Minh Triết Thiêng Liêng Tập 2

Lượt đọc: 226 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
V. Nhân dân
1.

Cái tư duy mang tính lịch sử đặc biệt người thời hiện đại gọi là khoa học là những nhân tố lớn của sự sống bằng trí tuệ của cái Tôi cá nhân, chứ không phải bằng trực giác trực tiếp của con người vũ trụ luôn nỗ lực nhận thức. Bởi sự khởi đầu lộn ngược, nên cần phải đi đến một kết quả cũng lộn ngược. Và thế là quan niệm cho rằng cội nguồn của sự sống ở bên dưới đã hình thành; và thế là cái tư tưởng: sự tiến bộ hoặc sự phát triển đi từ dưới lên trên đã hình thành.

Cũng đủ nếu con người suy nghĩ lại điều Saint-Martin nói về định luật hấp dẫn của Newton, một định luật đã trở nên giáo điều một cách không lay chuyển nổi của quan niệm về thiên nhiên trong thời hiện đại. Định luật hấp dẫn này nảy sinh từ một sự hiểu lệch cơ bản. Newton cho rằng các vật rơi xuống vì sức hút của trái đất. Saint-Martin trái lại cho rằng, lực mang tính chất cực: sức hấp dẫn của trái đất hoàn toàn song song với nỗ lực trở về trọng tâm của các vật. Hành động quay trở lại lực trọng tâm của trái đất trong rơi tự do cũng mang đúng đặc tính như sức hút của trọng tâm. Các vật không “rơi trở lại trái đất” từ sự thụ động thuần túy mà là một nỗ lực quay lại trọng tâm “từ sự chủ động của nó”.

Trong một thứ khoa học đi hầu hạ cho trí tuệ của cái Tôi cá nhân: khoa học xã hội, chứa chất đầy sự nhiễu loạn. Nhất cử nhất động trong đời sống cộng đồng đều tồn tại và có từ sự tương đồng chính xác của đời sống bên trong từng con người, bởi vì từng quá trình đều là sự phù hợp chính xác của thế giới tâm lí học. Và tất cả mọi hiện tượng chỉ có thể hiểu từ góc độ siêu hình học.

Khoa học trái lại, nhìn cộng đồng người như kết quả của một sự phát triển dài lâu (cái gọi là) đời sống là sự thu thập những yếu tố sau: lúc đầu là con người hoang dã cô đơn, tiếp đến là gia đình, từ nhiều gia đình bộ lạc hình thành, từ bộ lạc tiếp đến quốc gia, và cứ như thế tiếp tục cho đến khi trở thành một nhân loại hoàn toàn.

Như thể trong cấu tạo người đầu tiên xuất hiện các tế bào riêng biệt, sau đó tụ hợp thành tế bào nhóm, rồi người ta làm các nhóm phát triển, và trong một trật tự như thế nào đấy người ta sắp xếp thành một thực thể sống.

Truyền thống nhân loại cổ đã từng biết, tổ chức cộng đồng ngay từ giây phút xuất hiện đã không phải đi từ dưới lên, từ thiên nhiên vật chất, mà là từ bên trên, từ ý tưởng tạo hóa siêu việt, từ ý tưởng xuất phát, một cách toàn bộ, giống như trong thời gian là một tổ chức mở rộng nhất. Cộng đồng trong mọi khoảnh khắc là cộng đồng: Một trong sự đông đảo và sự đông đảo trong Một; đây là tổ chức sống, là cộng đồng, là tập thể cổ, là sự hiện thực hóa thiên nhiên vật chất: là nhân dân.

Nhân dân không thể định nghĩa được vì nó không phải là khái niệm. Nhân dân không do ngôn ngữ chung xác định: ngôn ngữ chung cũng do nhân dân tạo ra. Nhân dân không do số phận chung quyết định: số phận chung do nhân dân tạo ra. Nhân dân không do chủng loài xác định: chủng loài là dấu hiệu đời sống học của đời sống chung của nhân dân. Nhân dân không do chỗ ở chung xác định: chỗ ở chung là hệ quả cần thiết của đời sống nhân dân. Các nhân tố bên ngoài không làm nên nhân dân, bản thân nhân dân tự vượt lên những yếu tố bên ngoài và là điều kiện đầu tiên của những điều khác. Nhân dân là hình ảnh cổ của sự sống cộng đồng nguyên sơ. Nhân dân là tính chất tập thể cổ.

Một số người linh cảm một điều gì đấy từ thế giới cổ, nhất là những người dù chỉ trong những nỗ lực nhỏ, nhưng nhận biết về truyền thống, và đặc biệt, những người kiên quyết từ bỏ các định nghĩa khoa học thời hiện đại và tự tin với trực giác của họ ví dụ ở châu Âu có Böhme, Saint-Martin, Baader, hoặc gần đây nhất, trong nhiều lĩnh vực là Goldberg, họ nhìn thấy rất rõ, nhân dân không phải là kết quả của (cái gọi là) sự phát triển muộn mằn, mà chính là nhân tố đời sống đầu tiên.

Goldberg, dù bằng thuật ngữ khoa học đi chăng nữa, vẫn nhấn mạnh rằng nhân dân có nguồn gốc tâm linh, và trong đời sống nhân dân những nhân tố quan trọng nhất: ngôn ngữ, truyền thuyết, đạo đức, phong tục, đạo luật, ngoài con đường tâm linh ra không thể hiểu được bằng con đường khác.

“Sự sống của nhân dân không không giải thích nổi từ thiên nhiên vật chất, mà sự sống của nhân dân mâu thuẫn với tất cả những gì có từ thiên nhiên vật chất, hoặc xuất hiện từ đấy. Nhân dân không xuất hiện từ thiên nhiên mà đứng đối diện với thiên nhiên”.

Nhân dân là hình thức sự sống vũ trụ của cộng đồng: như có con người cá nhân và con người vũ trụ, có cộng đồng mang tính thiên nhiên và cộng đồng mang tính vũ trụ. Nhân dân mang tính chất vũ trụ siêu việt, hay nói cách khác là hình thức sự sống tinh thần. Sự sống của nhân dân luôn và trong mọi trường hợp, như Goldberg nói: bản chất của sự hoàn thành sẽ tăng dần đặc trưng cho nó.

Nhiều con người cùng nhau chưa phải là nhân dân; nhân dân chỉ là một cộng đồng thực sự trong đó sự hoạt động của con người biết nhân lên và thực chất có tăng lên. Nói theo ngôn ngữ siêu hình học và chính xác: nhân dân là một cộng đồng thật sự, ở đó sức sống của con người cá nhân tăng dần lên cùng nhiều người khác, bởi sự sống cộng đồng mang một cường độ lớn mà đời sống cá nhân không thể so bì: sáng sủa hơn, cao hơn, tinh thần hóa, mang tính cội nguồn cao.

Con người cá nhân không bao giờ biết và không thể biết tạo dựng ngôn ngữ, huyền thoại, nghệ thuật, đạo đức. Ngôn ngữ, huyền thoại, đạo đức là sáng tạo của nhân dân: là sự nở hoa và tỏa rạng ngời của cường độ sự sống chung. Chính điều này tách nhân dân ra khỏi một đống người trần trụi.

Sự đông đảo trần trụi-đám đông, nói lên sự suy thoái của sự sống cá nhân, còn nhân dân, một cộng đồng cổ có nguồn gốc tâm linh-tinh thần, là sự sống cá nhân của người đã tăng trưởng. Một kẻ sống trong đám đông trần trụi, nhận thức, cảm xúc, hoạt động, tri thức, giá trị tuyệt đối về đời sống của nó rơi xuống trạng thái mê muội chìm đắm. Nhưng kẻ sống trong nhân dân, về mặt nhận thức, cảm xúc, trong hoạt động, trong tri thức, trong giá trị tuyệt đối, đời sống của nó luôn được nâng lên trạng thái cao hơn.

Sự sống đã nâng cao này thể hiện ra thành ngôn ngữ, là tập quán, truyền thuyết, nhịp điệu sống, nghệ thuật, đạo đức. Còn đám đông chỉ là một sự đông đảo số lượng thuần túy, không phải là một cộng đồng thực chất: chỉ là một đống người tình cờ nói cùng một ngôn ngữ và sống cùng một nơi, có giới tính khác nhau và mang tính cụ thể. Cộng đồng thực sự là nhân dân do sức mạnh siêu việt tạo dựng và duy trì làm một, là sự thống nhất của các sinh linh cùng loài.

Rất có thể con người và khoa học thời lịch sử không có kinh nghiệm nhân dân, không có bởi đến thời lịch sử, nhân dân đã biến thành đám đông, và tính chất tâm linh của sự sống nhân dân đã chấm dứt. Bởi vậy không có và không thể có truyền thuyết mở; nhịp điệu sống trở thành cái bên ngoài, rồi trở thành sự phô trương; các ngôn ngữ không sâu sắc và không bao giờ được tinh thần hóa nữa, trái lại: ngôn ngữ nghèo nàn đi và khô cứng. Nhân dân bị phân hóa và mức độ cường độ của sự sống bị hạ thấp.

Cộng đồng biến thành đám đông, nơi đáng lẽ đời sống con người mở và nâng cao, lại bị khóa kín và chìm đắm xuống.

2.

Khái niệm về nhân dân thời cổ bắt đầu bị tan rã khi bước vào thời gian của lịch sử, rồi từ từ tan rã hoàn toàn và trở thành đám đông vật chất thuần túy, điều cần biết, là trong cộng đồng người, phi ngoại lệ, ai cũng là thành viên của nhân dân, trừ duy nhất một người: đó là vua.

Vua là người đánh xe, nhân dân là cái xe; vua là átman, còn nhân dân là thân thể; vua là linh hồn, nhân dân là thiên nhiên; vua là đàn ông, là dương, nhân dân là đàn bà, là âm. Vua là trời và tinh thần, nhân dân là đất và thiên nhiên.

Các thành viên của nhân dân là giáo chủ, quân nhân, kẻ cầm quyền, hiệp sĩ, quan tòa, thương gia, nông dân, công nhân, người hầu. Nhân dân là một cộng đồng giới tính người, là sự thống nhất nguyên sơ của trạng thái cùng chung sống.

Ba đẳng cấp nhân danh con số Ba, bởi vậy Ba cùng với nhau là toàn thể. Nhưng nhân dân là con số Bốn, bởi vậy nhân dân: là toàn diện. Bởi vậy các vương quốc cổ đều không phải là ba trật tự mà là bốn vương quốc bốn phương: Trung Quốc, Ấn Độ, Peru, Iran, và Ai Cập, bởi vì ngoài Bốn ra còn có sự toàn diện. Nhân dân là sự toàn diện của đời sống cộng đồng, là sự toàn diện của đẳng cấp, mà ông chủ, cái đầu, người chồng, người đánh xe chính là vua.

Vua và nhân dân là hai cực của sự sống, và cả hai cùng gắn bó với nhau. Không thể hình dung nổi thiếu bên này hay bên kia, như không thể hình dung nổi đàn ông thiếu đàn bà, bóng tối thiếu ánh sáng, trời thiếu đất. Vua là Một, đối diện với sự Đông Đảo; nhưng nhiều như nhân dân: Một do vua, kẻ tạo thành một. Bởi thế nhân dân mới thành sự toàn diện.

Trên ngưỡng cửa của thời lịch sử, khi nhân dân bị phá vỡ, vua cũng biến mất. Chế độ vua rơi vào tay brahman và chế độ vua biến thành sự thống trị; sau đó rơi vào tay ksatrija và biến thành quyền lực thuần túy. Khi dương đã hỏng thì âm cũng suy cùng nó.

Nhịp điệu sự sống giờ đây đứng lại: không còn dương dương âm âm nữa: chỉ một dương, một âm. Những điểm trọng tâm tắt, cường độ sự sống rơi xuống thấp: mức độ sự sống cần nâng cao của sự sống nhân dân chìm xuống, nhân loại biến thành một đống người bừa bãi. Trạng thái này Herakleitos gọi là polloi - sự đông đảo.

3.

“Thượng Đế có mặt hai lần trong tình bạn - sách thiêng Iran viết - ba lần trong nhóm; năm lần trong gia đình, chín lần giữa các anh chị em; mười lần giữa cha và con trai, và một trăm lần trong quốc gia, một vạn lần trong nhân dân” .

Cái gì là nhân dân, không thể nói một cách chính xác. Nhân dân không phải là sự hiện diện một lần của Thượng Đế, như cái Tôi cá nhân, không phải hai lần, như tình bạn, không phải mười lần như mối quan hệ giữa cha và con trai, không phải một trăm lần như mối quan hệ của những người sống trong một quốc gia. Nhân dân là sự hiện diện vạn lần của Thượng Đế.

Trong dhaja - quốc gia chỉ một trăm lần, nhưng trong daéna một vạn lần. Nhân dân là sự hiện diện vạn lần của Thượng Đế, hay sự hiện diện vạn lần của nhân loại trong Thượng Đế. Bởi vì với điều này, khi tôi sống trong nhân dân, trong sự sống Thượng Đế không chỉ tôi hiện diện và đại diện cho chính tôi, mà sự sống Thượng Đế còn hiện diện và đại diện cho mọi sinh linh, những kẻ cùng tôi sống trong nhân dân, và tôi đại diện và hiện diện cho tất cả những ai cùng sống với tôi trong nhân dân. Đây là điều đầu tiên: nhân dân là sự linh thiêng và là cộng đồng một vạn lần linh thiêng.

Điều thứ hai: con người không hiểu về cả số phận riêng của mình, không thấy cả sự sống riêng của mình, nhưng dù đờ đẫn và mê muội thế nào đi chăng nữa, con người nhất thiết và luôn biết rằng cái Tôi thật của nó mang khuôn mặt Thượng Đế. Con người không bao giờ có thể bị chìm đắm sâu đến nỗi không thể cứu vớt, sự tỉnh táo của nó chưa bao giờ tối tăm đến nỗi nó không cảm thấy sự hiện diện của sinh linh Thượng Đế trong chính bản thân nó.

Bởi vậy hình ảnh tạo dựng về Thượng Đế, như Thượng Đế cá nhân, linh hồn bất tử, sinh linh vĩnh hằng, như átman ngự trị trong con người, hoặc như purusa hoặc linh hồn hoặc cái Tôi tinh thần vẫn liên tục được hình thành trong quá trình lịch sử. Trong thời cổ trái lại, người ta đã từng nhận biết ngay lập tức Thượng Đế sống trong cái Tôi tinh thần của con người, Thượng Đế chỉ có một khuôn mặt giữa nhiều khuôn mặt, và khuôn mặt thứ hai là Thượng Đế sống trong cộng đồng. Một trong nhiều, và nhiều trong một, như một vạn sinh linh cùng nhau, trong duy nhất một khuôn mặt.

Sao lại có thể - Baader hỏi - Thượng Đế trong một cái Tôi cũng sống đúng như Thượng Đế trong một cộng đồng? Đúng, sao lại có thể: Thượng Đế như sự đông đảo của cộng đồng và cũng đúng như Thượng Đế của một cái Tôi?

Có vẻ như Thượng Đế là một cá nhân duy nhất và đồng thời là sự đông đảo vô tận, cái này cũng đúng như cái kia. Đây là sự đông đảo vô tận, nơi Thượng Đế có thật và sống thật sự, và sự thể hiện khuôn mặt Thượng Đế của sự đông đảo cũng đúng như của duy nhất một con người. Và, sự đông đảo này mang tính chất cộng đồng thực chất: nhân dân.

Bởi vậy trong cộng đồn g - daéna, Thượng Đế hiện diện một vạn lần, có điều này bởi vì nhân dân là sự thể hiện bản chất nâng cao của sự sống, nhân dân là sự sống ngày càng nâng cao so với đời sống của một cá nhân người, nhân dân là cộng đồng linh thiêng, bởi nhân dân là khuôn mặt và sự hiện diện của Thượng Đế, nhưng so với khuôn mặt được hiện diện trong cái Tôi cá nhân, khuôn mặt này có cường độ và sự đích thực không gì so sánh nổi.

Đây cũng là ý nghĩa của mối quan hệ giữa vua và nhân dân. Cả hai sự sống này đều linh thiêng, như sự thể hiện đúp của khuôn mặt Thượng Đế: vua là MỘT - nhân dân là Vạn, là nhiều. Con người cổ biết rằng MỘT là con số lớn nhất, lớn đến nỗi là cái nhiều vô tận, là cái nhiều không thể đếm nổi, là cái nhiều nhất mà bên cạnh nó không có gì nhiều hơn.

Cái nhiều nhất này bằng MỘT: cái vô tận cũng đúng bằng MỘT, bởi cả hai cái đều là cái lớn nhất. Trong khuôn mặt của sự sống vua và trong khuôn mặt của sự sống nhân dân hai khuôn mặt lớn nhất của Thượng Đế được thể hiện.

Điều thứ ba như sau: sự sống tồn tại trong daéna -cộng đồng, không chỉ có nghĩa là khuôn mặt Thượng Đế, là epiphania -Thượng Đế, là vạn lần sự hiện diện Thượng Đế, hay là cộng đồng linh thiêng, mà còn có nghĩa là trên thế gian ngoài vua ra trật tự hợp luật duy nhất dành cho con người là sự sống trong nhân dân, bởi vì nhân dân không là gì khác ngoài bản sao trần thế của cộng đồng trời.

Đây là cộng đồng trời, mà sau này tiếng Hi Lạp gọi là ekkleszia, là cộng đồng của những người đã được chọn lựa, là bản sao trung thành và chính xác của cộng đồng tinh thần, của cộng đồng vĩnh cửu của các linh hồn, của sự hợp nhất từ vĩnh hằng.

Nilus trần thế phù hợp với Nilus trời, Gangesz trần thế phù hợp với Gangesz trời, như đất cũng là đất của trời, biển cũng là biển của trời, bởi vì tất cả những gì hiện hình trong thiên nhiên vật chất đều có hình dạng đúp, hình elip tinh thần, có tương đồng mang tính chất trời, như nhân dân trần thế với nhân dân trời, cộng đồng thiêng của trời.

Sự khác biệt chỉ là: đất, biển, sông, núi, quốc gia, sự phù hợp, mang tính chất trời, còn hình ảnh cổ, ý tưởng - đều chỉ là sự thể hiện. Nhân dân không phải là sự thể hiện, không là lời tuyên bố, mà bản thân nhân dân là Thượng Đế, là khuôn mặt, sự sống, bản chất Thượng Đế, như nhà vua: chỉ có điều, đây không là khuôn mặt của MỘT mà là của NHIỀU, không là dương mà là âm, và sau rốt không là vua mà là: nhân dân.

4.

Tất nhiên khi nói nhân dân là âm, một nguyên tố tối, người đàn bà, đất, thụ động, không chỉ có nghĩa đây là một ẩn dụ thuần túy có thể nói lên điều gì, đây chỉ là sự so sánh hoặc thoạt trông ta cứ tưởng như vậy. Nhân loại cổ cho rằng nhân dân là đất, bởi vì có sự phù hợp giữa thiên nhiên vật chất và nhân dân, nghĩa là có sự tương đồng. Sự tương đồng này không nằm trên bề ngoài giống nhau, mà nằm ở nhân tố, là có cùng sự thể hiện tương đồng trong các vòng khác nhau của sự sống một hiện thực tinh thần.

Giữa các thể hiện-lời tuyên bố, ý tưởng như nhau, trong mọi trường hợp đều có một sự phù hợp theo quy luật. Con người cổ không tư duy bất cứ cái gì một cách bên ngoài, bởi vì con người cổ nhìn tất cả theo phương pháp siêu hình học, tỉnh táo.

Truyền thống dạy con người cổ rằng: để hiểu được hiện thực chỉ meta ta phüszika, chỉ với một mức độ vượt quá thiên nhiên mới có thể hiểu được. Chính vì vậy, khi trong thời cổ người ta nhìn thấy sự tương đồng giữa đất và nhân dân, nhân dân và âm, nhân dân và người đàn bà, nhận ra tương đồng giữa nguyên tố phi hình thức nhưng là nguyên tố hình thức hóa, người ta nhận ra rằng, nhân dân phù hợp với thiên nhiên vật chất.

Nhân dân là cái giường của đẳng cấp: trong nhân dân trật tự các giá trị thế gian được thể hiện, và nhân dân mang trong nó sự phù hợp của sự sống người với trật tự của các giá trị. Nhân dân duy trì trong nó các đẳng cấp: tinh thần, hoạt động và các chất lượng sinh sản - duy trì ba guna: szattva, radzsasz, tamasz. Nhân dân tiếp nhận trong nó trật tự của thống trị tinh thần, nhân dân chấp nhận quyền lực của trật tự hoạt động, và nhân dân sống trong sự sinh sôi của thiên nhiên.

Nhân dân là khả năng của sự sống người, là nơi và trong đó các giá trị có thể tiếp tục tồn tại và thực hiện, có thể cầm quyền và cai trị, tăng trưởng và phì nhiêu. Nhân dân là bốn asrama, là chốn hoàn thành bốn giai đoạn của đời sống: người học trò brahman, người chủ gia đình, người tu hành trong rừng và của đời sống người hành hương. Trong nhân dân thể hiện con số Mười lớn, mười amsaszpan và mười szefiroth.

Trong nhân loại cổ các bộ lạc phù hợp với con số mười, hoặc bảy, hoặc bốn, nhưng không phải là sự hợp nhất từ mười, hoặc bảy hoặc bốn các nhóm người khác nhau về giới của các bộ lạc khác nhau, mà bởi vì trong đời sống nhân dân đẳng cấp vũ trụ cần thiết phải thể hiện, để tương đồng có thể sống với các giá trị thế gian.

Ở Peru và Ai Cập các con số Ba và Mười ngự trị. Ở Peru sự duy trì đẳng cấp Mười quan trọng đến nỗi một kẻ duy nhất cũng không được bước qua các mức độ của Ajlu-cộng đồng Mười: nếu ở Ajlu đứa trẻ thứ một trăm sinh ra, người ta lập tức chuyển một ai đấy sang Ajlu khác.

Ở Babilon, Kaldea, Palesztin đẳng cấp Mười Hai ngự trị: bởi vậy ở Judea từng có mười hai bộ lạc và phù hợp với mỗi bộ lạc là một con vật trong vòng động vật vũ trụ. Giữa các con vật mang tính chất lửa bộ lạc Juda phù hợp với Leo, bộ lạc Iszakar với con Aries, Zebulon với Sagittarius; đá của Juda là rubi, của Iszakar là hoàng ngọc (topaz) của Zebulon là ngọc lục bảo (smaragd); tinh tú của Juda là Mặt Trời, của Iszakar là Sao Hỏa, của Zebulon là Jupiter.

Các bộ lạc mang tính chất không khí: Efraim là Gemini, Mansze là Libra, Bejnamin là Aquarius. Động thực vật, nghề nghiệp, trang phục của mọi bộ lạc đều phù hợp với đất thiên nhiên, sự hoạt động, nhiệm vụ. Trật tự như vậy cũng tồn tại trên nền tảng tương đồng khác ở Ấn Độ, Trung Quốc, Tây Tạng và Mexico.

5.

Nếu ở ranh giới của thời gian cổ và thời kì lịch sử sự tan rã của nhân dân là một hiện tượng tự thân, điều đó nói lên rằng đây là một tai họa lớn nhất chạm tới nhân loại trong đời sống thế gian. Nhưng sự tan rã không diễn ra chỉ một mình, thậm chí không một khu vực nào của sự sống người mà tai họa, theo đúng nghĩa đen rơi xuống không cùng một mức độ, một cách khác nhau.

Cùng với sự tan rã của nhân dân, trong cùng một thời gian, xảy ra sự chấn động đẳng cấp vĩnh cửu của nhân loại, xung đột của các đẳng cấp bắt đầu; Chấn động xảy ra - như Khổng tử nói - vua không ra vua, người hầu không ra người hầu, cha không ra cha, con không ra con.

Vua không bao giờ còn là vua nữa bởi vì siêu hình học duy nhất cổ xưa của nhân loại cổ đã mờ nhạt dần và bắt đầu xuất hiện thứ (gọi là) triết học cá nhân; cùng lúc trong sự sống người, sự tỉnh táo của cái Tôi tinh thần ngày càng đờ đẫn dần, và ý thức cảm tính mê muội của cái Tôi vật chất trở nên thống trị.

Ý thức về nguồn gốc Thượng Đế mau chóng biến mất; sự nhập định biến thành cái bên ngoài trần trụi, sau đó trong những cái bên ngoài nó cũng chỉ còn là những hội nhóm bí mật ẩn náu. Những hội nhóm này bắt đầu bị các quyền lực cầm quyền, quyền lực cai trị, kinh tế và phục vụ xua đuổi. Khái niệm phi thời gian từ đời sống nhân loại sau một vài thế hệ đã hoàn toàn bị đánh mất, thay thế vào đó là ý thức lịch sử - một sự bức bối liên tục.

Con người không hiểu biết bao nhiêu về sự nhất quán và các mối liên quan khăng khít, bởi vậy về một hiện tượng duy nhất con người cũng không hiểu nổi. Khi chỉ nói về sự tan vỡ của nhân dân, biết bao nhân tố ẩn náu trong đó cùng xuất hiện: bên cạnh cộng đồng là khái niệm siêu hình học, hệ thống phân cấp, linh hồn, sự tỉnh táo và đẳng cấp.

Sự sống của nhân dân dành cho cộng đồng người một khả năng để ngôn ngữ của họ trở nên sâu sắc và cơ bản, để họ có nhịp độ sống, có truyền thuyết, có vua, có trật tự đời sống phân cấp và có đạo luật. Sự sống của nhân dân luôn tạo ra điều kiện bởi vì nhân dân là epiphania của tinh thần Thượng Đế trong cộng đồng người: là duy nhất có thể, và vì vậy nhân dân là hình thức sự sống hợp luật duy nhất của cộng đồng.

Sự sống của nhân dân tạo khả năng để đời sống con người cá nhân tăng trưởng lên dần và tiếp xúc được với hiện thực siêu việt. Nhưng - ở đây tiếp theo một quá trình đã xác định - sự sống của nhân dân cũng tạo khả năng cho một điều khác nữa. Trong sự sống nâng cao, tích cực, là sự hiện diện vạn lần của tinh thần Thượng Đế, con người không sống trong thiên nhiên vật chất - không chìm đắm vào vật chất, mù quáng, hầu hạ cho các sức mạnh vật chất, mà đứng trên vật chất: bay lơ lửng bên trên thiên nhiên, như ngay từ đầu đã là ông chủ của thiên nhiên.

Và điều quan trọng nhất trong toàn bộ: trong sự sống người các sức mạnh thiên nhiên trở thành kẻ hầu cho con người. Các sức mạnh vật chất trong sự sống này tan ra và yếu đi, và quyền lực đen tối nguy hiểm của chúng cũng bị mất trước con người.

Nhân dân không xuất hiện từ thiên nhiên mà đứng đối diện với thiên nhiên. Nhân dân không từ dưới phát triển lên mà bay từ trên xuống. Sự phù hợp với đặc tính người không có: sự phù hợp của nó là daéna- cộng đồng trời, là sự hợp nhất vĩnh cửu của những kẻ đã được chọn lựa.

Bởi vậy nhân dân không đến từ thiên nhiên và không có trong thiên nhiên, mà từ thế giới tinh thần xuống và chống lại thiên nhiên, chế ngự thiên nhiên và hãm phanh thiên nhiên.

Tác động, sức mạnh và hiệu lực của các định luật thiên nhiên vật chất không mang tính chất thường xuyên và tuyệt đối, ngay từ đầu đã chỉ là một dạng hình và không thể thay đổi, luôn phụ thuộc vào mức độ, giới hạn vật chất hóa của con người.

Có thể hình dung ra một trạng thái của sự sống người, trong đó duy nhất chỉ có các định luật của vật chất ngự trị, và ngoài chúng ra không còn bất cứ tác động của cái nào khác. Cuối thời kì đen tối nhân loại đã đến gần trạng thái này, và gần như sắp đạt tới.

Nhưng không được phép đo lường đời sống cổ bằng các mức độ này. Trong thời gian trước lịch sử cái gọi là quyền lực của các định luật thiên nhiên vật chất trên đầu con người nhỏ bé một cách vô tỉ lệ, và càng nói về các thời kì xa hơn quyền lực này càng nhỏ hơn, quay lại thời kì bắt đầu thì nó hoàn toàn biến mất.

Tác động của các định luật thế gian vật chất và tinh thần phụ thuộc ở chỗ con người không riêng biệt mà đặt toàn bộ sự sống nhân loại vào những Quyền Lực nào và ở mức độ nào, và phục vụ cho những Thế Lực nào.

Trong thời gian cổ những người lãnh đạo nhân dân, nhất là vua đều nhận thức ra trật tự của sự tiến hóa và họ đều biết nhiệm vụ đầu tiên của người lãnh đạo, hay người đánh xe là đặt đời sống người phụ thuộc vào các Quyền lực vũ trụ của thế giới tinh thần chứ không phải vào thiên nhiên vật chất.

Brahman, trật tự tinh thần đã làm điều này, nhưng trước hết là cái đầu của hệ thống phân cấp, nhà vua. Vua là người dâng tặng đời sống người cho thế giới tinh thần, hiến dâng và phục vụ, nhất là do vua, bản sao phân cấp của thế giới tinh thần được duy trì trong đời sống người và sự thống trị vô điều kiện của các giá trị thế gian được chăm chút.

Nhân dân là cộng đồng người, mà trong sự sống của nó các định luật thiên nhiên vật chất tan ra và các sức mạnh vật chất bị phá vỡ trong bầu khí quyển của sự thống trị tinh thần. Nhân dân trong đời sống cộng đồng là một vòng tròn linh thiêng, sức mạnh vật chất vô thần, thấp kém không thể bước vào vòng tròn thiêng này.

Nhưng nếu sức mạnh vật chất ấy vẫn có thể bước vào vòng tròn thiêng này, đấy là tội lỗi của nhân dân, họ đã rơi vào tội vật chất hóa, bởi vậy họ cần phải chuộc lỗi. Về tội lỗi tập thể này - kể cả khi con người lịch sử không hề linh cảm rằng hành động tội lỗi tập thể này nghĩa là gì - các cuốn sách thiêng khác nhau đã nói rất nhiều.

Ý nghĩa của tội lỗi tập thể này: nhân dân đã vi phạm đạo luật của sự thống trị tinh thần, làm tổn thương hệ thống phân cấp, dẫn đến sự phản bội và không chung thủy với tinh thần Thượng Đế. Hậu quả của tội lỗi này ngay lập tức xuất hiện trong việc, từ các vòng của nhân dân các sức mạnh tinh thần đã rút đi, và cộng đồng - trong mức độ của tội lỗi - nằm dưới quyền lực của các sức mạnh vật chất ma quỷ độc ác, tàn bạo, phi tinh thần, hoang dại.

Và sự trừng phạt nhân dân không chung thủy với Thượng Đế xuất hiện như sau: nhu cầu, sự tấn công, dịch bệnh, hạn hán, những thứ có thể chấm dứt nếu nhân dân cùng vua một lần nữa dâng hiến và chuộc lỗi.

Cần phục hồi hệ thống phân cấp tinh thần, bởi nếu không làm điều này, tác động của các sức mạnh vật chất ngày càng lớn, ngày càng mạnh, và nhân dân ngày càng hoang dã, trở thành con mồi cho những sức mạnh theo nhu cầu một cách không thương xót.

Tri thức này ở Ai Cập, Babilon, Kaldea, Judea, Trung Quốc, Mexico, Peru, Ấn Độ nằm trong sở hữu của những người canh giữ truyền thống, và lần cuối cùng, trước ngưỡng cửa thời lịch sử ở Hi Lạp xuất hiện với Pythagoras.

Pythagoras là con người cổ cuối cùng muốn trả lại vị trí của trật tự linh thiêng cứu nhân dân khỏi sự tan rã. Ông biết đây là con đường duy nhất có thể: các sức mạnh thiên nhiên vật chất dần dần bị mất hiệu lực, nếu có tác động của các sức mạnh của thế giới tinh thần và các sức mạnh tinh thần ngày càng được bảo đảm, ngày càng lớn hơn.

Thí nghiệm của Empedokles cũng mong muốn đạt được điều này, và đã thất bại, nhân dân đã nằm dưới quyền lực của các sức mạnh thiên nhiên. Còn ở Platon, tri thức này rất có thể đến linh cảm cũng chưa hề xảy ra.

6.

Ở ranh giới của thời lịch sử những chủ thể thần thánh cuối cùng của nhân loại cổ, khi từ Trung Quốc đến Hi Lạp người ta nói về sự cứu vớt cộng đồng và sự khôi phục nó, các chủ thể này đã nhìn rõ, trong nhân loại các sức mạnh vật chất ngày càng trở nên có quyền lực hơn, và các sức mạnh tinh thần ngày càng bị vô hiệu hóa.

Và bởi vì họ nhìn thấy cái gì đang xảy ra, nên họ biết, sức mạnh mù quáng của vật chất do tội lỗi tập thể của nhân dân gây ra. Những sức mạnh đen tối đã xông vào vòng linh thiêng, những sức mạnh mà đáng lẽ nếu dân chúng sống trong trật tự của các giá trị tinh thần, chúng đã tự bất lực rơi rụng xuống.

Khả năng tấn công của các sức mạnh mù quáng chưa bao giờ từng xảy ra trong một sự sống tích cực nâng cao, và nếu như trên một vài bình diện mở của nó một sức mạnh đen tối nào đó đột nhập, sức mạnh của sự sống thần thánh đã xua đuổi chúng đi ngay.

Giờ đây có vẻ như toàn bộ dân chúng ngày càng trở nên không có mái che: chỉ trong một khoảng thời gian ngắn họ đã đánh mất cường độ sự sống của họ nhanh đến mức không thể chống đỡ được nữa. Và điều khủng khiếp hơn đã xảy ra: tai họa của cộng đồng xảy ra song song cùng sự lu mờ dần tính chất tỉnh táo của mỗi con người.

Bởi vì cái xảy ra trong cộng đồng, chỉ là một nửa của sự vật, còn nửa kia xảy ra trong con người. Cái bên ngoài có luôn song song với cái bên trong. Cái gì có ở trên - Hermes Trismegistos nói - cũng giống hệt cái có ở dưới.

Trong con người sự tỉnh táo bắt đầu bị thay thế bởi sự đờ đẫn mê ngủ. Trong cộng đồng, nhân dân bắt đầu biến thành đám đông. Trong toàn bộ nhân loại sự sống tích cực bắt đầu bị đời sống suy thoái thay thế, sự sống mở bị đời sống khóa kín thay thế.

Đám đông mê muội bắt đầu sống một đời sống bị khóa kín và suy thoái, quyền lực của các sức mạnh vật chất trong một khoảng thời gian ngắn nhân lên rất nhanh. Những sức mạnh trước đó không ai cần để ý tới, bỗng nhiên xuất hiện, và bắt đầu chinh phục những lĩnh vực đời sống ở mức độ ngày càng lớn.

Sự tăm tối lan truyền với tốc độ khủng khiếp, sự hoang dại lớn dần, và nhân loại trong một vài năm cũng quên hẳn các công cụ chống đỡ, thậm chí họ không hề nhận ra các vị cứu tinh trong sự mê muội mù lòa, mà bắt đầu xua đuổi các vị cứu tinh này.

Quyền lực của vật chất bắt đầu cai trị lên đầu con người như thế đó, cái (gọi là) sự ưu tiên của các định luật vật lí trên các định luật tinh thần, quyền lực của vật chất trên con người: ăn, mặc, canh tác, thời tiết, nguồn gốc ý nghĩa quyết định của các quá trình vật lí và hóa học đều nằm ở đây.

Tội lỗi của dân chúng là không bao giờ còn duy trì lĩnh vực thần thiêng trong sự sống nữa. Các sức mạnh đen tối xâm nhập và tiêu diệt dân chúng. Cường độ tích cực của sự sống bị đánh mất, và cộng đồng tan vỡ. Nhân loại không còn có thể trở thành nhân dân nữa mà biến thành một đống rời rạc của các thực thể giới tính khác nhau. Đống người này là: đám đông.

Nỗ lực sức mạnh cuối cùng của con người cổ không ở dân tộc nào kiên cường bằng ở Iran. Zarathustra là cá nhân thần thánh cổ bằng toàn bộ tri thức và sức mạnh siêu việt thêm một lần nữa thử lay động dân chúng. Zarathustra biết rằng, nếu nhân loại tự thần phục vụ cho các sức mạnh thiên nhiên vật chất, và cho phép quyền lực của các sức mạnh ấy tung hoành trên đầu con người, quá trình này sẽ không bao giờ ngăn chặn lại được nữa.

Nhân loại sẽ hoàn toàn biến thành thiên nhiên vật chất, đời sống của nó sẽ trở thành một hiện tượng sinh học, ý nghĩa của nó trở thành sự thực hành mang tính động vật trong toàn bộ, bản năng của nó trở nên thú tính, trên sự sống của nó những định luật vật lí và hóa học ngu xuẩn trần trụi quyết định, và một điều quan trọng nhất sẽ thành sự thực: bản thân cộng đồng tự nó sẽ ngày càng đến gần hơn đám đông phi tinh thần, vô nghĩa, trước hết nó trở thành thô thiển, nguyên thủy, dã man, người rừng, sau đó trên con đường thoái hóa trở lại nó bắt đầu cởi bỏ dạng hình vẫn còn là hình người, và ngày càng trở nên đen tối, méo mó trở lại, ngày càng máy móc hóa, đờ đẫn hơn, lười biếng hơn, đến chừng nó sẽ rơi xuống thấp hơn cả vòng của những con vật cao quý hơn.

Trong truyền thống Iran con kiến luôn có một ý nghĩa đặc biệt: con kiến là hình ảnh của cộng đồng buổi ban đầu, là nhân dân mang tính người, mang tính thần thánh, cao cả, nhưng rồi dân chúng phạm tội, và không hoàn tội. Thế là nhân dân cần phải trở thành đám đông, cần tan rã thành một bầy vô nghĩa.

Quyền lực của các sức mạnh vật chất ngày càng lớn, luôn bất lực nhường chỗ cho những thế lực ngày càng đui mù, thấp kém, và tầm quyết định của nó cũng ngày càng lớn. Dân chúng từ từ rời bỏ dạng hình con người, và trở thành sâu bọ. Nếu kẻ nào trong đời sống cá nhân xa dần sự tỉnh táo và ngày càng mê muội, sẽ đến với sự tăm tối bên ngoài: từ trọng tâm đi ra ngoài ngoại vi (periféria) và ngày càng trở nên ngoại vi hơn.

Hình thức sự sống ngoại vi nhất, biểu tượng động vật của bóng tối bên ngoài là con rắn, con vật bò dưới đất. Ở Iran người ta biết, con rắn là sự sống người bị thoái hóa trở lại - một sự sống người đã hoàn toàn đánh mất trọng tâm của nó, và trở thành khu vực thuần túy, thành cái bên ngoài thuần túy, thành sự tăm tối bên ngoài thuần túy.

Bởi vậy con rắn không có cánh, chẳng có chân, hình dạng của nó chẳng khác gì một khu vực không có trọng tâm. Nếu con người thoái hóa trở lại một cách tập thể, và trong cộng đồng bước ra khỏi vòng sự sống người, nó cần trở thành sâu bọ, ồn ào, thụ động, hớt hải, thành con kiến rô bốt.

Sự sống bị thu hẹp, ngày càng tăm tối, đơn điệu sẽ ngày càng thoái hóa trở lại. Con kiến không có số phận, sự sống, không biết gì về các vòng thần thánh, không nhận biết Thượng Đế, chẳng tinh thần, chẳng sự giải thoát, chẳng sự nở hoa của đời sống, chẳng niềm vui, chẳng cái Đẹp, chỉ một sự hớt hải đơn điệu, một nghĩa vụ vô nghĩa, một công việc thụ động trong hình thức đơn điệu xám xịt tuyệt vọng.

« Lùi
Tiến »