Minh Triết Thiêng Liêng Tập 2

Lượt đọc: 214 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
III. Song tử
1.

Huyền thoại kể rằng, nhân loại trong buổi bình minh đầu tiên của thời cổ hạnh phúc vì thỏa mãn nhưng hoàn toàn sống trong vô thức. Niềm hạnh phúc này không là gì khác ngoài việc trái đất như một con vật đẹp nhất. Các thiếu nữ của con người đẹp đến mức các thiên thần còn phải thèm muốn. Một vài thiên thần đã thả lỏng dục vọng nung nấu trong lòng và bay xuống trái đất. Sau đó các thiên thần này dạy cho con người biết bằng đôi tay của mình làm ra các công cụ và xây nhà, thuần hóa lúa mọc dại, súc vật hoang; họ dạy cho con người cách sử dụng lửa và nhận biết sự tuần hoàn của các ngôi sao. Nhưng chưa có tri thức nào con người đạt tới lại lớn bằng tri thức về các con số.

Khoa học về các con số, lí thuyết thần số học hay huyền số học hay siêu hình học về số, tất cả các dân tộc cổ đều biết. Ở Peru và Yucanta người ta sử dụng nó cũng giống như ở Trung Quốc, Tây Tạng, Ấn Độ, Iran, Judea, hay Ai Cập. Pythagoras đem lí thuyết thần số học vào châu Âu và địa phương hóa; rất có thể những dạng hình muộn mằn sau này của nó được Platon lĩnh hội. Dạng hình cổ của nó được kinh Kabbala, Hindu gìn giữ như những kỉ niệm đồng nhất trong truyền thống Kaldeu, Babilon, Ai Cập.

Mới đây nhất Court de Gebelin, khi giải thích ý nghĩa của cách bói bài Digan muốn đưa cội nguồn của con bài này quay về đến tận thời của Hermes Trismegistos, ông nói những lá bài bói số này giống như bói đũa của Trung Quốc, là cuốn sách đầu tiên của nhân loại. Đây là Tarot, dạng hình muộn màng hơn của nó cùng với tarot là Kinh Dịch, là chữ viết túm của Peru. Cùng với Kipu, chữ viết hình của người Aztek-Maja, người ta có thể hình dung ra những vòng tròn số cổ siêu hình học.

Ngôn ngữ hình cổ với ngôn ngữ khái niệm hoặc ngôn ngữ đại chúng của con người thời lịch sử có mối quan hệ tựa như quan hệ của con số cổ với nhân loại hiện đại. Từ con số của con người lịch sử, từ ý tưởng, siêu hình học, hình, viễn cảnh, từ toàn bộ: sự tương đồng đã bị đánh mất. Con số ngày nay trở thành công thức thuần túy và số lượng trừu tượng.

Nhưng con số cổ không chỉ có nghĩa là ý tưởng và hình. Con số là cội rễ của tất cả các ý nghĩa. Nhận thức của con người trong thiên nhiên vật chất duy nhất chỉ đạt tuyệt đối trên một điểm, đó là: con số. Con số là chìa khóa để nhận thức tinh thần, để có thể mở tất cả bí ẩn của vật chất, và bằng con số nhận thức vật chất cũng có thể mở ra mọi bí ẩn của tinh thần.

Con số là kẻ trung gian lớn, là tri thức sau cùng, là hiện thực đầu tiên có thể cảm nhận, nối những thế gian hữu hình và vô hình lại với nhau. Con số là một trạng thái tâm linh trong đó vật chất thích nghi với tinh thần và tinh thần thích nghi với vật chất. Con số là nền tảng của trật tự, của các giá trị; con số là ý nghĩa cuối cùng của mọi luật lệ; số phận con người, số phận cộng đồng, tư tưởng, cái đẹp, sự thật, sự viên mãn, sức khỏe, tri thức nằm trên các con số. Con số là yếu tố đơn giản không thể dẫn dắt sang cái khác, để trong đó con người trực tiếp quan hệ với sự sống của thế gian.

Trong ngôn ngữ Do Thái lời nói và sách bắt nguồn từ con số, mang ý nghĩa là giọng nói của Thượng Đế: chữ viết và lời nói không là gì khác ngoài sự đếm, và con số là chữ viết và lời nói của Thượng Đế. Tri thức nói về con số là sự nhận biết quá độ, nơi hiện thực cảm nhận và kinh nghiệm được biến thành hiện thực thuần túy tinh thần và là sự biến đổi, nơi các tương đồng kết thúc và tinh luyện thành các ý tưởng vĩnh cửu bất biến.

“Các con số không phải là các ý tưởng mà là ý nghĩa của các ý tưởng; sức mạnh của các thực thể không nằm trong các con số, mà các con số nằm trong các sức mạnh, không được phép tách rời các con số ra khỏi các sức mạnh và các ý tưởng, nhưng nhầm lẫn chúng với nhau cũng không được phép”.

Pythagoras là người cuối cùng của thời cổ đại biết điều này một cách rõ ràng. Ở Platon các ý tưởng, các con số và các sức mạnh đã bước vào một mối quan hệ bối rối hơn, và sự sáng sủa cổ đã bắt đầu trở nên mờ mịt.

Từ thuở đó cho tới ngày nay tri thức này đã hoàn toàn bị quên lãng, ngày hôm nay con số trở thành đơn vị số lượng thuần túy để đếm và nội dung tinh thần của nó hoàn toàn biến mất. Tri thức: con số cùng ba ý nghĩa Thượng Đế-tinh thần-thiên nhiên và vị trí cội rễ duy trì, chỉ đạo mối quan hệ giữa các vòng của sự sống trong con số đã biến mất.

Tri thức cho rằng: nền tảng của tương đồng là con số, đã chìm nghỉm. Đây là con số mà Pythagoras gọi là sự hài hòa, Herakleitos đặt tên là logo - bởi logo cũng biểu hiện mối quan hệ giữa hai số, có nghĩa là sự đo lường.

2.

Một khoảnh khắc duy nhất nói về lí thuyết con số chẳng nói lên điều gì, trong tri thức cổ không thể hiểu ra nhanh gọn và có thể nhìn thấu lập tức bất kì cái gì. Thuật giả kim, chiêm tinh học, Kinh Dịch, tầm vóc và độ sâu của tổng hợp cổ và ngôn ngữ Sancrit chỉ sau một thời gian dài nghiền ngẫm mới được trải rộng. Liên quan đến những điều này không gì bằng lí thuyết về các con số. Thoạt nhìn người ta tưởng chỉ là một trò chơi lí thú. Nhưng nếu con người lịch sử nghiền ngẫm sâu hơn, họ bắt đầu bối rối. Không theo kịp nổi hướng tư duy. Không hiểu về các tương đồng. Ít người lần tới sự nghiêm chỉnh về siêu hình học. Còn để hiểu hoàn toàn chắc không có ai.

Eckartshausen, nhà tư tưởng sống cuối thế kỉ XVIII là một trong số ít người của thời hiện đại chủ yếu chỉ dựa vào nền tảng của những cuốn sách Kabbala nhưng lại có khả năng trả lại nội dung cho lí thuyết con số cổ. Tư tưởng của Platon: “ Thế gian là hình ảnh mô phỏng của các ý tưởng theo các con số” ông hiểu, và ông biết: “ Kinh nghiệm giác quan là một sự tính toán giả dối”.

Giả thuyết tương đồng lớn lao của Hermes Trismegistos về lí thuyết các con số: cái có ở trên cũng tương tự như cái có ở dưới, được nêu rõ như sau: “Không gì có thể xuất hiện trên thế gian trong hình dạng trần thế mà không phải là một sức mạnh bên trên”. Dấu hiệu của sức mạnh này là con số. Và dấu hiệu của nó là dấu hiệu trực tiếp, bởi con số đánh dấu một sức mạnh, thứ kết hợp hình thức và sức mạnh với nhau, hay nói cách khác: con số hợp nhất thế giới tinh thần với thiên nhiên vật chất.

Con số là định luật mà theo đó các sự vật không chỉ thể hiện mà còn: CÓ. Như Philolaos của trường phái Pythagoras viết: “Con số là sợi xích ràng buộc mang tính thống trị, là một tồn tại có sẵn và vĩnh cửu, là thứ ràng buộc làm một tất cả mọi sự vật trên thế gian. Lí thuyết con số là một khoa học, bằng sự trợ giúp của tri thức về dãy số tiến triển con người nhận thức và hiểu ra tất cả các định luật của sự vật mang cả tính vật chất lẫn tinh thần”.

Bởi vì các quy luật tự nhiên bao hàm chính xác trong dãy số lên và xuống của con số. Không phải tri thức đã tạo ra con số: con số là hình ảnh tinh thần trong sạch của sự tồn tại tinh thần cổ. Ý tưởng chỉ là bằng chứng của hình ảnh này. Con số bao hàm hiện thực tinh thần ở mức độ khi nó vẫn còn là: sức mạnh, nghị lực sáng tạo, tư tưởng sáng tạo không thể nắm bắt. Cái nó thể hiện trong dạng hình của các sự vật không là gì khác ngoài chính là sức mạnh này, nghị lực này, tư tưởng này nhưng là những mức độ khác nhau trong dãy số tiến của nó.

Bởi vì con số là sức mạnh, là tư tưởng tạo dựng: Một. Cái Một này chính là cái Tất Cả. Tất cả là một.

Đây là Hen kai pan Hen panta einai. Là lời tuyên bố của MỘT đầu tiên, là tác động của Sức Mạnh. Và đây là tác động: HAI. Kết quả và hậu quả của tác động: là Dạng Hình. Dạng hình là Ba. Con số Ba nằm trên nền tảng của toàn bộ thế gian được tạo dựng: Sức Mạnh - là Một, Tác Động - là Hai, Dạng Hình - là Ba. Ba là con số cơ bản của hiện thực dạng hình (hình thức) và tri thức (nội dung) của tất cả.

Eckartshausen cho rằng: “ Thế giới là sự biểu hiện của sức mạnh giản dị mang tính siêu nhiên”. Các sự vật của thế gian gắn kết với nhau như dãy số tiến của các con số nằm trong các sự vật có quan hệ đến sức mạnh siêu nhiên giản dị ấy, hay nói cách khác con số nằm trong các sự vật có mối quan hệ với MỘT. “Con số là công cụ để nhận thức ra mối tương quan và sự thống nhất của cái toàn thể của thế gian. Con số là những cái con người nhìn thấy như các sự vật, các vật thể, các hiện tượng và các sự kiện, như sự bắt đầu của nó, và bởi vì nó là sự bắt đầu của các sự vật, chỉ linh hồn hiểu biết mới nhìn thấy được”.

“Con số là một trường tâm linh để con người nhận biết các đặc tính tạo dựng của Thượng Đế - Con số là công cụ để con người có thể đánh giá thế gian được tạo dựng và những mối quan hệ trong thế gian này trong sự rõ ràng minh bạch của chúng. - Con số là một trường tâm linh giải thích sự xuất hiện của các yếu tố và cái nằm trên nền tảng của các yếu tố đó. - Con số là một trường tâm linh bao hàm những sức mạnh ẩn chứa trong thế gian vật chất”.

Đây là một vị trí mà lí thuyết con số sử dụng chính lí thuyết con số cho mình: “ MỘT là sức mạnh; dãy số tiến (cấp số cộng) là tác động; con số là hậu quả”… Bản thân con số cũng đứng như vậy, như tất cả mọi tồn tại, trong đặc tính BA.

3.

Một phân tích tương đồng duy nhất nằm trong lí thuyết con số nói về tư duy của con người cổ sẽ có rất nhiều tác dụng so với bất kì sự giải thích rộng mở nào của lí thuyết con số. Đối tượng của sự phân tích này là: HAI.

Con người lịch sử chỉ nhìn thấy lượng trong con số, bởi vậy họ tưởng hai nhiều hơn một. Con người cổ, kẻ nhìn thấy lượng trong con số là cả số lượng lẫn dãy số tiến của ý niệm, kẻ đó biết, con số lớn nhất là MỘT. Hai không phải là gấp hai lần như thế mà là hai cái một nửa. MỘT thực ra cũng không phải là con số. MỘT là sự hợp nhất. Là sự sống và ý niệm tuyệt đối. Con số đầu tiên là hai, đây là số lượng đầu tiên - là sự xuất hiện đầu tiên của cái đa dạng.

MỘT là HÌNH THỨC, HAI là VẬT CHẤT. Bởi vậy số Hai là số độc ác, của mâu thuẫn. Theo Pythagoras Một là Apollon, Hai là Xung Đột. Hai là Binarius, là con số của rắn, của cái xấu. Hai là con số của khoa học, của sự tách ra có chủ ý và nhân tạo, của sự đối kháng. Theo Pythagoras Hai không là gì khác ngoài sự rối loạn của MỘT; như cách thức từ sự đứt khúc đầu tiên của ánh sáng rạng ngời không màu rồi mờ dần đi của nó xuất hiện màu sắc đầu tiên: màu trắng - Màu trắng không là gì khác ngoài là ánh sáng rối loạn, xuất hiện từ MỘT rạng ngời, nếu bị gãy, thành Hai.

Nếu MỘT bị gãy, biến thành hai. Hai không phải hai cái Một mà là hai nửa - nhưng hai nửa không bao giờ trở thành Một lần nữa, và không thể biến đổi lại thành Một. Cần phải đi tiếp đến một huyền bí lớn nữa để sự Hợp Nhất được trả lại trên một mức độ mới. Sự huyền bí này dẫn dắt vượt qua Hai. Đấy là: Ba.

Có thể hình dung sự xuất hiện của Hai như sau: MỘT là sự hoàn hảo, là cái toàn bộ - tương đồng hình học của MỘT là ĐIỂM - là thứ cũng là vòng và hình cầu. Bởi vậy không bao giờ, ai, bằng tiếp cận hình học có thể cảm nhận vũ trụ một cách khác ngoài bằng sự tương đồng của nó: bằng điểm, thứ cũng là vòng và hình cầu. Vũ trụ là một biểu hiện và là bản sao của Thượng Đế được tạo dựng: là sự tương đồng của chính nó. Bởi vậy thế gian cũng chính là MỘT, là TẠO HÓA; bởi vậy điểm và vòng và hình cầu, MỘT trong MỘT.

Sự thay đổi trước tiên khiến vòng, hình cầu và điểm phải chịu đựng, là sự méo mó. Sự méo mó như thể ánh sáng không màu bị gãy, và bắt đầu xuất hiện sự nhiễu đầu tiên, màu trắng. Kết quả của sự méo mó là vòng tròn và hình cầu bị phẳng đi, và vì phẳng đi, điểm giữa của nó tách làm đôi. Đây là hình elip, hay là hình quả trứng. Nhưng hình elip không có một điểm giữa, mà có hai tiêu điểm. Đây là khoảnh khắc khi vòng tròn méo đi và trong một điểm giữa duy nhất tách thành hai, thành hai tiêu điểm. Đây là sự xuất hiện của Hai.

Người ta gọi hai điểm của hình elip là tiêu điểm bởi vì điểm giữa của hình tròn là điểm của ánh sáng cân bằng, an bình, vĩnh cửu; khi một điểm MỘT biến thành hai, trong hai điểm này lập tức nổi lên sự tò mò khao khát muốn lấy lại sự hoàn hảo, trả lại sự Hợp Nhất, và từ nỗi tò mò khao khát này hai điểm bốc cháy thành ngọn lửa. Bởi vậy hai điểm này là những tiêu điểm, những điểm cháy. Nhưng không thể trở thành một, vô ích chúng cháy vì nhau. Trong cộng đồng, trong MỘT để chúng có thể gặp gỡ nhau một lần nữa, hai ngọn lửa ít ỏi. Và sự hợp nhất cũng cần thiết. Thế là: một lần nữa ta lại thấy sự huyền bí của con số BA.

Theo truyền thống cổ, Binarius là con số độc ác và của con rắn bởi vì con rắn là biểu tượng của thực thể bị đánh mất trung điểm của nó, và khi con rắn đớp lấy đuôi, nó đi tìm điểm giữa. Nhưng cái nó tìm thấy và vòng khóa lại không phải là điểm giữa mà là sự trống rỗng. Đây là biểu tượng của cái Tôi. Thực chất con rắn sẽ không bao giờ tìm thấy điểm giữa, bởi vì khi nó đớp vào cái đuôi, nó không bao giờ có thể bước vào điểm trọng tâm, luôn chỉ ở bên ngoài của vòng tròn.

Đây chính là ngoại vi. Và một lần nữa lại là biểu tượng của cái Tôi. Điểm trọng tâm, điểm giữa chỉ có một và đấy là: MỘT. Điểm giữa của tất cả mọi thực thể: MỘT. Cái Tôi của mọi thực thể: MỘT. Bởi vậy sau sự chia lìa với MỘT vô ích thử thí nghiệm kiếm tìm, nhất là nỗ lực tạo dựng điểm giữa: chỉ là một khoảng không phi gắn bó xuất hiện và là ngoại vi.

Nhưng mối quan hệ giữa khoảng không và ngoại vi cũng giống như mối quan hệ của hai tiêu điểm: cả hai đều muốn trở thành Một nhưng không thể. Để Hai lại một lần nữa gặp gỡ nhau và hợp nhất, sức mạnh của ngoại vi và khoảng không ít ỏi - cần một cái gì khác xuất hiện để Hai có thể hợp nhất. Đây lại là sự huyền bí của Ba lần nữa.

4.

Kinh Kabbala cho rằng các linh hồn được gửi xuống đường trần cùng với cặp của mình, ai cũng có một bạn đời cùng phải sống qua số phận với mình trong thế gian vật chất, cần phải cháy, cháy trong khát vọng hợp nhất và ước muốn biến thành Một. Sự tách rời làm hai và cuộc đời tìm kiếm sự hợp nhất này nằm trong biểu tượng của trò chơi bóng linh thiêng của người Mexico.

Chơi trò này, hai người đứng thành vòng tròn, không được phép bước ra khỏi vòng, và hai vòng chỉ tiếp xúc lẫn nhau trong một điểm duy nhất của hiện trường. Họ chạy vòng quanh, về phía trước, ra phía sau, từ điểm giữa rồi quay lại, và từ vòng này sang vòng khác họ ném quả bóng gắn lông chim vào nhau. Quả bóng này giống như từ ngữ ném ra từ linh hồn này sang linh hồn khác, giống như niềm đam mê mơ ước buộc chặt lẫn nhau, như khát vọng. Nhưng chỉ là lời nhắn nhủ từ vòng khác đến.

Hai vòng thực chất là dạng hình phóng đại của hai tiêu điểm: là một cặp phi trung tâm, như mối quan hệ của đàn ông và đàn bà, một sự gặp gỡ vô hi vọng. Bóng bay từ tiêu điểm này sang tiêu điểm khác, bị ném trả, lại bắt được, lại ném trả lại. Họ không thể gặp gỡ nhau. Không được phép ra khỏi vòng. Không được phép bước ra ngoài. Tất cả các vòng giống như cái con rắn đã tạo khi ngoạm vào đuôi: điểm và vòng ngoài. Bởi vì từng vòng không phải là từng cái MỘT, mà đều là HAI.

Cả con người với bản thân mình, cả đàn ông với đàn bà, cả tiêu điểm này với tiêu điểm kia không bao giờ có thể gặp gỡ nhau. Điều duy nhất họ có thể làm được là nhắn cho nhau. Như cách thức họ ném bóng cho nhau. Họ rất biết cả hai thực chất và ở một nơi nào đấy là MỘT, đã từng và sẽ là MỘT, một như một quả bóng họ đang ném cho nhau. Còn quả bóng có cắm lông chim giống như con rắn có lông chim, không là gì khác ngoài là vật chất được hưng phấn hóa.

Bởi vì con rắn là biểu tượng của vật chất, lông chim là biểu tượng của linh hồn - bởi vậy chim là biểu tượng linh hồn và là tương đồng linh hồn, và trang phục cắm lông chim của người Mexico, mũ gắn lông chim đều là trang trí của giới giáo sĩ, của các cô gái trẻ và của những người đã chết, của tất cả những ai gắn bó trong mối quan hệ sâu sắc với linh hồn, như nhiều người khác.

Cặp không phải tuyên ngôn duy nhất của Hai. Hai là mâu thuẫn, hai là bản gốc và bản sao, hai là hai sinh đôi, hai giới tính, là sự nước đôi, là điều này và điều khác, là tiêu điểm và nghịch điểm, là đôi, là hai cực. Cặp giữa những lời tuyên bố của Hai gần nhất đối với MỘT: “ Cặp trong cùng một thời gian chui ra khỏi quả trứng: là hai đứa trẻ của MỘT, là MỘT, mà từ đấy hai ngọn lửa ngôn từ bùng lên”.

Truyền thống Hindu gọi là Purusa và Prakriti, truyền thống Trung Quốc gọi là Dương và Âm. Đây là Siva và Sakti. Ở Ai Cập là Oziris và Ré: Oziris sà xuống Tattu và gặp linh hồn của Ré; “hai thần ôm choàng phủ lên nhau và trong khoảnh khắc đó đôi song tử thần linh đã sinh ra”.

Cặp song tử như thế là Izis và Nephtus, Maati đôi - dạng hình sinh đôi của bà mẹ của thế gian. Trong truyền thống Hermes, Mặt Trời là biểu tượng của nhận thức, và song tử của Mặt Trời là Mặt Trăng, Mặt Trăng là một Mặt Trời khác. Ở Peru hai zemi gặp nhau cũng đúng như trong trò chơi bóng linh thiêng của Mexico, đây là một điệu múa kịch. Những điệu múa đôi ở khắp mọi nơi trên thế gian đều là sự gặp gỡ, sự căng thẳng, là mâu thuẫn và sự hòa hợp, sự cân bằng của song sinh trời, của Mặt Trời và Mặt Trăng và ở khắp mọi nơi đều là Một biến thành Hai.

5.

Zurvan sinh ra cặp song tử ở Iran. Zurvan là Varuna Do Thái và Uranos Hi Lạp. Cặp song tử: Ahura Mazda-ánh sáng và Ahriman-bóng tối. Buổi ban đầu Thượng Đế tạo dựng thiên đường và mặt đất. Trong các cặp song tử này Hai gặp gỡ tất cả các mâu thuẫn, sự căng thẳng của chúng, tính chất cặp của chúng, tính chất gấp đôi của chúng và mọi khó khăn cùng sự lưỡng lự của chúng.

Trong jema, trong cặp song tử thể hiện hoàn toàn: Hai là hai nửa của Một, như Siva và Sakti, dương và âm, Mặt Trời và Mặt Trăng, Oziris và Ré. Bởi vì cái từ vĩnh cửu, có và sẽ có thực chất chỉ là MỘT. Cái không phải là Một thực chất chỉ là bản sao của Một mà thôi. Trong truyền thống Iran maetha là sự đơn giản. Sự đơn giản này là hình ảnh cổ của vũ trụ, là cái vĩnh hằng.

Cái được sinh ra và sống đã là gấp đôi: đã là Hai, đã là hình và thực thể, đã là mẫu và hình dạng. Và đây là nền tảng tương đồng của tất cả. Tương đồng chỉ có nghĩa ngần này, như một thực thể trần thế và sự vật và hiện tượng, phù hợp với tinh thần-vũ trụ. Sự phù hợp này người ta gọi nó là sự tương đồng.

Ở người Hi Lạp idea (ý niệm) là hình ảnh cổ, là bản gốc, là mẫu; eidolon là bản sao, là dạng, là xuất xứ. Mối quan hệ giữa idea eidolon là cái trong sự tương đồng, là sự phù hợp giữa hiện tượng này với hiện tượng khác. Trong mọi hình thức có sự trùng lặp bí truyền, trong mọi thực thể có Hai bí ẩn - đây là cái ở Ai Cập người ta gọi là ka. Ka là linh hồn đôi elip; chữ tượng hình của nó là hai bàn tay giơ lên.

Đây là cái mà Kabbala tả khi nói rằng các linh hồn được gửi vào đường đời bằng cặp của nó, đây là cái mọi truyền thống gọi là cơ thể khí, Hindu gọi là szúksma-sarira, là linh hồn tinh thần tinh tế, đây là cái mà trong hình thức lai các dân tộc nguyên thủy gìn giữ như dạng hình đã phai nhạt của kiến thức cao cấp: trong tô tem. Trong sự tương đồng định luật của Hai biểu hiện, bởi vì con người khi nhìn thấy sự phù hợp, nó phát hiện ra rằng một cái là idea, cái kia là eidolon, hình cổ và bản sao.

Hình hài của Hai nằm trong zemi của Peru, trong jema của Iran, trong asvino của Hindu, trong dioskuro của Hi Lạp, trong gemini của La Mã. Tất cả các từ này đều mang ý nghĩa: song tử. Song tử vừa là mâu thuẫn, vừa là cặp, vừa là nửa, cái này là đôi của cái kia, cái này là ý niệm của cái kia, nếu cái này là idea thì cái kia là eiodolon, nếu cái kia là idea thì cái này là eidolon, một bản gốc và một bản sao, hình cổ và sự trùng lặp, luôn nhảy từ cái này sang cái kia và ngược lại, như quả bóng gắn lông chim trong trò chơi linh thiêng của người Mexico.

Như với người đàn ông, đàn bà cùng lúc vừa là mẹ vừa là con gái, và với người đàn bà đàn ông cùng lúc vừa là cha vừa là con trai; Đây là tính chất hai mặt, hai ý nghĩa, tính lưỡng phân của tất cả các mối quan hệ trần gian, là sự bí ẩn đúp mà ý nghĩa của nó không phải là thực thể mạnh lên hai lần, mà chỉ mạnh có một nửa, bởi cần nhấn mạnh rằng Hai không nhiều hơn, mà là ít hơn Một, và Hai là con số của các xung đột.

Bởi vậy có những trò chơi chiến đấu linh thiêng, những trò đấu kiếm hai người. Hai không là gì khác ngoài sự rối loạn của Một, là con số không rõ ràng, là con số của sự đổ vỡ, của sự ngủ quên, của sự hoạt động phi pháp, là sự tách rời tự thân và bước ra khỏi Một.

Hai anh em sinh đôi Iran Ahura Mazda Ahriman mang ý nghĩa bản chất hai mặt của thế gian này. Bất cứ một thần linh nào trên đầu họ cũng có một đội quân thần linh lớn phù trợ. Các thần linh phù trợ Ahura Mazda là các daéna, còn các thần linh phù trợ cho Ahriman là các drug. Tất cả các daéna drug phù hợp nhau như người anh em song tử của họ.

Như trong mỗi con người, người này có daéna và người kia có drug, một đôi elip, và con người với nhau là những mối quan hệ daéna drug, như bạn bè, anh chị em, chồng, vợ, con cái. Sự sống luôn va đập giữa hai cực, lúc cái này lúc cái kia là âm dương, người Trung Quốc nói: một cái là ánh sáng, một cái ngâm mình trong bóng tối. Một rạng ngời lên, một mờ tối đi. Một bốc cháy, một tắt ngấm. Một có, một không. Một tích cực, một tiêu cực. Một là ngày, một là đêm. Một là đông, một là hè. Một hút, một đẩy.

Trong cái MỘT cổ, trong vòng tròn nơi chỉ có một điểm giữa, sự tổng hợp của các sức mạnh nằm trong điểm giữa như một sự viên mãn tự thân. Khi hình tròn của MỘT méo mó đi biến thành hình elip, MỘT biến thành HAI, từ một điểm giữa xuất hiện thành hai tiêu điểm. Sức mạnh bị tách rời, một cái biến thành từ, cái kia biến thành điện. Từ hấp dẫn, cuốn hút, là âm, mang tính nữ, tối tăm, nóng, là Sakti, Izis; điện tích cực, tấn công, là dương, là ánh sáng, lạnh, là đàn ông, là Siva, Oziris.

Cứ như thế sự sống chuyển động giữa tối tăm nóng và sáng sủa lạnh: giữa âm và dương, một có một không, Oziris-Izis, Ahura Mazda-Ahriman, daéna-drug. Bởi vậy sự sống giống như song tử, giống như Janus hai khuôn mặt, giống như cái rìu hai đầu. Mệnh đề-phản đề, pravritti-nivritti, mở rộng-thu hẹp, szarga-apavarga, thở ra-hít vào, tiến hóa-thoái hóa, hội nhập-tan rã, hình thành-giải thể.

6.

Hai là dãy số tiến đầu tiên của MỘT, và như vậy là con số đầu tiên. MỘT là toàn bộ, Hai là sự rạn vỡ đầu tiên, bởi vì Hai không phải là hai lần Một mà là một nửa của Một. Nhưng để cho hai nửa hãy đúng là hai nửa hoặc là một đôi duy nhất và cả hai cùng trở thành Một, đấy là điều vô vọng: cái này và cái kia trong Hai thực chất ít hơn một nửa của MỘT. Một sự gãy vỡ thật sự. Một sự gãy vỡ không bao giờ trở thành cái toàn bộ nữa. Đây là mặt tiêu cực của Hai.

Nhưng Hai cũng có mặt tích cực của nó. Khi con rắn ngoạm vào đuôi của nó và thử tạo dựng điểm giữa trong chính mình, thực chất nó đã chạm vào cái toàn bộ: nhưng điều này là giả và BẤT NHẤT. Không phải là cái toàn bộ, chỉ thoạt tưởng như vậy. Đấy là eidolon, không phải idea. Đấy là bề nổi và là sự hai mặt của một không gian bị khóa kín. Hình ảnh này là biểu tượng của cái Tôi con người: điểm giữa giả bị khóa kín bằng bề mặt.

Mặt tích cực và hành động tích cực của Hai là khi nó phá vỡ bề mặt giả này, nó giải quyết điểm giữa giả này và giải thoát. Biểu tượng con rắn cắn đuôi là biểu tượng của đời sống khóa kín, bởi vì trong đời sống bị khóa kín cái Tôi nằm cùng với bề mặt trong một khoảng không bị khóa kín xung quanh. Như vậy sự tích cực của Hai là mở ra, phá vỡ đời sống bị khóa, trả lại vị trí của trăm nghìn mối quan hệ trong đời sống, chuyển động con lắc bắt đầu xảy ra giữa cái Tôi và cái Tôi, như trong trò chơi zemi của Peru, gladiator ở La Mã, trong các điệu nhảy đôi, trong trò chơi bóng thiêng ở Mexico.

Hoạt động của các jema, dioskur, của song tử là giải phóng, mở đời sống bị khóa kín ra. Bởi cái Tôi là điểm giả, không mang tính vũ trụ: Một người để sống được, cần phải cháy, cần trở thành tiêu điểm, cần phải được nhóm lửa lên và cháy bùng lên. Cần phải sống qua sự sống điểm cháy, để sau đó một lần nữa có thể trở thành điểm giữa, hay nói đúng hơn để một lần nữa hòa vào với MỘT.

Đây là ý nghĩa của Ahura Mazda Ahriman, của song tử cổ, đây là cái Khác, hoàn toàn có cùng một giá trị như những cái trước. Là ý nghĩa của cái Khác, bởi vì Hai là chừng ấy như Hai và mang hai ý nghĩa: hai mặt của nó, hai ý nghĩa của nó, hoạt động gấp đôi của nó. Sự gấp đôi của song tử ở đây là sự giải thoát. Điều này cũng nằm trong ý nghĩa của trò chơi bóng Mexico.

Con người bước ra từ điểm Một bị khóa kín, rơi vào mối quan hệ với elip đúp của nó, nhóm lửa lên và cháy, và là ngọn lửa, vì lông chim cũng mang ý nghĩa là ngọn lửa, truyền từ điểm cháy này sang điểm cháy kia và nhảy nhót: âm dương; đàn ông đàn bà; bên phải bên trái; sáng tối; nóng lạnh.

Cái Tôi của đàn ông cần cháy trong cái Tôi của đàn bà, cái Tôi của đàn bà cần cháy trong cái Tôi của đàn ông, bởi nếu bị khóa kín không bao giờ bước vào quan hệ với Hai, không thể cháy và không bao giờ biến thành Một: vĩnh viễn chỉ là điểm và bề mặt, vĩnh viễn là Hai.

Hai chỉ có thể trong hai là toàn bộ: biểu tượng của Kastor Pollux, của tình bạn, của song sinh; đây là bí ẩn của đời sống phân cực, là sự bắt buộc và nhiệm vụ của nó, để cái Tôi bị khóa kín trở thành cực và nhận bắt lửa. Đây là ý nghĩa của đêm tân hôn: cả hai cùng lúc chỉ đạt tới Một trong tính chất Hai, là thứ không còn hai cực của nó nữa, mà chỉ là điểm giữa duy nhất.

Kẻ khổ hạnh Trung Quốc, Hindu, Sufi, Mexico, Tây Tạng và Peru thực hành một cách tỉnh táo và rõ ràng sự phân cực này để duy trì bản thân mình trong các góc, cực, điểm cháy, tiêu điểm, mâu thuẫn để đạt tới trạng thái MỘT tuyệt đối phi cực, phi đối kháng, trạng thái vô vi, Đạo.

Hai là biểu tượng của đời sống mở và đã được mở, và khi vua hoặc giáo chủ thời cổ đang hiến đất nước và dân chúng cho Thượng Đế là đã phân cực dân chúng cùng Thượng Đế: Thượng Đế là cặp, là tiêu điểm mang tính chất trời của dân chúng. Lửa của Thần nhen nhóm cho dân chúng, như cách thức người đàn ông nhen lửa cho đàn bà, bạn bè nhen lửa cho bạn bè. Dân chúng trở thành dân chúng của Thượng Đế như vậy: cặp đôi của Thượng Đế, tỉ lệ của Thượng Đế. Dân chúng trở thành eidolon của ý tưởng (idea) của Thượng Đế như thế: là bản sao cổ của bản gốc. Dân chúng trở thành tính chất đôi elip của Thượng Đế-cặp song tử.

Bởi vì Hai là thứ phá vỡ bề mặt bao phủ lên điểm giữa giả. Cái nhẫn là biểu tượng của bề mặt thuần túy mang tính chất điểm giả, hay điểm phi trung tâm, cái nhẫn là tương đồng của con rắn ngoạm vào đuôi nó. Cái nhẫn cưới không là gì khác ngoài cái Tôi con người cho đến thời điểm trao nhẫn cưới phi trung tâm chỉ là bề mặt, cho đi điểm giữa để biến thành tiêu điểm và nhóm lửa: biến cái Tôi con người thành tính chất đôi elip. Đàn bà trở thành điểm giữa của đàn ông và đàn ông trở thành điểm giữa của đàn bà, như ở cặp song tử Kastor trở thành điểm giữa của Pollux và Pollux là điểm giữa của Kastor.

Tất cả những gì trong vòng tròn của Hai đều mang tính chất đôi và tất cả những gì là Hai đều liên quan đến Hai của đời sống người; bởi vậy tất cả cái gì là Hai và liên quan đến Hai của đời sống, đều mang tính chất bất tử. Bởi vậy lưỡng tính là biểu tượng của sự sống vĩnh cửu, như cái rìu hai đầu, thanh gươm hai lưỡi, Janus hai khuôn mặt và Song Tử là những hình ảnh của đời sống vĩnh cửu. Từ szoma, thelesma, manna có nghĩa là sự sống vĩnh cửu này, nơi Hai, đời sống trần thế và đời sống của thế giới bên kia, nơi đời sống và sự sống, thời gian và vĩnh cửu gặp gỡ nhau.

« Lùi
Tiến »