Mộng Phù Kiều

Mộng Phù Kiều

Lượt đọc: 1216 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
ΤΑΝΙΖΑΚΙ
hoan lạc và khổ đau

Nổi bật trên văn đàn Nhật từ năm 24 tuổi, Tanizaki Junichiro (1886-1965) viết văn hơn nửa thế kỷ trước và được gọi là “Tanizaki vĩ đại”.

Đó là tác giả thường xuyên làm cho văn học Nhật chấn động và hân hoan với các tác phẩm Naomi (Chijin no ai – 1925), Yêu trong bóng tối (Mômoku monogatari – 1931), Chân dung Skunkin (Shunkin Shô – 1933), Tế tuyết (Sesame yuki 1948), Mộng phù kiều (Yume no Ukihashi – 1959), Nhật ký lão điên (Futenrôjin nikki – 1962).

Chủ nghĩa tự nhiên thống trị văn chương Nhật vào lúc Tanizaki bắt đầu sáng tác. Ông không bị cuốn theo đấy mà đi theo hướng của mình, với một phong cách mà văn hào Nagai Kafu ca ngợi là u huyền và hoàn hảo.

Sinh thời, tên ông thường được đề cử giải Nobel văn chương. Nhưng giải thưởng ấy đã để sẩy một bậc thầy kể chuyện vào hàng tài hoa nhất thế giới. “Có lẽ hội đồng giải thưởng ấy nhận thấy tiểu thuyết của ông đọc quá hấp dẫn”. Lời mỉa mai của John Lewell.

Thoạt đầu Tanizaki mê phương Tây. Năm 1915, ông viết trong một truyện ngắn: “Mọi thứ đến từ phương Tây dường như đều đẹp và làm tôi ganh tỵ. Tôi khó mà không nhìn phương Tây như thể người ta nhìn lên thần thánh”.

Nhưng sau trận động đất lớn năm 1923 ở Tokyo thì Tanizaki dần dần thay đổi cái nhìn của mình. Từ Yokohama, ông dọn về Osaka, nơi ông định lưu trú một thời gian ngắn chờ Tokyo tái thiết. Nhưng, rồi ông ở lại hẳn Osaka, bắt đầu viết với một sinh khí mới, sáng tạo một thế giới đầy màu sắc Phù Tang trong các tác phẩm tinh tế và hài hòa hơn thời kỳ đầu, đẫm một chất thơ kỳ diệu.

Tanizaki hoàn toàn rời bỏ sự sùng bái phương Tây. Giờ đây, ông tìm thấy tình yêu mới với cái đẹp của miền Kansai từ phương ngữ, tập quán, thức ăn cho đến con người, đặc biệt là phụ nữ – tình yêu đó thể hiện sâu đậm đầu tiên với các tác phẩm Chữ vạn (Manji – 1928), Mỗi ngày một thú (Tade Kuu mushi – 1929), rồi nở rộ huy hoàng trong Tế tuyết (Sasane Juki, 1943 – 1948).

Quay về với cái đẹp dân tộc, ông còn say mê tái tạo kiệt tác cổ điển Truyện Genji (Genji Monogatari). Từ năm 1935 đến 1941, Tanizaki biên dịch toàn bộ Truyện Genji của một ngàn năm trước ra tiếng Nhật hiện đại. Đó là một công việc say mê vì ông còn sửa lại hai lần nữa bản dịch đầu tiên của mình.

Truyện Genji để lại nhiều ảnh hưởng trong các sáng tác của Tanizaki, đặc biệt là Mộng phù kiều.

Mộng phù kiều là một tiểu thuyết ngắn đầy trĩu không khí hoài niệm về những vẻ đẹp cổ kính thơ mộng và một thiên đàng vừa ngây thơ vừa tội lỗi. Viết năm 1959 trong khi Tanizaki nhớ nhung về một ngôi nhà có vườn cây ở Kyoto mà ông đã sống trước đây.

Nhan đề Mộng phù kiều lấy theo tên chương cuối cùng của Truyện Genji 54 chương. Không chỉ là cái tên, toàn bộ truyện của Tanizaki mang đậm “Phức cảm Genji”.

Genji mồ côi mẹ từ bé, yêu người mẹ kế xinh đẹp và suốt đời theo đuổi những cô gái nào hao hao giống hai người mẹ đó.

Trong đời thực, Tanizaki có người mẹ rất xinh đẹp mà ông tôn thờ và chuyện đó có ảnh hưởng đến thái độ tôn sùng người đàn bà đẹp của ông sau này, chủ đề lớn trong văn chương Tanizaki.

Người ta cho rằng nhân vật của Tanizaki điển hình là “đứa trẻ vĩnh cửu mải mê theo đuổi người mẹ vĩnh cửu”. Một nhà phê bình uy tín của Nhật còn bảo rằng: “Tanizaki đã trải qua toàn bộ cuộc đời của mình như một đứa trẻ, có thể nói như vậy; hoài niệm thơ ấu là mô típ căn bản trong nghệ thuật của ông.”

Những lời ấy tuy có phần cường điệu nhưng chính là ám ảnh trong Mộng phù kiều . Những ám ảnh về mẹ (mẹ ruột và mẹ kế) của nhân vật chính xưng tôi gợi nhớ đến Genji, trong đó cầu mộng là hình ảnh tượng trưng cho vẻ đẹp phù ảo của cuộc đời, theo Genji là “một chiếc cầu bắc giữa giấc mộng này và giấc mộng khác”.

Những ám ảnh ấy khiến cho nhân vật tôi không phân biệt nổi ai là mẹ ruột, ai là mẹ kế, và đâu là thực đâu là mộng đâu là tình.

“Có thể những ấn tượng về người mẹ đầu tiên lẫn lộn với người mẹ thứ hai làm rối loạn ký ức tôi, tôi khao khát tưởng nhớ đến mẹ khi tôi dựa lan can ngắm nhìn cá chép bơi lội trong hồ, mong nhớ mẹ khi tôi lắng nghe tiếng cối nước. Cái cõi mộng êm đềm trắng mờ trong bộ ngực ấm áp của bà giữa những mùi hương pha trộn của mái tóc và sữa sao biến mất cả rồi?”.

“Một lần nữa, do sự kết hợp lạ lùng nào đó, tôi dường như trôi nổi trong mùi thơm của dầu xức tóc pha lẫn với mùi sữa phảng phất nơi ngực mẹ tôi từ thuở nào. Cái thế giới mộng ấm áp trắng mờ đó – cái thế giới mà tôi tưởng là đã biến mất vĩnh viễn giờ đây thực sự tái sinh”.

“Độ nửa năm, dù tôi không quên mẹ ruột, nhưng tôi không còn phân biệt được rõ ràng giữa bà và người mẹ hiện tại. Dần dần hai hình ảnh trùng điệp nhau và tôi khó tin rằng mình từng có một bà mẹ khác”.

Có thể nói, bút pháp của Tanizaki trong Mộng phù kiều tạo nên độ nhòe giữa mộng và thực. Và văn xuôi bay đi như thơ mang một vẻ đẹp huyền ảo như Truyện Genji.

Nếu Mộng phù kiều là hoài niệm về tuổi thơ thì Yêu trong bóng tối là một hoài niệm về lịch sử. Nhan đề tiếng Nhật Mômoku monogatari (Manh mục vật ngữ) có nghĩa là “Truyện một người mù”.

Câu chuyện diễn ra vào thế kỷ mười sáu, giữa thời tao loạn nhất trong lịch sử Nhật. Những liên minh và phản bội, chuyển quân và vây thành, hát ca và tự sát, yêu và thù được kể lại bằng giọng dân dã của một người mù làm nghề đấm bóp. Tình yêu tận hiến của ông đối với Phu nhân Oichi trong bóng tối mù lòa đã đem lại cho lời kể sự nồng ấm và ánh sáng.

Người mù ấy là một loại hát rong mà ngày xưa người ta thường thấy trong các lữ quán trên con đường giữa Edo và Kyoto. Tất cả các biến cố được diễn tả hầu như đều dựa vào sự kiện lịch sử với các nhân vật quen thuộc như Nobunaga và Hideyoshi. Chân dung Phu nhân Oichi còn treo trong một ngôi đền trên Koya. Tay cầm kinh Phật, nàng có gương mặt cổ điển và siêu thoát.

Người mù Yaichi – nhân vật xưng tôi trong tác phẩm – kể lại câu chuyện sau khi lâu đài Osaka thất thủ (1615) một vài năm và Tokugawa Ieyasu đã đánh tan những kẻ chống đối cuối cùng và thiết lập triều đại Tướng quân (Shogun) của mình.

Nhưng dù dựa vào lịch sử với nhiều chi tiết chính xác, nhân vật Yaichi cũng như câu chuyện là sáng tạo nghệ thuật. Ta hãy hình dung chính mình được người mù Yaichi đấm bóp và kể cho nghe những bi kịch của đời, những bi kịch không thiếu tính trào lộng. Trong cơn gió bụi nổi chìm những hồng nhan đa truân, trong bóng tối của tình người, sự tận tâm không được đền đáp mà còn bị vùi dập phũ phàng.

Đêm cuối cùng trong đời, Phu nhân Oichi ung dung viết bài thơ:

Ta còn chưa kịp ngủ

Trong đêm mùa hạ này

Tiếng chim quyên gợi nhớ

Lời vĩnh biệt từ đây.

Nhan sắc và vẻ đẹp tâm hồn nàng long lanh trong khói lửa, trong trái tim một người mù. Trong tác phẩm này, Tanizaki đã dung hợp tài tình giọng anh hùng ca và giọng trữ tình trong lời kể của người mù vừa đam mê vừa lắng đọng.

Người mù đó tuy mù từ năm ba tuổi nhưng lại “nhìn thấy” quá nhiều.

Đề tài mù thường xuất hiện trong các tác phẩm của Tanizaki, như trong chân dung Shunkin. Tuy vậy, nó không xuất hiện một cách đơn điệu. Mỗi tác phẩm có ánh sáng và bóng tối riêng.

Nội dung Yêu trong bóng tối có thể tóm tắt như sau:

Tôi ra đời ở xứ Omi vào năm 1552 và bây giờ đã 65 tuổi rồi. Tôi mù từ khi mới lên ba. Đến năm 17 tuổi, tôi được nhận làm gia nhân ở lâu đài Odani của Chúa đại danh Naga.

Người vợ thứ hai của Naga là Tiểu thư Oichi, em gái của Sứ quân Nobu. Sứ quân thấy Naga là một thủ lĩnh trẻ táo bạo muốn liên minh.

Tôi hầu hạ Phu nhân Oichi, đấm bóp, tán chuyện hay múa hát cho nàng được vui. Đã đấm bóp cho vô số phụ nữ nhưng chưa bao giờ tôi chạm vào một thân thể nào mềm mại hơn, yêu kiều hơn Phu nhân Oichi. Tôi muốn phụng sự nàng mãi mãi.

Sứ quân Nobu và Chúa Naga dần dà bất hòa và xung đột. Lâu đài Odani thất thủ, Chúa Naga tự sát.

Sứ quân đón nhận Oichi và các con gái của nàng nhưng ra lệnh cho Chúa Hide giết đứa con trai đầu lòng của nàng.

Phu nhân Oichi đau đớn lui về nhà cũ của nàng ở Koyosu. Tôi theo hầu nàng trong chính năm buồn phiền đó.

Năm 1582, Sứ quân Nobu bị quân nổi loạn sát hại. Chúa Katsuie cùng với Chúa Hide cùng ngỏ lời cầu hôn Phu nhân Oichi. Phu nhân Oichi chọn lấy Chúa Katsuie, cùng trở về lâu đài Kita.

Chưa hết năm, chiến tranh bùng nổ giữa Chúa Katsuie và Chúa Hide.

Lâu đài Kita bị quân Hide bao vây. Phu nhân Oichi chết theo chồng, tự tử.

Tôi đốt tháp lâu đài, cõng cô con gái của phu nhân là Ochacha mà đào thoát. Thân thể thanh xuân của Ochacha áp chặt vào lưng tôi gợi nhớ lại Oichi hồi còn trẻ.

Dù ghét Hide và gọi ông ta là “tử thù”, nhưng chẳng bao lâu Ochacha trao thân cho Hide và đến sống ở lâu đài Yodo.

Nhưng rồi Chúa Hide cũng chết vào năm 1598 – cùng tận.

Hình ảnh người đàn bà đẹp trong văn chương Tanizaki thường được miêu tả qua giọng điệu sùng bái, đầy yếu tố sắc dục.

Yếu tố sắc dục trong truyền thống văn chương Nhật pha thêm màu sắc tâm lý với những phức cảm và ám ảnh, pha thêm tính chất hiện đại với những đam mê thống khổ.

Chính vì thế mà người ta gọi Tanizaki là một “ác ma” (akuma) trong văn chương và Herry Miller thì gọi Tanizaki là “nhà văn nam tính nhất của thế kỷ hai mươi” (the most masculine writer of the twentieth century).

Có thể Miller muốn nói đến yếu tố Dionysius đam mê túy lúy nơi Tanizaki đối lập với văn hào Natsume Soseki mang yếu tố Apollo quân bình tiết độ?

Tanizaki không bận tâm đến cái nhìn nhị nguyên về tình dục như phương Tây (hoặc xem nó như một nguyên tội hoặc đề cao nó như một tự do) mà viết về sắc dục trong tính chất “nhất thể” của nó, một nhất thể của đời sống hòa lẫn hoan lạc với khổ đau.

Nhật Chiêu

« Lùi
Tiến »