Tương đồng là chủ nghĩa hiện thực của con người cổ.
Trong con người thời cổ từng có một khả năng, có thể nhìn thấy mối tương quan tinh thần vô hình của các sự vật; Các mối tương quan này là những sự phù hợp: giữa cái thấp với cái cao, mang tính xúc giác và mang tính siêu việt, giữa trần thế và tính chất khí, giữa vật chất và phi vật chất.
“Các sự vật trong thời gian và không gian - Kabbala nói - xuất hiện để đứt đoạn khỏi sự vinh danh Thượng Đế. Các sự vật đứt đoạn sau đó từ từ chìm xuống; ban đầu người ta còn nhớ đến nguồn gốc của chúng, nhưng chúng ngày càng trở nên nặng nề và cụt ngắt; sau cùng chúng hoàn toàn rơi chìm xuống vật chất”.
Con người trong thời cổ vẫn còn nhớ đến các ý tưởng, về những điều mà các sự vật trong thời kì đầu tiên đã đứt đoạn; Muộn hơn ý tưởng chỉ người đặc biệt nhìn thấy, chỉ duy nhất người đó có tri thức rằng các sự vật có nguồn gốc và có sự phù hợp trên cao. Sau rồi tri thức này cũng bị lu mờ, và con người bắt đầu tin rằng thế gian vật chất tự nó có.
Sự tỉnh táo của con người chìm xuống sự mờ mịt. Bằng ý thức đầy đủ con người đã không còn thấy các tương đồng. Tuy ngày nay vẫn còn thấy bản sao của sự tỉnh táo về những sự phù hợp: con người trong giấc mơ hay trong những giây phút cảm hứng, khi sống tỉnh táo, nó nhìn thấy và nhìn trong những sự phù hợp. Nói theo ngôn ngữ hiện đại: cái vô thức ngày nay suy tư trong các tương đồng. Nhưng (cái gọi là) ý thức đầy đủ đã hoàn toàn chìm vào vật chất.
Đặc thù ở con người cổ: như thể không bao giờ nó nhìn thấy chỉ sự vật, mà bản thân sự vật giống như các vết nứt trên tấm chăn dệt dày đặc của thế giới giác quan, thông qua các giác quan con người nhìn thấy cái xuất hiện đằng sau sự vật, rồi cái đằng sau cái đó và cứ như vậy thấy cái từ đằng sau nhau và thấy từ nhau đưa đến một khoảng cách vô hạn. Cái tồn tại trong những sự phù hợp và các tương quan liên quan đến lẫn nhau ngày càng sâu đậm hơn, cái đó con người cổ coi như là hiện thực.
Đây là hiện thực: là một hàng vô tận của các sự vật mở ra lẫn nhau và phù hợp lẫn nhau, là thứ mà bằng các giác quan chỉ có thể kinh nghiệm được một cái gì đó ở điểm bên ngoài và trên bề mặt, nhưng trong bản thân nó không mang cả ý nghĩa lẫn hiện thực. Các thực thể, các sự kiện, các đồ vật con người cổ từ đầu đến cuối nhìn chúng trong sự sâu sắc bên trong của một viễn cảnh siêu hình học, và cái nhìn tinh thần này không chỉ dừng lại ở các ý tưởng và các thần linh, không thể dừng được.
Bởi vậy các ý tưởng có hiện thực đích thực của chúng và bởi vậy các thần linh đúng là các thực thể hiện tại: bởi con người nhìn thấy họ. Con người cổ không chỉ nhìn thấy những thứ có trong sự vật vật chất, mà còn nhìn thấy cả những điều chúng nói lên. Nhưng đằng sau một ý nghĩa là một ý nghĩa mới phù hợp với ý nghĩa trước, rồi sau cái đấy lại có một ý nghĩa mới hơn.
Gần đây con người thử tiếp cận một vài biểu tượng cổ trên cơ sở thấu kính tương đồng của Swedenborg. Các biểu tượng đọc ra cho thấy con rắn trên trán Pharao Ai Cập có nghĩa là sự tỉnh táo: “các người hãy tỉnh táo như con rắn”.
Đúng, con rắn trên trán kẻ cai trị có nghĩa là: sự thông thái tỉnh táo không phục vụ cho lợi ích cá nhân mà cho nhân loại. Bởi vì trán là biểu tượng của thiện chí hướng về con người. Một vị vua thông thái tỉnh táo là một đại diện lo toan cho những kẻ dưới quyền. Con rắn là vòng trang trí quanh đầu, quấn quanh cổ và thả xuống tận ngực, có nghĩa là thiện chí không chỉ dừng lại trên đầu, trong tư tưởng, mà còn được thực hiện thật sự trong thế giới thân xác.
Khi Herakleitos nói, sự hài hòa vô hình lớn hơn cái hiện hình là ông muốn nói: cái quyết định là mối quan hệ vô hình giữa các sự vật, bởi điều này đi vào bề sâu, trong khi sự hài hòa của cái hiện hình chỉ trên bề mặt.
Cái vô hình đo lường bản chất thật sự của các sự vật, được logo xác định, bởi tất cả mọi sự vật nhìn thấy chỉ là bề mặt bên ngoài của sự tương quan vô hình vô tận. Con người không nhận ra thế gian khi nhìn thấy bề mặt bên ngoài của thế gian, mà chỉ khi hiểu ra chuỗi xích của các phù hợp tương quan đến tận ý tưởng, thần linh, và cái tuyệt đối siêu hình học của sự vật mà thôi.
2.
Nếu ai nói rằng họ nhìn thấy cái gì bằng cái gì với con người cổ, con người cổ sẽ nhận biết ngay. Kinh nghiệm giác quan chỉ có nghĩa ngần này: tôi xác định hiện tượng bề mặt của một cái gì đó trong một khoảnh khắc, ngoài ra không còn gì khác. Nếu một người nhìn thấy Nilus, họ chỉ thấy nhưng không nhận biết. Để một ai đấy biết Nilus là cái gì, họ cần biết: đây là Nilus trên trái đất và là bản sao của Nilus trên trời.
Như sa mạc này là bản sao của sa mạc trời, biển là bản sao của biển trời, núi Ganges và Brahmaputra, sông Giang tử và Fudzsijama là bản sao của sông và núi trời, như toàn bộ trái đất là bản sao của trái đất mang tính chất trời, như con người trần thế là bản sao đúp mang hình elip trời.
Nhận biết được sự vật là kẻ biết rằng bản gốc nằm trong thế giới siêu hình học vô hình, và kẻ nào nhìn thấy sự vật chỉ bằng các giác quan, kẻ đó mới chỉ chạm vào bề mặt bên ngoài của sự vật. Con người cổ sống trong địa lí cũng như trong giải phẫu học vũ trụ học, và hóa học, và cũng đúng như vậy với vật lí học, chưa nói đến tâm lí học. Thấu kính tương đồng là chủ nghĩa hiện thực chiêm nghiệm tồn tại trong những sự phù hợp vượt qua kinh nghiệm, mang tính chất siêu việt của các sự vật giác quan. Các giác quan không hề hiểu về bản chất của thiên nhiên.
He phüszisz theian ga kai ouk anthópinén endechetai gnoszin, Philolaos nói: thiên nhiên mang tính Thượng Đế và không muốn sự nhận biết của con người. Thượng Đế ở đây là tính chất siêu việt, hay là tính chất siêu hình học. Kinh nghiệm giác quan là một sự tính toán giả dối. Tất cả mọi thứ trong thiên nhiên không thể nào hiểu nổi nếu thiếu kiến thức mang tính siêu hình học, siêu việt.
Các hiện tượng cổ đối với con người lịch sử như thể các biểu tượng của giấc mộng vậy. Giấc mộng luôn sử dụng đến những biểu tượng động vật, cây cỏ hoặc vũ trụ, sử dụng đến các sự kiện mà nghĩa bóng và sự phù hợp của nó con người lờ mờ linh cảm như thể họ đã từng nghe thấy các từ ngữ, từng trải qua những chấn động, từng gặp gỡ những linh hồn đã chuyển dời và lũ ma quỷ.
Con người thời cổ giải thích thế gian như khi họ diễn giải các giấc mộng của con người: các sự vật trong độ sâu chiêm nghiệm. Đây là thấu kính chiêm nghiệm mà Hi Lạp dùng từ theorein-theoria để diễn đạt, bởi vì so với thấu kính giác quan, nó cụ thể hơn, bản chất hơn, sâu sắc hơn và hiện thực hơn một cách không thể nào đo lường nổi. Còn kiến thức trong lĩnh vực tinh thần chắc chắn một cách vô tận, theo Saint-Martin, so với kiến thức trong lĩnh vực vật chất.
3.
Các nhà tư tưởng Hi Lạp sống trước thời Socrates thường bị coi là các triết gia thiên nhiên ngây thơ thời hiện đại. Họ bị coi là đơn giản khi: một người cho rằng nguồn gốc của thế gian là nước, một người khác bảo từ không khí, người thứ ba bảo từ lửa, người thứ tư bảo từ apeiron. Không thể quan niệm khác, bởi con người thời hiện đại tin rằng nước là thứ được kinh nghiệm bằng các giác quan, còn lửa và không khí là cái họ nhìn thấy trong thiên nhiên vật chất. Khó có thể biết quan niệm của người nào lạc hậu hơn: người, nhìn thế gian bằng thấu kính siêu hình học, suy nghĩ trên biểu tượng, hay kẻ cho rằng đời sống chỉ có những sự vật vật chất và đều nắm bắt được.
Các nhà tư tưởng sống trước thời Socrates là những nhà siêu hình học, những người suy nghĩ và biết cũng đúng như Philolaos của trường phái Pythagoras: thiên nhiên mang tính Thượng Đế và không cần tri thức của con người. Mang tính Thượng Đế nghĩa là mang tính chiêm nghiệm, nghĩa là thứ nguyên tố từ đấy thế gian hình thành, vĩ đại trong tầm vóc và độ sâu không thể đo nổi, nhưng trên nền tảng là sự tương đồng vũ trụ lại có thể hiểu được.
Nếu ai thử trả lại vị trí của siêu hình học về nước thời cổ của Thales, ít nhất trong những phác thảo, sẽ mau chóng nhận ra, ở đây không hề có cái gọi là đơn giản cũng như một sự ngây thơ nào hết. Còn sau một thời gian nhất định họ chắc chắn phải thừa nhận rằng trong sự dũng cảm, trong bề sâu, trong cái đẹp so với thế giới nước phổ quát của Thales giữa các siêu hình học hiện đại, không một thứ duy nhất nào có thể so sánh nổi.
Ta nên bắt đầu bằng lí thuyết con số. Bởi vì con số, theo Philolaos của phái Pythagoras, là một dây xích mang tính chất thống trị độc lập với thế gian được tạo dựng, nối kết bên trong các sự vật vào với nhau. Bằng phương pháp tinh thần trong sạch con số đánh dấu mối quan hệ giữa thiên nhiên vật chất và ý tưởng trong một điểm, là nơi chính lúc đó ý tưởng biến thành vật chất. Lí thuyết con số dạy rằng, con số của nước là: SÁU.
Lời giải thích như sau: sự xuất hiện của các sự vật và sự thực hiện vật chất được thừa nhận như thứ vật chất cổ, như thực thể cổ, như buổi ban đầu thời cổ, mà bước biểu hiện đầu tiên của vật chất là ánh sáng.
Ánh sáng: là MỘT. Hoạt động đầu tiên của Một là sự thu hút. Đây là Hai. Sự thu hút trong thiên nhiên vật chất xuất hiện như oxygen. Hiện tượng thứ hai là sức đẩy ra. Đây là Ba. Sự đẩy ra trong thiên nhiên phù hợp với Hydrogen . Sự thu hút và sự đẩy ra hợp nhất và trở nên hoàn hảo. Đây là Bốn. Oxygen và Hydrogen hợp nhất thành một vật chất khí. Con số của vật chất khí này là Bốn. Oxygen và Hydrogen trộn lẫn nhau và cháy. Sự cháy, lửa: số Năm.
Hydrogen và oxygen cháy tách làm hai. Bởi con số Năm có thể tách ra và phá vỡ. Vật chất tách ra khỏi tinh thần. Phần tinh thần bay lên, còn phần vật chất đọng xuống. Phần đọng lại này: nước. Nước: con số Sáu. Cơ sở của nước là lửa, cơ sở của lửa là vật chất khí, cơ sở của vật chất khí là ánh sáng. Nước nằm trên các nền tảng này, là vật chất thực tế, nắm bắt được đầu tiên. Xuất hiện từ sự nổ tung của các nguyên tố khí, rơi xuống và thành dạng, hóa thân.
Bởi vậy theo Thales, vật chất cổ đầu tiên của thế gian chính là nước.
Böhme hiểu về nước như kết quả của một thiên tai nổ tung: sức mạnh của con số Năm hoạt động trong vũ trụ, sự phân cách làm nổ tung các khí gaz. Vật chất bị cháy thực ra là nước. Nước là vật chất tổng hợp: số Sáu là con số tổng hợp. Nước nguyên thủy là nền tảng của đất, cơ sở của đất là nước, như cơ sở của nước là lửa, và cơ sở của lửa là khí, cơ sở của khí là thể hiện vật chất đầu tiên: ánh sáng. Nước là vật chất bị cháy.
Baader đặt song song giữa sự rơi xuống của linh hồn, sự thất bại của các thiên thần, sự phạm tội của con người và sự xuất hiện của nước. Giữa các sự kiện này có sự phù hợp lẫn nhau. Trong mọi sự kiện hoạt động phát nổ, làm tổ tung, làm phân cách của con số Năm quyết định, là thứ chia ra các loại linh hồn chung thủy và không chung thủy, các thiên thần cao cả và các thiên thần hư hỏng, niềm hạnh phúc thiên đường và con người, sau cùng thiên nhiên khí và lửa vô hình từ thiên nhiên vật chất.
Nước là mức độ đầu tiên của sự hóa thân.
Nhưng theo Böhme còn cả cái khác nữa. Khi chất khí nổ tung thế gian tinh thần và thế gian vật chất chia ra. Như vậy thực chất có hai loại nước xuất hiện: nước trên cao, mang tính chất trời, nước tinh thần - là ý tưởng (idea), nhưng nước phía dưới, mang tính chất vật chất, là eidolon .
Bởi vậy có: biển mang tính chất trời, các nguồn nước trời, có Nilus, Ganga, Brahmaputra trời. Vì thế có nước của đời sống. Nước của thế gian chỉ là bản sao nước của trời, đây là nước vật chất nặng nề, khi các khí gaz nổ tung rơi xuống một cách bất lực và ngập đầy các độ sâu. Nhưng nó cũng chuyển động dưới tác dụng của lửa và sức nóng, như hơi nước, sương mù và mây, thử bay lên. Nhưng trọng lượng của nó lôi nó xuống và một lần nữa nó lại lao xuống.
Nhưng nước vĩnh viễn khao khát, vĩnh viễn bốc hơi, và vĩnh viễn rơi xuống. Đây là vòng quay tròn của nước, giống như các hành tinh, các thực thể và là sự lưu thông vĩnh viễn của thời gian, và các hành tinh, các thực thể. Thời gian học sự lưu thông này từ nước, học từ tính chất nước đặc thù của chúng, bởi tất cả nguồn gốc vật chất đều như nước.
Và bởi vậy Thales nói, vật chất cổ của thế gian là nước.
4.
Ở Iran người ta gọi linh thần của nước Ized là Aban. Aban cũng từng là vua của thời gian. Bởi thời gian không là gì khác ngoài thứ giống như nước, cũng chảy và dâng ngập từ một nguồn vô danh, và cũng không thể cầm nắm lại - “không ai có thể bước hai lần cùng vào một dòng sông” - Herakleitos nói.
Thời gian là nước vô hình, sự sống của thế gian chảy trong đó, là thứ trong đó sự sống của tất cả chúng ta truyền đi trong trạng thái hòa tan. Nước có thể nhìn thấy, suối, sông, hồ, biển chỉ là sự xuất hiện và phù hợp trong thân xác vật chất nặng nề của thứ thời gian này. Là sự tương đồng của nó. “ Thế giới hữu hình chỉ là dấu ấn và bản sao của cái vô hình”. Dấu ấn và bản sao này là nước vật chất, dinh dưỡng, kẻ duy trì của đời sống, là Mẹ của Đời sống.
Trong nước hữu hình cũng có sự sống, trong trạng thái hòa tan. Nước là cặp elip của không khí và ánh sáng - hay là vợ của chúng. Ở Iran người yêu đầu tiên của Ahura Mazda là Arduiszur, nữ thần của sức mạnh nước, là Thần nước, mẹ của Đời sống. Nước không là gì khác, ngoài mức độ đầu tiên, sau ánh sáng, của trạng thái tinh thần bị vật chất hóa. Như tinh thần mang tính vật chất là biểu tượng và tương đồng của đàn bà, ở Iran nữ thần Ainyahita : là nữ thần của sự hóa thân, sự sinh ra và sự phục sinh.
Ở Ai Cập từ dòng nước cổ, từ Nun sinh ra Ptah , kẻ tạo dựng, đấng sáng tạo. Từ cuộc hôn nhân của ptah và Nun sinh ra Mặt Trời đầu tiên: Nước-Mặt Trời. Bởi vì khi thế gian trong trạng thái đầu tiên là nước, không có bất kì cái gì khác, khi tất cả mọi thực thể sống còn đang ở trong nước, lúc đó vị thần chính Visnu vân còn là cá ở Ấn Độ, và Mặt Trời không thể khác, chỉ là Nước-Mặt Trời.
Ở Peru Nước-Mặt Trời này được gọi là Atonatiuh, và đây là Mặt Trời nhắc nhở đến cái chết mang tính chất nước, nạn hồng thủy. Ngoài ra, ở Peru, nước là dấu hiệu của nền kinh tế. Trên quyển lịch người ta đánh dấu ngày thứ mười bằng nước: ý nghĩa thứ hai của nó là cái sừng của sự sinh sản và trù phú. Bởi vậy tất cả các vị thần nước đều nằm trong mối quan hệ với người đàn bà, với sự sinh sản của đất, và với vụ mùa thu hoạch tốt đẹp.
Bởi vậy trọng tâm văn hóa mưa ở Iran là Bahman, là amsaszpand đầu tiên, Mặt Trăng và trong hình dạng của nước, được người ta kính trọng. Bởi vậy ở Mexico Tlalok là thần mưa, Kenteotl , chồng của người đàn bà ngô. Tlalok, mưa, tinh trùng thụ tinh nữ thần Kenteotl đang yêu. Nhưng Tlalok không chỉ là thần mưa. Người ta gọi địa ngục-nước là Tlalokan , là Hades -nước, nơi các nguồn nước nảy phun, và Tlalok là chủ của những linh hồn đã chuyển dời, những linh hồn quay lại trái đất trong hình dạng của mưa, để thụ tinh cho trái đất.
Kinh Upanisadok nói rất tỉ mỉ về điều này. Tlalok của người Do Thái là Mặt Trăng, nơi cũng đúng như ở Mexico, những người đã chết sống trong Tlalok. Mưa thụ tinh rơi xuống từ đấy. Không một nguyên tố duy nhất nào có thể biến đất thành asa- điều thiện như nước, tạo biết bao cơ hội để cái đẹp, sự giàu có, sự sinh sôi, niềm vui, tích đức dâng trào.
Nước mang ý nghĩa lớn trong thế gian vật chất, như người đàn bà trong sự sống con người: là một nguyên tố mềm, dưỡng sinh, xúc cảm, sâu sắc, vô hình, dễ dàng bị rối loạn, nhưng cùng lúc dễ dàng thanh tẩy, sảng khoái, nguy hiểm, phẳng lặng như gương nhưng bão tố, quyến rũ một cách dễ thương, là kẻ đầy rẫy những sự đáng yêu và sự khủng khiếp bí ẩn.
Người ta biết nhiều về thực thể nước của các huyền thoại cổ: ở Hi Lạp có Proteus, Halios Geron , ông già của biển nước mặn, Nereus, Okeanos, Poeidon là các vị thần chính - nhưng sống cùng hàng trăm thực thể nước, với các cô gái, với những người đàn bà, những người đàn ông, các con ngựa, với đám quái vật, với lũ rồng.
Chiêm tinh học trình bày thuyết thế mạt luận của nước như sau: ba chòm sao mang đặc tính nước: Cự Giải, Bọ Cạp và Song Ngư. Cự Giải - Nước trước hết là nước ngọt, những con suối chậm chạp, nước của các hồ, nơi đầy rẫy các thực thể sống chen chúc, nơi bao quanh là đám lau sậy, những đầm, vũng, xanh rì, nước đục ấm, ngập, trong các loại nước đây là nước mềm nhất. Bọ Cạp - Nước cháy bỏng, màu đỏ, sôi sục, nhiệt huyết, bốc hơi, chọc tức, cấu cào, nồng nhiệt. Song Ngư - Nước lạnh lùng, màu xanh, là nước biển trong suốt pha lê, nước của khí eter, nước của Aphrodite Urania .
Ba kí hiệu phù hợp với ba ý tưởng, ba tâm trạng, ba dạng người, ba loại tinh thần, ba thấu kính, ba trật tự đời sống. Cự Giải là kí hiệu mẫu hệ, và đầm lầy là nước mẫu hệ. Bọ Cạp là nước của bản án ngày tận thế, là nước nóng bỏng của sự lựa chọn. Song Ngư là nước xanh biếc, màu xanh biếc không là gì khác, mà theo Schuler là màu sắc đầu tiên của thế gian vật chất, là mức độ đầu tiên của tia sáng - thế gian trong buổi bình minh đầu tiên của ban mai đã rạng ngời như thế: bầu trời và biển. Song Ngư là cô gái đồng trinh, Bọ Cạp là người đàn bà nồng nhiệt, Cự Giải là người mẹ cho dinh dưỡng.
Cả ba đều là hình ảnh của nữ thần Đất: từ nước của Song Ngư sinh ra cái đẹp và hoa, từ Bọ Cạp sinh ra đam mê và rượu, từ Cự Giải sinh ra tư tưởng và bánh mì.
5.
“Bốn - theo Thales - là đối tượng của nhiều cách nói, cái đầu tiên của nó ta gọi là nước, và là thứ trong một quan điểm nhất định ta coi là nguyên tố duy nhất kết hợp các sự vật trần thế, thống nhất và trộn lẫn chúng vào nhau”.
BỐN như Thales nói, là đối tượng của nhiều cách nói, là polüthrüléta tettara, là bốn nguyên tố: không khí, lửa, đất và nước. Theo một quan điểm nhất định, giữa các nguyên tố này tồn tại hiện thực đầu tiên là nước. Tại sao? Không có gì khó hiểu.
Bởi vì như thực thể đàn bà nảy sinh từ thực thể đàn ông, theo thời gian muộn hơn nhưng trong ý tưởng và chính vì thế trong sự tuyệt đối thực thể đàn bà lại xuất hiện sớm hơn, và cũng chính xác đúng như vậy nước xuất hiện từ không khí từ lửa theo thời gian thì muộn hơn, nhưng trong ý tưởng lại là nguyên tố xuất hiện sớm hơn.
Bởi vậy trong thời gian, không khí và lửa là cơ sở của nước; nhưng trong sự tuyệt đối nước lại là cơ sở. Bởi vậy nước là vật chất cổ, vật chất mẹ, từ đấy tất cả sinh ra, giữa các vật chất nó là người đàn bà, là mẹ, là vị thân sinh. Bởi vậy Thales nói cái đầu tiên của các nguyên tố là nước.
Trong một quan điểm nhất định nước là duy nhất, Thales nói tiếp: bởi vì nước là nguyên tố duy nhất được sắp xếp bằng đầy đủ bốn đặc tính, nước linh hoạt nhất, dễ biến hóa nhất, thay đổi nhẹ nhàng nhất cái trạng thái đậm đặc của nó, nước biến thành không khí và lửa và đất một cách dễ dàng nhất.
Và nếu hình ảnh cổ của nước cũng tương đồng với người đàn bà, nó cũng duy trì thường xuyên các đặc tính của đàn ông trong bản thân. Nước là người mẹ, đời sống sinh ra từ nó, nhưng mặt khác nước rơi xuống mặt đất khô cằn cũng giống như tinh dịch rơi vào tử cung cháy bỏng, và thụ tinh đất.
Bởi vậy thuật giả kim biết đến ba loại nước: nước tinh dịch giới tính nam, nước dinh dưỡng và sinh đẻ giới tính nữ, và nước androgün cân bằng trong đàn ông và đàn bà, để trở thành siêu giới tính. Đây là aqua ignificata , là nước cháy, lửa-nước, cái mà chiêm tinh học gọi là Bọ Cạp. Đây là sự gặp gỡ của nước với logo, với tinh thần cháy bỏng, với ngôn từ, với tư tưởng, với lửa tạo dựng.
Kẻ học trò đi trên con đường nhập định của nước - Thales chắc chắn đã dạy điều này - từ nước giới tính nam trước tiên cần làm thành nước giới tính nữ, sau đó cần thống nhất cả hai và trở thành nước siêu giới tính, để trở nên tương tự với nước thời cổ và với Tạo Hóa, với kẻ mà nước chỉ là biểu tượng vật chất, bởi Tạo Hóa nhờ nước mà tạo dựng các nguyên tố, trái đất, các thực thể, và trong buổi bình minh của thời gian, khi đời sống vẫn còn ngủ trong tư tưởng của Tạo Hóa, chưa từng có gì hết ngoài tinh thần của Tạo Hóa bay bổng trên nước tối đen.
“Linh hồn của Đấng Tạo Hóa bồi bổ cho các loại nước”. Bởi vì sự nhập định không là gì khác ngoài sự tái hòa nhập, hay đúng hơn là sự quay trở lại với trạng thái cổ ban đầu: kẻ nào đi trên con đường nhập định của nước, kẻ đó cần từ bỏ việc “lựa chọn của các loại nước từ các loại nước”.
Bởi vì sách thiêng đã dạy: “ Hãy để sự ngự trị lan rộng trên nước, thứ lựa chọn các loại nước từ nhiều loại nước”. Trời đã tách ra từ nước như thế - không khí với lửa, Lời đầu tiên, logo. Kẻ học trò đợi nhập định cần một lần nữa hợp nhất lửa và không khí và nước để trả lại MỘT.
Tất cả mọi nguyên tố đều có cơ hội phơi bày tính chất siêu hình học của nó và bằng các tương đồng đạt đến sự hiểu biết về thế gian - nhưng một nguyên tố duy nhất cũng không có nhiều cơ hội hơn nước, chỉ vì: trước hết đời sống giống như nước một cách vô tận, cũng như không khí và lửa. Đời sống sinh sôi, mang tính chất người mẹ và nhạy cảm, và không có thực thể sống nào mà bản chất thân xác của nó không chứa nhiều nước đến thế.
Theios hüdor oudenesztin, Zoszimos nói: thiếu nước của Thượng Đế, không có gì hết. Một khuôn mặt của nó là đàn ông, khuôn mặt khác đàn bà, khuôn mặt khác nữa là sự sống vĩnh cửu: biển, và cái khác ấy là đời sống không thể dừng lại: sông.
Bởi vậy từng có nước cổ tinh thần bí ẩn, mare philosophorum , và nguyên tố cổ giả kim: nước của tinh thần. Nước của đời sống, nguồn vô tận. Ahriman, sự tăm tối trong dạng hình con rắn xuất hiện trên trái đất và giết chết sự sinh sản. Nhưng chưa kịp giết, Ahura Mazda đã tạo dựng ra Nước của Đời Sống.
Con số Ba cai trị ở Ai Cập khi người ta biết ba loại nước: nước trời, nước đất và nước địa ngục. Khi ngôi sao Sirius xuất hiện vào ban mai, ngày 17 tháng 7, ba loại nước này hợp nhất và lũ lụt của sông Nilus bắt đầu.
Ba loại nước mang tính đàn bà: nước của các bà mẹ mang tính địa ngục, sinh sôi; nước mang tính đất đàn ông là nước của sự hoạt động; androgün là nước mang tính trời, là nước của đời sống, là ý tưởng nước, là nước cổ. Nước mà con người uống, nước chảy trong sông Nilus, nước mà trong đó các thực thể biển sinh sống có quan hệ với nước cổ, như đời sống với ý tưởng, bản sao với bản gốc.
Ở Iran người ta phân biệt bảy loại nước: cây cỏ, nước của các ngọn núi, mồ hôi, nước mưa, nước tinh dịch, nước bọt và nước tiểu. Kinh Kabbala dạy rằng nước là nguyên tố gắn kết các phần của thế gian, hợp nhất và duy trì chúng làm một, điều này về bản chất cũng như điều Thales tuyên bố về nước.
Samaim , từng là nước cháy, từng vô ích muốn cùng đất hợp nhất với lửa của thế gian, nó truyền giữa trời và đất: nước gắn kết lửa của trời với đất bất lực, và từ đó trở đi trời thông qua nước tiếp xúc với đất. Nước cho đất dinh dưỡng, làm đất sinh sôi, và nước duy trì đời sống: nước là thứ làm tan và rửa sạch chất bẩn bám vào thực thể người.
Halade müsztai! - sự nhúng đẫm vào biển - huyền học Hi Lạp tuyên bố: con người tắm trong nước được mới lại, bởi tắm là sự nhập định và sự thanh tẩy thân xác.
6.
Hüdór einai arkhén tón ontón - nước là sự bắt đầu của thế gian xuất hiện. Nhưng arkhé không có nghĩa là vật chất cổ, thứ tất cả làm ra từ đó, mà có nghĩa là bản thể cổ, là bản chất, nguồn gốc của mọi tồn tại, dünamis , là Quyền Lực đầu tiên, là MỘT. Là Quyền Lực đầu tiên của mọi đời sống xuất hiện, là nguồn gốc, chất gắn kết, duy trì, là bản thể dinh dưỡng của mọi thực thể.
Đời sống chuyển động trên nó, lượn sóng, chảy, dâng tràn, xô đẩy, sủi bọt, thay đổi trong thời gian, không yên bình, nồng nhiệt, xô chạy, khác trong mọi khoảnh khắc - nhưng trong độ sâu lại bình thản, thường xuyên, kiên định, trong vĩnh cửu thì chung thủy, bất diệt. Đời sống trôi theo dòng thời gian - sự sống nằm trong độ sâu của thời gian. Đời sống là nước lượn sóng và là con sông vội vã; sự sống là biển cả bằng phẳng mặt gương và bất động.
Lịch sử con người trông như dòng sông, như thể nảy sinh từ đâu đó và cố gắng đi về đâu đó - nhưng sự sống con người là biển, bởi từ vĩnh hằng từng có, đang có và sẽ có. Cái đang xảy ra chỉ là mặt biển, ở đó nổi sóng, xô đẩy, lướt đi. Nhưng bản chất lại là độ sâu của biển, soi sâu trong suốt, bình thản, trong sạch. Như thể là núi và thung lũng của những con sóng, là đường xoáy của điện trường, tất cả, những gì xảy ra; nhưng tất cả bặt im và phẳng lặng.
“ Mi hãy chìm xuống nước - kinh Veda nói - và mi sẽ nhìn thấy Maja siêu việt. Mi sẽ thấy sự chuyển động và sự thay đổi, sóng và sự bạo động; dòng xoáy và biển bọt chỉ ở trên bề mặt. Chỉ ở trên bề mặt có ảo ảnh, maja, sự phù phép. Chỉ ở trên bề mặt có thời gian. Bên trong, đáy đại dương không có sóng, không dòng xoáy, không có sự phù phép, không có thời gian, chỉ có sự sống vĩnh hằng và bất tử”.
Những cái đang có có thể nhìn trong thời gian như một con sông, như một sự phù phép, như maja, như thể nảy sinh từ đâu đó và vội vã cố gắng đi về đâu. Nhưng, cái đang có trên thế gian, có thể nhìn trong độ sâu của thời gian như sự bình thản, như thể hiện của sự sống bất biến.
Nếu ai nhìn thế gian như con sông, nhìn trên bề mặt của thời gian, lúc đó họ thấy lịch sử. Họ thấy, tất cả tiến, chuyển động, thay đổi, vội vã, muốn, mục đích - thứ để đến gần hay tách ra. Nếu ai nhìn thế gian như biển, lúc đó không nhìn thấy lịch sử trường kì, không nhìn thấy sự tiến lên, chuyển động, mà nhìn thấy những biểu hiện của độ sâu biển cả, nhìn thấy những hiện thực cổ, những thời kì bắt đầu, thấy nguyên tượng, dünamis , thấy chính Đại Dương, thấy MỘT, và thấy khuôn mặt của MỘT.
Người nào đi trên bề mặt của thời gian, sống trong lịch sử, trong sự thay đổi, và không hề linh cảm về những độ sâu bên dưới tất cả - kẻ đó sống trong ảo ảnh, trong maja. Người nào đi vào độ sâu của thời gian, sẽ sống trên lịch sử, hoặc bên ngoài lịch sử, hoặc bên trong sự bình thản, và đối diện trực tiếp với hiện thực của MỘT vĩnh cửu.
Nước cũng có trong lịch sử, trong ảo ảnh, trong chuyển động, trong dòng sông, nhưng nước cũng có trong độ sâu của thời gian, trong sự bình thản, sự vĩnh hằng, trong biển. Nước có ở tất cả mọi nơi. Theios hüdor ouden esztin - không có nước của Thượng Đế, không có gì hết. Nước là sự bắt đầu của thế gian xuất hiện - arkhé tón ontón.
Lịch sử cũng là nước, vĩnh cửu cũng là nước, bởi bề mặt của thời gian cũng là nước, độ sâu của thời gian cũng là nước. Trong con người biển của máu chạy rần rật, cũng như máu của đất, biển xô đẩy, khí eter xô và dạt xoáy: trong thời gian, trong đại dương, trên bề mặt, trong ảo ảnh. Bên trong, trong sự sâu thẳm không xô đẩy, không dạt, xoáy, mà chỉ có MỘT bất biến và vĩnh cửu.