Sự có mặt của tôi và những cử chỉ lịch sự của M.T... đã xua tan nốt những sầu muộn của Manông. Tôi nói với nàng:
“Em thân yêu, chúng ta hãy quên đi những nỗi hãi hùng đã qua, chúng ta hãy trở lại sống hạnh phúc hơn bao giờ hết. Nói cho cùng, tình yêu là ông thầy giỏi. Số phận cho chúng ta nhiều niềm vui hơn là những gian khổ mà chúng ta phải chịu đựng.”
Bữa ăn tối quả thật là vui vẻ. Với Manông và với một trăm pixtôn, tôi tự hào và hài lòng hơn con người giàu có nhất Paris với kho tàng chồng chất của hắn ta. Phải tính toán sự giàu có thông qua những phương tiện dùng để thỏa mãn những dục vọng của mình. Tôi thì chẳng có dục vọng nào để thỏa mãn; ngay đến tương lai cũng chẳng làm tôi băn khoăn. Tôi hầu như chắc chắn là cha tôi sẽ không khó khăn gì trong việc gởi tiền cho tôi, đủ để tôi có thể sống đường hoàng ở Paris, bởi vì tôi đã đến tuổi hai mươi và có quyền đòi hưởng phần tài sản thừa kế của mẹ tôi. Tôi nói thật với Manông rằng toàn bộ tài sản của tôi chỉ có một trăm pixtôn. Chừng ấy cũng đủ để yên tâm chờ một tài sản lớn hơn mà tôi chắc là sẽ có, hoặc là do quyền thừa kế của tôi, hoặc là do đánh bạc.
Như vậy là trong những tuần lễ đầu tiên, tôi chỉ nghĩ đến việc vui hưởng thụ cái hoàn cảnh mới. Do còn nghĩ đến danh dự và cũng do còn đôi chút e dè đối với cảnh sát, tôi lần lữa ngày này qua ngày khác, không bắt mối trở lại với các “hội viên” của khách sạn T..., mà chỉ đến những sòng bạc ít tai tiếng hơn; tại đây, vận may đã giúp tôi tránh được nỗi nhục nhã phải dùng đến trò gian lận. Tôi ở thành phố một phần buổi chiều và trở về ăn tối ở Chaiô, thường là có M.T... đi cùng, cậu ấy càng ngày càng thân thiết với chúng tôi. Manông cũng tìm được cách để giải buồn. Nàng kết bạn với dăm cô bạn trẻ láng giềng, những người mà mùa xuân đến đã đưa họ trở lại Chaiô. Đi dạo hoặc tập dượt nhẹ nhàng theo giới tính là công việc của họ. Một sòng bạc mà họ quy định giới hạn, chu cấp món tiền thuê xe. Họ đi đón không khí trong lành ở rừng Bulônhơ [31] và buổi tối, khi trở về, tôi thấy Manông đẹp hẳn, hài lòng và say đắm hơn bao giờ hết. Tuy nhiên, cũng nổi lên một vài đám mây có vẻ đe dọa tòa lâu đài hạnh phúc của chúng tôi, nhưng rồi chúng bị xua tan hết và cái tính thích đùa nghịch của Manông đã làm cho câu chuyện kết thúc một cách hài hước đến mức tôi cảm thấy vị dịu ngọt khi nhớ lại câu chuyện nói lên tấm lòng yêu thương và cả sự thông minh ý vị của nàng.
Đó là một hôm, tên đầy tớ duy nhất của chúng tôi, gọi riêng tôi ra và với vẻ hết sức lúng túng, nói rằng hắn có một điều bí mật quan trọng để báo với tôi. Tôi động viên hắn cứ nói thoải mái. Sau một hồi loanh quanh, hắn cho tôi biết có một đức ông người ngoại quốc hình như tỏ ra rất yêu mến cô Manông. Nghe nói thế, máu tôi như sôi lên.
“Thế cô nhà có yêu lại người ấy không?” – Tôi đột ngột cắt ngang, lẽ ra tôi phải từ tốn mới có thể làm sáng tỏ câu chuyện.
Sự nóng nảy của tôi làm thằng hầu sợ. Với một vẻ lo lắng, hắn thưa với tôi rằng hắn không biết rõ đến như vậy, nhưng từ mấy hôm nay, hắn quan sát thấy người ngoại quốc ấy thường xuyên đến rừng Bulônhơ xuống xe ngựa rồi một mình đi bộ vào các con đường phụ trong rừng, hình như muốn tìm cơ hội để nhìn hoặc gặp cô nhà; rằng hắn chợt nẩy ra ý nghĩ làm quen với đám gia nhân của người ngoại quốc đó để biết tên của ông ta; rằng đám người này cho biết đó là một ông hoàng người Ý và chính họ cũng nghi là ông ta đang có chuyện yêu đương gì đây. Rồi vừa run, hắn nói thêm rằng hắn không biết gì hơn nữa, bởi vì ông hoàng vừa từ trong rừng bước ra, đã thân mật đến gặp hắn, hỏi tên hắn, sau đó chắc là đoán được hắn giúp việc cho chúng tôi, ông ta đã khen hắn được phục vụ cho con người kiều diễm nhất thế giới.
Tôi sốt ruột chờ đoạn tiếp của câu chuyện. Nhưng hắn kết thúc bằng một vài lời xin lỗi rụt rè mà tôi cho là do sự nóng nảy khinh suất của tôi. Tôi giục hắn cứ thật thà kể hết, nhưng vô hiệu. Hắn thề thốt với tôi rằng hắn không biết gì hơn nữa và những điều mà hắn vừa kể với tôi đã xảy ra ngày hôm trước, và hắn chưa gặp lại đám tùy tùng của ông hoàng. Tôi trấn an hắn không chỉ bằng những lời khen ngợi mà còn bằng một món tiền thưởng hậu hĩ, và không tỏ ra nghi ngờ gì Manông với một giọng bình tĩnh hơn, tôi dặn hắn phải theo dõi nhất cử nhất động của người ngoại quốc kia.
Thực ra sự sợ hãi của tên người hầu để lại cho tôi nhiều mối nghi ngờ khắc khoải. Sự sợ hãi đó có thể làm mất đi một phần sự thật. Tuy nhiên, sau khi suy nghĩ, tôi trở lại yên tâm, lại còn nuối tiếc là đã tỏ ra nóng nảy. Tôi không thể xem việc Manông được người khác yêu là nàng phạm một tội ác... Có nhiều dấu hiệu chứng tỏ rằng nàng không hay biết gì về việc nàng được yêu; vả lại tôi sẽ sống ra sao nếu tôi cứ dễ dàng ghen tuông như vậy?
Ngày hôm sau, tôi lên Paris, không ngoài ý đồ tăng nhanh tài sản bằng cách đánh lớn hơn, nhằm có điều kiện để rời Chaiô ngay khi có những dấu hiệu lo ngại. Buổi tối, tôi không được tin gì khả dĩ làm tôi lo lắng. Người ngoại quốc đã xuất hiện trở lại ở rừng Bulônhơ và do đã làm quen được với người hầu của chúng tôi hôm qua, ông ta xáp lại với hắn, nói với hắn về tình yêu của ông ta, nhưng với những lời lẽ cho thấy Manông không liên quan gì đến. Ông ta hỏi hắn rất nhiều chi tiết. Cuối cùng, bằng những lời hứa hẹn hào phóng, ông ta tìm cách đưa hắn phục vụ cho lợi ích của ông ta, rồi rút ra một bức thư đã viết sẵn, ông ta cho hắn vài đồng lui vàng để nhờ hắn trao lá thư lại cho Manông, nhưng hắn không nhận.
Hai ngày trôi qua không có sự cố nào xảy ra. Ngày thứ ba thì sóng gió hơn. Khi từ thành phố trở về khá muộn, tôi được tin rằng trong khi đi dạo, Manông đã tách khỏi những người bạn của mình chốc lát, và người ngoại quốc, bám theo nàng không xa mấy, đã tiến lại gần nàng theo dấu hiệu của nàng, và nàng đã trao cho ông ta một lá thư mà ông ta hết sức vui mừng đón nhận. Ông ta chỉ có thể bày tỏ sự vui mừng đó bằng cách âu yếm hôn lên dòng chữ viết trên thư bởi vì Manông bỏ đi ngay. Nhưng, suốt ngày hôm ấy, nàng tỏ ra vui vẻ khác thường, và sau khi trở về nhà, nàng vẫn cứ vui như vậy. Chắc là tôi đã run lên theo từng lời nói của tên người hầu. Tôi hỏi hắn một cách buồn bã: “Chú có chắc rằng chính mắt chú thấy như thế không?”
Hắn viện Chúa Trời ra để chứng giám cho lòng thành thật của hắn. Tôi không biết những băn khoăn bứt rứt trong lòng tôi sẽ đưa tôi đến đâu, nếu Manông nghe thấy tôi về, đã đến gặp tôi với cái vẻ sốt ruột và những lời than phiền về sự chậm trễ của tôi. Chẳng đợi tôi trả lời, nàng đã ôm tôi, vuốt ve mơn trớn, và khi chúng tôi chỉ còn lại một mình, nàng trách móc tôi khá nặng nề thói quen hay về chậm. Do tôi im lặng nên nàng tiếp tục nói với tôi rằng từ ba tuần nay, tôi chưa ở với nàng trọn một ngày nào, rằng nàng không thể chịu đựng được sự vắng mặt của tôi lâu như vậy; rằng nàng yêu cầu tôi ít nhất xen kẽ một ngày đi vắng, một ngày ở nhà và ngay ngày mai, nàng muốn tôi ở gần nàng từ sáng cho đến tối. Tôi trả lời nàng bằng một giọng khá gay gắt: “Anh sẽ ở nhà, em đừng lo!”
Nàng chẳng chú ý gì đến nỗi phiền muộn của tôi và trong cơn vui vẻ mà tôi thấy quả là một cách khác thường, nàng vẽ lại cho tôi bằng muôn màu sắc cung cách nàng đã trải qua một ngày như thế nào! “Một cô gái kỳ lạ! – tôi nhủ thầm – mình sẽ chờ đợi cái gì xảy ra sau cái khúc dạo đầu này đây?” Tôi nhớ lại câu chuyện về cuộc chia tay lần thứ nhất của chúng tôi. Tuy nhiên, trong thực chất của niềm vui và những cái mơn trớn của nàng, tôi thấy có cái gì đó chân thật, phù hợp với cái vỏ bên ngoài.
Trong bữa ăn tối, tôi không khó khăn gì để giải thích nỗi buồn của tôi mà tôi không thể kìm được là do tôi thua bạc. Tôi cho rằng cái ý không rời Chaiô ngày hôm sau lại do Manông nghĩ ra, là một điều rất có lợi cho tôi. Nhờ nó tôi có đủ thì giờ để cân nhắc, suy nghĩ. Sự có mặt của tôi ở nhà sẽ tránh được mọi mối lo âu cho ngày hôm sau nữa và nếu tôi không nhận ra điều gì khiến tôi phải nói lên những điều khám phá của tôi, thì tôi cũng quyết tâm vào ngày hôm sau nữa chuyển chỗ ở vào thành phố, tại một khu phố, nơi tôi chẳng có gì phải rắc rối với những ông hoàng. Sự tính toán như vậy làm cho tôi trải qua một đêm yên tĩnh, nhưng nó không làm cho tôi bớt được đau khổ khi nghĩ đến một lần nữa nàng lại không chung thủy.
Khi tôi thức dậy, Manông nói với tôi rằng để trải qua một ngày trong căn hộ của chúng tôi, nàng không muốn tôi có vẻ luộm thuộm và rằng nàng muốn tự tay sửa tóc cho tôi. Tóc tôi rất đẹp. Nhiều lần nàng đã thích thú sửa tóc cho tôi, xem đó là trò giải trí, nhưng chưa lần nào tôi thấy nàng làm cẩn thận như lần này. Để cho nàng hài lòng, tôi phải ra ngồi trước bàn trang điểm của nàng và để cho nàng thử tất cả những tìm tòi nho nhỏ mà nàng nghĩ ra để trang điểm cho tôi. Trong khi làm việc, nàng thường bắt tôi quay mặt về phía nàng rồi tì hai bàn tay lên hai vai tôi, nàng nhìn tôi với một vẻ tò mò hau háu. Sau đó, nàng hôn tôi vài cái để bày tỏ sự hài lòng, rồi nàng lại bắt tôi ngồi lại vị trí cũ để nàng tiếp tục công việc. Trò đùa bỡn này kéo dài cho đến bữa ăn trưa. Sự thích thú của Manông trong việc này tự nhiên, nỗi vui mừng của nàng không có chút gì giả tạo, khiến tôi không thể nào nghĩ rằng cái vỏ bên ngoài chung thủy như vậy lại có thể đi đôi với sự rắp ranh phản bội đê hèn; đến mức đã nhiều lần tôi toan nói hết với nàng và cất đi cái gánh nặng đã bắt đầu đè nặng trong lòng tôi. Nhưng cứ mỗi lần định nói, tôi lại chờ chính nàng nói ra trước, và chưa chi đã thấy là mình thắng lợi.
Chúng tôi cùng vào trong phòng của nàng. Manông lại bắt đầu sửa mái tóc của tôi, và tôi thì vui vẻ chiều theo mọi ý muốn của nàng. Giữa lúc đó, người hầu vào bảo có ông hoàng... muốn gặp nàng. Cái tên ông hoàng ấy đã làm tôi cáu tiết.
“Cái gì vậy? Ai thế? Ông hoàng nào?” Tôi vừa kêu lên như vậy vừa đẩy nàng ra.
Nàng chẳng trả lời những câu hỏi của tôi. Nàng chỉ lạnh lùng nói với người hầu: “Mời ông ấy lên!”, rồi quay về tôi, nàng bảo tôi bằng một giọng quyến rũ: “Anh thân yêu, anh mà em tôn thờ, em xin anh chiều ý em trong một lát thôi! Em sẽ yêu anh một nghìn lần hơn, em sẽ biết ơn anh suốt đời!”. Tôi tức giận và ngạc nhiên không nói nên lời. Nàng nhắc lại những lời yêu cầu, còn tôi thì tìm lời lẽ để bác bỏ chúng một cách khinh bỉ. Nhưng nghe có tiếng mở cửa phòng ngoài, một tay nàng nắm chặt lấy tóc tôi, tay kia nàng cầm theo chiếc gương trang điểm của nàng, và cứ thế, nàng dùng tất cả sức lực để lôi tôi ra đến cửa phòng khách, rồi dùng đầu gối để đẩy cánh cửa, nàng đem lại cho ông khách ngoại quốc mà có lẽ tiếng động do chúng tôi gây ra đã khiến ông đứng lại giữa phòng, một quang cảnh làm ông ta không khỏi ngạc nhiên. Đó là một con người ăn mặc tươm tất, nhưng vẻ mặt thì cau có. Tuy lúng túng trước màn kịch đó, ông ta vẫn gập người xuống để chào. Manông không để cho ông ta kịp mở miệng. Nàng đưa cho ông ta cái gương rồi nói:
“Xin ông soi gương đi và nói cho tôi biết. Ông xin ở tôi tình yêu. Còn đây là người mà tôi yêu và tôi đã thề yêu anh ấy suốt đời. Ông hãy tự mình so sánh đi! Nếu ông nghĩ rằng có thể tranh với anh ấy trái tim tôi, xin ông hãy cho tôi biết ông căn cứ vào cái gì, bởi vì tôi xin tuyên bố rằng trong con mắt của kẻ tiện nữ này, tất cả các ông hoàng nước Ý cũng không bằng một sợi tóc mà tôi đang nắm đây!”
Trong lúc Manông đọc cái bài diễn văn nghịch ngợm mà chắc là nàng có chuẩn bị trước, tôi cố gắng nhưng vô hiệu để gỡ ra khỏi tay nàng, và thấy thương hại một con người đáng trọng, tôi định bụng sẽ đối xử lịch sự với ông ta để chuộc lại sự lăng nhục nho nhỏ đó. Nhưng ông ta đã tự trấn an dễ dàng và câu trả lời của ông ta, mà tôi thấy là hơi thô lỗ, đã làm cho tôi từ bỏ cái ý định đó. Ông ta nói với Manông qua một nụ cười gượng gạo:
“Thưa cô nương, quả thật là tôi đã mở mắt và tôi thấy cô nương không phải còn ngây thơ như tôi nghĩ”
Ông ta rút lui ngay, chẳng thèm nhìn lại Manông nhưng còn hạ giọng nói thêm rằng phụ nữ Pháp chẳng hơn gì phụ nữ Ý. Trong trường hợp này, chẳng có lý do gì khiến tôi phải làm cho ông ta có một ý niệm tốt hơn về phái đẹp.
Manông bỏ tóc tôi ra, ngồi phịch xuống một chiếc ghế bành rồi phá lên cười ầm ĩ khắp cả phòng. Tôi không che đậy sự xúc động của tôi trước một sự hy sinh mà tôi cho là chỉ xuất phát từ tình yêu như vậy. Tuy nhiên, tôi thấy rằng trò đùa hơi quá quắt. Tôi trách nàng. Nàng thuật lại rằng người tình địch của tôi, sau nhiều ngày ám nàng ở rừng Bulônhơ đã nhăn nhăn nhó nhó để tỏ tình với nàng, rồi ông ta quyết định viết cho nàng một bức thư bày tỏ nỗi lòng kèm theo tên tuổi và một chức tước; ông ta đã nhờ người đánh xe cho nàng và các bà bạn trao bức thư đó cho nàng; rằng ông ta đã hứa hẹn đủ điều, sẽ làm cho nàng giàu sang và sẽ tôn thờ nàng mãi mãi; rằng khi trở về đến Chaiô, nàng đã có ý định báo với tôi câu chuyện đó, nhưng thấy rằng nó có thể mua vui cho chúng tôi, nàng không thể cưỡng lại ý định chơi khăm ông hoàng kia một vố; rằng trong lời phúc đáp cởi mở, nàng đã mời ông ta đến gặp nàng ở nhà; rằng nàng còn tìm ra một cái thú thứ hai nữa là cho tôi tham gia vào cái trò đó mà không cho tôi biết tí gì. Tôi không hề nói với Manông một lời nào về những điều tôi đã biết qua một con đường khác và cơn say sưa trong tình yêu chiến thắng đã làm tôi chấp nhận tất cả những gì nàng làm.
Tôi đã từng nhận xét rằng trong suốt cuộc đời tôi, Chúa Trời đã giáng cho tôi những đòn trừng phạt nặng nề nhất chính vào lúc mà tôi tưởng là vận hội của mình vững như bàn thạch. Với tình bè bạn của M.T.., với sự yêu thương của Manông, tôi cảm thấy mình hạnh phúc đến mức không ai có thể làm cho tôi hiểu được rằng tôi phải lo sợ một tai họa mới nào nữa. Tuy nhiên, một tai họa sắp ập đến, một tai họa bi thảm đã dồn tôi đến cái cảnh ngộ mà ông đã thấy ở Pacy, cái tai họa nó xảy ra tuần tự để rồi đi đến cực độ đau thương đến mức ông khó mà tin rằng câu chuyện của tôi là trung thực.
Một hôm, chúng tôi đang ăn tối với M.T... thì nghe tiếng xe ngựa dừng trước cửa quán trọ. Tính tò mò khiến chúng tôi muốn biết ai lại đến vào giờ đó. Người ta báo với chúng tôi đó là G.M... trẻ, tức là người con trai của lão G.M... già trác táng, kẻ đã đưa tôi vào Xanh Lazarơ và Manông vào Nhà trừng giới. Nghe đến cái tên ấy, máu tôi đã dồn lên mặt. Tôi nói với M.T...:
“Trời đi đưa hắn lại đây cho tôi để tôi có thể trừng phạt sự hèn nhát của thằng bố hắn. Hắn không thể nào thoát nổi khi chưa so kiếm với tôi!”
M.T... không những biết rõ hắn mà còn là một trong những bạn thân của hắn, cố gắng làm cho tôi có những tình cảm tốt hơn đối với hắn. Cậu ấy đảm bảo với tôi rằng đó là một trang thanh niên rất dễ thương và không hề dính dáng gì đến hành động của cha hắn, rằng chính tôi chỉ gặp hắn một lát cũng không thể không mến mộ hắn vả cũng mong được hắn mến mộ trở lại. Sau khi đã hết lời nói tốt về G.M... con, M.T... yêu cầu tôi đồng ý để cậu ta đi mời hắn đến ngồi chung với chúng tôi và cùng dùng bữa với chúng tôi. Cậu ấy còn ngừa trước sự phản đối của tôi, về nguy cơ làm như thế là tiết lộ chỗ ở của chúng tôi cho con của kẻ thù của chúng tôi biết, và như thế là đưa Manông đến chỗ nguy hiểm – bằng cách đem danh dự và lòng tin ra đảm bảo rằng một khi hắn đã quen với chúng tôi, thì không ai bảo vệ chúng tôi tích cực bằng hắn ta.
Những lời đảm bảo đó của M.T... làm tôi thấy không có vấn đề gì nữa. Trước khi đưa G.M... vào, M.T... còn dành chốc lát để thông báo với hắn chúng tôi là ai. Hắn bước vào với cái vẻ quả thật làm chúng tôi có cảm tình ngay với hắn. Hắn ôm tôi hôn. Chúng tôi ngồi xuống. Hắn hết lời khen ngợi Manông, tôi, và tất cả những gì thuộc về chúng tôi. Hắn ăn uống rất ngon miệng. Sau khi ăn xong, câu chuyện trở nên nghiêm chỉnh hơn. Hắn cúi gằm xuống khi nói đến những điều thái quá mà ông bố hắn đã làm đối với chúng tôi. Hắn khúm núm xin lỗi chúng tôi rồi nói:
“Tôi xin nói vắn tắt vì không muốn gợi lại một ký ức làm tôi quá hổ thẹn.”
Nếu như lúc ban đầu những lời xin lỗi đó là thành thực, thì càng về sau, càng thành thực hơn bởi vì chỉ sau nửa giờ chuyện trò, tôi đã thấy được ngay những nét quyến rũ của Manông đã gây ấn tượng như thế nào với hắn. Mỗi lúc, đầu mày cuối mắt của hắn càng nồng nàn. Tuy nhiên, trong lời nói, hắn không để lộ điều gì; nhưng dù không chút ghen tuông, qua bao nhiêu kinh nghiệm trong tình trường tôi thừa biết những gì đã diễn ra. Hắn ngồi lại trò chuyện với chúng tôi trong một phần đêm hôm đó và từ biệt chúng tôi sau khi đã bày tỏ sự hân hạnh được quen biết chúng tôi và xin phép được thỉnh thoảng đến hầu chuyện chúng tôi. Sáng hôm sau hắn ra về, có M.T... cùng đi trên cỗ xe ngựa của hắn.
Như tôi đã nói, tôi không hề là con người hay ghen tuông. Hơn bao giờ hết, tôi tin tưởng vào những lời thề thốt của Manông. Người con gái quyến rũ ấy đã làm chủ tuyệt đối tâm hồn tôi đến độ ngoài sự quý trọng và tình yêu ra, tôi không còn có một tình cảm nào khác đối với nàng. Không những không hề cho việc nàng được G.M... con say mê là một tội lỗi, tôi lại vui sướng thấy được tác động của vẻ đẹp quyến rũ của nàng, và tôi tự hào được một người con gái mà mọi người đều thấy là đáng mến, yêu mình. Tôi còn cho rằng không cần nói với nàng những mối nghi ngờ của tôi. Trong suốt mấy hôm, chúng tôi bận sửa sang lại quần áo cho nàng rồi bàn luận xem chúng tôi có thể đi xem kịch mà không sợ người ta nhận ra không. M.T... đến thăm chúng tôi trước hôm cuối tuần. Chúng tôi hỏi ý kiến cậu ấy về chuyện đó. Cậu ấy cho rằng nên đi để làm vừa lòng Manông. Chúng tôi quyết định đi xem ngay tối hôm đó cùng với cậu ta.
Nhưng rồi cái quyết định đó đã không thể thực hiện được bởi vì M.T... đã kéo tôi ra một chỗ và nói riêng với tôi:
“Tôi hết sức lúng túng từ hôm đến thăm anh chị lần trước và việc tôi đến thăm hôm nay là hậu quả của chuyến thăm đó. G.M... yêu người yêu của anh. Cậu ta thổ lộ điều đó với tôi. Tôi là bạn thân của cậu ta và sẵn sàng hết mình giúp đỡ cậu ta; nhưng tôi cũng lại là bạn thân của anh. Tôi cho rằng những ý đồ của cậu ta là không đúng đắn và tôi đã lên án. Chắc là tôi đã giữ kín điều bí mật của cậu ta nếu như để tán tỉnh Manông, cậu ta có ý đồ sử dụng những cách thức thông thường, nhưng đằng này cậu ta lại biết rõ tính khí của Manông. Không biết do đâu, cậu ta biết rõ rằng chị ấy thích sung túc và lạc thú, còn cậu ta thì đã có một tài sản lớn, nên cậu ta đã nói với tôi rằng trước tiên cậu ta sẽ cám dỗ chị ấy bằng một món quà rất lớn và một món trợ cấp mười nghìn livre. Nói cho công bằng ra, chắc là tôi phải rất khổ tâm khi phản bội cậu ta, nhưng ngoài tình bạn của tôi với anh còn có vấn đề công lý nữa; hơn nữa tôi lại là nguyên nhân của sự si mê của cậu ta vì đã khinh suất giới thiệu cậu ta đến đây, tôi buộc phải báo trước những hậu quả của tội lỗi mà tôi đã gây ra.”
Tôi cảm ơn M.T... về sự giúp đỡ quan trọng như vậy và cũng với lòng tin cậy như cậu ấy đã tin tôi, tôi thừa nhận rằng tính nết của Manông quả là như G.M... nghĩ, nghĩa là nàng không chịu nổi đến cả cái tiếng “nghèo”. Tôi nói tiếp với M.T...:
“Tuy nhiên, khi chỉ có vấn đề sung sướng ít hay nhiều, tôi không nghĩ rằng nàng có thể bỏ tôi vì một người khác. Hiện nay, tôi đủ sức để cho nàng không thiếu một thứ gì và tôi dự tính tài sản của tôi sẽ mỗi ngày mỗi tăng. Tôi chỉ sợ có một điều là G.M... sử dụng việc cậu ấy biết chỗ ở của chúng tôi để chơi xấu chúng tôi.”
M.T... đảm bảo rằng tôi không phải lo về mặt đó; rằng G.M... có thể cuồng dại yêu đương, nhưng hắn không phải là một thằng đê tiện; rằng nếu hắn mà hèn nhát làm một hành vi đê hèn thì cậu ấy sẽ là người đầu tiên trừng phạt hắn để chuộc lại tai họa mà cậu ấy góp phần gây ra. Tôi nói với M.T...:
“Tôi rất cảm ơn về tình cảm đó, nhưng chờ cho bệnh đã nặng rồi, thì thuốc không chắc có hiệu quả, cho nên khôn ngoan nhất là phòng bệnh, chẳng thà rời bỏ Chaiô để tìm một chỗ ở mới còn hơn.”
“Vâng, đúng thế! – M.T… đáp – Nhưng anh khó mà dời đi cho kịp vì G.M... trưa nay đã có ở đây rồi, hôm qua cậu ấy nói với tôi như vậy và chính vì thế mà tôi mới đến đây từ sáng sớm để báo cho anh biết ý đồ của cậu ta.”
Một ý kiến gấp gáp như vậy làm tôi nhìn vụ này nghiêm chỉnh hơn. Vì nghĩ không thể nào tránh được cuộc thăm viếng của G.M... và cũng không thể nào ngăn cản được hắn tỏ tình với Manông, tôi quyết định tự tôi sẽ báo trước cho nàng biết ý đồ của người tình địch mới này. Tôi hình dung rằng một khi nàng đã biết rằng tôi đã biết những đề nghị mà hắn sẽ đưa ra với nàng mà lại đưa ra lúc có mặt tôi, thì nàng sẽ có đủ sức để từ chối. Tôi nói lên ý nghĩ đó với M.T... và cậu ấy đáp lại rằng đó là điều hết sức tế nhị. Tôi bảo M.T...:
“Tôi thừa nhận đó là tế nhị, nhưng tất cả những lý lẽ có thể có để người ta tin chắc ở người tình của mình, tôi đều có thể tin vào sự thương yêu của người tình của tôi. Chỉ có tầm vóc to lớn của những món quà biếu là có thể làm cho nàng lóa mắt, nhưng tôi đã nói với anh là nàng không hề quan tâm đến điều đó. Nàng yêu thích sự sung túc, nhưng nàng cũng yêu tôi và trong tình trạng công việc làm ăn của tôi hiện nay, tôi không thể nào tin rằng nàng lại bỏ tôi để chọn người con trai của kẻ đã bắt nàng vào Nhà trừng giới. ”
Nói tóm lại, tôi vẫn giữ ý kiến của tôi, và kéo Manông ra một chỗ, tôi đã thuật lại với nàng tất cả những gì tôi vừa biết được.
Nàng cảm ơn tôi về ý nghĩ tốt đẹp của tôi với nàng và nàng hứa rằng sẽ có cách đón nhận những lời tán tỉnh của G.M... khiến cho hắn không còn có ý muốn tái phạm nữa. Tôi bảo nàng:
“Không! Không nên làm hắn phật lòng bằng hành động thô bạo. Hắn có thể làm hại chúng ta. Rồi vừa cười, tôi vừa nói thêm: “Cô ấy à, cô tinh quái ạ, cô thừa biết cách tống khứ một anh tình nhân khó chịu!”
Sau một lát mơ màng, Manông thốt lên:
“Em vừa nghĩ ra một ý đồ tuyệt vời và em rất tự hào về cái sáng kiến này. G.M... là con trai của kẻ thù độc ác nhất của chúng ta. Chúng ta phải trả thù lão, không phải qua thằng con của lão mà là qua túi tiền của thằng con lão. Em muốn nghe hắn nói, nhận những món quà tặng của hắn, rồi cho hắn một vố.”
“Dự án của em hay đấy, – tôi bảo nàng, – nhưng em quên rằng đó chính là con đường đã dẫn em đến Nhà trừng giới.”
Tôi cố gắng, nhưng vô hiệu, làm cho nàng thấy những mối nguy hiểm của cái trò đó; nàng bảo rằng chỉ cần chuẩn bị cho chu đáo, rồi nàng bác bỏ mọi lời phản đối của tôi. Ông chỉ cho tôi một anh tình nhân nào mà không mù quáng vâng theo tất cả những tính khí thất thường, đồng bóng của người yêu đang được mình tôn thờ, thì tôi xin thừa nhận rằng tôi đã nhượng bộ nàng quá dễ dàng. Quyết định của chúng tôi là đánh lừa G.M..., nhưng số phận trớ trêu đã làm cho tôi thành người bị hắn ta lừa lại.
Vào quãng mười một giờ trưa, chúng tôi thấy chiếc xe ngựa của G.M... xuất hiện. Hắn nói những lời rất hoa mỹ về việc hắn tự cho phép đến cùng ăn trưa với chúng tôi. Hắn cũng không ngạc nhiên thấy có M.T..., vì hôm qua, M.T... cũng đã hứa đến đây nhưng đã giả vờ có công chuyện gì đấy để không cùng đi xe với hắn. Tuy tất cả bọn chúng tôi, không ai là không mang một ý nghĩ phản bội trong lòng, chúng tôi đã ngồi vào bàn ăn với một vẻ tin cậy lẫn nhau, đượm tình bè bạn. G.M... dễ dàng tìm ra cơ hội để giãi bày tâm sự với Manông. Tôi không làm hắn vướng víu gì vì tôi đã cố ý vắng mặt trong vài ba phút. Khi trở lại, tôi nhận ra rằng người ta đã không làm hắn thất vọng vì quá khắt khe. Hắn tỏ ra hết sức vui vẻ. Tôi cũng giả vờ vui vẻ không kém. Hắn cười thầm sự ngây thơ của tôi, còn tôi thì cười thầm sự ngây thơ của hắn. Trong suốt cả buổi chiều, chúng tôi đóng với nhau một màn kịch thú vị. Trước khi hắn ra về, tôi còn cố ý dành cho hắn một lúc nói chuyện riêng với Manông, làm cho hắn hết lời ca ngợi cả lòng tốt lẫn bữa ăn ngon của tôi.
Hắn chỉ vừa lên xe với M.T… là Manông đã ôm chầm lấy tôi, hôn tôi, rồi phá lên cười. Nàng lặp lại nguyên xi với tôi những lời lẽ và đề nghị của hắn. Tóm lại là thế này: hắn tôn thờ nàng. Hắn muốn chia xẻ với nàng món tiền bốn chục nghìn livre, lợi tức mà hắn đã được hưởng, không kể những món khác mà hắn chờ được hưởng sau khi bố hắn chết. Nàng sẽ làm chủ trái tim của hắn, và để chứng tỏ tấm lòng của hắn, hắn sẵn sàng biếu nàng một cỗ xe ngựa, một khách sạn đầy đủ tiện nghi, một bà hầu phòng, ba tên đầy tớ và một người đầu bếp. Tôi nói với Manông:
“Đây là một thằng con hào phóng hơn thằng cha nó nhiều. Nhưng anh hỏi thật, em có bị những món quà hậu hĩ của hắn cám dỗ không đấy?”
“Em ấy à? – Rồi nàng trả lời bằng cách nhại mấy câu thơ của Racine [32] :
“Em ấy à? Anh lại nỡ nghi em đê tiện vậy
Em ấy à? Có thể nào em muốn còn nhìn thấy
Bộ mặt đê hèn của kẻ gian manh
Đã bắt em vào Nhà trừng giới, thưa anh!”
Không! Tôi đáp lại và cũng nhại tiếp mấy câu thơ:
Tôi khó tin rằng Nhà trừng giới
Lại là nét hấp dẫn mà Tình yêu khắc sâu
Trong tâm hồn người đẹp, thưa cô!
Rồi tôi nói tiếp:
“Nhưng mà một khách sạn đầy đủ tiện nghi với một cỗ xe ngựa và ba người hầu lại là một cái rất là hấp dẫn; còn tình yêu thì không có những thứ hấp dẫn như vậy đâu em ạ!”
Nàng thề thốt với tôi rằng trái tim nàng luôn luôn thuộc về tôi, rằng trái tim đó chỉ tiếp thu những nét hấp dẫn của tôi thôi. Nàng bảo tôi:
“Những lời hứa hẹn của hắn là một lời kích thích sự trả thù hơn là một nét hấp dẫn của tình yêu.”
Tôi hỏi nàng có ý định nhận cái khách sạn và cỗ xe ngựa không? Nàng trả lời rằng chỉ muốn túi tiền của hắn thôi. Khó khăn là ở chỗ có được cái này mà không phải nhận cái kia. Chúng tôi quyết định phải chờ G.M... giải thích đầy đủ kế hoạch của hắn trong một bức thư mà hắn hứa sẽ gửi cho Manông. Hôm sau nàng nhận được bức thư đó do một tên người hầu của G.M... mang lại, tên này khéo léo tìm cơ hội nói chuyện riêng với Manông. Nàng bảo hắn chờ trả lời rồi đem ngay bức thư đó cho tôi. Chúng tôi cùng mở ra xem. Ngoài những lời lẽ yêu thương thông thường, bức thư nêu lên những chi tiết của lời hứa hẹn của người tình địch của tôi. Hắn tỏ ra không dè sẻn trong chi tiêu. Hắn hứa rằng khi nàng đến ở khách sạn, hắn sẽ trao cho nàng mười nghìn phơrăng, và để bù vào việc giảm nhiều trong món tiền trợ cấp này, nàng sẽ nhận được tiền mặt ngay. Ngày khánh thành không để lùi lại quá lâu: hắn chỉ xin nàng để cho hắn hai ngày chuẩn bị; hắn còn ghi tên đường và tên khách sạn, nơi hắn hứa sẽ chờ nàng vào chiều ngày thứ hai, nếu nàng có thể thoát khỏi tay tôi lúc đó, đây là điểm duy nhất mà hắn yêu cầu nàng giúp hắn gạt bỏ mối lo ngại; còn hình như hắn tin chắc mọi việc sẽ trôi chảy, nhưng hắn cũng nói thêm rằng nếu Manông thấy khó thoát khỏi tôi, thì hắn sẽ tìm cách giúp nàng thoát đi dễ dàng.
G.M... con này tỏ ra láu hơn thằng bố nó; hắn muốn nắm chắc con mồi trước khi xỉa tiền. Chúng tôi bàn với nhau về cách Manông nên đối phó thế nào. Tôi vẫn ra sức làm cho Manông từ bỏ cái mưu mô này và cố làm cho nàng hình dung tất cả những mối nguy hiểm, nhưng không có gì có thể lay chuyển quyết tâm của nàng. Nàng trả lời ngắn gọn cho G.M... đảm bảo với hắn, rằng nàng không có khó khăn gì để đi Paris đúng ngày hẹn và hắn có thể yên tâm chờ nàng. Sau đó, chúng tôi quyết định rằng tôi phải lập tức đi thuê một chỗ ở mới tại một ngôi làng nào đó về mạn bên kia Paris; rằng tôi sẽ mang theo món trang bị nhỏ nhoi của chúng tôi; rằng sau buổi trưa ngày hôm sau, tức là vào giờ hẹn của hắn, nàng sẽ đi Paris sớm, rồi sau khi nhận quà của G.M..., nàng sẽ yêu cầu hắn dẫn đi xem kịch, rằng nàng sẽ mang theo những gì nàng có thể mang theo được trong số tiền hắn trao, phần còn lại sẽ đưa cho thằng hầu. Người hầu này vẫn là người hầu đã cứu nàng khỏi Nhà trừng giới và đã tỏ ra rất mực trung thành với chúng tôi. Phần tôi thì phải thuê một cỗ xe ngựa đến chỗ đàn phố Xanh Ăngđơrê đê Ác [33] , để xe tại đó vào lúc bảy giờ tối, rồi lợi dụng bóng đêm, tiến đến cổng rạp kịch. Manông hứa với tôi rằng nàng sẽ viện ra lý do nào đó ra khỏi lô một lát để nhân đó ra gặp tôi. Phần còn lại thì dễ thôi. Chúng tôi sẽ đến gặp chiếc xe ngựa đã chờ sẵn và sẽ thoát ra khỏi Paris qua khu ngoại ô Xanh Ăngtoan là con đường dẫn chúng tôi đến chỗ ở mới.
Cái kế hoạch ngông cuồng đó, lúc bấy giờ đối với chúng tôi đã là ổn lắm rồi. Nhưng thực ra, về cơ bản, thực là khinh suất đến độ điên khùng khi nghĩ rằng dù cái mưu mô đó có thành công hoàn hảo đi nữa; chúng tôi khó có thể tránh được những hậu quả về sau. Tuy vậy, chúng tôi vẫn cứ lao vào với một niềm tin táo tợn. Manông ra đi cùng với Mácxen, người hầu của chúng tôi, tên gọi như vậy. Tôi đau khổ nhìn nàng ra đi. Tôi ôm hôn nàng rồi bảo:
“Manông, xin em đừng lừa dối anh, em có chung thủy với anh không?”
Nàng âu yếm trách tôi là đã không tin nàng và nhắc lại những lời thề thốt với tôi. Nàng dự định đến Paris vào quãng ba giờ chiều. Tôi ra đi sau nàng. Trong phần còn lại của buổi chiều, tôi sốt ruột ngồi chờ ở quán cà phê Ferê gần cầu Xanh Misen cho đến tối. Tôi ra khỏi quán cà phê, thuê một cỗ xe ngựa mà theo đúng kế hoạch, tôi đưa đến chờ ở đầu phố Xanh Ăngđơrê đê Ác; sau đó tôi đi bộ đến trước cửa rạp kịch. Tôi ngạc nhiên không thấy Mácxen đáng lẽ phải chờ tôi ở đấy. Tôi kiên trì chờ ở đó một giờ. Cuối cùng, khi bảy giờ đã điểm mà không thấy xảy ra điều gì đúng như ý đồ của chúng tôi, tôi vào rạp kịch, mua một vé hạng thường để vào xem có Manông và G.M... ngồi ở hạng lô không. Cả hai đều không có ở đây. Tôi quay ra cổng rạp, chờ ở đó mười lăm phút nữa, hết sức sốt ruột và lo lắng. Không thấy gì xuất hiện, tôi đi đến chỗ xe ngựa đỗ mà không biết quyết định như thế nào. Trông thấy tôi, người đánh xe đi vài bước về phía tôi và với một về bí mật, anh ta nói với tôi rằng có một cô gái đẹp đang chờ tôi từ hơn một giờ nay ở trong xe, rằng cô ta đã hỏi tôi theo những dấu hiệu mà anh ta nhận ra ngay và rằng sau khi biết được tôi sẽ trở lại, cô ta nói cô ta sẽ kiên trì chờ tôi. Tôi tưởng ngay rằng đó là Manông. Tôi tiến lại gần, nhưng trông thấy một khuôn mặt nhỏ nhắn, đẹp nhưng không phải là của nàng. Đó là một cô gái lạ, thoạt tiên cô ta hỏi tôi rằng có phải cô có vinh dự hầu chuyện với ngài hiệp sĩ Griơ không? Tôi trả lời đó đúng là tên tôi. Cô ta bèn nói:
“Tôi có một lá thư để trao cho ông, thư ấy sẽ nói cho ông biết lý do khiến tôi đến đây và mối quan hệ thế nào trong việc tôi có hân hạnh được biết tên ông.”
Tôi yêu cầu cô ta để cho tôi có thì giờ đọc thư trong một quán rượu gần đó. Cô ta muốn đi theo tôi và khuyên tôi nên chọn một phòng riêng. Vừa đi, tôi vừa hỏi cô ta: “Thư của ai thế?” Cô ta trao lá thư cho tôi. Tôi nhận ra nét chữ của Manông. Sau đây là đại để những điều nàng viết cho tôi: G.M... đã đón nàng với một vẻ lịch sự, hào hoa phong nhã vượt quá sự tưởng tượng của nàng. Hắn đã tặng nàng vô khối quà cáp và đã làm cho nàng nghĩ đến số phận của một bà hoàng. Tuy nhiên, nàng đảm bảo với tôi rằng trong cảnh huy hoàng đó, nàng vẫn không quên tôi; nhưng rằng do vì G.M.. tối nay không chịu đi xem kịch nên nàng hoãn niềm vui được gặp lại tôi vào ngày khác; và rằng để an ủi tôi đôi chút về nỗi phiền muộn mà nàng thấy trước là cái tin này có thể gây ra cho tôi, nàng đã tìm ra cách đem đến cho tôi một trong những cô gái đẹp nhất của Paris, là cô gái mang bức thư đến. Bên dưới ký tên: “Manông Lexcô, người yêu chung thủy của anh”.
Trong bức thư đó có một cái gì tàn ác và nhục mạ đối với tôi đến nỗi trong một lúc lâu, vừa căm giận vừa đau khổ, tôi cố gắng để có thể mãi mãi quên đi người tình bội bạc đó. Tôi nhìn lại cô gái đang đứng trước mặt tôi: cô ta rất xinh và tôi đã mong rằng cô ta đủ xinh đẹp để cho tôi cũng có thể đến lượt mình bội bạc. Nhưng tôi nào có tìm được ở cô ta đôi mắt nhung đượm buồn, cái dáng dấp tuyệt trần, cái nước da ngọc ngà mà Thần Ái Tình đã vẽ nên, tóm lại là cái kho tàng vô tận những nét quyến rũ mà Tạo hóa đã hào phóng ban cho nàng Manông hiểm ác. Tôi thôi không nhìn cô ta nữa, mà nói với cô ta:
“Không đâu! Người đàn bà bội bạc đã phái cô đến đây biết rõ rằng bà ta đã sai cô làm một việc vô ích. Cô hãy trở về gặp bà ấy và nói lại với bà ấy rằng tôi nhắn với bà ấy cứ việc vui hưởng tội ác của bà ta, và nếu có thể, thì cứ hưởng mà không hối hận gì. Tôi từ bỏ bà ta và đồng thời cũng từ bỏ tất cả phụ nữ, những người phụ nữ không thể nào dễ thương bằng bà ấy nhưng lại cũng đê hèn và bội bạc như bà ấy.”
Tôi sắp sửa bước xuống xe và ra về, không nhắn gì hơn với Manông nữa. Trong tôi, nỗi ghen tuông chết người đã biến dạng thành một thứ cảm giác thanh thản u ám, nặng nề đến nỗi tôi đã tưởng mình lành được bệnh “yêu đương” và không còn có những xúc động mãnh liệt mà tôi thường trải qua trong những trường hợp tương tự. Than ôi! Tôi đã bị tình yêu đánh lừa cũng như bị G.M... và Manông đánh lừa.
Cô gái đã mang thư đến, thấy tôi sắp sửa xuống cầu thang, bèn hỏi tôi rằng có muốn cô ta thưa lại với ông G.M... và tiểu thư cũng ở với ông ta điều gì không? Tôi trở vào phòng khi nghe câu hỏi đó, và trải qua một sự thay đổi mà những ai chưa từng biết đến những đắm say mãnh liệt không thể tưởng tượng nổi; đột nhiên, từ trạng thái bình thản tôi run lên vì một cơn giận khủng khiếp. Tôi bảo cô ta:
“Cô cút đi và về nói lại với thằng phản bội M.G… và con tình nhân hiểm độc của hắn nỗi tuyệt vọng mà bức thư đáng nguyền rủa của cô mang lại đã dây tôi vào, nhưng cô cần nhắc cho chúng chớ có cười lâu, tôi sẽ tự tay đâm chết cả hai.”
Tôi ngồi phịch xuống một chiếc ghế tựa. Mũ tôi rơi một bên, cái can của tôi rơi một bên khác. Từ mắt tôi, hai dòng lệ tuôn tầm tã. Nỗi căm giận điên khùng của tôi biến thành một niềm đau khổ sâu sắc; tôi chỉ còn ngồi khóc và thở than rên rỉ. Tôi gần như thét lên với cô gái:
“Lại gần tôi đi, cô em! Lại gần đi bởi vì người ta đã phái cô em lại đây để an ủi tôi. Cô có biết những lời nào có thể an ủi nỗi điên cuồng và tuyệt vọng, an ủi nỗi khát khao muốn chết sau khi đã giết chết hai đứa đê hèn phản bội không đáng sống kia không?” Khi thấy cô ta rụt rè bước vài bước lại gần tôi, tôi nói tiếp:
“Được, cô em hãy tiến lại gần tôi đi! Lại lau khô nước mắt cho anh đi, lại đây để đem lại yên tĩnh trong tim anh, lại đây để nói rằng em yêu anh để anh có thể quen với việc được một cô gái không phải là người tình bội bạc của anh yêu anh. Em xinh lắm, có thể đến lượt anh, anh sẽ yêu em!”
Cô gái tội nghiệp ấy, mới vào khoảng mười sáu hoặc mười bảy, có vẻ bẽn lẽn hơn những cô gái cùng nghề, tỏ ra hết sức ngạc nhiên trước cái cảnh kỳ quái mà cô chứng kiến. Tuy nhiên, cô ta cùng lại gần tôi và vuốt ve tôi vài cái, nhưng tôi đã đẩy cô ta ra ngay và thốt lên:
“Cô muốn làm gì tôi thế hả? Hà! Cô cùng chỉ là một con đàn bà, một kẻ thuộc về một giới mà tôi căm ghét và không chịu đựng được. Vẻ dịu dàng trên nét mặt của cô lại đe dọa sẽ phản bội tôi thôi! Cô hãy cút đi và để tôi một mình ở đây!”
Cô ta rạp mình chào tôi, không dám nói gì, quay người lại để bước ra. Tôi kêu lên, bảo cô ta dừng lại. Tôi bảo:
“Nhưng ít nhất cô cũng cho tôi biết vì sao, cách nào, với ý đồ gì mà cô được phái đến đây chứ? Làm sao cô lại biết tên tôi và địa điểm để đến gặp tôi?”
Cô ta cho biết là cô đã biết G.M... từ lâu, rằng hắn đã cho người hầu đến tìm cô lúc năm giờ chiều, và cô đã đi theo người hầu đến một ngôi nhà lớn, tại đây cô thấy G.M... đang chơi bài với một bà xinh đẹp và cả hai người đã sai cô ta mang lá thư đến cho tôi, sau khi đã nói cho cô ta biết là tôi ở trong một chiếc xe ngựa đỗ ở đầu phố Xanh Ăngđơrê. Tôi hỏi thêm cô ta rằng hai người còn nói gì nữa không, thì cô ta đỏ mặt và đáp rằng họ hy vọng tôi có thể giữ cô ta lại để cùng vui chơi. Tôi nói với cô gái:
“Người ta đã lừa tôi rồi, cô em tội nghiệp! Cô bị lừa rồi! Cô là một phụ nữ, cô cần một người đàn ông, nhưng đó phải là một người giàu có và sung sướng, ở đây cô không thể tìm thấy con người ấy đâu! Cô hãy quay về, quay về với G.M... Hắn có đủ mọi cái để được các người đẹp yêu thích, hắn có khách sạn đủ tiện nghi, có xe, có đầy tớ để làm quà. Còn tôi, tôi chỉ có tình yêu và lòng chung thủy, phụ nữ khinh tôi, và đem sự ngây thơ chân chất của tôi ra làm trò đùa.”
Tôi còn nói thêm hàng nghìn lời hoặc buồn thương, hoặc giận dữ, tùy theo tình cảm mỗi lúc của tôi khi thì căm giận, khi thì đau thương. Tuy nhiên, do quá đau khổ day dứt, những tình cảm của tôi dần dần lắng xuống, nhường chỗ cho một vài suy nghĩ. Tôi so sánh cái tai họa cuối cùng này với những tai họa khác cũng giống như thế mà tôi đã trải qua và tôi thấy nó cũng không có gì đáng tuyệt vọng hơn những tai họa trước. Tôi đã biết tính nết của Manông, tại sao lại phiền muộn đến thế vì một tai họa mà tôi phải thấy trước. Tại sao tôi lại không dành sức lực để tìm một phương thuốc cứu chữa, vẫn còn kịp. Ít nhất tôi phải cố gắng hết sức để làm việc đó, nếu tôi không muốn tự trách mình là do mình hờ hững mà lại góp phần làm cho mình khổ sở. Từ đó tôi suy nghĩ cân nhắc tất cả các phương sách có thể mở cho tôi một con đường đi đến hy vọng.
Tìm cách dùng bạo lực để đoạt lại Manông từ tay G.M... là quyết định tuyệt vọng, chắc là làm cho tôi lâm nguy và không có vẻ gì có thể thành công. Nhưng tôi thấy nếu như tôi có thể ít nhất gặp lại Manông thì nhất định tôi có thể tranh thủ một cái gì đó trong trái tim nàng. Tôi biết rất rõ những rung động của tim nàng. Tôi chắc rằng tôi được nàng yêu: Ngay cả cái việc kỳ quái là phái một cô gái đẹp đến để an ủi tôi, tôi cũng đoán chắc đó là do sáng kiến của nàng, là do nàng thương hại những nỗi đau của tôi. Tôi quyết định dùng mọi thủ đoạn để gặp lại nàng. Trong vô khối những biện pháp mà tôi xem xét cái này sau cái khác, tôi chọn biện pháp sau đây.
M.T... đã bắt đầu giúp tôi với bao nhiêu trìu mến để tôi không thể nghi ngờ gì sự thành thật và nhiệt tình của cậu ấy. Tôi quyết định đến gặp cậu ấy ngay và xin cậu ấy cho đi gọi G.M... với lý do có công chuyện quan trọng. Tôi chỉ cần có nửa giờ để nói chuyện với Manông. Ý đồ của tôi là lọt hẳn vào phòng của nàng và tôi nghĩ sẽ dễ dàng làm việc đó khi G.M... vắng mặt.
Quyết định đó làm cho tôi bình tĩnh lại. Tôi trả cho cô gái một món tiền hậu hĩ vì cô ấy vẫn còn ở lại với tôi, và để làm cho cô ta không còn muốn quay trở lại nơi người ta đã phái cô đi, tôi ghi lại địa chỉ của cô ta và hứa sẽ đến ngủ với cô ta trong đêm ấy. Tôi lên xe ngựa bảo phi nhanh đến nhà M.T... Tôi sung sướng thấy cậu ấy ở nhà, dọc đường tôi cứ sợ cậu ấy đi vắng, một đôi câu đã làm cho cậu ấy biết được những đau khổ của tôi và sự giúp đỡ mà tôi nhờ và cậu ấy. Cậu ấy hết sức ngạc nhiên khi được biết G.M... có thể quyến rũ được Manông và vì không biết rằng bản thân tôi cũng góp phần gây nên tai họa cho tôi, cậu ấy hào hiệp đề nghị để cho cậu ấy tập họp tất cả bạn bè, sử dụng sức mạnh và tay kiếm của họ để giải thoát Manông. Tôi làm cho cậu ấy hiểu rằng một việc vang dội như vậy có thể có hại cho Manông và cho tôi. Tôi nói với cậu ấy:
“Chúng ta hãy dùng máu của chúng ta cho lúc cùng cực. Tôi đã nghĩ ra một cách nhẹ nhàng hơn mà tôi hy vọng sẽ thành công.”
M.T... hứa làm tất cả những gì tôi yêu cầu và sau khi nghe tôi nhắc lại rằng cậu ấy chỉ cần báo cho G.M... biết rằng cậu ấy cần gặp hắn và giữ hắn ở ngoài một hoặc hai giờ là đủ; cậu ấy ra đi với tôi ngay.
Chúng tôi bàn với nhau dùng phương sách gì để cậu ấy có thể giữ G.M... ở ngoài nhà lâu như vậy. Tôi khuyên cậu ấy trước hết nên viết cho hắn mấy chữ, ghi ngày tháng tại một quán rượu và hẹn G.M... đến ngay quán rượu đó vì một việc hết sức quan trọng không thể trì hoãn được. Tôi nói thêm:
“Tôi sẽ quan sát lúc ra đi và tôi sẽ dễ dàng len vào nhà hắn vì chỉ có Manông và Mácxen là thằng hầu của tôi biết mặt tôi thôi. Phần anh, trong lúc đó đang ngồi với G.M..., anh cứ nói hắn rằng cái việc quan trọng mà anh cần gặp hắn là việc anh cần tiền, rằng anh đã vừa thua bạc hết sạch mà còn đánh chịu một số tiền lớn và cũng thua nốt. Như vậy hắn cần có thời giờ để dẫn anh đến két bạc của hắn, còn tôi thì có thời gian để thực hiện ý đồ của tôi.
M.T... đã thực hiện đúng từng chi tiết sự dàn xếp đó. Tôi để cậu ấy ngồi lại trong quán rượu, nơi cậu ấy viết ngay một lá thư. Tôi thì đến đứng cách nhà Manông vài bước. Tôi thấy người mang thư cho G.M... đến, rồi một lát sau G.M.. đi bộ ra khỏi nhà, có một người hầu cùng đi. Để cho hắn đi khỏi một quãng xa, tôi tiến đến nhà của người tình bạc bẽo của tôi, và mặc dù rất tức giận, tôi đã kính cẩn gõ cửa như gõ cửa một ngôi đền. May sao chính Mácxen mở cửa cho tôi. Tôi ra hiệu cho hắn im lặng. Tuy không có gì phải sợ những đầy tớ khác, tôi vẫn hỏi thầm hắn rằng hắn có thể dẫn tôi đến phòng cô Manông mà không để ai trông thấy không? Hắn trả lời rằng việc đó dễ dàng nếu leo nhẹ nhàng cầu thang chính. Tôi bảo hắn:
“Thế thì đi nhanh lên và trong khi ta ở trong phòng của cô Manông thì chú cố ngăn không cho người nào lên đây.”
Tôi lọt vào phòng nàng không gặp khó khăn gì. Manông đang bận đọc sách. Chính ở đây mà tôi có dịp thán phục cái tính chất của người con gái kỳ lạ này.
Nàng không hề tỏ ra sợ hãi hay rụt rè khi trông thấy tôi; nàng chỉ tỏ ra hơi ngạc nhiên, sự ngạc nhiên mà người ta không kiềm chế được khi trông thấy một người mà ta tưởng là ở xa. Nàng bảo tôi:
“A! Anh đấy à, anh yêu? – Rồi đến ôm hôn tôi nồng nàn như thường lệ. – Lạy Chúa! Anh bạo gan thật đấy! Ai có thể ngờ anh đến đây, trong hôm nay, ở chốn này!”
Tôi gỡ tay nàng ra, không đáp lại những cái vuốt ve mơn trớn của nàng, đẩy nàng ra một cách khinh bỉ rồi lùi lại vài bước để đứng xa nàng. Cử chỉ đó không khỏi làm nàng chưng hửng. Nàng cứ đứng nguyên như vậy nhìn tôi, sắc mặt thì thay đổi. Thực tình, tôi rất sung sướng được gặp lại nàng cho đến nỗi, dù có những lý do xác đáng để nổi giận, tôi không còn đủ sức để mở miệng gây gổ với nàng. Tuy nhiên, trái tim tôi chảy máu vì sự xúc phạm tàn nhẫn của nàng đối với tôi. Tôi cố nhớ lại sự xúc phạm đó và cố sao cho trong đôi mắt tôi ánh lên thứ ánh lửa khác hơn là thứ ánh lửa yêu đương. Vì tôi đứng lặng thinh trong một lúc và nàng thấy sự rung động của tôi, nàng run lên, chắc là do sợ hãi. Tôi không thể nào chịu đựng nổi quang cảnh đó. Tôi nói với nàng bằng một giọng trìu mến:
“A! Manông, Manông bội bạc! Anh biết bắt đầu than thân trách phận từ đâu bây giờ? Anh thấy em tái mặt đi và run rẩy, và anh còn nhạy cảm với bất cứ một nỗi khổ nhỏ nhặt nào của em đến nỗi anh không muốn làm em phiền muộn bằng những lời trách cứ của anh. Nhưng Manông ơi! Anh xin nói với em rằng anh đã đau khổ xiết bao vì sự phản bội của em! Đó là những ngón đòn không bao giờ người ta đánh vào người mình yêu, trừ phi muốn cho người yêu của mình chết đi. Đây là lần thứ ba, Manông anh đã đếm kỹ, khó mà có thể quên được. Ngay bây giờ đây, tự em phải quyết định là em sẽ theo bề nào, bởi vì trái tim buồn khổ của anh không còn chịu đựng nổi một sự thử thách tàn nhẫn đến thế được nữa. Anh thấy rõ trái tim anh sắp vỡ ra vì đau khổ. Anh không còn có thể chịu đựng được nữa rồi! – Tôi nói thêm và ngồi phịch xuống một cái ghế. – Anh không còn đủ sức nói và đứng vững nữa rồi!”
Nàng không đáp lại tôi nhưng khi thấy tôi ngồi xuống, nàng quỳ xuống gục đầu vào gối tôi, úp mặt vào tay tôi. Trong một lát, tôi cảm thấy bàn tay tôi đẫm nước mắt nàng. Lạy Chúa Trời! Lòng con sao mà xao động đến thế! Tôi rút ra một tiếng thở dài rồi nói:
“A! Manông, Manông! Em có khóc than thì cũng đã muộn rồi khi em muốn cho anh chết vì đau khổ. Em chỉ giả vờ buồn khổ đấy thôi. Nỗi khổ lớn nhất của em chắc hẳn là sự có mặt của anh ở đây, sự có mặt vẫn luôn luôn cản trở em vui hưởng lạc thú đó mà. Em hãy mở mắt ra mà nhìn đi, hãy nhìn cho rõ anh là ai đi, người ta không thể để rơi những giọt nước mắt thương cảm đến như vậy vì một con người khốn khổ mà người ta đã phản bội và bỏ rơi một cách tàn nhẫn đâu!”
Manông cứ quỳ nguyên như thế mà hôn tay tôi. Tôi lại nói:
“Này hỡi Manông thay lòng đổi dạ, Manông bội bạc và không chút lòng tin, nào đâu là những lời thề thốt, ước hẹn của em? Này hỡi người yêu không kiên trinh, không chung thủy và tàn nhẫn của anh, em đã làm gì với mối tình mà hôm nay em còn thề thốt? Trời ơi! Có thể nào sau khi đã nặng lời hứa hẹn thủy chung, người tình lại chế giễu ta như vậy? Thế ra kẻ phản bội lại được đền bù, còn người kiên trinh chung thủy thì bị bỏ rơi và tuyệt vọng!
Vừa nói những lời trên đây, tôi vừa đắng cay nghĩ đến mối tình bị phụ bạc và dù không muốn, tôi vẫn cứ để rơi một vài giọt lệ. Qua giọng nói thay đổi của tôi, Manông thấy được tâm trạng của tôi. Cuối cùng, nàng mới cất tiếng. Nàng buồn bã nói:
“Chắc em là kẻ đã phạm tội bởi vì em đã gây ra cho anh bao nhiêu đau khổ và xúc động như vậy, nhưng xin Chúa hãy trừng phạt em nếu như em biết là mình phạm tội hoặc là em có ý nghĩ phạm vào cái tội mà anh đã gán cho em.”
Những lời lẽ đó của nàng đối với tôi vô nghĩa và vô luân đến nỗi tôi không thể kìm nổi cơn tức giận đến điên người. Tôi rít lên:
“Một sự giả dối kinh tởm! Hơn bao giờ hết, tao chỉ thấy mày là một con vô lại và hiểm độc! Đến bây giờ tao mới thấy rõ tính chất khốn nạn của mày. Vĩnh biệt! – Tôi nói tiếp rồi đứng dậy. – Vĩnh biệt con người đốn mạt; tao thà chết đi một nghìn lần còn hơn là còn liên hệ với mày. Cầu Chúa hãy trừng phạt tao nếu tao còn thèm nhìn đến mày! Mày hãy sống với thằng tình nhân mới của mày đi, hãy yêu nó đi, hãy ghét tao đi, hãy từ bỏ danh dự, lương tri đi, tao cần đếch gì, tất cả bây giờ đối với tao cũng vậy thôi!”
Manông kinh hãi trước cơn nóng giận đó của tôi đến mức nàng vẫn quỳ bên cạnh chiếc ghế tựa mà tôi vừa đứng lên, nàng nhìn tôi, run bần bật và không dám thở nữa. Tôi bước vài bước về phía cửa, và quay đầu lại, tôi chăm chú nhìn nàng. Nhưng phải là con người đã mất cả tính người mới có thể không xúc động trước bao nhiêu những nét say đắm lòng người đến như vậy. Tôi không phải là con người sắt đá đến như vậy và từ thái cực này tôi sang thái cực kia, tôi quay về phía nàng, hay đúng hơn, tôi đâm bổ vào nàng mà không suy nghĩ gì cả. Tôi ôm lấy nàng, hôn nàng thắm thiết. Tôi xin lỗi nàng về sự nóng giận của tôi. Tôi thừa nhận rằng tôi là con người thô bạo và không xứng đáng được một người con gái như nàng yêu. Tôi bắt nàng ngồi xuống và đến lượt tôi quỳ xuống bên nàng, tôi xin nàng cứ thế mà nghe tôi nói. Và cứ thế, tất cả những gì kính yêu và âu yếm mà một người tình vâng phục và đắm say có thể nghĩ ra để xin lỗi người yêu, tôi đã tóm gọn trong mấy lời. Tôi xin nàng nói mấy lời tha tội cho tôi. Nàng choàng hai tay lên cổ tôi rồi nói rằng chính nàng mới cần đến lòng độ lượng của tôi để làm cho tôi quên đi những nỗi phiền muộn mà nàng đã gây ra cho tôi, và nàng bắt đầu tỏ ra lo ngại rằng tôi sẽ không thích nghe những lời nàng sắp nói để tự bào chữa cho mình. Tôi cắt ngay lời nàng .
“Anh ấy ư? A! Nào anh có đòi em tự bào chữa đâu kia chứ? Anh tán thành tất cả những gì em đã làm. Anh đâu có quyền đòi em phải giải thích cho anh hành vi của em. Nếu Manông thân yêu của anh vẫn còn chưa gạt anh ra khỏi trái tim em thì anh đã quá hài lòng, quá sung sướng rồi. Nhưng hỡi Manông đầy quyền lực, – Tôi vừa suy nghĩ về số phận của tôi vừa nói tiếp, – Em là người có thể tùy ý làm cho anh vui mừng hay đau khổ; sau khi anh đã hạ mình bày tỏ với em niềm hối hận của anh, em có thể cho phép anh nói với em về nỗi buồn và nỗi khổ của anh không? Em có thể nói cho anh biết rằng ngày hôm nay đây anh phải sẽ ra sao đây, rằng em có nỡ nhẫn tâm ký bản án tử hình của anh đêm nay khi em đi ngủ với người tình địch của anh không?”
Nàng ngẫm nghĩ một lát rồi trả lời tôi với vẻ bình thản:
“Này chàng hiệp sĩ của em, nếu như từ đầu anh đã nói ra như thế thì tránh được cho anh sự rối trí và cho em một cảnh đáng buồn. Anh đau khổ chỉ vì anh ghen tuông, nên em có thể chữa căn bệnh của anh bằng cách xin đi theo anh đến cùng trời cuối đất ngay bây giờ. Nhưng em lại nghĩ, rằng chắc lá thư mà em đã viết cho anh dưới mắt của G.M... và người con gái mà chúng tôi phái đến cho anh đã làm cho anh buồn phiền. Em nghĩ rằng anh có thể xem bức thư của em như là lời chế giễu anh, và cô gái mà anh tưởng đến tìm anh là do em phái đến là lời nhắn gợi rằng em từ bỏ anh để gắn bó với G.M... chứ gì? Chính ý nghĩ đó đã làm em đột nhiên kinh hoàng bởi vì dù em vô tội khi nghĩ đến điều đó, em thấy mình tình ngay lí gian. Nhưng em mong anh hãy phán xét sau khi em đã giải thích sự thật cho anh.”
Thế rồi nàng đã thuật lại cho tôi tất cả những gì đã xảy ra từ khi nàng đến gặp G.M... đang chờ nàng ở chính ngôi nhà mà chúng tôi đang ngồi tại đây lúc bảy giờ. Hắn qua đã tiếp đón nàng như tiếp đón một bà hoàng đẹp nhất thế giới. Hắn đã đưa nàng đi xem tất cả những gian phòng trang trí rất thanh nhã và sạch như lau như li. Trong phòng giấy của hắn, hắn đã đếm cho nàng mười nghìn livre và còn thêm vào đó một số đồ trang sức, trong đó có sợi dây chuyền và những chiếc vòng ngọc trai mà nàng đã từng lấy được của cha hắn dạo nào. Hắn đã đưa nàng đến một phòng khách mà nàng chưa đến, tại đấy đã bày sẵn một bữa tiệc nhẹ ngon lành. Phục dịch cho nàng là những tên đầy tớ hắn mới thuê riêng cho nàng và hắn ra lệnh cho bọn chúng từ nay phải xem nàng như bà chủ. Cuối cùng, hắn dẫn nàng đi xem cỗ xe ngựa, bầy ngựa và những món quà khác, sau đó, sau đó, hắn đề nghị chơi bài để chờ bữa ăn tối.
Nàng nói tiếp:
“Thú thật là em cũng bị ngợp trước cái cảnh huy hoàng đó. Em nghĩ rằng nếu một lúc chúng ta đột nhiên bỏ mất đi bao nhiêu tài sản như vậy, nếu em chỉ mang theo mình mười nghìn phơrăng và đồ nữ trang thì uổng quá, đó là cả một gia sản dành sẵn cho anh và cho em, và chúng ta có thể bám vào G.M... mà sống một cách đàng hoàng thay vì đề nghị với hắn đi xem kịch, em cứ suy tính làm thế nào để thăm dò hắn về anh, để xem chúng ta có thể dễ dàng gặp nhau không, trong trường hợp phải thực hiện kế hoạch của em. Em thấy hắn cũng khá dễ tính. Hắn hỏi em nghĩ thế nào về anh và em có nuối tiếc gì không khi bỏ anh. Em nói với hắn rằng anh rất dễ thương, luôn luôn đối xử trung hậu với em, cho nên đương nhiên là em không thể thù ghét anh được. Hắn thừa nhận anh là con người đáng quý và hắn muốn được kết bạn với anh. Hắn muốn biết em nghĩ như thế nào về thái độ của anh trước việc ra đi của em, nhất là khi anh biết rằng em đã ở trong tay hắn. Em trả lời với hắn rằng tình yêu của chúng ta kéo dài đã lâu nên cũng nguội lạnh đi chút ít, rằng và lại anh cũng không thoải mái lắm và có thể anh không xem việc mất em là một tai họa lớn, bởi vì như vậy là anh đã cất được một gánh nặng đè trên vai anh. Em nói thêm rằng vì em tính chắc là anh sẽ hành động ôn hòa nên em đã không khó khăn gì khi nói với anh là em đi Paris vì có công chuyện và anh đã đồng ý, và vì anh cũng đi Paris, nên khi em rời anh, anh đã không tỏ ra lo lắng lắm. Hắn nói với em: “Nếu anh ta đã sẵn lòng chung sống với tôi thì tôi là người đầu tiên giúp đỡ và đối xử lịch sự với anh ta”. Em đảm bảo với hắn rằng theo tính chất của anh mà em biết rõ, em chắc rằng anh sẽ đáp lại hắn một cách trung thực, nhất là khi hắn có thể giúp anh trong công việc làm ăn là điều anh đang gặp khó khăn từ khi anh có chuyện rắc rối với gia đình. Hắn ta đã ngắt lời em để nói cho em rõ là hắn sẵn sàng giúp đỡ anh mọi việc tùy thuộc hắn! Và nếu như anh muốn chuyển sang một tình yêu khác thì hắn sẽ cung cấp cho anh một cô tình nhân đẹp mà hắn đã từ bỏ để gắn bó với em. Em đã hoan nghênh cái ý kiến đó để tránh mọi nghi ngờ của hắn và càng quyết tâm thực hiện kế hoạch của mình, em rất mong có thể tìm cách gì báo tin cho anh biết về cái kế hoạch đó vì em sợ rằng anh quá hốt hoảng khi không thấy em ở chỗ hẹn trước. Chính vì vậy mà em đã đề nghị với hắn phái người tình mới đó đến cho anh ngay trong tối nay, để em có cớ viết cho anh; em buộc phải dùng đến cái mẹo đó vì em không thể hy vọng hắn để cho em tự do lấy một lát. Hắn cười khi nghe đề nghị của em. Hắn gọi tên người hầu và hỏi tên này có thể tìm ra ngay người tình cũ của hắn không, sau đó hắn đã phái tên người hầu đi chỗ này chỗ kia để tìm cho ra cô tình nhân cũ đó. Hắn nghĩ rằng cô ta phải đến tìm anh ở Chaiô, nhưng em nói cho hắn biết rằng khi tạm biệt anh em đã hứa sẽ gặp lại ở rạp hát, hoặc nếu có lý do gì ngăn em không đến đó được, thì anh đã hứa là sẽ chờ em trong một chiếc xe ngựa đậu ở đầu đường Xanh Ăngđơrê, do đó, tốt nhất là phái người tình mới của anh đến đó, dù chỉ là để anh đỡ sốt ruột phải ngồi chờ suốt đêm. Em còn nói với hắn là nên viết cho anh mấy chữ để báo cho anh biết việc trao đổi nhân tình đó nếu không thì anh chẳng hiểu mô tê gì cả. Hắn đồng ý, nhưng em buộc phải viết trước mặt hắn, do đó em không dám giải thích quá lộ liễu trong thư. Đấy, mọi việc đã xảy ra như vậy đấy! Em không che giấu anh điều gì hết, cách xử sự của em cũng như ý đồ của em. Cô gái đến, em thấy cô ta đẹp và vì em chắc rằng việc em vắng mặt sẽ làm anh buồn khổ, nên em thật tình muốn cô ta giúp anh giải buồn trong chốc lát bởi vì sự thủy chung mà em mong đợi ở anh là sự thủy chung của trái tim kia. Em rất muốn phái Mácxen đến gặp anh, nhưng em không thể tìm một giây phút nào để có thể nói với hắn những điều em cần nói cho anh biết.”
Nàng kết thúc câu chuyện bằng việc cho tôi biết sự lúng túng của G.M... khi nhận được mảnh giấy của T.M... Nàng bảo tôi: “Hắn lưỡng lự khi phải tạm biệt em và hắn hứa với em là sẽ trở về sớm. Chính vì vậy mà em không khỏi lo ngại khi thấy anh ở đây và em đã ngạc nhiên khi anh đến”.
Tôi đã kiên trì nghe bài giảng đó của nàng. Tất nhiên là tôi tìm thấy trong đó vô khối những chỉ tiết tàn nhẫn và nhục nhã đối với tôi bởi vì ý đồ bội bạc của nàng rõ ràng đến nỗi nàng không thèm tìm cách che đậy. Nàng không thể mong G.M... để cho nàng yên ổn suốt đêm như một trinh nữ. Như vậy là nàng trù định ngủ lại đêm nay với hắn. Một lời thú nhận mới hay ho làm sao với một người yêu! Tuy nhiên tôi nghĩ rằng tôi cũng là nguyên nhân phần nào trong lỗi lầm của nàng bởi vì thoạt đầu tôi đã cho nàng biết những tình cảm của G.M... đối với nàng, rồi sau đó tôi lại mù quáng đồng ý tham gia vào cái kế hoạch táo tợn của nàng. Vả lại, do tính khí đặc biệt của tôi là có thể chuyển tình cảm từ cực này sang cực khác, tôi lại thấy cảm động vì tính chất ngây thơ của câu chuyện, vì cái cách hồn nhiên và cởi mở mà nàng kể lại, cho đến cả những tình tiết làm tôi bị sỉ nhục nhất. Tôi tự nhủ nàng đã phạm tội mà không có ác ý, nàng nhẹ dạ và khinh suất, nhưng lại ngay thẳng, thật thà. Thêm vào đó là tình yêu cũng đủ làm tôi nhắm mắt làm ngơ trước mọi tội lỗi của nàng. Tôi rất hài lòng vì ngay trong đêm nay có thể dành lại nàng từ tay người tình địch của tôi. Tuy nhiên tôi vẫn hỏi nàng: “Đêm nay, em định ngủ với ai?”
Cái câu hỏi đó mà tôi đặt ra với Manông một cách buồn buồn làm cho nàng lúng túng! Nàng ấp a ấp úng trả lời lí nhí. Tôi thấy thương hại sự khổ tâm của nàng, và cắt ngang câu chuyện, tôi tuyên bố thẳng với nàng là tôi mong nàng cùng đi với tôi ngay lúc ấy. Nàng đáp: “Em đồng ý thôi, nhưng như vậy là anh không tán thành kế hoạch của em sao?”. Tôi nói:
“Hà! Cho đến nay anh đã tán thành tất cả những gì em làm, thế còn chưa đủ sao?”
“Thế nào cơ? Chúng ta không mang theo cả cả món tiền mười nghìn phơrăng à? – Nàng hỏi lại. – Hắn đã tặng cho em, món tiền đó là của em!” Tôi khuyên nàng lên bỏ tất cả và nên lo làm việc chuồn cho nhanh, vì tôi đã ở đây hơn nửa giờ và tôi sợ G.M... trở về. Tuy nhiên, nàng van nài tha thiết, xin tôi đồng ý từ bỏ đi tay không, đến nỗi tôi nghĩ phải đền bù cho nàng cái gì sau khi đã được nàng thỏa mãn nhiều như vậy.
Trong khi chúng tôi chuẩn bị ra đi, tôi nghe có tiếng gõ ở cánh cửa mở ra đường phố. Tôi chắc rằng đó là G.M... trở về và trong cơn hoảng hốt khi nghĩ đến điều đó, tôi nói với Manông rằng nếu hắn thò mặt ra là hắn toi mạng với tôi ngay. Mà quả thật, tôi vẫn chưa hoàn toàn hết cơn bực tức để có thể tự kiềm chế khi trông thấy hắn. Mácxen đã làm cho tôi hết lo, cậu ta mang vào cho tôi một mảnh giấy người ta gửi cho tôi ở cửa. Bức thư đó là của M.T... Cậu ấy cho tôi biết rằng G.M... bận về nhà hắn để lấy tiền cho cậu ấy, nên nhân đó cậu ấy báo với tôi một ý nghĩ khá là thú vị: Cậu ấy cho rằng tôi có thể trả thù kẻ tình địch của tôi một cách kỳ thú nếu tôi có thể ăn bữa ăn tối của hắn, và ngay trong đêm nay, ngủ trong cái giường mà hắn định cùng ngủ với người yêu của tôi; rằng cậu ấy thấy điều này có thể thực hiện dễ dàng, nếu tôi tìm được ba hoặc bốn người có đủ quyết tâm bắt cóc hắn dọc đường và có đủ trung thực để giữ hắn lại cho đến sáng mai, rằng về phần mình, cậu ấy hứa sẽ sẵn sàng có những lý do để khi hắn trở lại, cầm chân hắn lại ít nhất một giờ.
Tôi trao mảnh thư đó lại cho Manông và nói cho nàng biết tôi đã dùng mưu kế nào để có thể tự do lọt được đến chỗ nàng. Nàng cho rằng sáng kiến của tôi và của M.T... là tuyệt vời. Chúng tôi cười thỏa thuê với nhau trong chốc lát. Nhưng khi tôi nói với Manông rằng cái sáng kiến của M.T... chỉ là trò bông lơn, tôi ngạc nhiên thấy nàng nghiêm chỉnh đề nghị tôi làm theo sáng kiến đó, một sáng kiến mà nàng thích thú. Tôi gặng hỏi nàng tôi biết đào đâu ra trong một lúc những người có thể chặn bắt G.M... và giam giữ hắn một cách chắc chắn, nhưng vô hiệu. Nàng bảo tôi rằng ít nhất thì cũng phải thử xem, bởi vì M.T... dám bảo với chúng tôi còn một giờ nữa G.M... mới trở lại, và để đáp lại những lời phản đối của tôi, nàng bảo tôi là một tên bạo chúa, rằng tôi không chút chiều ý nàng. Nàng thấy không có gì tuyệt hơn là cái kế hoạch đó. Nàng nhắc đi nhắc lại với tôi:
“Anh ăn tối với bộ đồ ăn của hắn, anh ngủ trong chăn đệm của hắn, rồi sáng sớm mai, anh cuỗm đi cả người tình, cả tiền của hắn. Anh trả thù được cả thằng bố lẫn thằng con!”
Tôi nhượng bộ nàng, tuy trong thâm tâm tôi linh cảm một tai họa tày trời. Tôi ra đi với ý đồ đề nghị hai hoặc ba người lính túc vệ mà Lexcô đã giúp tôi quen biết, lo việc bắt giữ G.M... Tôi chỉ tìm được một người ở nhà, nhưng đó là một người tháo vát, chỉ vừa mới biết rằng cần phải làm gì là đã dám báo với tôi rằng sẽ thành công. Anh ta chỉ xin tôi có mười pixtôn để thưởng công cho ba anh lính túc vệ khác mà anh ta định sử dụng và do anh ta đứng đầu. Tôi yêu cầu anh ta đừng để mất thời giờ. Chưa đầy mười lăm phút, anh ta đã tập hợp đầy đủ ba tay kia. Tôi chờ anh ta ở nhà anh ta và khi anh ta cùng với đồng bọn trở về, chính tôi đã dẫn anh ta đến một góc đường, nơi nhất thiết G.M... phải đi qua để về nhà của Manông. Tôi yêu cầu anh ta không được đối xử thô bạo với G.M..., nhưng phải giữ chặt hắn đến bảy giờ sáng, sao cho tôi được đảm bảo rằng hắn sẽ không thoát ra được. Anh ta nói với tôi rằng ý đồ của anh ta là đưa hắn về phòng của mình, buộc hắn phải cởi quần áo ra và lên giường của anh ta mà ngủ, còn anh ta và ba anh bạn kia thì sẽ thức suốt đêm để uống rượu và đánh bạc với nhau. Tôi ở lại với họ cho đến khi tôi thấy G.M... xuất hiện, rồi tôi lùi lại mấy bước, đến đứng trong một chỗ tối để chứng kiến cái màn kịch khá kỳ lạ này. Anh lính túc vệ, súng lục cầm tay, xáp lại sát G.M... và lịch sự giải thích cho hắn rõ là anh ta không muốn giết hắn, cũng chẳng muốn cướp tiền bạc của hắn, nhưng nếu hắn không chịu đi theo anh ta hoặc chỉ cần kêu lên một tiếng nhỏ thì lập tức anh ta sẽ bắn vỡ sọ ngay. Thấy anh ta có ba người lính yểm trợ và chắc là sợ mấy viên đạn súng lục, G.M... không kháng cự gì. Tôi thấy họ dẫn hắn đi như dẫn một con cừu.
Tôi quay về nhà Manông và để tránh mọi sự nghi ngờ của bọn đầy tớ, khi bước vào nhà, tôi nói với Manông rằng không phải đợi ông G.M... về ăn tối, rằng ông ấy bận công việc đột xuất, không đến được và đã cử tôi đến để cùng ăn tối với nàng là điều tôi xem là một vinh dự lớn vì được gần gũi một bà mệnh phụ đẹp đến như vậy. Manông đã khôn khéo giúp tôi đóng màn kịch nhỏ đó. Chúng tôi ngồi vào bàn ăn. Chúng tôi ngồi ăn một cách nghiêm chỉnh, trong khi bọn đầy tớ ở lại phục dịch chúng tôi. Cuối cùng, sau khi cho bọn gia nhân rút lui, chúng tôi đã trải qua một trong những đêm tuyệt vời nhất trong đời. Tôi bí mật ra lệnh cho Mácxen tìm một cỗ xe ngựa và hẹn xe đến chờ ở cổng trước sáu giờ sáng mai. Tôi giả vờ từ biệt Manông vào lúc nửa đêm, nhưng nhờ sự giúp đỡ của Mácxen, tôi nhẹ nhàng lẻn trở lại; rồi tôi chuẩn bị chiếm cái giường ngủ của G.M... như vừa chiếm cái bàn ăn của hắn.
Trong khi đó vị thần “xui xẻo” đang ra sức để hại chúng tôi. Chúng tôi say sưa chìm đắm trong hoan lạc, đâu có biết rằng một thanh gươm đang treo trên đầu chúng tôi. Sợi chỉ mong manh giữ thanh gươm đó sắp đứt đến nơi. Nhưng để hiểu rõ hơn những trường hợp đã đưa tai họa đến cho chúng tôi, cần làm sáng tỏ nguyên nhân.
Số là G.M... có một thằng người hầu đi theo khi hắn bị người lính túc vệ bắt giữ. Thằng hầu này, hoảng sợ trước cơ sự của ông chủ hắn, đã bỏ chạy thục mạng và công việc đầu tiên hắn làm để cứu chủ là đi báo cho lão G.M... già biết những gì vừa xảy ra. Một cái tin dữ như vậy không khỏi làm cho lão hoảng hốt, lão chỉ có hắn là con trai và so với tuổi của lão, lão này còn linh lợi cực kỳ. Thoạt tiên, lão bắt thằng người hầu báo cho lão biết trong suốt buổi chiều hôm đó, thằng con lão đã làm những gì, hắn có gây chuyện với người này, sinh sự với người khác không. Tên người hầu, vốn nghĩ rằng ông chủ của hắn đang bị nguy hiểm chết người và không nên giấu giếm điều gì để tìm cách cứu chủ, đã nói tất cả những gì hắn biết về tình yêu của chủ hắn với Manông, những chi tiêu của chủ hắn cho nàng, về cung cách mà chủ hắn đã trải qua buổi chiều, ở nhà cho đến chín giờ tối, việc chủ hắn ra đi và tai họa lúc trở về. Chừng đấy cũng đủ cho lão già nghĩ rằng việc của thằng con lão là một vụ xung đột vì tình. Dù lúc đó đã hơn mười giờ rưỡi tối, lão quyết định lập tức đi gặp cảnh sát trưởng. Lão yêu cầu ông này ra lệnh đặc biệt cho tất cả những tiểu đội tuần phòng, còn lão thì xin riêng một tiểu đội để hộ tống lão, rồi lão chạy ngay đến chỗ đường phố, nơi con lão bị bắt cóc. Lão đi xem xét tất cả những ngõ ngách trong thành phố, những nơi lão hy vọng có thể tìm thấy thằng con, nhưng vì không tìm ra dấu vết gì, cuối cùng lão bắt đưa lão đến ngôi nhà của người yêu của con lão, nơi mà lão nghĩ rằng con lão có thể đã trở về.
Tôi sắp sửa lên giường ngủ thì lão đến. Cửa phòng ngủ đóng, tôi không nghe thấy tiếng gõ cánh cổng mở ra đường; lão bước vào, có hai tên cảnh sát cùng đi. Sau khi dò hỏi nhưng vô hiệu tin tức về thằng con, lão nảy ra ý định tìm gặp người tình của con lão để may ra có thể tìm thấy ở nàng chút ánh sáng nào chăng. Lão leo lên phòng ngủ chúng tôi, vẫn có những tên cảnh sát đi theo. Chúng tôi đã sắp đi ngủ. Lão mở cửa và máu chúng tôi như đông lại khi nhìn thấy lão. Tôi bảo Manông: “Lạy chúa! Chính là lão G.M...”
Tôi vồ lấy thanh kiếm, nhưng khốn khổ thay nó lại vướng vào cái thắt lưng của tôi. Mấy tên cảnh sát trông thấy cử chỉ đó của tôi, lập tức xô lại và giật lấy thanh kiếm. Một người mặc sơ mi ngủ thì không thể nào chống cự được. Chúng chiếm lấy mọi thứ mà tôi có thể dùng để tự vệ.
Tuy bối rối trước quang cảnh đó, lão G.M... nhận ra tôi ngay. Lão còn nhận ra Manông dễ dàng hơn. Lão nghiêm sắc mặt nói với chúng tôi:
“Phải chăng đây là một ảo giác? Chẳng phải đây là hiệp sĩ Griơ và Manông Lexcô?”
Tôi điên lên vì tủi nhục và đau khổ nên chẳng thèm trả lời lão. Hình như trong giây lát, lão suy nghĩ lung lắm, rồi đột nhiên, lão nổi giận. Lão thét lên với tôi: “A! Thằng khốn kiếp, tao chắc rằng mày đã giết chết con tao rồi!” Lời chửi bới này làm tôi điên tiết. Tôi kiêu hãnh đáp lại:
“Này, thằng già gian ác kia nếu như tao cần giết một đứa nào trong gia đình của mày thì tao sẽ giết mày trước!” Lão bảo mấy tên cảnh sát:
“Hãy giữ lấy thằng này cho chặt. Hắn phải nói cho ta biết tin tức về thằng con ta, ta sẽ ra lệnh treo cổ hắn vào ngày mai nếu lát nữa hắn không nói cho ta biết hắn đã làm gì thằng con ta rồi.”
“Mày ra lệnh treo cổ tao ấy à? – Tôi đáp. – Đồ đê tiện! Chính những thằng vào loại như mày mới cần đưa lên giá treo cổ! Mày nên biết rằng tao thuộc một dòng máu cao thượng trong sạch hơn dòng máu của mày nhiều. Đúng, tao biết những gì đã xảy ra với thằng con của mày và nếu mày làm cho tao điên tiết thêm, tao sẽ ra lệnh cắt cổ nó trước ngày mai và sau đó đến lượt mày cùng chung một số phận!”
Tôi đã khinh suất thừa nhận rằng tôi biết thằng con lão ở đâu, nhưng vì quá nóng giận, tôi đã để lộ ra điều bí mật đó. Lão cho gọi năm, sáu tên cảnh sát đang đứng chờ ngoài cửa, ra lệnh cho bọn này bắt giữ tất cả tôi tớ trong nhà. Rồi lão quay ra nói với tôi bằng một giọng châm biếm:
“Hà! Thưa ông hiệp sĩ, ông nói rằng ông biết thằng con tôi ở đâu và ông sẽ ra lệnh cắt cổ nó, phải không? Ông hãy tin rằng chúng tôi sẽ lập lại trật tự.”
Tôi thấy ngay sai lầm mà tôi vừa mắc.
Lão tiến lại gần Manông đang ngồi khóc trên giường; lão nói với nàng đôi lời châm biếm nhẹ nhàng về sức mạnh quyến rũ của nàng đối với ca hai cha con lão và việc nàng đã biết cách sử dụng sức mạnh đó. Con quỷ già trác táng đó còn tỏ ra muốn sàm sỡ với nàng. Tôi hét lên:
“Mày không được động đến cô ấy! Không có gì thiêng liêng có thể cứu mày thoát khỏi tay tao đâu!”
Lão bước ra và để lại trong phòng ba tên cảnh sát; lão ra lệnh cho bọn này bắt chúng tôi mặc quần áo cho nhanh.
Tôi không biết ý đồ của lão đối với chúng tôi lúc đó ra sao. Có thể chúng tôi sẽ được tự do nếu chúng tôi nói cho lão biết con lão ở đâu chăng. Tôi vừa mặc quần áo vừa suy nghĩ phải chăng đó là phương sách tốt nhất. Nhưng nếu khi rời phòng chúng tôi, lão có ý định như vậy, thì khi quay lại, lão đã thay đổi ý kiến. Lão đã đi tra hỏi những tên đầy tớ của Manông mà bọn cảnh sát đã bắt giữ. Lão không moi được gì ở những tên đầy tớ mà thằng con lão đã tặng cho Manông, nhưng khi lão biết được rằng Mácxen đã phục vụ chúng tôi từ trước, lão quyết định bắt tên này phải khai bằng cách đe dọa cho hắn sợ. Mácxen là một gã trung thành nhưng giản đơn và thô lỗ. Việc nhớ lại những việc làm của hắn ở Nhà trừng giới để giải thoát Manông cộng với nỗi khiếp sợ mà lão G.M... đã gây ra cho hắn, đã tác động mạnh mẽ đến đầu óc non nớt của hắn, đến mức hắn tưởng người ta sẽ đưa hắn đi treo cổ hay xử nhục hình bánh xe [34] . Hắn hứa sẽ khai hết ra những điều hắn biết nếu người ta để hắn sống. Từ đó, lão G.M... tin chắc rằng trong vụ này của chúng tôi, còn có cái gì đó nghiêm trọng hơn, tội lỗi hơn những gì lão nghĩ cho đến lúc đó. Lão hứa với Mácxen không những tha tội chết cho hắn mà còn ban thưởng cho hắn nếu hắn khai hết.
Tên hầu khốn kiếp đó đã cho lão biết một phần mưu đồ của chúng tôi, mưu đồ mà chúng tôi từng thảo luận công khai trước mặt hắn vì hắn cũng có phần tham gia trong đó. Đúng là hắn hoàn toàn không biết gì những thay đổi trong kế hoạch mà chúng tôi đã quyết định khi đến Paris, nhưng khi ra đi từ Chaiô, hắn đã biết được những nét lớn của kế hoạch và về vai trò của hắn. Do đó hắn khai với lão ý đồ của chúng tôi là đánh lừa con lão, và Manông thì tính toán nhận, hoặc là đã nhận được rồi, mười nghìn phơrăng mà theo dự án của chúng tôi, sẽ chẳng bao giờ trở về với những kẻ thừa kế của dòng họ G.M...
Sau sự khám phá đó, lão già nổi giận, đột nhiên trở lên phòng chúng tôi. Lão bước sang phòng làm việc, tại đây lão không khó khăn gì tìm thấy món tiền và đồ nữ trang. Lão trở lại phòng chúng tôi, nét mặt hầm hầm, và giơ ra cho chúng tôi thấy cái mà lão gọi là đồ ăn cắp, lão chửi mắng chúng tôi thậm tệ. Lão dí sát vào Manông sợi dây chuyền ngọc trai cùng những chiếc vòng rồi với một nụ cười mỉa mai, lão nói với nàng:
“Cô có nhận ra những thứ này không? Không phải là lần đầu cô thấy những thứ đó. Đều là một thôi mà! Người đẹp ơi, chắc là cô thích những thứ ấy lắm nhỉ? Ta thấy rõ điều đó chẳng khó khăn gì. Ôi, những đứa trẻ khốn khổ! – Lão nói thêm. – Quả thật cả hai đều dễ thương, nhưng chúng lại hơi bất lương!”
Trái tim tôi lại như muốn vỡ ra vì những lời lẽ lăng nhục đó. Để có thể tự do trong chốc lát, tôi sẵn sàng hy sinh... Lạy chúa! Còn cái gì mà tôi không chịu hy sinh! Cuối cùng cố kìm mình lại, tôi từ tốn nói với lão ta – sự từ tốn này chỉ là cơn nóng giận lắng xuống:
“Thưa ông, thôi hãy chấm dứt những lời lăng mạ mỉa mai đó đi. Vấn đề đặt ra là cái gì nào? Nào, ông muốn làm gì chúng tôi?”
Lão đáp:
“Thưa ông hiệp sĩ, vấn đề là cứ như thế này mà đi thẳng đến Satơlê [35] . Ngày mai trời sẽ sáng, lúc đó chúng ta sẽ thấy sáng tỏ hơn trong công việc của chúng ta, và tôi hy vọng rằng cuối cùng, ông sẽ làm ơn nói cho tôi biết thằng con tôi ở đâu.”
Không cần phải suy nghĩ lâu la gì tôi hiểu ngay rằng việc chúng tôi bị bắt giam ở Satơlê là một điều mang lại hậu quả khủng khiếp cho chúng tôi. Tôi run lên khi dự kiến tất cả các nguy cơ. Bất chấp tất cả niềm kiêu hãnh của tôi, tôi nhận ra rằng phải cúi đầu vâng theo số phận hẩm hiu và phải nịnh nọt tên kẻ thù tàn nhẫn nhất của tôi để may ra đạt được một cái gì khi mình tỏ ra biết vâng phục. Bằng một giọng nói chân thực, tôi xin lão nghe tôi một lát. Tôi nói với lão:
“Thưa ông tôi xin nhận tội. Tôi thừa nhận tuổi trẻ đã khiến tôi phạm phải lỗi lầm to lớn khiến ông phải chịu thương tổn và buồn phiền. Nhưng đến khi ông hiểu được sức mạnh của tình yêu, nếu ông đoán một thanh niên khốn khổ bị người ta cướp mất tất cả những gì mà mình yêu dấu, đau khổ như thế nào, thì ông có thể tha thứ cho tôi vì đã phạm cái tội đi tìm cái thú được trả thù vặt, hoặc ít nhất, ông cũng thấy rằng tôi đã bị trừng phạt khá nặng nề qua sự lăng nhục mà tôi vừa chịu đựng. Không cần phải nhà tù hoặc tra tấn để buộc tôi cho biết anh con của ông hiện giờ ở đâu. Tôi không hề có ý đồ làm hại anh ấy hoặc nhục mạ ông. Tôi sẵn sàng chỉ cho ông nơi anh ấy đã ngủ qua đêm một cách yên ổn, nếu ông làm ơn cho chúng tôi được tự do.”
Nhưng con cọp già ấy, thay vì tỏ ra xúc động trước lời cầu xin của tôi, đã vừa quay lưng lại với tôi, vừa cười. Lão chỉ buông ra vài tiếng cốt để làm cho tôi vừa hiểu rằng lão đã biết tận gốc kế hoạch của chúng tôi. Còn về phần thằng con của lão thì lão tàn nhẫn nói thêm rằng hắn sẽ biết tìm đường về vì tôi đã không giết chết hắn. Rồi lão ra lệnh cho bọn cảnh sát .
“Hãy đưa bọn chúng đến Satơlê và hãy đề phòng anh hiệp sĩ này trốn thoát. Đây là một tay tinh quái đã trốn khỏi Xanh Lazarơ đấy!”
Lão bỏ ra, để tôi lại trong tâm trạng mà ông có thể đoán được. Tôi thốt lên:
“Lạy Chúa Trời! Tôi có thể vâng phục chịu đựng được tất cả những đòn trừng phạt của Chúa, nhưng một thằng vô lại khốn kiếp lại có thể đối xử bạo ngược với tôi như vậy, làm cho tôi tuyệt vọng vô cùng.”
Bọn cảnh sát giục chúng tôi mau lên. Chúng có một chiếc xe ngựa ở ngoài cổng. Tôi đưa tay dắt Manông cùng đi xuống, và bảo nàng:
“Bà hoàng thân thiết của lòng anh, đi đi em! Đi mà chịu đựng tất cả sự khắc nghiệt của số phận chúng ta, may ra trời còn dành cho chúng ta một vài ngày hạnh phúc.”
Chúng tôi cùng đi trong chiếc xe ngựa. Manông ngồi trong vòng tay của tôi. Từ khi lão G.M... đến tôi không nghe nàng nói một lời nào, nhưng bây giờ đây khi ngồi một mình với tôi, nàng nói với tôi một nghìn lời yêu thương và tự trách mình đã gây ra tai họa cho tôi. Tôi đảm bảo với nàng rằng chừng nào nàng còn yêu tôi thì tôi không bao giờ than thân trách phận. Tôi nói tiếp:
“Anh thì có gì mà phải phàn nàn. Vài tháng ngồi tù chẳng làm anh khiếp sợ và anh thích nhà tù Satơlê hơn là nhà giam Xanh Lazarơ. Nhưng chính là em, em thân thiết của anh, mà anh quan tâm lo lắng. Số phận dành cho con người kiều diễm thế này mới khắc nghiệt làm sao! Chúa Trời ơi! Làm sao người lại có thể đối xử tàn nhẫn đến vậy đối với cái sáng tác phẩm hoàn hảo nhất của Người. Tại sao chúng con lại không sinh ra với những tính chất phù hợp với sự khốn cùng của chúng con? Chúng con sinh ra thông minh, tế nhị, tình cảm nhưng than ôi! Chúng con đã làm được cái gì với những đức tính đó, trong khi có bao nhiêu những kẻ đê tiện đáng lẽ phải chịu số phận của chúng con lại được hưởng bao nhiêu những ân huệ của vận may!”
Những ý nghĩ đó làm cho tôi đau khổ vô cùng, nhưng so với những điều tôi suy nghĩ về tương lai thì không thấm vào đâu, bởi vì tôi rất lo cho Manông. Nàng đã từng ở Nhà trừng giới, đã thoát ra được và tôi biết rằng việc bị bắt giam trở lại sẽ có những hậu quả vô cùng nguy hiểm. Tôi muốn nói với nàng những nỗi lo ngại của tôi nhưng lại sợ làm cho nàng lo sợ thêm. Tôi run lên vì lo sợ cho nàng nhưng lại không dám báo cho nàng biết trước nguy cơ đang chờ đợi nàng; tôi vừa hôn nàng vừa thở dài để ít nhất đảm bảo với nàng về tình yêu của tôi, nó là cái tình cảm duy nhất mà tôi còn dám thổ lộ với nàng. Tôi hỏi nàng: “Manông, hãy nói thật đi, em vẫn luôn luôn yêu anh chứ?”. Nàng trả lời tôi rằng nàng đau khổ khi bị tôi nghi ngờ về điều đó. Tôi lại nói:
“Anh không hề có chút nghi ngờ về tình yêu của em và với lòng tin đó, anh sẽ đương đầu với tất cả những kẻ thù của chúng ta. Anh sẽ sử dụng gia đình của anh để ra khỏi Satơlê; và nếu sau khi anh được tự do mà không cứu em đựợc ngay thì tất cả máu của anh cũng sẽ chẳng có lợi ích gì.”
Chúng tôi đến nhà tù. Người ta giam riêng chúng tôi mỗi đứa một nơi. Tôi đã dự kiến trước việc này nên không buồn bực lắm. Tôi ký thác Manông cho người gác cổng nhà tù, nói cho ông ta biết tôi là con nhà gia thế và hứa sẽ tặng cho ông ta một món tiền thưởng lớn. Tôi ôm hôn người yêu của tôi trước khi tạm biệt nàng. Tôi van nàng đừng có quá đỗi buồn phiền và đừng lo sợ điều gì hết chừng nào tôi còn sống trên cõi đời này. Tôi còn tiền, tôi chia cho nàng một phần, phần còn lại, tôi trả trước cho ông gác cổng một tháng tiền ăn cho Manông và cho tôi.
Đồng tiền tôi bỏ ra có tác dụng ngay. Người ta bố trí cho tôi ở trong một gian phòng có khá đủ đồ đạc và bảo đảm với tôi rằng Manông cũng được bố trí một phòng như thế. Ngay lập tức, tôi lo tìm phương sách để thúc đẩy nhanh việc tôi được trả lại tự do. Rõ ràng là trong vụ án của tôi chẳng có điều gì đáng xem là trọng tội được, và ngay cả giả thiết rằng ý đồ ăn trộm của chúng tôi được chứng minh bằng lời khai của Macxen đi nữa, tôi biết chắc rằng người ta không trừng phạt những kẻ chỉ mới có ý đồ. Tôi quyết định viết ngay một lá thư cho cha tôi để yêu cầu người đến Paris. Như tôi đã nói, tôi không xấu hổ khi bị giam ở Satơlê bằng khi bị giam ở Xanh Lazarơ, vả lại, tuy tôi hãy còn rất kính nể uy thế của cha tôi, tuổi tác và kinh nghiệm của tôi đã khiến tôi bớt rụt rè đối với ông rất nhiều. Như vậy là tôi đã viết một bức thư ở Satơlê, người ta đã để gửi thư đi không khó khăn gì: nhưng lẽ ra tôi đã khỏi mất công về việc này nếu tôi biết cha tôi sẽ đến Paris ngày hôm sau.
Số là cha tôi đã nhận được bức thư tôi viết cho người tám ngày trước đó. Người đã tỏ ra hết sức vui mừng, nhưng dù hy vọng rất nhiều ở những lời hứa hẹn cải tà quy chính của tôi, người thấy rằng không thể tin ngay được những lời hứa hẹn đó. Người đã quyết định thân hành tự mình thấy tận mắt sự thay đổi của tôi và sẽ đối xử với tôi tùy theo mức độ thành thực hối lỗi của tôi. Người đến Paris vào ngày hôm sau ngày tôi bị giam. Cuộc thăm viếng đầu tiên của người là đi thăm Tibecgiơ vì đã yêu cầu người gửi thư trả lời tôi nơi anh ấy. Tibecgiơ không cho cha tôi biết được điều gì về chỗ ở của tôi cũng như tình trạng lúc bấy giờ của tôi; anh ấy chỉ thuật lại với người những câu chuyện phiêu lưu của tôi từ khi tôi trốn khỏi Xanh Xuynpixơ. Tibecgiơ cũng nói về những ý nguyện của tôi muốn trở về với cái thiện mà tôi đã thổ lộ với anh ấy trong lần gặp gỡ cuối cùng của chúng tôi. Anh ấy còn nói thêm rằng anh ấy tin là tôi đã hoàn toàn thoát khỏi tay Manông, nhưng rằng anh ấy ngạc nhiên không hiểu sao từ tám ngày nay, anh ấy không nhận được tin tức gì của tôi. Cha tôi không mắc lừa, ông hiểu ngay rằng có những điều gì đó mà Tibecgiơ không biết hết và người đã cố công tìm ra dấu vết của tôi đến mức hai ngày sau khi đến Paris, người đã biết tôi đang nằm ở nhà giam Satơlê.
Trước khi tiếp cha tôi tôi thăm, một cuộc viếng thăm mà tôi không ngờ lại đến sớm như vậy, tôi được tiếp ông Tổng giám đốc cảnh sát tới thăm, hay để gọi cho đúng chức danh, tôi bị ông ta thẩm vấn. Ông ta khiển trách tôi, nhưng không nghiêm khắc và làm tôi mếch lòng. Bằng một giọng nhẹ nhàng, ông nói với tôi rằng ông ái ngại cho hạnh kiểm của tôi; rằng tôi không chút khôn ngoan khi gây thù gây oán với một người như ông G.M...; rằng thực ra trong vụ việc của tôi, người ta dễ dàng nhận thấy sự khinh suất, hời hợt hơn là do ác ý; tuy nhiên, đây là lần thứ hai, tôi lại liên lụy tới tòa án của ông ta và ông hy vọng rằng tôi trở nên khôn ngoan hơn sau hai hoặc ba tháng học được bài học ở Xanh Lazarơ. Thích thú vì được một vị quan tòa biết điều thẩm vấn, tôi trình bày với ông một cách hết sức kính cẩn và khiêm nhường đến mức ông tỏ ra hết sức hài lòng đối với những câu trả lời của tôi. Ông ta bảo tôi rằng tôi không nên quá buồn phiền, rằng vì chiếu cố đến dòng dõi và tuổi trẻ của tôi, ông sẵn sàng giúp đỡ tôi. Tôi đánh liều xin ông chiếu cố đến Manông và tôi hết lời ca ngợi sự hiền dịu và bản chất tốt đẹp của nàng với ông. Ông vừa cười vừa trả lời tôi rằng ông chưa gặp nàng, nhưng nghe người ta miêu ta lại rằng đó là một con người nguy hiểm. Cái từ này khơi dậy ở nơi tôi bao nhiêu lòng thương cảm đến mức tôi nói với ông ta không biết bao nhiêu những lời nồng nàn say đắm để bênh vực người yêu khốn khổ của tôi và tôi cũng không kìm mình được, đã để rơi một vài giọt lệ. Ông ta ra lệnh đưa tôi trở lại phòng giam và thốt lên một cách nghiêm nghị khi tôi bước ra:
“Ái tình, ái tình! Thế ra không đời nào ngươi có thể dung hòa được với sự khôn ngoan sao!”
Tôi còn đang mải buồn bã suy tư và nghĩ đến câu chuyện vừa mới nói với ông Tổng thanh tra cảnh sát thì có tiếng gõ cửa ở phòng tôi: đó là cha tôi tới thăm. Dù rằng tôi đã có chuẩn bị tinh thần cho cuộc gặp gỡ này, vì rằng tôi đã chờ gặp cha tôi vài ngày sau đó, tôi vẫn bị xúc động mạnh tưởng có thể chui xuống đất nếu lúc đó đất mở ra dưới chân tôi. Tôi chạy lại ôm hôn cha tôi với tất cả sự xấu hổ. Cha tôi ngồi xuống và cả ông và cả tôi, không ai nói một lời nào. Thấy tôi đứng im, mắt nhìn xuống và đầu trần, người nghiêm giọng bảo tôi:
“Anh ngồi xuống đi! Ngồi xuống đi! Nhờ có tai tiếng do sự trác táng và trộm cắp của anh gây ra mà tôi mới tìm ra được chỗ ở của anh. Âu đó cũng là điều lợi cho một người có giá trị nổi tiếng như anh là không thể mai danh ẩn tích được. Anh nổi tiếng thông qua một con đường chắc chắn nhất, không thể tránh được. Tôi hy vọng rằng đoạn cuối của con đường ấy sẽ là quảng trường Grevơ [36] và rồi anh thực sự có cái vinh quang được phơi ra tại đấy cho thiên hạ chiêm ngưỡng”.
Tôi không đáp lại lời nào. Cha tôi nói tiếp:
“Một người cha đau khổ biết chừng nào sau khi đã thương yêu trìu mến con mình, không tiếc một thứ gì để làm cho nó trở nên con người lương thiện, để rồi cuối cùng tìm thấy một thằng ăn trộm nó làm cho mình ô nhục! Người ta có thể tự an ủi về một tai họa bất ngờ: thời gian sẽ làm cho nó phai mờ đi, buồn phiền sẽ giảm dần đi, nhưng có phương thuốc nào có thể chữa được một căn bệnh cứ mỗi ngày một nặng thêm như lối sống bê tha của một đứa con hư không còn chút ý thức về danh dự. Mày không nói gì cả hả thằng khốn? Mày hãy xem cái điệu bộ giả vờ khiêm nhượng, cái về dịu dàng đạo đức giả kia, ai mà chẳng tưởng đó là con người trung hậu nhất của dòng dõi của mình!”
Tuy tôi buộc phải thừa nhận rằng tôi cũng xứng đáng một phần những lời mắng nhiếc đó, tôi vẫn thấy là cha tôi nói quá. Tôi nghĩ rằng tôi được phép tự nhiên nói lên những ý nghĩ của tôi. Tôi thưa với người:
“Thưa cha, con xin đảm bảo với cha rằng về khiêm nhường mà cha thấy ở con không hề là giả tạo; đó là thái độ tự nhiên của một đứa con gia giáo hết sức tôn kính cha mình, nhất là khi cha mình đang giận dữ. Con cũng không tự cho mình là kẻ sống mực thước nhất trong dòng họ nhà ta. Con thừa nhận rằng con đáng bị cha trách mắng, nhưng con xin cha rủ chút lòng thương và đừng đối xử với con như đối với kẻ bị ô nhục nhất. Con không xứng đáng bị gán cho những cái danh hiệu nặng nề đến thế. Chắc cha cũng biết rằng tình yêu đã gây ra tất cả những lỗi lầm của con. Ôi! Nỗi đắm say nghiệp chướng! Than ôi! Cha không biết đến sức mạnh của nó hay sao, và có thể nào dòng máu của cha nó là nguồn gốc dòng máu của con, lại không cảm thấy những niềm si mê như con sao? Tình yêu đã làm cho con quá mềm yếu, quá say đắm, quá chung thủy và có thể là đã quá dễ dãi đối với những dục vọng của một người tình nhân hết sức quyến rũ; đấy, những tội ác của con chỉ có thế. Có thể nào cha cho đó là kẻ đã làm cha ô nhục?”
Rồi tôi nói thêm một cách trìu mến:
“Cha thân yêu, xin cha hãy thương xót một đứa con chỉ biết kính trọng và thương yêu cha, một đứa con không hề từ bỏ danh dự như cha nghĩ và đáng được xót thương một nghìn lần hơn là cha tưởng.”
Khi nói xong những lời trên đây, tôi để rơi vài giọt nước mắt.
Trái tim của người cha là một tuyệt tác của thiên nhiên, thiên nhiên ngự trị trong đó và điều khiển mọi rung động của nó. Ngoài cái đó ra, trái tim của cha tôi là trái tim của một người có trí tuệ và tinh tế, nên nó xúc động trước giọng nói và cung cách của tôi khi tôi xin lỗi, đến mức cha tôi không thể che đậy được sự thay đổi đó đối với tôi. Người bảo tôi:
“Nào! Hãy lại hôn cha đi, anh chàng hiệp sĩ khốn khổ của cha. Con làm cha thương hại đấy!”
Tôi ôm hôn cha tôi và người siết chặt lấy tôi làm cho tôi càng thấy rõ những gì đang diễn ra trong trái tim người. Người lại hỏi:
“Nhưng chúng ta sẽ tìm phương sách gì để đưa con ra khỏi chốn này? Con hãy nói cho cha rõ mọi công chuyện của con mà không được giấu giếm điều gì.”
Nói cho cùng, về đại thể, trong hạnh kiểm của tôi cũng chẳng có điều gì làm cho tôi phải bị ô nhục, ít nhất là nếu đem ra so sánh với hạnh kiểm của đám thanh niên thuộc tầng lớp nào đó, việc có một người tình cũng như chút ít khéo tay để kiếm tiền trong sòng bạc chẳng phải là điều gì sỉ nhục trong thời đại chúng ta. Vì vậy tôi đã thành thật nói hết với cha tôi những chi tiết trong cuộc sống mà tôi vừa trải qua. Cứ mỗi khi tôi thú nhận một lỗi lầm với người, tôi lại có ý kèm theo một ví dụ nổi tiếng để giảm bớt sự hổ thẹn của tôi. Tôi nói với cha tôi:
“Con sống với một người tình mà không có cử hành hôn lễ, nhưng ngài công tước Đờ... có đến hai người mà toàn thể Paris đều biết. Ông... có một người tình từ hơn mười năm nay mà ông ta đã yêu với một sự chung thủy chưa hề có đối với bà vợ của ông ta, hai phần ba những người trung thực của nước Pháp này đều có tình nhân. Con đã gian lận trong khi đánh bạc, nhưng ông hầu tước... và ông bá tước... đều không có món lợi tức nào khác hơn là cờ gian bạc lận; ông hoàng... và ngài công tước... đều là thủ lĩnh của một đám hiệp sĩ thuộc hội đoàn cờ bạc bịp.”
Còn về phần ý đồ của tôi đối với túi tiền của cha con lão G.M..., tôi cũng có thể dễ dàng chứng minh rằng tôi cũng có nhiều tấm gương như vậy, nhưng tôi còn quá nhiều tự trọng để có thể tự mình không lên án mình cùng với tất cả những kẻ tôi nêu lên để làm gương. Vì vậy tôi chỉ xin cha tôi tha thứ cho sự yếu đuối do hai nỗi si mê là ý muốn báo thù và tình yêu gây ra. Cha tôi hỏi lại tôi có thể cho người biết một số cuộc tiếp xúc nào đó có thể thúc đẩy nhanh việc tôi được trả lại tự do, và với một cách thức nào để cho người khỏi phải lộ liễu quá. Tôi cho người biết những tình cảm nhân từ của ông Tổng giám đốc cảnh sát đối với tôi và nói thêm:
“Nếu có khó khăn nào đó thì chỉ có thể do phía lão G.M... gây ra, do đó con nghĩ rằng cha nên bỏ chút công đi gặp lão.”
Cha tôi hứa là sẽ đi. Tôi không dám xin cha tôi xin xỏ gì cho Manông. Đó không phải là do tôi thiếu dũng khí mà là do tôi sợ rằng đề nghị như vậy sẽ làm cho cha tôi bực bội lên và khiến người lại nảy ra một ý đồ nào đó có hại cho tôi và cho nàng. Cho đến bây giờ, tôi vẫn tự hỏi mình rằng có phải sự lo sợ đó đã gây ra cho tôi những nỗi bất hạnh lớn nhất không, vì nó đã ngăn cản tôi thăm dò tâm trạng của cha tôi và cố gắng van xin người giúp đỡ cho người yêu khốn khổ của tôi. Có thể là tôi đã khêu dậy một lần nữa lòng thương xót của người. Có thể là tôi đã dè chừng người không nên tin quá dễ dàng vào những lời lẽ của lão G.M... chăng. Và còn những gì nữa, nào tôi có biết? Cái số phận hẩm hiu của tôi có thể đã đánh bại tất cả những nỗ lực của tôi, nhưng ít nhất thì tôi cũng chỉ còn biết oán trách cái số phận hẩm hiu đó cùng với sự tàn nhẫn của những kẻ thù của tôi, đã đẩy tôi đến tai họa mà thôi.
Sau khi tạm biệt tôi, cha tôi đi thăm lão G.M.... Người đã gặp cả lão và thằng con đã được người lính túc vệ trả lại tự do. Tôi chưa hề bao giờ được biết chi tiết của cuộc nói chuyện giữa họ với nhau, nhưng tôi dễ dàng đoán được nội dung qua những hậu quả chết người của nó.
Họ – tức là cha tôi và lão G.M... – cùng đi đến gặp ông Tổng giám đốc cảnh sát và xin ông này ban cho hai ân huệ: một là tha tôi ngay khỏi nhà tù Satơlê, hai là giam chung thân Manông hoặc là đày nàng sang Mỹ. Vào lúc này, người ta bắt đầu đưa một số người thành tích bất hảo sang Mitxitxipi [37] . Ông Tổng giám đốc cảnh sát hứa với họ là sẽ buộc Manông ra đi vào chuyến tàu đầu tiên.
Sau đó, lão G.M... và cha tôi lập tức cùng đến báo cho tôi tin được tự do. Lão G.M... nói vài lời nhã nhặn về quá khứ, rồi khen ngợi hạnh phúc của tôi có được một người cha như cha tôi, lão động viên tôi từ nay cần biết sử dụng những bài học và tấm gương của cha tôi. Cha tôi thì ra lệnh cho tôi phải xin lỗi lão về cái gọi là sự lăng nhục tôi gây ra đối với gia đình lão và cảm ơn lão đã tận tình cùng với cha tôi vận động cho tôi được tự do. Chúng tôi cùng ra khỏi nhà tù mà không đả động một lời nào đến Manông. Thậm chí tôi cũng không dám nói chuyện về nàng với những người trực ghi-sê trước mặt cha tôi và lão G.M... Than ôi! Những lời dặn dò của tôi cũng sẽ là vô ích thôi. Cái mệnh lệnh độc ác đối với nàng đã được tống đạt cùng một lúc với lệnh thả tự do cho tôi. Một giờ sau người con gái khốn khổ đó đã bị chuyển sang Nhà trừng giới để ghép thành đoàn với một số cô gái cùng chịu chung một số phận như nàng. Cha tôi buộc tôi cùng về theo người tại ngôi nhà người tạm trú. Khi tôi tìm được cách để trốn khỏi con mắt kiểm soát của người để chạy đến Satơlê thì đã gần sáu giờ tối. Tôi chỉ muốn mang lại cho Manông một ít đồ giải khát và dặn dò người gác cổng chăm sóc nàng vì tôi không chắc được phép vào thăm nàng. Tôi cũng chẳng có thì giờ suy nghĩ về cách làm thế nào để giải thoát cho nàng.
Tôi yêu cầu được nói chuyện với người gác cổng. Ông này tỏ ra hài lòng đối với sự hào phóng và vẻ hòa nhã của tôi, vì vậy để tỏ ra sẵn sàng giúp đỡ tôi, ông ta đã nói với tôi về số phận của Manông như là về một tai họa mà ông ta rất lấy làm tiếc, bởi vì nó có thể làm tôi phiền muộn. Tôi chẳng hiểu ông ta muốn nói gì. Chúng tôi trò chuyện với nhau một lát mà không hiểu được nhau. Cuối cùng, ông ta thấy rằng tôi cần được giải thích, ông ta đã nói cho tôi biết cái điều mà tôi vừa kinh tởm nói với ông và vẫn còn kinh tởm khi nhắc lại.
Chưa bao giờ cơn choáng do nhồi máu lại có hậu quả đột ngột và dễ sợ đến như vậy. Tôi ngã vật ra, nghe đau nhói ở tim và cùng lúc tôi ngất đi, tôi đã tưởng mình được giải thoát vĩnh viễn khỏi cuộc sống rồi. Ngay sau khi đã tỉnh lại, ý nghĩ về cái chết đó vẫn cứ ám ảnh tôi. Tôi quay nhìn khắp phòng và nhìn cả vào thân tôi để xem có quả là mình còn mang cái tính chất khốn khổ của con người còn sống không? Chắc chắn rằng, trong cơn tuyệt vọng và kinh hoàng đó, nếu chỉ theo cái bản năng tự nhiên nó làm cho người ta muốn được giải thoát khỏi mọi khổ đau, thì không có gì dễ chịu với tôi hơn là cái chết. Ngay cả tôn giáo cũng không cho tôi dự kiến được, sau khi mình chết, còn có gì khủng khiếp hơn là những dằn vặt tàn nhẫn mà tôi đã trải qua. Tuy nhiên, do một sự màu nhiệm của tình yêu, chẳng bao lâu tôi đã tìm thấy lại sức lực để cảm ơn Trời đã làm cho tôi tỉnh lại và trả lại cho tôi lý trí. Cái chết chỉ có ích cho riêng tôi. Manông cần tôi sống để giải thoát cho nàng, để cứu giúp nàng, để trả thù cho nàng. Tôi thề sẽ không tiếc sức mình để làm cho được những việc đó.
Người gác cổng đã giúp đỡ tôi tận tình như một người bạn tốt nhất của tôi. Tôi rất biết ơn sự cứu giúp của ông ấy. Tôi nói với ông:
“Than ôi! Ông cũng xúc động trước những đau khổ của tôi ư? Mọi người đã bỏ rơi tôi. Chắc rằng cha tôi cũng là một trong những kẻ đã hành hạ tôi. Chẳng có ai thương xót tôi. Chỉ còn có ông, trong cái chốn nghiệt ngã và man rợ này là còn có chút từ tâm đối với con người khốn khổ nhất trên thế gian này.”
Ông gác cổng khuyên tôi không nên ra ngoài đường trong lúc chưa được tỉnh táo hẳn. Tôi bỏ đi và trả lời ông rằng:
“Ông cứ để tôi đi, cứ để tôi đi tôi sẽ gặp lại ông sớm hơn là ông tưởng. Ông hãy chuẩn bị cho tôi căn ngục tối nhất đi, tôi sẽ làm mọi thứ để vào nằm ở đây”.
Mà quả là như vậy, những quyết định đầu tiên của tôi chỉ là tìm cách làm sao trừ khử được hai cha con lão G.M... và ông Tổng giám đốc cảnh sát, rồi sau đó vũ trang xông vào Nhà trừng giới , với tất cả những ai mà tôi có thể tập hợp được trong trận xung đột này. Cả cha tôi nữa, tôi cũng thấy không cần phải tôn trọng trong cuộc báo thù mà tôi cho là rất chính nghĩa này, bởi vì như lời ông gác cổng không giấu giếm với tôi, cha tôi cùng với lão G.M... là những kẻ đã gây ra tai họa cho tôi. Nhưng sau khi đã đi được vài bước trên đường phố và không khí mát lành đã làm cho máu và tâm trạng bực bội của tôi nguội dần đi, cơn giận đã dần dần nhường chỗ cho những tình cảm phải chăng hơn. Cái chết của những kẻ thù của chúng tôi chẳng có ích gì cho Manông cả mà còn làm cho tôi chắc chắn không còn phương sách gì để cứu vớt nàng. Vả chăng, có thể nào tôi lại hèn nhát đi ám sát. Tôi còn có con đường nào khác để báo thù không? Tôi cần phải tập trung mọi sức lực và trí tuệ lại để trước hết giải thoát cho Manông đã, còn mọi việc khác phải để lại sau khi công việc quan trọng này thành công.
Tôi chỉ còn ít tiền. Nhưng đó lại là cơ sở cần thiết, mọi việc phải bắt đầu từ đó. Tôi thấy chỉ có ba người là có thể giúp tôi có tiền: M.T..., cha tôi và Tibecgiơ. Có vẻ như khó đạt được cái gì ở hai người sau và tôi xấu hổ khi phải đến quấy rầy người kia. Nhưng trong cơn tuyệt vọng thì còn đắn đo gì? Tôi lập tức đến chủng viện Xanh Xuynpixơ, mà không ngại rằng người ta có nhận ra mình không. Tôi cho gọi Tibecgiơ. Những lời nói đầu tiên của anh ấy cho tôi hiểu rằng anh ấy còn chưa biết gì về những biến cố mới nhất của tôi. Ý nghĩ này làm cho tôi thay đổi ý định gợi lên lòng thương xót của anh ấy. Tôi nói với anh ấy đại loại về niềm vui của tôi khi gặp lại cha tôi, rồi sau đó, tôi yêu cầu anh cho tôi vay ít tiền với lý do là để trả một vài món nợ mà tôi muốn giữ kín trước khi tôi rời Paris. Lập tức anh ấy chìa cho tôi túi tiền của anh. Tôi lấy năm trăm phơrăng trong số sáu trăm trong đó. Tôi viết cho anh tấm giấy nợ, nhưng anh không nhận.
Từ chỗ Tibecgiơ, tôi đến nhà M.T... Tôi chẳng dè dặt gì với cậu ta. Tôi trình bày với cậu ấy những tai họa và đau khổ của tôi: cậu ấy đã biết rõ đến từng chi tiết nhỏ nhất do cậu ấy đã bỏ công theo dõi vụ phiêu lưu của G.M... con; tuy nhiên cậu ấy vẫn nghe tôi và tỏ ra rất thương cảm với tôi. Khi tôi hỏi ý kiến cậu ấy có phương sách gì để giải thoát cho Manông không, cậu ấy buồn bã trả lời rằng không thấy có chút ánh sáng nào, rằng trừ phi có Trời giúp còn thì không có hy vọng gì; rằng cậu ta đã cố ý đến Nhà trừng giới từ khi Manông bị giam trở lại ở đó, nhưng chính cậu ta cũng không được phép vào thăm nàng; rằng lệnh của ông Tổng giám đốc cảnh sát rất là nghiêm ngặt, và tai hại nhất là cái nhóm mà Manông phải nhập vào sẽ phải lên đường vào ngày kia. Tôi sửng sốt trước những lời nói của M.T… đến mức cậu ấy có thể nói hàng giờ mà không nghĩ đến việc ngắt lời. Cậu ấy tiếp tục nói với tôi rằng cậu ấy không đến tìm tôi ở Satơlê để có thể dễ dàng giúp đỡ tôi hơn khi người ta cho rằng cậu ấy không có liên hệ gì với tôi; rằng mấy giờ sau khi tôi ra khỏi đây, cậu ấy đã buồn vì không biết tôi ở đâu và cậu ấy muốn gặp tôi ngay để cho tôi lời khuyên duy nhất mà theo cậu ta có hy vọng đem lại sự thay đổi trong số phận của Manông, nhưng đó là một lời khuyên nguy hiểm, nên cậu ta yêu cầu tôi vĩnh viễn giấu nhẹm đi việc cậu ấy có tham gia vào đấy: Đó là chọn vài ba người bạo gan có can đảm đánh úp những tên gác Manông khi bọn chúng áp giải nàng ra khỏi Paris. Cậu ấy không chờ tôi nói với cậu ấy về sự túng thiếu của tôi. Cậu ấy đã rút túi tiền ra, đưa cho tôi và bảo.
“Đây là một trăm pixtôn, có thể có ích đôi chút cho anh. Anh sẽ trả lại tôi khi nào thời vận lại làm cho anh sung túc trở lại.”
Cậu ấy còn nói thêm rằng nếu như không sợ bị tai tiếng để chính cậu ấy có thể tham gia vào việc giải thoát cho Manông thì cậu ấy sẵn sàng cống hiến cho tôi sức lực và thanh kiếm của cậu ấy.
Sự hào hiệp đến mức như vậy làm tôi cảm động đến rơi nước mắt. Để tỏ lòng biết ơn cậu ấy, tôi đã nói lên những lời nồng nhiệt nhất mà nỗi buồn còn để cho tôi nói lên được. Tôi hỏi cậu ấy có chút hy vọng gì không, nếu nhờ người đến nói giùm với ông Tổng giám đốc cảnh sát. Cậu ấy bảo với tôi rằng cũng đã nghĩ đến việc ấy, nhưng cậu ấy thấy không có ích gì, bởi vì không thế nào xin một đặc ân tầm cỡ như vậy mà không có lý do, và cậu ấy thấy người ta khó mà tìm ra một lý do xác đáng để xin xỏ một người nghiêm nghị và đầy quyền lực như ông Tổng giám đốc cảnh sát; rằng nếu như có đôi chút hy vọng gì ở phía đó chỉ có thể là làm thế nào để thay đổi được tình cảm của lão G.M… và của cha tôi rồi xin hai người đó đến yêu cầu ông Tổng giám đốc cảnh sát hủy bỏ bản án. M.T… hứa với tôi là sẽ cố hết sức tranh thủ cảm tình của G.M… con, tuy rằng cậu ấy nghĩ rằng nó có đôi chút lạnh nhạt đối với cậu ấy do hắn có nghi ngờ cậu ấy trong cái vụ của chúng tôi. M.T… cũng động viên tôi, về phần mình, phải ra sức làm cho cha tôi đổi ý.
Đó không phải là một việc nhẹ nhàng đối với tôi. Tôi không chỉ nói đến sự khó khăn trong việc tìm cách thắng được cha tôi mà còn có một lý do khác khiến tôi sợ cả đến việc tiếp xúc với người: Tôi đã trái lệnh của cha tôi khi tôi bỏ nhà trọ ra đi và khi tôi biết được số phận bi thảm của Manông thì tôi đã quyết không trở về đây nữa. Tôi lo lắng một cách có căn cứ rằng cha tôi sẽ bắt giữ tôi lại rồi chính người đưa tôi về tỉnh. Ông anh cả tôi trước đây từng sử dụng phương sách đó. Đúng là tôi đã tăng thêm vài tuổi, nhưng đối với sức mạnh thì tuổi tác có ý nghĩa gì.
Tuy nhiên, tôi cũng tìm ra được phương sách cứu tôi thoát khỏi mối nguy đó. Đó là tìm cách gọi cha tôi đến một nơi công cộng và tự xưng mình dưới một cái tên khác. Tôi quyết định chọn ngay phương sách đó. M.T… đi gặp G.M…, còn tôi thì đi Luychxămbua, tại đây tôi cho báo tin với cha tôi rằng có một nhà quý tộc quen biết đang chờ ông. Tôi lo rằng cha tôi không đến được vì đêm đã đến. Tuy vậy, sau đó người đã xuất hiện cùng với tên gia nhân. Tôi yêu cầu người cùng đến một con đường nhỏ để hai cha con có thể nói chuyện riêng với nhau. Chúng tôi đi ít nhất hàng trăm bước mà không nói với nhau một lời. Chắc hẳn là cha tôi đã nghĩ rằng bao nhiêu những sự chuẩn bị như vậy không thể không nhằm một ý đồ quan trọng. Người chờ đợi bài “diễn từ” của tôi, còn tôi thì ngẫm nghĩ. Cuối cùng tôi mở miệng. Tôi vừa run vừa nói:
“Thưa cha, cha là một người cha tốt. Cha đã ban cho con bao nhiêu ân huệ, Cha đã tha thứ cho con bao nhiêu lỗi lầm. Cho nên xin có Trời chứng giám cho con từng đối với cha, con chỉ có những tình cảm của một đứa con yêu thương và kính cẩn nhất. Nhưng con thấy hình như sự… nghiêm khắc…”
Cha tôi cắt ngang lời nói của tôi: “Thế nào? Nghiêm khắc à?” – Chắc là người nghĩ rằng tôi cố ý nói chậm, cốt để cho người sốt ruột. Tôi nói tiếp:
“Ồ! Thưa cha, con thấy rằng sự nghiêm khắc của cha là cực độ trong việc đối xử với cô Manông khốn khổ. Cha đã tin vào lời của lão G.M… Sự căm ghét của lão làm cho lão nói với cha những điều tệ hại nhất về nàng. Cha đã có một thành kiến khủng khiếp về nàng. Thế mà đó lại là con người hiền dịu và dễ thương nhất chưa hề có. Sao Trời lại không khiến cho cha muốn gặp nàng trong chốc lát? Con tin chắc rằng cha cũng sẽ thấy nàng quyến rũ như con thấy. Cha sẽ đứng về phía nàng, cha sẽ căm ghét những điều giả dối đen tối của lão G.M… Cha sẽ thương xót nàng và thương xót cho con. Cha ơi! Con tin chắc là như vậy. Trái tim cha không phải là sắt đá, cha sẽ mềm lòng.”
Cha tôi lại ngắt lời tôi một lần nữa vì người thấy tôi nói quá hăng say và chưa thể dừng lại được. Người muốn biết cuối cùng tôi muốn điều gì qua một bài “diễn từ” cuồng nhiệt đến vậy. Tôi đáp:
“Con xin cha mạng sống bởi vì con không thể nào sống được trong giây lát nếu Manông bị đày sang châu Mỹ.”
Cha tôi trả lời tôi với một giọng nghiêm khắc:
“Không đâu! Không đâu! Ta thà thấy anh chết đi còn hơn là thấy anh sống không đạo lý, không danh dự.”
Tôi giơ tay ngăn người lại và thốt lên:
“Như vậy thì chúng ta không cần đi thêm một bước nào nữa! Xin cha cứ lấy mạng sống của con đi, cái cuộc sống ô nhục và không thể nào chịu đựng nổi được nữa, bởi vì trong cơn tuyệt vọng mà cha đem lại cho con, thì cái chết là một ân huệ đối với con! Đó là một món quà xứng với một bàn tay của một người cha!”
“Ta sẽ chỉ cho mày những gì mà mày xứng đáng. Ta từng biết nhiều người cha không cần phải đợi lâu đến như vậy để giết chết những đứa con hư như mày, chính là sự nhân từ quá mức của ta đã làm cho mày hư hỏng.”
Tôi quỳ xuống ôm lấy hai đầu gối cha tôi và nói:
“Ôi! Nếu như còn chút nhân từ, xin cha đừng tỏ ra sắt đá trước những giọt nước mắt khóc thương của con. Cha hãy nghĩ lại rằng con là con của cha. Xin cha hãy nhớ đến mẹ con. Cha đã từng yêu dấu thân thương mẹ con biết bao nhiêu! Cha có đau khổ không khi người ta cướp mẹ con ra khỏi vòng tay của cha? Cha hẳn phải bảo vệ mẹ con cho đến chết chứ? Những người khác chẳng lẽ lại không có một trái tim giống như cha hay sao? Có thể nào người ta lại trở thành dã man sau khi đã được biết yêu thương đau khổ là gì hay sao?”
Cha tôi đáp lại tôi với một giọng giận dữ:
“Mày đừng có nói về mẹ mày nữa! Nhớ đến mẹ mày càng làm ta thêm phẫn nộ. Những trò chơi bời trác táng của mày hẳn phải làm cho mẹ mày chết vì đau đớn nếu bà còn sống để chứng kiến những trò đó”.
Rồi cha tôi nói thêm:
“Thôi hãy chấm dứt cuộc nói chuyện này đi! Nó làm cho ta khó chịu và không hề làm ta thay đổi quyết định đâu! Ta đi về nhà trọ đây và ta ra lệnh cho mày phải theo ta.”
Cái giọng lạnh lùng và nghiêm khắc của cha nói khi ra lệnh đó cho tôi hiểu rằng không thể nào lay chuyển được trái tim sắt đá của người. Tôi lùi lại vài bước vì sợ rằng cha tôi có thể tự tay bắt giữ tôi lại. Tôi nói với người:
“Xin cha đừng làm cho con thêm tuyệt vọng bằng cách buộc con phải trái lệnh cha. Con không thể nào đi theo cha được, cũng như con không thể nào sống được sau khi bị cha đối xử tàn nhẫn như vậy. Do đó, con xin nói với cha lời vĩnh quyết.” Rồi tôi buồn rầu nói thêm: “Cái chết của con mà chẳng bao lâu nữa cha sẽ nhận được tin biết đâu sẽ làm cha nghĩ lại và thương con.”
Khi tôi quay lại để bỏ đi, cha tôi tức giận kêu lên:
“Mày không chịu theo tao hả? Thế thì mày cứ đi mà chết! Vĩnh biệt, hỡi đứa con bội bạc và bất kính!”
Trong cơn nóng giận, tôi cũng đáp lại:
“Vĩnh biệt! Vĩnh biệt, hỡi người cha dã man và biến chất!”
Tôi lập tức ra khỏi công viên Luychxămbua. Tôi đi trên đường phố như một thằng điên, đến nhà M.T… Tôi vừa đi, vừa ngước mắt và giơ hai tay lên trời để cầu nguyện tất cả các vị thần linh “Lạy Chúa Trời! Người có tàn nhẫn như những con người dưới trần thế này không. Giờ đây con chỉ còn trông chờ sự cứu giúp của Người nữa thôi.”
Khi tôi đến thì M.T… chưa về, nhưng đợi một lát thì cậu ấy về đến nơi. Chuyến đi thương lượng của cậu ấy cũng không kết quả gì hơn cuộc thương lượng của tôi. Cậu ấy có vẻ phờ phạc khi nói điều đó với tôi. Tuy không căm giận Manông và tôi như cha hắn, G.M… con không muốn đi nói giúp cho chúng tôi. Sở dĩ như vậy là vì chính hắn cũng sợ cái lão già hay thù vặt đó, lão đã tỏ ra rất tức giận và trách mắng hắn về việc hắn bỏ của ra gạ gẫm Manông. Như vậy là tôi chỉ còn con đường dùng bạo lực như M.T… đã vạch kế hoạch cho tôi. Tôi đặt tất cả hy vọng vào đấy. Tôi nói với M.T…:
“Hy vọng mong manh lắm. Nhưng đối với tôi, hy vọng chắc chắn và ấm lòng nhất là ít ra được chết trong công việc này.”
Tôi tạm biệt M.T… và yêu cầu cậu hãy cầu nguyện để giúp đỡ tôi, rồi tôi chỉ còn nghĩ đến tập hợp những ông bạn đồng chí mà tôi có thể truyền lại một chút can đảm và quyết tâm của tôi.
Người đầu tiên mà tôi nghĩ đến cũng là anh lính túc vệ mà tôi đã sử dụng để bắt giữ G.M… Tôi cũng có ý định đến ngủ qua đêm tại căn phòng của anh ta, vì trong suốt cả buổi chiều hôm đó, tôi không còn đầu óc đâu để nghĩ đến việc tìm chỗ trọ. Tôi thấy anh ta có một mình. Anh ta vui mừng thấy tôi thoát khỏi Satơlê. Anh ta nói sẵn sàng giúp đỡ tôi. Tôi giải thích cho anh ta rõ tôi cần anh ta giúp đỡ những gì. Anh ta có đủ lương tri để thấy ngay tất cả những khó khăn của công việc đó, nhưng cũng đủ lòng hào hiệp để nghĩ cách vượt qua. Chúng tôi thức một phần đêm hôm đó để bàn luận về ý đồ của tôi. Anh ta nói với tôi về ba người lính túc vệ mà anh ta đã sử dụng trong trường hợp vừa rồi như là về ba con người can đảm đã được thử thách. M.T… đã cho tôi biết chính xác con số những tên cảnh sát sẽ áp giải Manông; chúng chỉ có sáu tên. Năm người bạo gan và quyết tâm cũng đủ để gieo kinh hoàng cho bọn khốn kiếp đó; bọn chúng không thể tự vệ ra trò được khi chúng hèn nhát tránh được nguy cơ của một trận chiến đấu. Vì tôi không thiếu gì tiền, anh lính túc vệ khuyên tôi không nên tiếc tiền để đảm bảo thành công cho cuộc tiến công. Anh ta bảo:
“Chúng ta cần phải có ngựa, súng lục và mỗi người một khẩu súng trường. Ngày mai, tôi sẽ lo sắm sửa những thứ đó. Cũng cần có ba bộ thường phục cho các chiến sĩ của chúng ta, bởi vì họ không dám xuất đầu lộ diện trong một công việc như thế này với bộ đồng phục lính túc vệ.”
Tôi trao cho anh món tiền một trăm pixtôn mà tôi nhận của M.T… Ngày hôm sau, món tiền ấy bị tiêu sạch. Ba anh lính đến trình diện tôi. Tôi động viên cổ vũ họ bằng những lời hứa hẹn sẽ ban thưởng hậu hĩ cho họ, và để cho họ không còn hồ nghi nữa, tôi tặng cho mỗi người mười pixtôn.
Ngày hành sự đã đến, tôi cử một người lính túc vệ từ sáng sớm đến Nhà trừng giới để tự mắt anh ta chứng kiến lúc bọn cảnh sát lên đường với con mồi của chúng. Tuy tôi làm việc này là do quá lo lắng và cẩn thận, nhưng về sau đã tỏ ra rằng đó là việc tuyệt đối cần thiết. Tôi đã tin vào một số thông tin sai lạc về con đường mà đoàn người đó sẽ theo, và tôi vì tin chắc rằng họ sẽ xuống tàu ở cảng La Rôsenlơ [38] , chắc hẳn là tôi đã mất công toi khi đợi đón họ ở trên đường Oólêăng. Nhưng qua báo cáo của người lính túc vệ, tôi được biết họ sẽ theo con đường Noócmanđi và xuống cảng Havơrơ đơ Graxơ để đi Mỹ.
Lập tức chúng tôi kéo đến cửa ô Xanh Hônôrê, mỗi người theo một con đường khác nhau. Chúng tôi tập hợp lại ở đầu cửa ô. Ngựa của chúng tôi rất sung sức. Chẳng bao lâu, chúng tôi đã thấy sáu tên cảnh sát cũng với hai cỗ xe ngựa khốn khổ mà ông và tôi, chúng tôi từng thấy ở Pacy, cách đây hai năm. Cái quang cảnh ấy suýt nữa làm tôi tiêu tan sức lực và lý trí. Tôi kêu lên: “Ôi, số phận, số phận nghiệt ngã, ít nhất ở đây hãy cho ta chết đi hoặc là chiến thắng!”
Chúng tôi thảo luận với nhau một lúc về cách thức tiến hành cuộc tiến công. Bọn cảnh sát chỉ còn cách chúng tôi không quá bốn trăm bước, và chúng tôi có thể cắt ngang đội hình của chúng bằng cách vượt qua một cánh đồng nhỏ, con đường cái lớn bao quanh. Anh lính túc vệ có ý kiến nên theo cách ấy để bất ngờ xông thẳng vào bọn chúng. Tôi tán thành và là người đầu tiên thích ngựa xông lên. Nhưng số phận đã bác bỏ một cách tàn nhẫn mọi mong ước của tôi. Những tên lính cảnh sát thấy năm anh kỵ sĩ xông đến, không còn nghi ngờ gì là để tấn công chúng. Chúng bố trí tự vệ, chĩa lưỡi lê và súng ra một cách kiên quyết. Quang cảnh đó, trong khi làm chúng tôi, – tôi và anh lính túc vệ, – hăng máu lên, thì lại làm cho ba chiến hữu của chúng tôi mất hết can đảm. Họ cùng một lúc dừng lại và sau khi rỉ vào tai nhau vài lời gì đó mà tôi không nghe thấy, họ quay đầu ngựa lại và phi nước đại về phía Paris. Anh lính túc vệ có lẽ cũng cuống cuồng như tôi trước sự đào ngũ khốn nạn đó, thốt lên: “Lạy Chúa! Làm gì bây giờ? Chúng ta chỉ có hai người!”
Tôi điên tiết và ngạc nhiên đến không nói lên lời. Tôi dừng lại, phân vân không biết việc trả thù đầu tiên của tôi có nên là đuổi theo và trừng phạt những tên hèn nhát đã bỏ rơi tôi không? Tôi nhìn bọn chúng bỏ chạy và mặt khác, nhìn về phía những tên cảnh sát. Nếu có phép phân thân được, tôi sẽ cũng một lúc xông vào cả hai bọn người đang làm cho tôi điên tiết đó và tôi sẽ nuốt chửng bọn chúng. Đoán được sự phân vân qua ánh mắt đờ đẫn của tôi, anh lính túc vệ yêu cầu tôi nghe theo lời khuyên của anh. Anh bảo tôi:
“Chúng ta chỉ còn có hai người, thì thật là điên rồ mới đi tấn công sáu tên cùng vũ trang đầy đủ như chúng ta và hình như đang trụ lại để chờ chúng ta. Phải trở lại Paris và cố đạt được kết quả với việc lựa chọn tốt hơn những chiến hữu của chúng ta. Bọn cảnh sát không thể nào đi nhanh được với hai cỗ xe nặng nề như vậy; chúng ta sẽ đuổi kịp chúng vào ngày mai chẳng khó khăn gì.”
Tôi suy nghĩ giây lát về phương sách đó, nhưng nhìn bề nào tôi cũng chỉ thấy vô hy vọng, tôi bèn quyết định theo một giải pháp thật sự là tuyệt vọng. Đó là cảm ơn người lính túc vệ đã giúp đỡ tôi, rồi thay vì tấn công những tên cảnh sát, tôi quyết định đến đầu hàng bọn họ, xin họ cho tôi gia nhập đoàn của họ để cùng đi với Manông đến Havơrơ đơ Graxơ, rồi từ đó cùng vượt ngàn trùng sóng cả với nàng. Tôi nói với người lính túc vệ:
“Mọi người đều hãm hại hoặc phản bội tôi. Tôi chẳng còn tin ai nữa. Tôi chẳng còn trông chờ gì nữa ở số phận và cũng như ở sự giúp đỡ của loài người. Thảm cảnh của tôi đã tuyệt đỉnh rồi; tôi chỉ còn biết khuất phục thôi. Do đó tôi không còn dám hy vọng gì nữa. Xin Chúa ban thưởng cho tấm lòng hào hiệp của anh! Vĩnh biệt! Tôi tự nguyện để cho số phận hẩm hiu tàn hại nốt cuộc đời tôi!”
Anh lính túc vệ cố khuyên tôi trở lại Paris, nhưng vô hiệu. Tôi xin anh ta hãy để tôi theo quyết định của mình và hãy lập tức từ biệt tôi vì sợ rằng bọn cảnh sát tiếp tục ngờ rằng chúng tôi có ý đồ tấn công bọn chúng.
Một mình tôi đến gặp bọn chúng, bước chân chậm chạp và nét mặt bơ phờ đến mức chúng không thấy gì là đáng sợ khi tôi tiến lại gần. Tuy nhiên, chúng vẫn ở trong tư thế sẵn sàng đánh trả. Tôi vừa tiến lại gần vừa nói với chúng .
“Xin các ông yên tâm, tôi không hề muốn gây sự đánh nhau với các ông, tôi đến để xin các ông làm phúc cho.”
Tôi yêu cầu họ cứ tiếp tục lên đường không có gì phải nghi ngại và vừa đi, tôi vừa trình bày với bọn chúng những gì mà tôi mong bọn chúng làm ơn cho. Chúng hội ý với nhau về cung cách chấp nhận đề nghị của chúng tôi như thế nào. Tên trưởng toán nói thay cho cả bọn. Hắn trả lời tôi rằng những mệnh lệnh mà hắn nhận được của cấp trên về việc canh giữ những nữ phạm nhân là hết sức nghiêm khắc; rằng tuy nhiên, hắn thấy tôi là một con người bảnh trai đến mức hắn và đồng bọn của hắn sẽ lơ là đôi chút trong nhiệm vụ, nhưng tôi phải hiểu rằng tôi cần phải bỏ ra chút ít. Tôi còn có mười lăm pixtôn, tất nhiên là tôi nói thật với bọn chúng số tiền đó của tôi. Thằng trưởng toán bèn bảo tôi:
“Thế à! Chúng tôi sẽ sử dụng món tiền đó một cách rộng rãi thôi. Cứ mỗi giờ ông nói chuyện với một trong những cô gái của chúng tôi mà ông thích nhất, ông chỉ phải trả một êquy thôi, đó cũng là cái giá thông dụng ở Paris.”
Tôi không nói với chúng riêng về Manông vì tôi không muốn cho chúng biết nỗi si mê của tôi. Thoạt tiên, chúng nghĩ rằng đây chỉ là trò chơi ngông của thanh niên đã khiến tôi đi tìm cách giết thì giờ với mấy cô gái đó, nhưng khi chúng đã thấy rằng tôi là kẻ si tình thì chúng tăng món lệ phí lên đến mức từ Măngtơ [39] , nơi mà chúng tôi ngủ lại đêm trước ngày đến Pacy trở đi, túi tiền của tôi hầu như cạn sạch.
Không biết tôi có nên nói lại với ông về nội dung thê thảm trong câu chuyện của tôi với Manông dọc đường, hoặc về những ấn tượng của tôi khi được bọn cảnh sát cho phép đến gần cỗ xe và trông thấy được nàng? Chao ôi! Từ ngữ chỉ diễn tả được một nửa những xúc động của trái tim. Nhưng ông hãy tưởng tượng người yêu khốn khổ của tôi bị buộc xiềng ngang lưng, ngồi trên vài nắm rơm, đầu uể oải tựa vào một bên thành xe, mặt xanh xao và nước mắt không ngớt tuôn ra từ đôi hàng mi, mặc dù nàng luôn nhắm mắt. Nàng cũng không tò mò mở mắt ra nhìn khi nghe tiếng động do bọn cảnh sát gây ra lúc chúng sợ bị tấn công. Áo quần của nàng bẩn thỉu và xộc xệch, hai bàn tay mềm mại phơi ra gió lạnh, tóm lại là cả cái tổng thể quyến rũ ấy, cả cái khuôn mặt có khả năng buộc cả vũ trụ phải tôn thờ ấy đã trở nên ủ ê, phờ phạc không thể nào tả nổi. Tôi cưỡi ngựa đi bên cạnh cỗ xe, bỏ ra giây lát để ngắm nàng. Tôi không còn tự chủ được mình đến nỗi nhiều lúc tôi suýt ngã ngựa. Những lời than thở của tôi đã khiến nàng quay ra nhìn tôi. Nàng nhận ra tôi và tôi chú ý rằng trong cử động đầu tiên, nàng toan nhảy ra khỏi chiếc xe để đến với tôi, nhưng bị sợi dây xích giữ lại, nàng trở lại ngồi như cũ.
Tôi yêu cầu bọn cảnh sát vì lòng thương hại hãy cho xe dừng lại một lát; chúng đồng ý vì tiền. Tôi xuống ngựa, đến ngồi bên cạnh nàng. Nàng ủ ê và yếu đến mức không thể nói lên lời cũng như không thể cựa quậy nổi đôi bàn tay. Trong khi đó, nước mắt tôi thấm đẫm đôi tay nàng, bản thân tôi cũng chẳng thốt lên được một lời, hai chúng tôi cứ ngồi như thế trong một tình thế bi đát chưa từng có bao giờ. Khi chúng tôi bắt đầu nói được với nhau thì lời lẽ cũng bi thương không kém.
Manông nói rất ít. Hình như nỗi xấu hổ và đau thương đã làm hỏng thanh quản của nàng, giọng nói của nàng yếu ớt và run rẩy. Nàng cảm ơn tôi đã không quên nàng, đã đem lại cho nàng, nàng vừa nói vừa thở dài, niềm vui được trông thấy tôi ít nhất một lần nữa và để có thể nói với tôi lời vĩnh quyết. Nhưng khi tôi đảm bảo với nàng rằng không có gì có thể chia rẽ tôi với nàng, rằng tôi sẵn sàng đi theo nàng đến chân trời góc bể để chăm sóc nàng, phục vụ nàng, để yêu nàng và để gắn bó số kiếp khốn khổ của tôi với số kiếp của nàng, thì cô gái tội nghiệp ấy đã tỏ ra có tình cảm trìu mến và đau đớn đến nỗi tôi lo sợ có một cái gì đó cho mạng sống của nàng trước một sự xúc động mãnh liệt đến như vậy. Tất cả những diễn biến trong tâm hồn nàng hình như tập trung cả vào đôi mắt. Nàng nhìn tôi chăm chú. Đôi lúc nàng mở miệng ra nhưng không nói được lên lời. Tuy nhiên, nàng cũng nói lên được đôi điều. Đó là những lời thán phục tình yêu của tôi, những lời than thở về những điều thái quá của nàng, những lời hoài nghi rằng có thể nào nàng lại có cái hạnh phúc đem lại cho tôi một niềm đắm say hoàn hảo như vậy; đó là những lời van nài tôi từ bỏ cái ý định đi theo nàng và hãy đi tìm ở nơi khác một nguồn hạnh phúc xứng đáng với tôi, cái hạnh phúc mà nàng nói rằng tôi không thể nào có với nàng được.
Bất chấp cái số phận cay nghiệt nhất trong các số phận con người, tôi vẫn cảm thấy có được niềm hoan lạc trong cái nhìn của nàng và trong niềm tin về tình yêu của nàng. Thật ra, tôi đã đánh mất tất cả những gì mà mọi người khác tôi đều quý trọng, nhưng mà tôi đã làm chủ được trái tim của Manông, cái của báu duy nhất mà tôi quý trọng. Sống ở châu Âu hay sống ở châu Mỹ, tôi có thiết gì đến nơi sống của mình, miễn là ở nơi đó, tôi chắc rằng tôi sẽ sung sướng được sống với người yêu của tôi. Chẳng phải cả vũ trụ này là tổ quốc của một đôi tình nhân chung thủy với nhau đó sao? Chẳng phải là người này đã tìm thấy trong người kia cha, mẹ, bà con, bạn bè, giàu sang và hoan lạc đó sao? Nếu như có điều gì làm tôi lo ngại, đó là nỗi lo sợ Manông phải chịu đựng thiếu thốn vì nghèo khổ. Tôi đã hình dung sẽ phải sống với nàng trong một vùng đất hoang vu với những con người hoang dã. Tôi tự nhủ. “Ta chắc rằng ở đây cũng không thể có những kẻ tàn ác như lão G.M… và cha ta. Ít nhất thì họ cũng để ta sống yên ổn. Nếu những lời người ta thuật lại về họ là trung thực, thì họ sống theo quy luật của tự nhiên. Họ không hề biết đến những si mê biển lận ti tiện của lão G.M… cũng như những tư tưởng quái đản về danh dự đã biến cha ta thành kẻ thù của ta. Họ sẽ không quấy rầy một đôi tình nhân mà họ sẽ thấy là cũng sống giản đơn như họ.”
Như vậy là tôi yên tâm về mặt đó. Nhưng tôi không hề có những ý nghĩ lãng mạn nào đối với những nhu cầu thông thường của cuộc sống hàng ngày. Tôi đã quá hiểu rằng có những sự thiếu thốn không thể nào chịu nổi, nhất là đối với một người con gái mảnh mai đã quen sống sung túc và đầy đủ tiện nghi. Tôi hết sức buồn phiền vì đã chi tiêu vô lối món tiền của tôi, và chút ít còn lại thì lại bị bọn cảnh sát gian tham kia cướp hết. Tôi nghĩ rằng với một món tiền nhỏ, tôi có thể hy vọng không những trụ được một thời gian trước tình trạng nghèo khổ ở Mỹ, nơi đồng tiền còn hiếm hoi, mà còn có thể dựng lên một cơ sở kinh doanh, tính kế lâu dài. Ý nghĩ đó làm tôi nảy ra ý định viết thư cho Tibecgiơ là người mà tôi thấy luôn luôn sẵn sàng giúp đỡ tôi trên tình bạn bè. Tại thành phố đầu tiên mà chúng tôi đi qua, tôi viết ngay cho anh ấy. Tôi chỉ cho anh ấy biết lý do là tôi đang rất cần đến Havơrơ dơ Graxơ, nơi mà tôi thú nhận với anh ấy là tôi sẽ đưa Manông đến. Tôi yêu cầu anh ấy gởi cho tôi một trăm pixtôn. Tôi báo với anh: “Anh hãy gởi tiền cho tôi đến Havơrơ, qua bưu điện. Như anh thấy đấy, đây là lần cuối cùng tôi quấy rầy anh, nhưng do vì người yêu khốn khổ của tôi bị buộc phải xa tôi mãi mãi, tôi không thể để nàng ra đi mà không đem lại cho nàng đôi chút an ủi để làm nhẹ bớt số kiếp của nàng, cũng như những nuối tiếc chết người của tôi”.
Bọn cảnh sát đã trở nên khó tính khi chúng khám phá được nỗi đắm say cuồng nhiệt của tôi, chúng liên tục tăng giá bất cứ một ân huệ nho nhoi nào và chẳng bao lâu tôi đã lâm vào cảnh bần cùng. Vả lại, tình yêu không cho phép tôi dè xẻn. Tôi ở bên cạnh Manông suốt ngày từ sáng đến tối, đối với tôi, thời gian không tính bằng giờ nữa mà bằng cả ngày dài. Cuối cùng, tôi hết nhẵn tiền và phải chịu đựng những sự sách nhiễu tàn nhẫn của sáu thằng khốn nạn, chúng đối xử với tôi một cách ngạo mạn không thể nào chịu đựng nổi. Ông đã chứng kiến việc đó ở Pacy. Việc được gặp ông là một giây lát khuây khỏa sung sướng do vận may đem lại cho tôi. Trái tim hào hiệp của ông, trước những nhọc nhằn đau khổ của tôi, đã khiến ông động lòng thương xót. Sự trợ giúp hào phóng của ông đã giúp tôi đến được Lơ Havơrơ và bọn cảnh sát đã giữ đúng lời hứa của chúng hơn là tôi mong đợi.
Chúng tôi đến Lơ Havơrơ. Trước tiên, tôi đến bưu điện. Tibecgiơ không có đủ thời gian để trả lời tôi. Tôi hỏi liệu tôi có thể nhận được thư của anh ấy chính xác vào ngày nào. Thư chỉ có thể đến nơi vào hai ngày sau đó, và do sự trớ trêu của số phận hẩm hiu của tôi, chiếc tàu của chúng tôi lại nhổ neo đúng vào buổi sáng ngày hôm đó. Tôi không thể nói với ông là tôi đã thất vọng dường nào. Tôi thốt lên: “Đến thế kia ư? Ngay đến cả trong hoạn nạn, tôi cũng phải chịu những điều thái quá như vậy ư?” Manông trả lời tôi.
“Than ôi! Một cuộc đời đau khổ đến như thế này có đáng để chúng ta sống không? Chàng hiệp sĩ thân thương của em ơi! Chúng ta hãy cùng chết ở Havơrơ này! Hãy để cho cái chết cùng một lúc chấm dứt những đau thương của chúng ta! Chúng ta kéo lê những đau khổ ấy đến một đất nước xa lạ mà ở đó chắc là chúng ta phải chịu đựng những nỗi cùng cực khủng khiếp, bởi vì người ta coi việc đưa em sang đó là một khổ hình, thì có ích gì? Chúng ta hãy cùng chết đi, – nàng nói tiếp, – hay ít nhất là anh giết em đi, rồi đi tìm lấy một số phận tốt đẹp hơn trong vòng tay của một người tình có hạnh phúc hơn em!”
“Không đâu! Không đâu! – Tôi đáp, – đối với anh được sống trong đau khổ với em đã là một số phận đáng được thèm muốn rồi!”
Lời nói của nàng làm tôi run sợ. Tôi đoán rằng nàng bị những đau khổ dằn vặt quá mức. Tôi cố gắng làm ra vẻ bình tĩnh để tránh cho nàng những ý nghĩ bi thảm về cái chết và tuyệt vọng. Tôi quyết định từ đó về sau phải giữ cái thái độ ấy, và về sau, tôi đã được chứng minh rằng không có gì có thể làm cho một người phụ nữ can đảm lên bằng sự gan dạ của người đàn ông mà họ yêu.
Khi tôi đã không còn hy vọng nhận được sự trợ giúp của Tibecgiơ nữa, tôi bán con ngựa đi. Tiền bán ngựa cộng với số tiền của ông giúp tôi còn lại, tất cả tôi có được món tiền còm là mười bảy pixtôn. Tôi bỏ ra bảy đồng để mua đôi ba thứ lặt vặt cần thiết cho Manông, còn thì tôi giữ chặt mười đồng kia, xem đó như là cơ sở của vận hội cùng những niềm hy vọng của chúng tôi ở Mỹ. Tôi không có khó khăn gì trong việc xin được thu nhận lên tàu. Bấy giờ, người ta đang tìm những thanh niên tự nguyện sang phục vụ ở thuộc địa. Tôi khỏi phải trả tiền đi tàu và tiền ăn. Hôm sau có chuyến xe thư đi Paris, tôi bèn viết một lá thư cho Tibécgiơ. Bức thư xúc động đã làm cho anh ấy mủi lòng đến cực độ bởi vì nó đã làm cho anh ấy có một quyết định chỉ có thể xuất phát từ một tấm lòng thương mến và hào hiệp vô biên đối với một người bạn thân khốn khổ.
Chúng tôi nhổ neo. Gió thuận. Chúng tôi được thuyền trưởng dành cho một chỗ riêng trên tàu. Ông ta nhân từ đối xử với chúng tôi, có khác hơn đối với những người khốn khổ cùng đi. Ngay trong ngày đầu, tôi đã tiếp xúc riêng với ông ta và để làm cho ông ta có chút ít quan tâm đến tôi, tôi đã thổ lộ với ông ta một phần những nỗi bất hạnh của tôi. Tôi không nghĩ rằng tôi đã có lỗi khi nói đối với ông ta rằng tôi đã làm lễ cưới Manông. Ông ta làm ra vẻ tin tôi và đứng ra che chở cho chúng tôi. Ông cho chúng tôi ăn uống tử tế, những sự quan tâm riêng của ông đối với chúng tôi đã khiến cho những người cùng đi vì nể chúng tôi. Tôi luôn luôn quan tâm không để cho Manông phải chịu khổ vì quá thiếu thốn. Nàng nhận rõ điều đó và cùng với nỗi đau xót thấy tôi cam chịu những thiếu thốn cực độ vì nàng, đã làm cho nàng trở nên rất mực yêu thương, say đắm, chú ý đến từng nhu cầu nhỏ nhất của tôi, thành ra giữa hai chúng tôi đã diễn ra một cuộc tranh nhau để phục vụ cho nhau, để tỏ tình yêu với nhau. Tôi không hề tiếc nuối gì châu Âu. Ngược lại, càng tiến gần lại châu Mỹ, tôi càng thấy lòng mình thanh thản và bình yên hơn. Nếu như tôi được đảm bảo rằng tại nơi đó, chúng tôi sẽ không thiếu những thứ cần thiết nhất cho cuộc sống thì tôi đã cảm ơn số phận đã xoay chuyển những tai họa của chúng tôi theo hướng thuận lợi như vậy.
Sau hai tháng trên biển, cuối cùng chúng tôi đã đến được bến bờ mong đợi. Thoạt nhìn, đất nước đó chẳng có gì là thú vị. Đó là những cánh đồng cằn cỗi không có người ở, nơi người ta chỉ thấy lơ thơ vài khóm lau sậy và vài hàng cây bị gió làm cho trụi lá. Không có dấu vết của người hay thú vật. Tuy vậy, viên thuyền trưởng đã cho bắn mấy phát đại bác và chẳng bao lâu sau, chúng tôi đã thấy một đám công dân của Tân Oóclêăng ồn ào vui vẻ tiến lại phía chúng tôi. Chúng tôi đã không nhận ra thị trấn. Nó bị một quả đồi nhỏ che khuất, ở phía bên kia. Chúng tôi được tiếp đón như những người từ trên trời rơi xuống. Những người cư dân khốn khổ đó đã dồn dập hỏi chúng tôi hàng nghìn câu hỏi về tình trạng của nước Pháp và về các tỉnh, sinh quán của họ. Họ ôm hôn chúng tôi như những người đồng đội thân thiết cùng đến chia sẻ khổ cực và cô quạnh với họ. Chúng tôi cùng về thị trấn với họ, nhưng chúng tôi càng tiến lên, chúng tôi càng ngạc nhiên thấy rằng cái mà người ta khoe là một thị trấn tốt đẹp chỉ là vài cái nhà tranh nghèo nàn ghép lại. Có chừng năm hoặc sáu trăm người ở trong những căn nhà đó. Ngôi nhà của ông thống đốc khá hơn một chút vì cao hơn và ở vào vị trí tốt hơn. Nó được một số công trình bằng đất bảo vệ, chung quanh có một cái hào rộng.
Thoạt tiên, chúng tôi được đem trình diện với ông thống đốc. Ông ta và viên thuyền trưởng hội đàm bí mật với nhau một lúc lâu, rồi sau đó, quay trở lại với bọn chúng tôi, ông lần lượt đánh giá cô này sau cô khác, tất cả các cô gái đã đi tàu đến đây. Họ gồm tất cả ba mươi người, bởi vì tại Havơrơ đã có thêm một đoàn khác nhập vào đoàn chúng tôi. Sau khi đã xem xét tất cả một hồi lâu, ông thống đốc cho gọi đám thanh niên trong thị trấn đã mòn mỏi vì chờ được có vợ từ lâu, đến. Ông tặng những cô đẹp nhất cho những chàng có vai vế, số còn lại thì bốc thăm. Ông ta không nói gì đến Manông, nhưng sau khi đã ra lệnh cho những người khác rút lui, ông giữ chúng tôi, Manông và tôi ở lại. Ông nói với chúng tôi:
“Tôi được ông thuyền trưởng cho biết là anh chị đã kết hôn với nhau và trong suốt cuộc hành trình ông đã thấy anh chị là những con người có trí tuệ và phẩm giá. Tôi không đi sâu vào những lý do đã gây tai họa cho anh chị, nhưng nếu anh chị tỏ ra biết cách cư xử lịch sự, như vẻ mặt anh chị cho tôi thấy là như vậy, tôi sẽ không tiếc điều gì để làm cho số phận anh chị ở đây được dễ chịu; và chính anh chị cũng trở lại giúp tôi tìm được một vài điều thú vị trong cái chốn hoang dã và cô quạnh này.”
Tôi trả lời ông với thái độ mà tôi tin rằng sẽ làm cho ông khẳng định thêm những suy nghĩ của ông về chúng tôi. Ông ta ra lệnh chuẩn bị cho chúng tôi một chỗ ở trong thị trấn và giữ chúng tôi ở lại ăn tối với ông. Đối với một người làm thủ lĩnh của một đám người bị lưu đày khốn khổ, tôi nhận thấy ông là một người rất lịch sự. Ông không hề hỏi công khai chúng tôi về thực chất những biến cố trong cuộc đời của chúng tôi. Cuộc nói chuyện của chúng tôi vẫn diễn ra chung chung, và tuy buồn bã, Manông và tôi vẫn cố gắng làm cho nó thú vị.
Buổi tối, người ta đưa chúng tôi đến nơi ở đã chuẩn bị cho chúng tôi. Chúng tôi thấy đó là một căn nhà tồi tàn làm bằng gỗ và đất sét, gồm có ba buồng trệt và ở trên là một tầng kho để thóc. Ông thống đốc đã cho đặt ở đây năm, sáu cái ghế tựa và một số đồ đạc cần thiết nhất cho cuộc sống. Manông tỏ ra kinh hoàng khi thấy cái chỗ ở tồi tàn đến vậy. Chính là nàng lo cho tôi nhiều hơn là lo cho nàng. Khi chúng tôi chỉ còn lại một mình, nàng ngồi xuống và bắt đầu khóc nức nở. Tôi bắt đầu an ủi nàng, nhưng khi nàng cho tôi biết rằng chỉ lo phiền cho tôi thôi và trong cơn hoạn nạn chung của hai đứa, nàng chỉ tính đến những đau khổ của tôi; tôi bèn tỏ ra là mình người can đảm, thậm chí còn vui vẻ nữa để cho nàng vui lên. Tôi nói với Manông:
“Anh có gì mà phải than thân trách phận nào? Anh có tất cả những gì anh muốn. Em yêu anh, phải không nào? Có bao giờ anh mong được một hạnh phúc khác hơn không? Hãy để cho Trời quyết định số phận chúng ta. Anh không thấy nó đáng tuyệt vọng chút nào. Ông thống đốc là một con người lịch sự; ông ấy tỏ ra quý mến chúng ta, chắc là ông ta không để chúng ta thiếu những cái cần thiết. Còn về nhà ở của chúng ta có vẻ nghèo nàn, bàn ghế thô sơ quá, thì em có thể nhận xét rằng ở đây có ai được ở và trang bị tốt hơn chúng ta đâu.” Rồi tôi ôm hôn nàng và nói thêm: “Với lại, em là một nhà hóa học tuyệt vời. Em sẽ biến tất cả thành vàng”
“Thế thì anh sẽ là người giàu nhất trên vũ trụ này, bởi vì nếu chưa từng có một tình yêu nào như tình yêu của anh, thì cũng không thể có người nào được yêu thắm thiết như anh. Em biết rõ về mình chứ. Em cảm thấy rõ ràng em chưa bao giờ xứng đáng với tình yêu cao cả của anh đối với em. Em đã gây cho anh bao nỗi phiền muộn, mà nếu không có lòng nhân từ cực độ, thì anh không thể nào tha thứ cho em được. Em là đứa con gái nhẹ dạ và tính khí thất thường, và ngay khi yêu anh say đắm, như em vẫn luôn luôn yêu anh, em cũng chỉ là một con bội bạc. Nhưng anh không thể hiểu nổi là em đã thay đổi như thế nào đâu. Từ khi chúng ta rời nước Pháp, anh thấy em thường khóc luôn; nhưng nước mắt em tuôn ra đâu có phải là vì những đau khổ của bản thân em. Em không còn cảm thấy đau khổ nữa chừng nào anh đến chia sẻ với em. Em chỉ khóc vì cảm thương và đau xót cho anh thôi. Em không thể nào khuây khỏa được vì trong một lúc nào đó trong cuộc đời em, em đã gây phiền muộn cho anh.” Rồi vừa khóc sướt mướt, nàng nói thêm: “Em không lúc nào ngừng hối hận vì đã có lúc không chung thủy với anh; em vừa đau xót, vừa thán phục khi thấy tình yêu đã thúc đẩy anh hy sinh dường nào cho một đứa con gái khốn khổ, không xứng đáng với tình yêu ấy, và dù em có đổ hết cả máu ra cũng không thể nào đền đáp được một nửa những gian khó mà em đã gây ra cho anh.”
Những giọt lệ, lời lẽ và cả giọng nói của nàng khi nói lên những điều đó gây cho tôi một ấn tượng kỳ lạ đến mức tôi có cảm giác tâm hồn mình có sự phân chia. Tôi nói với nàng:
“Hãy coi chừng, em Manông thân yêu! Hãy coi chừng! Anh không còn đủ sức để chịu đựng nổi những biểu lộ mạnh mẽ đến như vậy của tình yêu của em. Anh không quen với những niềm vui thái quá. Ôi! Lạy Chúa! – tôi thốt lên, – con không còn cầu mong gì ở Chúa nữa! Con đã được đảm bảo về trái tim của Manông rồi. Trái tim ấy đã là trái tim như con hằng mong ước để có được hạnh phúc. Niềm đại hạnh phúc của con đã được vững bền rồi!”
Nàng đáp lại tôi:
“Niềm hạnh phúc đó tùy thuộc ở em thì nhất định là nó vững bền và em cũng biết rõ em sẽ trông chờ vào đâu để có được hạnh phúc vững bền như vậy.”
Tôi đi ngủ với những ý nghĩ tuyệt vời đó, những ý nghĩ đã biến cái túp lều của tôi thành cung điện của ông vua hùng mạnh nhất thế giới. Sau tất cả những điều như vậy, Châu Mỹ đối với tôi đã trở thành miền đất của hoan lạc. Tôi thường nói với Manông:
“Khi người ta không muốn hưởng những lạc thú chân chính của tình yêu, thì phải đến “Tân Oóclêăng” [40] . Chính ở đây, người ta mới yêu nhau không vụ lợi, không ghen tuông, không phản trắc. Đồng bào chúng ta đến đây để tìm vàng, nhưng họ không thể nào tưởng tượng nổi là chúng ta đã tìm thấy ở đây những kho báu còn quý giá hơn nhiều.”
Chúng tôi chăm chút vun đắp mối tình nghĩa bạn bè với ông thống đốc. Vài tuần sau khi chúng tôi đến, ông đã có lòng tốt trao cho tôi một chức vụ nhỏ vừa thiếu người trong đồn lũy ở đây. Tuy chức vụ không cao sang gì, tôi vui lòng nhận lấy như ân huệ của trời. Nó giúp tôi sống được mà không phải nhờ vả ai. Tôi thuê cho tôi một tên đầy tớ trai và Manông một người hầu gái. Cơ ngơi nho nhỏ của chúng tôi dần dần ổn định. Tôi ăn ở có chừng mực và Manông thì cũng vậy. Chúng tôi không bỏ lỡ một cơ hội nào để giúp đỡ và làm điều tốt lành cho những người láng giềng của chúng tôi. Thiện ý đó cùng với cung cách cư xử dịu dàng của chúng tôi đã khiến cho cả khu thuộc địa tin cậy và yêu mến chúng tôi. Chẳng bao lâu, chúng tôi được quý mến đến mức chúng tôi được tôn trọng như những người đứng hàng đầu trong khu thuộc địa, sau ông thống đốc.
Tính chất trong trắng của những công việc của chúng tôi cùng với sự bình an thường xuyên mà chúng tôi đắm mình trong đó đã làm cho chúng tôi bất giác nhớ đến những tư tưởng về tôn giáo. Manông chưa hề bao giờ là một cô gái nghịch đạo. Tôi cũng chẳng phải là một tên không tín ngưỡng quá đáng đến mức tự hào vì ngoài cuộc sống phóng túng lại còn là một người không tôn giáo. Tình yêu và tuổi trẻ đã khiến chúng tôi sống buông tuồng. Kinh nghiệm trong trường đời đã bắt đầu làm cho chúng tôi trưởng thành; kinh nghiệm cũng tác động đến chúng tôi như tuổi tác. Những câu chuyện của chúng tôi, luôn luôn chín chắn, dần dần không tự giác đưa chúng tôi đến chỗ muốn được hưởng một tình yêu trong đức hạnh. Tôi là người trước tiên đưa ra cái đề nghị thay đổi đó với Manông. Tôi hiểu rõ bản chất của lòng nàng. Nàng ngay thẳng và chân chất trong tình cảm, và đức tính đó làm cho nàng luôn luôn dễ dàng đến với đức hạnh. Tôi nói cho nàng hiểu rằng trong tình yêu của chúng tôi còn thiếu một cái gì đó:
“Đó là xin được Chúa Trời chứng giám cho tình yêu đó. Cả hai chúng ta đều có một tâm hồn cao thượng và một trái tim nhân hậu quá để có thể cố tình sống mà lại lãng quên bổn phận đối với Chúa. Ở Pháp, là nơi mà chúng ta không thể nào không yêu nhau, nhưng đồng thời cũng không thể nào hợp pháp hóa được tình yêu đó thì còn có thể cho qua được; nhưng ở Mỹ, đây là nơi mà chúng ta làm chủ lấy mình, nơi chúng ta không còn phải tránh né những luật lệ khắc nghiệt về môn đăng hộ đối, nơi người ta đã tưởng là chúng ta đã cưới nhau, thì còn ai có thể ngăn cản chúng ta cử hành hôn lễ và làm cho tình yêu của chúng ta cao quý thêm lên bằng những lời thề nguyền mà tôn giáo cho phép. Đối với anh, anh chẳng có gì mới để tặng cho em ngoài trái tim và bàn tay của anh, nhưng anh sẵn sàng lại tặng em những thứ đó dưới chân bàn thờ Chúa.”
Hình như những lời lẽ đó làm cho Manông hết sức vui mừng. Nàng trả lời tôi:
“Anh có tin rằng từ khi chúng ta sang đến Mỹ, em đã nghĩ đến điều đó hàng nghìn lần không? Vì sợ làm anh phật ý, em đã giữ kín ước nguyện đó trong lòng. Em không hề bao giờ tự phụ mong được làm người vợ chính thức, có hôn phối của anh.”
Tôi đáp lại nàng:
“Ôi, Manông, chẳng bao lâu nữa em sẽ là hoàng hậu, nếu như trời sinh anh ra đã là vua. Chúng ta đừng phân vân nữa. Chúng ta không phải lo sợ một chướng ngại nào. Ngay trong ngày hôm nay anh sẽ thưa chuyện với ông thống đốc và thú thật với ông ấy là chúng ta đã lừa dối ông. Chỉ có những đôi tình nhân tầm thường mới sợ những sợi dây ràng buộc cần thiết của hôn nhân. Họ sẽ không còn sợ những sợi dây đó khi họ chắc chắn được mãi mãi mang những sợi dây ràng buộc của tình yêu, như chúng ta.”
Sau cái quyết định này, Manông cực kỳ vui sướng. Tôi tin chắc rằng không một người nào lại không tán thành quan điểm đó trong hoàn cảnh của tôi, lúc bấy giờ, nghĩa là giữa lúc tôi bị một tình yêu nghiệp chướng chế ngự, một tình yêu si mê mà tôi không thể chống lại và thắng nổi bằng những cơn hối hận trỗi dậy trong lòng mình. Nhưng liệu có ai lại đi buộc tội những lời than thân trách phận của tôi là “bất công” với Trời, khi tôi oán trách Chúa Trời đã quá khắc nghiệt chối bỏ cái ý nguyện của tôi, một ý nguyện chỉ cốt làm vừa lòng Chúa. Than ôi! Tôi chỉ nói là Chúa chối bỏ thôi ư? Không phải là Chúa đã chối bỏ mà là đã trừng phạt cái ý nguyện đó như trừng phạt một tội ác. Chúa đã kiên nhẫn để mặc tôi mù quáng trượt trên con đường tội lỗi, nhưng một khi tôi bắt đầu quay lại con đường đức hạnh thì Người đã trừng phạt tôi một cách nghiêm khắc nhất. Tôi sợ không còn đủ sức để kết thúc câu chuyện về cái biến cố bi thảm chưa hề có này.
Tôi đến gặp ông thống đốc như đã thỏa thuận với Manông để yêu cầu ông đồng ý dự hôn lễ của chúng tôi. Chắc là tôi sẽ không nói chuyện hôn lễ với ông cũng như với người nào khác, nếu như cha tuyên úy, vị linh mục duy nhất trong thị trấn, đồng ý cử hành hôn lễ cho chúng tôi mà không cần sự tham dự của ông thống đốc, nhưng vì không hy vọng rằng cha sẽ giữ kín được, nên tôi quyết định hành động công khai. Ông thống đốc có một người cháu họ, tên là Synnơlê, rất thân thiết với ông. Anh ta trạc ba mươi tuổi, can đảm nhưng bẳn tính và hung bạo. Anh ta chưa có vợ. Sắc đẹp của Manông đã làm anh ta xao xuyến ngay từ hôm đầu tiên chúng tôi đến Mỹ và sau đó qua bao nhiêu dịp gặp gỡ Manông trong suốt chín, mười tháng đã khiến anh ta si mê và thầm yêu, trộm nhớ nàng. Tuy nhiên, do vì tin rằng tôi đã có vợ qua hôn lễ rồi, như chú anh ta và cả thị trấn đều tin như vậy, nên anh ta cố nén tình yêu lại, không để lộ ra điều gì, thậm chí trong nhiều trường hợp anh ta còn tỏ ra nhiệt tình giúp đỡ tôi. Khi tôi đến đồn chỉ huy thì gặp anh ta và chú anh ta ở đấy. Chẳng có lý do nào buộc tôi phải giữ bí mật với anh ta, do đó tôi đã trình bày ý nguyện của tôi với ông thống đốc trước mặt anh ta. Ông thống đốc lắng nghe tôi với sự nhân từ thường ngày của ông. Tôi kể cho ông nghe một phần cuộc đời tôi, ông nghe có vẻ thích thú và khi tôi yêu cầu ông đến dự lễ cưới mà tôi đang dự định, ông còn hào hiệp hứa sẽ chịu mọi chi phí cho hôn lễ. Tôi ra về, rất hài lòng.
Một giờ sau, tôi thấy cha tuyên úy đến thăm. Tôi tưởng rằng cha đến để chỉ dẫn vài việc gì đó về hôn lễ của chúng tôi, nhưng sau khi đã lạnh nhạt chào tôi, cha nói vắn tắt với tôi rằng ông thống đốc cấm tôi không được nghĩ đến việc tổ chức hôn lễ nữa, vì ông ấy có những ý kiến khác đối với Manông. Tim tôi giật thốt lên và tôi hỏi lại cha tuyên úy:
“Những ý kiến khác đối với Manông à? Những ý kiến gì vậy, thưa cha?”
Cha tuyên úy trả lời tôi rằng bản thân tôi đã biết ông thống đốc, là chủ nhân ở đây, rằng Manông được đưa từ Pháp sang là để phục vụ cho khu thuộc địa và tùy quyền định đoạt của ông ấy, rằng cho đến nay, ông ta không có quyết định gì đối với nàng là vì ông nghĩ rằng nàng đã có chồng qua hôn lễ rồi, nhưng vì được chính tôi cho biết không phải là như vậy, nên ông ta quyết định đúng hơn là nên gả nàng cho ông Synnơlê, là người đang say mê Manông.
Sự nóng giận đã làm tôi không còn thận trọng nữa. Tôi kiêu hãnh tống khứ cha tuyên úy ra khỏi nhà tôi và thề rằng cả viên thống đốc, cả Synnơlê và cả cái thị trấn này cũng không dám động đến vợ hay tình nhân của tôi, tùy họ muốn gọi ra sao thì gọi.
Tôi lập tức báo cho Manông biết bức thông điệp ác hại mà tôi vừa nhận được. Chúng tôi đoán rằng Synnơlê đã cám dỗ được ông chú của y từ khi tôi ra về và đó cũng là hậu quả của một ý đồ nghiền ngẫm từ lâu. Họ là những kẻ mạnh hơn. Chúng tôi đang ở “Tân Oóclêăng” như ở giữa biển, nghĩa là cách biệt với phần còn lại của thế giới bởi những không gian bao la. Trốn đi đâu bây giờ, trong một đất nước xa lạ, hoang vu chỉ có loài thú dữ hoặc những con người cũng hoang đã như chúng mà thôi. Tôi được cả thị trấn quý trọng, nhưng không thể hy vọng làm cho nhân dân thị trấn xúc động có lợi cho tôi đến mức có thể hy vọng ở họ một sự giúp đỡ tương xứng với tai nạn của tôi. Cần phải có tiền, nhưng tôi thì nghèo. Vả lại, hiệu quả của việc gây xúc động trong dân chúng không chắc chắn gì và nếu không may mà thất bại thì tai họa của chúng tôi sẽ không phương cứu chữa. Những ý nghĩ ấy quay cuồng trong đầu tôi. Tôi trao đổi một phần những ý nghĩ đó với Manông. Không chờ cho nàng có ý kiến gì, tôi lại suy nghĩ miên man. Tôi quyết định thế này, rồi lại bác đi để có quyết định khác. Tôi lẩm bẩm một mình rồi lại nói to lên những ý nghĩ của mình; tóm lại là tôi rơi vào một tâm trạng xáo động mà tôi không biết so sánh với cái gì, bởi vì chưa có một tâm trạng nào giống như thế. Manông chăm chắm nhìn tôi. Qua thái độ bối rối của tôi, nàng đoán được mức độ to lớn của nguy cơ, và run sợ cho tôi hơn là cho nàng, người con gái hiền dịu ấy không dám mở miệng để nói lên những lo sợ của mình.
Sau khi đã suy nghĩ mông lung, tôi quyết định đến gặp ông thống đốc để cố gắng làm cho ông xúc động khi nghĩ đến những điểm về danh dự, hoặc về sự kính trọng và quý mến của tôi đối với ông. Manông không muốn tôi đi. Nàng rưng rưng nước mắt bảo tôi:
“Anh đi đến chỗ chết. Chúng sẽ giết anh mất. Em sẽ không còn thấy anh nữa. Em muốn chết trước anh.”
Phải cố gắng lắm tôi mới thuyết phục được nàng, rằng tôi cần phải đi, còn nàng cần phải ở nhà. Tôi hứa với nàng là sẽ gặp lại nàng trong chốc lát nữa thôi. Cũng như tôi nàng có biết đâu rằng sự nổi giận của Chúa Trời và nỗi hằn thù của kẻ thù của chúng tôi sẽ ập xuống đầu nàng.
Tôi đi đến đồn chỉ huy. Ông thống đốc và cha tuyên úy cùng ở đó. Để làm cho ông ta động lòng, tôi đã hạ mình cầu khẩn van xin, làm những điều mà nếu vì một lý do nào khác, tôi đã chết đi vì xấu hổ. Tôi đã nêu lên với ông ta bao nhiêu những điều có thể gây xúc động cho một trái tim không phải là tim của một con hổ hung dữ và tàn ác. Nhưng đáp lại những lời than thở cầu xin của tôi, con người man rợ ấy chỉ có hai lời giải đáp mà ông nhắc đi nhắc lại hàng trăm lần. Ông ta bảo tôi: Manông là thuộc quyền định đoạt của ông ta; ông ta đã hứa với cháu ông ta. Tôi đã nêu quyết tâm là phải tự kiềm chế mình đến cùng. Tôi chỉ thưa với ông ta rằng tôi tin ông ta là bạn của tôi nên không nỡ lòng nào giết tôi bởi vì tôi thà chết đi còn hơn là mất người yêu.
Khi ra về, tôi tin chắc rằng chẳng còn hy vọng gì ở lão già cứng rắn, sẵn sàng xuống hỏa ngục nghìn lần vì thằng cháu yêu của lão. Tuy nhiên, tôi quyết tâm vẫn kiên trì trong ý định giữ vẻ bình tĩnh đến cùng, đồng thời cũng quyết tâm, nếu người ta đi đến chỗ bất công cùng cực với tôi, sẽ đem lại cho châu Mỹ một trong những tấn kịch đẫm máu nhất, khủng khiếp nhất mà tình yêu chưa từng gây ra. Tôi vừa đi vừa suy ngẫm về cái dự định đó, giữa lúc số phận, hình như muốn thúc đẩy nhanh sự sụp đổ của tôi, đã xui khiến tôi gặp Synnơlê trên đường đi. Qua ánh mắt của tôi, anh ta đọc được một phần những suy nghĩ của tôi. Tôi đã từng nói rằng anh ta là một người gan dạ. Anh ta sáp lại tôi và bảo tôi:
“Ông anh không đi tìm tôi đấy chứ? Tôi biết rằng những ý đồ của tôi lăng nhục ông anh và tôi đã dự kiến là phải sống mái với ông anh. Nào, chúng ta hãy đi, để xem ai là kẻ sung sướng hơn?”
Tôi đáp lại rằng anh ta nói có lý và chỉ có cái chết của tôi mới có thể chấm dứt được cuộc tranh chấp này. Chúng tôi ra khỏi thị trấn chừng một trăm bước. Chúng tôi so kiếm với nhau, tôi đâm anh ta bị thương đồng thời cũng đoạt được luôn thanh kiếm của anh ta. Anh ta điên tiết vì thất bại đến nỗi không thèm xin tôi tha chết và trả Manông lại cho tôi. Có lẽ tôi đã có quyền cùng một lúc đoạt của anh ta cả hai thứ, nhưng một dòng máu hào hiệp luôn luôn chảy trong người tôi. Tôi ném trả cho anh ta thanh kiếm, rồi bảo:
“Chúng ta hãy đấu trở lại, nhưng phải nhớ rằng lần này thì không có tha tội chết đâu!”
Anh ta tấn công tôi với một sự điên dại không tả nổi. Tôi phải thú nhận rằng tôi không giỏi về nghề võ lắm vì chỉ có trải qua ba tháng tập môn đấu kiếm ở Paris. Nhưng tình yêu đã chỉ đạo mũi kiếm của tôi. Synnơlê đã đâm xuyên suốt cánh tay tôi, nhưng tôi đã đánh trả lại và đã đâm cho anh ta một nhát mạnh đến nỗi anh ta ngã gục xuống dưới chân tôi, không cử động được nữa.
Tuy vui mừng vì đã chiến thắng sau một trận chiến đấu ác liệt, tôi suy nghĩ ngay đến những hậu quả của cái chết của Synnơlê. Tôi không thể hy vọng được ân xá hoặc hoãn việc chịu cực hình. Biết được tình thương yêu của ông thống đốc đối với đứa cháu của ông ta, tôi chắc rằng chỉ không đầy một giờ sau khi người ta biết được cái chết của anh ta, tôi cũng không thoát chết được nào. Nhưng dù cho mối lo đó cấp bách đến đâu, nó cũng không phải là nguyên nhân chính của mối lo ngại của tôi lúc đó. Manông, lợi ích của Manông, nguy cơ đang đe dọa nàng, nỗi lo âu phải mất nàng làm cho tôi gan ruột rối bời đến nỗi tôi hoa cả mắt, không còn nhận ra mình đang ở đâu. Tôi thương tiếc cho cái chết của Synnơlê. Tôi thấy hình như chỉ có chết ngay đi mới là phương thuốc chữa khỏi những đau khổ của tôi. Nhưng chính cái ý nghĩ về cái chết đó đã làm cho tôi tỉnh trí trở lại và làm cho tôi còn có khả năng đi đến một quyết định. Tôi thốt lên:
“Sao? Ta lại muốn chết để chấm dứt những nỗi khổ đau của ta sao? Thế ra còn có điều làm ta lo sợ hơn là mất người ta yêu sao? A, ta phải chịu những đau thương cùng cực để cứu giúp người tình của ta rồi hãy chết, sau khi đã chịu đựng đau khổ mà không đạt được cái gì”
Tôi trở lại thị trấn, về nhà. Tôi thấy Manông lả đi vì sợ hãi và lo lắng. Sự có mặt của tôi làm cho nàng tỉnh táo lại. Tôi không thể không nói thật với nàng về cái biến cố khủng khiếp vừa đến với tôi. Nàng ngã ngất trong tay tôi khi nghe tôi thuật lại cái chết của Synnơlê và trông thấy vết thương trên cánh tay tôi. Tôi phải bỏ ra đến mười lăm phút để làm cho nàng tỉnh lại. Bản thân tôi cũng như người đã chết rồi. Tôi chẳng thấy có chút ánh sáng nào về sự an toàn của Manông cũng như của tôi. Khi nàng đã hơi lại sức, tôi nói với nàng:
“Manông, chúng ta sẽ làm gì bây giờ? Ôi, chúng ta sẽ làm gì bây giờ đây? Anh cần phải trốn đi. Em có muốn ở lại trong thị trấn không? Đúng đấy, em cứ ở lại đi! Em còn có thể sung sướng ở đó; còn anh, anh sẽ đi tìm cái chết giữa những con người man rợ hoặc trong móng vuốt của thú dữ.”
Nàng đứng dậy, tuy còn rất yếu, cầm tay tôi, dắt tôi ra cửa rồi bảo tôi:
“Chúng ta cùng trốn đi, không được chần chừ một phút nào nữa! Người ta có thể tình cờ tìm thấy thi hài của Synnơlê và chúng ta sẽ không có thì giờ tránh xa nơi đây.”
Tôi thất sắc hỏi lại nàng:
“Nhưng Manông thân yêu ơi! Em hãy nói cho anh biết chúng ta đi đâu bây giờ? Em có phương sách gì không? Thà rằng em cố sống không có anh ở đây, còn anh thì đem đầu đến đầu hàng ông thống đốc, có tốt hơn không?”
Đề nghị đó chỉ càng làm cho Manông quyết tâm ra đi. Phải theo nàng thôi. Tôi vẫn còn đôi chút tỉnh trí để trước khi đi mang theo một ít rượu mạnh mà tôi để ở trong phòng, cùng với tất cả những thực phẩm mà tôi có thể nhét đầy các túi. Chúng tôi nói với đám gia nhân đang ở trong phòng bên cạnh là chúng tôi đi chơi tối, điều chúng tôi vẫn làm thường ngày, rồi chúng tôi bỏ đi xa dần thị trấn, đi nhanh tuy Manông rất mảnh khảnh.
Tuy tôi hãy còn phân vân chưa biết sẽ trú ngụ ở đâu, tôi vẫn ôm ấp hai niềm hy vọng mà nếu không có, chắc là tôi đã chọn cái chết hơn là không biết số phận Manông rồi sẽ ra sao.
Tôi đã có khá nhiều hiểu biết về đất nước này sau hơn mười tháng ở Mỹ, biết cách làm thế nào để thuần phục những người man rợ [41] . Người ta có thể nộp mình cho họ mà không nhất định phải bị họ giết chết. Tôi còn học được một ít ngôn ngữ và một vài phong tục của họ, qua một số lần có dịp tiếp xúc với họ.
Bên cạnh cái phương sách bi thảm đó, tôi còn một phương sách nữa về phía những người Anh là những người cũng như chúng ta đã có những cơ sở ở phần đất này ở Tân Thế giới. Nhưng tôi hoảng sợ trước sự xa cách. Để có thể đến được những khu thuộc địa của họ, chúng tôi phải vượt qua những đồng khô cằn rộng hàng mấy ngày đường, và leo qua những hòn núi cao và cheo leo mà đường đi cũng khó đối với cả những người vạm vỡ, rắn chắc nhất. Tuy nhiên, tôi vẫn nghĩ rằng chúng tôi có thể lợi dụng cả hai phương sách đó. Sử dụng những người man rợ để đưa đường chúng tôi, và người Anh để đón chúng tôi đến ở với họ.
Chúng tôi mải miết đi, chừng nào sự can đảm của Manông còn cho phép nàng đứng vững, nghĩa là vào khoảng hai dặm, vì nàng luôn luôn không chịu dừng lại sớm hơn. Cuối cùng, mệt quá, nàng đành thú nhận với tôi là không thể nào tiến lên được nữa. Đêm đã đến, chúng tôi ngồi lại giữa một cánh đồng rộng, không tìm ra được một gốc cây để ẩn mình. Công việc đầu tiên của nàng là muốn thay băng cho vết thương của tôi mà nàng đã băng cho tôi trước khi đi. Tôi chống lại nhưng vô hiệu ý muốn đó của nàng. Chắc là tôi sẽ làm nàng phiền lòng đến chết, nếu tôi không để cho nàng có được niềm vui sướng, rằng tôi đã thoải mái và tai qua nạn khỏi trước khi nghĩ đến sự an toàn của chính bản thân nàng. Sau một lát, tôi dành chiều theo ý muốn của nàng. Tôi im lặng và xấu hổ để cho nàng chăm sóc.
Sau khi nàng đã trìu mến chăm sóc xong vết thương cho tôi, đến lượt tôi nồng nàn săn sóc nàng như vậy. Tôi cởi hết quần áo của tôi, lót cho nàng nằm để nàng khỏi quá đau lưng. Nàng phải nhận để tôi dùng mọi cách mà tôi có thể nghĩ ra để chăm sóc nàng. Tôi sưởi ấm những bàn tay nàng bằng những cái hôn nồng cháy và hơi nóng của những lời than thở của tôi. Tôi thức suốt đêm để trông chừng nàng và để cầu Trời ban cho nàng một giấc ngủ bình yên. Lạy Chúa, những lời cầu nguyện của tôi sôi nổi và chân thành biết bao, nhưng không biết Chúa đã phán xét thế nào mà đã không chấp thuận!
Xin ông tha lỗi cho tôi nếu tôi rút gọn trong vài lời câu chuyện đã làm tôi như người chết rồi. Tôi đang kể cho ông nghe một tai họa không tiền khoáng hậu. Trong suốt phần còn lại của cuộc đời tôi, tôi sẽ khóc than cho tai họa đó. Nhưng dù mãi mãi mang nó trong ký ức, mỗi khi tôi kể lại, hình như tâm hồn tôi bớt kinh hoàng.
Chúng tôi đã trải qua một phần đêm hôm đó bình yên. Tôi cứ nghĩ rằng người tình nhân thân yêu của tôi ngủ ngon và tôi không dám cả thở mạnh sợ làm kinh động giấc ngủ của nàng. Lúc trời rạng sáng, khi sờ tay đến tay nàng, tôi thấy chúng lạnh và run rẩy. Tôi áp hai tay nàng lên ngực tôi để sưởi ấm. Nàng nhận ra cử động đó, rồi cố gắng nắm lấy tay tôi, bằng một giọng nói yếu ớt, nàng nói với tôi rằng nàng cảm thấy giờ phút cuối cùng của nàng đã đến. Thoạt tiên, tôi nghĩ rằng đó chỉ là lời lẽ thông thường của một người trong cơn hoạn nạn, và tôi chỉ đáp lại bằng những lời âu yếm yêu đương. Nhưng những tiếng thở dài thường xuyên, việc nàng nín thinh không đáp lại những câu hỏi của tôi, những cái siết chặt tay tôi mà nàng vẫn giữ trong đôi bàn tay nàng, tất cả những cái đó cho tôi thấy rõ rằng cuộc đời đau khổ của nàng sắp kết thúc.
Xin ông đừng bắt tôi phải kể lại những xúc cảm của tôi cùng với những lời trăn trối của nàng lúc đó. Tôi mất nàng rồi, và ngay lúc nàng trút hơi thở cuối cùng, tôi còn nhận được ở nàng những dấu hiệu của tình yêu. Đó là tất cả những gì tôi còn đủ sức để kể với ông về cái biến cố tiên định và đau thương đó.
Linh hồn tôi không đi theo linh hồn nàng. Chắc là Trời còn cho rằng tôi đã chưa bị trừng phạt đúng mức. Chúa Trời còn bắt tôi từ đó phải kéo lê một cuộc sống mòn mỏi, khốn khổ. Tôi sẵn sàng chối bỏ cuộc sống, từ nay sẽ không bao giờ còn hạnh phúc nữa.
Trong suốt hai mươi bốn giờ đồng hồ, tôi nằm, miệng áp vào mặt và đôi bàn tay của Manông thân thương của tôi. Ý nguyện của tôi là nằm chết luôn ở đấy; nhưng rồi sang ngày thứ hai, tôi suy nghĩ lại rằng sau khi tôi chết đi, thi thể của nàng sẽ trở thành mồi ngon cho những loài thú dữ. Tôi quyết định chôn nàng rồi sẽ chết trên nấm mộ của nàng. Bản thân tôi cũng sắp chết đến nơi do yếu đi vì nhịn đói và đau đớn, nên tôi cố gắng hết sức mới có thể đứng vững được. Tôi buộc phải dùng đến món rượu mạnh mà tôi đã mang theo. Rượu đã mang lại cho tôi sức lực cần thiết cho tôi hoàn thành cái nhiệm vụ bi ai đó. Tại cái vùng mà chúng tôi đã đến, đào đất không khó lắm. Đó là một cánh đồng phủ đầy cát.
Tôi bẻ đôi thanh kiếm để dùng làm dụng cụ đào đất, nhưng tôi dùng nó ít hơn là dùng tay. Tôi đào một cái huyệt rộng. Tôi đặt vào đó thần tượng của lòng tôi, sau khi đã cẩn thận bọc kín nàng với tất cả quần áo của tôi để cho cát khỏi chạm vào người nàng. Tôi chỉ đặt nàng vào huyệt sau khi đã hôn nàng không biết bao nhiêu lần với tất cả sự nồng nhiệt của tình yêu. Tôi cứ ngồi bên cạnh nàng như vậy mà ngắm nàng. Tôi không thể nào lấp huyệt cho nàng. Cuối cùng, thấy sức mình yếu dần đi, sợ rằng không thể kịp hoàn thành công việc, tôi đã vĩnh viễn chôn vào lòng đất cái sản phẩm hoàn hảo nhất, đáng yêu nhất mà Đất đã sinh ra. Sau đó, tôi nằm dài trên huyệt, mặt úp xuống cát, nhắm mắt lại với ý nguyện là chẳng bao giờ mở ra nữa, tôi cầu xin Chúa Trời và nóng lòng chờ cái chết đến.
Điều mà ông có thể khó tin là trong suốt cả cái công việc bi thảm đó, tôi không rơi một giọt nước mắt hay buông ra một tiếng thở dài. Nỗi sững sờ tột đỉnh và cái quyết tâm cùng chết với nàng đã cắt đứt mọi ý nghĩ tuyệt vọng và đau thương. Vì vậy, nằm trên huyệt như thế chẳng bao lâu thì tôi đã mê đi không còn biết gì nữa.
Sau khi đã nghe những gì tôi vừa kể thì phần kết thúc của câu chuyện của tôi chẳng còn gì là quan trọng để xứng được ông quan tâm nghe tiếp. Thi thể của Synnơlê được mang về thị trấn và người ta khám xét kỹ vết thương của anh ta, thì ra không những anh ta không chết mà những vết thương của anh ta không có gì là nguy hiểm. Anh ta thuật lại cho ông chú nghe những gì đã xảy ra giữa hai chúng tôi và anh ta cũng hào hiệp công bố ngay những hành động hào hiệp của tôi. Người ta cho đi tìm tôi và việc tôi vắng mặt cùng với Manông khiến người ta nghĩ là chúng tôi chạy trốn. Lúc bấy giờ đã quá chậm để lần theo dấu vết của tôi; nhưng ngày hôm sau đó và ngày hôm sau nữa, người ta đã đuổi theo tôi. Người ta tìm thấy tôi gần như chết, nằm trên huyệt của Manông và những người đã tìm thấy tôi trong tình trạng đó, gần như trần truồng và người đầy máu me, cứ nghĩ rằng tôi bị cướp và bị ám sát. Họ mang về thị trấn. Việc khiêng cáng chuyển tôi đi làm tôi tỉnh lại. Những tiếng thở dài của tôi khi mở mắt và tiếng rên rỉ của tôi khi thấy rằng mình còn sống, khiến người ta thấy rằng tôi còn có thể cứu chữa được và người ta đã tận tình cứu chữa tôi.
Tôi bị giam vào một nhà giam chật hẹp. Tôi bị truy tố ra tòa và vì Manông không ra hầu tòa, người ta buộc tội tôi đã giết nàng trong cơn giận dữ và ghen tuông. Tất nhiên là tôi đã thuật lại câu chuyện thương tâm của tôi. Tuy câu chuyện của tôi trước tòa đã làm cho Synnơlê rất đau đớn, nhưng anh ta đã hào hiệp xin tha tội cho tôi. Lời thỉnh cầu của anh ta được chấp thuận. Tôi yếu đến mức người ta khiêng tôi từ nhà tù đến giường bệnh. Tôi ốm liệt giường suốt ba tháng trời vì một chứng bệnh nặng.
Ý muốn chết đi vẫn không giảm sút trong tôi. Tôi luôn luôn cầu mong cái chết và một thời gian lâu tôi không chịu uống bất cứ một loại thuốc nào. Nhưng Chúa Trời, sau khi đã trừng phạt tôi nghiêm khắc đến như vậy, đã có ý làm cho những đau khổ của tôi và hình phạt của Người trở nên có ích cho tôi. Chúa đã đem ánh sáng của Người soi rọi cho tôi, làm cho tôi nhớ lại những tư tưởng xứng với dòng dõi và sự giáo dục của tôi. Dần dần tâm hồn tôi bình an trở lại, sự thay đổi này diễn ra ngay trước khi tôi khỏi bệnh. Tôi toàn tâm toàn ý nghĩ đến danh dự và tôi tiếp tục làm tròn cái chức vụ nhỏ nhoi của tôi để đợi ngày lên các chuyến tàu của nước Pháp, mỗi năm đến Mỹ một lần. Tôi quyết tâm trở về Tổ quốc để, qua một cuộc sống nề nếp và điều độ, chuộc lại những điều tai tiếng do hạnh kiểm của tôi gây ra. Synnơlê còn quan tâm chuyển di hài của người tình thân thương của tôi đến một địa điểm xứng đáng. Một hôm vào khoảng sáu tháng sau khi bình phục, tôi đi dạo một mình trên bãi biển,tôi thấy cập bến một chiếc tàu mà công cuộc giao thương đưa đến Tân Oóclêăng. Tôi chú ý theo dõi việc đổ bộ của những người trên tàu. Tôi ngạc nhiên đến cực độ khi nhận ra Tibecgiơ trong số người đang đổ về thị trấn. Anh bạn chung thủy đó nhận ra tôi từ xa mặc dầu những thay đổi do buồn thương đã ghi dấu trên mặt tôi. Anh ấy cho tôi biết rằng lý do duy nhất của cuộc hành trình của anh ấy là ý muốn gặp tôi và khuyên tôi nên trở về nước Pháp: rằng sau khi nhận được thư tôi viết từ Havơrơ, anh ấy đã thân hành đến nơi để mang đến cho tôi sự giúp đỡ mà tôi yêu cầu, rằng anh ấy rất đau đớn khi được tin tôi đã lên đường và anh đã có thể lập tức đuổi theo tôi nếu lúc đó anh tìm ra một con tàu sẵn sàng nhổ neo; rằng anh ấy đã bỏ ra mấy tháng đi tìm tàu chạy đi Mỹ trong nhiều cảng và cuối cùng mới tìm thấy một chiếc ở Xanh Malô nhổ neo đi Máctinic. Anh lên tàu đó, với hy vọng từ đó dễ dàng tìm ra đường đến Tân Oóclêăng. Chiếc tàu Xanh Malô ấy dọc đường bị bọn cướp biển Tây Ban Nha chặn lại và đưa đến một trong những hòn đảo của chúng và nhờ có khôn khéo, anh mới trốn thoát được rồi sau nhiều cuộc chạy vạy đây đó, anh mới có dịp tìm gặp được chiếc tàu nhỏ vừa cập bến và sung sướng gặp lại tôi.
Tôi không thể nào bày tỏ cho hết lòng biết ơn của mình đối với một người bạn hào hiệp và chung thủy đến như vậy. Tôi đưa anh ấy về nhà tôi để anh sử dụng tất cả những gì tôi có. Tôi thuật lại với anh ấy tất cả những gì đã xảy ra với tôi từ khi tôi rời đất Pháp và để đem đến cho anh ấy một niềm vui anh không ngờ đến, tôi nói với anh ấy rằng những hạt giống đức hạnh mà trước đây anh đã gieo vào lòng tôi đã bắt đầu đơm hoa kết trái và anh sẽ được hài lòng. Anh ấy nói rằng một sự đảm bảo ấm lòng như vậy đủ để bù đắp cho tất cả những nỗi mệt nhọc của cuộc hành trình.
Chúng tôi sống chung với nhau hai tháng ở Tân Oóclêăng để chờ tàu từ Pháp đến. Cuối cùng, chúng tôi đã xuống tàu và đã đổ bộ lên đất liền cách đây mười lăm hôm tại Havơrơ đơ Graxơ. Vừa đến nơi, tôi đã viết thư cho gia đình. Qua thư phúc đáp của ông anh tôi, tôi biết tin buồn cha tôi đã qua đời và tôi đã run lên khi nghĩ rằng cuộc sống buông tuồng của tôi đã góp phần trong đó. Gió thuận về hướng Cale, tôi lập tức đáp ngay tàu đến đây với ý đồ là đến một nơi cách Cale chừng vài dặm, tại nhà một trong những người quen biết của cha mẹ tôi, nơi mà ông anh tôi viết thư báo rằng sẽ chờ tôi ở đó.
HẾT