Trong một cộng đồng có trật tự, truyền thống cổ cho thấy ba mục đích và nghĩa của đời sống người. Ba mục đích này phù hợp với ba trật tự đạo đức, ba trật tự đạo đức phù hợp với ba đẳng cấp, ba đẳng cấp phù hợp với ba chất lượng của sự sống, ba chất lượng của sự sống đặt ra ba pháp luật.
Trong cộng đồng có trật tự ba mục đích của đời sống là: artha, kama và dharma. Artha có thể dịch là lợi nhuận, sự thu được, sự tăng trưởng vật chất. Không gì chống lại việc có thể đặt song song artha với tamasz trong ba guna, với sự sinh sôi vật chất, và giữa các đẳng cấp, với vaisja đẳng cấp kinh tế, với thương gia và người canh tác đất.
Và giữa ba trật tự đạo đức artha phù hợp với đạo đức thực dụng (pragmatik). Pháp luật của artha là thứ đạo luật mong muốn đảm bảo lợi ích, ưu tiên sự trù phú sinh sôi cho dân chúng.
Dịch từ kama khó hơn. Kama là thứ trong đó có đam mê và xúc cảm, thứ mang lại niềm vui, sự thỏa mãn, sự ngây ngất thể xác và tinh thần, bởi vậy ở Ấn Độ cổ kama cũng đúng là tình yêu, như một phần của nghệ thuật, có khoa học kama phục vụ cho sự hưởng lạc và thỏa mãn của con người. Kama phù hợp với đạo đức eudaimonia.
Trong ba chất lượng sự sống kama phù hợp với radzsa, trong ba đẳng cấp, kama song song với ksatrija. Nếu kama đưa ra luật, lúc đó mục đích sẽ là cung cấp niềm vui và sự thỏa mãn cho con người.
Dharma gần như không thể dịch ra được. Thực chất nó có nghĩa định luật thế gian, nhưng cả số phận, cả trật tự nữa, bởi vì thế gian cũng có dharma của nó, dân chúng, quốc gia, con người, gia đình, tất cả mọi sự vật-lịch sử cũng không khác, là sự thể hiện của dharma, nhưng đặc tính cũng là dharma, bản năng hành động cũng là dharma và trật tự vũ trụ cũng là dharma.
Đẳng cấp đứng song song với dharma: brahman. Chất lượng sự sống phù hợp với dharma : szattva, tư tưởng của nhận thức cân bằng. Tương đồng đạo đức của dharma : đạo đức normativ. Luật pháp mà dharma mang lại nằm trên nền tảng của tính chất siêu hình vũ trụ và các lời tuyên bố. Những luật dharma như mười điều răn của Kinh Thánh Do Thái, như sách của Mozes, luật của Manu và Menes và Csamuragga.
Trong thời kì lịch sử khi sự thống nhất siêu việt của cộng đồng người bị đứt đoạn thành các chủng tộc, các dân tộc, sự thống nhất của dân chúng bị đứt đoạn thành các giai cấp, tất nhiên người ta không thể đưa ra các luật khác ngoài những luật phục vụ cho sự thỏa mãn hoặc lợi nhuận, nhưng chỉ là sự thỏa mãn hoặc lợi nhuận của một dân tộc, một loài giống hay một giai cấp nhất định.
Và như vậy thời kì lịch sử không hề biết rằng, không chỉ có và có luật dharma, mà thực ra đấy là đạo luật duy nhất và tuyệt đối. Cội rễ của luật này mang đến sự thỏa mãn và niềm vui có trong cảm xúc và sự đam mê, cội rễ của luật này mang lợi nhuận có trong khát vọng tăng trưởng kinh tế. Bởi vậy luật kama do ksatrija mang lại, phù hợp với thiên nhiên với radzsasz, bởi vì đặc tính của đẳng cấp hiệp sĩ là hoạt động say mê. Luật artha do vaisja mang lại, phù hợp với tamasz.
Con người lịch sử không nghĩ rằng cái mang lại sự thỏa mãn hoặc lợi nhuận, bởi trên bề mặt, phụ thuộc vào khoảnh khắc sẽ mất đi trong mức độ lớn nhất. Bởi vậy luật của kama và artha không được coi là luật.
Chừng nào chỉ nói về sự thỏa mãn và lợi nhuận, có thể phù hợp trong một thời gian ngắn. Nhưng khi nói về một mức độ sâu hơn: sự quyết định mang ý nghĩa tinh thần, trật tự của cộng đồng, lúc đó kama và artha đầu hàng, và đúng là đã thất bại.
Không một luật nào do sự thỏa mãn hoặc lợi nhuận mang lại, có thể duy trì được bất kì loại hình cộng đồng nào. Bởi vậy sự cần thiết đối với con người lịch sử ngay trong bước đầu tiên là họ đã thất bại trong việc tạo ra trật tự luật pháp. Đằng sau những luật pháp thời lịch sử là đạo đức thực dụng (pragmatikus) hoặc đạo đức eudaimonia, và do đam mê ( radzsa ) hoặc khát vọng lợi nhuận ( tamasz) mang lại, nhưng chưa bao giờ là đạo đức hệ thống phân cấp hoặc normativ, và chưa bao giờ là tư duy tinh thần ( szattva).
Luật chỉ mang lại trật tự, đời sống cộng đồng chỉ có thể điều chỉnh đúng nếu luật của cộng đồng phù hợp với luật thế gian, hay nó chính là nguồn trực tiếp: dharma. Ở giới hạn của thời gian lịch sử Khổng tử thất bại vì thế, ông đã mong muốn mang số phận cộng đồng ra phó mặc cho người quân tử, cho đẳng cấp hiệp sĩ, cho tầng lớp quý tộc, cho sự hoạt động của ksatrija.
Platon cũng thất bại như vậy, khi ông cũng muốn tạo ra kẻ cai trị từ đẳng cấp ksatrija. Ksatrija chỉ biết tạo ra luật-thỏa mãn; và luật-thỏa mãn có thể quý phái, nghiêm chỉnh, đẹp, to lớn nhưng không bao giờ có thể lập ra được trật tự sau cùng trong dân chúng.
Còn trong thời kì lịch sử muộn hơn, khi tầng lớp quý tộc cũng đã thất thế, khát vọng lợi nhuận cũng ước muốn tạo ra luật, lúc đó trật tự cộng đồng còn tan vỡ mạnh hơn nữa. Không gì tội nghiệp hơn khi cuối thời lịch sử, một mặt từ những vaisja phi nhập định và khát lợi nhuận, một mặt từ những ksatrija đói quyền lực, vội vã, nóng nảy, nhưng phần lớn từ hội nhóm lập ra của những kẻ sudra (kẻ hầu) hoàn toàn với bản năng vô thức tạo ra các quy định và tưởng rằng đấy là họ đang lập ra luật pháp.
Kết quả tất nhiên không thể khác ngoài hậu quả tất yếu tiếp diễn: đời sống cộng đồng ngày càng hỗn loạn, sự căng thẳng giữa các đẳng cấp ngày càng trầm trọng, và tinh thần của cộng đồng ngày càng đen tối.
2.
Ý nghĩa của sự sống cùng tuổi với sự tạo dựng thế gian. Không cần nhấn mạnh riêng điều này, bởi vì Tạo Hóa không tạo dựng ra thế gian từ sự vô nghĩa, mà một cách tỉnh táo, và khi sự tạo dựng này được thể hiện, cũng xuất hiện luôn tuyên ngôn về ý nghĩa của nó.
Hình dạng hóa thân của ý nghĩa này là con người, Đầu Tiên và là Con Người cổ, con người vũ trụ, kẻ mang ý nghĩa Thượng Đế. Con người vũ trụ biết một cách trực tiếp và tỉnh táo ý nghĩa này, bởi vì nó chính là ý nghĩa đó. Tri thức đầu tiên và trực tiếp về ý nghĩa sự sống do truyền thống cổ gìn giữ, và là bản chất và nội dung của siêu hình học của dân chúng thời cổ. Đây là sruti, như truyền thống Ấn Độ đã dạy, là lời tuyên bố trực tiếp.
Quá trình thứ hai của sự tạo dựng thế gian: một sự chăm sóc để duy trì sự sống. Quá trình duy trì sự sống có quy tắc, trật tự, quy luật của nó. Chỉ có một loại duy trì duy nhất, tất cả các kiểu duy trì khác chỉ là một sự sống chịu đựng, bớt đi hoặc hư hoại, hoặc đen tối đi hoặc ít đi.
Quy luật về duy trì sự sống trực tiếp tiếp sau quy luật về ý nghĩa sự sống. Quy luật là quá trình thứ hai, là szmriti, như truyền thống Ấn Độ đã dạy, là cái ngay từ đầu đã khiến phải nhớ đến, là cái cần giữ, để sự sống được duy trì.
Tri thức về sự sống và về duy trì sự sống gắn bó với nhau mật thiết; luật luôn nảy sinh từ tri thức về ý nghĩa sự sống, và cần phải nảy sinh từ đó. Nền tảng của luật cần mang tính chất siêu hình học. Luật chỉ là luật khi là lời tuyên bố.
Luật không chỉ nói lên những quy tắc chung sống của các thực thể sống trong cộng đồng. Nó luôn luôn được xây dựng từ các đặc tính cơ bản của sự sống và nói về số phận của linh hồn, về giáo dục, về các nghĩa vụ giới tính, về ăn, mặc, về sự dâng hiến, về cái chết, về đời sống vĩnh cửu, về sự nhập định, về hệ thống phân cấp, về các vòng đời sống của thế giới bên kia.
Luật là luật của sự sống vũ trụ, là thứ trong ý nghĩa Tạo Hóa như khả năng duy nhất đúng của duy trì sự tạo dựng, trong khoảnh khắc tạo dựng và cùng xuất hiện với sự tạo dựng. Đây là luật sự sống vũ trụ, tuyên ngôn cùng sự sống, cái mà truyền thống Ấn Độ gọi là dharma.
Mọi dân tộc thời cổ đều nhận các luật một cách trực tiếp từ bàn tay Thượng Đế, ở Ai Cập cũng như ở Trung Quốc, Iran hay Hi Lạp. Luật là lời tuyên ngôn Thượng Đế, dù là sách của Manu hay Tora.
Thượng Đế trực tiếp cho biết cái gì là sự sống và cần phải duy trì như thế nào, cái gì là cái cần làm và cái gì là cái bị cấm; cần duy trì trật tự như thế nào, cần con người cầm quyền như thế nào, con người như thế nào hãy cai trị, quyền lực trong tay người như thế nào, của cải trong tay người như thế nào, người làm việc là người như thế nào.
Luật này hoàn toàn độc lập với việc có thỏa mãn được các say mê của con người hay không, hoàn toàn độc lập với việc có lợi nhuận hay không. Nền tảng của luật không phải là kama cũng không là artha, mà là dharma, và dharma không là gì khác ngoài chính bản thân luật, tách xa mọi yêu cầu của con người, đứng trên mọi khát vọng và lợi nhuận.
Dharma là điểm, nơi luật và tuyên ngôn của sự sống trùng làm một, là nơi tri thức về sự sống biến thành luật, và là nơi bản thân luật không là gì khác, ngoài tri thức vĩnh cửu nói về sự sống.
3.
Manu của Ấn Độ, Menes của Ai Cập, Minos của Hi Lạp, Vang của Trung Quốc, Kecalkoatl của Mexico, kẻ ghi lại luật đã tuyên ngôn và nói cho con người biết, thực không phải là ai chính là Con Người, con người vũ trụ. Trí tuệ của Thượng Đế.
“Manu - sách luật Ấn Độ viết - ngự trị trên ghế thiêng; hướng sự tỉnh táo đến sinh linh cao nhất, và sau khi kính cẩn làm lễ xong nói như sau với Thượng Đế: Thưa Chúa tể, vì các luật thiêng và trật tự thế gian hãy cho phép con dạy cộng đồng người ở bốn mức độ, và cần phải đi theo trật tự của các mức độ ấy như thế nào.
Bởi vì chỉ có ngài, duy nhất có ngài giữa những sinh linh hữu hạn biết ý nghĩa thực chất: cái là Một và Đầu Tiên trên thế gian, ý nghĩa của các nghi lễ là gì, tri thức siêu việt nghĩa là gì, Veda không có biên giới, không bao giờ khô cạn và không bao giờ thành kính đủ. Khi Manu, kẻ mà sự thông thái là vô tận nhận những lời sâu sắc của thông thái Thượng Đế, cúi đầu và nói câu trả lời mang nhiều ý nghĩa: thế gian hãy nghe những gì cần nghe”.
Điều đầu tiên sự thông thái nói cho Manu biết, là thế gian ngay từ buổi ban đầu đã nằm trong ý nghĩ của Thượng Đế, như một hình ảnh tinh thần. “Đây là toàn bộ, cái mi nhìn thấy, từng là sự hình dung của Thượng Đế trong buổi đầu của thời gian, chưa lan truyền, sống trong bao bọc của bóng tối, không ai nhận ra, với trí óc không giải thích nổi, thiếu lời tuyên bố, như kẻ chìm đắm vào giấc mộng.
Khi đó xuất hiện trong sự cao cả êm đềm Sức Mạnh trên tất cả, là kẻ bản thân cũng vô hình và tạo dựng ra năm nguyên tố của thế gian, kẻ biến những ý nghĩ giấu trong sự tưởng tượng ra thành hữu hình và đánh tan sự tăm tối. Đấy là kẻ mang ý nghĩa cho con người, không phải là cảm giác của con người, đấy là kẻ không có lấy một bộ phận hữu hình, kẻ vĩnh viễn có đấy, đấy là Linh Hồn, là linh hồn của mọi sinh linh, kẻ mà sinh linh duy nhất cũng không nắm bắt nổi, đấy là lời tuyên bố”.
Sự sống cổ bất phân chia, Một biến thành Hai: thành Linh Hồn và Thế Gian, thành cái Tôi tinh thần vô hình và thành cá nhân thể hiện.
Sự việc thứ hai mà Manu được sự thông thái cho biết, tại sao lại xuất hiện con số Ba, ba chất lượng của sự sống, ba guna.
Buổi ban đầu thế gian là Một: Linh Hồn, Sự Sống. Biểu tượng của Một là quả cầu - hình ảnh sự thống nhất.
Khi Hai xuất hiện, quả cầu thay đổi, trọng tâm duy nhất chia đôi: đây là quả trứng. Quả trứng thế gian: “ Trong quả trứng này nằm yên một Sức Mạnh lớn, linh hồn tạo hóa suốt một năm thế gian, và không làm gì hết chỉ tách các ý nghĩ ra khỏi nhau. Và từ nửa quả trứng tạo thành Trời, nửa kia thành Đất… và tạo dựng linh hồn sống, lời tuyên bố đầu tiên của ý nghĩ tinh thần Thượng Đế, với ba chất lượng sự sống: nhận thức trong sạch, sự hoạt động sôi nổi và sự sinh sản tăm tối”.
Trên thế gian xuất hiện Ba: ba guna - nhận thức, đam mê, sinh sản - szattva, radzsasz và tama thực chất là hai: linh hồn tạo hóa và sự căng thẳng của thế gian được thể hiện, hai điểm của quả trứng.
Nhưng Hai thực chất là một: cái Tôi vĩnh cửu và vô hình của tinh thần Thượng Đế. Từ cái Tôi bước ra linh hồn và sự nhị phân của thế gian, từ nhị phân bước ra Ba: ba chất lượng sự sống, nhận thức, đam mê và sự sinh sản.
Trong sự sống người Một là cái Tôi, linh hồn bất tử; Hai là hai giới: sự căng thẳng của đàn ông và đàn bà; Ba là cộng đồng. Bởi vậy cộng đồng có ba trật tự: trật tự tinh thần - giáo chủ, trật tự hiệp sĩ cai trị và trật tự kinh tế.
Bởi vậy trong đời sống cộng đồng cần duy trì mối quan hệ với một chất lượng nào đấy của sự sống trong tư tưởng, hành động, sự nỗ lực, quá trình; Bởi vậy brahman cần đứng bên trên và thực hành sự thống trị, bởi brahman đại diện cho nhận thức, bởi vậy cần ksatrija cho hoạt động, bởi đại diện cho đam mê, bởi vậy cần vaisja với hành động là canh tác sản phẩm vật chất, vì đại diện cho bản năng sinh sản tối tăm.
Bởi vậy sự hoạt động của ksatrija không bao giờ chỉ huy được cộng đồng, nhưng sự sinh sản của vaisja cũng không nốt, bởi chất lượng sự sống và các vòng của nó không bao giờ có thể là nhận thức. Bởi vậy sự hoạt động cần kama, sự thỏa mãn, và sinh sản cần artha, cần đi với lợi nhuận.
Nhưng cũng chính vì vậy không bao giờ kama hoặc artha có thể nói, cái gì là cái chỉ huy cộng đồng. Dharma chỉ có quan hệ với nhận thức, và chỉ brahman biết tuyên bố, trên nền tảng luật thế gian đã tuyên ngôn cái gì là đúng, cái gì không đúng, cái gì là cái dẫn dắt được cộng đồng, cái gì không.
Chỉ brahman có thể là người lính canh hệ thống phân cấp; chỉ brahman duy trì được sự thống trị của các giá trị vĩnh cửu trong cộng đồng người: đạo đức. Chỉ brahman có thể dạy dỗ, nuôi nấng và chỉ đạo, bởi nắm giữ tri thức của dharma, chỉ brahman giữ gìn truyền thống, tri thức đã tuyên ngôn về sự sống và trật tự của sự sống.
4.
Dharma là ý chí luật đã tuyên ngôn của tinh thần tạo hóa, không chỉ tạo dựng ra sự sống, mà còn muốn duy trì trật tự của nó nữa, là cái duy nhất biết, bởi chỉ minh nó có thể biết cái gì là trật tự và có thể duy trì như thế nào.
Buổi đầu của thời cổ con người Thượng Đế nắm được lời tuyên bố này và viết ra. Đây là nguồn gốc của luật. Đây là luật duy nhất đúng. Tất cả mọi quy định được gọi là luật lập ra nằm ngoài dharman đều chỉ là sự cưỡng bức của con người, ở bất kì nơi nào và do ai viết ra cũng thế. Luật chỉ có một: lời tuyên bố, sự thể hiện của tinh thần Thượng Đế. Cuối thời cổ lần cuối cùng quan niệm này xuất hiện trong Nomoia của Platon, và từ đó trở đi, đã biến mất.
Có thể nhận ra ngôn từ của luật luôn vượt qua giới hạn của thiên nhiên vật chất.
Manu nói: “Ông thầy là hình ảnh trần gian của Thượng Đế; cha của thân thể là Brahman, hình ảnh Tinh Thần Tạo Hóa; mẹ của thân thể là hình ảnh của Đất ; đứa con đầu là hình ảnh của Linh hồn. Chính vì vậy người thầy; người cha, người mẹ và đứa con đầu của gia đình cần kính trọng theo các mức độ… Những nỗi đau đớn và lo lắng mà người cha và người mẹ trải qua khi sinh ra và nuôi dưỡng đứa con, và cái mà họ chịu đựng, trả ơn một trăm năm chưa hết.
Tất cả mọi người cần đối xử để cha mẹ và người thầy thỏa mãn với họ… những câu kinh quan trọng nhất dành cho cha mẹ và người thầy… bởi người cha, người mẹ và người thầy có nghĩa là ba thế giới, là sức mạnh tạo dựng, là thiên nhiên vật chất và thế giới tinh thần vĩnh cửu, và ba thế giới có nghĩa là ba Veda… Người mẹ là garhapatja, lửa của hôn nhân, người cha là daksina, lửa của nghi thức, người thầy là ahavanija, lửa của sự hiến dâng, và giữa các loại lửa đây là ba loại lửa cần kính trọng nhất”.
“Nếu tự bản thân con người trở thành chủ gia đình, và không quên ba điều này, sẽ đạt tới sự thống trị trong cả ba thế giới: thân thể nó được lưu danh và trở thành Thượng Đế, nó sẽ sống hạnh phúc không ngừng trong thế giới bên kia. Nếu nó kính mẹ, nó sẽ hưởng niềm vui của thế giới vật chất, nếu nó kính cha, nó sẽ hưởng niềm vui của thế giới khí (eter), nếu nó kính ông thầy, nó sẽ hưởng sự ngây ngất của những thế giới trời”.
Luật nhận ra từ dấu hiệu luôn nói cần vượt qua thiên nhiên vật chất. Nó không phải là sự hà khắc sử dụng trong đời sống cộng đồng, thứ điển hình cho luật ksatrija ; không phải khát vọng bội thu khuất sau luật, như điển hình của luật vaisja; không phải là sự vô nghĩa của bạo lực trần trụi, mà điển hình là luật của sudra.
Luật dharma không ra lệnh, mà tuyên bố. Không nói cái này cái nọ cần phải thực hành bằng mọi giá, nếu không ra tòa, vào tù hoặc bị cắt cổ. Dharma không xử phạt. Dharma là lời tuyên bố thiêng mà tinh thần tạo hóa đã nói ra, và con người được tự do giữ hay không.
“Nếu mi giữ - luật lên tiếng - con đường này đợi mi: tăng trưởng, sáng sủa, mi bước vào vòng của những linh hồn giống mi trong sạch, nghiêm chỉnh, sâu sắc và thần thánh. Nếu mi không giữ luật, con đường này đợi mi: mi ngày mỗi tăm tối, rơi xuống giữa các linh hồn bẩn thỉu và mi sẽ đau khổ”.
Trong dharma không có cưỡng bức và mệnh lệnh. Tất cả mọi người đều có thể giữ hoặc vi phạm, tự do, nhưng có thể thấy cái gì sẽ xảy ra với nó. Luật tuyên bố cho kẻ có trách nhiệm, những người có khả năng quyết định số phận mình. Cộng đồng cũng có quyền duy trì hoặc bỏ đi dharma, nghe lời của tuyên bố và sống theo hoặc cho phép nghe theo lời của đam mê, khát khao lợi nhuận hoặc bản năng vô thức.
Nhưng: cộng đồng hãy thấy. Nếu đi chệch khỏi dharma, không duy trì luật tuyên ngôn, sẽ bị thất bại và thiệt thòi trong sự hỗn loạn và tuyệt vọng. Không ai sẽ thi hành sự trừng phạt trên đầu cộng đồng, mà cộng đồng tự xử phạt mình bằng cách: sự đi chệch khỏi dharma sẽ mang đến đau khổ, bất công, đổ máu, tranh đấu không ngừng, khó khăn và sự hoang mang cho cộng đồng.
5.
Luật, những quy định mang tính chất vật chất có vẻ vô nghĩa của thời kì đen tối cũng vẫn gìn giữ một cái gì đó từ đặc tính cổ và cội nguồn của nó. Đặc tính này làm thế giới vật chất phụ thuộc vào thế giới tinh thần. Luật, cho dù không là gì khác, ngoài những quy định đơn giản, một sự ra lệnh tầm thường, nhưng vẫn chế ngự thiên nhiên vật chất trong giá trị nào đó dưới một trật tự cao hơn.
Trong thời kì đen tối các luật của kama và artha không thể hiện trật tự cao hơn của chúng bằng cách nào ngoài bằng sự đe dọa, bởi vì giữa các công cụ để điều khiển cộng đồng không có lấy một công cụ tinh thần duy nhất, mà toàn bộ, như Baader nói, chỉ là bạo lực và quy định.
“Nhân tố tinh thần của bộ máy cầm quyền rơi xuống dưới điểm đóng băng”. Giờ đây không ai hiểu nổi, luật kiên cường, sắc bén và chắc chắn không cần cho giai cấp quyền lực, mà cần cho mọi thành viên của cộng đồng, bởi vì: “Sự hợp luật được điều chỉnh của thế giới bên ngoài là điều kiện cho tự do bên trong của linh hồn” - thời đen tối chỉ nhìn thấy tự do bên ngoài, mà không biết rằng, tự do thật sự là quyền chọn lựa, là sự tự chủ, là sự tự phủ nhận bản thân, là kỉ luật tự thân, nghĩa là tự do của linh hồn.
Luật thể hiện trong đời sống cộng đồng một trật tự không thể sao chép và tuyệt đối, mà linh hồn con người hoặc nói không hoặc nói có với nó, nhưng một cách tự do, có trách nhiệm và tỉnh táo. Vì luật linh hồn con người trong cộng đồng trở nên tự do. Nó làm cái nó muốn và cái nó đã quyết định.
Luật đặt con người cạnh thế giới tinh thần tuyệt đối, và trong mọi khoảnh khắc đời sống của nó, nó có thể lên tiếng: có hoặc không. Không mặc cả.
Lẩn tránh? Không thể. Mi đến hay ở lại? Hoặc mi theo ta hoặc chống lại ta. Và trong sự lên tiếng này không có chút gì mang tính vật chất. Đây là điều mà từ một quy định phụ cũng không thể nào xóa bỏ nổi.
Luật đặt con người bên cạnh thế giới tinh thần của các giá trị một cách không thể lui bước, và bắt nó phải quyết định không bao giờ được ngừng lại. Kẻ nào vi phạm hoặc lẩn tránh luật, kẻ đó trực tiếp phủ nhận thề giới tinh thần. Và ý nghĩa tội lỗi không phải là tôi đã gây thiệt hại cho ai đó. Tội lỗi là tôi đã rút chính bản thân mình ra khỏi mối quan hệ với thế giới tinh thần.
6.
Ý nghĩa cuối cùng của luật như sau: người nào đi theo dharma, là đi theo lời tuyên bố của tinh thần vĩnh cửu, không vì bị cưỡng bức, mà một cách tự do, bởi nó biết luật vì quyền lợi của nó và vì quyền lợi của nó Sinh Linh tạo hóa đã thốt lên ngay từ buổi ban đầu của mọi thời gian.
Đây là quyền lợi gì? Cái tốt này là cái tốt gì?
Người ta muốn gọi nó là gì cũng được, tái hòa nhập, quay trở lại trạng thái cổ, sự chuyển hóa, sự giải thoát, ngôn từ khác nhau nhưng sự vật chỉ có một.
Người ta gọi nó là nirvana, là Átman, là sự tinh thần hóa, là phúc lạc. Thế nào cũng được. Luật đánh dấu con đường nâng lên sự sống Thượng Đế và tuyên bố. Trong tính chất của luật quan trọng nhất là con đường nâng lên cao một cách chung, đồng thời. Bởi vì với từng người mở ra đời sống chỉ là trường hợp ngoại lệ; sự chuyển hóa cá nhân là một ân sủng mà tinh thần Tạo Hóa luôn duy trì, nhưng chỉ như một khả năng, mà trong trường hợp sau cùng mới áp dụng đến.
Trong ý nghĩa của luật từng người không thể bước vào sự sống Thượng Đế. Chỉ cùng nhau, như một cộng đồng (gọi là) nhân dân, mang tính chất tập thể, hay dùng một từ khác: những con người tập hợp cùng nhau và đều đã được thanh tẩy cho trong sạch.
Luật là sự đánh dấu con đường quay trở lại trạng thái tinh thần cổ của sự sống. Bởi vậy tinh thần của Tạo Hóa ngay từ buổi ban đầu của mọi thời gian sau lời tuyên bố về ý nghĩa của sự sống đã nói: đây là sự sống, đây là ý nghĩa của sự sống, đây là con đường quay trở lại toàn bộ sự sống. Con đường này để thế giới một lần nữa là MỘT, là tinh thần, là Thượng Đế.
Luật tuyên bố sự tái hòa nhập, con đường tôn vinh giữa nhân dân. Bởi vậy không cần đến sự đe dọa, sự trừng phạt, hành hạ. Cái mà luật tuyên bố là của cải chung của nhân loại cũng đúng như của cải cá nhân của từng người. Nhưng từ sự tốt đẹp này không sản sinh ra sự thỏa mãn hoặc lợi nhuận hoặc quyền lực. Thứ duy nhất nảy sinh ra từ đấy: đời sống mở ra, kết hoa, yên bình và được tinh thần hóa.
Với lời của luật không dính chút gì vật chất, và thứ luật chỉ cần dính một hạt bụi duy nhất của thế gian vật chất thôi, đấy cũng không phải là luật, mà chỉ là một cử chỉ quyền lực. Luật không màng tới bất cứ thứ gì khác, chỉ: con người hãy quay trở lại với sự sống Thượng Đế, nhưng không phải từng cái Tôi khát khao vinh danh mà là con người vũ trụ, là nhân dân.
Luật không nói với con người mà nói với nhân dân: với nhân loại vũ trụ. Luật sẽ thánh hóa đời sống nhưng chỉ duy nhất một đời sống mang mục đích nâng lên cao đến sự sống Thượng Đế, sau đó tự bản thân nó chấp nhận đời sống đã thánh hóa này: hãy trôi đi tất cả, hãy cứ là sự hoang dã, vật chất, thiên nhiên, chiến lợi phẩm của các sức mạnh ma quỷ, hãy cứ bị phục vụ cho các bản năng, các dục vọng mờ mịt, cho lợi nhuận, cho đam mê. Đời sống này tự nó bỏ qua con đường mà tinh thần Tạo Hóa ngay từ buổi đầu tiên của mọi thời gian không ngoại trừ ai, đã nói cho biết.
Sự sống chỉ hợp luật bên trong, giới hạn của luật Dharma là một sự sống hợp luật. Cái gì ngoài dharma, ngoài lời tuyên ngôn, trong vật chất cũng có thể mang tính chất lợi nhuận, có thể làm thỏa mãn, có thể mang lại quyền lực, nhưng không hợp luật, phi luật. Phi luật bởi vì nó không có mục đích hợp luật.
Luật là lời tuyên bố nói về sự sống thần thánh. Có thể vi phạm, nhưng sự trừng phạt cũng không đến. Sự vi phạm trong thiên nhiên vật chất có trường hợp mang đến thành công: mang lại quyền lực, của cải, sự thỏa mãn - nhưng kẻ đã vi phạm luật, dù là con người, dù là dân chúng, dù bằng biện pháp cá nhân, dù làm chung nhau, nhưng đã tự loại mình ra khỏi sự sống thần thánh.
“Dân chúng - Zarathustra nói - những kẻ bỏ bê luật đã ủy nhiệm, đã bắt buộc, và lạm dụng điều ấy, những kẻ không theo và không kính trọng luật, là thứ dân chúng vô thần, chúng sẽ rơi xuống hàng nô lệ, đời sống của chúng sẽ hấp hối giữa bạo lực và sự sỉ nhục, và chúng không thoát khỏi hoàn cảnh ấy chừng nào chúng chưa rã rời, chưa quỳ gối và cầu nguyện vì người giải thoát cho chúng”.
Điều giờ đây đang vang lên: sziddhánta .
Sziddhánta có nghĩa rằng: TRÍ TUỆ CUỐI CÙNG.
(Viết từ tháng 8 năm 1943
đến tháng Giêng năm 1944.)
HẾT TẬP II.