Đến bên nhà Tổ Diệc
chim gáy vừa reo ca
ôi ngày mùa hạ ta vừa băng ngang qua
chiếc phù kiều của mộng.
☆
Bài thơ này do mẹ tôi viết. Nhưng tôi có đến hai người mẹ – người thứ hai là mẹ kế – và dù tôi thường nghĩ rằng mẹ ruột của tôi đã viết bài thơ, làm sao tôi dám đoan chắc. Sở dĩ có chuyện mù mờ này là do nguyên cớ sau: Thứ nhất, cả hai người đàn bà cùng mang danh là Chinu. Tôi nhớ khi còn bé từng nghe nói rằng tên mẹ đặt theo vịnh Chinu bởi vì bà sinh ra gần vùng Hamadera, ở đấy có ngôi nhà nghỉ mát miền bể của gia đình vốn là dân Kyoto. Trong hồ sơ thành phố bà được xếp làm dân Chinu. Người mẹ thứ hai của tôi cũng được gọi là Chinu từ khi bà về nhà tôi. Bà không bao giờ còn dùng lại tên thật của mình là Tsuneko. Ngay trong thư cha tôi viết cho bà cũng là nói với Chinu mà thôi; chỉ căn cứ vào tên đấy chẳng biết ông gửi cho ai và bài thơ “Cầu Mộng” chỉ đơn giản ký là Chinu.
Ngoài ra tôi không biết cả hai còn có bài thơ nào khác nữa không. Tôi biết bài thơ đó vì nó chép trên tờ giấy vuông gợn sóng dán cẩn thận trên cuộn giấy treo tường được giữ như kỷ vật gia đình. Theo bà vú già của tôi, hiện đã sáu mươi, thứ giấy thủ công này trang hoàng bằng phương thức “Mặc lưu” (nghĩa là, bằng cách nhúng giấy vào nước để nó thấm vòng xoáy mực”, theo đúng cách từ Echizen). Mẹ tôi hẳn tốn nhiều công phu. Bao năm trời tôi bối rối trước nghệ thuật viết chữ kiểu Konoe của bài thơ và nhiều chữ Hán khác thường mà cả người lớn – chứ đừng nói đến trẻ em – rất khó đọc. Ngày nay không ai còn dùng thứ chữ ấy nữa. Tôi còn nhớ chúng tôi có cả một bộ thiếp thi ca mà dường như do một người mẹ của tôi viết trong cùng kiểu chữ bí truyền ấy.
Về hoa tay, tôi không dám phẩm bình. “Thử hỏi còn ai viết nổi một kiểu chữ Konoe đẹp đến thế”, bà vú thường nói, nhưng đối với cảm quan của người không sành sỏi như tôi, dù đứng trước vật giá trị nào, đó cũng là công trình của nghệ thuật viết chữ hoàn hảo mà thôi. Nhưng lẽ ra một người đàn bà phải chọn lối chữ duyên dáng mảnh mai của trường phái Kazei. Thật là kỳ lạ khi bà ưa thứ chữ Konoe tròn trịa với những chữ Hán nặng nề xen kẽ. Có thể điều này cho thấy phần nào cá tính bà.
Còn nói về thi ca thì tôi lại càng dốt, nhưng tôi không thấy bài thơ ấy có giá trị đặc biệt nào. Câu “Tôi vừa băng ngang qua/ chiếc phù kiều của mộng” hẵng có nghĩa “Hôm nay tôi đọc ‘Cầu Mộng’ – chương cuối cùng của Truyện Genji”. Vì đó chỉ là một chương ngắn đọc một chốc là xong, hẳn bà muốn nói rằng hôm nay cuối cùng bà đã kết thúc cả bộ Genji. “Tổ Diệc” là tên gọi nhà tôi có từ thời ông tôi, gọi như thế vì những con diệc ban đêm thường đến đậu trong vườn. Cho đến bây giờ những con diệc ấy vẫn hay bay vụt xuống. Dù hiếm khi nhìn thấy chúng, tôi thường nghe tiếng kêu rít dài của chúng. Tổ Diệc nằm trên một hương lộ chạy về hướng đông xuyên qua những khu rừng phía dưới đền Shimogamo ở Kyoto. Khi ta đi vào rừng một đoạn đường ngắn, có chính điện của đền ở bên trái, ta đến một cầu đá hẹp bắc ngang qua một dòng suối, cổng nhà chúng tôi ở ngay bên trên đó. Người quanh vùng nói rằng dòng suối chảy dưới cây cầu này từng là đề tài bài thơ nổi tiếng của Chomei.
Dòng Tiểu Khê sỏi đá
Trong đến nỗi vầng trăng
Đến tìm nơi nghiêng ngả.
☆
Nhưng điều này không chắc. Tự điển địa dư của Yoshida Togo diễn tả dòng “Tiểu Khê” của chúng tôi là “Dòng suối chảy về hướng nam, phía đông đền Shimogamo, tuôn vào sông Kamo” và còn thêm “Tuy nhiên “Tiểu Khê được nói tới trong những bản văn họa đồ xưa là chính sông Kamo mà dòng nước kia chỉ là một chi nhánh phát nguyên từ Matsugasaki”.
Có lẽ đúng, vì Chomei ở nơi khác có ám chỉ “Tiểu Khê” là tên cũ của sông Kamo. Kamo còn có tên trong một bài thơ của Jozan mà tôi sẽ nhắc tới sau, và lời mở đầu của thi sĩ có giải thích: “Nhân từ chối vượt sông Kamo vào Kyoto”. Tất nhiên dòng suối nhỏ của chúng tôi hiện không còn trong veo thanh khiết nữa, nhưng hồi tôi còn bé nó sáng trong y như thơ Chomei diễn tả. Tôi nhớ cứ vào trung tuần tháng Sáu, suốt kỳ lễ rửa tội, người ta xuống tắm trong vũng nước nhỏ hẹp ấy.
Hồ nước trong vườn Tổ Diệc thông bởi dòng suối này bằng ống dẫn nước bằng đất để ngăn hồ khỏi chảy tràn qua cổng chính, có hai cây cột bá hương lớn, người ta vào một lối đi lát đá dẫn tới cổng trong. Tre thấp trồng dọc hai bên lối đi vào hai bức tượng đá quan lại Triều Tiên (nhìn là biết thuộc triều đại Yi) đứng đối mặt nhau. Cổng trong, lúc nào cũng đóng kín, có nóc lợp bằng vỏ cây trắc bá theo cách đơn sơ trang nhã. Mỗi cột ở cổng mang mảnh tre hẹp có ghi câu đối:
Trên rừng sâu chim muông hân hoan
Xa bụi lầm trúc tùng thanh khiết.
☆
Nhưng cha tôi bảo ông không biết đó là thơ của ai, cũng không rõ ai viết những chữ ấy.
Khi ta nhấn chuông (nút ở cạnh một câu đối) sẽ có người ra mở cổng. Sau đó ta đi dưới bóng một cây hạnh đào lớn để đến cửa trước; trong hành lang chính, ta thấy dán trên song cửa sổ câu đối do nét bút của thi sĩ học giả Rai Sanyo:
Cánh ưng bay bổng, bóng cá lặn sâu.
☆
Cái hay của Tổ Diệc là khu rừng phong cảnh rộng gần một mẫu, còn tòa nhà thì thấp và rời rạc lại không rộng gì lắm. Chỉ có chừng tám phòng, kể cả các phòng cho các cô gái giúp việc và cái hành lang nhỏ; nhưng nhà bếp rất rộng gần bằng một quán ăn trung bình và một cái giếng khơi gần rãnh thoát nước. Ban đầu ông tôi sống ở đường Muromachi gần đền Bukko và coi Tổ Diệc như nhà nghỉ mát. Nhưng về sau, ông Kwota bán căn nhà ở đường Muromachi và về ở Tổ Diệc. Lui tới nhà kho để lấy một cuộn giấy hay một chiếc bình thật là bất tiện vì phải băng qua nhà bếp.
Nhà gồm bảy người – cha mẹ tôi và tôi, bà vú Okane và ba đầy tớ gái. Kể ra ngôi nhà cũng tiện nghi. Cha thích một đời sống lặng lẽ. Thỉnh thoảng ông lui tới ngân hàng, nhưng hầu như ở nhà luôn luôn, hiếm khi tiếp khách. Ông tôi thì có vẻ yêu thích trà đạo và sống một cuộc đời hoạt động bặt thiệp: ông có một căn nhà uống trà cũ kỹ xinh đẹp cất bên bờ hồ và xây một căn nhà nhỏ khác dành tiếp khách mà ông gọi là đình Hợp Hoan [1] nằm trong góc vườn đông nam. Nhưng sau khi ông chết, nhà uống trà và nhà tiếp khách đáng giá của ông không còn dùng nữa ngoại trừ dùng làm chỗ ngủ một giấc trưa đọc sách hay tập viết thư pháp.
Tất cả tình yêu của cha như tập trung nơi mẹ. Với ngôi nhà này, khu vườn này và người vợ này ông dường như hạnh phúc hoàn toàn. Đôi khi ông bảo bà chơi đàn Koto và ông chăm chú lắng nghe nhưng đó hầu như là giải trí độc nhất ở nhà của ông. Một khu vườn không đầy một mẫu có phần chật hẹp, chưa đáng gọi là một khu vườn phong cảnh thật sự nhưng nó được chăm sóc hết sức chu đáo và cho ta cảm giác sâu rộng khuất lấp hơn là thật.
Khi đi qua những cánh cửa kéo ở mỗi bên hành lang chính, ta sẽ vào trong một căn phòng kích thước trung bình đo được tám chiếu, qua khỏi đây là một căn buồng rộng lớn đo được mười hai chiếu là căn phòng lớn nhất nhà. Căn phòng mười hai chiếu này rập theo kiểu cung điện, mỗi bên hông phía đông và phía nam là những hè nhà bao bọc bằng lan can đúng kiểu. Về hướng nam, để ngăn ánh nắng, có những mái hiên nối dài bằng lưới sắt mà dây nho dại Akebia leo dày đặc rủ cả hồ nước; nước vỗ bập bềnh dưới lá nho lan tới bờ hè. Nếu ta dựa trên bao lơn nhìn ngang hồ ta thấy một thác nước đổ từ một ngọn đồi cây lá rậm rạp, nước chảy dưới những cánh hoa vàng mùa xuân hay những cánh thu hải đường vào mùa thu nổi lên thành một dòng nước tuôn ào ạt qua một đoạn ngắn rồi đổ vào hồ. Ngay chỗ nước nhập vào hồ có đặt một dụng cụ bằng tre gọi là một “cối nước”: ngay khi nước chảy đầy ống tre, làm sai trục, ống sẽ nhỏ giọt kêu lách tách trên một khối gỗ phía dưới và nước sẽ rút đi vì ống phải làm bằng tre tươi xanh, một đầu khoét rỗng, người giữ vườn phải thay ống luôn, loại dụng cụ này từng được nhắc tới trong một bài thơ thế kỷ mười bốn:
Dòng nước rẽ ngược
Lười lĩnh trôi đi
Chẳng nghe tiếng cối.
☆
Cho đến ngày nay, âm thanh cối nước vẫn vang vang trong vườn của lầu thi nhân lừng danh, ngôi nhà của thi sĩ thành Edo xưa Ishikawa Jozan ở bắc ngoại ô Kyoto. Ở đó còn một bài giải thích bằng tiếng Hán của Jozan. Tôi nghĩ rằng chúng tôi có cối nước kia là do ông tôi đi đến đó, đọc bài văn, và nổi lòng mê thích rập theo dụng cụ ấy mà làm cho nhà mình. Người ta bảo rằng, bài thơ của Jozan về chuyện không muốn vượt sông Kamo là viết để lịch sự từ chối lời mời của Thiên Hoàng:
Ôi xấu hổ không dám qua sông
Dù chỉ là một dòng Tiểu Khê
Tuổi già tôi sẽ in bóng trong dòng.
☆
Một bản sao chép bài thơ treo trong một buồng phụ ở lầu thi nhân và ở nhà chúng tôi cũng có một bản.
Lúc tôi khoảng ba, bốn tuổi tôi mê tiếng nước nhỏ lách tách của cối nước nhà chúng tôi.
- Jadasu! – Mẹ thường gọi – Đừng lại đấy kẻo ngã xuống hồ! Nhưng mặc lời bà ngăn cấm, tôi cứ chạy ra vườn băng qua đám đá đơn tử diệp cao ở hòn non bộ, cố tới bờ suối.
- Khoan! Nguy hiểm! Con đừng đến đó một mình!
Mẹ hoặc Okane sẽ hối hả đuổi theo tôi và chụp thắt lưng tôi. Giãy giụa trong tay họ, tôi chồm tới trước nhìn xuống dòng nước. Khi tôi ngắm nhìn ống tre xanh của cối từ từ đầy nước, nhỏ giọt tí tách trên khối gỗ, tung tóe nước vào hồ và rồi bật trở lại chỗ cũ. Sau vài phút ống lại đầy, lặp lại diễn tiến. Tôi nghĩ rằng âm thanh rộn rã này là kỷ niệm sớm nhất của tôi về mái nhà. Ngày đêm nó vang âm trong tai tôi, suốt thời gian tôi trưởng thành.
Okane luôn canh chừng tôi, không dám rời tôi lấy một phút. Vậy mà mẹ tôi vẫn thường mắng bà “Cẩn thận, Okane!”. Có một chiếc cầu nhỏ đắp đất, bắc ngang hồ và bất cứ khi nào tôi cố băng qua là chắc chắn Okane cản lại. Đôi khi mẹ cũng chạy theo tôi. Gần trọn hồ nước nông nhưng có một chỗ nước sâu trên sáu bộ, nơi có chiếc hố đào để cá có thể sống sót nếu những nơi khác cạn khô. Chiếc hố nằm gần cầu, và mẹ thường răn tôi “Con mà ngã xuống đó thì khốn”, bà hay nói “Cả người lớn cũng không thể leo lên”.
Phía bên kia cầu là một vòm cây mát và bên cạnh đó là nhà uống trà, phòng chơi ưa thích của tôi.
- Đứng ngoài đợi, Okane! – Tôi nói với vú – Vú không được theo em. Tôi sung sướng được ở trong căn nhà nhỏ hẹp mái thấp vì nó gần như là một căn nhà đồ chơi cho trẻ em. Tôi chơi ở đó hằng giờ: nằm dài trên một sàn trải chiếu rơm, đi qua những cửa nhỏ bé, vặn nước trong phòng chứa thức ăn, mở những sợi dây bện cột những hộp gỗ tôi tìm thấy và lôi ra những bộ đồ trà hay một chiếc mũ lớn hoen rỉ nào đó mà khách đội khi đến dự buổi trà đạo trong mưa.
Okane đứng bên ngoài bắt đầu lo ngại: “Tadasu! – Bà gọi – Đừng ở trong đó lâu mẹ không bằng lòng đâu”. Hay là “Coi chừng! Có con rết lớn đó! Bị rết cắn thì khốn”. Tôi có nhìn thấy những con rết lớn trong nhà uống trà vài lần nhưng tôi chưa bị cắn bao giờ.
Tôi còn sợ sáu tượng đá La Hán đứng rải rác trên đồi và quanh hồ, chỉ cao ba bốn bộ, nhỏ hơn các tượng Triều Tiên trước cổng trong, nhưng những gương mặt xấu xí quái dị của họ có vẻ Nhật Bản thế nào ấy. Người thì mũi méo mó kinh khiếp và dường như nhìn ta bằng khóe mắt, người thì có vẻ đang mở miệng cười một cách tinh quái ranh mãnh. Không bao giờ tôi đến gần họ sau khi mặt trời lặn.
Thỉnh thoảng, mẹ gọi tôi khi đứng trên thềm cho cá ăn vụn bánh.
- Nè cá con – Bà vừa nói vừa rải vụn bánh xuống hồ trong khi các giống cá chép từ nơi trú ẩn trong hang sâu bơi ra. Có khi tôi ngồi sát bà trên bờ thềm dựa vào lan can thấp và cũng ném vụn bánh cho chúng; hay là tôi ngồi trong lòng bà, cảm thấy cái mềm dịu êm ái của cặp đùi đầy đặn của bà khi bà ôm tôi thật ấm áp.
Vào mùa hạ cha mẹ tôi và tôi thường ăn chiều bên hồ và ngồi đó hưởng buổi chiều dịu mát. Thỉnh thoảng, chúng tôi gọi nhà hàng đem thức ăn đến hay gọi một người chuyên cung cấp thực phẩm, đem tất cả món ăn đồ nấu vào nhà bếp rộng lớn của chúng tôi. Cha đặt một chai bia dưới ống máng của cối tre. Mẹ ngồi bên bờ hồ và thả đôi bàn chân vào nước, ở đó chúng trông xinh đẹp hơn bao giờ hết. Bà là một thiếu phụ mảnh mai bé nhỏ với đôi bàn chân nhỏ bụ bẫm trông như bột nhồi mà bà giữ hoàn toàn bất động khi bà dầm chúng trong nước để hơi lạnh thấm qua thân thể mình. Nhiều năm sau khi đã lớn tôi có đọc được câu thơ cổ này:
Khi nàng rửa nghiên
Cá đến uống mực.
☆
Ngay hồi còn nhỏ tôi vẫn nghĩ rằng nếu cá trong hồ lướt nhẹ đùa chơi quanh đôi bàn chân xinh đẹp của bà thì thú biết bao thay vì chỉ đến cho ăn.
Tôi nhớ một chiều mùa hạ nọ tôi để ý đến những chiếc lá dài mỏng có vẻ trơn tuột trong bát mình, nên hỏi mẹ xem đó là gì.
- Nó gọi là nenunawa – bà đáp.
- Hở? Cái gì?
- Một loại cây dưới nước, giống như sen, người ta hái ở hồ Mizoro – bà giải thích bằng giọng êm ái quý phái.
Cha cười:
- Nếu em gọi nó là nenunawa thì ai mà biết cái gì.
Ông nói với bà:
- Bây giờ người ta gọi nó là junsai.
- Nhưng mà tiếng nenunawa đọc lên nghe dài và trơn ướt, y như loại cây này, phải không nào? Trong những bài thơ xưa người ta gọi nó bằng tên đó, anh biết mà – và bà bắt đầu đọc một bài thơ ấy lên. Từ dạo đó trong nhà tôi cây ấy luôn luôn được gọi là nenunawa, cả đến các cô đầy tớ gái và những người đàn ông làm bếp cho chúng tôi.
Cứ đến chín giờ là tôi được cho hay đã đến giờ đi ngủ, và bà vú đưa tôi đi. Tôi không biết cha mẹ tôi thức khuya đến thế nào; họ ngủ trong phòng có thềm bao quanh, trong khi đó Okane và tôi ngủ trong một phòng nhỏ đo được sáu chiếu về phía bắc, cách họ cái hành lang. Nhiều khi tôi buồn bực nằm trằn trọc hồi lâu không ngớt cầu khẩn “Cho em ngủ với má!”.
Thế là mẹ sẽ vào tìm tôi:
- Đêm nay sao thế cưng? – Bà hỏi, rồi bồng tôi lên đem vào phòng ngủ của mình.
Dù giường đã được sửa soạn xong, cha vẫn không thấy đâu – có lẽ ông vẫn còn ở trong nhà tiếp khách. Mẹ thì chưa mặc áo ngủ. Bà nằm xuống bên tôi, để nguyên quần áo, không cởi thắt lưng, và ôm ấp tôi để đầu tôi dựa dưới cằm bà. Đèn vẫn để sáng nhưng tôi vùi mặt trong cổ áo kimono của bà nên có cảm giác mơ hồ rằng mình được phủ trùm trong bóng tối. Tóc bà vấn thành búi, tỏa mùi thơm nhẹ, đưa vào mũi tôi. Đưa miệng tìm kiếm núm vú bà, tôi nghịch như một đứa bé con, ngậm chúng trong môi, lấy lưỡi mà liếm. Bà luôn luôn để tôi mặc tình, không một lời trách cứ. Tôi tin rằng tôi vẫn còn bú mẹ dù đã khá lớn, có lẽ vì thời đó người ta không bận tâm bao nhiêu về chuyện cho con thôi bú. Khi tôi hết sức lấy lưỡi mình mà liếm núm vú bà và nút mạnh, sữa chảy vào miệng khá nhiều. Mùi tóc và sữa hòa lẫn nhau thoang thoảng trong ngực bà, quanh mặt tôi. Dù trong bóng tối, tôi vẫn lờ mờ nhìn thấy bộ ngực trắng ngần của bà.
- Ngủ đi – bà thì thào, và khi bà vỗ về tôi, xoa đầu vuốt lưng tôi, bà hát bài ru em quen thuộc của bà:
Con ơi con ngủ cho mau
Đừng kêu khóc nữa ngoan nào con yêu
Mẹ đang âu yếm nuông chiều
Đem con đặt giữa nội điều ấm êm
Ngủ say một giấc trong đêm
Đã im tiếng khóc bên rèm bé ngoan.
☆
Bà hát đi hát lại trong khi tôi chìm vào một giấc ngủ bình yên, vẫn còn ôm ghì ngực bà và lấy lưỡi cạ quanh núm vú. Các giấc mơ của tôi vẫn thường ngắt đoạn vì tiếng nhỏ giọt của cối nước xa vọng qua cửa sổ có tấm che.
Okane cũng biết nhiều bài hát ru em, chẳng hạn như bài:
Gối ơi bé ngủ hay chưa?
Gối ngoan ngoãn đáp: Xin thưa ngủ rồi.
☆
Vú còn hát nhiều bài khác, nhưng lời ru của bà không làm cho tôi dễ ngủ (trong căn phòng mà vú ru tôi, tôi cũng không nghe tiếng cối nước). Giọng mẹ có một âm điệu đặc biệt, quyến rũ, một âm điệu tràn đầy tâm hồn tôi những mơ tưởng êm đẹp và khiến tôi mau ngủ.