Minh Triết Thiêng Liêng Tập 2

Lượt đọc: 215 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
IV. Ba đẳng cấp và bốn mùa
1.

Con số đầu tiên là Hai, là dãy số tiến đầu tiên của MỘT. Hai là sự thâm hụt so với Một, bởi nó không là gì khác ngoài cái toàn bộ bị chia đôi. Nó là con số không hợp luật. Con số của độc ác; bởi đối với sự độc ác MỘT xa lạ và không chấp nhận được. Nhưng Hai không bao giờ quay trở lại vào Một và trở thành cái toàn bộ. Để mâu thuẫn, sự căng thẳng, sự hoang mang và tính chất hai mặt trong Hai được giải tỏa, không cần phải quay trở về với Toàn Bộ, mà cần phải bước vào dãy số tiến mới hơn của MỘT. Đấy là con số tiến mới: BA.

Ba là mệnh đề, phản đề và tổng hợp. Là Cha, Mẹ và Con. Là Oziris, Izis và Horus. Âm thiêng của Hindu là Ba: A, U, M, là chữ cái đầu tiên, giữa và cuối cùng của dãy chữ cái, là đời sống, mâu thuẫn và sự cân bằng, là có, không và tương quan. MỘT là sức mạnh, Hai là vật chất, Ba là con số của thời gian. Hai phần một nửa và bị vỡ tách làm đôi gặp gỡ nhau một lần nữa trong con số Ba, trong sự hợp nhất mới, một cách cân bằng. BA là sự giải tỏa căng thẳng phân cực: Ba là con số của cộng đồng, nơi các thực thể tách đôi một lần nữa gặp nhau và có thể trở thành toàn bộ.

Có những truyền thống xây dựng trên MỘT; trước tiên phải kể đến truyền thống Do Thái, và trước hết là Veda. Có những truyền thống xây dựng trên Hai, như Mexico và Iran. Truyền thống Ai Cập dựa trên Ba. Truyền thống Ai Cập không là gì khác ngoài sự hồi sinh và mở rộng các sức mạnh trong Ba.

Ở Ai Cập người ta nhìn thấy nền tảng đời sống con người trong Ba: con người không là gì khác ngoài ba lần ba. Đầu tiên là chat, thân thể vật chất. Thứ hai là ka - đây là Hai, là khí đôi, người mà sau cái chết từ bỏ thân xác, nhưng luôn quay lại thân xác. Ka của đất vào mùa thu từ bỏ đất, đến mùa xuân một lần nữa lại xuất hiện và làm đất phục sinh. Ba trong con người phù hợp với: ba. Ba là linh hồn lông chim, là linh hồn bay bổng, ca hát, là linh hồn chim tồn tại trong thân xác. Đây là Ba đầu tiên.

BA cái thứ hai: đấy là ab, chaibit ren, ab là trái tim. Con người mang số phận của nó ở đây, cái tốt và cái xấu tranh đấu ở đây. Trong thế giới bên kia quả tim được đặt lên cân, bàn cân bên kia là một cái lông chim. Lông chim là tương đồng linh hồn, như ở Mexico. Nếu quả tim trong sạch, sẽ nhẹ như lông chim. Ở thế giới bên kia bốn mươi hai vị quan tòa chú ý xem xét cái cân.

Theo Kabbala từ bốn mươi hai chữ cái là cái tên lớn nhất của Thượng Đế. Lạt Ma đọc Tử thư Tây Tạng bốn mươi hai ngày liền cho kẻ chuyển dời đi. Bốn mươi hai bậc thang dẫn lên thánh điện Mặt Trời thiêng nhất ở Mexico. Tarot Ai Cập có bốn mươi hai lá bài (bốn mươi hai cuốn sách bị đánh mất của Toth), một bí ẩn lớn của truyền thống Hermes.

Chaibit (Khaibit) là bóng tối. Không chỉ là cái bóng của thân xác mà còn là phần bị bỏ lại một cách đen tối trong linh hồn, mà ánh sáng của Oziris, sự tỉnh táo không soi rọi tới; đây là vô thức, cái mà con người mang vào từ sự tăm tối bị lãng quên của vật chất, và không chiếu rọi trong đời họ. Khaibit không tách rời khỏi con người; nó theo họ đến tận thế giới bên kia và còn lại là bóng tối, tăm tối, vô thức, mờ mịt, đờ đẫn.

Trật tự là TÊN. Tên không chỉ thuần túy một người nào đó được gọi là Sebestyén hay Kristóf. TÊN là một phần của logo. Con người không có tên chỉ như một người không được mời vào cộng đồng của các linh hồn, và như vậy không vào được đời sống vĩnh cửu. Không có cách gì để gọi.

Con người nhận được tên từ thiên thần hộ mệnh của nó, từ thần trì mạng, thần bảo vệ nó: từ thực thể cao hơn và con người mang một cái tên, bởi con người là cặp elip của thần hộ mệnh của nó, và tên là cái thứ ba nối buộc Hai lại. Tên là một lời thiêng, để Thượng Đế gọi con người.

Cái Ba thứ ba: chu, szechem száhu. Chu là cặp của khaibit : nó không phải là bóng tối mà là Rực Rỡ. Chu là phần Tỉnh trong con người, còn bóng tối là phần Mộng Du trong con người. Đây là Mặt Trời trong con người. Ai hoàn toàn là chu, đấy là Oziris, sự tỉnh táo. Chu là tri thức siêu việt, là quyền lực sắp đặt, thông hiểu, tạo dựng, thấu suốt của nó. Chu là vàng của những kẻ giả kim, là ngày của các nhà chiêm tinh và là Apollon của Pythagoras.

Không gì quan trọng bằng: chu có vai trò gì trong đời sống của con người. Nếu nó bị dính mắc vào thiên nhiên vật chất, lúc đó phần lớn trong con người là khaibit, là bóng tối. Nếu nó được giải phóng khỏi vật chất và nhìn thấu xuyên qua ảo ảnh vật chất, nó biến thành chu , hay thành ánh sáng rạng rỡ, cái mà Veda gọi là buddhi : sự giác ngộ, thức tỉnh.

Chu có quan hệ họ hàng với purusa Fünklein của Eckhart thời trung cổ, bởi vì đây là tia lửa trời, là ngọn lửa nhỏ, là kẻ luôn chú ý đến bản chất siêu việt nguồn gốc của con người từ sự sống Thượng Đế. Chu cũng là lương tâm. Là ngọn nến vĩnh cửu, mà truyền thống tôn giáo không chỉ thắp lên cho kỉ niệm về người đã chết mà trong nhiều dịp khác, ngọn nến này không là gì khác ngoài sự thức tỉnh của chu.

Còn szechem là cặp elip của ka: là thân thể trời, là dạng hình vĩnh cửu, là ý tưởng của thực thể người. Thực thể người trong szechem chỉ là eidolon, là bản sao, là dạng hình đã bị vật chất hóa và méo mó của nó. Con người gặp szechem khi bước qua cây cầu của thế giới bên kia - trong trường hợp nó lấy lại được quyền của sự xuất xứ siêu việt nó đã đánh mất.

Szahu là hình ảnh cổ của toàn bộ con người, với thân xác, linh hồn, tinh thần, và thực thể khí, với toàn bộ số phận, đặc tính cá nhân, sự duy nhất một lần và sự bất diệt như MỘT, như bản sao của MỘT VĨ ĐẠI - đây là sự hợp nhất cao nhất: gấp ba lần của ba.

2.

Ý nghĩa của con số CHÍN VĨ ĐẠI ở chỗ ba dãy số tiến của con số Ba nằm trên nền tảng của toàn bộ hệ thống thế gian. Con số Ba này trong ba dãy số tiến bao phủ toàn bộ quan hệ của tinh thần và vật chất. Bởi vậy truyền thống Do Thái nói, đời sống có ba chất lượng. Đây là ba guna: szattva, radzsas tamasz.

Szattva là niềm hạnh phúc hài hòa nảy sinh từ sự thấu suốt cân bằng; radzsas là hoạt động cháy trong lửa đam mê; tamasz là sự sinh sôi lười biếng và hoang dại. Ba chất lượng của sự sống này có họ hàng xa nhưng trong một quan điểm nhất định nằm trong quan hệ tương đồng với ba nguyên tố của thuật giả kim: sal, sulphur (lưu huỳnh) và merkur (thủy ngân). Sal là nguyên tố pha lê, sáng; suphur là ngọn lửa cháy nóng; merkur làm tan chảy tất cả, linh hoạt và kêu vang.

Đây là một mối quan hệ xa; bởi vì các biểu tượng của các hợp nhất cổ không bao giờ phủ lên nhau; sự phù hợp là sự tương đồng. Nó là tương đồng bởi màu của Szattva sal là màu trắng, radzsas sulphur có màu đỏ, tamas merkur có màu đen. Màu trắng, đỏ và đen có quan hệ với nhau, như trong âm thiêng Hindu A, U, M: ban đầu, giữa, cuối; hành động, phản ứng và cân bằng; sức mạnh, tác động, và hậu quả; không gian, thời gian và sự tạo dựng; theo trường phái Pythagoras là số phận, nhu cầu và trật tự.

Âm thiêng của thuật giả kim AUR có nghĩa như ánh sáng mặt trời rạng rỡ - đây là ánh sáng, là nội dung thực chất của đời sống, là thứ nhẹ nhõm và thanh thoát, mà việc thu lượm và làm đông đặc chúng là nội dung của kẻ luyện vàng, và chúng được thu lượm đúng như thu lượm asa (điều thiện).

Ba là sự hợp nhất của sự sống bị đứt làm đôi, là sự hòa giải xung đột, là sự gặp gỡ của hai giới tính trong đêm tân hôn, là sự gặp gỡ của những cái tôi con người bị đứt rời khỏi nhau và là sự quay trở lại với cộng đồng. Bởi vậy Ba là con số tái hòa nhập đầu tiên, khi con người và đời sống trong sự hợp nhất tập thể lớn của nhân loại lại trở thành Một; con số tái hòa nhập thứ hai là Bảy, sự hợp nhất tinh thần, bảy nhà thông thái; con số tái hòa nhập thứ ba là mười, là mức độ của con người thần thánh, là mức độ cao nhất. Bởi vì tái hòa nhập ( reintegracio ), sự quay trở lại trạng thái cổ cội nguồn của con người và sự hòa nhất với tri thức của thần do con số Ba điều khiển.

Đời sống có ba chất lượng, szattva, radzsas tamas phù hợp với ba cái Ba: cái Ba tinh thần, cái Ba siêu việt và cái Ba nguyên tố. Còn trong thế giới của các con số, các số cơ bản có một chữ số phù hợp với các sự vật của thế giới tinh thần, các số có hai chữ số phù hợp với sự vật của thế giới siêu việt, còn các số trăm - ba chữ số phù hợp với sự vật của thế giới nguyên tử.

3.

Ý nghĩa của BA: sự HỢP NHẤT - bước ra khỏi MỘT - quay trở về MỘT. Bởi vậy Ba là con số của tập thể, của nhân loại. Và bởi vậy ba guna phù hợp chính xác với ba đẳng cấp, hay với ba nguyên tố của thuật giả kim: szattva, màu trắng, sal, niềm hạnh phúc hài hòa xuất phát từ thấu kính cân bằng phù hợp với đẳng cấp tinh thần; radzsas , màu đỏ, sulphur (lưu huỳnh), hoạt động cháy trong lửa của đam mê phù hợp với đẳng cấp cai trị, chiến đấu, kị sĩ; tamas, màu đen, sự sinh sôi lười biếng và hoang dại phù hợp với đẳng cấp kinh tế.

Ba đẳng cấp này, brahma, ksatrija vaisja là cộng đồng người, là sự hợp nhất của nhân loại, là thứ được sắp xếp theo ba chất lượng của đời sống và xây dựng trên ba cấp độ này. Tương đồng của Brahma là cái đầu, là tư tưởng, là bản thể thần kinh, là sal ; tương đồng của ksatrija, đẳng cấp cai trị-hiệp sĩ là thân thể, trái tim, sự hoạt động, máu, lửa; tương đồng của vaisja, đẳng cấp kinh tế là chân, cơ thể dưới, bởi đây là phần vật chất của cơ thể, màu đen, sự sinh sản.

Saint-Martin dựa trên cơ sở của số Ba cắt nghĩa mười số đầu. Các con số tinh thần trong sạch (số- szattva): 1, 4, 7, 8, 10; Các con số trộn, tích cực, hỗn nhương (số-radzsas): 2, 5; Các con số vật chất ( tamas ): 3, 6, 9. Cộng đồng người trong thiên nhiên tồn tại trong vòng vật chất nên số của nó là BA.

Đẳng cấp tinh thần là kẻ mang niềm hạnh phúc hài hòa xuất phát từ lăng kính cân bằng; điều này không mang nghĩa như con người lịch sử thường nghĩ, vì nó mang đặc tính của sự sống, nên có thể sử dụng điều này cho nó. Szattva không phải là sở hữu cá nhân, mà là đặc tính của sự sống, là người canh gác và tỏa sáng của đẳng cấp tinh thần của sự sống ấy.

Cũng như vậy ksatrija tỏa sáng sức mạnh, lửa, sự hoạt động và cũng như vậy vaisja tỏa sáng sự sinh sôi. Brahma làm cho nhân loại trở nên cân bằng, cẩn trọng, mang tính chất tinh thần và niềm hạnh phúc; ksatrija khiến nhân loại trở nên linh hoạt, công minh, mạnh mẽ và có quyền lực; vaisja, trong mức độ giải tỏa nền kinh tế của trái đất, mang lại sự sung túc và giải quyết các nhu cầu.

Giữa các chất lượng của sự sống, cái này không bao giờ vắng thiếu cái kia, như trong con số Ba bản chất là ba như con số hoàn chỉnh, trong đó từng nguyên tố không có sự độc lập riêng. Đặc tính của BA, nếu không được là MỘT, nhưng nó là cái toàn bộ nên giải quyết được sự căng thẳng chấp chới tan rã của HAI. Bởi vậy con số ba cần phải là số của cộng đồng: của một cộng đồng có tổ chức, một cộng đồng mà dharma, hay còn gọi là luật của thế gian điều khiển.

Bởi vậy tất cả các cộng đồng thời cổ đều an bình trên con số ba, hay nói một cách khác tất cả các cộng đồng cổ đều có ba đẳng cấp.

4.

Những người theo phái Pythagoras cho rằng những ai không hiểu cấp số tiến của MỘT, kẻ đó chưa được sinh ra. Và chưa có một thực thể người nào biết cách giải thích BỐN từ BA. Trong MỘT không có gì để hiểu; đây là một bằng chứng về logic. Không nhất thiết cần chứng minh, và giải thích cũng không cần.

HAI, như thuật giả kim và truyền thống Hermes nhận định: là sự tách làm đôi bắt buộc của materia prima- vật chất. Bởi vậy vòng tròn bị cắt làm đôi là biểu tượng của muối, sal, tam giác bị cắt đôi đứng bằng đỉnh là biểu tượng của trái đất. HAI là con số của sự đứt đoạn, sự hỏng vỡ, sự từ bỏ, quên lãng. BA là cái toàn bộ của hai mảnh cắt đôi mới này.

Có vẻ như ở đây hàng cấp số tiến chấm dứt: cái toàn bộ được trả lại. Nhưng không. Sau Ba đến Bốn. Sự huyền bí, cấp số tiến mới không thể hiểu nổi và không lay chuyển nổi, thứ không bao giờ, không ai có thể hiểu và giải thích nổi. Sự xuất hiện của BỐN từ Ba thật vô lí, thật đáng ngạc nhiên, không thể lường trước, chỉ nhận thức siêu việt nắm bắt được. Bởi vậy ở phái Pythagoras BỐN - tetratüs - là biểu tượng tinh thần Thượng Đế, và bởi vậy kẻ được phái Pythagoras thu nhận vào vòng bí truyền, nhập định, cần phải tuyên thệ trên con số BỐN.

Vì con người lịch sử chỉ lờ mờ hiểu số Bốn có ý nghĩa gì với con người cổ, giờ đây cần một sự phân tích cụ thể hơn. Tất cả mọi người đều biết thánh giá là cái gì, hình chữ vạn là gì. Đây là bốn phần bằng nhau cắt làm bốn của hình tròn. Bốn cũng là toàn bộ. Toàn bộ như Ba nhưng là cái toàn bộ kiểu khác.

Hình tròn cắt làm bốn phần và hình chữ vạn trong thời cổ là biểu tượng của vĩnh cửu. Sự chuyển động vĩnh cửu, vòng quay vĩnh cửu, biểu tượng của đời sống vĩnh cửu. Hình nằm ngang trên cây thánh giá song song với mặt đất và tượng trưng cho bề mặt trái đất. Còn hình kẻ dọc của thánh giá cắm xuống mặt đất tượng trưng cho sự phá vỡ bề mặt trái đất. Đây là đường kẻ dọc thông qua mặt trái đất, cho dù lên phía trên hay xuống phía dưới đều cắm vào trái đất và phá vỡ sự thống nhất của trái đất. Có vẻ như cây thánh giá là biểu tượng mới của Hai: hai thanh ngang và dọc.

Nhưng đây không phải là Hai mà là Bốn, bởi cây thánh giá có Bốn cánh. Bốn cánh chỉ về bốn hướng: đông, tây, nam, bắc. Sang phải, sang trái, lên và xuống, về bốn hướng, có nghĩa là về tất cả các hướng của thế gian, bởi vì bốn hướng không là gì khác ngoài sự giản lược hóa cái la bàn hồng, và la bàn hồng không là gì khác ngoài sự mở rộng của bốn hướng. Bởi vì chỉ có bốn hướng mà thôi.

Trong con số Ba đặc tính, cái Toàn Bộ của sự HỢP NHẤT đắc thắng, bởi vì Ba bằng việc chiến thắng Hai biến đổi thành Một mới. Còn trong BỐN chứa đủ đặc tính mới của sự HỢP NHẤT. Đặc tính mới này là: sự Tròn Vẹn. Bởi vậy bốn hướng không chỉ có nghĩa là toàn bộ thế gian, mà còn là một thế gian tròn vẹn: một thế gian hoàn chỉnh, đầy đủ và vĩnh cửu. Và biểu tượng của thế gian vĩnh cửu và tròn vẹn này là cây thánh giá, là thứ gắn mặt ngang với mặt dọc, đất với trời, thời gian với sự vĩnh cửu, thiên nhiên với siêu nhiên.

Bởi vậy thời cổ người ta gọi Trung Quốc, Ai Cập, Peru là Vương Quốc của Bốn Phương. Vương quốc của sự tròn vẹn. Bởi vậy khi kẻ cai trị tuyên thệ nhận lấy quyền thống trị dân chúng, đều phải viện đến thần linh của bốn phương như người làm chứng. Hình thức tuyên thệ này vẫn còn lại trong dạng hình nguyên thủy ở những người da đỏ, họ phả khói thuốc tẩu của buổi hội họp ra bốn phương, hay ở các dân tộc khi truyền vương miện, nhà vua trỏ gươm ra bốn hướng.

Trong kinh Kabbala tên toàn vẹn của Thượng Đế có bốn chữ cái. Đây là cái tên người ta nói cho Jehova bằng những nguyên âm: Jod-He-Vau-He. Nghĩa là sự toàn vẹn của bốn phương trời. Còn trong hình học: điểm, đường, mặt phẳng, vật. Trong vật lí là không gian ba chiều và thời gian.

Thần số học dạy rằng sau Ba là con số Bốn tuyệt vời bí ẩn của Thượng Đế không bao giờ nắm bắt nổi. Bằng con số Bốn thực chất mọi khả năng của các dãy số tiến khác chấm dứt. Không còn con số nào nữa. Tất cả các dãy số tiếp của MỘT từ BỐN đều có thể suy ra.

Năm không là gì khác ngoài hai và ba; sáu là ba và ba; bảy là ba và bốn; tám là bốn và bốn; chín là ba lần ba; và Mười, lại một lần nữa là một trong những bí ẩn lớn nhất: là tổng của bốn số đầu: một cộng hai cộng ba cộng bốn là Mười.

Không có thêm một con số nào khác nữa, cả trên trời lẫn dưới đất, bởi mười, hai mươi, ba mươi, một trăm, một nghìn đều là những sự lặp lại của mười dãy số tiến đầu tiên trong các vòng sự sống khác nhau.

Bốn không gian: bầu trời vô hình nơi Đấng Sáng tạo ra tinh thần siêu nhiên ngự trị - khí eter, nơi các ngôi sao và các thiên thần ngự trị - bầu khí quyền, nơi không thể tách rời trái đất và là nơi các linh hồn đợi phục sinh ngự trị - sau cùng là trái đất, nơi tồn tại của các thực thể sống.

Trên bốn không gian này có bốn thiên thần giữ bầu trời, thiên thần của mùa xuân, mùa hè, mùa thu và mùa đông, có bốn góc của thế gian, Aldebaran, Regulus, Antares Fomalhaut - trong những chòm sao Kim Ngưu, Sư tử, Bọ Cạp Bảo Bình .

Ở Ấn Độ có bốn mức độ của sự tái hòa nhập của đời sống: brahmacsarja- tín đồ brahman, grihasta- chủ gia đình, vanaprasta- nhà khổ hạnh trong rừng, szanjasin- người lữ hành từ bỏ mọi của cải trần thế.

Ở phái Orphika tính chất hoàn hảo của số Bốn phát triển ở chỗ, BỐN là biểu tượng của tính chất lưỡng thể của thực thể tinh thần cao nhất, và Bốn biểu hiện mức độ trong thế giới người, khi một người nào đó hoàn toàn chiến thắng được giới tính của mình “có thể trở thành đàn bà giữa đàn bà, đàn ông giữa đàn ông”.

5.

Trên con đường này chỉ cần đi thêm vài bước nữa, và con người, dù chỉ chạy thoáng qua, vẫn hình dung được thần số học ( aritmologia ) có gốc rễ thế nào trong trật tự của các tương đồng cổ.

Không chỉ trong truyền thống Pythagoras và Orphika, mà ở Mexico, Trung Quốc và Judea người ta cũng cho rằng con số là âm thanh đầu tiên của sự xuất hiện vật chất. Sự hài hòa và trái nhau của các âm thanh nằm trên nền tảng của các con số.

Âm nhạc, Saint-Martin nói, không là gì khác ngoài sự đếm, khi linh hồn con người ngây ngất trong âm nhạc, nó không làm gì khác ngoài việc đi theo những dãy số tiến của các con số một cách vô thức.

Có thể yên tâm nhận định rằng, những lúc đó linh hồn nhảy múa trên những con số, bởi cơ sở của nhảy múa cũng đúng là con số, như của âm nhạc hay điêu khắc hay kiến trúc hoặc thi ca; hay của các khoáng chất, của các lá xanh của thực vật, của các loài hoa, các màu sắc. Cơ thể con người, khi nhảy múa là làm các chuyển động phù hợp với các tỉ lệ: sống trải qua và diễn tả các cơn số.

Kiến trúc dựa trên các con số, điều này hiển nhiên, không chỉ vì kiến trúc có quan hệ bên trong với âm nhạc, mà còn bởi vì cần phải chú ý đến các tỉ lệ, các định luật trong các vật chất khác nhau, chú ý đến trọng lượng, chất lượng, sự hài hòa của nó. Kiến trúc cũng là một sự đếm, như lúc xây dựng một hệ thống tư tưởng, hoặc hình thành một trật tự nhà nước, một trường ca, một bài kinh hoặc một thi phẩm. Bất kì một hoạt động nào của con người cũng không thể thiếu các con số.

Có thi phẩm dựa trên con số Ba, hoặc số Bốn. Toàn bộ vở kịch dựa trên sự căng thẳng của con số Hai, bởi sự căng thẳng của kịch là đối thoại. Kịch cổ là trò chơi ném bóng của Mexico. Cơ thể con người là sự biểu hiện của tỉ lệ các con số, giống như tác phẩm âm nhạc. Ai cũng biết, chân tỉ lệ như thế nào so với toàn thân, chiều dài của đầu với cánh tay, tỉ lệ giữa phần đầu ngón chân và chiều rộng của các đầu ngón tay cũng đúng luật như tỉ lệ giữa các bộ phận trên khuôn mặt. Trong cội nguồn của tất cả mọi hiện tượng đều có con số đứng trong đó, Pythagoras nói.

Nếu con người muốn tiếp tục đi tiếp, có thể phát hiện ra mối quan hệ giữa con số và thời gian. Đặc thù của thời gian là không hài hòa với con số Mười. Thời gian là sự kết hợp rắc rối của Hai, Ba, và Bốn, và bởi vậy mức độ của nó chỉ có thể là Sáu và Mười Hai. Nhưng có thời gian như thời gian của Mặt Trăng, số ngự trị của nó là Bảy. Bởi vậy có hai loại thời gian, thời gian-Mặt Trời và thời gian-Mặt Trăng, và hai loại này không bao giờ phủ lên nhau. Hai loại thời gian này xuất hiện như thế nào trong số phận con người, về điều này thời cổ người ta biết nhiều và gần đây một lần nữa người ta lại bắt đầu cảm nhận về nó.

Trong thực thể đàn bà phần lớn thời gian-Mặt Trăng ngự trị và thực thể đàn bà nói chung hòa hợp với các con số của Mặt Trăng. Nhưng trong đời sống người đàn ông con số Bảy có vai trò quyết định, số Bảy không chỉ điều chỉnh sự tái hòa nhập, sự nâng tầng vào đời sống tinh thần, mà nhịp điệu của số phận cũng là: Bảy. Số bảy này hòa hợp với bảy hành tinh, thế giới của các ngôi sao cũng không là gì khác ngoài sự biểu hiện trực tiếp của con số, như âm nhạc, thi phẩm, điệu nhảy hay một tòa nhà.

Vũ trụ là một không gian bùng nổ trong đó tất cả xảy ra trên nền tảng các con số. Dưới trật tự con số của vũ trụ Trái Đất cũng không ngoại lệ, và tất cả mọi người nghe thấy một cái gì đó về các nguyên tố, đều biết các nguyên tố này có quan hệ với nhau theo các dãy số tiến của con số. Sau đó trong quá trình tinh luyện đặc tính số của các nguyên tố cũng biểu hiện, điều này tự nó cũng có thể hiểu được. Tự nó có thể hiểu được cho dù cho đến tận hôm nay vẫn chưa tìm ra chìa khóa giải thích.

Nhưng không ở đâu con số có vai trò quan trọng như trong thế giới của linh hồn. Tất nhiên không theo quan điểm của tâm lí học hiện đại, là thứ tâm lí học của con rắn tự cắn vào đuôi: của bề mặt và của sự rỗng tuếch bên trong. Con số chỉ đạo mối quan hệ bên trong và bên ngoài như sau: sự tương quan nằm giữa linh hồn và dạng hình thể xác dựa trên con số.

Nhưng các đặc tính bên trong cũng mang tính chất hội tụ và chia rẽ như các con số, và các con số này luôn phù hợp với những con số trong khoảnh khắc sinh ra của con người trên bầu trời, chúng như các chòm sao và các hành tinh. Bởi vì cái có ở trên cũng tương tự như cái có ở dưới.

Con số chỉ dẫn số phận con người, đặc biệt là sự suy thoái, sự quay trở lại MỘT. Và sự suy thoái cùng tiến hóa hòa vào làm một, điều này không là gì khác ngoài Hai-sự hoàn chỉnh hóa quá trình thoái hóa và tiến hóa trong Ba: trong cái Toàn Bộ.

Sau cái Toàn Bộ con người đạt tới sự Toàn Vẹn. Sự Toàn Vẹn không là gì khác ngoài Bốn. Sau Bốn còn một bước nữa: Tất Cả. Con số của Tất Cả là Mười.

Đây là ba bước mà linh hồn chạm tới cái Tôi của nó để trở thành MỘT, để quay trở về với Thần, cần phải làm. Đây là luật ba mức độ, ngoài ra không có gì khác.

6.

Bốn đứng giữa Ba và Mười; Ba là cái Toàn Bộ, Mười là Tất Cả, ở giữa là: sự Toàn Vẹn. Đấy là Bốn. Nhưng Bốn cùng với Hai và Ba là con số của thời gian. Như vậy Bốn là thời gian toàn vẹn.

Bởi vậy có bốn mùa: xuân, hè, thu, đông. Bởi vậy có bốn thời kì: thời hoàng kim, thời bạc, thời đồng, thời sắt. Tương đồng của bốn mùa và bốn thời kì rõ ràng: thời hoàng kim là mùa xuân, là cái bắt đầu, sự nở hoa thời bạc là mùa hè, sự thể hiện, sự viên mãn là mùa thu, thu hoạch, che chắn, nguội đi; thời kì sắt là mùa đông, sự đông cứng lại, sự tối tăm, sự ngủ. Thời thơ ấu, thời thanh xuân, thời trưởng thành và thời kì già lão. Mùa xuân phù hợp với phía đông và buổi sáng; mùa hè phù hợp với phía nam và là khi Mặt Trời lên đến đỉnh; mùa thu phù hợp với buổi chiều và phía tây; mùa đông phù hợp với đêm và phía bắc.

Bốn mùa phù hợp với bốn nguyên tố: mùa xuân với không khí, mùa hè với lửa, mùa thu với nước, mùa đông với đất. Không khí phù hợp với con người, lửa với động vật, nước với cây cỏ, đất với khoáng chất. Không khí phù hợp với cái Tôi thần thánh của con người, lửa với tinh thần, nước với linh hồn, đất với cơ thể vật chất. Tất cả là cái Toàn Vẹn.

Truyền thống Do Thái dạy rằng, thời hoàng kim, krita-juga tồn tại bốn nghìn năm thần. Một năm thần có ba trăm sáu mươi nghìn năm Mặt Trời. Người và thần ở lẫn với nhau, giữa con người với nhau có sự bình đẳng, người ta không biết đến sở hữu và cái Tôi, họ luôn sống trong sự trù phú và tươi tỉnh. Các sinh vật sống là anh chị em với nhau.

Nghề chính của con người là nghiền ngẫm kinh Veda và tapasz -sự tự phủ nhận. Xúc cảm cơ bản của đời sống là niềm vui. Không có lỗi lầm, tội ác và cái xấu. Toàn bộ nhân loại nói chung một ngôn ngữ, là thứ tiếng mà thần linh, các súc vật, chim muông, cỏ cây đều hiểu. Tất cả mọi người đều thỏa mãn, nói đúng sự thật và có học. Các thực thể người giống như thần linh đều đẹp đẽ, mạnh mẽ, khỏe khoắn, bởi bệnh tật là khái niệm xa lạ trên thế gian. Tuổi thọ trung bình là bốn nghìn năm.

Thời kì thứ hai tréta-juga, thời kì bạc. Tuổi thọ trung bình của con người là ba nghìn năm. Sự đau khổ, bệnh tật và tội ác xuất hiện. Nhưng bằng sự tự phủ nhận và chìm đắm vào tri thức của thần nên con người vẫn chiến thắng được chúng. Con người lúc này không còn đẹp đẽ như trong thời hoàng kim.

Tình huynh đệ của nhân loại chấm dứt, lúc này đã có hai đẳng cấp: tinh thần và không tinh thần. Các thực thể sống cũng chia rẽ, con người bước ra khỏi cộng đồng lớn của các thực thể sống khác. Sức mạnh của sự thật giảm đi, xuất hiện sự dối trá. Các thần linh vẫn còn sống trên trái đất, nhưng lúc này họ đã đi tìm những dãy núi xa, những khu rừng đơn độc, những mỏm đá ở biển. Sự trù phú và sung túc bắt đầu giảm nửa, xuất hiện nạn đói và sự nghèo khổ.

Thời kì thứ ba là dvapara-juga. Tuổi thọ trung bình của con người là hai nghìn năm. Dvapara-juga tồn tại hai nghìn năm thần. Veda biến thành thứ bị cấm đoán đối với một số người nhất định. Sự tự phủ nhận càng ít người duy trì hơn và không được coi là nhiệm vụ lớn nhất của đời sống.

Các thần linh rời bỏ trái đất. Nhu cầu, nạn đói và sự nghèo khổ ngày càng lớn dần. Nhân loại đã chia ra làm ba đẳng cấp. Tiền, sự lạm dụng, sự tàn bạo cố ý xuất hiện. Sự dâng hiến và nghi thức chỉ còn là nhu cầu của đẳng cấp tinh thần. Trong thời kì đầu tiên bệnh mang tính chất tinh thần chỉ là sự rối loạn nhận thức, đầu óc mờ mịt; đến thời kì thứ hai bệnh bắt đầu lan truyền đến tứ chi cơ thể. Trong thời kì thứ ba bệnh tật đã bao phủ toàn thân và trở thành bệnh thân xác.

Thời kì thứ tư là kali-juga , thời kì đen tối, thời đồ sắt. Tuổi thọ trung bình của con người từ một nghìn năm ngày càng giảm dần xuống; cuối thời kì không nhiều hơn mười năm: con người càng ngày càng co quắp lại, ngày càng bé nhỏ lại, mỏng manh, xấu xí. Đến cuối thời kì họ không đạt đến chiều cao một mét, đàn bà ba tuổi đã trở thành mẹ, năm tuổi đã phát triển hết. Kinh Veda không ai đọc nữa, không ai thực hành sự tự phủ định, tất cả mọi người đều lao đi một cách mất trí để kiếm cho đầy dạ dày bởi ngự trị trái đất là nạn đói và nhu cầu. Các đẳng cấp biến mất, bởi vì tất cả mọi người biến thành phi đẳng cấp, bị loại. Sự thật không bao giờ được ai biết đến nữa.

Trên trái đất các cuộc chiến tranh khủng khiếp nổi lên, và so với bạo lực và sự tàn ác chỉ còn lòng ích kỉ, đố kị, bản năng và sự hư hỏng của một số đông con người. Bệnh tật đã bao phủ toàn thân con người, và liên tục những dịch bệnh mới xuất hiện, khiến con người đau đớn hàng năm trời, chừng nào họ đành phó mặc và chết với một cơ thể đã bị hủy hoại quá nửa.

Tình trạng phi tôn giáo, vô thần phổ biến, không ai muốn biết về các thần linh nữa, toàn bộ tinh thần trở thành thói đạo đức giả dối. Trình độ tri thức bị hạ xuống thấp, sự giáo dục và hành vi nề nếp biến mất. Con người vì dục vọng tàn hại lẫn nhau một cách đui mù. Tình bạn trở nên xa lạ, các nạn dịch lớn hành hạ con người. Từ những vết tích xấu xa bên trong và bên ngoài sự tăm tối tinh thần và hình dáng trở nên đáng ghét của con người ngày càng phổ biến. Vòng quay tròn của thế gian đóng lại.

Nhưng, đến cuối thời kì kali-juga một lần nữa lại có một số người đọc kinh Veda, họ đọc và bắt đầu sống một cuộc đời tự phủ định. Cái mà Con người đạt tới sự sáng sủa bên trong sẽ bắt đầu xuất hiện ra bên ngoài: tuổi thọ kéo dài hơn, khuôn mặt và dáng hình trở nên đẹp đẽ, con người bắt đầu hiểu ra và duy trì sự thật, luật, bắt đầu tống khứ đi sự tàn bạo, thói ích kỉ, lòng đố kị, tình bạn bắt đầu xuất hiện, hôn nhân trở nên hạnh phúc.

Mùa đông một lần nữa bước vào mùa xuân, người già trẻ lại, sự tăm tối sáng rạng lên, trái đất lại cung cấp nhiều hơn châu báu của nó và thời kì kali-juga sẽ đạt tới thời kì krita-juga, từ thời kì đồ sắt sẽ trở thành thời kì hoàng kim.

« Lùi
Tiến »