Minh Triết Thiêng Liêng Tập 2

Lượt đọc: 213 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
II. Chiêm tinh học
1.

Gần đây người ta gọi một phần khá hẹp của chiêm tinh học cổ, một số chương có liên quan đến đặc tính và số phận của cá nhân là tử vi. Trong hình thức này, đây là một điều hoàn toàn sai lầm, vậy mà vẫn cho thấy, chiêm tinh học là một tổng hợp cổ cất giấu sự tương đồng trong các kích thước thế gian, và được sử dụng bằng một phương pháp chính xác.

Siêu hình học của chiêm tinh học chính là siêu hình học duy nhất của thời cổ: tất cả là Một. Và siêu hình học này được xây dựng như thế nào theo định đề của Tabula Smaragdina (cái có ở trên cũng tương tự như cái có ở dưới), cùng với sự xuất hiện của thế gian, với sự hình thành địa lí của trái đất, cũng liên quan đúng như thế với lịch sử của các dân tộc, các giai cấp, các quốc gia và toàn bộ nhân loại, với số phận, cá tính của cá nhân con người, duy nhất chỉ có một câu trả lời: analogia-sự tương đồng.

Một ví dụ là đủ khi nói về sự chinh phục không gian của tử vi, và mặt khác nói về sự giải thích sai lệch của nó. Có vẻ như cần phải nói như sau về các nguyên tắc: chiêm tinh học không là gì khác ngoài một chuỗi kết quả xuất phát từ các nguyên tắc vũ trụ. Đây là chiêm tinh học trong hình thức duy lí khoa học hiện đại ( scientifikus ). Sai. Chiêm tinh học không có các nguyên tắc: đây là bản chất đầu tiên của chiêm tinh học.

Trong chiêm tinh học tất cả là Một. Trong cái tất cả là Một này chỉ mang một định nghĩa khác: cái gì có ở trên cũng tương tự như cái có ở dưới, hay nói như sau: chiêm tinh học mang một định nghĩa khác. Giả thuyết cho rằng trong chiêm tinh học các thực thể và các hiện tượng trái đất do các khúc xạ vũ trụ của các hành tinh quyết định, hoàn toàn không thuyết phục.

Từ định nghĩa này ngay lập tức có thể nhận ra khoa học thời hiện đại đang muốn xây dựng chiêm tinh học theo hình ảnh của nó. Không liên quan gì đến nguyên tắc vũ trụ. Cũng không liên quan gì đến những điều người ta lần theo dấu vết của chiêm tinh học mà phát biểu: chiêm tinh học dựa trên quan điểm địa lí trung tâm thời cổ cho rằng nhân loại cổ tin chắc Mặt Trời quay xung quanh Trái Đất, chứ không phải Trái Đất quay xung quanh Mặt Trời.

Về vấn đề này nói thế này là đủ: truyền thống Cận Đông coi Henoch là người phát hiện và thành lập ra chiêm tinh học. Và trong sách của Henoch có những phần chỉ dẫn rõ ràng đến việc Mặt Trời đứng ở điểm chính giữa của Thái dương hệ và tất cả các hành tinh quay xung quanh Mặt Trời.

Kẻ nhầm lẫn là kẻ tin chắc rằng dù hình dung về hệ thống địa tâm hay nhật tâm đi chăng nữa cũng đều là một yếu tố quan trọng như thế nào đó. Trước tiên, thời cổ không coi yếu tố vật chất của hệ thống vũ trụ là quan trọng, cũng giống như thời lịch sử người ta không coi trọng số năm và các dữ liệu, nghĩa là ngoại hình. Cái thời cổ cho là quan trọng là đặc tính matrix của vũ trụ: Trái Đất là hình ảnh cổ của mọi thiên thể. Không vì mọi thứ quay xung quanh nó mà Trái Đất mang vị trí trung tâm, mà bởi vì Trái Đất là hình mẫu cổ và là bà mẹ cổ. Sự sống của mọi thiên thể chỉ có thể hiểu được hoàn toàn từ sự sống của Trái Đất.

Trong quan điểm một hành tinh nào đó chiếm một vị trí chiêm tinh học nào đó, và đứng im hoặc chuyển động, hoàn toàn vô nghĩa. Mặt khác, về điều này điều nọ đều không đáng chú ý đến, bởi ta đã tuyên bố: chiêm tinh học không nói về các nguyên tắc, các trọng tâm lực, các tia, hay các tác động của vũ trụ, sau rốt không nói về các xác định, mà nói về sự tương đồng, hay về cái có ở trên cũng tương tự như cái có ở dưới.

Đây là sự tương đồng mà chiêm tinh học dạy dỗ trong quan điểm toàn cầu và thông qua hình ảnh. Các hình ảnh chiêm tinh học sử dụng là các biểu đồ vật và các hành tinh, chiêm tinh học nhận thức ra, một cách trực giác các tương đồng tạo dựng và điều khiển thế gian bằng các ý tưởng, và phân tích kĩ lưỡng hệ thống các tương đồng này.

2.

Tất cả là Một. Các sự vật chỉ khác biệt vì chất lượng sự sống của chúng, vì phương pháp, vị trí chiếm lĩnh trong sự sống của chúng khác. Đây là cái làm cho chúng tách biệt lẫn nhau. Tất cả những điều này có và sống trong vũ trụ, tồn tại làm Một một cách cần thiết và có quan hệ với toàn thể.

Con người cần đến vô vàn hành động, dấu hiệu, biểu tượng, tâm lí, để biết quay trở lại với MỘT, để có khả năng hiểu sự tổn thất mà vì xa rời MỘT nó đã phải chịu đựng: chính vì vậy Tạo Hóa đã cho con người sự đa dạng của các sức mạnh.

Điểm xuất phát của chiêm tinh học: tất cả là Một. Nó biết rằng các thực thể và các sự vật chỉ khác nhau trong các phương cách của sự sống. Chiêm tinh học dạy rằng tất cả các sự vật và các thực thể đều gắn liền với Một và có quan hệ với Một. Bởi vậy chiêm tinh học chú ý đến sự đa dạng của các hoạt động, các dấu hiệu, các biểu tượng, tâm lí mà con người cần, để nhận thức tình huống của nó, và có thể quay về với Một.

Chiêm tinh học sử dụng sự đa dạng của các sức mạnh và các khả năng có trong con người, để nó nhìn thấy rõ các tương đồng, và bằng sự giúp đỡ của tương đồng thức tỉnh ý thức và ấn tượng của sự tồn tại cùng với Một. Chiêm tinh học đặc biệt nhấn mạnh: “Tất cả các thực thể và sự vật vật lí và có xúc giác đều là dấu ấn của thế giới tinh thần và là sự lặp các quá trình diễn ra trong thế giới tinh thần”.

Sự chuyển động của các hành tinh, quỹ đạo kí hiệu của các con vật đều chỉ dẫn đến thế giới của các ý tưởng: bởi vì ý nghĩa của sự chuyển động và các quỹ đạo là ở đấy. Những sự phù hợp với các tương đồng của các dạng hình thực thể và vị trí vũ trụ không hề cạn. Có sự phù hợp giữa dinh dưỡng, thảo mộc, các thành phần địa khoáng, tài năng con người, hoàn cảnh xã hội, khoảnh khắc lịch sử, bầu khí quyển, màu sắc, con số, âm thanh, nhiệt độ, hơi nước. Số lượng của sự phù hợp là vô tận. Mọi thực thể và sự vật này phù hợp với thực thể và sự vật khác, và điều này phù hợp với hàng nghìn thực thể và sự vật trần thế, vũ trụ, khí quyển, ý tưởng.

Cần một chỉ dẫn ngắn nhưng cơ bản để đừng ai nhầm hoặc đồng nhất chiêm tinh học với khoa tử vi thời hiện đại, là một phần của khoa tử vi thời trung cổ. Chiêm tinh học cổ là một tổng hợp cổ mang duy nhất một bí ẩn, ý nghĩa, nội dung và sự dạy dỗ như sau: mọi thực thể, động vật, thực vật, khoáng chất, chim muông, ma quỷ, côn trùng, đều là tương đồng của một hành tinh nguyên thủy.

Tử vi không chỉ ra sự phụ thuộc của con người, của các dân tộc hoặc các sự kiện lịch sử từ vị trí của các ngôi sao, cho dù tử vi có liên quan đến con người, các dân tộc và các sự kiện lịch sử. Tử vi thực chất là: mandala (Mạn-đà-la). Mandala là một hình vẽ về hình ảnh vũ trụ, nhưng ẩn chứa trong đó cả ý nghĩa của sự sống. Mandala là một đồ hình mà cách giải quyết tri thức hay ý nghĩa đạt tới không dành cho nhận thức của con người sống trong thiên nhiên vật chất. Mandala chỉ dành cho tri thức tiên nghiệm, huyền không.

Mandala là một vài minh họa vẽ trong một dạng hình chứa trong một vòng tròn: là hình ảnh một nhân vật sống động, hay mang tính chất hình học, chữ, số, một hình biểu tượng, ảnh hoa, súc vật, cây cỏ, hoa sen hoa hồng, hoa cúc ở Trung Quốc, hoa thược dược ở Mexico. Trực giác tâm linh nhận ra mandala, và bằng thiền định, trực giác tâm linh có thể tiếp cận với mandala. Khi đắm chìm vào sự tiếp cận mandala con người ra khỏi ý thức thực dụng của thiên nhiên vật chất, và rơi vào thế giới của các ý nghĩa huyền bí.

Tử vi là một mandala như thế, mô tả các dấu hiệu của vòng động vật và vị trí của các hành tinh. Những biểu tượng này không thể tiếp cận bằng ý thức người, hoặc nếu có thể, nó không là gì khác ngoài hình ảnh chiêm tinh học trong một khoảnh khắc nào đấy. Ý nghĩa đích thực của nó chỉ được bộc lộ nếu ai đặt các hình ảnh của vòng động vật và các thiên thể này theo các tương đồng.

3.

Niềm tin cho rằng vị trí vũ trụ của thiên nhiên là đầu tiên, và vị trí của các ngôi sao, quỹ đạo của vòng động vật và sự chuyển động của các thiên thể không có ý nghĩa, niềm tin này sẽ đổ vỡ khi người ta hiểu ra điều sau đây: năm thiên văn kết thúc hoặc bắt đầu khi Mặt Trời đạt tới điểm sâu nhất, hay ngắn nhất của nó: lúc sao Nhân Mã ở 30 độ và bước sang chùm sao Ma Kết (21 tháng Mười Hai).

Rồi mặt trời bắt đầu từ từ lên cao, ngày bắt đầu dài hơn. Có một khoảng thời gian sự tăng trưởng này tiến nhanh như vũ bão, khi Mặt Trời bước vào chùm sao Bạch Dương, hay khi mùa xuân bắt đầu (21 tháng Ba). Đỉnh cao nhất của Mặt Trời là cuối thời sao Song Tử và lại bắt đầu chìm xuống với chòm sao Cự Giải (21 tháng Sáu). Sự chìm dần này đẩy nhanh đến tận thời của sao Thiên Bình, hay là khi mùa thu tới (21 tháng Chín). Và cũng với phương cách này Mặt Trời một lần nữa lại đạt tới 30 độ (sao Nhân Mã), và rồi lại bắt đầu tăng dần lên. Bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông thay đổi như thế.

Thần thoại cổ mang lại mối quan hệ của vòng tuần hoàn các mùa với số phận con người thần thánh. Con người sinh ra trong chùm sao Ma Kết, trong khoảnh khắc Mặt Trời bắt đầu lên cao; nó đáng ca ngợi trong thời gian Mặt Trời lên cao vùn vụt, với mùa xuân; nhưng từ tinh thần của tăm tối nó nhận được một vết thương chết người và bắt đầu rơi rụng, khi ngày bắt đầu ngắn dần từ chòm sao Cự Giải; có ba dấu hiệu đen tối đáng nguyền rủa: Thiên Bình, Bọ Cạp và Nhân Mã - đây là ba ngày mà con người thần thánh tồn tại trong mộ, trong sự đen tối, để đến thời của Ma Kết một lần nữa nó lại được sinh ra và lại được nâng cao.

Trong thời hiện đại quan niệm đã trở thành tập quán cho rằng con người thần thánh chỉ là thứ yếu và thần thoại này chủ yếu chỉ để giải thích và minh họa sự thay đổi bốn mùa trong vũ trụ. Thực ra không hề có chuyện hành trình của các ngôi sao đi theo số phận con người thần thánh, hoặc thần thoại về con người thần thánh chỉ là một tập hình ảnh minh họa sự lên xuống của Mặt Trời. Không có, một mặt vì số phận của người anh hùng Mặt Trời không phải là một sự so sánh sử dụng các hiện tượng thiên văn, mà đây là thần thoại, hay nói đúng hơn là hình ảnh cổ, và đối với tư duy cổ, lối tư duy-so sánh “tựa hồ, giống như là ...” hoàn toàn xa lạ và chưa từng có. Nhưng mặt khác, sự minh họa không hề có vì ở đây hoàn toàn không hề nhắc đến các hiện tượng thiên văn hoặc ngay cả về yếu tố thần thoại đi chăng nữa, mà ở đây chỉ nói về sự tương đồng.

Đứng về mặt lịch sử số phận và bản chất con người thần thánh lâu đời đến mức không thể so sánh. Cũng đủ nếu con người một lần nữa nhắc đến sự tương đồng và cho rằng vòng tuần hoàn của bốn mùa, con đường của Mặt Trời và số phận của con người có mối liên hệ với nhau. Kẻ sinh ra trong khoảng thời gian thần thoại (gọi là) ba tháng đen tối (từ 21 tháng Chín đến 21 tháng Mười Hai) sẽ khác một kẻ sinh ra trong thời gian mà sự sáng sủa tăng dần (từ 21 tháng Ba đến 21 tháng Sáu.)

Tại sao? Không phải do định mệnh thiên thể, mà vì tất cả mọi con người đều phải tiếp bước theo số phận của con người thần thánh, đúng như vòng tuần hoàn của các ngôi sao, và năm của vũ trụ phải đi theo số phận con người thần thánh: điều này là một tất yếu tự thân có thể hiểu nổi, khi cần phải đi theo sự thay đổi của các mùa: nghĩa là cần phải đi theo, trải qua, chấp nhận và chịu đựng.

Mỗi con người có quan hệ ở một điểm khác, ở một khía cạnh khác với năm thiên văn, hay nói đúng hơn với số phận của con người thần thánh, vì vậy hình thức, tính chất, mức độ và độ chịu đựng sâu sắc của nó cũng khác nhau. Điều kiện của sự sống người là cần phải chịu đựng sự thay đổi vật lí của các mùa và đây cũng chính là một điều kiện, là cần phải chịu đựng số phận của người anh hùng Mặt Trời.

Giữa vũ trụ vật lí và thế giới Thần huyền bí có sự tương đồng, và điều này con người, tự trong bản thân mình không kinh nghiệm nổi bởi sự tỉnh táo của nó đã quá thoái hóa, nhưng nó sẽ kinh nghiệm được từ thiên nhiên. Mặt Trời trong một năm có mười hai bến đỗ, cần phải đi qua những bến đỗ này từ khi sinh ra đến lúc chết đi, hay đúng hơn đến lúc tái sinh trở lại.

Có bốn bến đỗ lớn: Ma Kết - sự sinh ra; Bạch Dương - sự phong thần; Cự Giải - sự tổn thương; Thiên Bình - sự suy giảm. Bốn bến đỗ thứ hai: Bảo Bình, Kim Ngưu, Sư Tử, và Bọ Cạp, đây là những dấu hiệu mà chiêm tinh học gọi là những sự rắn chắc. Trong các dấu hiệu này vị trí thường xuyên của Mặt Trời như sau: sự tăng lên trong Bảo Bình, sự sáng sủa trong Kim Ngưu, sự rơi rụng trong Sư Tử và sự tối tăm trong Bọ Cạp. Dấu hiệu của các thay đổi trong bốn bến đỗ thứ ba: trong Song Ngư thành ánh sáng, trong Song Tử từ kẻ chiến thắng thành kẻ bị đánh bại, trong Xử Nữ từ ánh sáng thành bóng tối, và trong Ma Kết một lần nữa từ kẻ âm, kẻ đã chết thành người dương, người sống.

4.

Ý nghĩa của các chòm sao mang tính chất liên tục, bởi vì vũ trụ vật lí to lớn và hiện tượng vũ trụ phù hợp với nó: số phận của Thần Mặt Trời đã có sẵn, là một hiện thực không thể thay đổi trong đó toàn bộ các thực thể và các sự vật đã được sinh ra. Các yếu tố thay đổi mang tính chiêm tinh học là các hành tinh, là bảy hành tinh: Mặt Trời, Mặt Trăng, sao Thủy, sao Kim, sao Hỏa, sao Mộc, sao Thổ. Với những hành tinh được khám phá mới nhất, sao Thiên Vương và Hải Vương chỉ chiêm tinh học hiện đại sở hữu ý nghĩa của chúng, và sự truyền bá chúng vẫn là một câu hỏi. Cũng đủ, nếu xung quanh các tương đồng ta lấy ra ví dụ vài hành tinh.

Sao Thổ là trạng thái của linh hồn, từ sự hoàn chỉnh cổ và từ vị trí tinh thần của mình, nó rơi xuống và bị chôn vùi trong quên lãng của vật chất đen tối. Sao Mộc phù hợp với trạng thái đầu tiên của linh hồn khi thức tỉnh: một sự bình yên gia trưởng, một hòa bình tươi tỉnh. Sao Hỏa phù hợp với người quân nhân, với chiến tranh, sự chiến đấu, với xung đột của cái Tôi cá nhân: những cơn chạy đua say mê và tàn nhẫn vì quyền lực, vì của cải, vì danh tiếng.

Sao Thổ là thời cổ, sao Mộc là thời hoàng kim, sao Hỏa là thời đồ sắt. Sao Kim (Vệ Nữ) phù hợp với sự sinh sôi nảy nở và hòa bình thế gian: với tình huynh đệ của nhân loại và tính chất tinh thần hóa hiện thực vật chất. Sao Thủy phù hợp với lời ca ngợi tri thức siêu nhiên, là bản khải hoàn ca cuối cùng của con người tinh thần, rằng con người đã giải quyết được nhiệm vụ của mình như một trung gian đứng giữa vật chất và tinh thần. Mặt Trăng tương ứng với tinh thần của con người trong tình huống cận kề cuối cùng vẫn không thể trở thành độc lập, vẫn chỉ là cái gương, chỉ là kẻ tiếp nhận của ánh sáng cổ. Còn Mặt Trời phù hợp với trạng thái sau cùng, khi con người quay trở lại với sự sáng sủa.

Một phù hợp khác: thời kì mang tính chất sao Thổ ở trái đất là thời kì đồ đá, vô sinh, phi sự sống, thời địa chất cổ; thời kì sao Mộc là sự xuất hiện các thực thể sống đầu tiên; thời kì sao Hỏa là thời kì của những con vật khổng lồ, các loài bò sát hung dữ; thời kì sao Kim là thời kì xuất hiện những động vật có vú; thời kì sao Thủy mang lại trí tuệ con người.

Một phù hợp khác nữa: Mặt Trời là sự đồng nhất của linh hồn với đặc tính sáng sủa trong ánh sáng thời cổ; Mặt Trăng là sự tách rời với sự sáng sủa; trong đặc tính của sao Thủy linh hồn được sinh ra như con người, như thực thể biết nhận thức trên mặt đất; sao Kim là linh hồn con người thức tỉnh nỗi tò mò, lòng đam mê muốn quay trở về với MỘT, bởi vậy sao Kim là đặc tính của sự thống nhất: của tình yêu, tình bạn, của cộng đồng; sao Hỏa mang lại những tranh đấu của số phận để sắp xếp lại vị trí, và cần thông qua vị trí vì tinh thần trong con người; trong thời kì của sao Mộc con người hòa giải và yên bình: những viễn cảnh rộng lớn và sâu sắc mở ra: đây là thời kì của hôn nhân, xây dựng gia đình, nuôi dạy con trẻ; trong thời kì của sao Thổ con người đạt tới sự thông thái: đây là thời kì già cả tươi tỉnh, phẳng lặng, bình yên cô đơn và phi dục vọng, khi con người hiểu ra những sự việc sau cùng.

Về các tương đồng thế là đủ. Đủ để hiểu, tất cả nói lên điều gì. Những hình ảnh chiêm tinh học dành cho nhận thức của con người không bao giờ cạn, chỉ là những sự phù hợp gắn bó ít-nhiều, những thứ mà ý nghĩa trực tiếp của nó nằm trong sâu thẳm, hay nói cách khác: các ý tưởng nằm trong đó. Linh hồn trong buổi đầu tạo dựng nhìn thấy trực tiếp những ý tưởng này; lần tạo dựng thứ hai, nghĩa là sau khi bị đắm chìm vào vật chất, sau thức tỉnh từ tăm tối, linh hồn chỉ lờ mờ cảm nhận các ý tưởng và chỉ nhờ những ngôn từ của một chủ thể thần thánh, một con người ngoại lệ, nó phát hiện lại một lần nữa các ý tưởng.

Trong lần được tạo dựng thứ hai nó nhầm lẫn các nhân tố, nó quên mất tên và tính chất của các nhân tố là gì. Nó rơi xuống bảy mức độ, chìm vào sự quên lãng tối tăm, giờ đây nó cần phải nâng mình trở lại bảy mức độ. Đây là bảy mức độ, bảy lĩnh vực, bảy vòng của thế gian, bảy hành tinh. Tại đây linh hồn nhích từng bước, khó khăn, ngập ngừng như Platon nói: tất cả các linh hồn đều ở trong mối quan hệ với một trong những ngôi sao vĩnh cửu.

Những sức mạnh nặng nề của sao Thổ kéo nó xuống, các sức mạnh của sao Mộc gạ gẫm nó dừng lại, sức mạnh của sao Hỏa đưa nó đến sự thái quá của đam mê, để đạt được các lợi ích ích kỉ, sức mạnh của sao Kim buộc nó vào các lạc thú, các sức mạnh của sao Thủy thường xuyên dẫn dắt nó lạc đường, các sức mạnh của Mặt Trăng phủ ảo ảnh lên nó.

Nhưng sức mạnh của sao Thổ cũng cho nó sự xem xét, cho cái nhìn sắc bén, sự kiên cường không mệt mỏi và tính kiên trì không lay chuyển; các sức mạnh của sao Mộc cho nó sự kiêu ngạo, tính hài hước, sự kiên nhẫn; các sức mạnh của sao Hỏa đem cho nó lửa, lòng nhiệt tình, sức mạnh hành động; các sức mạnh của sao Kim cho nó lòng tin tưởng, sức khỏe, bè bạn; Sức mạnh của sao Thủy cho nó trí tuệ, sự am hiểu, sự linh lợi; sức mạnh của Mặt Trăng cho nó một thân hình khỏe mạnh, hệ thần kinh vững và trí tưởng tượng dồi dào.

Các tương đồng không chỉ dừng ở chỗ đưa con người và vũ trụ vào một mối quan hệ. Tuổi già phù hợp với ý tưởng của sao Thổ, là đá, sắc màu sẫm, sự cô độc, viễn cảnh, sự nghiêm khắc, sự kiên trì, công việc; phù hợp với ý tưởng của sao Mộc là sự ẩm ướt, là thời trai tráng, là màu xanh lá cây, là gia đình, cộng đồng, sự đàm thoại, đời sống nhà nước, sự dạy dỗ và học tập; giữa các trật tự xã hội phù hợp với sao Thổ là sự phục vụ, là người công nhân, thợ mỏ, người nông dân - giữa các ngành nghệ thuật là kiến trúc sư, nhà điêu khắc, bởi họ làm việc với đất và đá, - giữa những người lao động trí óc là nhà khổ hạnh, nhà huyền học, triết gia, bởi vì những người này là những con người cô đơn.

Giữa các trật tự xã hội phù hợp với sao Kim có thương gia, họa sĩ và những người làm nghề liên quan đến sự trang trí, với màu sắc: người làm vườn, thợ cắt tóc, thợ may, thợ kim hoàn, thợ thuộc da - cũng như phù hợp với sao Thủy là nhà văn, nhà hùng biện, diễn viên, nhà tài phiệt, nhà báo, luật sư - phù hợp với sao Mộc là người làm nghề hành chính, quan tòa, giáo viên, giáo sĩ.

Nếu trong một đất nước kẻ cai trị mang tính chất sao Mộc lên ngôi, sẽ ban rải những tia sáng của sao Mộc mang sự hài hước kín đáo, sự trang nghiêm từ thiện, tính quang minh, lòng danh dự, văn hóa gia đình, đời sống công cộng trong sạch.

Nếu kẻ cai trị mang tính chất sao Thổ lên ngôi, sự kiêu ngạo hợm hĩnh, lòng ích kỉ mạnh mẽ bao trùm đất nước, con người lãnh đạm không vồn vã, sự nghèo khổ lan rộng, và tất cả những chức vụ cao đều bị những người già nhẫn tâm chiếm lĩnh.

Nếu kẻ cai trị mang tính chất sao Hỏa lên ngôi, dân chúng hiếu chiến, quân đội nắm quyền, chiến tranh bùng nổ, trong nước bạo loạn, chuyên quyền lạm dụng trong đời sống hằng ngày, đời sống gia đình bị bỏ bê và gái điếm đầy rẫy.

Điều này tất nhiên đã đi quá xa so với những gì tử vi thời hiện đại cho thấy; đây là sự ứng dụng phù hợp của các tương đồng vũ trụ lớn.

5.

Chỉ còn thiếu một bước duy nhất nữa là có thể diễn đạt hoàn toàn hệ thống chiêm tinh cổ, vậy mà vẫn cần thử tìm hiểu cái gì làm cho những hình ảnh của chiêm tinh học có thể ứng dụng được. Đấy là cái trong mối quan hệ giữa các chòm sao, hay giữa các vị trí của các ngôi sao, hay còn gọi là mối quan hệ giữa chúng với nhau. Các chòm sao này có thể tính trên một nền tảng tính toán vô cùng đơn giản, và giống như Mandala, giữ gìn một khoảnh khắc của đời sống thế gian trong một dạng hình bí ẩn.

Các hành tinh không phải là các yếu tố mà là các biểu tượng nguyên thủy của các ý tưởng: còn các chòm sao là các vị trí vũ trụ mà các yếu tố luân chuyển qua, và trong mỗi chòm sao mang một ý nghĩa khác. Đây là một phần của chòm sao. Còn phần thứ hai là phần các hành tinh ở trong mối quan hệ như thế nào đấy với một khoảnh khắc của nhân gian. Tử vi giải nghĩa mối quan hệ này.

Có ba cách giải nghĩa hình: thứ nhất là hình chụp-một giây; thứ hai là một nét vẽ - hay là một bức họa, hình của khoảnh khắc; thứ ba là tử vi, hình tuyệt đối của vị trí thế gian. Một giây trôi qua trên bề mặt thế gian, vô nghĩa, là cái bên ngoài thuần túy, giả, theo chiều hướng giác quan và ảo ảnh; ảnh chụp không bao giờ đưa lại khuôn mặt, chỉ là hình ảnh mặt của một giây.

Khoảnh khắc ở mức cao hơn; khoảnh khắc gắn bó với toàn bộ đời sống diễn ra trong thiên nhiên vật chất và chỉ ra điều hơn thế; bởi vậy nét vẽ hay bức họa nghệ thuật đưa ra khuôn mặt trong sự sâu sắc và đích thực của linh hồn.

Hình thứ ba là tử vi, trải rộng ra vị trí thế gian, là khuôn mặt trong khía cạnh tiên nghiệm, trong mối quan hệ với các ý tưởng. Ảnh chụp như một giây không mang sự tương đồng của nó: đây là một cái Tôi cá nhân trong bản thân nó, thiếu vắng sự phù hợp, một mình, phi siêu hình học, một hình không có ý nghĩa của nó.

Trong một bức họa, các tương đồng mở ra hàng loạt; trong một khoảnh khắc vật chất và linh hồn và tinh thần, thế gian nhìn thấy và thế gian ý nghĩa bước vào mối quan hệ với nhau. Tử vi biểu hiện toàn bộ các tương đồng: các ý tưởng của nó, các yếu tố của nó, vật chất của nó, linh hồn của nó, đường dẫn số phận của nó, tri thức của nó, trạng thái tình cảm, khả năng của nó. Bởi vậy tử vi nói về vị trí thế gian trong toàn bộ sự sâu sắc và tầm vóc của nó.

Bởi vậy tử vi là mandala: là câu đố thế gian, là hình vĩnh cửu, là ý nghĩa tuyệt đối.

Ở đây không nhất thiết cần bàn đến các quan hệ sáu mươi độ, chín mươi độ, một trăm tám mươi độ trong từng chi tiết của con người. Có những cuốn sổ tay thực hiện điều này, đôi khi bằng những giác quan hoàn toàn đúng, không máy móc theo ý nghĩa của lối tư duy khoa học luận. Còn về những lời giải thích thời hiện đại, trong những văn bản nói về các mối quan hệ “tốt” “xấu”, “tất nhiên làm gì có” - đây là các thủ đoạn chiêm tinh học thuần túy, là một cách thức bói toán bằng các chòm sao một cách mê tín.

Tử vi vượt rất xa cái tốt xấu: vượt qua đời sống dễ chịu, sự may mắn, sự hưởng thụ đầy đủ, nổi danh, và điều tử vi nói là số phận vĩnh cửu và khuôn mặt vĩnh cửu của con người - một thực thể duy nhất, không lặp lại, không chia sẻ và không xóa đi.

6.

Ai một lần cầm lên tay cuốn sách chiêm tinh học và chỉ nhìn qua sẽ bị sốc khi nhìn thấy một hàng dài những sự phù hợp của các hành tinh trong mối quan hệ với màu sắc, kim loại, thời điểm trong ngày, với minh họa hình học, với con số, với một trong bảy ngày của tuần, với vật chất mô, với đá quý, với những con vật nhất định, với những địa điểm và môi trường nhất định. Họ sẽ bị sốc và cho rằng đây là sự mê tín bởi vì không hiểu ý nghĩa của các tương đồng. Tất nhiên các nhà chiêm tinh học thời hiện đại biết rất ít về sự giải thích ý nghĩa của các tương đồng, bởi vậy rất cần thiết tiết lộ ý nghĩa của các tương đồng là gì.

Một trong những nhiệm vụ của tổ chức tôn giáo thời cổ là gìn giữ mối quan hệ với Các Cha. Các Cha - ở Ấn Độ là pitri, ở Iran là fravasi ở Trung Quốc là Tổ - vị trí tồn tại của họ là vòng tròn của thế giới các tinh tú: là nơi mà các linh hồn chuyển dời cũng sẽ rơi vào. Từ vòng tròn này có thể triệu tập bằng nghi lễ và có thể duy trì mối quan hệ với những linh hồn đã chuyển dời và những hồn ma của Các Cha. Dù bằng mục đích khác vẫn có thể yêu cầu sự hoạt động của Các Cha, nhưng yêu cầu duy trì mối quan hệ này cần đến một trật tự nghi lễ đúng luật, vô thanh, nghiêm khắc. Trật tự này nằm trên nền tảng các tương đồng.

Chủ tế, người muốn triệu tập bất kì ai giữa các hồn ma của Các Cha hoặc những kẻ đã mất, trước tiên cần lựa chọn vị trí và thời gian. Ví dụ vị trí môi trường thuận lợi có thể hoàn thành nghi lễ vào ngày thứ tư, điều cần biết là ngày thứ tư ấy phải đóng ở sao Thủy. Sao Thủy ưa những giờ sớm hoặc muộn, hoặc buổi bình minh hoặc lúc chiều muộn. Màu của sao Thủy là màu vàng, chất liệu vật chất của nó hoàn toàn nhẹ nhàng, kim loại của nó là thủy ngân.

Cần mặc trang phục mang chất liệu sao Thủy, cần đeo vào ngón tay một chiếc nhẫn mang viên đá có tính chất sao Thủy (krizolit hoặc klizofraz) cần trang trí bằng lông chim mang tính chất sao Thủy, và cần giẫm lên tấm thảm làm bằng da con vật mang tính chất sao Thủy. Nếu thực hiện nghi lễ vào Chủ nhật, ngày của Mặt Trời cần lựa chọn chất liệu vải, kim loại, đá quý, hoa, da thú vật khác và khác nữa, nếu làm vào thứ Hai, ngày của Mặt Trăng.

Vậy cái gì là mối quan hệ giữa các màu sắc, ngày, vị trí, kim loại, đá quý, chỉ kẻ biết câu trả lời cái gì là sự tương đồng mới rõ mà thôi. “Có sự tương đồng trong cội rễ của toàn thể, là mối tương quan ẩn náu, bí ẩn giữa các sự vật. Tương đồng cũng là nền tảng của phép thuật”.

Abbé Cosntant trong thế kỉ vừa qua từ nền tảng kí ức của truyền thống đã thử triệu tập bóng ma của Tiana Apollonios về. Ông đã ghi lại tỉ mỉ cảnh bên ngoài và diễn biến của cảnh hồi triệu phép thuật này, rằng cần phải lựa chọn kĩ lưỡng thế nào vị trí, trang phục của nghi lễ, tấm da súc vật, vòng hoa, đồ trang sức - và ngày, thời gian trong ngày, giờ, kim loại phù hợp đúng luật.

Ông không ngớt nhấn mạnh trong nghi lễ phép thuật này một lầm lẫn nhỏ nhất cũng dẫn nghi lễ đến thảm họa bởi vì thực thể khí được vời đến mang theo một quyền lực vĩ đại so với sức mạnh của con người sống trong thiên nhiên vật chất. Hoạt động phép thuật, mặc dù vẫn duy trì các quy tắc cần thiết nhưng tác động hủy hoại của nó vẫn rất lớn.

Chỉ ví dụ này cũng đủ để con người hiểu rằng các tương đồng đánh dấu trong những cuốn sách chiêm tinh học giữa các kim loại, các loại hoa, vải vóc, các màu sắc, các ngày, các con số không phải là đồ chơi, càng không phải là sự mê tín. Chiêm tinh học đối với con người cổ không chỉ là khoa tử vi, mà còn là một thực hành phép thuật. Và thực hành này cũng giống như sự tiên đoán tương lai, sự tính toán các sự kiện, việc xướng lên các đặc tính và tài năng của con người, cũng như sự thấu hiểu các sự kiện lịch sử, tất cả đều do sự tương đồng chỉ đạo.

« Lùi
Tiến »