Sherlock chạy hết tốc lực từ khu East End về, cậu chạy như thể cố thoát khỏi mọi thù hằn trên thế giới, khỏi những cung cách tàn bạo mà con người đối xử với nhau, khỏi bất cứ kẻ nào đã sát hại người phụ nữ kia.
Tối đó nằm trên giường cậu không tài nào ngủ được. Cậu cứ nghĩ mãi về cảnh tượng đã trông thấy trong con hẻm: lối đi tăm tối, những con quạ đang mổ như thể có kẻo nào đã đứng ở đó, trong màn sương mù, quan sát nhất cử nhất động của cậu.
Bây giờ thì cậu lại thấy xấu hổ. Tại sao cậu lại sợ đến thế? Liệu cậu có đủ can đảm chiến đấu với ma quỷ nếu cậu có thể giúp đỡ người ta? Liệu cậu có thể làm điều gì đó hay không? Cậu chỉ là một thằng bé. Nhưng nếu như anh chàng người Ả rập không làm chuyện đó thì sao? Nếu như người ta sắp treo cổ một người vô tội thì sao? Nếu như một kẻ nào đó sắp thoát thân với một thành tích còn bất hảo hơn những cuộc ẩu đả trong sân trường... một vụ án mạng chẳng hạn?
Sẽ chẳng có ai làm gì cả. Sáng hôm đó Sherlock thức dậy với hai mắt thâm quầng. Lẽ ra mẹ cậu đã trông thấy, nhưng bà đi sớm vì có ba buổi dạy hát: một ở Belgravia, hai ở Mayfair. Bố cậu cũng phải đi sớm. Mỗi sáng ông đi bộ năm dặm đến Cung Pha lê, tối lại đi bộ trở về. Cậu ngồi bên chiếc bàn nhỏ, thẫn thờ nhìn trong khi ông ăn sáng với một tô cháo và một tách trà nóng. Ông đang đeo kính, chiếc áo khoác đen cũ sờn đã được bà Rose giặt sạch sẽ hết mức, bộ râu đen của ông được cắt tỉa gọn gàng.
Khi về nhà muộn đêm hôm qua, Sherlock đã thú thật với bố mẹ là mình đã đi lại vào khu trung tâm Luân Đôn (mặc dù không nói là cậu đã đi đâu sau đó). Cậu đã xin được nghỉ học thêm một ngày nữa, và hứa sau đó sẽ đến trường hàng ngày.
- Con chào bố. - Cậu bé nói. Cậu nhìn vào trong chiếc gương nhỏ của họ để chắc chắn mái tóc của mình vào đúng nếp.
Ông Wilber đáp lại, không buồn ngẩng đầu lên:
- Ừ, Sherlock. Ngủ ngon không con?
- Có ạ. Con cám ơn bố. - Cậu ngồi xuống.
- Bố cảm thấy con có điều gì thắc mắc.
Bố cậu là như thế. Ông như có giác quan thứ sau trong mọi việc.
- Bố còn nhớ bố con mình đã trò chuyện về lũ quạ ngày hôm qua không ạ?
- Còn - Ông Wilber tập trung cái nhìn vào cậu con trai - Bố còn nhớ.
- Bố đã nói là chúng rất khôn. - Cậu bé nói, hơi chồm người tới trước.
- Đương nhiên rồi.
- Rằng chúng là loài ăn xác thối.
- Không may là như thế. Chỉ tổ làm cho người ta có định kiến về chúng.
- Rằng chúng có khả năng nhận diện con người. Còn gì nữa không ạ?
Ông Wilber cất cái tô lên kệ. Đầu óc ông bắt đầu nghĩ tới công việc của ngày hôm nay.
- Ý con là thế nào?
- Chúng còn có khả năng khác thường nào nữa không ạ?
Ông Wilber đã quay ra cửa, nhưng ông dừng bước và mỉm cười nhìn cậu con trai. Dạo sau này ông và Sherlock không có dịp trò chuyện lâu với nhau như trước đây, khi ông từng truyền đạt mọi hiểu biết cho con trai mình, huấn luyện cho cậu cách sử dụng bộ não như một món vũ khí. Thật tuyệt vời khi được nghe cậu con trai đặt câu hỏi trở lại.
- Xem nào, một vài đồng nghiệp của bố tin rằng quạ có thể nói chuyện, hay ta có thể nói là... chúng có thể giao tiếp rất tốt.
- Còn gì nữa ạ?
Sherlock đứng dậy, tiến lại gần ông bố. Sáng nay cậu không muốn ăn gì hết, chỉ muốn đi càng sớm càng tốt.
- Để bố xem nào... chúng thuộc một họ nhà chim vốn ưa thích những thứ lấp lánh.
- Những thứ lấp lánh á?
- Hình như chúng có một đầu óc tổ chức rất chặt chẽ, và nếu như có gì đó nằm không đúng chỗ là chúng lập tức bị thu hút. Những vật lấp lánh có vẻ nổi quá. Lũ quạ lao vào chúng như bị nam châm hút vậy. - Một cái nhăn trán nhẹ làm lông mày ông nhíu lại. - Điều đó cũng chẳng có lợi chút nào cho danh tiếng của loài quạ. Chúng bị coi như kẻ cắp. Một lời khuyên nhỏ cho con khi ở cùng lũ quạ này: đừng để bất cứ thứ gì có giá trị nằm lẻ loi, nếu không chúng sẽ lấy mất của con đấy. - Ông bật cười.
Hai người im lặng một lúc. Ông Wilber lại quay bước đi ra cửa.
- Con nghe nói quạ là điềm báo của quỷ sứ. - Sherlock lên tiếng.
Bố cậu dừng phắt lại.
- Con người mới làm những trò quỷ sứ, - ông đáp một cách cứng rắn - chứ không phải lũ chim.
***
Sáng hôm đó, sau khi băng qua sông, cậu tiếp tục đi theo hướng bắc, xuyên qua các con phố chật hẹp. Khi đi vòng qua một góc đường, cậu nhận thấy một cái gì đó đang chuyển động trong bóng tối phía đằng trước, nơi một con đường nhỏ bắt đầu tách ra từ con đường cho xe chạy. Sau đó một băng nhóm nhỏ bắt đầu kéo đến như lũ chuột chui lên từ ống cống.
Mạch máu cậu đập dồn dập.
Bình thường, nếu trông thấy nhóm Bụi đời, cậu sẽ cố gắng tránh xa chúng. Hiếm khi nào chúng để cậu đi mà không dùng đến bạo lực, bất kể những lời nói hay việc làm gì của cậu. Nếu chúng bắt gặp cậu ở xa các con phố chính thì cơ may của cậu càng ít đi. Có vẻ như chúng căm thù cậu. Nhưng không phải vì dòng máu Do Thái của cậu. Không, trong nhóm chúng cũng có những đứa Do Thái. Đó là màu xanh trong các tĩnh mạch của cậu. Chúng cảm thấy cậu không phải là trẻ đường phố, không thực sự là như vậy. Việc Giáo chủ ăn nói lưu loát như thế âu cũng là điều dễ hiểu, vì xét cho cùng thằng bé là bộ não của cả nhóm, với quá khứ bí mật mà nó không muốn nói ra. Quan trọng nhất là nó biết phân phát những gì bọn trẻ cần trong thế giới ngầm. Nhưng cậu bé lai Do Thái thì không. Cậu không cùng phe với chúng, cũng không phải là đối thủ của chúng.
Thằng bé thủ lĩnh, khôn lanh như một con bọ, chỉ cần nhìn Holmes là biết ngay chân tướng của cậu. Nhưng lạ một điều là Sherlock cũng cảm thấy ở đâu đó sâu bên trong đầu óc rối rắm của Giáo chủ có một sự tôn trọng dành cho cậu. Cậu cũng tôn trọng nó. Những tư tưởng tội phạm trong đầu Giáo chủ luôn được hình thành một cách xuất sắc.
Sherlock bồn chồn đứng tại chỗ. Lần này cậu đang muốn nói chuyện.
Bọn trẻ chạy thẳng đến chỗ cậu, Giáo chủ dừng lại, giơ một tay lên. Cả băng đồng loạt đứng lại. Có mười ba đứa cả thảy - thằng bé đầu đảng thích con số ấy. Chúng ăn mặc cũng khá, tuy bẩn thỉu và rách rưới, với trang phục gồm mũ mềm, mũ quả dưa và mũ lưỡi trai, áo bằng vải lanh đã ngả màu xám, cà vạt lụa gớm ghiếc. Tất cả đều là đồ ăn cắp được - việc bắt cóc những đứa trẻ Luân Đôn đi một mình rồi lột sạch là một sở trường của chúng - ngoài ra chúng còn móc túi những người giàu. Những phiên treo cổ là dịp hành nghề thuận lợi nhất. Từ lâu Sherlock đã xác định được thông tin cá nhân của chúng: bảy trong số chúng là dân Ái Nhĩ Lan (bao gồm cả hai thằng phó tướng đầu gấu, Grimsby và Crew), hai thằng người Uy Nhĩ Sĩ, một đứa Tô Cách Lan, và hai đứa là dân Anh gốc Do Thái. Tất cả đều là trẻ mồ côi hoặc là con em các gia đình dân lao động nghèo, lớn lên trong khu ổ chuột hay ở trên đường phố. Tất cả lộ ra trong lời nói và cung cách của chúng. Nhưng thằng cầm đầu, lớn hơn những đứa còn lại hai tuổi, thì khác. Không có đứa trẻ con khu ổ chuột nào ăn nói như nó cả.
- Sherlock Holmes công tử, nếu tao không nhầm.
- Chào Giáo chủ - Sherlock điềm tĩnh lên tiếng.
- Mày muốn nói chuyện hả? - Thằng bé du đãng dường như đọc được ý nghĩ trong đầu cậu.
- Về vụ giết người.
- Lại vụ đó à?
- Ừ.Có tin tức gì không?
- Mày đã được cảnh báo sẽ bị ăn đòn nếu hỏi tao chuyện đó lần nữa mà.
- Tay người Ả rập không làm chuyện đó. - Sherlock dũng cảm phản đối.
- Đoán mò. - Giáo chủ đáp trong lúc đưa tay vuốt lại tấm áo choàng dài màu đen.
- Lãnh địa của các cậu đâu có an toàn hơn khi một tên sát nhân lẩn trốn đâu đó.
- Hắn đâu có lẩn trốn. - Giáo chủ nói luôn không cần suy nghĩ.
- Thế à?
Trông Giáo chủ như vừa bị lỡ lời.
- Biến đi, Sherlock Holmes! - Thằng bé liếc qua vai về phía bọn du côn đằng sau, gật đầu với Grimsby và Crew đang bước lên.
Chúng thích đánh đập các nạn nhân của mình, nên hai đứa đều cầm theo những cây gậy bằng gỗ hồ đào. Grimsby tóc đen thích nói nhiều, còn Crew tóc vàng thì ít nói. Hai đứa nhăn nhở cười với cậu bé mảnh khảnh.
- Nếu nó quay gót đi ngay thì không đứa nào được đánh. - Giáo chủ nói.
Hai thằng phó tướng nhún vai.
Sherlock nhận thấy âm sắc Ái Nhĩ Lan trong giọng điệu của Giáo chủ trở nên rõ hơn khi nó tức lên. Hai thằng bé nhìn nhau. Cả hai đều là những đứa cao, gầy, đầu to, mặc dù thằng thủ lĩnh băng đảng nhỉnh hơn cậu bé trốn học đói ăn gần hai centimét. Trán nó dô, mắt trũng sâu trong khi Holmes có trán phẳng và mắt lồi. Cả hai đứa có cái kiểu luôn nhìn quanh quẩn, quay đầu quan sát một cách đa nghi - Giáo chủ thì như con rắn, trong khi Holmes lại giống diều hâu. Mái tóc của chúng, với màu đen như than, luôn được chải chuốt cẩn thận.
Giáo chủ lần đầu tiên trông thấy Sherlock Holmes ngoài đường trước đó nhiều tháng và đặc biệt để ý đến cậu, nó bị hút về phía cậu như thể cậu là một vật thể lấp lánh. Thằng bé du đãng không thể kìm mình trong việc quấy rối cậu, nhưng đến giờ nó vẫn chưa cho phép bọn đàn em xuống tay với cậu.
Sherlock Holmes quay lưng bỏ đi.
Cậu đi được một nửa ô phố thì một quả cà chua thối bay vèo như viện dạn đập thẳng vào lưng cậu. Sherlock lập tức quay đầu lại. Nhưng đám trẻ đã biến mất.
Cậu đứng sững người trong giây lát. "Tao nguyền rủa chúng mày!" Cuối cùng cậu văng tục, tay luống cuống chùi vệt nước đỏ trên áo khoác. "Làm sao gột sạch chỗ này đây!"
- Không đứa lào được đánh nó! - Một giọng nói vẳng đến từ sau góc đường trước khi cùng với tràng cười điên dại tan biến vào bầu không khí Luân Đôn.
***
Cậu lại đọc các tờ báo sáng hôm đó. Chẳng có gì mới. Cảnh sát đã quyết rồi. Cậu thấy đau lòng vì bọn họ suy nghĩ quá đơn giản và không có gì sáng tạo. Cậu ngồi ở trung tâm quảng trường Trafalgar, giữa những người khách du lịch và mấy con chim bồ câu. Cậu xoáy một ổ bánh sữa từ lũ chim xám xịt béo ú. Thỉnh thoảng, cậu nhúng cà vạt vào trong một đài phun nước và tức tối cọ vết bẩn màu đỏ trên cổ áo, cho đến khi cậu đã gần như kì cọ khắp cả bộ quần áo.
Băng Bụi đời không biết ai đã giết người phụ nữ. Cậu có thể chắc chắn như vậy. Nhưng chúng biết điều gì đó. Ít nhất là thằng Giáo chủ biết. Trên đường phố Luân Đôn này không ai tinh ranh hơn thằng bé suốt ngày tính toán đó. Đám lâu la của nó không những sợ, mà còn công nhận nó giỏi hơn chúng. Sherlock không chỉ tưởng tượng ra chuyện Giáo chủ có xuất thân từ tầng lớp cao hơn, mà cậu biết điều đó. Có một manh mối không thể tranh cãi: chiếc áo choàng đen có đuôi xẻ ấy. Dù nó rách rưới và cũ rích, thằng nhóc thủ lĩnh kia vẫn mặc nó hàng ngày, như thể đó là một món đồ đáng trân trọng chứ không phải là một thứ ăn cắp được. Cái mũ chóp cùng với cây gậy chống của Giáo chủ là những thứ mà thằng bé có thể bỏ xuống đất không cần suy nghĩ, chứ còn chiếc áo choàng thì đã có lần Sherlock trông thấy thằng bé giặt trong một thùng nước mưa khi cứ tưởng là không ai trông thấy, lại còn thường xuyên đưa tay vuốt ve nó trong khi nói chuyện. Trước đây chiếc áo đó thuộc về một người có địa vị nhất định. Có những bí mật được lưu giữ trong các nếp gấp của nó. Rõ ràng Giáo chủ được thừa hưởng một năng lực trí tuệ cao hơn những đứa còn lại. Không gì ở Luân Đôn này có thể qua mắt thằng bé. Nó biết điều gì đó về vụ án mạng tại Whitechapel.
Nhưng là gì mới được? Ở đó còn gì để biết nữa?
Sherlock nhớ lại cảnh tượng mà cậu đã thấy tối hôm qua. Trí tưởng tượng của cậu tái hiện nó gần như hoàn hảo, và lúc ấy cậu nhận ra một điều. Những con quạ... chúng không đứng ở trên vệt máu! Chúng đang di chuyển xung quanh, như thể tìm kiếm điều gì đó, như thể...
- Sherlock.
Có ai đó đã nhận ra cậu, mặc dù cậu đang cúi gằm mặt. Đó là một giọng phụ nữ ấm áp mà trong một thoáng cậu chưa thể nhận ra. Thế rồi đột nhiên cậu bừng tỉnh khỏi những suy nghĩ miên man trong đầu và nhảy dựng lên.
- Sherlock, mẹ đây mà - Bà Rose cười - Đừng ngạc nhiên thế chứ. Mẹ biết mẹ sẽ tìm thấy con ở ngay chỗ này. Con còn nhớ không, hôm mẹ dạy hát ở Mayfair, cách đây không xa. - Bà chỉ về hướng tây. Bà đang mặc một trong những chiếc váy đẹp nhất may bằng vải muxơlin, thắt dây chỉnh tề, trong tình trạng nguyên lành nhất còn giữ được từ hồi trước. Nó từng có màu trắng ngà.
- Mẹ... con...
- Hôm nay là ngày cuối cùng con không đến trường, đúng không?
Cậu gật đầu.
- Mẹ muốn tối nay mẹ con mình đi cùng nhau. - Bà Rose nói.
Bà ngồi xuống cạnh cậu, đưa hai tay nắm lấy một bàn tay của cậu.
Cậu biết điều đó có nghĩa là gì. Bà muốn đi nghe hát. Họ từng đi xem nhiều lần trước đây. Từ khi nhớ được, cậu đã được mẹ dắt đi cùng rồi. Cậu chắc chắn bà sẽ nắm tay cậu dẫn tới đó, chỗ phía sau lưng Nhà hát Hoàng gia tại Covent Garden, cách Trafalgar không xa. Họ sẽ lẩn vào bóng tối và tiến tới địa điểm của bà, nơi có một cái lò than trông ra ngoài đường. Họ có thể cúi xuống và nghe thấy âm nhạc tựa như đang ngồi trong nhà hát. Trong khi cậu lắng nghe, bà sẽ kể cho cậu câu chuyện của từng vở nhạc kịch thật từ tốn và rõ ràng, với đôi mắt ngân ngấn nước.
Chiều tối hôm đó hai người ngồi nói chuyện với nhau trên quảng trường. Cậu có thể ngửi thấy mùi bia trong hơi thở của bà.
Đề tài trò chuyện của mẹ cậu không bao giờ là quá khứ, mà luôn là những việc xảy ra trong ngày. Hôm nay, bà bắt đầu với những ngôi nhà to lớn mà bà vừa đến.
- Cái đầu tiên nằm ở Belgravia, nhà của một vị công tước.
Bà biết cậu sẽ quan tâm, nên mô tả từng li từng tí về ngôi nhà xa hoa đó: cánh cửa trước lộng lẫy, những chiếc chân nến bóng loáng, và cô tiểu thư quý tộc sống ở đó... người chưa bao giờ hạ cố nói câu "Xin chào".
- Ngôi nhà khác nằm ở Mayfair. - Bà tiếp tục.
Ông chủ có ở nhà. Ông ta có một khuôn mặt đỏ đắn, một chòm râu dê màu hung hung, và một lối nói chuyện khó nghe. Tất cả những gì ông ta nói là với mấy người đầy tớ. Ông ta chưa bao giờ nói chuyện với vợ. Ông ta rất thô lỗ và thiếu giáo dục, đặc biệt là đối với một người có vợ là họ hàng của Nữ hoàng.
- Ông ta cứ nhìn mẹ chằm chằm. Hay ít ra mẹ nghĩ thế. Ông ta có một đôi mắt kì dị nhất mẹ từng thấy. Một con trông có vẻ rất khác so với con còn lại: đôi khi có những cặp mắt như thế. Hãy xem xét kĩ, Sherlock ạ, rồi con sẽ thấy. Một con mắt có vẻ sống động... trong khi con mắt kia lại có vẻ chết chóc.
Mặt trời đang lặn khi họ đi về phía phố Strand rồi ngược lên hướng bắc để đến Coven Garden. Chợ đã dẹp. Những cánh hoa nằm trơ trên mặt đất sình lầy, những chiếc sọt tan hoang nằm lăn lóc khắp nơi, tiếng rao của những người án hàng trong và người bán bánh nướng đã tắt từ lâu. Họ băng qua khu vực trống trải để đến nhà hát Lớn, một tòa nhà tuyệt đẹp xây bằng đá trắng.
Bà Holmes đi theo một lộ trình. Bà vòng qua cửa trước,nơi có những chiếc cột cao trông ra phố Bow, rồi băng qua đường và đứng trên vỉa hè, hơi cách đồn cảnh sát một chút về phía am, nơi đang phát ra những tia sáng màu xanh. Bà luôn nắm tay Sherlock, ngay cả khi bây giờ cậu đã mười ba tuổi, và siết chặt lấy nó một cách vô thức trong khi quan sát.
Những cỗ xe ngựa thắng lại, hết chiếc nọ đến chiếc kia. Những nhân vật nổi tiếng, những người giàu bước xuống, mũ nón bóng lộn, kim cương lấp lánh, áo váy tung bay. Sherlock Holmes thầm suy xét trong đầu trong khi quan sát: cậu nhìn và giải mã cuộc sống của từng quý ông, quý bà. Các cảnh sát đứng gần đấy, cũng quan sát, nhưng họ không bao giờ nhìn vào những người thượng lưu kia. Họ chú ý vào những người khác. Nhiều lần Sherlock bắt gặp ánh mắt của bọn họ, và lần nào cũng vậy, cậu nhìn lảng đi chỗ khác.
Trước khi cánh cửa lớn khép lại phía sau lưng cặp đôi quyền quý cuối cùng, bà Rose kéo cậu con trai băng qua đường. Họ lén lút đi dọc theo mặt bắc của nhà hát rồi nhanh chóng lỉnh vào bên dưới một chiếc cầu thang nhỏ bằng sắt uốn ở phía sau lưng nhà hát. Nó dẫn tới một lối vào bí mật, được các ca sĩ ngôi sao sử dụng. Cánh cửa nhỏ sẫm màu được ngụy trang bằng dây thường xuân, và cái lò than được giấu bên dưới các bậc thang cung cấp một lối mở vào trong nhà hát. Họ như là đang ngồi ở hàng ghế đầu vậy.
Hai người ngồi xổm dưới đất, chiếc váy của bà Rose bị chấm xuống bùn, nhưng bà mặc kệ. Bà quàng một tai qua Sherlock. Âm nhạc bắt đầu nổi lên.
Một tiếng kêu nhỏ buột ra từ đôi môi của bà. Đó là vở Chim ác là kẻ cắp. Bây giờ thì cậu đã hiểu vì sao bà muốn đi tối nay.
Trước tiên là khúc dạo đầu rền vang như sấm dậy, bắt đầu với dàn trống phát ra âm thanh của buổi hành quyết: buổi hành quyết của một cô gái trẻ. Nhưng mẹ cậu không nói gì. Bà chỉ chờ đợi. Rồi bà thở dài.
Những cây vĩ cầm.
- Chúng kể cho ta nghe - bà thường nói như thế - về các bi kịch của cuộc sống.
Bà gọi đó là miền vĩ cầm. Đó là nơi bà đến khi nghe thấy những âm thanh của chúng. Sherlock hiểu ý bà. Cậu cũng có thể cảm thấy điều đó. Không có nhạc cụ nào giống như chúng. Tiếng vĩ cầm khi buồn da diết khi lại mạnh mẽ cực độ. Chúng nói lên sự thật. Khi chơi chậm, cúng khiến bạn muốn khóc. Lúc dạo nhanh, chúng thúc giục bạn tiến lên phía trước, đẩy bạn vào những xung đột của cuộc sống.
- Bah a bah, pa pa pa... Bah a bah, pa pa pa...
Bà khe khẽ hát theo giai điệu quay cuồng của dàn dây, những âm thanh của con chím ác là bay vút trên không trung, thẳng tới kho báu của nó.
Bà Rose kể lại câu chuyện, giọng nói của bà du dương và dịu dàng trên nền nhạc tuyệt vời. Trong đầu mình, Sherlock có thể trông thấy khán phòng lộng lẫy bên trong: sân khấu ngời sáng, những dãy ban công, những chiếc ghế bọc nhung đỏ sang trọng, những chiếc chân nến bằng bạc tuyệt đẹp. Và cậu có thể hình dung ra câu chuyện.
- Một con chim ác là bay lượn vô tư giữa không trung theo một lộ trình vui tươi trong sớm bình minh. Nó nhìn thấy một thứ gì đó lấp lánh xuyên qua cửa sổ của một ngôi nhà sang trọng. Nó lao xuống. Đó là một cái muỗng. Một cái muỗng bạc lấp lánh có giá trị nhiều hơn là bộ óc nhỏ xíu của nó có thể tưởng tượng được. Nó đậu xuống bậu cửa sổ. Nó nhìn quanh quất. Nó quắp lấy cái muỗng và bay đi. Ngày hôm sau, bà chủ nhà buồn bã vô cùng. Kẻ nào đó đã đánh cắp một trong những chiếc muỗn bằng bạc ròng của bà. Chắc chắn chỉ có bọn người hầu! Một cô bé gái xinh xắn, nghèo xác xơ như một con chuột đồng, vô tình vào trong phòng làm việc khi cái muỗng bị lấy cắp. Bà chủ buộc tội cô bé. Cô bị bắt. Đó là một vụ việc rõ như ban ngày. Cô bé bị kết tội chết. Ngày hành quyết đang đến gần...
Bà Rose không bao giờ kể phần kết của câu chuyện. Con trai bà biết điều gì sẽ xảy ra, nhưng bà không hé răng một lời, bất kể việc họ nghe vở nhạc kịch đến lần thứ bao nhiêu đi nữa. Họ co người ngồi trong bóng tối cho đến khi nốt nhạc cuối cùng vang lên. Rồi họ lén lút đi ra như những trên trộm, di chuyển trong bóng tối đến phố Bow, tới dòng sông rồi về nhà.
Ông Wilber đang đợi hai mẹ con. Ông biết họ đã ở đâu. Ông ôm vợ vào lòng trong khi bà thút thít khóc. Rồi ông đưa bà vào giường.
Cậu bé ngồi vào bàn. Sherlock Holmes không khóc, không bao giờ khóc vì bất cứ điều gì.
- Chim ác là kẻ cắp. - Bố cậu lên tiếng và lắc đầu trong khi ông ra khỏi buồng và ngồi xuống.
Hai người im lặng một hồi.
- Chim ác là thuộc họ gì hả bố? - Cậu bé đột nhiên thắc mắc.
Ông Wilber mỉm cười:
- Chúng thuộc họ Corvidae. Họ nhà quạ. Gồm có quạ thông, chim bổ hạt, quạ lớn, và dĩ nhiên có các chú quạ bạn con nữa.
Đúng lúc bố cậu nhắc tới những con quạ, một ý nghĩ bỗng nảy ra trong đầu Sherlock - cậu tự hỏi tại sao trước đây mình không nghĩ tới nó. Cậu ngồi chết lặng, đầu óc nghĩ tận đẩu tận đâu.
Ông bố đã quá quen với thái độ này của cậu con trai. Sherlock là một cậu bé lạ lùng. Hầu hết những đứa con trai ở độ tuổi của cậu đều có một nhóm bạn. Sherlock thì không. Đôi khi ngay giữa lúc nói chuyện, cậu bỗng rơi vào trạng thái im lặng kéo dài như thế và nghĩ đến những việc khác. Cậu sẽ ngồi xuống, mi mắt gần như khép lại, để tâm hồn thơ thẩn đi nơi khác. Ông Wilber đứng lên, xoa đầu con, rồi bước sang phòng ngủ bên cạnh.
Sherlock vuốt lại tóc rồi đứng dậy. Cậu đi ra cửa sau, mở ra rồi khẽ khàng khép lại trước khi xuống cầu thang.
Trên con phố tối mò, cậu bắt đầu chạy.
Cậu lao bổ trở lại qua chiếc cầu, về phía có những con phố chật hẹp cuộn quanh trong sương mù như lũ rắn... về phía cái ngõ nhỏ có vệt máu ấy.
FEEN