Con người lịch sử có thể dễ dàng hiểu một số tương đồng nhất định, thậm chí đôi khi biết tiếp cận cách tư duy tương đồng của con người cổ. Nhưng không thể tạo dựng nên bản thân các tương đồng, và cũng không có khả năng biến tư duy tương đồng thành của mình.
Cái họ biết và có khả năng vỏn vẹn chỉ là sự so sánh, và điều này họ chỉ biết sử dụng trong cái gọi là hình thức thi ca; nhưng ý nghĩa đáng tin cậy của sự so sánh đối với họ không có. Nhìn thấy tương đồng và tư duy kiểu tương đồng chỉ có thể bằng tri thức phổ quát, nhưng với tri thức tập thể thì không thể. Nếu không bằng nhận thức tỉnh táo để xác định các tương đồng thì cùng lắm chỉ đạt tới sự so sánh.
Con người lịch sử không có công cụ khi muốn nói về các tương đồng. Ngôn ngữ thời lịch sử vô hiệu quả đối với sự tương đồng. Trong ngôn ngữ thời lịch sử không có các biểu tượng, không có sức mạnh thần tượng, không đủ tính chất vũ trụ, không phổ quát cũng không siêu hình, tóm lại không mang tính chất thức tỉnh.
Từ thời trung cổ tới ngày nay sự tượng trưng cũng từ từ lùi vào hậu trường, và chỉ trong ẩn dụ đạt tới một mức độ ngôn ngữ cao nhất, tự do nhất và rõ ràng nhất. Nhưng ẩn dụ trong ngôn ngữ đại chúng biến thành sự trống rỗng. Nơi nào cần đến các dấu hiệu phổ quát hơn, và ở nơi nội dung siêu hình học sâu sắc hơn vẫn còn sống, ở đó con người lịch sử buộc phải dùng đến các từ ngữ cổ. Ngôn ngữ như một kho tàng chứa các tương đồng đã chấm dứt, và ngôn ngữ ngày càng nghèo nàn đi dù thức tỉnh hay không, và toàn bộ sức mạnh cùng sự sâu sắc của những tương đồng chỉ tồn tại ngoại lệ ở một vài nhà thơ lớn.
Con người lịch sử gần như không thể hiểu sự tương đồng của các con vật và các thần linh. Dòng tư tưởng tiếp cận một biểu tượng nào đó của bản chất sự sống trong các thực thể động vật - cũng đúng như vậy với các biểu tượng của giới thần linh con người không hiểu nổi. Họ không hiểu, ví dụ: các con vật nằm trong vòng Mặt Trời, như sư tử, dũng cảm, hiên ngang, là biểu tượng của linh hồn anh hùng.
Và các biểu tượng đẳng cấp cũng có thể là các con vật; biểu tượng của đẳng cấp brahman -tinh thần là con gấu ở người Kelta hay người da đỏ, và cũng đúng như vậy như ở Ấn Độ; Biểu tượng của đẳng cấp hiệp sĩ-cai trị là con lợn rừng; Biểu tượng của đẳng cấp kinh tế là một con vật mắn con và giàu có, con vật có ích, con lợn; Biểu tượng của đẳng cấp đi hầu hạ là con chó.
Nhưng các tương đồng thực vật của các thần linh cũng có: hoa-Mặt Trời, hoa-Mặt Trăng, các thần linh Ai Cập, Hi Lạp, Iran, Hindu, Trung Quốc, Mexico, Kelta, Peru đều có hoa và cây cỏ của họ. Ở Hi Lạp cây sồi là biểu tượng thần Zớt, cây nguyệt quế là biểu tượng của thần Apollon, cây dầu là biểu tượng của Pallas Athene, ở Iran hoa huệ là của Bahman, hoa nhài đỏ là của Ahura mazda, hoa hồng của Din.
Tương đồng không hề thiếu trong từng lĩnh vực của đời sống. Tương đồng của trang phục ít nghiêm chỉnh hơn, và điều này không chỉ thấy trên trang phục của từng đẳng cấp, mà còn thấy trong sự hiện diện bên ngoài của các chức vị con người. “Ai sống trong ý nghĩa của logo - một văn bản thời Alexandria cho biết - kẻ đó cần phải mặc trang phục có những kí hiệu vũ trụ”. Nhưng đến thời trung cổ chiếc áo choàng rộng trang trí những kí hiệu trời, mà các nhà chiêm tinh Iran, Kaldeus và Babilon hay mặc trong nghi lễ với hồn của Các Cha đã trở nên khoe khoang và không còn trịnh trọng nữa.
Theo truyền thống cổ ở tất cả các dân tộc, thắt lưng là một mảnh trang phục quan trọng điều chỉnh hơi thở, và con người ràng buộc với Thượng Đế bởi hơi thở. Bởi vậy người ta thường móc vào thắt lưng những thứ gì người ta muốn gìn giữ (dao, vật kỉ niệm, như người da đỏ cài vào thắt lưng của họ mảng da đầu, cái tẩu) và các môn sinh viết những lời dạy của người thầy lên thắt lưng. Sự tách biệt của các phần dưới thắt lưng và trên thắt lưng, mà con người lịch sử cho rằng nó đã được đạo đức hóa nên họ giải thích tương đối sơ sài: cái thắt lưng là kí hiệu hợp tác của Thượng Đế và con người, kẻ đã chết mang thắt lưng theo mình xuống mộ.
Cần nói riêng về các tương đồng của thức ăn, chủ yếu vì, tại sao có những món ăn bị cấm đối với những người sống trong những mức độ sự sống nhất định và tại sao có những món ăn không trong sạch.
Con người sống trong mức độ sự sống nhất định không được phép giao tiếp với những vòng của sự sống nguy hiểm đến nó - nhưng điều này không có nghĩa là không được sống chung với những người khác trong cộng đồng, mà chỉ có nghĩa là bắt buộc phải tránh toàn bộ vòng này của sự sống: tránh thực vật, động vật, người, thức ăn, tư tưởng trong vòng này.
Bởi vậy từng có những thức ăn của trời và thức ăn của ma quỷ, thức ăn vật chất và thức ăn không trong sạch, và vì vậy có sự tương đồng giữa lúa mì và thần Demeter ở Hi Lạp, giữa ngô và nữ thần Kenteotl ở Mexico: nếu con người ăn bánh mì, họ bước vào thế giới của Demeter và Kenteotl và làm nhắc nhở đến hàng nghìn các tương đồng khác.
Mọi sự kiện đều có tương đồng của nó trên bầu trời sao, cũng đúng như trong đường bay của chim, trong nội tạng của các con vật hiến tế và trong các vòng tinh thần cao nhất. Bởi vậy có những thầy bói và những nhà chiêm tinh chuyên nghiên cứu vị trí vũ trụ, đường bay của chim và nội tạng của các con vật hiến tế, và đọc ra lời giải từ đó.
Thịt súc vật dùng để chữa bệnh đúng như khi đánh thức những đặc tính súc vật hoặc siêu nhiên trong con người. Một số thực vật hoặc khoáng chất có tác dụng chữa bệnh đúng như vậy - tăng cường một số vòng nhất định của sự sống và giải phóng chúng. Những tác dụng chữa bệnh này được thừa nhận ở Ấn Độ, Trung Quốc, Tây Tạng, cũng giống hệt như ở Ai Cập, Mexico và các nơi khác. Bí mật của Toth ở Ai Cập là màu sắc, âm thanh, ngôn từ và mùi vị, những thứ có thể dùng để giết chết người - nhưng có mùi vị, âm thanh, ngôn từ và màu sắc có thể làm người chết sống lại.
2.
Con người lịch sử nghĩ rằng cái họ gọi là bệnh tật từ lớp vật chất nặng nề ngoài cùng có thể nhận biết và chữa chạy. Quả thật, con người lịch sử vẫn chỉ đang sống đời sống của mình trong một đời sống vật chất nặng nề nhất, bên ngoài nhất, nên họ không biết cần nắm bắt cái gì và chuẩn bị gì với nó. Chưa nói đến các tầng đời sống sâu hơn.
Trong các vòng tâm lí và xã hội, con người chống chọi với sự thiếu hiểu biết hoàn toàn, còn đối với các vòng khí và tinh thần họ không mảy may linh cảm. Một phần không đáng kể của bệnh tật chính là bệnh của các lớp chăn vật chất nặng nề phủ trên bề mặt đời sống. Nhưng phần lớn hơn của bệnh tật xuất phát từ những điều sâu hơn, muốn hiểu được điều này cần phải có nhận thức về sự tương đồng.
Để có một nhận thức sáng sủa về bản chất của bệnh tật một cách phổ quát, tất yếu, cần tìm ra con số của bệnh tật. Con số của bệnh tật là: số Năm.
Năm nằm trong mối quan hệ với Mười như Hai với Một. Cắt đôi, chia làm hai, tách ra. Hai là sự xung đột đối diện với Một, là con số của sự đứt đoạn, nước đôi. Năm đối diện với Mười cũng đúng như thế. Nó là cấp số tiến của sự hợp nhất đã vượt quá toàn bộ các khả năng, và trong con số Mười nó đạt tới mức độ cao nhất, cái Toàn Bộ. Bởi Mười không là gì khác, ngoài sự quay trở lại với cái Toàn Bộ. Năm là sự phá làm đôi cái Toàn Bộ này.
Ở Ai Cập chữ tượng hình của Năm là đầu con lừa, con lừa là con vật của Seth và có nghĩa là sự tăm tối bên ngoài. Trong Năm xuất hiện sức manh độc ác và tấn công của thế gian, bằng sức mạnh này Seth đã giết chết Oziris và chặt ra từng mảnh. Năm là mâu thuẫn, là xung khắc, là con số của mọi sự phá vỡ và làm hủy hoại.
Từ thời Bảo Bình đến thời hiện tại hôm nay chính là thời kì thứ năm, có tên Do Thái là jamaraszana, cội nguồn của nó đều là những gì già nua, nặng nề, chết chóc, đầy rẫy âu lo, đen tối, đau khổ. Theo tri thức Ai Cập, ngự trị thời kì thứ năm là Seth, và một trong những ý nghĩa của từ Seth là năm góc: hố sâu không đáy, duat, địa ngục. Theo kinh Kabbala con số Năm làm cho con người dám làm cái xấu. Nếu nó chỉ biết đến con số Bốn, nó có thể đồng đẳng với các thần linh, theo Saint-Martin, số Năm là con số của thần tượng và sự đổ vỡ.
Bệnh tật không là gì khác, ngoài sự ngự trị của con số Năm lên con người: con người là tương đồng của cái Toàn Bộ, và Năm là sự chia đôi và vỡ làm đôi của cái Toàn Bộ này. Năm gợi tưởng đến sự tăm tối bên ngoài và những xúi giục địa ngục. Năm mang tới sự yếu đuối và sự hư hoại, mối lo âu, sự đau đớn, sự quằn quại, những nỗi hành hạ. Năm xé xác con người, giống như Seth với Oziris.
Tất nhiên không phải như phương thức Năm là trung tâm sức mạnh, nơi từ đó sự hư hoại chiếu phóng. Năm là biểu tượng tương đồng tất cả những cái như bệnh tật, nỗi đau, sự quằn quại, sự tối tăm. Con người không thể theo kịp các tương quan tiếp theo của các sự vật. Năm thực chất là chất xúc tác bạo lực - là trạng thái rơi xuống địa ngục, không phải là thứ linh hồn bước qua các ngưỡng của đời sống, hay người học trò trên những bậc thang nhập định cần trải qua, mà là quyền lực ma quỷ của sự tăm tối gợi nhớ theo phương thức bóng ma, và là cái mà con người cần phải sống qua một cách trái tự nhiên và không hề chuẩn bị.
Nhưng cũng chính vì thế bệnh tật liên quan đến sự nhập định và sự chết đi: khi con người bước vào một cánh cửa bị cấm đối với người đang sống - chỉ trong một trường hợp được phép, nếu làm vì tri thức, vì sự tỉnh táo thần linh.
Bệnh tật thu thập những kinh nghiệm không ngoại lệ, trái luật và là những điều tinh thần của đời sống không cho phép. Bởi vậy bệnh tật có quan hệ với tội lỗi và sự độc ác. Bệnh tật đưa đường tới sự tăm tối không trong sạch, tới sự mờ mịt tội phạm, thế giới của Seth, Hades, Seol, nơi, bằng cách thức bị cấm tiếp tục sự tiếp xúc tội lỗi với các quyền lực độc ác, và bị các quyền lực độc ác này đầu độc, cám dỗ, cầm tù.
Trong tất cả các loại bệnh tật có một cái gì đó cám dỗ cải biến linh hồn bất lực trở thành sự tò mò: nó khơi gợi cám dỗ bằng những ấn tượng rùng mình, mà một linh hồn khỏe mạnh không hề linh cảm và cũng không thể biết.
Nhưng thật hạnh phúc cho kẻ nào không cho phép những khát vọng tấn công từ sự tò mò tội lỗi, và không chóng mặt trước những ngất ngây rùng mình run rẩy mà sự tăm tối hứa hẹn: từ sự suy sụp, từ sự yếu đuối chập choạng, từ sự chấn động khủng khiếp, từ xúc cảm đời sống bẩn thỉu, phi tự nhiên, từ sự rung chuyển ma quỷ, từ sự tấy sưng lên chậm chạp những quyền lực bệnh tật, những thứ mà ở trong đó, linh hồn chỉ có thể tìm thấy niềm vui địa ngục khi nó đã hoàn toàn quên cái đẹp và sự cao thượng của một đời sống khỏe mạnh, sáng sủa.
3.
Sau những từ ngữ chung chung, để nhấn mạnh rằng bệnh tật không phải là cái gì ngoại lệ, bị cách li, và cũng không phải là thứ có thể đuổi ra khỏi đời sống con người - ít nhất không phải bằng phương pháp mà trong thời lịch sử, nhất là thời hiện tại người ta thường nghĩ - dễ dàng nhìn thấy, cái gì trong bệnh tật đã đi quá xa những lớp phủ xác thân vật chất nặng nề, hay nói cách khác: tại sao có nguyên nhân và nguồn gốc của bệnh tật và tại sao cần đặt xa các giới hạn của thân xác vật chất. Bằng một cách thức đặc biệt và hết sức cần nhấn mạnh rằng đây là điều liên quan đến tất cả mọi bệnh tật, không ngoại lệ, đến trạng thái tấn công động chạm đến thực thể người và làm yếu con người.
Một mũi kim đâm hay một vết cào duy nhất trên cơ thể con người đều không thể xảy ra từ nguyên nhân thường được giải thích là bởi thiên nhiên vật chất.
Bởi vì cái gọi là ngẫu nhiên chính là sức mạnh và nhân tố của quyền lực ma quỷ và số phận như những cái khác: ngẫu nhiên là thần hộ mệnh (daimon) nhảy vào phá vỡ luật từ một điểm nào đấy, và biến đổi con người thành một cái gì đó, thoạt nhìn không thể thấy triệu chứng cũng như hậu quả của nó.
Bệnh tật không bao giờ là bệnh riêng biệt của một bộ phận, mà luôn chạm tới toàn bộ cuộc đời, nghĩa là chạm tới toàn bộ con người. Con số của bệnh tật là Năm, Năm là con số của hư hoại và độc ác.
Tương đồng gần nhất là linh hồn. Tất nhiên đây không phải cái linh hồn tâm lí không phải là átma, átma cũng không phải là dzsiva nốt, mà là linh hồn-lông chim, con chim ở Ai Cập gọi là ba, là thümos, bay ra khỏi, rồi tràn đầy vào trong prana, vào hơi thở, hay đúng hơn vào cơ thể vật chất và chỉ bay ra sau khi thể xác đã bị hủy hoại, quay trở về thiên đường, đậu lên cây Đời sống.
Linh hồn này nhạy cảm như lông chim; nó sống trong các dây thần kinh, nhưng sự nhạy cảm của nó không chỉ hướng ra ngoài, mà trong những mức độ nhất định, hướng cả vào trong. Ý thức con người nhận các ấn tượng từ các vị trí không thể tiếp cận ban ngày và chuyển tiếp tục cho các dây thần kinh. Bệnh tật thân xác đi qua các dây thần kinh do ba điều khiển, đúng hơn: chuyển vào. Nhưng chuyển từ đâu tới?
Trong vòng trực tiếp của trái đất có những linh hồn đã chuyển đời sống ở đó, những linh hồn này không thể đứt đoạn với thiên nhiên vật chất và luôn hi vọng sẽ được quay trở lại. Đấy là các linh hồn sống trong sự cưỡng chế của niềm tin tối tăm và ngu si, những kẻ không chiến thắng nổi anake, nhu cầu, và thế là chúng bị hành hạ một cách rồ dại trong sự rối loạn, trong một thứ niềm tin xằng bậy.
Ở đây chúng vật vờ không dứt như những bóng ma, và sử dụng những cơ hội và khả năng nhỏ nhất để can thiệp vào những sự việc của trần thế, để bằng những việc này chúng tưởng chúng đang ở trần thế, bởi vì khi ở trần thế sự sống của chúng cũng ảo, và giờ đây chúng cũng không phân biệt nổi sự khác biệt giữa hai tình thế của chúng.
Kinh Kabala gọi những linh hồn này là các phôi thai, những thực thể lai, sống kí sinh trong đời người khác. Ba nhận lấy phần lớn các ấn tượng từ đây, bởi vì thế gian này nằm gần nó nhất. Thế gian này phóng chiếu phần lớn các hình ảnh của nó vào ý thức con người. Vượt quá vòng khí trực tiếp này, trong một không gian khí rộng lớn hơn là các sức mạnh ma quỷ và quyền lực của số phận sống ở đó, so với các loại trên chúng tỉnh táo không thể lường nổi: các sức mạnh và các thực thể thiên thần cùng quỷ sứ, là sự ngự trị vô điều kiện của các hiện tượng tốt và xấu của đời sống.
Thế giới này ba không thể nhìn thấy một cách trực tiếp, kể cả khi nó liên tục nhận được các bản nãng, các mệnh lệnh, các chỉ dẫn đi chăng nữa. Ba đặc biệt nhạy cảm với bảy vị thần mà hệ thống tương đồng chiêm tinh học gọi là bảy hành tinh. Từng phần từng bộ phận của con người phù hợp với bảy hành tinh và mười hai chòm sao.
Chòm sao Bạch Dương là cái đầu, Kim Ngưu là cổ, Song Tử là phổi, hai cánh tay và vai, Cự Giải là dạ dày và cứ thế tiếp tục. Mặt Trời là mắt, lưng, khuôn mặt, trán và máu; Mặt Trăng là chất nhầy, dạ dày; Sao Thủy là cánh tay, hệ thần kinh điều khiển, tủy sống và cứ thế tiếp tục.
Trên bầu trời sao các chòm sao phù hợp với sự di chuyển của các hành tinh cũng tương đồng với sự thay đổi của mọi vật chất thế gian và sự thay đổi của thân thể con người. Bảy vị thần của số phận gửi đi sức khỏe và bệnh tật. Mỗi thần chỉ là thần trong vương quốc riêng của mình: Mặt Trời chỉ ra bệnh đau lưng, đau tim, đau mắt; Mặt Trăng với bệnh đau dạ dày, đau hệ tiêu hóa, hệ thần kinh, sự rối loạn cảm xúc, sao Thổ với bệnh gút, bệnh phong thấp, viêm khớp, các bệnh xương, đau răng, gãy xương, loãng xương.
Nguồn gốc của bệnh tật qua vòng khí không thể biết hết nổi. Các chủ thể thần thánh thời cổ bằng tri thức và trực giác có thể biết đến tận nguồn gốc xấu của bệnh tật dựa trên nền tảng của con số Năm. Nhân tố này có thể thấy rõ từ các cách chữa bệnh mà các chủ thể thần thánh không phải ngoại lệ mà hoàn thành trong toàn bộ thiên nhiên. Các bậc thầy đã nhập định cổ, các giáo sĩ của Toth và Asklepios đều biết cội rễ của bệnh tật.
Sót lại đến thời lịch sử, tri thức về bệnh tật chỉ còn là: con người có thể lần ra cội rễ bệnh tật từ các quyền lực của số phận.
4.
Bệnh tật của thân xác con người phù hợp với nhân tố thế giới vũ trụ khi các cấp số tiến của MỘT lần lượt đạt đến sự hư hoại và tiếp xúc với sự hư hoại.
Bệnh tật không bắt nguồn trong xác thân vật chất, mà trong lĩnh vực tinh thần vô hình, từ đây nó sà xuống các vòng của số phận, và sự rối loạn phổ quát bắt nguồn từ lĩnh vực tinh thần được hiện thực hóa trong một vòng nào đấy. Từ đây nó sà tiếp xuống vòng quay trực tiếp xung quanh thế gian vật chất, và chỉ từ đây đi vào linh hồn con người: linh hồn tiếp tục đưa nó vào trí tưởng tượng, vào vô thức, sau cùng vào các dây thần kinh và từ các dây thần kinh xuất hiện sự thay đổi của các bộ phận thân xác, cái người ta gọi là bệnh tật.
Baader nói, bệnh tật là sự đánh mất trạng thái đúng luật của thân xác con người và là sự biến đổi của thân xác vào trạng thái vô luật: người bị bệnh không phụ thuộc vào các ý tưởng không nhận từ các ý tưởng ánh sáng cùng sức mạnh, mà phụ thuộc vào những ý tưởng ngược lại, nói theo ngôn từ của Paracelsus: con người từ các evestrum nhận lấy sự tăm tối và sự hư hoại.
Như vậy bệnh tật biểu hiện sự phụ thuộc bất thường của trật tự cao hơn vào trật tự thấp hơn, khi con người suy thoái, không xứng đáng với sự sống riêng của nó nữa, vật chất trở thành kẻ thống trị nó, hoặc còn xấu hơn nữa: sự tăm tối nặng nề trong vật chất thống trị nó. Kabbala dạy rằng bệnh tật là kết quả của ý muốn xấu cố tình - sự cố tình bước vào vòng của con số Năm.
Bởi vì chưa bao giờ bệnh đầu tiên là bệnh tật thể xác. Cũng trong mối quan hệ như thế, AI Ghazali viết, cái có giữa thân xác và cái bóng cũng giống như giữa thế giới tâm linh và thế giới vật chất. Trong thời cổ không ai nghĩ đến chuyện cần nói về bệnh tật của cái bóng. Trước tiên người ta nhìn xem thân xác ở trạng thái như thế nào, thân xác thật sự, nghĩa là vô hình. Và điều này đồng nghĩa với việc không ai nghĩ đến chuyện hi vọng vào sở hữu những công cụ bên ngoài để vun đắp một hi vọng, là có thể xua đuổi hoàn toàn bệnh tật khỏi đời sống vật chất.
Quay trở lại một trật tự sống đúng có thể cứu vớt hoặc loại trừ được một phần nào đấy của bệnh tật.
Nhưng có những loại bệnh, bộ mặt và dấu ấn đã xác định nhất định của nó là hậu quả không tránh khỏi của số phận. Tự nó nảy sinh từ sự sống cá nhân và chỉ giải quyết được nếu sự sống cá nhân lại tan hòa vào sự sống phổ quát.
Bởi vì sự sống con người không là gì khác, ngoài sự phụ thuộc bất bình thường của các sinh linh tâm linh cao tầng hơn vào các sức mạnh vật chất thấp tầng. Thứ bệnh tật này rất có thể có quan hệ chặt chẽ nhất với cái mà truyền thống gọi là sự đứt đoạn với MỘT, sự vật chất hóa, sự phạm tội, hay tội tổ tông.
5.
Nhân loại thời cổ về bản chất hiểu về bệnh tật một cách khác hẳn so với nhân loại thời lịch sử, và cũng chính vì vậy các phương pháp chữa bệnh cũng khác một cách cơ bản. Việc làm đầu tiên xưa kia luôn là sự xác định xem bệnh tật xuất phát từ vòng nào của sự sống. Nếu xuất phát từ các dây thần kinh thì tính chất bệnh sẽ khác, nói chung đơn giản hơn, bề ngoài hơn, dễ chữa chạy hơn, bởi vì bệnh chỉ có trên bề mặt của vật chất.
Nếu bệnh xuất phát từ linh hồn ( thümos, ba, prana ) cần phải tiến hành quá trình chữa kiểu khác, như thể bệnh xuất phát từ lĩnh vực trực tiếp của trái đất, bệnh mang tính Hades, ma quỷ địa ngục. Lại cần sử dụng một quá trình chữa kiểu khác nếu bệnh xuất phát từ vòng khí, nếu đấy là hậu quả tất nhiên của sự hóa thân vật chất thì việc chữa cho căn bệnh này không có ý nghĩa và khả năng. Lúc đó bắt buộc sự chữa chạy duy nhất là mở ra sự sáng sủa, sức mạnh và sự thức tỉnh trong con người, để nó gánh chịu số phận của nó. Bệnh tật tồn tại cùng con người, như chương thứ năm của số phận nó.
Thuốc trong rất nhiều trường hợp là loại vật chất mang tính động vật, thực vật và khoáng. Sự lựa chọn luôn phải do tư duy tương đồng điều khiển. Tác dụng của các loại vật chất mang tính động vật, thực vật hoặc khoáng tương đồng với từng vòng quay của sự sống, nói theo ngôn ngữ chiêm tinh học: các loại vật chất mang tính động vật, thực vật, khoáng đứng dưới sự thống trị của các quyền lực thiên thể; hay nói theo ngôn ngữ giả kim: các loại vật chất luôn đại diện cho các bản thể siêu hình.
Các bệnh Mặt Trời cần chữa bằng sức mạnh tăng cường của Mặt Trời. Nếu chỉ là bệnh trên bề mặt chỉ cần tác động lên bề mặt là đủ. Nếu bệnh tật xuất phát từ sâu hơn, phải cần đến loại thuốc có tác dụng lâu bền hơn.
Ở các bệnh về thần kinh và linh hồn (thümos) người ta sử dụng đến giấc ngủ tâm linh, như ở Ai Cập, Ấn Độ, Tây Tạng và theo kí ức trước thời kì lịch sử ở đền thiêng của Asklepios ở Epidauros đây là cách chữa bệnh đã từng được sử dụng.
Sau một số công việc chuẩn bị cần thiết, các giáo sĩ của Asklepios bằng sự đánh thức các hình ảnh nhất định giải phóng các sức mạnh ẩn náu trong con bệnh, còn con bệnh nằm trong đền thờ và ngủ thiếp đi. Trong giấc ngủ dưới tác động của các hình ảnh được đánh thức, bệnh sẽ phát ra. Quá trình chạy chữa đều đặn đi kèm với các giấc mơ. Theo truyền thống Ai Cập cách chữa bệnh này phổ biến nhất.
Kẻ đi chữa bệnh mang nhiều tính chất quan tâm hơn những kẻ khác: không phải ai cũng là thầy thuốc, kẻ học một cách máy móc những kiến thức từ bên ngoài bằng sự hiểu biết về cái hợp lí. Ở đây một lần nữa người ta sử dụng các tương đồng mang tính chất của thuật giả kim hoặc chiêm tinh học để xác định về thầy thuốc, người có đủ hay không sức mạnh để chữa bệnh. Việc chữa bệnh nếu thiếu các tác dụng linh hồn, tinh thần, thiên hà và huyền bí cá nhân hoàn toàn vô vọng; con người đi chữa bệnh không trong sạch, keo kiệt, ích kỉ, đố kị, ngạo mạn, ngu xuẩn chỉ làm người bệnh nặng bệnh thêm.
Chữa bệnh là một tác động mang tính chất cá nhân cao nhất, kể cả khi sự chữa bệnh xảy ra bằng tiếp xúc vật chất động vật, thực vật hoặc khoáng, để đưa các sức mạnh linh hồn, thiên hà và huyền bí cá nhân từ thầy thuốc vào con bệnh.
Trong thời cổ chỉ kẻ đã nhập định được chữa bệnh, là người mà trong bản thân họ đã học cách hiện thực hóa các sức mạnh thần linh khỏe mạnh, và không làm phóng ra những khả năng con người riêng tư mà giải phóng ra những sức mạnh linh thiêng. Từng có và không hiếm những kẻ nhập định sống mạnh mẽ với sức mạnh linh thiêng đến mức họ biết chữa bệnh chỉ bằng đặt bàn tay của mình lên người bệnh. Và thời đó không ai nghĩ đến chuyện phải trả ơn cho thầy thuốc hoặc nói về một sự kì diệu nào đó.
Công cụ cao của việc chữa bệnh là mantra - là Lời có quyền lực. Muộn hơn người ta gọi là thần chú, nhưng mantra không liên quan gì đến phép thuật. Mantra làm phục hồi sức mạnh khỏe khoắn ngủ quên trong con bệnh, và có thể đuổi quyền lực ma quỷ kí sinh trong con bệnh. Từng có một số kim loại, đá quý và một số cử động mang tác dụng mantra.
Tương quan một lần nữa lại là mối tương quan tương đồng. Cuối thời trung cổ người ta chữa cái tai bị bệnh bằng cách viết lời kinh ra và nhét tờ giấy ấy vào tai; điều này đã trở thành vô nghĩa, thành tàn dư kì cục của nghi lễ thời cổ, và trong nhiều quan điểm giống việc chữa bệnh thời hiện đại, khi người ta cho con bệnh những thứ thuốc hóa học và đợi sự lành bệnh từ đó.
Chữa bệnh một cách sâu sắc nhất, tìm ra nguồn gốc bệnh tật vượt quá cả vòng số phận, đó là cách chữa bệnh mang tính chất tôn giáo. Tất cả mọi bệnh tật đều là katabasis, hay là sự tiếp xúc với địa ngục và ma quỷ. Nhưng con bệnh không sa xuống địa ngục bằng nhận thức tỉnh táo của mình như người học trò đợi nhập định, mà bằng đam mê đến khoái lạc đui mù ngự trị nó, khiến nó muốn đi tìm khoái lạc. Và vì thế trong tất cả mọi bệnh tật có một phần của sự khát sống đáng xấu hổ, bắt con người phục vụ cho các thế lực đen tối. Bệnh tật vì thế cùng lúc là tội ác lẫn là sự trừng phạt, kể cả khi linh hồn không biết như vậy.
Bởi vậy một cách từ từ cần chạy chữa những bệnh tật có nguồn gốc sâu xa trong các sức mạnh siêu hình sâu xa nhất, cách chữa bệnh trong tôn giáo. Điều đáng nói đến ở đây là cần chuyển cái xấu thành cái tốt. Đôi khi chỉ cần sử dụng mantra là đủ, đôi khi cho ngủ tâm linh cũng đủ, đôi khi lại cần đến một quá trình dài và chi tiết hơn.
Bởi vì, mọi phương pháp chữa bệnh đều làm thức tỉnh, tất nhiên ở nơi có thể và cần tỉnh trong linh hồn bí ẩn và trong các vương quốc tinh thần. Loại thuốc duy nhất là sự sáng sủa. Đây là thứ ánh sáng mà bản thân linh hồn cần đến để dâng trào sự thức tỉnh từ bản thân và trong bản thân. Và quá trình chữa bệnh không bao giờ được phép trở nên tiêu cực.
Bởi vì tính chất tiêu cực khiến kể cả kẻ đứng ngoài vòng các bệnh tật cũng không hề mạnh khỏe. Sức khỏe là một cái gì đó mang tính tích cực: sự tích cực trong đời sống trần thế mang tính chất chết đi của thân xác lớn nhất, cần giải phóng các sức mạnh và cần làm sâu sắc đời sống. Từ quan điểm này bệnh tật còn mang tác dụng thúc đẩy: bắt buộc hướng tới một đời sống sâu sắc hơn, sáng sủa hơn. Sau một phương pháp chữa bệnh đúng đắn, con người khỏe mạnh hơn cả trước đó.
Tương đồng cho rằng tất cả mọi bệnh tật là sự chia phần trong số phận với Thượng Đế đau khổ của con người. Con người lựa chọn số phận của Thượng Đế bằng một quyết định tỉnh táo, và lúc đó sự đau khổ, bệnh tật, hoặc bất cứ điều gì chỉ liên quan đến các vòng thân xác vật chất không chạm tới phần sâu và cao hơn: bên trong con người, trong linh hồn và tinh thần vẫn toàn vẹn, nguyên vẹn, khỏe mạnh.
Nếu con người không chọn lựa số phận của Thượng Đế, nó sẽ chống lại số phận; và bởi vì phản đối nên nó trở nên tiêu cực, vì tiêu cực, nó cần đau khổ sâu sắc hơn trong tinh thần và linh hồn. Nguồn gốc bệnh tật trong mọi trường hợp đều vượt quá các bộ phận cơ thể vật chất, và trong mọi trường hợp đều mang nguồn gốc siêu hình.
Nếu con người biết, cần phải đau khổ, bởi cần phải đảm nhận việc tham dự cùng số phận Thượng Đế đau khổ, nó sẽ chấp nhận số phận - và việc này mang lại sự xứng đáng, sự an bình, sự đảm bảo và trên mọi cái, sự sáng sủa. Nếu linh hồn sáng sủa, con người mỉm cười trước sự hư hoại của thân xác.
6.
Bản thân thân xác con người cũng là một tương đồng: tương đồng của tổng thể thế gian được tạo dựng. Tương đồng của thân xác con người: một cái bình thiêng liêng.
Từ thời trung cổ đã từng có huyền thoại Grál đáng ghi nhớ, và ngay trong con người ngày nay đôi khi cũng nổi lên những linh cảm kì lạ khi nhìn thấy những cái bình cổ Hi Lạp, Ai Cập, Trung Quốc, Peru; người ta hiểu và đồng thời hiểu mơ hồ về ý nghĩa và biểu tượng nằm trong những cái bình này. Ở Peru những người đàn bà đã nhập định làm ra những cái bình: họ ăn chay, tắm rửa sạch sẽ, đọc kinh trước khi làm việc, và công việc là một bí ẩn thiêng liêng, như việc lựa chọn chất liệu, pha màu, nung cháy đất.
Việc làm ra cái bình là một hoạt động giả kim: là biểu tượng của việc làm ra một con người, bởi vì con người cũng được tạo dựng và hình thành từ vật chất. Cái bình là cái nồi thiêng, nội dung của nó là soma, là bản thể của đời sống, là sự sống, là thelesma, là thực thể vĩnh cửu và bất tử. Con người được ủy thác cho cái nồi thiêng, để tập hợp vào đấy những chất lỏng thiêng, rượu hoặc dầu, hoặc vật chất thiêng: lúa mì hoặc vàng, và bằng điều này tăng thêm đức của thế gian, làm thế gian giàu có và rạng rỡ thêm.
Cái bình là một cái hồ thu thập asa -điều thiện, dành cho sự tích góp mọi bố thí của Thượng Đế - huyền thoại Grál nói lên điều này, nói về điều này bằng vẻ đẹp của dáng hình bên ngoài và ý nghĩa huyền bí bên trong của sự xuất hiện của những cái bình Hi Lạp, Trung Quốc, Peru, Ai Cập và Mexico.
Con người không phải lúc nào cũng đổ đầy cái nồi thiêng bằng vàng, rượu hoặc lúa mì, và nếu có một cái gì đó rơi vào nồi, cái không phải là asa, không xứng đáng với thực thể vĩnh cửu và bất tử, lúc đó niềm đam mê hoặc khát vọng hoặc nỗi mong ước, hoặc kỉ niệm sẽ làm nội dung của cái bình lên men và hư hoại. Sự hư hoại này là bệnh tật.
Những lúc như vậy theo nghi lễ cổ, người ta đem cái bình vào nhà thờ, lau chùi, rửa sạch sẽ, vị giáo sĩ dùng hương liệu thơm làm lễ để nhận lại vật chất thiêng. Những cái bình huyền bí lớn, như Grál, tự chúng thanh tẩy chúng, trong một năm vào đúng một ngày bằng máu thiêng tràn đầy bình.
Việc lau rửa bình, đổ đầy nước sạch và cắm hoa vào đó của nghi thức cổ giờ đây đã bị lu mờ, nhưng bản chất thanh cao của nó vẫn có thể cảm nhận được. Hoa là biểu tượng của linh hồn, linh hồn sống bằng nước đựng trong bình - đấy là máu trong cơ thể: linh hồn được nuôi dưỡng bằng máu, như khi hoa hút nước từ bình.
Hoa là linh hồn sống trong thân xác, còn thân xác là cái bình thiêng, là cái nồi chứa các chất lỏng linh thiêng, là nơi chứa sự ẩm ướt dành cho đời sống, để hoa trong đó nở ra và tỏa hương thơm.