Trong thời kì lịch sử muộn mằn sau này con người có xu hướng lập luận rằng tất cả những gì là ngôn ngữ hình đều chỉ là đồ trang trí, không liên quan đến bản chất của ngôn ngữ, và cho dù đẹp đi chăng nữa, nhưng trong một quan niệm nhất định, thừa. Bởi vậy người ta coi hình của ngôn ngữ là sự so sánh trắng trợn, là hoa, là đồ chơi, là sự vớ vẩn. Bởi vậy ngôn ngữ thi ca trở thành thứ yếu so với ngôn ngữ tri thức và ngôn ngữ đại chúng.
Con người trong thời lịch sử không biết rằng cái ngày nay gọi là thi phẩm trong thời cổ của con người, và trong hình thái cội nguồn cổ của nó là lời tuyên bố tự nhiên: là lời tuyên bố mạnh mẽ của sự sống cổ siêu việt; chính vì vậy ngôn ngữ thi ca so với ngôn ngữ tri thức và ngôn ngữ đời thường hiện tại không những chân chính hơn, tiên phong hơn, mà còn đúng và hoàn hảo hơn.
Như người ta nói: thi phẩm là tiếng mẹ đẻ của nhân loại. Nhưng cũng như người ta chỉ cho câu nói này là đẹp chứ không thực tế, chỉ là hình ảnh chứ không là bản chất, đã nói lên sự ngờ vực và ấu trĩ hoàn toàn của con người thời lịch sử đối với ngôn ngữ cổ, và ngôn ngữ thi ca bị cho là giả dối, đẹp hóa một cách trái tự nhiên, lộ liễu, phô trương, và trong mọi trường hợp đều bị coi là quá trớn, bởi người ta không hiểu về một sự sống mãnh liệt, mà điều này tự nó đã là một lời tuyên bố.
Có thể nêu ra cả đống ví dụ nói về những hình ảnh đã mất sức sống nhưng vẫn lưu lại trong ngôn ngữ thời lịch sử là những hình tượng gì trong thời cổ, không như ngày nay người ta nói: những bản chất chứa đựng ý nghĩa, mà là: những ý nghĩa trực tiếp, ý nghĩa chỉ là phần phụ xuất phát từ đấy. Bởi vì cái người ta gọi là ý nghĩa trong ngôn ngữ, không bao giờ trực tiếp. Cái trực tiếp là ý tưởng, là một cái gì đó vĩnh cửu mà ngôn ngữ tiếp xúc với nó và nói lên.
Bằng cách này có thể nói, theo ngôn ngữ cổ, từ “thanh gươm” cùng bản chất với ánh sáng siêu việt, có hai mặt, có đầu nhọn và có sự nguy hiểm của nó, để tấn công và bảo vệ, là một công cụ tích cực tuyệt đối, là công cụ của sự cai trị, là chủ nhân của đời sống và cái chết. Nhưng thật là giả dối, nếu kẻ nào coi đây chỉ nói về sự tượng trưng tính chất. Mối quan hệ giữa thanh gươm và từ ngữ không mang tính tượng trưng, hay đúng hơn, ý nghĩa không bao hàm mà là ý nghĩa trực tiếp.
Cái roi da chỉ có nghĩa là bằng sự quất của đạo luật, kỉ luật, quy tắc, chúng ta được bảo vệ - Herakleitos tuyên bố. Còn: cái đinh là sự chung thủy, kính râm là ảo ảnh, thánh giá là ánh sáng, vòng tròn là sự hoàn hảo, bàn tay là hòa bình, là tình huynh đệ và tình thương yêu, ngôi sao là linh hồn được tôn vinh, vàng là sự thông thái, bạc là tri thức, màu xanh dương là sự thật, màu xanh non là tuổi trẻ vĩnh cửu, màu đỏ thắm là tình yêu thương. Ý nghĩa trực tiếp như vậy cũng có với các màu sắc, với tứ chi con người, với các con vật, các cây cỏ, các loài hoa, các dụng cụ trong gia đình.
Con người lịch sử tưởng ý nghĩa trực tiếp này là thứ yếu, là nhân tạo, ra đời muộn mằn và mang tính chất thi ca, họ biết đâu rằng đây mới là điều đầu tiên, tất nhiên, mang tính cổ xưa và trực tiếp. Toàn bộ sự hiểu biết về con người thời cổ, nhân loại cổ, và toàn bộ thời cổ dựa trên sự thấu hiểu ngôn ngữ hình này.
Nếu ai chỉ nhìn thấy trong các hình ảnh văn bản cổ sự khuếch trương thi ca, tô vẽ thừa vớ vẩn, kẻ đó không phương cứu chữa. Kẻ đó sẽ không hiểu, không biết tiếp cận cũng không hề biết cách hiểu về con người thời cổ. Còn kẻ cho rằng thứ ngôn ngữ trừu tượng và khô khan của thời lịch sử hoàn hảo hơn ngôn ngữ hình, và cần phải loại bỏ ngôn ngữ hình khỏi ngôn ngữ người ngày nay, kẻ đó chỉ nhìn thấy một tình huống ngược, và chính vì thế không hiểu nổi ở đây cái gì là cái quyết định.
2.
Bằng một vài từ và vài phác thảo, vì không cần phải giải thích nhiều hơn, ta cần đánh dấu những bến đỗ của ngôn ngữ từ thời cổ cho đến thời lịch sử như sau:
1. Ngôn ngữ cổ
2. Ngôn ngữ-ý tưởng
3. Ngôn ngữ biểu tượng
4. Ngôn ngữ huyền bí
5. Ngôn ngữ thi ca
6. Ngôn ngữ dân gian (ngôn ngữ đại chúng)
7. Ngôn ngữ trừu tượng (khái niệm)
Từng bến đỗ ngôn ngữ trùng với sự chín muồi siêu hình học của con người, với bản chất tinh thần phổ quát của nó, sau cùng và trong kết quả cuối cùng của nó là cùng với các mức độ nhập định.
Ngôn ngữ khái niệm mang tính trừu tượng. Các từ ngữ không liên quan đến hiện thực, mà nằm trong mối quan hệ với thế giới của cái trí, được tạo dựng một cách nhân tạo. Khái niệm không có nội dung của nó, chỉ đi theo cái trí của nó: rút ngắn, mô phỏng, công thức hóa, và mối quan hệ của nó với sự vật không phải là hiện thực mà dựa trên sự thỏa thuận.
Phần lớn các từ ngữ trong triết học, khoa học và văn bản nhà nước của thời lịch sử là khái niệm. Khái niệm đã đánh mất ý nghĩa thực chất của nó: bên trong trống rỗng. Đây là Lời đã máy móc hóa, phù hợp với sự thực hiện các hành động trên bề mặt của sự sống, và với tính chất phi nội dung của nó có thể sử dụng rất hữu hiệu, nhưng như một cái máy, nó trống rỗng và phi bản chất.
Ngôn ngữ dân gian là ngôn ngữ đại chúng, nhất là ngôn ngữ thi ca dân gian, cổ tích, không đồng đều, không cân bằng: trong một số khía cạnh thì giàu có, trong một số khía cạnh khác lại nghèo nàn, nhưng tầm vóc của nó đặc biệt thấp, và so với ngôn ngữ phổ quát đôi khi mang khoảng cách rất xa, giống như ngôn ngữ khái niệm, bởi vì nó dễ dàng tiếp thu các khía cạnh cá nhân, các từ ngữ địa phương, thiểu số, dễ dàng bị pha trộn, dễ dàng bị thui chột, khiếm khuyết và hủy hoại.
Ngôn ngữ thi ca là mức độ sống động của ngôn ngữ dân gian. Sức mạnh của ngôn ngữ cổ không đọng lại trong ngôn ngữ dân gian mà trong ngôn ngữ thi ca. Ngôn ngữ thi ca hơn hẳn ngôn ngữ dân gian ở chỗ rất gần với ngôn ngữ cổ. Cái không bao giờ đạt tới của ngôn ngữ hình mà dân chúng sử dụng một cách tinh nghịch phóng khoáng, có thể thấy trong ngôn ngữ thi ca như một ý nghĩa trực tiếp. Nhưng ngôn ngữ thi ca vẫn mất cân bằng hơn ngôn ngữ dân gian, bởi vì ở đây tất cả đều phụ thuộc vào đặc tính của cá nhân.
Xem xét từ các bài kinh Veda, các bài ca của Orpheus và Pindaros trở đi, đến các thi phẩm làm từ những hợp âm từ ngữ mạnh mẽ, ta thấy đầy rẫy các trường hợp khác biệt cá nhân. Châu Âu trong thời kì lịch sử, từ Homeros trở đi, người ta bắt đầu coi các cảm xúc, các tư tưởng của con người là công cụ thứ yếu, và điều này cho thấy họ không hiểu đặc tính của hình. Họ không biết rằng, trước hết hình nắm lấy toàn bộ con người, chỉ sau đó tiếp đến đến tình cảm, tư tưởng, trạng thái, những thứ mà hình tuôn trào ra trong con người.
Hình đặc trưng này trong thi ca (được gọi là) sự so sánh, là thứ trong ngôn ngữ đại chúng đã bị chìm xuống như một âm thanh trống rỗng. Sự so sánh đã lẫn lộn cái bên ngoài và bên trong, nó tưởng rằng cần phải soi sáng bằng hình, và hình trở thành cái bên ngoài, mặc dù hình chính là cái bên trong, và đấy mới là cái cần phải soi sáng.
Trong ngôn ngữ huyền học không có sự nhầm lẫn như thế. Huyền học biết chính xác cái gì có bên trong và cái gì có bên ngoài, và biết rằng tuyên ngôn bằng ngôn ngữ là khả năng duy nhất của sự phản chiếu.
Ngôn ngữ biểu tượng đứt đoạn khỏi ngoại hình, ngôn ngữ-ý tưởng đứt đoạn khỏi cái trí. Chính vì vậy cả hai lời tuyên ngôn này mang tầm vóc cao hơn ngôn ngữ huyền học vì vẫn còn quan tâm cả đến ngoại hình lẫn cái trí. Biểu tượng, có vẻ như cất giấu điều nói ra, và nói ra điều cất giấu. Trong hành vi nghịch lí này có sự thu hút đặc thù, và sự thu hút đặc thù này có thể biến thành cái so sánh với ngôn ngữ cổ.
Còn ngôn ngữ-ý tưởng là lời tuyên ngôn của nhận thức siêu nhiên: giờ đây đã là duy nhất, không thể nắm bắt, ngoại lệ, tuyệt đối, gắn chặt với khoảnh khắc và không thể nhắc lại. Những cuốn sách thiêng cổ và một vài vị trí hiếm hoi của vài nhà thơ và nhà tư tưởng ngoại lệ của thời lịch sử lên tiếng bằng thứ ngôn ngữ này: ngôn ngữ tuyệt đối của lời tuyên bố khởi nguồn.
Ngôn ngữ cổ đối với cái trí, với nhận thức, với cảm xúc bên trong lẫn bên ngoài là lời tuyên bố đầu tiên không thể đạt tới, không thể nắm bắt được. Trong thời cổ ngôn ngữ là như vậy, toát lên từ các văn bản, là ngôn ngữ của các nhà thông thái, tiên tri, các thần linh, các chủ thể thần thánh. Con người sống trong thiên nhiên vật chất chỉ có thể hiểu thứ ngôn ngữ này như một biểu lộ của nguồn cảm hứng, khi “ thông qua con người các quyền lực lớn hơn lên tiếng ”. Dấu hiệu để nhận ra ngôn ngữ cổ là trong các từ ngữ tuyên ngôn phản ánh ý nghĩa cội rễ của nó, cường độ cội rễ của nó, sự căng thẳng tạo dựng và quyền lực phản ánh của nó.
Lời tuyên bố tuyệt đối khi giáng xuống và đạt tới ý nghĩa biến thành ý tưởng; và khi liên quan tới cái bên ngoài, biến thành tượng trưng; và khi hình và cái trí bắt đầu xuất hiện trong nó, biến thành huyền bí; và khi ý tưởng, sự tượng trưng, huyền bí trong nó mờ nhạt đi, biến thành ngôn ngữ thi ca; và khi ngôn ngữ thi ca cũng bạc dần, lúc đó xuất hiện ngôn ngữ đại chúng, và đến khi cả nội dung của ngôn ngữ đại chúng cũng biến mất, khái niệm được hình thành.
3.
Tử thư Ai Cập dịch sát nghĩa là: Bước Ra Khỏi Ban Ngày. Trước hết đây là cuốn sách của những người Đã Chết, là kẻ dẫn đường linh hồn sang thế giới bên kia, là cuốn sách của linh hồn từ đời sống bước sang thế giới bên kia.
Nhưng con đường mà linh hồn và mọi linh hồn sau cái chết đều cần phải thực hiện trong mọi hoàn cảnh, con đường này linh hồn có thể thực hiện từ quyết định riêng của mình khi vẫn còn ở trong thiên nhiên vật chất. Bởi vậy Tử thư Ai Cập không chỉ là sách của những người Đã Chết, mà còn của sự nhập định nữa.
Kẻ đợi nhập định cũng cần phải bước ra khỏi đời sống như thế, cần phải bước quá các ngưỡng của sự tăm tối y như những kẻ đã chuyển dời. Con đường của thế giới bên kia cũng đúng như con đường của nhập định: cả hai đều bước ra khỏi ban ngày, đều là sự tháo bỏ từ từ các ảo ảnh của thế gian vật chất, và từ từ nhận thức ra một hiện thực siêu nhiên, phi vật chất.
Nếu với cách tiếp cận như vậy đến với Tử Thư Ai Cập cuốn sách sẽ mở ra những bí ẩn mà thiếu sách này con người sẽ không bao giờ biết tiếp cận. Giữa các bí ẩn này có những điều tận cùng liên quan đến ngôn ngữ như một tuyên ngôn của tinh thần tỉnh táo. Bởi vì tinh thần từ các mức độ nhập định, hay giống như linh hồn người đã mất từ các ngưỡng của thế giới bên kia, nếu đi đúng đường, sẽ trở nên ngày càng sáng rõ và rạng rỡ.
Theo cuốn sách, tinh thần: “ngày càng giống kẻ đang sống trong không khí dưới nắng mặt trời”. Sự thay đổi mà con người trải qua, không phải sự hoàn hảo hóa. Linh hồn không to lớn hơn, rộng hơn, sâu hơn, sáng sủa hơn, siêu nhiên hơn. Linh hồn rốt cuộc chỉ lấy lại bản chất cổ của nó, mà nó đã đánh mất cùng sự đắm chìm vào thiên nhiên vật chất.
Con người nhận lại thiên tính cội nguồn của nó, và Tử thư Ai Cập có thể là cuốn sách quan trọng nhất nói về con người từ các ngưỡng khác nhau đã lấy lại các bộ phận cội nguồn của mình như thế nào, lấy lại trái tim, tứ chi, hình dạng tinh thần, cơ thể bất tử mang thiên tính của mình, lấy lại szahu , ý nghĩa thiên tính của mình - bằng cách nào lấy lại một lần nữa cái tên bất tử đã bị mất của mình, và lấy lại như thế nào Lời mang thiên tính của mình.
Các ngưỡng mà linh hồn cần phải bước qua là những câu hỏi và mang hai ý nghĩa. Mọi bậc thang của ngưỡng: hoặc lên hoặc xuống. Con người hoặc đi lên, đến gần với trạng thái cổ, hoặc không làm được điều này, lúc đó rơi xuống sâu hơn nữa vào thiên nhiên vật chất. Con đường hoặc lên hoặc xuống; nhưng đồng thời vào trong hay đi ra. Bởi vì con đường đi lên quay vào trong, con đường đi xuống quay ra ngoài.
Quay vào trong có đường đi lên, phía này có ánh sáng, có sự tỉnh táo, có tinh thần và sự sống siêu nhiên; Quay ra ngoài có đường đi xuống, phía đó có bóng tối, sự đờ đẫn và vật chất. Trên con đường quay vào cao nhất có con người siêu việt, tri thức siêu việt. Trên con đường quay ra, dưới đáy cùng là lớp chăn phủ ngoài cùng của thiên nhiên vật chất: sự tăm tối bên ngoài.
Tử thư Ai Cập đánh dấu hai vị trí cuối cùng này bằng tên hai vị thần: con người trời, sự tỉnh táo, Thần “ kẻ ghê tởm sự mê ngủ ” là Mặt Trời, Oziris; Còn sự tăm tối bên ngoài, sự đờ đẫn, vật chất: Seth. Con người cần từ thế giới của Seth đi sang thế giới của Oziris, cho dù, như linh hồn của người đã chuyển dời từ mặt đất, vượt qua các ngưỡng của thế giới bên kia, hay cho dù, như kẻ đợi nhập định, bước về phía các mức độ nhập định.
Cái (được gọi là) ngôn ngữ ở mức độ tăm tối bên ngoài đầu tiên, là một cái gì tăm tối và ngoại hình là thứ không liên quan chút gì đến lời tuyên bố của linh hồn. Đây là thứ ngôn ngữ thuần túy tầm thường, trống rỗng, tào lao - trôi trên bề mặt, là ngôn từ phi bản chất, lập tức bốc hơi, rỗng. Đấy là ngôn ngữ đại chúng.
Nhưng linh hồn cần ngay lập tức lấy lại ngôn ngữ cội nguồn của nó. Từ tất cả các ngưỡng của thế giới bên kia, từ tất cả các mức độ của nhập định, nếu linh hồn trải qua một cách thành công, nó sẽ càng tỉnh táo hơn: và nếu càng tỉnh táo hơn, hiện thực sâu sắc hơn sẽ càng mở ra trong nó, và hiện thực sâu sắc hơn sẽ càng bộc lộ nhiều hơn cho nó.
Linh hồn ngay từ đầu đến cuối lang thang giữa các hình. Trên tất cả các ngưỡng, các hình khác nhau tiếp đón nó: rắn, cá sấu, bọ cạp, côn trùng, chim, lợn rừng - có thể một nữ thần hoặc vị thần. Thử thách của linh hồn là nó có thể hóa thành một cái gì đấy mà nó muốn một cách bất lực và định mệnh. Nó đã hóa thành vật chất như thế đấy trong buổi đầu của thời gian cổ, khi nó thèm muốn vật chất, rồi nó từ từ hóa thành tinh thần như thế đấy, nếu từ sâu thẳm bản chất, nó cần tinh thần. Bởi vậy các hình đứng sừng sững trên các ngưỡng: để thử thách và quyến rũ các linh hồn. Các loại động thực vật xếp thành hàng như thế đấy: hoa sen long lanh sương, thần Ptah, chim Bennu, linh hồn lửa nghi ngút, chim én, rắn.
Giờ đây linh hồn đã đứng trên một mức độ cao không đo nổi so với lúc nó xuất phát. Khi sống trong bóng tối, nó hoàn toàn đui mù. Giờ đây nó thấy. Lúc trước, ngôn ngữ của nó chỉ là sự ba hoa hỗn loạn và vô nghĩa; giờ đây nó nhận biết về các hình và biết gọi chúng. Đây là ngôn ngữ hình: mang tính thi ca, tính huyền bí, tính tượng trưng. Sự tỉnh táo của linh hồn con người đã chín muồi, để không đắm chìm trong sự đa dạng vật chất của cảm giác, và xướng gọi nội dung vô nghĩa của đa dạng hóa, mà để thốt lên một hiện thực hóa của hình khi nó đã thấy hiện thực.
Khi kẻ nhập định đạt tới mức độ Oziris, hay là lúc kẻ chuyển dời từ trái đất đến được với Oziris, nó nhập vào con thuyền ánh sáng và tan ra trong Thượng Đế, trong Thần - biến thành sự sáng sủa rạng ngời, ngôn ngữ hình cũng chấm dứt, bởi vì các hình cũng tan hòa trong sự hoàn hảo của sự sống tuyệt đối. Đấy là thân thể vĩnh cửu, là szahu siêu hình, siêu dạng. Ngôn ngữ của szahu là lời tuyên bố tạo dựng đầu tiên của tinh thần.
4.
Ngôn ngữ chỉ có thể đứng ở hai đầu của sự sống không hình: hoàn toàn bên dưới, nơi chỉ có khái niệm, hoặc lời trống rỗng; và hoàn toàn bên trên, nơi là lời tuyên bố đầu tiên siêu hình, siêu dạng. Ngôn ngữ cần phải trở thành hình dạng khi rơi xuống các vòng của sự sống. Hình là cái đánh dấu và xướng lên, để sự vật được kinh nghiệm bằng xúc giác, thực thể được nhận biết, hiện tượng tự nhiên và sự kiện của nó không mang tính cội nguồn. Cội nguồn là: ý tưởng (idea). Hình là bản sao của thực thể, sự vật, hiện tượng và sự kiện. Là ảnh của nó.
Con người lịch sử khi coi và cho rằng hình trong ngôn ngữ là sự trang trí lộ liễu, họ đã không hiểu rằng hình là sự chỉ dẫn ngược lại đến cái cội nguồn. Sự chỉ dẫn ngược lại của thanh gươm là đến quyền lực tạo dựng và sự ngự trị của Lời; cái roi da chỉ dẫn ngược lại đến kỉ luật và luật lệ; con bướm chỉ dẫn đến linh hồn; cái đinh chỉ dẫn đến sự chung thủy. Các khuôn mặt, chi, bộ phận thân thể người, toàn bộ hoa, chim, động vật, các màu, âm thanh đều chỉ dẫn ngược lại đến cái cội nguồn: các ý tưởng của các chi, các loài động vật, các loại hoa, các màu sắc.
Bởi vì ý nghĩa trực tiếp và lời tuyên bố của hiện thực nằm trong ý tưởng. Chính vì thế con người lịch sử, khi coi hình là trang trí và thừa, đã không hiểu bản chất của ngôn ngữ. Bản chất của ngôn ngữ không xướng lên sự giống nhau giữa các đồ vật, mà trải rộng sự tương đồng giữa các đồ vật của thế gian. Ý nghĩa của hình không phải là sự so sánh mang tính chất thi ca, mà là: sự tương đồng siêu hình.
Sự tương đồng trước hết mang ý nghĩa là sự phù hợp, trộn lẫn vào nhau, hòa hợp nhau, nhưng đây là sự hòa hợp chỉ dẫn về phía tự nhiên và về phía cội nguồn chung. Giữa Lời và thanh gươm có sự tương đồng; cũng như có tương đồng giữa cái đinh và lòng chung thủy, giữa màu đỏ thắm và tình yêu thương, giữa bàn tay và hòa bình.
Sự phù hợp và chỉ dẫn này tồn tại một cách trực tiếp trong mọi ngôn ngữ cổ, nếu ai không hiểu tầm quan trọng của sự phù hợp và chỉ dẫn này, người ấy sẽ không thể hiểu sự khác biệt cơ bản của con người cổ từ con người thời lịch sử: con người cổ nhìn thấy sự tương đồng một cách trực tiếp, họ sống cùng, tuyên bố và luôn phát hiện ra những tương đồng mới, họ luôn nhìn thấy các hình mới và những hòa hợp mới thường xuyên mở ra cho trực giác siêu nhiên của họ.
Các hình trong ngôn ngữ cổ không phải là những so sánh mang tính thi ca, mà chính là những phù hợp của các hình cổ, của ý tưởng (theo nghĩa của Platon), chúng không là gì khác ngoài những sự phù hợp của tri thức và nội dung tiên nghiệm ( transcendental ).
Ngôn ngữ ngày nay cũng đầy rẫy hình, nhưng các hình này đối với con người thời lịch sử mang ý nghĩa ngược lại so với con người cổ: ngày nay người ta nhìn thấy tính chất quá độ là thứ mà ngày xưa là tính chất trực tiếp. Đây chính là khó khăn lớn nhất để hiểu thời cổ đại. Không chỉ các hình tượng trong từng câu nói, mà sự vô tận của các huyền thoại, các biểu tượng đối với con người thời lịch sử khiến họ không chấp nhận nổi những lời tuyên bố cổ.
Họ không hiểu làm thế nào để tiếp cận lịch sử của các dân tộc, khoa học, vũ trũ học, siêu hình học. Họ tiếp nhận một cách đầy nghi ngờ những cuốn sách lịch sử của Herodotos đúng như với siêu hình học của Thales hoặc của Parmenides, với lịch sử tạo hóa của Bundehes, hay với những lời bình luận của Kinh Dịch và Upaisad. Họ hoài nghi đọc Sách Sáng thế (Otestamentum Genezis), thậm chí coi thường, bởi họ đã đánh mất sự nhạy cảm về biểu tượng, về sự huyền bí, về ý tưởng và về hình. Họ không biết rằng các huyền bí và các hình, cùng các biểu tượng và các ý tưởng chính xác vô cùng tận, so với nhận thức và định nghĩa nhân tố của ngôn ngữ khái niệm hoặc ngôn ngữ đại chúng. Chính xác hơn bởi vì ngôn ngữ cổ nằm trên nền tảng tương đồng.
Trong văn bản cổ Tabula Smamgdina Hermes Trismegistos viết: “ Cái có ở trên cũng tương tự như cái có ở dưới; Cái có ở dưới cũng tương tự như cái có ở trên”.
Luật này tồn tại trong những cuốn sách cổ Trung Hoa y hệt như trong kinh Veda, trong kinh Kabbala, ở Pythagoras cũng như ở Herakleitos, khi tuyên bố: “ Con đường đi lên và đi xuống tương tự nhau”. “Hades và Dionüsos là một”. “Cái chết là bất tử, cái bất tử sẽ chết, đời sống của nó là cái chết, cái chết của nó là đời sống”.
Giữa các thực thể, các sự kiện và các hiện tượng có mối liên quan và mối quan hệ không thể tách rời đến mức cái này có thể thay thế bằng cái kia. Cái có ở dưới không là gì khác ngoài cái có ở trên - đời sống của thiên nhiên vật chất không là gì khác ngoài bản sao của đời sống vũ trụ, và đời sống vũ trụ không là gì khác ngoài bản sao của thế giới tinh thần. Ta không hiểu các sự vật khi ta tách rời chúng và nhìn trong bản thân chúng để định nghĩa, thực chất chúng có quan hệ với nhau, và đứng trong một xâu chuỗi không đứt đoạn, và chạm đến cội nguồn.
5.
Không được phép lẫn lộn ngôn ngữ hình cổ với ngôn ngữ so sánh mang tính thi ca ngày nay. Đằng sau ngôn ngữ so sánh thi ca ngày nay là sự quan tâm của các xúc giác tạo dựng trên sự giống nhau bên ngoài giữa các sự vật. Còn ngôn ngữ cổ xây dựng từ Analogia (tương đồng), và tương đồng nhìn thấy sự đồng nhất bên trong của các sự vật: đồng nhất trong sự khác biệt và khác biệt trong sự đồng nhất. Nền tảng của thấu kính và tư duy tương đồng mang tính chất siêu hình học. Bởi vì sự tương đồng là sự đồng nhất siêu cảm giác giữa các sự vật - sự đồng nhất trong thế giới tinh thần, ở trên, trái ngược với cái thoạt nhìn trong thế giới vật chất ở dưới, bởi vì: cái có ở trên cũng tương tự như cái có ở dưới. Con đường đi lên và đi xuống tương tự nhau.
Nếu hiểu lối tư duy tương đồng và trong một trường hợp nhất định, không ví dụ nào được sử dụng tốt hơn điều mà từ kinh Veda đến Swedenborg con mắt nhạy cảm với kinh nghiệm siêu giác đã biết: đấy là biểu tượng về thực thể người. Lối tư duy tương đồng cho biết, vũ trụ không là gì khác ngoài chính con người, và con người không là gì khác ngoài chính vũ trụ. Muộn mằn hơn, thông tục hóa và gần như trong dạng hình rỗng, đây chính là mối quan hệ của đại vũ trụ và tiểu vũ trụ như người ta thường nói: con người là tiểu vũ trụ, còn vũ trụ là con người lớn.
Li-Ki cho rằng: “ Nếu người quân tử ngồi trên chiếc ghế của vua và tinh thần tỏa sáng từ người ấy, giữa người với người không có bệnh tật, dịch bệnh không tấn công gia súc, cỏ dại không lấn át lúa mì, các quan chức địa phương không hoạch họe, và sự trừng phạt không cần cho dân chúng”. “Nếu bệnh tật đến với con người, bệnh dịch đến với gia súc, cỏ dại mọc đua với lúa mì - chính là vì những ngôi sao trên trời không đi đúng luật con đường của chúng, sao trên trời không đi đúng luật vì người ta đã bỏ bê các đền thờ, chùa chiền.”
Đấy là Analogia-sự tương đồng. Đấy là sự đồng nhất siêu giác giữa các sự vật, mà chỉ cần một điểm bị nhiễu, lập tức cái toàn thể bị nhiễu. Khi người ta bỏ bê đền thờ chùa chiền - xuất hiện dịch bệnh, bệnh tật, và mùa màng hỏng; các ngôi sao bị thay đổi quỹ đạo của chúng. Tại sao? Bởi vì giữa đời sống của gia súc, sức khỏe của con người, mùa màng và quỹ đạo của các ngôi sao ẩn náu sự đồng nhất.
Bên trong vòng quay của thực thể người, sự tương đồng có thể tháo gỡ hoàn toàn. Một cái gì đấy, mà người ta gọi là cá tính, đặc điểm cá nhân, là cái không thể chia sẻ, có thể nhận ra trong một dạng hình xác định. Dạng hình này có trọng lượng, màu sắc, độ cứng, khung xương, bắp cơ, tóc, mắt, khuôn mặt, da của nó. Trong toàn bộ đặc tính ngoại hình ẩn giấu một đồng nhất nào đó trong lời nói, giọng, trong cử chỉ hành động của nó.
Trên nền tảng của sự đồng nhất này là môn tướng mạo học, môn bói tay, khoa học về tay, bởi vì từ hình dạng, màu sắc, độ cứng, từ các đường vân tay, độ dài của các ngón tay, hình dạng của móng tay, có thể nhận dạng con người, y như từ chữ viết, từ khuôn mặt, từ cách đi đứng của nó. Nhưng khuôn mặt, bàn tay, chữ viết, hình dáng chỉ dẫn trở lại chính bản thân thực thể. Giữa mọi thể hiện, bộc lộ, đều có analogia-sự tương đồng.
Nhưng giữa đời sống bên trong của thực thể với môi trường, cũng như sự sống mang tính lịch sử bên ngoài của cộng đồng cũng có analogia-sự tương đồng. Những thực thể người nhất định phù hợp với cộng đồng nhất định và các hình thức xã hội nhất định phù hợp với các thực thể người nhất định. Giữa toàn bộ những điều này sự mê muội và tỉnh táo cũng có quan hệ tương tự với nhau giữa từng con người, cũng chính xác như vậy các trật tự xã hội đứng trong mối quan hệ với nhau. Đẳng cấp xã hội trong linh hồn người phù hợp với trật tự của sự tỉnh táo. Nhưng chưa hết.
Hình dạng cơ thể người phù hợp với linh hồn người, và đời sống tập thể cộng đồng của con người phù hợp với thực thể người. Nhưng dạng hình tập thể cộng đồng không thể là gì khác ngoài số phận mà cộng đồng trải qua, hay nói đúng hơn hành vi tập thể luôn luôn bao trùm lên lịch sử của cộng đồng. Nhưng lịch sử (số phận) cộng đồng không chỉ là một vị trí chiếm lĩnh trên trái đất mà nó còn có quan hệ với vũ trụ, như Li-Ki đã nói, với quỹ đạo của các ngôi sao. Analogia-sự tương đồng ở giữa thế giới linh hồn của từng con người, giữa đời sống cơ thể của nó, giữa số phận cộng đồng của nó, giữa trật tự đời sống, lịch sử và quỹ đạo sao của nó. Đường đi của các ngôi sao chỉ dẫn đến cái cao hơn: đến thế giới của các ý tưởng và thế giới tinh thần.
Analogia-sự tương đồng có nghĩa: cái gì có ở trên cũng tương tự như cái có ở dưới: những ngôi sao nhìn từ mắt con người, các đường chuyển của vũ trụ đi trong lòng bàn tay con người, sức khỏe của gia súc và tình trạng mùa màng thể hiện trật tự đời sống của dân chúng, và từ đền thờ chùa chiền có thể biết nhà vua cai trị xứng đáng hay không.
Như vậy, có thể hiểu trực tiếp analogia-sự tương đồng là gì. Nhìn thấy, nhận ra, hiểu và biết sự tương đồng chỉ có ngần này: nhận thức thế gian trong sự vĩnh cửu, trong mối quan hệ bất tử, trong sự ràng buộc vĩnh viễn của nó. Bởi vậy có thể trao đổi cái này với cái kia, tất cả các hình với hình của sự vật khác: con mắt là hình của ngôi sao, con bướm là hình của linh hồn, các đường vân tay là hình chuyển động của vũ trụ và khuôn mặt là hình của cá nhân, cộng đồng là hình của trật tự bên trong của đời sống người. Ngôn ngữ hình tồn tại trong các hình, sống bằng các hình, bởi vì con người cổ nhìn thấy các hình.
6.
Với câu hỏi cái nào là siêu hình học nằm trong thấu kính tương đồng, hay trong ngôn ngữ hình cổ xưa, câu trả lời vô cùng đơn giản và ngắn gọn: siêu hình học là hen kai pan , một và tất cả, hay: tất cả là Một.
Đây là advaita. Siêu hình học của tất cả là Một không chỉ là bí mật của Herakleitos, Parmenides, Pythagoras, không chỉ là bí mật của người Ai Cập, của kinh Kabbala, Veda, Kinh Dịch; siêu hình học của tất cả là Một - là siêu hình học của toàn bộ thời cổ có thể nghe thấy, tự nó hiểu ra, là thứ tất cả bắt đầu từ đó, và là hướng mà tất cả mọi tư tưởng đều quay trở về.
Ngôn ngữ hình xuất phát từ: tất cả là Một. Đấy là: cái có ở trên cũng tương tự như cái có ở dưới. Con đường đi lên và đi xuống tương tự nhau. Tại sao? Bởi vì hen panta einai - tất cả là Một. Bởi vậy các nguyên tố có thể đổi chỗ. Mọi đổi chỗ diễn ra trong một sự thống nhất. Cái có, là một phần của Một.
Khuôn mặt con người có nghĩa là đúng cái Một này, như đường vân tay, hay chữ viết hay đặc tính linh hồn, hay trật tự đời sống cộng đồng của nó, hay giá trị của mùa màng, của sự cai trị của nhà vua, hay con đường của các ngôi sao. Tất cả là Một. Nhưng ngoài ra sự liên quan lại không phải sự phù hợp, hay nói đúng hơn không phải analogia-sự tương đồng, sự đồng nhất bí ẩn nằm trong những khác biệt không nhìn thấy trên bề mặt. Các hình nói lên sự đồng nhất bí ẩn này, và bởi vậy, chúng không là các so sánh.
Linh hồn không giống như con bướm mà là con bướm linh hồn bởi giữa linh hồn và con bướm có analogia-sự tương đồng. Hai là một. Nhưng ba cũng là một và năm cũng là một và một trăm cũng là một, trăm nghìn cũng là một, trăm nghìn ngôi sao không giống như linh hồn con người, mà giữa toàn bộ vũ trụ và linh hồn con người có analogia-tương đồng, bởi vì trái với cái bên ngoài thoạt nhìn, thế gian và linh hồn là MỘT.
Ngôn ngữ trong thời kì lịch sử cho dù hư hoại và cho dù đã đánh mất mối quan hệ với siêu hình học của nó, vẫn gìn giữ các hình một cách sinh sôi, kể cả khi không có cách nào chiếm lĩnh lại ý nghĩa cội nguồn của hình đi chăng nữa.
Định mệnh của con người thời lịch sử không ở chỗ nó bị hạn chế, mà ở chỗ hạn chế này nằm trong nhận thức về sự thật cổ và tự nhiên - khi tiếp tục sự bắt buộc đặc thù này, nó không tiếp cận nổi nội dung thật sự của sự sống. Bởi vậy nó không thể nhận thức nổi về các hình thời cổ và cũng chính vì thế không hiểu nổi ngôn ngữ hình. Toàn bộ thời cổ đối với nó là một khu vực bị khóa kín và bị cấm.