Nỗi ám ảnh, sự bức bối phi mục đích, cái gọi là lịch sử, xảy ra trên bề mặt của thời gian. Phi mục đích, bởi vì dù mới đây nhất nó được gọi là sự tiến bộ, nhưng không ai biết nó đi về đâu, mục đích ở đâu, đấy là cái gì, khi nào đạt tới, những ai đạt tới và như thế nào. Chính vì coi lịch sử là tiến bộ nên cần phải duy trì ảo ảnh, mà mục đích của nó không biết ai đã tìm ra để coi một sự sống vô nghĩa là nội dung kể cả khi cái nội dung này ảo tưởng đi chăng nữa.
Lịch sử là một sự bức bối mang tính chất quá trình, và con người không thể bước ra khỏi nó. Sự sống trong thời kì lịch sử không hề mở ra ngay từ một điểm duy nhất, và từ một điểm duy nhất cũng không hề được giải phóng. Luôn luôn và mãi mãi là những nỗi khó khăn, đúng ngần ấy những hạn chế, đúng ngần ấy những nỗi nguy hiểm và những xiềng xích: đúng như vậy cạm bẫy mà con người rơi vào, đúng như vậy sự nhiễu nhương làm con người bức bối. Và sự bức bối này không chỉ liên tục mà còn mang tính chất liên quan. Các sự kiện tiếp diễn từ lẫn nhau, loại trừ và nối tiếp một cách có quy luật từ lẫn nhau, thậm chí các sự kiện nhắc lại một cách có quy luật từ lẫn nhau.
Tất cả những điều này xảy ra trên bề mặt của thời gian cùng trên một bình diện, trong khi đó ở độ thẳm sâu của thời gian, sự sống đứng yên bất động - như khi nhân loại trên bề mặt của trái đất tuyên bố chiến tranh, thiết lập hòa bình, buôn bán, xây dựng, vội vã, thì dưới những điều này, ở sâu lòng đất, đá tảng cổ trơ trơ - và, giống như con người bằng ý thức của mình nhận thức, quan sát, suy nghĩ, thông báo, nỗ lực, hưởng thụ ngất ngây, trong khi đó vô thức ở sâu thẳm như đá tảng cổ vẫn tồn tại một cách bình yên.
Đây chính là nghịch lí, khi trong thời kì lịch sử, trên bề mặt thời gian các sự kiện nối tiếp nhau xảy ra, thì dưới độ sâu của thời gian lại không có gì xảy ra hết; thời cổ, khi dường như không có gì xảy ra hết, bởi vì chưa có lịch sử, thực ra lại bộc lộ hết sự sâu thẳm của thời gian.
Lịch sử chỉ có đời sống, còn sự sống của nó không có; đời sống là ảo ảnh, chiến tranh, hòa bình, tình yêu, nhà nước, sự tranh đấu, sự hưởng thụ, của cải, công danh, những thứ đang diễn ra trên bề mặt của thời gian. Tất cả những điều này đều thiếu ý nghĩa và mục đích, thiếu bề sâu, thiếu quan hệ thực sự, thiếu sự thật và cái đẹp, giống như ảo ảnh chỉ tụ lại trên bề mặt, còn bên trong vô nghĩa, rỗng, vô ích và phi bản chất.
Thời cổ - thời kì phi lịch sử không nối các sự kiện vào với nhau, mà tất cả những gì xảy ra, từ vô tận, biết và thấy xảy ra, như con người cổ sống trong ý thức thường xuyên của các tầng đá cổ của đất, mang mối quan hệ không đứt đoạn với những độ sâu của vô thức. Những gì xảy ra trên bề mặt đều không có ý nghĩ độc lập của nó.
Trên bề mặt chỉ xảy ra cái gì đã bùng lên: đấy là khoảnh khắc cuối cùng, khi một cái gì đó biến mất. Trong thời cổ con người không buộc các sự kiện, những sự bùng nổ vào với nhau, mà cái xuất hiện hữu hình buộc với cái vô hình. Và như vậy sự liên hệ không phải là một quá trình trên bề mặt mà là nguyên nhân thật sự của hiện tượng: trong độ sâu của thời gian, trong sự sống, trong cái vô hình.
Kinh Veda nhắc đến con đường của các bậc tiền bối và con đường của Thượng Đế. Một linh hồn di chuyển sau cái chết của nó bước vào con đường của các bậc tiền bối, đấy là kẻ vẫn duy trì các phong tục tôn giáo trong đời, không phạm các tội nặng, nhân từ và tôn trọng luật lệ, nhưng không thức tỉnh, và như vậy cần phải ở lại với thế gian ảo ảnh. Họ nhận được phần thưởng vì các việc làm tốt, đạt được hạnh phúc, nhưng thời gian trần thế hết hạn họ cần quay trở lại với sự đau khổ, chịu đựng.
Còn người bước lên con đường của Thượng Đế là kẻ đã dùng cuộc đời của mình để tìm ra sự thức tỉnh. Sau cái chết kẻ đó cũng không màng tới những niềm hạnh phúc, bởi nó biết rằng sự bất hạnh đi liền với hạnh phúc, sự đau khổ đi liền với sự vui sướng, cái chết đi liền với đời sống, sự buồn phiền đi liền với niềm vui, sự tăm tối đi liền với ánh sáng - trong thế gian của ảo ảnh - như Herakleitos đã nói: “con đường đi lên và đi xuống như nhau”, như người Trung Quốc nói: âm dương, một sáng, một tối, một xấu, một tốt, vĩnh viễn và vô tận cùng. Linh hồn bước qua những thiên đường hứa hẹn niềm hạnh phúc, đạt tới átman - sự thức tỉnh rạng ngời và sự bình yên của nhận thức Thượng Đế.
Nhân loại thời lịch sử đi con đường của các bậc tiền bối: trong ảo ảnh, nơi cái xấu cái tốt, ánh sáng và bóng tối, cái Tôi và Anh, cái thiện và cái ác còn mang ý nghĩa của nó. Đây là pitrijána , trong truyền thống Hi Lạp gọi là hodosz mararon, con đường của các hạnh phúc, bởi vì trên con đường này con người kiếm tìm hạnh phúc. Hạnh phúc có trên bề mặt, và lịch sử không là gì khác ngoài lịch sử của sự tìm kiếm các hạnh phúc, cần phải ở lại trên bề mặt, nhưng cái đạt được không là gì khác ngoài sự bức bối không ngừng và sự đau khổ, chịu đựng.
Nhân loại cổ đi trên con đường của các thần linh, nơi cái tốt hay cái xấu, bạn hay thù, dương hay âm, đều không có ý nghĩa. Đây là dévajána hoặc srutir dévah, trong truyền thống Hi Lạp gọi là hodosz théon , bởi vì ở đây không ai kiếm tìm hạnh phúc mà tìm sự tỉnh táo. Lịch sử là lịch sử của cái TÔI trần thế đi tìm hạnh phúc; còn thời cổ phi lịch sử bởi vì tư duy không phải bằng cái TÔI trần thế đi tìm hạnh phúc mà bằng cái TÔI bất tử đi tìm sự tỉnh táo.
René Gúenon nói, cộng đồng cổ sống trong đời sống tinh thần của autorité spirituelle, còn nhân loại thời lịch sử trong thời của pouvoir temporel. Autorité spirituelle là thượng tầng của tuyên ngôn tinh thần; còn pouvoir temporel là ưu thế được áp dụng theo thời gian của kẻ mạnh hơn. Thuật ngữ đầu tiên được hiểu theo nghĩa bóng là: sự thống trị. Thuật ngữ thứ hai là: quyền lực.
Cội rễ của thống trị là tinh thần; rờ tới tận độ sâu của thời gian; dẫn đường cho nhân loại trên con đường của thần thánh; không màng tới đám đông hỗn loạn của cái Tôi đi tìm hạnh phúc, và như vậy với cái xảy ra trên bề mặt, sự bức bối và vất vả phi mục đích không đặt thành trọng tâm hướng tới.
Cội rễ của quyền lực trái lại mang tính chất trần thế và vật chất; luôn của kẻ mạnh hơn, luôn xảy ra trên bề mặt, mục đích luôn là niềm hạnh phúc và nhân vật chính luôn là cái TÔI, và luôn dẫn đường cho nhân loại đi trên đường của các bậc tiền bối.
2.
Thời điểm mà người ta gọi là sự bắt đầu của lịch sử là sáu trăm năm trước Công nguyên, khi nhân loại đi chệch khỏi con đường của các thần linh và bước vào con đường của các bậc tiền bối. Lịch sử là lịch sử của các bậc tiền bối; con đường của các thần linh không có lịch sử. Sáu nghìn năm này là sự bắt đầu của lịch sử, sự bắt đầu của Khải Huyền, sự bắt đầu của khủng hoảng sự sống nhân loại, khi tính chất thống trị của tuyên ngôn tinh thần chấm dứt, và ưu thế được áp dụng trong thời gian của những kẻ mạnh hơn thay thế.
Đây là khoảng thời gian trùng với sự suy thoái của đẳng cấp tinh thần - giáo sĩ và sự lên ngôi của đẳng cấp cầm quyền - quân nhân - hiệp sĩ. Con đường của các thần linh không là gì khác ngoài con đường do brahman dẫn dắt nhân loại: con đường của sự tỉnh táo. Con đường của các bậc tiền bối không là gì khác, ngoài con đường mà trên đấy trật tự hiệp sĩ, ksatrija dẫn dắt nhân loại: con đường của hạnh phúc.
Đạo Lão suy yếu ở Trung Quốc, và Đạo Khổng do Khổng Khâu truyền bá, bắt đầu tuyên bố những ưu thế của nó. Ở Hi Lạp truyền thống Orpheus suy yếu và đời sống hiệp sĩ bắt đầu với Homeros lên ngôi, làm biến đổi nội dung đời sống. Ở Ấn Độ Đức Phật, người có nguồn gốc là ksatrija , bắt đầu tuyên chiến chống lại các brahman.
Dân chúng Tiểu-Á đổ bộ Ai Cập đã thủ tiêu những truyền thống giáo sĩ thời cổ. Ở Iran, Zarathustra là người cuối cùng cố gắng thử một lần nữa đặt giới hạn cho văn hóa Haoma đang ngày càng lan truyền, nhưng sau cái chết của ngài người ta nhanh chóng quên đi, và con người bắt đầu vội vã đi tìm hạnh phúc cá nhân.
Con người lịch sử nói chung không hiểu tại sao các nhà thông thái Hi Lạp lại khuấy động những lời lẽ mạnh mẽ chống lại Homeros đến thế và cả cơn giận của Herakleitos nữa, họ cũng không hiểu, vì thế họ không dám giải thích bằng sự thiên vị cảm tính, bởi giữa những người chống lại thi phẩm Homeros có cả Xenophanes và Platon. Trong thi phẩm Homeros cũng xuất hiện đúng như trong những lời dạy dỗ của Khổng tử: con người hiệp sĩ đương đầu với con người tinh thần.
Herakleitos, Xenophanes và Platon đã nhìn thấy rất rõ giờ đây, một quá trình đe dọa sự sống của cộng đồng người bắt đầu: con người hiệp sĩ, kẻ không liên quan với các mối quan hệ siêu việt của đẳng cấp tinh thần, bắt đầu nhìn các sự kiện trên bề mặt và bắt đầu kết án cái bề mặt. Lịch sử bắt đầu bằng Homeros. Một lịch sử, trước đây từng là một trong những chương quan trọng của nhập định vua: sự hoạt động của các ý tưởng được hiện thực hóa, như tấm gương và các hình ảnh sự kiện của các Cha vĩ đại giờ đây trên bề mặt trở thành sự ngoạn mục và và trở thành chiến lợi phẩm công cộng.
Sự ngoạn mục này, khi lần đầu tiên xuất hiện, chỉ toàn ánh sáng - lúc đó vẫn còn mang theo nó tinh thần của thời cổ, bởi vậy còn rạng ngời, tuy đã cắt đứt quan hệ với con người tinh thần. Kẻ hiệp sĩ đã độc lập hóa bản thân, tự ca ngợi mình trong đời sống riêng của mình, đã phủ nhận sự chung sống với trật tự tinh thần, và điều quan trọng nhất: trong đời sống của mình đã bắt đầu mang hình ảnh của khát vọng quyền lực, chứ không phải của sự thống trị vì nữa.
Herakleitos và Xenophanes, và Platon, những người nhìn thấy trực tiếp và hiểu sự phủ nhận truyền thống trật tự tinh thần trong Homeros, bằng giận giữ, bằng say mê, bằng tranh luận có tri thức, tùy từng người có thể, cố gắng nỗ lực chống lại điều này: sự thống trị của con người tinh thần đang biến thành quyền lực của kẻ mạnh hơn. Các nhà thông thái trên bằng sự giáo dục đều muốn cố gắng ngăn chặn và cản trở lịch sử - một chuỗi bức bối vô nghĩa liên tục.
Hoàn cảnh của Herakleitos với Platon tất nhiên khác hẳn nhau về phương pháp. Herakleitos là thành viên của trật tự tinh thần ( basziles ), theo tiếng Sanscrit: brahman , và sống trong truyền thống cổ với toàn bộ bản chất của mình. Còn Platon đã là đẳng cấp hiệp sĩ, ksatrija, kẻ cảm xúc và tư tưởng vẫn mang tính tinh thần nhưng bản chất thì không.
Bởi vậy song song với số phận Herakleitos có Lão tử. Lão tử viết tri thức của mình ra và im lặng. Ông có thể làm được gì nhiều hơn? Không. Và song song với số phận của Platon là Khổng tử, giờ không còn sự thống trị, vô vi, bất động, không còn con người tinh thần nữa mà là sự hoạt động của con người hành động.
Luôn luôn và ở khắp nơi đều có thể nhận ra sự hoạt động của ksatrija.
Brahman là scientia sacra , người lính canh và kẻ phát ngôn cho tri thức cổ. Còn ksatrija là ars regia, kẻ thực hiện nghệ thuật cầm quyền. Tư tưởng của Platon không phải là scientia sacra mà là ars regia.
3.
Cái khoảnh khắc, thống trị và quyền lực như trong thời cổ bổ sung cho nhau, lần đầu tiên trở nên đối địch với nhau, chỉ có thể hiểu nổi khoảnh khắc này nếu nhận thức rõ hơn con người của đẳng cấp hiệp sĩ. Trong đẳng cấp hiệp sĩ - ksatrija , bầu khí quyển quyền lực lớn đến nỗi đẳng cấp này không biết phân biệt sự khác biệt giữa thống trị và quyền lực. Nó tưởng rằng thống trị cũng là một quyền lực tích cực; nó tưởng rằng trật tự tinh thần đứng trên nó và ra lệnh cho nó. Nó tin tưởng chắc chắn rằng nó là kẻ hầu của brahman.
Kẻ hiệp sĩ không hề linh cảm rằng trong trật tự thiêng siêu việt, mọi đẳng cấp đều có vị trí riêng và thực hành vị trí này sẽ mang đến cho đời sống của đẳng cấp đó sự hoàn toàn và thỏa mãn. Ksatrija không nhìn thấy: có thể ra lệnh trong các lĩnh vực thực hành mang tính chất trần gian, nhưng không thể ra lệnh với mệnh lệnh của thống trị. Vị trí thống trị là tuyên bố của Lời tinh thần, hoàn toàn độc lập với sự cưỡng bức, sự thực hiện, thậm chí nhận thức ra cũng không, nó chỉ: CÓ.
Tất cả những điều này đẳng cấp ksatrija không thể hiểu nổi, bởi vì nó là ksatrija. Nó không phải con người tinh thần mà là con người hành động, tính chất cai trị trong nó không phải là szattva (từ bi), là tư tưởng tinh thần cân bằng, mà là sự hoạt động sôi nổi. Không thưởng ngoạn (kontemplativ) mà là tham dự.
Giai cấp hiệp sĩ không phù hợp với trực giác thần bí, với buddhi, mà với ahamkara, cái Tôi tự tạo. Bởi vậy đặc tính của ksatrija là thực hiện cái Tôi tích cực. Nhưng bởi vì trong ksatrija chứa một sự ấu trĩ, một đặc điểm tượng trưng cho tất cả những kẻ hiệp sĩ: sự ghen tị ( ressentiment ) không thể dập tắt nổi đối với trật tự tinh thần.
Ksatrija tưởng thống trị đứng trên quyền lực, và trong sự ghen tị nó muốn nắm lấy sự thống trị để cái Tôi của nó có thể ra lệnh phi giới hạn. Tất nhiên, cái nó thu được không thể là sự thống trị mà chỉ là quyền lực và lúc nào cũng chỉ là quyền lực mà thôi; quyền lực đằng nào cũng là của nó.
Thống trị không bao giờ là của nó, bởi vì đẳng cấp ksatrija không bao giờ đứng ra ngoài, phi quyền lợi, phi cá nhân, phi dục vọng chỉ thưởng ngoạn. Không bao giờ hiểu được sự vô vi, hoạt động phi hành động. Không thể trộn nhào autorite spirituelle với pouvoir temporelt, không ai có thể cùng lúc vừa đi trên con đường của các thần linh vừa đi trên con đường của các vị tiền bối.
Khoảng sáu trăm năm trước Công nguyên yếu tố hoạt động của sự thay đổi trong cộng đồng là sự ghen tị của đẳng cấp hiệp sĩ. Điều này đã thể hiện trong Khổng tử, trong Tất Đạt Đa Cổ Đàm của đẳng cấp ksatrija, mà sau này người ta gọi là Phật Như lai, trong Platon.
Đây từng là việc làm có tính chất quyết định của vua Akamipihtli Mexico, như truyền thống da đỏ ghi nhận: Thống trị và quyền lực có tính chất tinh thần và lãnh đạo tách rời khỏi nhau. Mối quan hệ được duy trì bởi độ sâu của thời gian, mà trật tự brahman gìn giữ đã bị cắt đứt. Các sự kiện thế gian không bật lên từ độ sâu nữa, mà chỉ còn lại trên bề mặt. Những sự kiện đầu tiên của các hiện tượng trôi nổi trên bề mặt là các thi phẩm như Ilias hoặc Odüsseia. Đây là sự bắt đầu của lịch sử.
Cái mà đẳng cấp ksatrija không biết, là thống trị cùng quyền lực cần phải bổ sung lẫn cho nhau, như cách thức của tư tưởng với việc làm, tinh thần và hành động cần bổ sung lẫn cho nhau. Trong cộng đồng người, thống trị là một loại người đại diện cho tư tưởng và việc làm của con người, không bao giờ, không ở giữa bất cứ một loại môi trường nào cần đến hành động. Còn hành động do một loại người khác đại diện, là thứ không ở giữa bất cứ một loại môi trường nào để trở thành tư tưởng, tinh thần và sự thưởng ngoạn.
“Tác phẩm của Trời là ánh sáng, là sự sáng sủa, tác phẩm của Đất là sự Sinh sản - Li-Ki viết - và con người sống trên trái đất cần kết hợp cả hai, bởi vì chỉ từ cả hai cùng lúc mới xuất hiện ân sủng, ích cho cộng đồng”.
Trong cộng đồng sự thiêng liêng siêu việt và tính chất anh hùng siêu việt cần hài hòa sống lẫn với nhau, bởi vì không bao giờ thần linh có thể là anh hùng và người anh hùng có thể là thần linh. Nếu thần linh thất bại thì người anh hùng cũng cần thất bại - và trong sự thất bại này trật tự thất bại, đạo luật thế gian bị phá vỡ và cộng đồng tan rã.
Con người hành động không bao giờ biến thành con người thưởng ngoạn, và sự thưởng ngoạn không thể biến thành hành động; nhưng để cộng đồng sống theo đạo luật thế gian, theo dharma, cần đến cả hai thứ.
Brahman, đẳng cấp tinh thần gìn giữ sự trị vì của đạo luật siêu việt: đây là tri thức đích thực duy nhất, sự tỉnh táo. Và: “mọi sự sống trù phú phụ thuộc vào tri thức thật sự” - Manu nói. “Nếu tri thức thật từ cộng đồng bị mất, đến một việc làm duy cũng không hợp luật, không sinh sôi, và lợi ích cũng không”. Nếu sự thống trị của đạo luật siêu việt Thượng Đế bị mất, cộng đồng tan ra nghìn vạn mảnh.
Các vương quốc không duy trì bởi sức mạnh, bởi quyền lực, không do sự hoạt động duy trì cho dù đẳng cấp ksatrija quý phái, dũng cảm, anh hùng, minh triết đến đâu. Các vương quốc được duy trì do sự trị vì của đạo luật siêu việt Thượng Đế, và đạo luật này nằm trong con người, con người là kẻ luôn có quan hệ với thế giới tinh thần.
Brahman không phải là con người trong ý nghĩa như con người là mọi thành viên của cộng đồng: brahman là công cụ của lời tuyên bố tinh thần Thượng Đế, là kẻ nắm giữ thống trị. Giáo chủ là hóa thân của logo. Ở Ai Cập ngài mang tên của vị thần Toth, ở Ấn Độ tên của đẳng cấp tinh thần là brahman , lấy từ tên thần tạo hóa Brahman. Ở Mexico giáo chủ có tên: teotikutli, có nghĩa là: Thượng Đế và Ngài.
4.
Điều kiện đầu tiên của sự trị vì: sự nhún nhường, dâng hiến. Bởi vậy con người tinh thần cần trở nên khổ hạnh. Bởi vậy cần dùng cả cuộc đời họ vào sự tự phủ nhận bản thân, cần từ bỏ mọi đam mê hạnh phúc của cái Tôi, để nhận thức ra lời tuyên bố tinh thần siêu việt và trong sự nhún nhường dâng hiến có khả năng từ bỏ.
Kẻ nào đại diện cho thống trị cần tránh xa những mục đích của con người, cần sống cho sự chiêm nghiệm, cần hòa hợp với các sự kiện tinh thần của thế gian, và cần nhận thức ý nghĩa đích thực của các dấu hiệu hữu hình của thế gian, cần biết về ý nghĩa của thời gian, bầu trời vũ trụ, sự thay đổi của các tinh tú, và cần gây ảnh hưởng với đời sống của nhân loại bằng việc thực hành chính xác các nghi lễ, cần hiến tế, nuôi dạy thế hệ trẻ, cho đẳng cấp cầm quyền những lời khuyên, và truyền bá cho nhân loại ý chí mang tính chất siêu việt Thượng Đế.
Trong quyền lực trái lại, không có chút gì siêu việt. Quyền lực là sự duy trì của trật tự và sự thật của con người trong cộng đồng, là sự phân chia phần thưởng và sự trừng phạt, là sự bảo vệ và tấn công. Cội rễ của quyền lực có trong thống trị, bởi vì tư tưởng đưa lại cho hành động ý nghĩa. Trong bản thân quyền lực chỉ mang tính chất người.
Nhiệm vụ của ksatrija là thống nhất quyền lực và thống trị. Con người bằng sự thất bại đã phạm trong thời kì đầu tiên của thời gian, khi vật chất và tinh thần, khi hữu hình và vô hình tách nhau ra, đã đứt lìa khỏi nhau cả thống trị lẫn quyền lực. Thống trị ứng phù hợp với tinh thần và cái vô hình; còn quyền lực là cái hữu hình và vật chất. Thống trị là sự chiếu sáng bình thản như của Mặt Trời; còn hoạt động của quyền lực là sự cố gắng hành động, như cách thức của con người vật lộn trong số phận.
Nhiệm vụ của ksatrija là mang tính chất người quay trở lại với thần linh, Thượng Đế và một lần nữa thống nhất lại vật chất với tinh thần; để con người trở nên sự thật, sự kiêu hãnh, tự phủ nhận bản thân, trở thành anh hùng, quý phái, trang trọng, nghiêm khắc, kiên cường, trở thành kẻ cầm quyền và quan tòa và quân nhân.
Thống trị và quyền lực đứt rời nhau mang lại hậu quả tức khắc như thế nào, về điều này không cần lấy nhiều ví dụ, chỉ trích dẫn Pythagoras là đủ. “Trong khoảnh khắc khi cảm giác hướng về trọng tâm bị mất, cảm giác về cái trên bề mặt sẽ thay thế”.
Cảm giác hướng về cái trên bề mặt đã tạo ra lịch sử. Các sự kiện thay vì được tuôn trào từ tinh thần hướng về trọng tâm duy nhất, đã tan chảy trên bề mặt và xối xả tuôn đi vô hướng. Thay thế một số phận tỉnh táo là sự bức bối vô nghĩa bước vào.
Pythagoras thử một lần nữa sắp đặt lại vị trí thống trị của các sinh linh tinh thần siêu việt trong truyền thống cổ: ông thử tìm cách làm cho đời sống cộng đồng phụ thuộc vào trọng tâm. Ông dạy dỗ những bí ẩn của thống trị mang tính chất siêu việt cho đẳng cấp Brahman , những kẻ được nhập định. Nhưng ở thời đại Pythagoras cả con người lẫn thời gian đều không còn đủ khả năng nữa. Sự dằn vặt tức giận nổi lên một cách ghen tị của đẳng cấp ksatrija bằng hoạt động của quyền lực đã quật ngã mọi tuyên ngôn tinh thần của thống trị. Điều này sau đó xảy ra với Empedokles. Và muộn hơn, với Platon.
Ở phía bên kia trái đất điều này cũng xảy ra đúng như vậy ở Trung Quốc. Li-Ki viết: “ Truyền thống giữ gìn điều cần làm của hòa bình và chiến tranh. Nếu xuất hiện người đủ khả năng để giữ gìn truyền thống, lúc đó thống trị sẽ hòa hợp với đạo luật thế gian; nếu không xuất hiện người đủ khả năng, truyền thống sẽ bị quên lãng”.
Kẻ đủ khả năng đã không xuất hiện; nhân loại đã không thể sống hòa hợp với đạo luật thế gian, và truyền thống đã bị quên lãng. “Một từ duy nhất có thể làm hỏng tất cả. Một con người duy nhất có thể củng cố mạnh mẽ nhà nước”. Một từ duy nhất đã làm hỏng tất cả, đấy là: quyền lực. Nhưng kẻ duy nhất có thể củng cố nhà nước vững chắc, kẻ đó đã không bao giờ xuất hiện nữa.
Sự bùng nổ của quyền lực hiệp sĩ mang lại thay đổi trật tự đời sống cơ bản trong cộng đồng. Trong thời cổ, lời nói chuẩn mực và sự kính trọng là của người đã trưởng thành, còn sự trầm tĩnh là của người già. Đấy là tấm gương.
Giờ đây một người trẻ, đầy sức lực về mặt cơ thể có lợi thế hơn vì không ai còn nhạy cảm đến sự chín chắn và trưởng thành tinh thần nữa. Người ta hiểu lầm sự chín chắn, trầm tĩnh, thay vào đó họ chỉ nói đến sự thèm khát nồng nhiệt. Mọi đắn đo cân nhắc chấm dứt, thay vào đó là tính chất cách mạng cháy bùng. Không ai muốn nghe đến tư tưởng nữa, bởi hình ảnh của lí tưởng là máu sôi sùng sục. Radzsas đã thay thế cho szattva.
Sau sự bình thản chiêm nghiệm tiếp đến những hành động cuồng nhiệt. Người ta bắt đầu trầm trồ ngợi ca sức mạnh của hành động. Tấm gương của cộng đồng không còn là nhà thông thái có nhận thức sáng sủa, phi lợi ích nữa, mà là một cảm tử quân máu sôi sùng sục.
Lòng háo danh, nỗi thèm khát sự ca ngợi đã thay thế cho tri thức, sự bình thản, sự tự phủ nhận bản thân, đức hạnh. Trước kia sự im lặng đơn độc là mức độ lớn nhất của đời sống; phù hợp với điều này là szattva (từ bi): thực thể tinh thần. Phù hợp với điều này giữa bốn asrama là szannjaszin: người ăn mày thần thánh. Giờ đây tất cả đều đi về hướng công cộng: những cuộc thi đua, phiên chợ, nhà hát, biểu diễn: trên bề mặt, sự sống người trở thành lịch sử. Đây là agon, lí tưởng đời sống của Homeros.
Tổ tiên của brahman là các thần linh; tổ tiên của ksatrija chỉ còn là các anh hùng, hay nói cách khác là con người. Trong dấu tích thống trị, tinh thần cộng đồng người là bản sao của cộng đồng Trời: dân chúng. Trong dấu tích của quyền lực, với từ quyền lực trong cộng đồng người, các dục vọng trần thế được hãm phanh từ trước tới nay cùng với các sức mạnh ma quỷ cùng lúc được giải phóng: cùng lúc làm nổ tung sự kiêu ngạo, sự tâng bốc, sự háo danh, và tất cả những điều này bắt đầu cắn xé loài người.
Nền tảng của cộng đồng cổ, cũng là nền tảng của đời sống từng con người, sự tự phủ nhận bản thân, biến mất trong một tích tắc. Thay thế cho sự tự phủ nhận bản thân là bản năng to lớn của cái Tôi chiếm lĩnh.
5.
Trong truyền thống cổ, hình ảnh tượng trưng cho đẳng cấp ksatrija là con lợn lòi, cho đẳng cấp brahman là con gấu. Con gấu là con vật bình thản, thông thái, hình ảnh một ông thầy. Con lợn lòi là loại thú rừng hoang dữ tợn, tham lam và không phanh.
Ở Iran người ta biết đến mười hóa thân của lợn lòi: bão gió, con bò đực sừng vàng, con ngựa trắng, con lạc đà đực, con lợn rừng, cậu con trai tràn đầy sức lực mười lăm tuổi, con đại bàng, con cừu, con dê đực và người lính chiến đấu.
Sức mạnh của con lợn lòi trong các sinh linh này cháy sáng trong ngọn lửa mạnh mẽ. Để con người có thể hiểu về những hình ảnh tượng trưng này, chỉ cần phân tích một hình tượng là đủ. Đấy là con đại bàng.
Đại bàng là một trong bốn thiên thần giữ bầu trời. Đầu tiên là con Trâu Đực (Aldebaran), thứ hai là con Sư Tử (Regulus), thứ ba là con Đại Bàng (Antares) và thứ tư là Con Người (Fomalhaut). Hình ảnh con Đại Bàng sau này và trong các truyền thống khác được biết đến với cái tên Skorpio.
Và Skorpio là ngôi nhà của nước mang tính chất lửa, là sao Hỏa, trong truyền thống Hindu giữa ba guna là radzsas, sự say mê nồng nhiệt, trong truyền thống giả kim là lưu huỳnh, nguyên tử cháy. Trong truyền thuyết Ấn Độ đại bàng là vua của các thần linh, là con chim của Indra; còn Indra giữa các thần linh là ksatrija quan trọng nhất.
Con đại bàng ở tất cả các dân tộc là quyền lực, quân đội, sức mạnh vũ khí, biểu tượng của đội quân. Bởi vậy đại bàng là con chim của Zeus và Jupiter, bởi quyền lực là của Zeus và Jupiter. Giữa các đặc tính của linh hồn, đại bàng phù hợp với ý chí, nhưng chỉ có bản thân ý chí, hoặc thiếu nó đều không phải là sức mạnh tạo dựng.
Về các tương đồng chừng ấy là đủ. Thêm điều này nữa: ở Iran tên của đẳng cấp kị sĩ là khaetu. Từ này có nghĩa là quyền lực, và một từ khác: verethragna, là người bẻ gãy sự chống đối, kẻ lập trật tự. Người lính là kẻ chứa đựng: lửa, lưu huỳnh, radzsas của khvarenah, quyền lực thế gian rực rỡ và cháy bỏng - đại bàng, sao Hỏa, Ares, là sức mạnh và bất khả chiến bại.
Nhưng khaetu luôn chỉ là quyền lực bên ngoài, như quyền lực của sức mạnh vật lí, bởi vậy nó tồn tại trên thế gian, trong cộng đồng, là người lính canh của nhà nước, như trong vũ trụ canh giữ trật tự bên ngoài của các tinh tú.
Ở Ai Cập thần linh của các kị sĩ là Séth, vị thần màu đỏ, thần của bão, động đất, gió xoáy: là hình ảnh tượng trưng của sức mạnh thiên nhiên. Những bức tượng của Séth người ta thường sơn màu đỏ như các tượng Huiclopohtli ở Mexico, có nghĩa là máu, là sự hoạt động nồng nhiệt, sự đổ máu, chiến tranh, lời tuyên bố của sức mạnh vật chất, lưu huỳnh, radzsas, tóm lại luôn là ưu thế của kẻ mạnh hơn được sử dụng trong thời gian, hay có thể nói như sau: đại bàng - quyền lực.
Nếu quyền lực sót lại này đứt đoạn khỏi nguồn cảm hứng tinh thần và thiếu phương hướng, đạo luật, nó sẽ chẳng là gì hết ngoài một hoạt động vô giới hạn, vô độ của một sức mạnh vô nghĩa. Nếu ksatrija tách rời khỏi brahman, nó sẽ là nô lệ của bóng tối. Bóng tối: sự đam mê, sự giận giữ, sức mạnh hoang dã; là chiến tranh: Séth ở Ai Cập, Huicilopohtli ở Mexico, Arés ở Hi Lạp, Mars ở Roma, là các vị thần của nỗi bất hòa, sự sôi lên sùng sục, sự nổi loạn, sự nổi dậy.
Nếu chỉ còn lại đẳng cấp hiệp sĩ, nền chính trị của họ nhắc nhở đến các vị thần linh của cái chết. Dấu hiệu nhận biết duy nhất của quyền lực là sức mạnh; là quyền lực của kẻ mạnh hơn. Nếu không có thống trị chỉ hướng cho sức mạnh, quyền lực cần trở thành sự độc ác. Đây là bóng tối độc ác, là thần chết, là sự xâu xé chia cắt quốc gia, là nỗi bất hạnh của dân chúng, là sự tiêu diệt ánh sáng, là Széth: kẻ giết người của Oziris.
Ksatrija câu kết với thần chết để chống lại brahman. Đây là ý nghĩa về sự ghen tị (ressentiment) của ksatrija.
6.
Để giữ gìn trật tự thế gian sức mạnh tất nhiên không đủ, cũng như nhà nước duy trì trật tự dân chúng cũng không đủ. Trong khát vọng mù quáng, đẳng cấp hiệp sĩ không biết điều này và không thể biết; ksatrija không phải là người biết mà là người quả quyết hành động. Brahman là người biết hộ, thấy hộ và suy nghĩ hộ. Và nếu sức mạnh để duy trì trật tự không đủ, nhưng lời vẫn thuộc về sức mạnh, lúc đó trật tự bị phá vỡ.
Nhưng có một điều đẳng cấp kị sĩ cũng không hề biết: quyền lực trong tay họ chỉ có thể tồn tại trong một khoảng thời gian vô cùng ngắn. Sau thời kì nở hoa ngắn ngủi thế gian thuộc về đẳng cấp hiệp sĩ ở mọi dân tộc đều cần phải biến mất, quyền lực suy thoái, và giờ đây quyền lực rơi vào tay những kẻ ngày càng không xứng đáng hơn.
Chính trị trắng trợn, hành động trắng trợn, thiếu vắng tinh thần và tư tưởng, chỉ thực hành sức mạnh, lịch sử trở nên trắng trợn, vô bản chất và phi đạo luật. Đẳng cấp hiệp sĩ không biết đến các phương pháp để duy trì trật tự, họ chỉ có sức mạnh và sự thỏa ước. Họ không biết rằng: “Sức mạnh bên ngoài giữa mọi hoàn cảnh đều biến thành tác dụng chống đối bên trong. Bởi vì nếu Lời không phải của tinh thần việc thực hành sức mạnh chỉ là một hành động quyền lực và quyền lực đưa đến sự bất bình, sự chống đối và sự thù ghét”.
Và nếu quyền lực ngày càng rơi xuống thấp, sẽ rơi vào tay đẳng cấp vaisja : thị dân, thương gia, công nhân, nông dân. Quyền lực của đẳng cấp kinh tế không còn là sức mạnh của đam mê nóng bỏng và dữ dội của đẳng cấp hiệp sĩ, là thứ có thể trở nên độc ác đến mức nào đấy, nhưng không ít lần rất tuyệt vời. Quyền lực thị dân của đẳng cấp kinh tế thì bần tiện. Thị dân không phải là hình ảnh tượng trưng của sức mạnh. Nó không tin vào chính bản thân nó. Bởi vậy quyền lực của nó là chủ nghĩa thủ đoạn (machiavellizmus) là thứ đạo đức giả.
“ Nếu người ta để mặc một kẻ tầm thường - Li-Ki nói - nó sẽ thu thập đủ thứ xấu và không run sợ trước bất cái gì. Nếu kẻ này nhìn thấy một con người tinh thần, nó bắt đầu cất giấu che đậy, và cố gắng phơi bày mình ra từ mặt tốt. Nhưng con người tinh thần ngay lập tức nhìn xuyên thấu nó. Đạo đức giả thế nào được! Giống như cùng một lúc mười con mắt nhìn mi và mười ngón tay chỉ về phía mi: thật là một việc đứng đắn đáng sợ làm sao!”
Tầng lớp thị dân muốn tỏ ra tự do tranh luận, nhân đạo, trong khi đó nó chỉ có một mục đích duy nhất: lộn ra ngoài tất cả túi quần của kẻ khác. Giờ đây không phải là quyền lực chính trị nữa mà là quyền lực kinh tế. Sự ghen tị tăng dần, và sự đòi hỏi nhân đạo cũng tăng dần, và cơn đói của cải tàn bạo và sự giấu giếm che đậy cũng càng mạnh hơn.
Nhưng quyền lực không dừng ở đây. Khổng tử nói, quyền lực của trật tự hiệp sĩ dài ba trăm năm, còn quyền lực của đẳng cấp kinh tế kéo dài một trăm năm mươi năm. Tốc độ lao xuống dốc của nó ngày càng nhanh hơn. Quyền lực càng lao xuống dốc sâu bao nhiêu, đời sống của nó càng ngắn ngủi bấy nhiêu. Rồi sau đó cái gì xảy ra? Sự nhiễu nhương tiếp tục. Nỗi bức bối càng lớn, toàn bộ sự tròng trành phi mục đích, vô nghĩa này tự nó quay cuồng xung quanh chính nó. Nghĩa là: lịch sử tiếp diễn.
Quyền lực rơi vào tay đẳng cấp người hầu (sudra) và trở thành ma quỷ. Người ta gọi sức mạnh quyền lực ma quỷ này là bạo lực. Thay thế đẳng cấp hiệp sĩ và thị dân türannos -kẻ độc tài bước lên vũ đài. Bạo lực không phải sự tăng lên của sức mạnh mà là sự thô bạo hóa. Sự thể hiện vũ trụ của sức mạnh, sự xuất hiện của lưu huỳnh, radzsas mà các thần linh của nó là: Mars, Ares, Huiclopohtli, Szet, Indra.
Còn bạo lực không có thần linh của nó, chỉ có đám đông ma quỷ được giải phóng của nó mà thôi. Bạo lực không còn là quyền lực nữa, mà là sự độc quyền cá nhân trắng trợn. Trong sức mạnh vẫn còn có sự quý phái, cái đẹp và sự cao cả; nhưng sức mạnh đã bị đánh mất trong loại đạo đức giả; giờ đây trong bạo lực chỉ còn sự độc ác, bản năng thấp hèn và đáng sợ sôi réo lên sùng sục.