Mật Mã 813

Mật Mã 813

Lượt đọc: 176 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
PHẦN MỘT:
CUỘC SỐNG KÉP CỦA ARSÈNE LUPIN
Chương 1
thảm kịch ở khách sạn palace

1.

Ông Kesselbach đứng khựng lại ở ngưỡng cửa phòng khách, nắm lấy cánh tay người thư ký của mình, thì thầm với giọng đầy lo lắng: “Chapman, chúng lại vào đây nữa rồi.”

“Chắc chắn không phải đâu, thưa ngài.” Viên thư ký gạt đi. “Chính tay ngài vừa mở cửa phòng còn gì, và suốt thời gian chúng ta dùng bữa ở nhà hàng, chìa khóa phòng vẫn nằm nguyên trong túi ngài mà.”

“Chapman, chúng lại vào đây nữa rồi.” Ông Kesselbach nhắc lại. Ông chỉ vào chiếc túi du lịch đang đặt trên bệ lò sưởi. “Nhìn đây, tôi chứng minh cho anh thấy. Chiếc túi này khi trước thì đóng, mà giờ lại mở.”

Chapman vẫn gạt đi. “Ngài có chắc là ngài đã đóng túi vào rồi không ạ? Vả lại, chiếc túi này có đựng gì đâu ngoài đồ lặt vặt vô giá trị, mấy món đồ vệ sinh cá nhân...”

“Nó chẳng đựng gì, vì tôi đã lấy ví tiền ra trước lúc đi, phòng khi... nếu không thì... Không, Chapman ạ, tôi bảo anh nghe, có kẻ đã vào đây lúc chúng ta ăn trưa.”

Trên tường có gắn một chiếc điện thoại. Ông nhấc ống nghe lên.

“A lô!... Tôi là Kesselbach, phòng 415... Vâng, đúng rồi... Thưa cô, xin nối máy tới Sở Cảnh sát... Phòng Điều tra giúp tôi... Cô không cần số đúng không ạ? À vâng, cảm ơn cô... Tôi sẽ giữ máy.”

Một lúc sau, ông tiếp tục: “A lô? A lô? Tôi muốn nói vài lời với ngài Lenormand, Trưởng phòng Điều tra. Tôi là Kesselbach... A lô? Vâng, ngài ấy biết chuyện gì đấy ạ. Ngài Trưởng phòng cho phép tôi gọi điện đến mà... A! Ngài ấy không có ở phòng ư?... Tôi đang hân hạnh được nói chuyện với ai đấy ạ? Ông Gourel, cảnh sát điều tra... Nhưng thưa ông Gourel, hôm qua lúc tôi gặp ngài Lenormand, ông có mặt ở phòng hay không?... Chà! Thưa ông, chuyện tương tự như tôi đã kể với ngài Lenormand lại xảy ra hôm nay. Lại có kẻ đột nhập vào chỗ tôi đang nghỉ. Nếu ông đến đây ngay bây giờ, có lẽ ông sẽ tìm ra vài manh mối đấy... Khoảng một, hai tiếng nữa à? Tuyệt vời! Ông chỉ việc bảo người ta cho lên phòng 415 thôi. Một lần nữa, xin cảm ơn ông!”

Khi ghé qua Paris, Rudolf Kesselbach - Vua Kim cương, như người đời vẫn gọi, hay theo biệt danh khác của ông, Chúa tể Vùng Đất Mũi - vị triệu phú với khối tài sản ước tính tới hơn một trăm triệu, đã nghỉ trên lầu bốn khách sạn Palace, phòng 415. Đây là phòng suite - căn phòng cao cấp nhất trong khách sạn, gồm có ba phòng con. Trong đó, hai phòng lớn nhất nằm phía bên phải là phòng khách và phòng ngủ chính, nhìn ra đại lộ; phòng còn lại, phía bên trái, nơi Chapman - thư ký riêng của ông - ngả lưng nhìn ra đường Judée.

Liền kề với phòng này là một phòng suite khác có năm phòng, đã được đặt trước cho bà Kesselbach. Hiện nàng đang ở Monte-Carlo, nhưng khi nào nhận được tin từ chồng, nàng sẽ tới Paris gặp ông ngay.

Rudolf Kesselbach lo lắng đi đi lại lại trong phòng suốt một lúc lâu. Ông có vóc người cao lớn, gương mặt hồng hào, và hãy còn trẻ; đôi mắt mơ màng có màu lam nhạt, long lanh đằng sau cặp kính gọng vàng khiến ông có vẻ hiền lành, nhút nhát, tương phản với nét mạnh bạo, cương nghị của vầng trán vuông vức cùng quai hàm góc cạnh.

Ông đến bên cửa sổ. Cửa đã cài then. Vả lại, ai có thể vào được trong phòng qua lối đó kia chứ? Đầu mút của ban công vòng bên ngoài căn phòng nằm ngay bên phải đây; còn đầu bên trái lại có vách ngăn bằng đá ngăn giữa ban công phòng ông với ban công bên mạn đường Judée.

Ông bước vào phòng ngủ. Phòng của ông không thông với bất kỳ phòng nào lân cận. Ông lại sang phòng của viên thư ký: Cửa thông với căn phòng suite đặt cho bà Kesselbach được cài chốt và khóa kĩ.

“Thật không tài nào hiểu nổi, Chapman ạ. Tôi để ý mấy lần rồi nhé! Toàn những chuyện lạ lùng, anh phải công nhận thôi! Hôm qua, cây gậy của tôi bị xê dịch... Ngày hôm kia, chắc chắn chỗ giấy tờ bị ai đó động vào... Mà làm sao lại thế được cơ chứ?”

“Làm gì có chuyện như thế được, thưa ngài!” Chapman kêu lên, gương mặt điềm tĩnh của người đàn ông lương thiện ấy không gợn chút lo lắng. “Là ngài tưởng tượng ra đó, chỉ thế mà thôi... Ngài không có bằng chứng, không một chút gì rõ ràng ngoài những cảm giác mơ hồ... Ngài nhìn mà xem: Trừ hành lang ngoài cửa, không còn một lối nào khác dẫn vào căn phòng này. Đó! Chưa kể, ngài còn có một chiếc chìa khóa đặc biệt được đánh ngay vào hôm ngài đến, và chỉ anh hầu của ngài là Edwards có bản sao chiếc chìa khóa đó. Ngài có tin tưởng anh ta không?”

“Tất nhiên rồi! Anh ấy phục vụ tôi đã được mười năm!... Nhưng Edwards cũng đi ăn cùng lúc với chúng ta; đó là một sai lầm. Sau này, anh ấy không được đi đâu cho tới khi chúng ta quay lại.”

Chapman khẽ nhún vai. Không nghi ngờ gì nữa, vị Chúa tể Vùng Đất Mũi kia đã trở thành một anh gàn với nỗi sợ hãi khó hiểu. Ở khách sạn thì có thể gặp rủi ro gì cơ chứ, nhất là khi ta chẳng mang theo trên người hoặc trong người thứ gì giá trị hay món tiền lớn nào?

Hai người nghe thấy tiếng cửa mở. Là Edwards. Ông Kesselbach liền gọi anh ta.

“Anh có đang mặc đồng phục không đấy, Edwards? À, tốt lắm!... Hôm nay tôi không muốn tiếp ai, Edwards ạ... Thực ra, nói cho đúng, chỉ có duy nhất một khách là ông Gourel thôi. Trong khi chờ ông ấy đến, hãy cứ ở ngoài sảnh và để ý cửa nẻo cho tôi. Anh Chapman và tôi có chuyện hệ trọng phải làm.”

Chuyện hệ trọng đó mất vài phút. Ông Kesselbach kiểm tra chỗ thư từ gửi cho mình, xem qua ba, bốn bức và hướng dẫn thư ký trả lời. Nhưng đột nhiên, Chapman - khi ấy đang cầm bút chờ đợi - nhận ra ông Kesselbach mải để tâm vào điều gì đó khác chứ không phải những bức thư. Ông đang chăm chú quan sát một chiếc ghim màu đen, cong như lưỡi câu, được ông kẹp giữa hai ngón tay.

“Chapman!” Ông nói. “Nhìn xem tôi tìm được thứ gì trên bàn này. Chiếc ghim cong này rõ ràng phải có ý gì đó. Đây là bằng chứng, một vật chứng. Anh không thể làm như không có ai bước vào phòng này nữa đâu. Bởi vì suy cho cùng, chiếc ghim không thể tự mình xuất hiện ở đây được.”

“Chắc chắn rồi.” Viên thư ký đáp. “Nó xuất hiện ở đây là nhờ tôi mà.”

“Ý anh là sao?”

“Vâng thưa ngài, đó là chiếc ghim tôi dùng để đính cà vạt vào cổ áo. Tối qua, lúc ngài đọc sách, tôi đã gỡ ghim ra và tiện tay uốn cong nó lại thôi.”

Ông Kesselbach đứng dậy, vẻ rất bực mình, bước vài bước rồi dừng ngay lại.

“Anh đang cười tôi, Chapman ạ... Mà cũng đúng thôi... Tôi không phản đối việc ấy, đúng là tôi có hơi... kỳ quặc, kể từ chuyến đi Đất Mũi lần cuối. Đó là vì... vì... Anh không biết cuộc đời tôi có điều gì mới đâu... Một kế hoạch tuyệt vời... Một việc vô cùng trọng đại... mà tôi mới chỉ thoáng thấy lờ mờ qua màn sương của tương lai, tuy nhiên vẫn thấy rõ hình thù... và đó sẽ là một công trình đồ sộ... A! Chapman ạ, anh không tưởng tượng được đâu. Tiền, tôi chẳng buồn quan tâm. Tôi có tiền, rất nhiều tiền... Nhưng đây, đây còn hơn thế nữa, đó là quyền lực, là sức mạnh, là uy quyền. Nếu hiện thực trở nên đúng như những gì tôi mong đợi, tôi sẽ không chỉ đơn giản là Chúa tể Vùng Đất Mũi nữa, mà còn là chúa tể của nhiều lãnh địa khác... Rudolf Kesselbach, con trai người bán xoong chảo vùng Augsbourg, sẽ sánh vai với những kẻ mà cho tới lúc này vẫn đang coi thường anh ta... Anh ta thậm chí còn ở địa vị cao hơn họ, Chapman ạ; anh ta sẽ ở địa vị cao hơn họ, anh hãy nhớ lấy câu này... Và nếu có bao giờ tôi...”

Ông chợt ngừng lời, đưa mắt nhìn Chapman, tuồng như hối hận vì đã lỡ nói quá nhiều. Dẫu vậy, vẫn đang hồi cao hứng, ông kết luận: “Giờ anh đã hiểu vì sao tôi lo lắng quá như vậy rồi đấy, Chapman ạ... Đây, trong bộ óc này đang chứa một ý tưởng đáng giá nghìn vàng... Có thể ý tưởng đó khiến người ta có chút nghi ngờ... Và tôi đang bị theo dõi... Tôi tin chắc điều đó...”

Có tiếng chuông reo.

“Có điện thoại.” Chapman nói.

“Có khi nào...” Ông Kesselbach thì thào. “... Đó là...?” Ông nhấc máy. “A lô?... Ai đó? Ngài Đại tá ạ?... A, tốt quá! Vâng, là tôi đây... Có tin gì không ạ?... Tuyệt vời... Vậy thì tôi mong ngài... Ngài sẽ tới cùng người của mình ạ? Hoàn hảo... Sao ạ? Chúng tôi không phiền gì đâu... Tôi sẽ đưa ra các chỉ thị cần thiết... Nghiêm trọng đến như vậy, phải không ạ?... Tôi bảo ngài nghe này, tôi sẽ cho người canh phòng cẩn mật... Thư ký riêng và người hầu của tôi sẽ canh ở cửa, không ai được vào. Ngài biết đường rồi, đúng không ạ?... Vậy đừng lãng phí một giây nào.”

Ông cúp máy và nói: “Chapman, có hai quý ông đang trên đường đến. Edwards sẽ dẫn họ vào...”

“Nhưng... còn ông Gourel... cảnh sát điều tra...”

“Ông ấy sẽ đến sau... một tiếng nữa... Dẫu sao thì gặp họ cũng chẳng hại gì. Bảo Edwards xuống dưới văn phòng ngay lập tức, để mà canh chừng. Ai hỏi thì cứ bảo tôi không có nhà, chỉ trừ hai quý ông là ngài Đại tá và bạn ông ấy, cả ông Gourel nữa. Anh ấy phải bắt họ ghi danh.”

Chapman nghe dặn liền làm ngay. Khi quay lại, anh thấy ông Kesselbach đang cầm trên tay một chiếc phong bì, hay đúng hơn là một cái túi nhỏ bằng da thuộc kiểu Maroc, màu đen và rõ ràng là một cái túi rỗng. Trông ông có vẻ do dự, như thể không biết phải làm gì với nó. Ông sẽ cho vào túi áo hay đặt nó xuống đâu đó? Cuối cùng, ông bước tới bệ lò sưởi và ném chiếc phong bì da vào trong túi du lịch của mình.

“Ta viết thư cho xong đi, Chapman. Chúng ta còn có mười phút. A! Thư của bà Kesselbach. Sao anh không báo cho tôi, Chapman? Anh không nhận ra chữ viết tay của vợ tôi hay sao?”

Ông chẳng buồn giấu nỗi xúc động khi sờ tay lên và ngắm nghía bức thư của vợ. Vợ ông đã gửi kèm cả ánh mắt, chút mùi hương, vài ý nghĩ thầm kín của mình vào trong thư. Ông hít hà mùi thơm lưu trên phong thư, nhẹ nhàng mở ra và chầm chậm, thầm thì đọc. Chapman nghe câu được câu chăng : “Thấy hơi mệt trong người.... Em chẳng ra khỏi phòng... Em thấy chán... Khi nào em được đến với anh? Em rất mong thư anh...”

“Anh đánh điện luôn sáng hôm nay rồi chứ, Chapman? Để mai, thứ Tư, bà Kesselbach sẽ có mặt ở đây.”

Trông ông vui lắm, như thể gánh nặng công việc của ông đột nhiên được trút hết đi, và tất thảy lo lắng giờ đây không còn giày vò ông nữa. Ông xoa xoa tay và hít một hơi thật sâu, như một người đàn ông mạnh mẽ chắc chắn đạt được thành công, như một người may mắn sở hữu niềm hạnh phúc to lớn và hoàn toàn có khả năng tự vệ.

“Có ai bấm chuông đấy, Chapman, họ bấm chuông ở cửa chính. Mau đi xem là ai.”

Nhưng Edwards đã bước vào và nói: “Có hai quý ông hỏi gặp ngài. Họ là...”

“Tôi biết rồi. Họ có ở ngoài kia không, ngoài sảnh ấy?”

“Có, thưa ngài.”

“Đóng cửa chính lại, và chớ mở cánh cửa đó ra... trừ khi người bấm chuông là ông Gourel, cảnh sát điều tra. Anh hãy đi đón hai quý ông kia đi, Chapman, và nói với họ rằng tôi muốn nói chuyện với ngài Đại tá trước, chỉ mình ngài Đại tá thôi.”

Edwards và Chapman ra khỏi phòng, đóng cánh cửa lại sau lưng. Rudolf Kesselbach bước đến bên cửa sổ và tựa trán vào ô cửa kính.

Bên ngoài, phía dưới tầm mắt ông, những cỗ xe ngựa kéo và ô tô mải miết lăn bánh trên những làn đường song song, được đánh dấu bằng một cặp hai vạch kẻ. Nắng xuân trong veo, tươi tắn làm những vật bằng đồng thau và được đánh véc ni sáng lấp lánh. Cây cối trổ những lộc xanh đầu tiên của mùa, và những chồi nhỏ trên mấy cành dẻ cao cao cũng bắt đầu duỗi ra thành từng chiếc lá non.

“Chapman đang làm cái quái gì vậy nhỉ?” Ông Kesselbach lẩm bẩm. “Sao lại đứng đó ba hoa cho phí thời giờ ra!”

Ông nhón lấy một điếu thuốc trên bàn, châm lửa hút vài hơi. Ông khẽ kêu lên một tiếng. Đứng sát trước mặt ông là một người đàn ông lạ mặt.

Ông giật mình. “Ông là ai?”

Người đàn ông nọ - một người ăn mặc bảnh bao, mặt mũi khá khôi ngô, với mái tóc đen nhánh, bộ ria mép sẫm màu và ánh mắt cứng cỏi - hé miệng cười. “Tôi là ai ư? Sao thế? Ngài Đại tá chứ ai!”

“Không, không... Người tôi gọi là “ngài Đại tá”, người viết thư cho tôi dưới chữ ký này... như quy ước... không phải là ông!”

“Phải, phải... cái kia chỉ là... Nhưng, tôn ông thân mến, mấy cái đó nào có quan trọng gì. Cái chính, tôi là... chính tôi. Và tôi cam đoan với ông rằng, tôi chính là thế !”

“Nhưng tên của ông, thưa ông?”

“Là “ngài Đại tá”... cho đến khi có lệnh mới.”

Ông Kesselbach càng lúc càng sợ hãi. Người này là ai? Anh ta muốn gì ở ông?

Ông gọi to: “Chapman!”

“Hô hoán thế buồn cười lắm, thưa ông! Nhóm chúng tôi vẫn chưa đủ với ông ư?”

“Chapman!” Ông Kesselbach lại gào lên. “Chapman! Edwards!”

“Chapman! Edwards!” Đến lượt người lạ mặt nhại lại. “Các anh đang làm gì đó? Ông chủ đang cần các anh kìa!”

“Thưa ông, tôi yêu cầu ông để cho tôi qua.”

“Nhưng, thưa tôn ông, có ai ngăn cản ông sao?”

Anh ta lịch sự bước sang một bên. Ông Kesselbach bước tới cửa, mở cửa ra và thình lình nhảy lùi lại. Đằng sau cánh cửa là một kẻ khác, lăm lăm khẩu súng lục trên tay. Ông lắp bắp: “Edwards... Chap...”

Ông không nói được hết câu. Ông đã thấy viên thư ký riêng và người hầu của mình nằm sõng soài bên cạnh nhau dưới sàn trong một góc sảnh, miệng bị bịt kín và người bị trói chặt.

Dẫu ông Kesselbach hay hoảng sợ và dễ bị kích động nhưng cảm giác nguy hiểm rõ ràng này không những không hạ gục được ông mà còn trả cho ông tất thảy sự nhanh trí và sức mạnh. Vờ như sững sờ và sợ đến thất thần, ông từ từ lùi về phía lò sưởi và dựa vào tường. Ông quờ tay lần tìm nút chuông điện. Tìm được, ông cứ thế nhấn nút, quên cả nhấc ngón tay ra.

“Ái chà!” Kẻ lạ mặt nói.

Không trả lời, ông Kesselbach tiếp tục nhấn chuông.

“Ái chà! Ông nghĩ người ta sẽ kéo lên đây, cả cái khách sạn này sẽ chấn động vì ông nhấn cái chuông đó à? Ôi chao, quý ngài thân mến, thử nhìn ra đằng sau mà xem, ông sẽ thấy dây chuông bị cắt từ đời nào rồi!”

Ông Kesselbach quay ngoắt lại, như thể muốn xác nhận điều anh ta nói, nhưng không phải. Nhanh như chớp, ông chộp lấy chiếc túi vải thô, thò tay vào trong, lôi ra một khẩu súng, chĩa vào kẻ lạ mặt và bóp cò.

“Úi!” Kẻ lạ mặt nói. “Ông lên đạn bằng không khí và sự im lặng đấy à?”

Ông lại bóp cò lần thứ hai, rồi lần thứ ba, nhưng chẳng thấy phát ra tiếng nổ nào.

“Còn ba lượt bắn nữa đấy, thưa Chúa tể Vùng Đất Mũi. Ông chưa găm được sáu viên đạn vào xác tôi thì tôi cũng chẳng hài lòng đâu. Sao thế? Ông bỏ cuộc rồi à? Tiếc thật đấy... Ông bắn tập xuất sắc thế cơ mà!”

Anh ta cầm lấy lưng một chiếc ghế, điệu nghệ xoay một vòng rồi ngồi xuống, tuồng như người ta cưỡi trên lưng ngựa đoạn anh ta thản nhiên trỏ tay vào một chiếc ghế bành và nói với ông Kesselbach: “Tôn ông thân mến, sao ông không ngồi xuống và cứ tự nhiên như ở nhà nhỉ? Thuốc lá à? Tôi không ưng thuốc lá cho lắm. Tôi thích xì gà hơn.”

Có một cái hộp trên bàn. Anh ta chọn lấy một điếu Upman vàng óng: màu sắc, hình dáng và hương vị đều tuyệt mỹ. Anh ta châm thuốc và cúi mình. “Cảm ơn ông. Quả là loại xì gà thượng hạng. Bây giờ, chúng ta bắt đầu câu chuyện nhé?”

Rudolf Kesselbach kinh ngạc lắng nghe. Con người kỳ lạ này là ai?... Dẫu vậy, thấy vị khách kia ôn hòa ngồi đó và lại hay chuyện như thế, ông dần dần trấn tĩnh, bắt đầu tin rằng chuyện rồi sẽ được giải quyết mà không cần dùng đến vũ lực hay biện pháp mạnh. Ông rút ví trong túi ra, mở ví, lấy một xấp tiền dày và hỏi: “Bao nhiêu?”

Kẻ nọ ngơ ngác nhìn, tuồng như không hiểu ý ông. Rồi, một giây sau, anh ta gọi: “Marco!”

Tên đồng bọn cầm súng bước tới.

“Marco, quý ngài đây tốt bụng lắm đấy, ông ấy cho anh mấy mẩu giấy để đem về tặng cô bạn dễ thương của anh kìa. Cầm lấy đi, Marco.”

Vẫn lăm lăm khẩu súng trong tay phải, Marco chìa tay trái ra, cầm lấy tiền rồi rút về phía sau.

“Vậy là câu hỏi vừa rồi đã được giải quyết theo đúng nguyện vọng của ông rồi đấy.” Kẻ lạ mặt tiếp tục. “Giờ chúng ta chuyển sang mục đích cuộc thăm hỏi này của tôi nhé. Tôi sẽ nói ngắn gọn và vào thẳng vấn đề. Tôi muốn hai thứ. Thứ đầu tiên, cái túi nhỏ bằng da thuộc màu đen, trông giống như phong bì mà ông thường mang theo bên mình. Tiếp theo, chiếc hộp nhỏ bằng gỗ mun mà ngày hôm qua vẫn còn nằm trong cái túi du lịch kia. Ta tiến hành tuần tự nhé. Cái túi da đâu?”

“Đốt rồi.”

Kẻ lạ mặt cau mày. Anh ta đã nghĩ tới một thời khá xa, khi người ta có những cách cưỡng bách để khiến mấy kẻ ương ngạnh buộc phải mở miệng.

“Khá lắm. Rồi chúng ta sẽ xem xét sau. Thế còn chiếc hộp gỗ mun thì sao?”

“Đốt nốt.”

“A!” Anh ta gầm gừ. “Ông bạn thân mến, ông đang chế nhạo tôi đấy phỏng?” Anh ta vặn mạnh cánh tay ông một cách không thương tiếc. “Hôm qua, Rudolf Kesselbach ạ, ông đã tới Ngân hàng Crédit Lyonnais trên đại lộ Italiens với một gói hàng được giấu dưới áo khoác. Ông thuê một cái két ở đó... Nói chính xác là: két sắt số 16, dãy 9. Sau khi ký tên và thanh toán phí thuê, ông xuống tầng hầm; và khi quay lại, ông không còn cầm gói hàng đó trong người nữa. Đúng cả chứ?”

“Đúng!”

“Vậy là cả chiếc hộp lẫn cái ví đều ở Ngân hàng Crédit Lyonnais?”

“Không!”

“Đưa cho tôi chìa khóa két sắt của ông.”

“Không!”

“Marco!”

Marco chạy đến.

“Tiếp tục, Marco! Nút kẻ chài [1] , bốn vòng!”

Chưa kịp phòng bị gì, Rudolf Kesselbach đã bị trói nghiến bằng một mạng lưới dây dợ. Ông chỉ khẽ vùng vẫy thôi, những vòng dây đã thít chặt hơn, cứa sâu vào da thịt. Hai tay ông bị bẻ quặt ra sau lưng, người bị trói vào ghế, còn hai chân cũng bị quấn chặt vào nhau như chân xác ướp.

“Lục soát, Marco!”

Marco lục soát khắp người ông. Hai phút sau, y đưa cho thủ lĩnh của mình một chiếc chìa khóa mạ kền nhỏ, phẳng, có khắc số 16 và 9.

“Hay lắm. Không có cái ví da thuộc à?”

“Không, thưa thủ lĩnh.”

“Vậy là nó được cất trong két sắt. Ông Kesselbach, ông sẽ cho tôi biết mật khẩu để mở khóa chứ?”

“Không!”

“Ông từ chối sao?”

“Đúng!”

“Marco?”

“Vâng, thưa thủ lĩnh.”

“Gí nòng súng của anh vào thái dương ông đây đi.”

“Rồi ạ.”

“Giờ thì đặt ngón tay lên cò súng.”

“Xong!”

“Tốt! Kesselbach, ông bạn ạ, ông có định nói không?”

“Không!”

“Tôi cho ông mười giây, không được thêm một giây nào. Marco!”

“Vâng, thưa thủ lĩnh.”

“Mười giây nữa, bắn vỡ sọ quý ông đây.”

“Tuân lệnh, thưa thủ lĩnh.”

“Kesselbach này, tôi đếm nhá: một, hai, ba, bốn, năm, sáu...”

Rudolf Kesselbach ra dấu.

“Ông muốn nói chuyện à?”

“Đúng!”

“Đúng lúc lắm. Thế mã khóa - mật khẩu để mở khóa là gì?”

“Dolor.”

“Dolor... Douleur... Bà Kesselbach tên thật là Dolorès nhỉ? Ông đáng yêu thật! Này, Marco, mau làm theo lời tôi bảo... Không được phép nhầm lẫn đâu đấy! Tôi nhắc lại: Tới gặp Jérôme ở văn phòng - anh biết là chỗ nào rồi đấy - đưa anh ta chìa khóa và nói cho anh ta biết mật khẩu: Dolor. Rồi cả hai người cùng nhau đến Ngân hàng Crédit Lyonnais. Jérôme sẽ vào một mình, ký sổ, xuống tầng hầm và lấy hết mọi thứ trong két. Anh hiểu chưa?”

“Đã hiểu, thưa thủ lĩnh. Nhưng nhỡ may két sắt không mở, nếu “Dolor” không…”

“Câm đi, Marco. Khi rời khỏi Crédit Lyonnais, anh phải từ biệt Jérôme ngay. Về thẳng nhà và gọi điện báo cáo tình hình cho tôi. Nếu nhỡ may từ “Dolor” không mở được két, chúng tôi, tức là ông bạn Kesselbach của tôi và tôi, sẽ có một... cuộc trò chuyện nhỏ... lần cuối. Kesselbach, ông chắc chắn là mình không nói nhầm chứ?”

“Chắc.”

“Thế nghĩa là tính mạng ông dựa cả vào chuyến đi của họ đấy. Cứ để xem sao. Đi đi, Marco!”

“Thế còn thủ lĩnh thì sao?”

“Tôi sẽ ở lại đây. Ồ, tôi chả sợ gì đâu. Tình thế lúc này có là gì so với những hiểm nguy mà tôi đã gặp chứ? Này, ông Kesselbach, cửa nẻo được khóa kĩ, lại được dặn dò canh phòng nghiêm ngặt rồi phải không?”

“Phải!”

“Khỉ thật, ông có vẻ rất hí hửng khi nói câu đó! Ông đang cố câu giờ chăng? Nếu thế, khéo tôi mắc lõm rồi...” Anh ta ngừng lời, im lặng suy nghĩ, chằm chằm nhìn tù nhân của mình và kết luận: “Không... không thể nào ta sẽ không bị quấy rầy...”

Anh ta chưa dứt lời thì chuông cửa đã vang lên. Anh ta thô bạo bịt tay vào miệng Rudolf Kesselbach. “Ồ, tên cáo già, mi đang chờ người tới!”

Đôi mắt người bị trói ánh lên tia hy vọng. Tiếng cười khoái trá vang lên bên dưới bàn tay đang bịt chặt lấy miệng ông.

Kẻ lạ mặt run lên vì giận dữ. “Im ngay, bằng không, ta sẽ bóp cổ mi đấy! Đây, Marco, bịt miệng ông ta lại. Nhanh lên!... Thế!”

Chuông cửa lại reo. Anh ta quát tướng lên, như thể anh ta chính là Rudolf Kesselbach và Edwards vẫn đang được tự do trong nhà vậy: “Mở cửa đi, Edwards!”

Sau đó, anh ta khẽ khàng lách ra ngoài sảnh, tay trỏ vào viên thư ký và người hầu, hạ giọng thì thầm: “Marco, giúp tôi đưa hai người này vào phòng ngủ… đằng kia... để không ai trông thấy.”

Anh ta vác viên thư ký lên. Marco khiêng anh hầu.

“Được rồi! Bây giờ quay lại phòng khách.”

Anh ta theo Marco vào rồi lại trở ra ngoài sảnh ngay lập tức, nói rất to với vẻ kinh ngạc: “Ô kìa, anh hầu của ngài không có ở đây, ngài Kesselbach ạ... Thôi, ngài cứ ngồi đó... viết cho xong bức thư... Để tôi đi cho.”

Và anh ta lẳng lặng ra mở cửa.

“Phòng của ông Kesselbach ở đây, đúng không ạ?” Người kia hỏi.

Trước mặt anh ta là một người hết sức cao lớn, gương mặt to bè, vui vẻ cùng đôi mắt sáng. Người đó cứ chuyển chân trụ từ bên này sang bên kia và vặn vẹo phần viền mũ đang cầm trong tay mãi. Anh ta đáp: “Vâng, đúng rồi. Tôi hân hạnh được gặp ai đây ạ?”

“Ông Kesselbach đã gọi điện tới... Ông ấy đang đợi tôi...”

“A, ra là ngài... Tôi sẽ báo cho ngài ấy... Ngài đợi một lúc, được không ạ?... Ngài Kesselbach sẽ nói chuyện với ngài.”

Anh ta táo tợn để cho khách đứng chờ trước ngưỡng cửa, chỗ hành lang bé tí. Ở đó, khách có thể nhìn thấy một phần phòng khách qua cánh cửa để mở. Phần anh ta, anh ta cứ thế đi thẳng vào trong, không thèm ngoảnh lại. Anh ta thì thầm với tên đồng bọn lúc bấy giờ đang đứng bên cạnh ông Kesselbach: “Thôi xong rồi! Là Gourel, tay cảnh sát...”

Tên kia rút dao ra. Anh ta tóm lấy tay y.

“Đừng! Chớ có làm bậy! Tôi có ý này. Nhưng, vì Chúa, anh phải thật hiểu ý tôi và lên tiếng khi tới lượt, Marco a... Hãy nói năng như thể anh chính là ông Kesselbach ... Nghe đây, Marco, anh chính là Kesselbach.”

Anh ta nói với vẻ rất lạnh lùng, cực kỳ thuyết phục và có uy đến độ Marco lập tức hiểu ngay, không cần phải giải thích gì thêm. Y phải đóng vai ông Kesselbach. Marco lên tiếng, cố ý để cho người bên ngoài nghe thấy: “Anh phải cáo lỗi khách hộ tôi rồi, anh bạn thân mến ạ. Nhắn với ông Gourel rằng tôi vô cùng xin lỗi, nhưng giờ tôi đang bận ngập đầu ngập cổ mất rồi... Tôi sẽ tiếp ông ấy vào sáng mai, lúc chín giờ... Vâng, đúng chín giờ sáng mai.”

“Tốt lắm!” Anh ta thì thào. “Đừng cử động!”

Anh ta quay trở ra phòng ngoài, thấy Gourel vẫn đang đứng đợi, bèn nói: “Ngài Kesselbach xin cáo lỗi với ngài. Ngài ấy bận hoàn thành một việc quan trọng. Ngài có thể quay lại vào chín giờ sáng mai không ạ?”

Một thoáng im lặng. Gourel có vẻ ngạc nhiên, hình như còn thấy khó chịu và do dự ít nhiều. Còn kẻ đối diện, bàn tay anh ta đang nắm chặt chuôi con dao giấu trong túi. Chỉ cần nhác thấy một cử chỉ đáng ngờ, anh ta sẽ xuống tay ngay.

Rốt cuộc, Gourel chỉ nói: “Được... Chín giờ sáng mai... Nhưng, cũng vậy thôi mà... Vâng, mai tôi sẽ lại, lúc chín giờ...”

Rồi Gourel đội mũ lên, dần khuất bóng trên hành lang khách sạn.

Marco, bấy giờ đang trong phòng khách, phá lên cười ngặt nghẽo. “Ái chà, thủ lĩnh ạ, anh nhanh trí gớm! Cú lừa ngọt ghê!”

“Mau lên, Marco, đi theo gã. Nếu gã rời khách sạn, cứ mặc gã, mau tới văn phòng gặp Jérôme như đã sắp xếp... và gọi điện.”

Marco nhanh chóng lên đường.

Sau đó, kẻ lạ mặt nọ thản nhiên nhấc bình nước đặt trên bệ lò sưởi, tự rót lấy một cốc nước lớn, uống một hơi, đoạn anh ta nhúng ướt chiếc khăn tay, chấm mấy cái lên vầng trán lúc bấy giờ đã ướt đẫm mồ hôi, rồi ngồi xuống bên cạnh tù nhân của mình và theo đúng phép lịch sự, anh ta nói: “Nhưng thưa ông Kesselbach, chắc hẳn tôi phải có vinh dự được giới thiệu bản thân mình với ông.”

Và anh ta rút từ trong túi ra một tấm danh thiếp, nói: “Cho phép tôi... Arsène Lupin, siêu trộm hào hoa.”

2.

Tên họ của siêu đạo chích khét tiếng kia dường như đã gây một ấn tượng mạnh nơi ông Kesselbach. Điều đó tất nhiên không qua được mắt anh ta, anh ta reo lên: “A ha, quý ngài thân mến, ông đã thở lại rồi! Arsène Lupin là một tên trộm tinh tế, khó tính. Hắn ghê tởm việc đổ máu. Ngoài việc trộm đồ - một lỗi nhỏ xíu xiu, nhỉ? - hắn chưa bao giờ phạm phải tội nào khác... Hắn chẳng dại gì để lương tâm mình bị một vụ giết chóc không cần thiết cắn rứt ngày đêm. Hoàn toàn đúng như thế... Nhưng sau tất cả mọi chuyện vừa rồi, để cho ông đây từ giã cõi đời liệu có vô ích không nhỉ? Mọi thứ đều dựa cả vào câu trả lời của ông. Xin thề với ông, ngay giờ phút này đây, tôi không hề đùa. Nào, ông bạn!”

Anh ta kéo chiếc ghế mình đang ngồi đến gần ghế bành, gỡ giẻ bịt miệng nạn nhân tội nghiệp ra và thẳng thắn nói: “Ông Kesselbach, vào ngày ông đến Paris, ông đã đi lại với một người tên là Barbareux, giám đốc một văn phòng thám tử bí mật; và bởi vì anh thư ký Chapman của ông không hề hay biết chuyện này, nên hai người đã giao hẹn với nhau: Khi Barbareux liên lạc với ông qua thư hay qua điện thoại, ông ta sẽ tự xưng là “ngài Đại tá”. Tôi phải vội vàng nói với ông ngay: Ông Barbareux đó là người trung tín nhất trên thế giới. Nhưng may mắn thay, một viên thư ký của ông ta lại là bạn tốt của tôi. Nhờ đó, tôi mới biết được lý do vì sao ông thuê Barbareux, và cũng vì thế, tôi mới nảy sinh lòng quan tâm tới ông và đến đây tìm kiếm đôi lần, nhờ một bộ chìa khóa giả. Cũng phải thú thật với ông, qua mấy lần tìm, tôi vẫn không thấy thứ mình muốn.”

Anh ta hạ giọng và chằm chằm nhìn vào mắt người bị mình bắt trói, quan sát thật kĩ ánh mắt, thái độ và cố tìm ra những ý nghĩ sâu kín nhất của ông Kesselbach, rồi anh ta nói: “Ông Kesselbach ạ, yêu cầu của ông với Barbareux là: Ông ta phải tìm cho ra một người có - hoặc đã từng có - cái tên Pierre Leduc trong những khu ổ chuột ở Paris. Người đó phải đúng như mô tả ngắn gọn sau: cao một mét bảy mươi lăm, tóc vàng, có ria mép. Dấu vết đặc biệt: đầu ngón út bên bàn tay trái bị cụt do bị chém. Ngoài ra, trên má phải còn có một vết sẹo giờ đã mờ đi nhiều. Có vẻ như ông rất coi trọng việc tìm ra người này, cứ như là tìm ra anh ta sẽ mang lại lợi ích rất lớn cho ông vậy. Người đàn ông đó là ai?”

“Tôi không biết.”

Câu trả lời rất dõng dạc. Ông biết hay không biết thật? Không thành vấn đề. Cái chính là ông kiên quyết không nói.

“Được lắm.” Địch thủ của ông nói. “Nhưng ông có thông tin chi tiết hơn về anh ta, chi tiết hơn cả những gì ông đã cung cấp cho bên Barbareux chứ?”

“Tôi không có.”

“Ông nói dối, ông Kesselbach ạ. Đã hai lần, khi cũng có mặt Barbareux, ông đã giở các giấy tờ đựng trong chiếc ví da thuộc kia ra xem.”

“Đúng thế.”

“Vậy còn cái ví?”

“Đốt rồi.”

Lupin run lên vì giận dữ. Ý nghĩ dùng đến các biện pháp tra tấn và những dụng cụ tra tấn rõ ràng lại hiện lên trong đầu anh ta.

“Đốt á? Nhưng còn cái hộp?... Thôi nào, hãy thừa nhận đi... Hãy thừa nhận rằng cái hộp đang ở Ngân hàng Crédit Lyonnais!”

“Đúng thế.”

“Vậy trong đó có cái gì?”

“Hai trăm viên kim cương đẹp nhất trong bộ sưu tập cá nhân của tôi.”

Câu trả lời này có vẻ không làm siêu đạo chích hài lòng.

“A ha, hai trăm viên kim cương đẹp nhất! Nhưng này, đó là cả một gia tài... Phải, ông cười à... Đối với ông, đó chỉ là thứ vặt vãnh, chắc chắn thế... Và bí mật của ông còn đáng giá hơn thế nhiều... Đối với ông, đúng, nhưng đối với tôi thì sao?”

Anh ta lấy một điếu xì gà, quẹt một que diêm, sau đó cứ để mặc cho diêm cháy rồi tắt ngấm. Anh ta ngồi yên, trầm ngâm một lúc.

Thời gian cứ thế trôi qua.

Anh ta bắt đầu phá lên cười. “Ông thực sự mong cuộc tìm kiếm sẽ thất bại và chúng tôi sẽ không mở két sao? Có thể lắm, ông bạn già ạ! Nhưng trong trường hợp đó, ông sẽ phải trả giá vì những rắc rối tôi gặp phải. Tôi không đến đây để xem mấy hình thù gì đó ông đang vạch trên thành ghế... Kim cương, vì đó có vẻ là kim cương... nếu không thì là chiếc ví da thuộc... Ông rơi vào thế tiến thoái lưỡng nan rồi...” Anh ta xem đồng hồ đeo tay. “Nửa tiếng nữa... Chết tiệt!... Định mệnh đang đi rất chậm... Nhưng không có gì đáng cười ở đây đâu, ông Kesselbach ạ. Tôi sẽ chẳng ra về tay không đâu... Cuối cùng cũng tới!”

Là tiếng chuông điện thoại. Lupin nhanh chóng nhấc ống nghe, đổi giọng, bắt chước đúng giọng hơi thô của nạn nhân: “Phải, là tôi, Rudolf Kesselbach đây... À vâng, thưa cô, làm ơn nối máy cho tôi với... Là anh đó à, Marco?... Rất tốt... Mọi việc đều suôn sẻ cả chứ?... Hoàn hảo!... Không gặp trục trặc gì?... Tôi có lời khen đấy!... Vậy các anh đã lấy được thứ gì? Cái hộp bằng gỗ mun à?... Không còn thứ gì khác nữa à? Không có giấy tờ gì sao?. Chậc! Thế trong hộp có thứ gì?... Có phải là mấy viên kim cương tuyệt đẹp không?... Hay lắm! Hay lắm!... Chờ một chút, Marco, để tôi suy nghĩ... Anh thấy đấy, tất cả những việc này... Nếu anh muốn nghe ý kiến của tôi... Chờ chút, đừng đi đâu... Giữ máy nhé...”

Anh ta ngoái lại. “Ông Kesselbach, ông mê kim cương chứ?”

“Mê.”

“Ông sẽ mua lại chúng từ tôi chứ?”

“Có thể.”

“Bao nhiêu? Năm trăm nghìn franc?”

“Năm trăm nghìn... Được.”

“Chỉ là... khó ở chỗ này: Chúng ta sẽ trao đổi thế nào đây nhỉ? Bằng séc à? Không, ông sẽ lừa tôi... hoặc tôi sẽ lừa ông... Nghe này, sáng ngày kia, ông hãy đến Ngân hàng Crédit Lyonnais, rút năm trăm tờ một nghìn franc ra, vào rừng mà đi dạo, khu rừng chỗ gần Auteuil ấy... Tôi sẽ cất mấy viên kim cương trong một chiếc túi, thế sẽ tiện hơn... Cái hộp kia nổi bật quá...”

Kesselbach giật nẩy mình. “Không... không… cả cái hộp nữa... Tôi muốn có cả hai!”

“A!” Lupin kêu lên, cười rũ rượi. “Ông mắc bẫy rồi!... Ông không quan tâm tới mấy viên kim cương... Chúng có thể thay thế được... Nhưng ông bám dính lấy cái hộp như da dính liền với thịt vậy... Tốt! Tốt lắm! Ông sẽ có cái hộp của ông... Có lời của Arsène này đảm bảo... ông sẽ có nó, sáng mai, qua đường bưu điện!”

Anh ta quay lại nói chuyện điện thoại: “Marco, cái hộp có ngay đấy không?... Nó có gì đặc biệt không? Gỗ mun, khảm ngà... Rồi, cái đó thì tôi biết rồi... Phong cách Nhật Bản, đường Faubourg Saint-Antoine... Không có nhãn hiệu hay dấu vết gì à? À, một cái nhãn nhỏ hình tròn, có viền màu xanh lam và một con số!... Phải rồi, dấu của cửa hàng... Không quan trọng. Thế đáy hộp có dày không?... Không dày lắm à... Khỉ thật! Vậy là không có đáy giả... Nghe này, Marco: Kiểm tra thật kĩ lớp khảm ngà ở phía trên... hay đúng hơn là... không, nắp hộp cơ.” Anh ta tỏ ra vui mừng khôn xiết. “Nắp hộp! Đúng thế, Marco! Ông Kesselbach đang chớp mắt đấy... Lộ rồi!... A, Kesselbach, ông bạn già, ông không thấy tôi vẫn đang liếc sang ông đây sao? Ông ngốc thật đấy!”

Anh ta lại nói với Marco: “Thế nào, anh nhìn thấy gì?... Một chiếc gương bên trong nắp hộp à?... Nó có trượt qua được không? Thế có bản lề không? Không à? Thế thì đập vỡ nó đi... Phải, phải, tôi đang bảo anh đập vỡ nó đấy... Chiếc gương ấy chả có tích sự gì đâu... Nó được gắn thêm vào thôi!” Anh ta mất kiên nhẫn. “Lo việc của mình đi, thằng ngốc!... Tôi bảo thì cứ làm đi!...”

Chắc hẳn anh ta đã nghe thấy tiếng Marco đập chiếc gương ở đầu dây bên kia, vì anh ta reo lên đầy đắc thắng: “Không phải tôi đã nói rồi sao, ông Kesselbach? Chúng tôi nhất định sẽ tìm được cái gì đó... Alô? Đã vỡ chưa?... Sao hả?... Một lá thư à? Lấy được rồi! Tất cả những viên kim cương ở vùng Đất Mũi và cả bí mật của quý ông Kesselbach nữa!”

Anh ta nhấc ống nghe thứ hai lên, cẩn thận áp cả hai ống nghe vào hai bên tai và tiếp tục: “Đọc xem nào, Marco, đọc từ từ cho tôi nghe... Cái phong bì trước... Được rồi... Giờ nhắc lại xem nào.” Chính anh ta cũng nhắc lại: “Bản sao của lá thư cất trong chiếc ví màu đen bằng da thuộc. Rồi sao nữa? Xé phong bì ra, Marco... Tôi xin phép nhé, ông Kesselbach? Thế này không được phải phép cho lắm, nhưng mà... Xé đi, Marco, ông Kesselbach cho phép rồi. Xong chưa? Tốt! Đọc đi.”

Anh ta lắng tai nghe, rồi cười khùng khục. “Khỉ thật! Thế này không gọi là rõ như ban ngày được. Xem nào, tôi nhắc lại nhé: Một tờ giấy trơn được gấp làm tư, và các nếp gấp trông còn rất mới... Tốt... Ở trên cùng, phía bên phải tờ giấy có viết những dòng này: một mét bảy mươi lăm, cụt ngón út bên trái... Rồi, đây là mô tả về anh chàng Pierre Leduc. Chữ viết tay của ông Kesselbach, phải không nhỉ?... Tốt... Và ngay giữa trang có một từ này, được viết hoa: APOON. Marco thân mến, cứ để yên tờ giấy thế và đừng động vào cái hộp hay đống kim cương nhé. Mười phút nữa, tôi sẽ xong việc ở đây với ông bạn của chúng ta và tới gặp anh trong hai mươi... À mà nhân tiện, anh cho xe quay lại đón tôi chưa? Tốt lắm! Tạm biệt nhé!”

Anh ta gác ống nghe vào vị trí cũ, ra phòng ngoài rồi vào phòng ngủ, kiểm tra xem viên thư ký với anh người hầu tháo được dây trói hay chưa, và xem thử họ có chết ngạt vì bị bịt miệng hay không. Xong xuôi, anh ta lại trở vào với tù nhân trọng yếu của mình.

Ánh mắt của anh ta rất quả quyết và băng lạnh. “Không đùa nữa, Kesselbach ạ. Nếu ông không chịu nói, hậu quả sẽ tệ hơn nữa đấy. Ông đã quyết định chưa?”

“Quyết định gì?”

“Chớ có vớ vẩn nữa. Nói cho tôi những gì ông biết.”

“Tôi không biết gì cả.”

“Ông nói dối. Từ APOON có nghĩa là gì?”

“Nếu biết, tôi đã không ghi lại rồi.”

“Khá lắm, nhưng từ đó ám chỉ ai hay điều gì? Ông thấy nó ở đâu? Từ đâu mà ông biết được?”

Ông Kesselbach không trả lời. Lupin lại tiếp tục nói, giọng điệu có phần gay gắt và nóng nảy hơn trước: “Nghe này, Kesselbach, tôi sẽ đưa ra một đề nghị. Có thể ông là người giàu có, là ông to ông lớn, nhưng giữa chúng ta không có quá nhiều khác biệt đâu. Con trai của người bán xoong chảo thành Augsbourg và Arsène Lupin, ông hoàng đạo chích, có thể đi đến đồng thuận mà không bên nào phải hổ thẹn. Tôi trộm cắp trong nhà, ông trộm cắp trên sàn chứng khoán. Cá mè một lứa cả thôi. Thế này nhé, Kesselbach. Chúng ta hãy hợp tác để cùng làm việc này. Tôi cần ông vì tôi không rõ chuyện. Ông cần tôi vì ông không xoay xở một mình được đâu. Barbareux ngốc lắm. Tôi là Lupin. Đồng ý chứ?”

Kesselbach không trả lời. Lupin nhấn mạnh, giọng run run: “Trả lời đi, Kesselbach, ông có đồng ý không? Nếu có, tôi sẽ tìm được Pierre Leduc cho ông trong vòng bốn mươi tám tiếng. Đó là người ông đang tìm, đúng chứ? Vấn đề không phải thế hay sao? Nào, trả lời đi! Người đó là ai? Tại sao ông phải tìm anh ta?”

Lupin lập tức trấn tĩnh lại, đặt tay lên vai Kesselbach và cộc lốc nói: “Một từ thôi. Có hay không?”

“Không!”

Anh ta rút từ trong túi của Kesselbach ra một chiếc đồng hồ bằng vàng tuyệt đẹp và đặt nó trên đùi ông. Anh ta cởi cúc áo gi lê của Kesselbach ra, vạch áo sơ mi sang một bên, để lộ phần ngực, và cầm con dao găm bằng thép có chuôi mạ vàng đang đặt trên bàn lên, chĩa mũi dao vào nơi trái tim ông đang đập.

“Lần cuối cùng.”

“Không!”

“Ông Kesselbach, bây giờ là tám giờ ba phút. Trong vòng tám phút nữa mà ông vẫn không trả lời, ông sẽ phải chết!”

3.

Sáng hôm sau, đúng giờ hẹn, cảnh sát điều tra Gourel có mặt tại khách sạn Palace. Chẳng hề dừng chân lấy một phút, cũng chẳng chờ thang máy, anh phăm phăm lên cầu thang. Lên tới lầu bốn, anh rẽ phải, bước dọc hành lang và bấm chuông phòng 415.

Không nghe thấy động tĩnh gì, anh bấm chuông lần nữa. Sau sáu lần bấm chuông mà vẫn không có ai ra mở cửa, anh xuống văn phòng ở tầng trệt. Anh thấy người trưởng nhóm phục vụ ở đó.

“Làm ơn cho tôi gặp ông Kesselbach. Tôi bấm chuông cả chục lần rồi.”

“Đêm qua ông Kesselbach không nghỉ ở đây ạ. Chúng tôi không thấy ông ấy đâu từ chiều hôm qua.”

“Thế còn người hầu và thư ký của ông ấy?”

“Chúng tôi cũng không gặp họ.”

“Thế là họ không nghỉ lại trong khách sạn ư?”

“Tôi nghĩ là không.”

“Tôi nghĩ” nghĩa là sao? Anh phải chắc chắn chứ!”

“Sao ạ? Ông Kesselbach không dùng dịch vụ khách sạn ở đây, phòng suite số 415 là căn hộ riêng của ông ấy. Chúng tôi không phục vụ ông Kesselbach, mà là người hầu của ông ấy phục vụ; và chúng tôi không biết chuyện gì xảy ra bên trong đâu.”

“Phải rồi... Phải rồi...”

Gourel có vẻ rất bối rối. Anh đến theo lệnh, một nhiệm vụ rõ ràng, hoàn toàn nằm trong giới hạn mà khả năng trí tuệ của anh thực hiện được. Ngoài những giới hạn đó, anh hoàn toàn không biết phải hành động thế nào.

“Giá có sếp ở đây.” Anh lẩm bẩm. “Giá có sếp ở đây...”

Anh đưa thẻ ra và nói rõ chức danh. Rồi anh hỏi, với hy vọng mong manh sẽ biết thêm chút thông tin nào đó: “Vậy là anh không thấy họ vào à?”

“Không!”

“Nhưng anh có thấy họ đi ra ngoài không?”

“Cũng không.”

“Nếu thế, làm thế nào anh biết họ đã ra ngoài?”

“Nhờ một người đàn ông lên phòng 415 vào chiều hôm qua.”

“Người đàn ông có ria mép màu nâu phải không?

“Đúng rồi. Tôi gặp anh ta lúc anh ta ra về, khoảng ba giờ chiều. Anh ta nói: “Mấy người trong phòng 415 vừa ra ngoài. Tối nay ông Kesselbach sẽ ở lại Versailles, tại khách sạn Réservoirs; anh có thể gửi thư sang địa chỉ đó cho ông ta.”.”

“Nhưng quý ông đó là ai? Anh ta nhắn những lời đó với tư cách gì?”

“Tôi không biết.”

Gourel lo lắng. Anh thấy tất cả những chuyện đó rất đáng ngờ.

“Anh có chìa khóa phòng 415 không?”

“Không. Ông Kesselbach cho đánh chìa đặc biệt.”

“Mau lên xem nào.”

Gourel điên cuồng bấm chuông. Không có động tĩnh gì. Anh toan trở gót thì đột nhiên lại cúi xuống và áp sát tai vào lỗ khóa. “Nghe kìa... Hình như tôi nghe thấy... Sao vậy nhỉ... khá rõ ràng... tôi nghe thấy tiếng rên...”

Anh đấm thật lực vào cánh cửa.

“Nhưng, thưa ông, ông không có quyền...”

“Ồ, dẹp cái quyền ấy đi!”

Anh lại húc mạnh vào cửa, nhưng vô ích. Gourel đành từ bỏ. “Nhanh, nhanh đi gọi thợ khóa tới!”

Một anh phục vụ trong khách sạn vội vàng chạy đi. Gourel cứ rầm rầm đi tới đi lui mà không biết phải làm sao. Những người hầu ở các lầu khác túm tụm lại vì tò mò. Người dưới văn phòng, dưới ban quản lý cũng kéo cả lên đây. Gourel kêu lên: “Nhưng tại sao chúng ta không vào qua các phòng liền kề? Các phòng đó có thông với phòng này không?”

“Có, nhưng cửa thông phòng luôn bị khóa ở cả hai bên.”

“Vậy thì tôi phải gọi về Phòng Điều tra.” Gourel nói. Rõ ràng anh chẳng biết làm gì ngoài cầu cứu sếp mình.

“Và báo lên Sở Cẩm [2] nữa.” Ai đó trong đám đông lên tiếng.

“Được, nếu anh thích.” Anh đáp với giọng của người chẳng mấy quan tâm đến hình thức.

Lúc Gourel gọi điện xong, người thợ khóa đã sắp thử hết các chìa mình có. Chiếc chìa cuối cùng đã mở được cửa. Gourel nhanh chóng bước vào.

Anh lập tức chạy đến nơi phát ra tiếng rên rỉ và vấp luôn vào người viên thư ký Chapman và anh hầu Edwards. Một trong hai người, Chapman, nhờ kiên nhẫn mà đã nới lỏng được dây bịt miệng một chút, rên lên những tiếng nghèn nghẹt, đứt đoạn. Người còn lại hình như vẫn đang thiêm thiếp.

Hai người được cởi trói. Nhưng Gourel vẫn thấy sốt ruột. “Ông Kesselbach đâu?”

Anh chạy vào phòng khách. Ông Kesselbach bị trói nghiến vào chiếc ghế bành ở gần bàn. Đầu ông gục xuống ngực.

“Ông ấy ngất mất rồi.” Gourel nói và bước lại gần ông. “Chắc ông ấy đã cố quá nên kiệt sức.”

Anh vội vàng cắt dây trói ở phần vai. Cả người ông Kesselbach đổ ập về phía trước. Gourel tóm lấy cánh tay ông và giật mình lùi lại, kêu lên kinh hãi: “Ông ấy chết rồi! Tay ông ấy lạnh như băng! Nhìn vào mắt ông ấy kìa!”

Có ai đó lên tiếng: “Đột quỵ, chắc chắn rồi... hoặc là bị đau tim.”

“Phải, không có dấu hiệu bị thương... Là chết tự nhiên.” Họ đặt thi thể lên xô pha và cởi quần áo nạn nhân ra.

Nhưng những đốm đỏ trên chiếc áo sơ mi màu trắng lập tức hiện ra; và ngay khi vạch áo ra, người ta liền thấy ngay: trên ngực nạn nhân, ở vị trí trái tim có một vết rạch nhỏ, nơi đó ứa ra một dòng máu.

Và trên áo có ghim một tấm danh thiếp. Gourel cúi xuống. Là danh thiếp của Arsène Lupin, cũng dính đầy máu.

Sau đó, Gourel đứng thẳng người, nói với giọng rất rành mạch và đầy quyết đoán: “Một vụ án mạng!... Arsène Lupin!... Mau ra khỏi phòng, tất cả mọi người, mau rời khỏi hiện trường. Không một ai được ở đây, kể cả trong phòng ngủ... Đưa hai nạn nhân còn lại đi chỗ khác! Mọi người mau rời khỏi đây... Và đừng động vào bất cứ thứ gì... Sếp đang trên đường đến!”

4.

“Arsène Lupin!”

Gourel sững sờ lặp lại hai từ định mệnh đó. Chúng váng lên trong óc anh như một hồi chuông báo tử. Arsène Lupin! Ông vua trộm cắp! Siêu đạo chích phi thường! Có lẽ nào?

“Không, không!” Anh lẩm bẩm. “Không thể nào, vì hắn ta đã chết!”

Chỉ có điều, liệu... hắn ta có thực sự đã chết?

Arsène Lupin!

Đứng bên thi thể nạn nhân, anh chết lặng thẫn thờ, cứ máy móc lật đi lật lại tấm danh thiếp trong con khiếp đảm, như thể anh vừa nhận được lời khiêu khích từ một hồn ma. Arsène Lupin! Anh phải làm sao đây? Hành động ư? Nghĩ ra phương sách để nghênh chiến.... Không không... Tốt hơn hết là không nên làm gì... Vội vàng đối đầu một địch thủ như vậy, kiểu gì anh cũng phạm sai lầm. Vả lại, sếp đang trên đường đến đây rồi!

Sếp đang trên đường đến! Mọi triết lý tri thức của Gourel đều được tóm gọn trong câu nói ngắn ngủn đó. Một cảnh sát có năng lực, bền chí, gan dạ và kinh nghiệm, còn được trời phú cho sức mạnh ngang ngửa dũng sĩ Hercules [3] , anh là kiểu người chỉ được việc khi có chỉ dẫn và hoàn thành tốt nhiệm vụ khi có lệnh. Tính thiếu chủ động đó lại càng trở nên tồi tệ hơn kể từ khi ông Lenormand lên thay ngài Dudouis làm Trưởng phòng Điều tra! Ông Lenormand là sếp, thật thế! Có ông, cuộc điều tra chắc chắn sẽ đi đúng hướng! Vì vậy, chắc chắn Gourel sẽ dừng lại ngay khi không có sếp đứng sau khích lệ nữa.

Nhưng sếp đang trên đường đến! Gourel lấy đồng hồ ra xem, nhẩm tính mốc thời gian chính xác khi sếp anh có mặt. Giá mà mấy cảnh sát bên Sở Cẩm không nhanh chân hơn, giá mà ngài dự thẩm [4] - người chắc chắn phải tới - hay phía pháp y không đến và tìm được manh mối gì trước khi sếp anh có thời gian sắp xếp những điểm cốt yếu của vụ án trong đầu!

“Chà, Gourel, cậu đang mơ mộng gì vậy?”

“Sếp!”

Ông Lenormand vẫn còn trẻ, ấy là nếu quý độc giả chỉ chú ý đến vẻ mặt và đôi mắt sáng đằng sau cặp kính của ông; nhưng ông lại gần như là người cao tuổi khi quý độc giả ngó đến cái lưng còng, làn da khô và vàng như sáp, mái tóc cùng bộ râu màu muối tiêu, và toàn bộ dáng vẻ hom hem, lưỡng lự, ốm yếu của ông.

Với tư cách là ủy viên chính phủ, ông đã phải chịu bao gian khổ ở những bốt nguy hiểm nhất nơi các vùng thuộc địa suốt một phần đời. Ở đó, ông nhận được những trận sốt thừa sống thiếu chết; rèn được ý chí bất khuất mặc cho thể chất suy yếu; tập được thói quen sống một mình, ít nói và lặng lẽ hành động; một chút yếm thế, ghét người; và đột ngột, ở tuổi năm mươi, do vụ án ba người Tây Ban Nha ở Biskra chấn động dư luận mà ông còn lãnh thêm cả một tai tiếng lớn.

Chuyện bất công ấy về sau cũng được sửa chữa; ông được chuyển thẳng đến Bordeaux, kế đến là được bổ nhiệm chức phó ở Paris, rồi sau khi ông Dudouis mất, ông lên nắm chức trưởng phòng điều tra. Và, ở từng vị trí, ông lại có những sáng kiến lạ lùng trong quá trình tố tụng của mình, cùng sự tháo vát, năng lực độc đáo và mới mẻ; trên hết, khi phụ trách giải quyết bốn, năm vụ án gây xôn xao dư luận gần đây, ông phá án vô cùng xuất sắc, đến nỗi tên ông còn được đưa ra so sánh với những vị thám tử nổi tiếng nhất.

Còn Gourel, anh không do dự. Anh là nhân viên cưng của sếp. Sếp quý anh vì tính ngay thẳng và cách phục tùng thụ động, anh coi trọng ông Lenormand hơn tất thảy. Đối với anh, sếp là thần tượng là Đức Chúa vô ngộ [5] .

Ngày hôm đó, ông Lenormand có vẻ mệt mỏi hơn bình thường. Ông rã rời ngồi xuống, làm hai vạt sau của chiếc áo khoác dài - loại áo khoác dài kiểu cũ, nổi tiếng với đường cắt lỗi thời và màu xanh ô liu - tế sang hai bên. Ông cởi chiếc khăn quàng cổ - chiếc khăn quàng cổ màu hạt dẻ cũng trứ danh không kém - rồi chống hai tay lên đầu gậy và nói: “Nói đi!”

Gourel kể lại tất cả những gì anh đã thấy, và tất cả những gì anh đã nghe. Anh kể vắn tắt, đúng theo thói quen mà sếp anh tập cho anh.

Nhưng khi anh đưa tấm danh thiếp của Lupin ra, ông Lenormand giật nẩy mình.

“Lupin!” Ông kêu lên.

“Vâng, là Lupin. Con thú hoang đã trở lại rồi.”

“Không sao, không sao cả.” Ông Lenormand nói, sau một lúc trầm ngâm.

“Không sao cả, hẳn thế rồi.” Gourel đáp. Anh rất thích chêm thêm lời của mình vào sau những câu nói hiếm hoi của vị cấp trên mà với anh chỉ có duy nhất một điểm đáng khiển trách là quá kiệm lời. “Không sao cả, vì cuối cùng sếp sẽ được so tài với một đối thủ xứng tầm... Và Lupin sẽ được dạy cho một bài học... Lupin sẽ tiêu đời... Lupin...”

“Tìm đi!” Ông Lenormand nói, phũ phàng cắt lời anh.

Nghe cứ như mệnh lệnh của người thợ săn ban ra cho chú chó của mình vậy. Quả thật, Gourel cũng lùng sục tìm manh mối với dáng vẻ của một chú chó ngoan, một sinh vật hoạt bát và thông minh, cần cù làm việc dưới sự quan sát của chủ nhân. Ông Lenormand trỏ gậy vào góc nhà, vào chiếc ghế bành, hệt như cách người ta trỏ vào bụi cây hay lùm cỏ, và Gourel lao tới sục sạo trong “lùm cây”, “bụi cỏ” đó hết sức kĩ lưỡng tỉ mỉ.

“Không có gì hết ạ.” Viên cảnh sát nói sau một hồi tìm kiếm.

“Không có gì với cậu thôi!” Ông Lenormand càu nhàu.

“Ý tôi là như vậy... Thưa sếp, tôi biết rằng đối với ngài, có những vật còn nói chuyện được như người, như những nhân chứng thực sự. Tuy nhiên, vụ giết người này đã quá rõ ràng, ngài sẽ giải quyết nhanh chóng và chiến thắng Lupin.”

“Chỉ là giải quyết nhanh chóng thôi.” Ông Lenormand nói.

“Giải quyết nhanh chóng, vâng... Nhưng điều này là không thể tránh khỏi. Hắn sống như thế thì sớm muộn gì mà chẳng vướng vào tội ác nghiêm trọng. Ông Kesselbach hẳn đã phải tự vệ...”

“Không hề, vì ông ấy bị trói.”

“Đúng rồi.” Gourel bối rối nói. “Và điều đó cũng rất khó hiểu... Tại sao phải giết một địch thủ gần như đã không còn sức chống trả?... Nhưng chuyện đấy không quan trọng, giá mà hôm qua tôi tóm cổ hắn, khi chúng tôi mặt đối mặt ở ngưỡng cửa...”

Ông Lenormand đã ra ngoài ban công từ lúc nào. Rồi ông sang phòng ngủ của ông Kesselbach, căn phòng phía bên phải, kiểm tra các cửa sổ và cửa lớn. Các cửa này đều được đóng chặt.

“Lúc tôi vào, cửa sổ trong hai căn phòng này đều đóng cả.” Gourel nói.

“Đóng hẳn, hay chỉ khép tạm thôi?”

“Kể từ lúc đó, không ai động vào chúng hết. Chúng được đóng hẳn, thưa sếp...”

Tiếng người nói ồn ào khiến cả hai phải quay trở lại phòng khách. Ở đó, họ thấy bác sĩ pháp y đang khám nghiệm tử thi, và ngài Formerie - ngài dự thẩm. Ngài Formerie kêu lên: “Arsène Lupin! Tôi rất lấy làm mừng khi cuối cùng vận may cũng cho mình gặp lại tên khốn đó! Tôi sẽ cho hắn biết tay!... Lần này lại còn là một vụ giết người nữa chứ!... Đây là trận chiến giữa hai chúng ta, ngài Lupin ạ!”

Ngài Formerie không bao giờ quên vụ án chiếc vương miện của Công nương xứ Lamballe, hay cách Lupin đã lừa đẹp ngài cách đây mấy năm. Vụ án ngày đó cho tới giờ vẫn còn khiến chốn pháp đình xôn xao không dứt. Người ta vẫn cười ngài về vụ đó, và bản thân ngài Formerie vẫn còn ghim phẫn uất trong lòng, mong được dịp trả thù sao cho thật hoành tráng.

“Tội ác đã quá rõ ràng.” Ngài dõng dạc tuyên bố. “Và chúng ta sẽ dễ dàng biết được động cơ của hắn. Vậy là tất cả đã... Ông Lenormand, chào ông... Rất vui khi gặp ông…”

Ngài Formerie chẳng lấy gì làm vui. Ngược lại, sự có mặt của ông Lenormand còn khiến ngài bực bội trong lòng, nhất là khi vị Trưởng phòng Điều tra kia còn chẳng buồn che giấu vẻ coi thường đối với ngài. Tuy nhiên, ngài dự thẩm vẫn đứng thẳng dậy, và nghiêm trang nói: “Thưa bác sĩ pháp y, vậy là ông ước tính nạn nhân đã tử vong cách đây khoảng mười hai tiếng đồng hồ, thậm chí có thể lâu hơn?... Tôi cũng có cùng ý kiến như vậy... Chúng ta hoàn toàn đồng tình với nhau... Còn công cụ gây án ở đây là gì?”

“Một con dao có lưỡi rất mỏng, thưa ngài dự thẩm.” Bác sĩ pháp y trả lời. “Ngài nhìn xem, lưỡi dao được lau bằng chính khăn tay của nạn nhân...”

“Phải rồi... phải rồi... Ta thấy rõ dấu vết đây... Giờ ta phải thẩm vấn thư ký và người hầu của ông Kesselbach. Tôi chắc chắn cuộc thẩm vấn sẽ giúp chúng ta làm sáng tỏ vụ việc.”

Chapman, được đưa về phòng riêng của mình ở bên trái phòng khách cùng Edwards, hiện đã bình phục sau biến cố. Anh khai chi tiết mọi sự việc xảy ra ngày hôm trước: những lo âu của ông Kesselbach, cuộc hẹn với người được gọi là ngài Đại tá, và cuối cùng là vụ hành hung mà họ là nạn nhân.

“A ha!” Ngài Formerie kêu lên. “Vậy là có một tên đồng phạm! Và anh còn nghe thấy tên của hắn... Anh nói là Marco nhỉ?... Điều này rất quan trọng đấy. Khi chúng tôi bắt được tên đồng phạm, chúng tôi sẽ tiến thêm được một bước rất lớn trong cuộc điều tra...”

“Phải, nhưng chúng ta chưa bắt được hắn.” Ông Lenormand đánh bạo nhận xét.

“Cứ để rồi xem... Lần lượt từng việc một... Vậy, anh Chapman này, gã Marco đó đã rời khỏi đây ngay sau khi cậu Gourel bấm chuông à?”

“Phải, chúng tôi nghe thấy tiếng hắn ta bỏ đi.”

“Và sau khi hắn đi, anh không nghe thấy gì nữa à?”

“Có… thỉnh thoảng thôi, nhưng không rõ lắm... Cửa đóng kín mà.”

“Anh đã nghe thấy tiếng động gì?”

“Tiếng người nói. Người đàn ông đó...”

“Cứ gọi hẳn tên hắn ra, Arsène Lupin.”

“Arsène Lupin chắc chắn đã gọi điện thoại.”

“Tuyệt lắm! Chúng tôi sẽ thẩm vấn nhân viên khách sạn phụ trách liên lạc điện thoại. Thế còn sau đó, anh cũng nghe thấy tiếng hắn đi ra ngoài chứ?”

“Hắn vào trong này kiểm tra xem chúng tôi có còn bị trói không; khoảng mười lăm phút sau, hắn cũng đi khỏi, đóng cả cửa chính lại.”

“Phải, ngay sau khi hắn thực hiện tội ác. Tốt... Tốt lắm... Mọi thứ đều rất khớp với nhau... Sau đó thì sao?”

“Sau đó, chúng tôi không nghe thấy động tĩnh gì nữa... Đêm cứ thế trôi qua... Tôi mệt quá nên thiếp đi... Edwards cũng vậy... Mãi cho tới tận sáng nay...”

“Phải, tôi hiểu... Không tệ... Mọi thứ đều rất khớp với nhau...”

Tay ghi lại các chi tiết vừa điều tra, giọng điệu như liệt kê những chiến thắng mình giành được trước người lạ, ngài lầm rầm với vẻ trầm ngâm: “Đồng phạm... điện thoại... thời điểm gây án... những tiếng động được nghe thấy... Tốt... Tốt lắm... Chúng tôi vẫn phải tìm động cơ gây án. Trong trường hợp này - vì thủ phạm là Lupin - động cơ đã quá rõ ràng. Ông Lenormand, ông không thấy bất kỳ dấu hiệu đột nhập nào, dù là nhỏ nhất sao?”

“Không!”

“Vậy thì, chúng đã cướp đồ cất trong người nạn nhân. Ta đã tìm được ví của ông ấy chưa?”

“Tôi để nguyên cái ví trong túi áo khoác của nạn nhân.” Gourel nói.

Cả đoàn lại kéo nhau vào phòng khách. Ngài Formerie thấy trong ví chỉ có danh thiếp và giấy tờ tùy thân.

“Lạ thật. Anh Chapman, anh có thể cho chúng tôi biết: Ông Kesselbach có mang theo tiền trong người không?”

“Có ạ, ngày hôm trước nữa, tức là thứ Hai, hôm kia, chúng tôi đến Ngân hàng Crédit Lyonnais, chỗ ông Kesselbach thuê một chiếc két sắt...”

“Két sắt ở Ngân hàng Crédit Lyonnais sao? Chà... chúng ta phải tới đó điều tra mới được.”

“Và, trước khi đi, ông Kesselbach có mở sổ, lấy ra chừng năm, sáu nghìn franc tiền mặt.”

“Hoàn hảo... Việc ấy đã cho chúng tôi sáng tỏ những điều chúng tôi muốn biết.”

Chapman tiếp tục: “Còn một điểm nữa, thưa ngài dự thẩm. Mấy ngày vừa qua, ông Kesselbach lúc nào cũng lo lắng, bồn chồn. Tôi đã trình bày với ngài nguyên nhân: Ông ấy có một kế hoạch nào đó mà ông ấy cực kỳ coi trọng. Ông Kesselbach có vẻ đặc biệt lo lắng về hai món đồ: Món thứ nhất là một cái hộp bằng gỗ mun, cái hộp này đã được ông ấy cất trong két an toàn ở Ngân hàng Crédit Lyonnais; món thứ hai là một chiếc ví nhỏ bằng da thuộc kiểu Maroc màu đen, trong đó, ông ấy cất một số giấy tờ.”

“Vậy chiếc ví đó ở đâu?”

“Trước khi Lupin đến, ông ấy đã cất nó vào túi du lịch, ngay trước mặt tôi.”

Ngài Formerie với lấy chiếc túi và lục tìm bên trong. Chiếc ví không có ở đó. Ngài xoa tay. “A, mọi thứ đều rất khớp với nhau!... Chúng ta đã biết thủ phạm, điều kiện và động cơ gây án. Vụ án này sẽ không mất thời gian đâu. Chúng ta tán thành mọi điểm rồi chứ, ông Lenormand?”

“Không có lấy một điểm!”

Một thoáng sững sờ. Người bên Sở Cẩm đã đến, và sau lưng anh ta, mặc cho các cảnh sát khác canh ở cửa, cả một đoàn ký giả, nhân viên khách sạn vẫn cố tìm cách chen vào bên trong, họ đang tụ tập ở ngay bên ngoài phòng khách.

Dẫu ai cũng biết Trưởng phòng Điều tra vốn nổi tiếng thẳng tính - kiểu thẳng tính thường đi chung với thô lỗ và đôi khi còn khiến ông bị khiển trách nặng - nhưng câu trả lời thẳng tưng ấy vẫn làm mọi người phải sửng sốt. Nhất là ngài Formerie, ngài thấy bối rối kinh khủng.

“Nhưng…” Ngài nói. “Tôi chẳng thấy có gì phức tạp ở đây: Lupin chính là kẻ trộm...”

“Tại sao anh ta phải giết người?” Ông Lenormand vặc lại.

“Để ăn trộm chứ sao!”

“Xin ông thứ lỗi cho, lời khai của các nhân chứng chứng minh vụ trộm diễn ra trước vụ ám sát. Ông Kesselbach bị trói và bị bịt miệng trước, sau đó thì bị cướp. Vậy tại sao Lupin - vốn chưa bao giờ phạm tội giết người - lại đi sát hại một người hoàn toàn bất lực và đã bị cướp sạch từ trước chứ?”

Ngài dự thẩm đưa tay vuốt bộ ria mép dài màu vàng - cử chỉ quen thuộc khi ngài gặp phải một câu hỏi có vẻ hóc búa. Ngài đáp với giọng trầm ngâm: “Có vài câu trả lời cho thắc mắc ấy đấy...”

“Như thế nào kia?”

“Còn tùy... tùy vào những việc mà chúng ta chưa biết... Bên cạnh đó, chỉ có mâu thuẫn về bản chất động cơ. Những phần còn lại, chúng ta đều đồng thuận với nhau cả.”

“Không!”

Câu phản đối lần này vẫn cụt lủn, lỗ mãng, gần như bất lịch sự; đến mức ngài dự thẩm sững người, thậm chí không dám phản bác. Ngài đứng chết lặng trước người cộng sự kỳ lạ này. Cuối cùng, ngài nói: “Mỗi người chúng ta đều có giả thuyết riêng. Tôi rất muốn biết giả thuyết của ông.”

“Tôi không có.”

Vị Trưởng phòng Điều tra đứng dậy, tì người lên gậy chống, bước vài bước trong phòng khách. Xung quanh ông, ai nấy đều im lặng và tò mò khi thấy một ông già ốm yếu, hom hem áp chế những người khác bằng thứ uy quyền tuyệt đối mà họ phải tự giác phục tùng, dẫu chưa hề chấp nhận. Sau một hồi im lặng, ông nói: “Tôi muốn kiểm tra những căn phòng thông với phòng suite này.”

Quản lý khách sạn cho ông xem sơ đồ tòa nhà. Phòng ngủ bên phải - phòng riêng của ông Kesselbach - chỉ có một lối ra duy nhất là hành lang nhỏ xíu của chính phòng suite này. Nhưng phòng bên trái - phòng ngủ của viên thư ký - lại thông với một phòng suite khác.

“Ta sang kiểm tra căn bên đó.” Ông Lenormand nói.

Ngài Formerie không thể không nhún vai và càu nhàu: “Nhưng cửa thông sang đây đều đã được chốt kĩ, còn cửa sổ thì bị khóa.”

“Ta sang kiểm tra căn bên đó.” Ông Lenormand nhắc lại.

Ông được người ta dẫn sang phòng suite liền kề. Căn phòng thông với phòng ngủ của viên thư ký là phòng đầu tiên trong số năm phòng được đặt trước cho bà Kesselbach. Sau đó, ông lại yêu cầu phía khách sạn đưa mình đến các phòng thông với phòng đó. Tất cả các cửa thông phòng đều bị khóa ở cả hai phía.

“Không có phòng nào trong số các phòng này có người ở sao?” Ông hỏi.

“Không một phòng nào.”

“Thế chìa khóa các phòng này đâu?”

“Chìa khóa lúc nào cũng được chúng tôi cất dưới văn phòng.”

“Vậy tức là không ai có thể vào được các phòng này?”

“Vâng, không một ai, ngoại trừ người bồi phòng phụ trách quét dọn.

“Xin hãy đưa anh ta đến.”

Người bồi phòng, tên là Gustave Beudot, trả lời rằng ngày hôm trước, anh ta đã đóng hết cửa sổ của cả năm căn phòng theo chỉ dẫn chung.

“Vào lúc mấy giờ?”

“Lúc sáu giờ tối ạ.”

“Và anh không thấy có điều gì bất thường?”

“Vâng, không có gì hết ạ.”

“Thế còn sáng nay?”

“Sáng nay, tôi mở cửa sổ lúc khoảng tám giờ.”

“Và anh cũng không thấy bất cứ điều gì?”

“Không, không có gì cả... A! Nhưng mà...”

Anh ta ngần ngại. Anh ta bị hỏi dồn và cuối cùng phải thú nhận: “À, tôi nhặt được một hộp thuốc lá gần lò sưởi ở phòng 420... Tôi định tối nay sẽ mang sang văn phòng.”

“Anh có mang theo đây không?”

“Không ạ, tôi cất trong phòng của mình. Đó là một cái hộp làm bằng đồng thau. Một bên cất thuốc và giấy quấn, một bên cất diêm. Trên hộp có khắc hai chữ cái bằng vàng... chữ L và chữ M...”

“Anh nói sao?”

Chapman nghe thế liền bước tới. Anh có vẻ rất ngạc nhiên và hỏi người bồi phòng: “Anh nói đó là một hộp đựng thuốc lá bằng đồng thau à?”

“Đúng rồi.”

“Có ba ngăn - để đựng thuốc lá, giấy và diêm... Thuốc lá Nga, sợi mảnh, đều, vàng óng?

“Đúng thế.”

“Anh về cầm đến đây đi... Tôi muốn nhìn tận mắt... cho chắc...”

Thấy Trưởng phòng Điều tra ra hiệu, Gustave Beudot liền chạy về phòng.

Ông Lenormand ngồi xuống, đưa cặp mắt sắc bén quan sát kĩ thảm trải sàn, bàn ghế và rèm cửa trong phòng. Ông hỏi: “Đây là phòng 420, đúng không?”

“Đúng!”

Ngài dự thẩm cười chế nhạo. “Tôi rất muốn biết ông đã thiết lập được mối liên kết nào giữa việc này với thảm kịch vừa rồi. Năm cánh cửa khóa kín ngăn cách chúng ta với căn phòng nơi Kesselbach bị sát hại.”

Ông Lenormand chẳng buồn hạ mình mở miệng.

Thời gian cứ trôi qua. Gustave vẫn không thấy trở lại.

“Anh ấy nghỉ ở đâu vậy, ngài quản lý?” Trưởng phòng Điều tra hỏi.

“Ở lầu sáu.” Viên quản lý khách sạn đáp. “Phòng anh ấy ở mạn đường Judée, tức là ngay phía trên chúng ta. Giờ anh ấy vẫn chưa quay lại, thật lạ lùng quá!”

“Ngài có bằng lòng cử người lên phòng anh ấy xem sao không?”

Viên quản lý đích thân lên lầu sáu, Chapman cũng theo cùng. Mấy phút sau, anh ta quay lại, chỉ có một mình, chạy hối hả, mặt đầy vẻ kinh hoàng.

“Sao vậy?”

“Chết rồi!”

“Bị giết?”

“Vâng!”

“A, trời đất quỷ thần ơi, lũ khốn này tinh ranh thật!” Ông Lenormand gầm lên. “Đi thôi, Gourel, cho khóa hết cửa khách sạn lại... canh phòng mọi lối ra... Còn ngài, ngài quản lý, phiền ngài dẫn chúng tôi lên phòng anh Gustave Beudot.”

Viên quản lý dẫn đường. Nhưng khi rời khỏi phòng, ông Lenormand cúi xuống và nhặt một mẩu giấy nhỏ xíu hình tròn lên. Ông đã để ý đến mẩu giấy đó suốt từ nãy đến giờ.

Đó là một cái nhãn có đường viền màu xanh lam, trên có ghi con số 813. Nhân cơ hội đó, ông cất luôn vào ví rồi đi cùng những người khác.

5.

Một vết đâm nhỏ ở lưng, giữa hai bả vai...

“Giống hệt vết thương trên ngực ông Kesselbach.” Bác sĩ pháp y nói.

“Đúng vậy!” Ông Lenormand nói. “Cùng hung thủ đã đâm ông Kesselbach và cũng cùng hung khí.”

Dựa vào tư thế của thi thể, nạn nhân bị tấn công bất ngờ khi đang khuỵu gối trước giường nằm để tìm chiếc hộp thuốc lá mà anh ta cất ở đó. Cánh tay nạn nhân vẫn đang bị kẹp giữa nệm và giường, nhưng chiếc hộp thì không thấy đâu.

“Chiếc hộp đó chắc chắn phải nắm giữ nhiều bí mật về thủ phạm lắm đây.” Ngài Formerie rụt rè đưa ra giả thuyết. Ngài không còn dám quả quyết như trước nữa.

“Tất nhiên rồi!” Trưởng phòng Điều tra nói.

“Dù sao đi nữa, chúng ta cũng đã biết hai chữ viết tắt, chữ L và chữ M. Nhờ hai chữ cái đó, cùng với những gì anh Chapman dường như đã biết, ta sẽ dễ dàng…”

Ông Lenormand giật nẩy mình. “Chapman! Anh ta đâu rồi?”

Đoàn điều tra nhìn ra hành lang khách sạn, tìm giữa những nhóm người đang tụ tập đông đúc ngoài đó. Không thấy Chapman đâu.

“Anh Chapman đã đi cùng với tôi.” Viên quản lý nói. “Phải, phải, tôi biết, nhưng anh ta không xuống cùng ngài.”

“Đúng thế, vì tôi để anh ấy ở lại với thi thể mà.”

“Ngài để anh ấy lại ư?... Một mình à?”

“Tôi đã bảo anh ấy ở lại đây, đừng đi đâu hết.”

“Và không có ai ở xung quanh à? Ngài không thấy ai chứ?”

“Ngoài hành lang ấy ạ? Không hề!”

“Thế còn trên gác mái?... Hay, nhìn đây, chỗ khúc quanh này... không có ai trốn ở đó chứ?”

Ông Lenormand có vẻ rất kích động. Ông đi lên, đi xuống, mở cửa phòng. Thình lình, ông chạy vụt đi, rất nhanh - chẳng ngờ ông lại có thể nhanh nhẹn được như thế.

Ông rầm rập chạy một mạch xuống sáu tầng lầu, theo sau - cách một đoạn xa - là ngài dự thẩm. Ở tầng dưới cùng ông thấy Gourel đứng canh trước cửa chính.

“Có ai ra ngoài không?”

“Không, thưa sếp!”

“Còn cửa đằng kia, phía đường Orvieto thì sao?”

“Tôi cử Dieuzy canh ở đó rồi.”

“Nghiêm ngặt chứ?”

“Vâng, thưa sếp!”

Khách khứa tụ tập rất đông ở tiền sảnh khách sạn rộng lớn. Ai nấy đều lo lắng, luôn miệng xì xào, bàn tán về những phiên bản ít nhiều chính xác của vụ trọng án mà họ nghe được. Tất cả những người làm trong khách sạn đều được triệu tập qua điện thoại và đang lần lượt kéo xuống dưới sảnh. Ông Lenormand lập tức thẩm vấn họ. Không một ai trong số đó cung cấp được thông tin cho ông, cho đến khi bà hầu phòng ở lầu năm xuất hiện. Khoảng mười phút trước đó, bà có đi ngang qua hai quý ông đang đi xuống bằng cầu thang dành cho người phục vụ ở giữa lầu năm và lầu bốn.

“Họ chạy xuống nhanh lắm. Người đi đầu nắm lấy tay người còn lại. Tôi rất ngạc nhiên khi thấy hai quý ông này lại đi cầu thang của người phục vụ.”

“Bà có thể tả lại diện mạo của họ được không?”

“Người đi đầu thì không. Ông ta quay mặt ra ngoài. Ông ta gầy, tóc vàng, đội một chiếc mũ mềm màu đen... và mặc đồ đen.”

“Còn người kia?”

“Ồ, người kia là người Anh, mặt to, cạo râu nhẵn nhụi và mặc com lê kẻ ca rô. Ông ta không đội mũ.”

Những mô tả đó rõ ràng khớp với Chapman. Người phụ nữ nói thêm: “Ông ấy trông... ông ấy trông hơi buồn cười... như thể ông ấy bị điên vậy.”

Với ông Lenormand, những lời Gourel nói vẫn không đủ. Ông lần lượt hỏi những người trực cổng ở cả hai cửa vào khách sạn: “Anh biết anh Chapman chứ?”

“Vâng, thưa ngài, anh ấy vẫn thường trò chuyện với chúng tôi.”

“Các anh không thấy anh ta đi ra ngoài à?”

“Không, thưa ngài. Cả sáng nay, chúng tôi không thấy anh ấy đi ra.”

Ông Lenormand quay sang viên cảnh sát bên Sở Cẩm: “Thưa ngài Cảnh sát trưởng, bên ngài có bao nhiêu người ạ?”

“Bốn.”

“Thế thì không đủ. Gọi cho thư ký của ngài, bảo anh ta cho hết quân ở Sở sang đây. Và, thưa ngài Cảnh sát trưởng, xin hãy cho quân giám sát thật chặt chẽ tất cả mọi đường đi lối lại.”

“Nhưng còn...” Viên quản lý khách sạn lên tiếng phản đối. “...Còn khách của tôi thì sao?”

“Tôi không quan tâm đến khách của ngài, thưa ngài! Nhiệm vụ của tôi là trên hết; và nhiệm vụ của tôi là bằng bất cứ giá nào cũng phải bắt...”

“Vậy tức là ông nghĩ...” Ngài dự thẩm đánh bạo nói xen vào.

“Tôi không nghĩ , thưa ngài... Tôi chắc chắn tên hung thủ giết người của cả hai vụ án vẫn đang ở trong khách sạn.”

“Thế nhưng Chapman...”

“Cho đến thời điểm hiện tại, tôi không thể đảm bảo anh Chapman vẫn còn sống. Trường hợp nào đi nữa, đó là vấn đề tính bằng phút, bằng giây... Gourel, dẫn hai người đi lục soát tất cả các phòng trên lầu bốn... Ngài quản lý, cho một nhân viên của ngài đi cùng với họ... Còn các lầu khác, tôi sẽ tiến hành ngay khi có tiếp viện. Nào, Gourel, mau đi đi, và phải tập trung vào... Cậu đang săn một con mồi lớn đấy!”

Gourel và người của mình vội vàng chạy lên lầu bốn. Ông Lenormand vẫn ở dưới sảnh, gần văn phòng khách sạn. Lần này, ông không nghĩ đến việc ngồi xuống như mọi khi nữa. Ông đi đi lại lại từ lối vào chính đến lối vào ở mặt đường Orvieto, rồi quay về điểm xuất phát ở sảnh. Chốc chốc, ông ra lệnh: “Ngài quản lý, coi chừng nhà bếp, chúng có thể trốn qua lối đó... Ngài quản lý, hãy nói với quý cô trực điện thoại rằng cô ấy không được phép nối máy cho bất kỳ ai trong khách sạn gọi ra ngoài. Nếu có điện thoại từ bên ngoài gọi vào, cô ấy có thể nối máy cho họ với người được gọi, nhưng bắt buộc phải ghi lại tên của người đó. Ngài quản lý, lập cho tôi danh sách các vị khách của ngài có tên bắt đầu bằng chữ L hoặc chữ M.”

Ông nói thật to những lời đó, với giọng điệu mà người chỉ huy quân đội thường ra lệnh với cấp dưới, khi kết quả từ lệnh ban ra sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến trận chiến. Và đây cũng thực sự là một trận chiến trường kỳ và khủng khiếp xảy ra trong một dinh thự đầy trang nhã kiểu Paris, giữa một nhân vật quyền lực là Trưởng phòng Điều tra và một kẻ thủ ác bí ẩn bị truy lùng, bị săn đuổi, gần như bị tóm đến nơi, nhưng lại quá xảo quyệt và tàn nhẫn.

Không khí căng thẳng khiến những người chứng kiến nghẹt thở, họ co cụm vào với nhau ở chính giữa sảnh, im lặng và thở hổn hển, run rẩy vì sợ hãi trước những tiếng động dù là nhỏ nhất, ám ảnh với hình ảnh ghê rợn của kẻ sát nhân. Hắn đang trốn ở đâu? Hắn sẽ ra mặt chứ? Hắn không phải là một trong số họ chứ? Không phải là người này hay người kia chứ....

Người ta căng thẳng đến mức nếu không có vị Trưởng phòng Điều tra ở đó, ắt sẽ xảy ra bạo loạn, người ta sẽ phá cửa và tràn ra khắp các nẻo phố. Sự có mặt của ông khiến mọi người trong khách sạn yên tâm và bình tĩnh. Người ta cảm thấy an toàn, giống như những hành khách trên con tàu được một thuyền trưởng dạn dày kinh nghiệm chỉ huy.

Mọi con mắt đều đổ dồn vào người đàn ông đeo mục kỉnh, tóc hoa râm, khoác chiếc áo choàng màu ô liu và đeo chiếc khăn quàng cổ màu hạt dẻ, đang loanh quanh đi lại, lưng còng xuống, đôi chân run rẩy.

Thỉnh thoảng lại thấy một nhân viên phục vụ đi tìm kiếm cùng Gourel chạy xuống.

“Có gì mới không?” Ông Lenormand hỏi.

“Không, thưa sếp, chúng tôi không tìm thấy gì.”

Đã hai lần viên quản lý khách sạn cố nài ông cho nới lỏng việc canh gác ở hai cửa. Tình hình lúc này đã quá quắt lắm rồi. Văn phòng chật ních những khách có công việc cần ra ngoài hoặc đã đến lúc rời Paris đang lớn tiếng phản đối.

“Tôi không quan tâm.” Ông Lenormand nhắc lại.

“Nhưng tôi biết tất cả bọn họ mà.”

“Chúc mừng ngài.”

“Ngài đang lạm quyền đấy.”

“Tôi biết.”

“Người ta sẽ chứng minh rằng ngài đã sai.”

“Tôi hoàn toàn tin điều ấy.”

“Chính ngài dự thẩm...”

“Ông Formerie tốt nhất chớ có can thiệp! Ông ta nên lo việc của mình thì hơn: thẩm vấn những người làm việc ở đây - như ông ta vẫn đang làm bây giờ. Hơn nữa, việc này không can dự gì đến ông dự thẩm, đây là việc của cảnh sát. Đây là việc của tôi.”

Đúng lúc đó, một toán cảnh sát ùa vào khách sạn. Trưởng phòng Điều tra chia họ thành nhiều nhóm và lệnh cho họ lên lầu ba. Sau đó, ông nói với Cảnh sát trưởng: “Ngài Cảnh sát trưởng thân mến, tôi sẽ giao việc giám sát cửa ra vào lại cho ngài. Chớ mềm lòng, tôi cầu xin ngài. Tôi sẽ chịu trách nhiệm về bất cứ chuyện gì xảy ra.”

Rồi ông chạy vào thang máy, lên lầu hai.

Việc khám xét không hề dễ dàng, lại rất mất thời gian, vì người ta phải mở cửa toàn bộ sáu mươi phòng để kiểm tra mọi phòng tắm, mọi ngăn tủ, mọi ngóc ngách, xó xỉnh.

Thế mà vẫn không tìm thấy gì. Một tiếng đồng hồ sau, khoảng giữa trưa, ông Lenormand lục soát xong lầu hai; các nhóm khác tìm kiếm ở những tầng trên vẫn chưa xong, và cũng không phát hiện được gì.

Ông Lenormand do dự: Liệu tên sát nhân có rút lên trên gác mái không nhỉ?

Tuy vậy, ông vẫn quyết định xuống lầu khi nhận được thông báo: Bà Kesselbach cùng nữ hầu [6] của mình vừa đến. Edwards, người hầu cũ của chồng bà, đã nói cho bà về cái chết của ông Kesselbach.

Ông Lenormand tìm thấy bà Kesselbach trong một phòng khách: hoàn toàn suy sụp vì tin dữ bất ngờ, mắt không nhòa lệ nhưng mặt hoa chau lại vì đau khổ, thân liễu run rẩy, như thể bị co giật vì lên cơn sốt. Người thiếu phụ khá cao, tóc màu hạt dẻ; nàng có đôi mắt đen láy đẹp tuyệt trần, đôi mắt như được rắc đầy vàng, những hạt vàng nho nhỏ, hệt như ánh sao lấp lánh trong đêm tối. Chồng nàng gặp nàng ở Hà Lan, nơi nàng ra đời. Nàng sinh trưởng trong một gia đình lâu đời có gốc gác Tây Ban Nha - dòng họ Amonti. Chàng thanh niên Kesselbach ngày đó yêu nàng ngay từ cái nhìn đầu tiên; và suốt bốn năm qua, duyên cầm sắt của hai vợ chồng - được đắp xây từ những yêu thương và hiến dâng từ cả hai phía, chưa lúc nào phai.

Ông Lenormand lên tiếng tự giới thiệu. Nàng ngẩng đầu nhìn ông nhưng không trả lời; ông cũng đành im lặng, bởi dường như, vẫn đang mụ mị trong con bàng hoàng vì tin dữ, nàng không hiểu những gì ông nói. Rồi, đột nhiên, nàng khóc nức nở và đòi được gặp chồng.

Ra ngoài sảnh, ông Lenormand gặp Gourel đang tất tả đi tìm mình. Vừa thấy ông, anh liền vội vàng đưa ngay cho ông chiếc mũ mình đang cầm trên tay.

“Sếp, tôi nhặt được cái này... Chắc chắn ta sẽ biết chủ nhân của nó là ai, đúng không ạ?”

Đó là một chiếc mũ phớt mềm, màu đen. Bên trong không có lớp lót hay nhãn mác gì.

“Cậu nhặt được nó ở đâu?”

“Trên chiếu nghỉ của cầu thang dành cho nhân viên phục vụ, ở lầu hai.”

“Không tìm được gì ở các lầu khác à?”

“Không ạ! Chúng tôi đã tìm đủ mọi ngóc ngách. Chỉ còn lại mỗi lâu một thôi. Và chiếc mũ này chứng tỏ rằng gã nọ đã xuống tận dưới này rồi. Chúng ta sắp tìm được hắn rồi, thưa sếp.”

“Tôi cũng nghĩ thế.”

Đến chân cầu thang, ông Lenormand bỗng dừng lại.

“Cậu lên gặp ngài Cảnh sát trưởng và truyền lại cho ngài ấy lệnh của tôi: Phải cử hai cảnh sát, có súng, đứng canh ở chân cầu thang bốn tầng lầu trên kia. Được phép bắn, nếu cần. Cậu phải hiểu rõ điều này, Gourel ạ: Nếu không cứu được Chapman và nếu gã kia trốn thoát, tôi sẽ thôi việc. Tôi đã phí phạm thời gian hơn hai tiếng đồng hồ rồi.”

Ông đi lên cầu thang. Trên lầu một, ông thấy hai viên cảnh sát bước ra từ một căn phòng, có nhân viên khách sạn dẫn đầu.

Hành lang vắng tanh. Các nhân viên khách sạn không dám lang thang ở đó. Có những khách thuê dài hạn tự nhốt mình trong phòng; vì thế, cảnh sát phải gõ cửa rất lâu và phải xưng danh mới được người ta mở cửa cho.

Tiếp tục đi xa hơn, ông Lenormand trông thấy một nhóm cảnh sát đang lục soát trong phòng cất thực phẩm, và ở cuối hành lang dài, ông thấy một tốp đông người hơn đang chuẩn bị rẽ. Lối rẽ đó có các phòng nhìn ra đường Judée.

Bất thình lình, ông nghe thấy tiếng những người đó hét lên thất thanh; và họ vội vàng chạy tới trước.

Ông cũng vội vã chạy theo.

Tốp cảnh sát dừng lại ở giữa lối đi. Dưới chân họ, chắn ngang lối, mặt úp xuống thảm, là một xác người.

Ông Lenormand cúi xuống, đỡ lấy đầu của cái xác không hồn.

“Chapman.” Ông thì thào. “Anh ta chết rồi.”

Ông kiểm tra thi thể nạn nhân. Một chiếc khăn lụa trắng quấn quanh cổ. Ông tháo khăn. Những vệt đỏ xuất hiện; và ông thấy chiếc khăn này dùng để giữ một miếng bông dày bịt đằng sau gáy. Miếng bông sũng máu.

Vẫn là một vết thương nhỏ như hai vụ trước, một vết đâm rất gọn, thẳng tay và tàn nhẫn.

Ngài Formerie và Cảnh sát trưởng nhận được thông báo, lập tức chạy đến.

“Có kẻ nào chạy ra không?” Trưởng phòng Điều tra hỏi. “Không có gì sao?”

“Không, thưa ngài!” Cảnh sát trưởng đáp. “Có hai cảnh sát canh ở chân mỗi cầu thang rồi.”

“Có khi hắn đã chạy lên trở lại chăng?” Ngài Formerie nói.

“Không!... Không!”

“Nhưng phải có người thấy hắn chứ...”

“Không... Án mạng đã xảy ra được một lúc lâu rồi... Tay nạn nhân lạnh cóng... Vụ giết người xảy ra gần như ngay kế tiếp vụ trước... Ngay lúc hai người xuống đây bằng cầu thang dành cho nhân viên phục vụ.”

“Nhưng như vậy phải thấy thi thể từ sớm rồi chứ! Ông nghĩ mà xem, có tới năm mươi người qua lại chỗ này suốt hai giờ đồng hồ qua.”

“Lúc đó, thi thể đâu có ở đây.”

“Vậy thì nó ở đâu?”

“Sao kia? Làm sao tôi biết được?” Trưởng phòng Điều tra gắt. “Ngài cũng tự đi mà tìm đi, làm theo tôi đây này! Đứng đây nói chuyện thì tìm được gì?”

Ông giận dữ vỗ bàn tay co quắp vào đầu gậy; và ông đứng đó, mắt dán chặt vào thi thể nạn nhân, im lặng trầm ngâm suy nghĩ. Cuối cùng, ông nói: “Ngài Cảnh sát trưởng xin vui lòng đưa nạn nhân vào một phòng trống. Ta phải gọi bác sĩ pháp y tới. Ngài quản lý, ngài có thể mở cửa tất cả các phòng dọc hành lang này giúp tôi không?”

Phía bên trái có ba phòng ngủ và hai phòng khách hợp thành một phòng suite. Phòng này trống không - ông Lenormand đã kiểm tra kĩ. Phía bên phải, có bốn phòng đơn. Hai phòng trong đó đã có khách thuê, lần lượt là ông Reverdat và một người Ý, Nam tước Giacomici, cả hai đều đã ra ngoài từ trước. Trong căn phòng thứ ba, họ thấy có một bà cụ người Anh sống độc thân vẫn còn đang nằm trên giường. Còn ở căn phòng thứ tư là một người Anh đang bình thản vừa đọc sách vừa hút thuốc; chẳng thèm bận tâm đến tiếng ồn ào ngoài hành lang. Anh ta là Thiếu tá Parbury.

Các cuộc tìm kiếm và thẩm vấn đều không đem lại kết quả nào. Trước đó, bà cụ người Anh không nghe thấy gì ngoài tiếng hét thất thanh của những viên cảnh sát: không có tiếng vật lộn, không có tiếng kêu thét vì đau đớn, cũng không một tiếng cãi vã; Thiếu tá Parbury cũng vậy.

Đã thế, người ta cũng chẳng phát hiện được manh mối đáng ngờ nào, không một vệt máu, không một dấu vết nào cho thấy Chapman bất hạnh đã từng bị lôi vào một trong những căn phòng này.

“Lạ lùng thật!” Ngài dự thẩm lẩm bẩm. “Hết sức lạ lùng...” Và ngài ngây thơ thú nhận: “Càng ngày tôi càng thấy rối... Một loạt chuyện xảy ra ở đây phần nào vượt tầm suy luận của tôi... Ông nghĩ thế nào, thưa ông Lenormand?”

Ông Lenormand vốn bẳn tính, nghe thấy thế bèn nộ khí xung thiên, đang sắp tuôn ra một tràng đầy những lời cay độc thì Gourel hộc tốc chạy đến, thở hổn hển.

“Sếp ơi!” Anh nói không ra hơi. “Chúng tôi tìm thấy cái này... ở tầng dưới... trong văn phòng khách sạn... trên ghế...” Đó là một cái gói kích thước vừa phải, bọc bằng vải dày màu đen.

“Đã có ai mở ra chưa?” Trưởng phòng Điều tra hỏi.

“Rồi ạ, nhưng khi thấy những thứ bên trong, chúng tôi liền gói lại y như cũ... buộc cũng rất chặt, như sếp đang thấy bây giờ đây.”

“Mở ra cho tôi.”

Gourel tháo lớp vải gói ra, bên trong là một chiếc quần dài và một chiếc áo khoác bằng vải dệt từ lông cừu màu đen. Rõ ràng, những món đồ này bị xếp lại rất vội, nhìn mấy nếp nhăn trên vải là biết. Ở giữa là một chiếc khăn dính đầy máu đã được nhúng nước, rõ ràng là để xóa dấu tay đã lau vào đó. Bọc bên trong chiếc khăn là một con dao găm bằng thép, chuôi dát vàng. Dao cũng nhuốm máu đỏ, máu của ba mạng người bị một bàn tay vô hình đâm chết chỉ trong vòng vài tiếng đồng hồ, giữa đám đông ba trăm người thường xuyên qua lại trong một khách sạn rộng lớn.

Edwards, người hầu của ông Kesselbach xấu số, ngay lập tức nhận ra con dao của chủ mình. Ngày hôm trước, trước khi bị Lupin tấn công Edwards đã nhìn thấy con dao đó đặt trên bàn.

“Ngài quản lý!” Trưởng phòng Điều tra nói. “Lệnh phong tỏa được dỡ bỏ. Gourel, hãy đi thông báo cho anh em cảnh sát rời vị trí ở cửa.”

“Vậy ông cho rằng Lupin đã thoát được ra ngoài?” Ngài Formerie hỏi.

“Không! Hung thủ của ba vụ giết người mà chúng ta vừa phát hiện vẫn đang ở trong khách sạn, nấp trong một căn phòng nào đó, hay nói đúng hơn, hắn đang trà trộn vào những vị khách ngoài sảnh hoặc trong khu vực tiếp tân. Theo tôi thấy, hắn ngụ trong khách sạn này.”

“Không thể nào! Với lại, hắn thay quần áo ở đâu? Và hắn đang mặc loại quần áo gì lúc này?”

“Tôi không biết, nhưng tôi đang nói lên một sự thật hiển nhiên.”

“Và ông cứ để hắn đi sao? Hắn sẽ lẳng lặng bước ra ngoài, tay đút túi quần, thản nhiên như không đấy!”

“Vị khách nào bước ra ngoài với tư thế đó, không mang theo hành lý và không quay trở lại, chính là hung thủ. Ngài quản lý, xin vui lòng đi cùng tôi xuống văn phòng. Tôi muốn xem kĩ danh sách khách lưu trú của ngài.”

Dưới văn phòng, ông Lenormand thấy có một vài lá thư gửi cho ông Kesselbach. Ông đưa hết cho ngài dự thẩm. Còn có một bưu phẩm vừa được bên dịch vụ bưu chính Paris mang đến. Giấy gói bưu phẩm có chỗ bị rách, ông Lenormand thoáng thấy một chiếc hộp nhỏ bằng gỗ mun có khắc tên Rudolf Kesselbach. Thấy hiếu kỳ, ông mở bưu phẩm ra xem. Trong hộp có những mảnh gương vỡ, rõ ràng, chiếc gương đã từng được gắn vào phía trong nắp hộp. Trong đó còn có danh thiếp của Arsène Lupin.

Nhưng có một chi tiết dường như khiến vị Trưởng phòng Điều tra phải giật mình. Ở bên ngoài, dưới đáy hộp có dán một cái nhãn nhỏ viền màu xanh lam, giống với cái nhãn ông nhặt được trong căn phòng ở lầu bốn - nơi người ta tìm thấy hộp thuốc lá, và nhãn này cũng có số 813.

« Lùi
Tiến »