Minh Triết Thiêng Liêng Tập 1

Lượt đọc: 757 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
IV. Thuật luyện vàng
1.

Nguồn gốc của thuật luyện vàng (alkimia) đã mai một trong thời cổ. Để tìm ra những kí ức xa xưa cần tìm trong thuật luyện vàng. Một số người cho rằng thuật luyện vàng là một tri thức phép thuật, và nếu tập hợp phép thuật của toàn trái đất là mười thì chín có nguồn gốc từ Ai Cập. Chính vì vậy tên gọi của thuật này được giải thích từ từ chem của Ai Cập, muộn hơn thêm vào từ al của Arập, thành al chem, và sau cùng với chữ Latin thành al chemi.

Thuật luyện vàng gồm ba phần lớn: dạy về các nguyên tử, hoạt động luyện vàng và sau cùng dạy về vàng, về đá quý của các nhà Thông Thái.

Trước khi muốn hiểu về thuật luyện vàng, cần phải biết những điều sau đây: các nhà luyện vàng nói về muối, lưu huỳnh, thủy ngân và chất asen như nói về các nguyên tử; họ nói về sự tan chảy, sự đông cứng lại, sự tinh ròng, trạng thái thiết lập-sửa đổi, làm mềm đi như một hoạt động; họ nói về hành động luyện vàng và tìm kiếm đá quý của sự Thông Thái.

Các nguyên tử, sự hoạt động, và mục đích cuối cùng không bao giờ chỉ liên quan đến bản thân chúng, đến các nguyên tử, sự hoạt động và mục đích cuối cùng, mà thuật luyện vàng là một tổng hợp cổ khái quát hóa tri thức thế giới vào một sự thống nhất như thế nào đấy.

Giống như chiêm tinh học dựa trên nền tảng sự tương đồng xảy ra giữa cá tính con người, số phận, thời gian lịch sử và vũ trụ, thuật luyện vàng dựa trên nền tảng tương đồng (anlogia) giữa định hướng có ý thức của số phận, của cá tính con người với sự tổng hợp của các thành phần vật chất, và tác động tương hỗ giữa hai nhân tố.

Ngày nay người ta thường hay mắc sai lầm là chỉ chú ý đến ý nghĩa tượng trưng trong các nhân tố của thuật luyện vàng, và tin rằng đây là một môn tâm lí học tượng trưng. Thật là một quan niệm sai lầm. Thuật luyện vàng vừa là tâm lí học, hóa học, vật lí học, vừa là khoa học xã hội, đạo đức học, sinh lí học, y học, ngoài ra nó còn là một hình thức tu khổ hạnh, là phép thuật và là siêu hình học.

Lưu huỳnh, thủy ngân, muối, chất asen là những nguyên tố thế gian như các con số, như Mặt trời hoặc sao Hỏa, sao Mộc trong chiêm tinh học, như Càn (trời), Khôn (đất), Chấn (sấm) trong Kinh Dịch.

Lưu huỳnh trước tiên có nghĩa là lưu huỳnh chất-sulphur, nhưng cũng mang một nghĩa liên quan đến sao Mộc trong chiêm tinh học, là sự minh mẫn hoạt động, là đà vượt qua cái TÔI, là khả năng tranh đấu, là sự bùng cháy. Trong tiếng Do Thái lưu huỳnh là radzsasz, sự tích cực say mê. Ở Mexico nó còn mang một nghĩa mà người ta lấy để đặt tên cho thần Huitzilopohtli, thậm chí còn có quan hệ họ hàng với việc ở Ai Cập người ta gọi nó là Szét.

Các núi lửa phun lửa, đây cũng là hiện tượng của lưu huỳnh trong vật lí, nếu xảy ra cách mạng, đấy cũng là hiện tượng của lưu huỳnh nhưng trong xã hội và lịch sử. Lưu huỳnh là nguyên tố thế gian, mang ý nghĩa lửa say mê, là sự nổ bùng, sự cháy bất thình lình.

Với các sức mạnh ngự trị trong bản thân lưu huỳnh chất, sự cân bằng bị phá vỡ và thế gian bốc cháy; bất kể ở đâu, trong linh hồn con người, trong cộng đồng, nhà nước, hay ở bất kì lĩnh vực nào của thiên nhiên. Có những tình yêu, tình bạn sulphur, những liên minh, những tư tưởng, những hiện thực, những sinh linh và những sự vật mà trong đó đặc tính chủ đạo là sự cháy bỏng rất nhanh và minh mẫn. Có những bức tranh, tòa nhà, khí chất, triết học sulphur.

Chất asen, muối, thủy ngân, giống như lưu huỳnh, là nguyên tố thế gian, những thứ thuở ban đầu khi thế giới là ý tưởng (idea) và là hiện thực tinh thần, trong hình dạng cổ, những chất liệu trên là bản thể tinh thần. Chúng vẫn giữ đặc tính tinh thần, nhưng chìm vào bên trong chúng, giống như sự tỉnh táo, sáng sủa, tri thức siêu việt chìm trong con người.

Một lớp phủ khiến bản thể tinh thần không hoạt động, vật chất. Vật chất này nhìn thấy được, cân đo được, là lưu huỳnh, asen, muối và thủy ngân đã khai thác. Nhưng mọi nguyên tố trong hình dạng ban đầu của nó đều là bản thể vũ trụ, nguyên tố nền tảng của sự tạo dựng. Thuật luyện vàng sử dụng những nguyên tố này trong ý nghĩa của các ý tướng cổ: cần đánh giá và phân tích chúng như bản thể tinh thần, thậm chí như những công đoạn sử dụng.

Công đoạn của thuật luyện vàng: sublimatio, descensio, destillation, calcinatio, coagulatio, fixatio, cùng một cách như nguyên tử: chúng không chỉ là một hiện tượng vật chất. Hiện tượng diễn tiến trong vật chất, nhưng có tác động trở lại với linh hồn, tinh thần và các tầng thiên thể, đến tận các thế giới cổ xưa nhất, những lĩnh vực tâm linh khai sơ.

Quá trình diễn biến trong thế giới vật chất cũng diễn biến trong linh hồn và trong các thế giới cao hơn. Mọi calcinatio và fixatio động chạm lại những quá trình cổ, là những quá trình thuần túy tinh thần trong trạng thái tinh thần cổ của thế gian.

Vàng và đá của các nhà Thông Thái có nghĩa rằng, mục đích của thuật luyện vàng không như ngày nay người ta nghĩ, chỉ để luyện vàng. Mục đích: tìm ra phương pháp luyện vàng và biến thế gian thành vàng, mang cả thế gian và con người quay trở lại thế giới vàng, thời kì hoàng kim. Vàng ở đây không là gì khác ngoài: asa -điều thiện. Là niềm hứng khởi, hạnh phúc, sự trù phú, là ánh sáng, tri thức, sự sống Thượng Đế. Đá của các nhà Thông Thái là công cụ linh thiêng một lần nữa có thể biến sự sống thành vàng.

Và công cụ phép thuật này một lần nữa không là thứ đồ vật gì khác hoặc là tri thức và phép thần hay loại đá quý gì khác, mà là một nhân tố có thể tạo ra khả năng cho tất cả mọi người quay trở về với sự sống thiên đường bất tử (bởi vậy mới là đá).

2.

Từ những kiến thức sơ đẳng trên, con người không còn phải sợ giải thích những mầu nhiệm hỗn loạn trong thuật luyện vàng. Bởi vì các nguyên tố của thuật luyện vàng vô cùng đơn giản. Các nguyên tố trong buổi ban đầu là các nguyên tố thế gian.

Nguyên tố là một bộ phận sáng tạo ra thế gian, không thể quay ngược trở lại thành cái khác. Buổi ban đầu, các nguyên tố tinh thần tạo dựng ra thế gian. Khi rơi vào vật chất con người kéo cả thiên nhiên theo nó, và các nguyên tố tinh thần này cũng biến thành vật chất. Như vậy các nguyên tố tinh thần đã biến thành các nguyên tố vật chất. Và chúng liên quan với nhau trong thế giới vật chất như trong thế giới tinh thần: theo một trật tự nhất định mang tính chất dãy số và hình học, tuyệt đối thống nhất và tròn trặn.

Nguồn gốc của tính thống nhất này có trong thiên nhiên đầu tiên, khi các nguyên tố ý tưởng hình thành trong một trật tự và một đẳng cấp hoàn hảo bởi ý nghĩa siêu việt của sự sống tinh thần, chúng trong suốt, tinh khôi, mang tác động tương hỗ lẫn nhau, cân bằng lẫn nhau.

Quá trình lao xuống thế giới vật chất không những biến những nguyên tố này thành vật chất mà còn pha trộn chúng hoàn toàn. Các tác động tương hỗ trở nên hỗn loạn, phá vỡ trật tự và xé tan tính chất đẳng cấp. Điều này thiết lập nên một sự vô tổ chức, hỗn loạn, dang dở, trơ trẽn, vô luật lệ, nhiễu nhương: là cái ngày nay người ta gọi là vật chất, là materia.

Vật chất có hai nghĩa.

Ý nghĩa thứ nhất: đây là thiên nhiên cổ đầu tiên, nhưng đã bị rẻ rúng vùi trong cát bụi, trở nên nặng nề, tăm tối và đứng trên bờ diệt vong trực tiếp. Ý nghĩa thứ hai: thực ra trong thiên nhiên vật chất, toàn bộ thế giới tinh thần cổ vẫn sống một cách tiềm ẩn.

Ý nghĩa thứ nhất xám xịt và bị nguyền rủa, nặng nề và tiêu cực; còn ý nghĩa thứ hai, đây là terra sancta, materia benedicta, Trái Đất Thiêng, Vật Chất May Mắn.

Con người không chỉ từ vật chất, trong vật chất, vì vật chất mà sống. Con người bị buộc một cách định mệnh và không thể thay đổi vào vật chất. Từ vật chất con người không thể thoát ra và bước ra khỏi, chỉ có một cách duy nhất: trong hình hài tâm linh hóa, con người mang vật chất quay trở lại nơi ban đầu, nơi từ đó con người rơi xuống cùng vật chất.

Bởi vậy con người cần nhận thức về thứ vật chất này. Con người cần biết, những nguyên tố này có ý nghĩa gì, chúng mang những ý nghĩa cổ xưa và đầu tiên là gì, vị trí đầu tiên của chúng ở đâu. Cần phải biết vàng là gì, bạc, đồng, chì, kẽm, bạch kim là gì, lưu huỳnh, asen, thủy ngân là gì. Cần nhận biết những nguyên tố này bị tăm tối, nặng nề hóa, trong hình hài phạm tội chúng trở nên bất lực, nặng nề và đen tối như thế nào. Bởi vì xét từ khía cạnh nguồn gốc, chúng từng là những bộ phận sáng tạo của thế giới tinh thần.

Nhưng nhận thức này khó khăn khôn lường. “Con người đã bị vật chất hóa - AI Dzsabir nói - khi rơi vào tội lỗi và bị đuổi ra khỏi thiên đường, nó cũng đánh mất luôn tri thức về thuật luyện vàng tinh thần của nó”.

Còn Böhme nói như sau: “Tạo Hóa dựng nên con người để trở thành ông chủ của các nguyên tố, và các nguyên tố phải phục vụ con người; nhưng con người lại trở thành nô lệ và đầy tớ cho các nguyên tố. Giờ đây con người đi tìm vàng, nhưng chỉ thấy đất”.

Nhưng thiên nhiên chỉ đường cho con người. Và cái đầu tiên của bảng chỉ đường này, như thuật luyện vàng cho biết: pha lê. Pha lê là đẳng cấp cổ xuất hiện ở hình hài tuyệt đối, phù hợp nhất với đẳng cấp cổ, trong đó các nguyên tố mang nguồn gốc của thế giới tinh thần. Trong pha lê xuất hiện thiên nhiên cổ linh thiêng của các nguyên tố. Pha lê cho con người biết cái gì là bản chất và thực thể của nguyên tố.

Xuất phát từ con đường này, nhân loại cổ tìm thấy ý nghĩa, sự tương quan và trật tự giá trị của các nguyên tố.

Đấy là phần nguyên tố học của thuật luyện vàng.

3.

Sự nhận thức về các nguyên tố trong thuật luyện vàng chỉ là công cụ của hoạt động. Bản thân thuật luyện vàng là một hiện thực. Người ta gọi: mortificatio là sự teo dần, ngót dần, solutio là tan ra, animatio là sự hưng phấn, fixatio là sự đông đặc, cứng rắn lại, perfectio là sự hoàn thiện hóa. Mục đích của hoạt động này là tinh thần hóa, linh thiêng hóa vật chất (prima matéria).

Thuật luyện vàng không là gì khác, chính là sự bí ẩn của asa. Là tia lửa nhỏ nhoi duy nhất trong con người còn sót lại từ thực thể Thượng Đế cổ đầu tiên sau khi con người rơi xuống thế gian vật chất, và đây cũng là hạt mầm vô cùng bé nhỏ duy nhất còn sót lại từ nguyên tố cổ.

“Thuật luyện vàng chính hiệu bắt đầu trong con người, tiếp diễn trong vật chất và hoàn thành trong con người”. - Böhme nói.

Thuật luyện vàng chân chính là tia lửa trong con người bắt đầu tác động đến những hạt mầm chứa trong các nguyên tố, giải phóng chúng, chuyển hóa và nâng chúng lên. Những nhân tố được giải phóng quay trở lại tác động vào con người và lúc đó nâng con người lên một cấp độ cao hơn.

Con người một lần nữa lại tác động vào vật chất, và vật chất tác động trở lại con người, cứ như vậy tiếp tục; thánh thiện hóa lẫn nhau, tinh tế hóa, trong sạch hóa, chuyển hóa, hưng phấn hóa và đông đặc hóa lẫn nhau. Nơi nào vật chất mềm, cần cứng rắn hóa, nơi nào vật chất cứng, cần làm nóng chảy. Vật chất luôn vẫn là vật chất, nhưng trong ý nghĩa và tầm quan trọng của nó luôn mang ý nghĩa và tầm quan trọng của tinh thần.

Bởi vì suy cho cùng, vật chất và nguyên tố không nằm chết cứng ở các mỏ, các dãy núi mà là các bộ phận sáng tạo tích cực ra thế gian, hay nói cách khác, là thứ tạo dựng nên các dãy núi, dòng sông, thức ăn, các công cụ, các vì sao và con người.

Nguyên tố đã được tinh khiết hóa và thiêng linh hóa không biến mất khỏi thế gian, chúng tụ lại từ một nơi vô hình và tỏa tác động. Chúng phản chiếu: sưởi ấm, soi sáng, tinh lọc. Nguyên tố đã được tinh khiết hóa biến thành asa- điều thiện, thành bản thể thiên đường hóa, xuất hiện trên trái đất, trước hết ngay trong con người, nhưng không như một niềm hạnh phúc và cảm hứng cá nhân mà như sự hiện diện của sự sống thời hoàng kim.

Asa mang thế gian lại gần trạng thái cổ, và không là gì khác ngoài là trạng thái cuối cùng. Thuật luyện vàng phân biệt trái đất vật chất - con rồng (prima matéria) với trái đất thiên đường (ultima matéria).

Tất cả các hành động, tư tưởng, ngôn từ mang tính chất luyện vàng đều nâng trái đất lên, không nhiều thì ít. Hành động, tư tưởng, ngôn từ càng nâng cao hơn càng có tác dụng lớn, càng làm xuất hiện nhiều asa của trái đất hơn, và càng biến nhiều phần của trái đất thành vàng hơn.

Nhưng mục đích ở đây không giới thiệu toàn bộ hoạt động của thuật luyện vàng. Có thể đọc những cuốn sách nói về thuật luyện vàng như sách của AI Dzsabir, Paracelsus, Böhme, Paspualis, Saint-Martin, về con người trong thuật luyện vàng như sách nói về Hermes Trismegistos, nhất là về Tabula Smaragdina.

Ví dụ duy nhất nói về tính chất hiện thực của thuật luyện vàng. Đấy là: cái nóng mang tính chất luyện vàng. Đây không phải là cái nóng của nhiệt độ vật lí, thực chất cũng là của vật lí, của sinh lí học, của vũ trụ, của thiên thể; Nhiệt độ là tính chất của sự sáng tạo đầu tiên, tính chất tinh thần hóa, là thứ mà ai cũng hiểu ngay khi nghĩ đến, không cần hiểu theo nghĩa bóng, mà theo nghĩa đen trực tiếp, ví dụ một cái nhìn ấm áp, một lời đầm ấm, một cử chỉ thân thiện, một giọng nói ấm áp, một cảm giác ấm áp, một màu sắc ấm áp, một cảnh vật ấm áp, một con người, một hình ảnh, một mối quan hệ, một câu nguyện cầu.

Tiếng Ấn là radzsasz, tổ ấm của một hoạt động say mê, giống như lưu huỳnh của thuật luyện vàng. Là nhiệt độ để biến đổi thế gian thành vàng, hay để tìm ra đá quý của các nhà Thông Thái, tìm ra công cụ để biến đổi thế gian thành thiên đường, không thể khác.

Ở Ai Cập người ta cho rằng, nếu một người muốn tạo dựng được száhu - một cơ thể bất tử - tất nhiên không phải cơ thể của cái TÔI cá nhân con người, mà là cơ thể của nhân loại, của toàn bộ trái đất và thiên nhiên - trước hết cần nhiệt độ. Cơ thể con người giữ gìn bản chất vàng linh thiêng của nguồn gốc. Những kẻ theo thuật luyện vàng luôn luôn nhấn mạnh, cơ thể con người cũng từ một bản thể, bản thể trong suốt, rạng rỡ, là đá pha lê quý của sự Thông Thái.

Một tác giả khác viết: “Trong cơ thể con người chứa một cái gì đó từng có ngay từ buổi ban đầu, nhưng nó đã đánh mất từ đất”. Đá quý của sự Thông Thái là bản thể mang tính chất thiên đường. Là asa- điều thiện. Tất nhiên một lần nữa không nói về cơ thể của cái TÔI cá nhân, mà nói về cơ thể phổ quát và vĩnh cửu của nhân loại.

“Mi hãy tách lửa từ đất - Tabula Smaragdina nói - hãy tách tinh tế khỏi nặng nề, một cách thận trọng, với sự say mê lớn lao”. Công cụ của việc lựa chọn: nhiệt độ. Và giờ đây nếu ta nói về việc sử dụng nhiệt độ, không thể không nói đến một phương pháp sử dụng nhiệt độ hoàn hảo nhất. Phương pháp đó là: tumo- nội nhiệt.

Tumo là một từ Tây Tạng. Mang nghĩa: cái nóng của linh hồn bên trong. Nguồn nóng của cơ thể vật lí con người theo tumo Tây Tạng không phải da thịt, máu, hay bất kì một bộ phận khác của đời sống. Khi thực thể sống chết đi cái nóng rời khỏi nó. Như theo kinh Veda, cái nóng quay lại tim và bay đi từ đó. Bởi vậy cái xác nguội lạnh dần.

Nguồn của cái nóng có tên là “cơ thể trung chuyển” - cơ thể thiên thể. Những kẻ theo thuật luyện vàng đặt tên nó là cái bếp lò hoặc lò sưởi. Cơ thể thiên thể mang cái nóng vào con người và đời sống. Chiêm tinh học gọi cái nóng này là sao Hỏa, là lưu huỳnh của thuật luyện vàng. Nếu ai muốn biết rõ hơn về loại cơ thể này nên đọc Swedenborg, một tác giả mà trực giác tâm linh của ông trong lĩnh vực này không thể lầm lẫn được.

Yoga-tumo Tây tạng là sự giải phóng của sức nóng thiên thể và sự tan hòa vào lửa thiên thể của sinh linh người “có thể tách tinh tế và nặng nề ra khỏi nhau”.

Cơ thể vật lí tan chảy trong sức nóng thiên thể, nhưng hệ thần kinh, các kỉ niệm, các kí ức, trí tưởng tượng cũng thế; Trong hậu quả của sự đốt cháy này các vật chất tầm thường bốc cháy và bốc hơi, cái còn lại trong con người luôn trong sạch và ngày mỗi trong sạch hơn: vàng.

Kẻ khổ hạnh bằng những thực hành cần thiết nâng cao dần nhiệt độ thiên thể, để toàn thân tắm trong sự tỏa nhiệt phi vật chất. Sự tỏa nhiệt này người khổ hạnh có thể dẫn dắt lan truyền xuống khắp trái đất, thậm chí đến toàn bộ thế giới vật chất.

Người châu Âu chỉ cho rằng tumo là một động tác yoga được những người sống trong cái băng giá mùa đông sử dụng trong các dãy núi cao, để đừng bị đóng băng. Nhưng thực ra đấy là một hoạt động luyện vàng được sử dụng một cách có ý thức để “tách tinh túy ra khỏi cái nặng nề”, không chỉ trong cái TÔI cá nhân của con người, mà thông qua cái TÔI cá nhân làm tăng thêm bản thể mang tính thiên đường của thế gian.

Muộn hơn, nhất là trong thời trung cổ, khi lò sưởi và lò nướng còn làm bằng gạch, tumo được sử dụng ngược lại: người ta làm nhiệt độ tăng lên trong thế giới vật chất và để vàng chảy ra từ đó. Từ quan điểm làm tăng asa trên thế gian bằng bất cứ phương pháp nào, hai cách này không khác nhau. Mục đích là một; làm tan chảy vàng.

Ý nghĩa tâm lí của tumo Tây Tạng và của hóa học vật chất của thuật giả kim thời trung cổ như nhau: bằng sự giải phóng nhiệt độ biến thế gian một lần nữa thành frasa , thành vàng.

4.

Phần thứ ba của thuật luyện vàng dạy về vàng và đá quý của sự Thông Thái. Vàng không là gì khác, ngoài là một vật chất cổ đầu tiên của tạo hóa. Thế giới đầu tiên này là thế giới cổ. Sự tạo dựng đầu tiên của Tạo Hóa từ vàng. Không phải vàng vật lí. Vàng vật lí không là gì khác, ngoài hình dạng duy vật của sự tạo dựng cổ đầu tiên. Sự tạo dựng đó như thế nào, mọi người đều hiểu nếu nghĩ đến sự rạng ngời lặng câm, ấm áp, bình thản vĩnh cửu của vàng, nghĩ đến một vật an bình nặng nề đặc thù, thứ mềm mại và chín muồi như dầu, như mật ngọt, như nắng mặt trời mùa hè, hay như vàng.

Đá của sự Thông thái là tri thức phổ quát và vĩnh cửu, giữ gìn bí mật của thuật giả kim, thuật làm vàng. Nhưng không chỉ là tri thức, mà có thể cũng là vật chất, bởi vì trong thế giới tự nhiên cũng cần có thứ vật chất phù hợp chính xác với tri thức phổ quát trong thế giới tinh thần.

Đá của sự Thông Thái là thứ vật chất mà sự tiếp xúc với nó làm các nguyên tố quay trở lại vị trí cội nguồn của chúng, trật tự cội nguồn dựng lại và thế giới cổ đầu tiên quay lại. Đá của sự Thông Thái còn là thuốc trường sinh, là sức khỏe, là đời sống, là công cụ phép thuật vĩnh cửu.

Mục đích của thuật luyện vàng là làm ra vàng và tìm ra đá quý của sự Thông Thái. Hoạt động này có thể là bên ngoài hoặc bên trong; hoạt động bên trong luôn tác động ra bên ngoài và mang bên ngoài theo nó; hoạt động bên ngoài tác động đến bên trong và nâng nó lên.

Hai loại hoạt động này phủ lên nhau, bổ sung cho nhau, giúp đỡ lẫn nhau, bên ngoài và bên trong quấn quýt với nhau. Bởi vì trong thời kì tạo dựng đầu tiên, thế giới bên ngoài và thế giới bên trong không đứng riêng; nó là một, như thiên nhiên và tinh thần, thể xác và linh hồn, đời sống và sự sống là một.

5.

Một ví dụ khác về thuật luyện vàng: với thuật luyện vàng có thể hiểu được cái gì là ý nghĩa, mục đích và tính chất của hoạt động người trong thời cổ, thứ mà ngày nay rất khó hiểu đối với con người hiện đại. Con người lịch sử gọi hoạt động là lao động; là hành động mà mục đích của nó là duy trì, nuôi lớn, là quyền lực, của cải, sự vinh quang của cái TÔI. Và thế là trong thời lịch sử mọi hoạt động như canh tác đất đai, buôn bán, binh nghiệp, cai trị nhà nước, giáo dục, học tập, dạy học hết thảy đều chỉ là lao động, thế là lao động trở thành tất cả mọi hoạt động, ngoại trừ nghệ thuật.

Hoạt động nghệ thuật là thứ duy nhất giữ gìn và giữ lại ý nghĩa cội nguồn của hoạt động: là sự phục vụ tinh thần để thế gian đẹp hơn. Đứng về mặt cội nguồn mọi lao động đều là sự canh tác, không bao giờ dùng để kiếm sống, càng ít ý nghĩa thua thắng cá nhân. Nếu hành vi giáo dục, mục đích thiêng liêng hóa trong hoạt động bị đánh mất, lúc đó ý nghĩa của sự hoạt động cũng mất, lúc đó lao động cũng trở nên vô nghĩa.

Sự hoạt động trong thời cổ là một sự giáo dục, ngày nay chỉ thấy ở những con người thiên tài, khi họ hành động một cách sùng kính, say mê, nhấn mạnh khía cạnh siêu hình học, thực hiện một cách sống-chết cái họ làm, họ biết rằng kết quả của hành động ấy không phải của họ mà để góp phần nâng cao và linh thiêng hóa thế gian. Để tăng thêm asa-điều thiện. Để thay đổi hoàn toàn cả thế gian. Trong thời cổ, hoạt động mà con người lịch sử đã hạn chế chỉ dành cho loài người, vẫn còn mang tính tổng quát. Lúc đó tất cả mọi người ở mức độ trong sự sống thiên tài như người nghệ sĩ ngày nay.

Hoạt động chỉ như một sự giáo dục mới có ý nghĩa: chỉ và duy nhất như một sự sùng bái. Cái giờ đây (gọi là) lao động: canh tác đất đai, buôn bán, cai trị nhà nước, binh nghiệp từng là sự sùng bái. Sự sùng bái là giáo dục, là trình độ, là mức độ của sự sống cao cấp, và trật tự của các công cụ và các vật thể tạo dựng ra sự duy trì mức độ này: là nền tảng của văn hóa.

Cảm xúc của mọi loại hoạt động là: làm cho thế gian đẹp hơn, đúng hơn, cao thượng hơn, trù phú hơn. Làm tăng thêm asa-điều thiện. Linh thiêng hóa thiên nhiên. Quay lại nâng các bông hoa cao lên từ nơi con người giẫm đạp chúng xuống: thời hoàng kim.

Thuật luyện vàng là tri thức cổ, là ân sủng trên thế gian, tiếng Hi Lạp là kharisz, tiếng Latin là gratia, dạy về sự nâng cao một cách có ý thức. Trên thế gian đấy là vàng bị chôn giấu và pha trộn, hay còn gọi là asa. Thuật luyện vàng phục hồi sự sống vàng, nâng nó lên, tẩy sạch, làm tan chảy và làm nó đông cứng lại.

Thuật luyện vàng là sự canh tác và là sự sùng bái, mà truyền thuyết Ấn Độ gọi là hoạt động khuấy đảo biển sữa. Đây là hành động cổ mà các vị thần đã hoàn thành: khuấy đảo đại dương sữa để lựa ra từ đấy asa, vàng, sự sống trong sạch. Sự canh tác cổ này là tình cảm nền tảng đứng sau tất cả mọi hành động.

Sự sùng bái có thể nhận biết ra từ chỗ: cái gì cần tìm kiếm, cái đó ở trong hiện tại. Trong sự sùng bái, vàng xuất hiện và trở thành hiện thực. Biến thành hiện thực ở điểm bé nhỏ duy nhất của thế gian; nhưng không thể thu hồi lại và vĩnh cửu. Dấu hiệu để nhận biết sự sùng bái là nó biết về nó: hành động này trong khoảnh khắc này, ở vị trí này, bằng phương pháp này, ở mọi thời điểm vì mọi người và nhân danh tất cả con người xảy ra do tôi.

Mọi hành động hoặc là trả lời cho nhân sư Sfinx, hoặc không; trong mọi hành động cả nhân loại hành động; mọi hành động hoặc nâng thế gian lên, hoặc nhấn chìm xuống, hoặc mang lại ánh sáng, hoặc bóng tối. Bởi vì: “cũng đủ nếu chỉ một kẻ duy nhất trả lời cho Sfinx”. Và nếu một người trong dãy núi cô đơn, trong một hang đá biệt lập nghĩ đến một sự thật, sự thật đó không bao giờ có thể rời xa trái đất nữa.

Sự sùng bái là một hành động, khi con người cá nhân nhận thức ra rằng trong nó con người phổ quát tồn tại và hành động, và con người phổ quát này chỉ có một nhiệm vụ duy nhất: quay trở lại với sự sống hoàng kim.

Mọi nhát cuốc, mọi lần hạ bút, mọi lời giáo huấn, mọi sự điều chỉnh nhà nước, mọi công việc bếp núc, mọi cử chỉ ngắt hoa đều là asa hoặc không phải: hoặc là sự sùng bái, hoặc là lao động, hoặc là sự say mê đảm nhận một cách có ý thức, hoặc là sự hầu hạ nô lệ, hoặc cùng với hành động này làm tăng trưởng thế gian trù phú, hoặc tiêu hủy mọi của cải quý giá của thế gian.

Sự dâng hiến đầu tiên là hành động, Baader từng nói.

Và sự dâng hiến sẽ biến thành thiên thần giám hộ cho con người. Sự dâng hiến giám hộ cho con người và cho các dân tộc, cho thế gian, là: “tình yêu thương bàng bạc”. Nền văn hóa lớn bắt nguồn từ tình yêu thương này: “Từ tình yêu thương hướng về thiên nhiên, không phải từ những hành động lợi ích ích kỉ, thiển cận, tính toán”.

Sự sùng bái đưa tới cho con người những đo lường không thể làm khác, mà trong hành động có thể đo lường được. “Biết bao lần con người đo những hành động của mình cạnh ánh sáng, là phước lành của thế gian tăng trưởng” - Zarathustra nói.

Còn Ahura Mazda nói với con người như sau “Ta nhìn thấy các ngươi tan ra trong ta, còn các ngươi nhìn thấy ta trong hành động của các ngươi”. Đấy là những lời của những kẻ theo thuật luyện vàng.

Con người sống một cách tan hòa vào Thượng Đế, như muối trong biển; Tính chất Thượng Đế trong con người là hành động và sức mạnh tạo dựng, như lửa ẩn náu trong lưu huỳnh, như vị mặn trong muối, như sự sống thiên đường đã chìm trong vàng.

6.

Điều khó nhất trên thế gian không phải là tạo dựng nên một nền văn hóa vật thể, mà là nâng cấp độ cảm hứng phúc lạc chung, cần hướng hoạt động không phải tới sự sáng tạo vật thể mà đến sự nâng cao cấp độ sự sống chung.

Nếu chỉ liên quan đến sáng tạo vật thể, lúc đó văn hóa, kết quả của hoạt động sẽ chỉ là cái bên ngoài và mang tính vật thể; trong trường hợp này hoạt động chỉ là lao động; lúc đó hoạt động chỉ là cái TÔI cá nhân và mục đích là sự nuôi sống cái TÔI, là của cải và quyền lực.

Nếu hoạt động hướng tới việc nâng cấp sự sống chung, lúc đó kết quả của nó mang tính phổ quát; lúc đó hoạt động là văn hóa; cá nhân hoạt động là con người phổ quát; mục đích là điều chỉnh lại vị trí cội nguồn của thế gian.

Thuật luyện vàng là một hoạt động văn hóa như vậy: kẻ theo thuật luyện vàng là con người phổ quát, không muốn sáng tạo một nền văn hóa vật thể, mà muốn nâng cấp niềm hứng khởi, sự tỉnh táo minh mẫn, thanh bình, lương thiện chung. Niềm hứng khởi chung là cái mà từ ASA của Iran hướng tới, cái mà những kẻ theo thuật luyện vàng gọi là vàng, cái mà các truyền thuyết khác nhau gọi là szatja-juga, hay thiên đường, hoặc Vườn Địa Đàng, hoặc Elysion.

Đây là phúc lạc, niềm cảm hứng chung con người cần phải tạo dựng. Khi những khả năng chứa đựng trong hoạt động của họ, trong sức lực của họ, trong năng lực sáng tạo, trong tri thức của họ chỉ được sử dụng cho lợi ích riêng: duy trì bản thân, tăng trưởng cái TÔI, đã trở thành kết quả của một sự nhầm lẫn tận cùng, khiến con người kinh nghiệm được những hậu quả cay đắng.

Khi hoạt động biến thành mục đích của cái TÔI, tính chất siêu việt của hoạt động bị đánh mất. Nó không còn trở thành phổ quát, sự sùng bái chấm dứt. Thuật luyện vàng dạy con người: sức mạnh sáng tạo, tri thức, sự hoạt động không để dùng cho việc duy trì bản thân và làm tăng của cải vật chất, không để tạo dựng nền văn hóa vật thể mà duy nhất chỉ để, như người Iran đã nói: tạo ra vàng.

Cái mà con người làm trong thế giới vật chất, không là gì khác ngoài việc quấy biển sữa cùng với các thần linh, con người hoạt động không nghỉ, trong từng khoảnh khắc. Đấy là hoạt động linh thiêng. Đấy là sự sùng bái. Đấy là ý nghĩa của canh tác đất đai, buôn bán, binh nghiệp, giáo dục, dạy dỗ, nấu nướng. Đấy là thuật luyện vàng đích thực.

“Cái mà con người đánh mất từ bên trong - Saint-Martin nói - cần lấy lại bằng hoạt động bên ngoài”.

Cái bên trong bị mất, là hòa bình, đời sống vĩnh cửu, sự ngự trị thế gian và sự rạng ngời của ý nghĩa Thượng Đế; những điều này cần phải lấy lại bằng những hoạt động trong thế gian vật chất.

Mọi hoạt động dù chỉ lấy lại được một chút rất ít ỏi từ niềm hứng khởi cổ xưa cũng đủ nâng cao niềm hứng khởi chung của nhân loại. Đây là hành động trả lời cho nhân sư Sfinx, là sự thật nghĩ đến trong hang đá, là việc đan sọt từ những cành liễu bên sông, là canh tác đất, làm vườn, chiến đấu, ca hát, giáo dục, nấu nướng, may quần áo và cai trị nhà nước.

Nếu hành động là như thế, đấy là sự sùng bái asa. Nếu hoạt động chỉ tạo ra vật thể, tạo ra máy móc, nuôi sống bản thân, chỉ để thu thập của cải, lúc đó không phải sự sùng bái, chẳng phải asa, không nâng thế gian lên niềm hứng khởi chung, lúc đó hoạt động trống rỗng, vô nghĩa, vô ích: không làm ra vàng. Chỉ là lao động.

Mục đích của văn hóa trong thời cổ: nâng cao niềm hứng khởi chung của nhân loại.

Công cụ của văn hóa: hoạt động mang tính chất sùng bái trên mọi lĩnh vực của đời sống con người.

Thuật luyện vàng dạy những điều như vậy.

« Lùi
Tiến »