵn sàng thà đổ một nửa máu của mình còn hơn là theo một trong hai đường đó, nghĩa là phải để toàn bộ máu của mình để theo cả hai chăng? Phải, thà mình đổ cả máu của mình ra còn hơn là đi van xin nhục nhã đến như vậy! Nhưng vấn đề ở đây lại chính là máu của mình kia mà! Vấn đề ở đây là cuộc sống, là chu toàn cho Manông, là tình yêu và lòng chung thủy của nàng! Mình có cái gì để đem cân với nàng nào? Cho đến nay, mình chẳng có cái gì để đặt lên bàn cân đó cả. Đối với mình, nàng là vinh quang, là hạnh phúc, là vận hội. Chắc hẳn đã có những điều mà mình có thể hy sinh cả tính mạng để đạt đến, hoặc lẩn tránh không làm; nhưng đánh giá một điều nào đó đáng giá hơn mạng sống của mình đâu có phải là lý lẽ để đặt điều đó ngang với Manông?”
Sau khi đã lý lẽ như vậy, tôi quyết định ngay. Tôi tiếp tục lên đường, quyết tâm trước hết gặp Tibecgiơ rồi sau đó đến nhà M.T...
Khi vào đến Paris, tôi thuê một chiếc xe ngựa tuy chẳng có tiền để trả; tôi tin vào sự giúp đỡ mà tôi sắp đi xin. Tôi bảo đưa tôi đến công viên Luychxămbua rồi cho báo với Tibecgiơ là tôi đang chờ anh ấy ở đấy. Anh ấy đến ngay. Chẳng chút quanh co, tôi trình bày với anh ấy những nhu cầu thiết yếu của tôi. Anh ấy hỏi tôi rằng món tiền một trăm pixtôn mà tôi đã trả lại cho anh ấy có đủ không, rồi không nói lấy một lời khó khăn nào, anh đi lấy cho tôi với cái vẻ cởi mở và thích thú được đem cho, mà chỉ có tình yêu và tình bạn chân chính mới có thể có được.
Tuy không chút nghi ngờ về kết quả của việc cầu xin của tôi, tôi ngạc nhiên đã đạt được mà không phải trả giá, nghĩa là không bị anh ấy mắng mỏ gì về sự dại dột của tôi. Nhưng tôi đã nhầm khi nghĩ rằng đã thoát khỏi những lời trách cứ của anh ấy, bởi vì sau khi đã đếm đủ tiền trao cho tôi và tôi sắp từ biệt anh, thì anh yêu cầu tôi cùng đi dạo với anh một vòng. Tôi không nói gì với anh ấy về Manông, anh không biết rằng nàng đã được tự do; do đó, bài giảng đạo đức của anh chỉ để cập đến cuộc tháo chạy táo tợn của tôi ở Xanh Lazarơ, và về nỗi lo sợ của anh là tôi không biết rút ra những bài học khôn ngoan về sự kiện đó, mà lại lao vào cuộc sống buông tuồng như cũ. Anh cho tôi biết rằng ngay hôm sau cuộc chạy trốn của tôi, anh đã đến thăm tôi ở Xanh Lazarơ và anh đã sửng sốt không tả được khi biết được cung cách tôi trốn đi; rằng anh đã nói chuyện với cha bề trên về việc đó; rằng cha còn chưa hết kinh hoàng, tuy vậy ông cha hào hiệp ấy đã nói dối với ông Tổng giám đốc cảnh sát về trường hợp ra đi của tôi và ông đã không cho để lộ ra ngoài cái chết của tay gác cổng; rằng về mặt này, như vậy là tôi không có gì phải sợ hãi, nhưng rằng nếu tôi còn có chút ý thức về đức hạnh thì tôi phải biết sử dụng tốt sự an bài đáng mừng đó của Chúa Trời trong công việc của tôi, rằng tôi phải bắt đầu việc đó bằng việc viết thư và hòa giải với cha tôi, và rằng nếu tôi còn muốn nghe theo lời khuyên của anh ấy một lần nữa, ý kiến của anh là tôi nên rời Paris để trở về sống với gia đình.
Tôi nghe bài diễn văn của anh từ đầu đến cuối. Trong đó có nhiều điều đáng hài lòng. Thứ nhất là tôi rất vui khi biết mình chẳng còn phải sợ gì về mặt Xanh Lazarơ. Những đường phố của Paris sẽ trở lại là xứ sở tự do đối với tôi. Thứ hai, tôi vui mừng thấy Tibecgiơ chẳng biết tí gì về việc giải thoát của Manông và việc nàng đã trở về với tôi. Tôi còn nhận xét rằng anh ấy tránh không nói đến nàng. Chắc là vì anh ấy cho rằng tôi không còn quan tâm nhiều đến nàng nữa, tôi đã tỏ ra rất bình tĩnh về vấn đề này. Tôi quyết định, nếu không trở về với gia đình thì ít nhất cũng viết thư cho cha tôi như lời khuyên của Tibecgiơ, để chứng tỏ cho anh thấy rằng tôi sẵn sàng trở lại con đường theo đúng bổn phận của tôi và làm theo những ý muốn của anh. Tôi hy vọng xin được cha tôi gửi tiền cho với lý do để tôi vào trường đại học, bởi vì tôi khó thuyết phục được người rằng tôi sẵn sàng trở lại trường dòng. Kể ra, về thực chất, tôi cũng không xa gì lắm điều tôi hứa với cha tôi. Ngược lại, tôi sẵn sàng chuyên chú vào một việc gì đó trung thực, hợp với lẽ phải miễn là điều đó phù hợp với tình yêu của tôi. Tôi dự tính sống với người yêu của tôi vừa theo học đại học; hai việc đó có thể dung hòa với nhau. Tôi thỏa mãn với những ý nghĩ đó đến mức tôi hứa với Tibecgiơ ngay ngày hôm đó gửi một lá thư cho cha tôi. Sau khi tạm biệt Tibecgiơ, tôi vào một phòng cho thuê chỗ ngồi viết, và tôi đã viết một lá thư với lời lẽ âu yếm và phục tùng đến mức khi đọc lại tôi tin rằng sẽ đạt được một cái gì đó từ trái tim của cha tôi.
Dù sau khi rời Tibecgiơ, tôi đã có tiền để thuê một chiếc xe ngựa, tôi thích thú và tự hào đi bộ đến nhà M.T... Tôi vui mừng thưởng thức sự tự do đi lại đó, bạn tôi chẳng là vừa đảm bảo với tôi rằng tôi không còn phải lo sợ gì nữa. Tuy vậy, tôi đột nhiên nghĩ ra rằng lời đảm bảo của anh ấy là chỉ về vụ Xanh Lazarơ, ngoài ra còn có vụ ở Nhà trừng giới, đó là chưa nói đến cái chết của Lexcô mà tôi cũng có dính dấp vào. Ký ức đó làm tôi hoảng sợ đến mức tôi lẻn ngay vào con đường hẻm đầu tiên tôi gặp và gọi một cỗ xe ngựa. Tôi đến thẳng nhà M.T... và tôi đã làm cậu ấy phì cười vì nỗi kinh hoàng của tôi. Bản thân tôi cũng thấy nỗi lo sự đó là buồn cười sau khi M.T... đã cho tôi biết rằng tôi chẳng có gì phải sợ về vụ Nhà trừng giới cũng như về cái chết của Lexcô. Cậu ấy kể lại với tôi rằng do nghĩ rằng người ta có thể nghi ngờ cậu ấy dính líu đến vụ bắt cóc Manông, sáng hôm sau cậu ấy đã đến Nhà trừng giới giả vờ không biết điều gì đã xảy ra và yêu cầu được gặp Manông, rằng người ta không hề nghi vấn gì chúng tôi, cả cậu ấy, cả tôi, mà ngược lại người ta còn sôi nổi thuật lại biến cố đó như là một cái tin kỳ lạ và người ta đã tỏ ra thán phục một cô gái xinh đẹp như Manông lại quyết định trốn đi với một người hầu phòng; rằng cậu ấy chỉ lạnh lùng đáp lại rằng cậu ấy không hề ngạc nhiên vì người ta có thể làm mọi việc vì tự do. M.T.. còn kể lại với tôi rằng sau đó, cậu ấy đến thẳng nhà Lexcô trọ với hy vọng tìm gặp tôi và người yêu kiều diễm của tôi ở đây; rằng chủ nhà, một anh thợ đóng thùng xe, đã nhất quyết rằng không hề thấy Manông cũng không hề thấy tôi, nhưng ông ta không ngạc nhiên về việc chúng tôi không đến nhà anh ta, bởi vì, nếu do quen với Lexcô mà đến, thì hẳn là chúng tôi đã biết là hắn đã bị giết chết hầu như cùng lúc đó. Nhân đó, ông ta cũng cho biết những điều ông ta biết được về nguyên nhân và trường hợp cái chết của Lexcô.
Vào khoảng trước đó hai giờ, một tên lính túc vệ, một trong những ông bạn của Lexcô, đến thăm Lexcô và gạ hắn đánh bạc. Lexcô đã thắng nhanh đến nỗi chỉ sau một giờ, tay kia đã thua mất một trăm êquy, nghĩa là thua sạch. Anh chàng khốn khổ đó, không còn một đồng xu dính túi, van nài Lexcô cho vay lại một nửa số tiền anh ta vừa thua; rồi do những khó khăn nào đó, hai bên đã cãi vã nhau kịch liệt. Lexcô không chịu đi ra ngoài để đấu kiếm với nhau, tay kia vừa bỏ đi vừa thề là sẽ bắn vỡ sọ Lexcô, điều mà hắn đã làm ngay trong đêm đó. M.T... còn ngay thực nói rằng cậu ta rất lo lắng cho chúng tôi và vẫn sẵn sàng giúp đỡ. Tôi chẳng ngần ngại gì nói cho cậu ấy biết chỗ trú thân của chúng tôi. Cậu ấy yêu cầu cho cậu ấy cùng đến ăn tối với chúng tôi.
Vì tôi chỉ còn cần mua quần áo cho Manông nữa thôi, tôi nói với cậu ấy rằng chúng tôi có thể đi ngay và đề nghị cậu ấy vui lòng dừng lại một lát với tôi ở một vài nhà hàng. Tôi không rõ là cậu ấy có cho rằng khi tôi đề nghị như vậy là có ý khêu gợi lòng hào hiệp của cậu ấy, hay đó chỉ là một cử chỉ xuất phát từ một tâm hồn cao thượng, chỉ biết là sau khi đồng ý cùng đi ngay, cậu ấy đã dẫn tôi đến các hiệu buôn chuyên bán hàng cho gia đình cậu ấy, và ép tôi chọn nhiều loại vải đắt gấp nhiều lần những loại tôi định mua và khi tôi sắp trả tiền thì cậu ấy cấm những người bán hàng nhận một xu của tôi. Cậu ấy đã làm cái việc ơn nghĩa đó một cách khá tao nhã đến mức tôi thấy có thể nhận lấy mà không phải xấu hổ gì. Chúng tôi cùng lên đường trở lại Chaiô, và tôi về đến nơi, lòng đã vơi đi rất nhiều lo âu so với lúc ra đi.
⚝ ✽ ⚝
Hiệp sĩ Griơ đã bỏ ra hơn một giờ để kể lại câu chuyện này. Tôi đề nghị anh nghỉ một lát và cùng dùng bữa tối với chúng tôi. Sự chú ý của chúng tôi làm anh ấy cho rằng chúng tôi đã thích thú nghe chuyện anh. Anh đảm bảo với chúng tôi rằng đoạn sau câu chuyện của anh còn lý thú hơn, và sau khi đã ăn xong, anh ấy lại tiếp tục kể với những lời sau đây.