Một Cuộc Đời

Một Cuộc Đời

Lượt đọc: 2042 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
LỜI GIỚI THIỆU
dịch từ nguyên bản tiếng pháp une vie nhà xuất bản flammaillon - paris, 1949

Gần chín mươi năm đã trôi qua, kể từ ngày xảy ra cái chết buồn thảm, kết thúc cuộc đời ngắn ngủi của Ghi đơ Môpatxăng (Guy de Maupassant), người đọc thuộc nhiều thể hệ nối tiếp vẫn nhớ tới ông như một danh nhân văn học của thế kỷ thứ XIX, một thế kỷ rạng rở trong lịch sử văn học thế giới đã để lại cho loài người những kiệt tác của những cây bút thiên tài. Tên tuổi Maupassant khắc trên tấm mộ chí lạnh lùng trong nghĩa trang Môngpácnax (Montparnasse) năm 1893, lại được ghi vào sau tên tuổi những văn hào lỗi lạc đã đi trước. Có người ví Môpatxăng là một Sêkhốp của Pháp - lịch sử đã tạo nên sự trùng họp lý thú của hai bậc thày truyện ngắn cùng xuất hiện trong nửa cuối thế kỷ XIX - Nhưng Môpatxăng chẳng phải chỉ nổi tiếng về truyện ngắn. Ông viết truyện dài, và truyện dài của ông cũng đã để lại ấn tượng sâu xa, truyền đến người đọc những tình cảm buồn, giận trước một thực tại xã hội. Tiểu thuyết Một cuộc đời là một đỉnh cao trong đời viết văn của ông, đã đem lại cho ông một niềm vinh quang của một cây bút hiện thực phê phán, Ở đây, có cuộc đời một người đàn bà hay nói rộng hơn, có cuộc đời của mấy người đàn bà với những cảnh ngộ khác nhau và có cả cuộc đời chung phản ánh trung thành thực chất một xã hội tàn ác, dối trá, thối nát trong đó có cuộc đời riêng của bản thân tác giả.

Maupassant xuất thân tử một gia đinh quý tộc; cuộc đời ông sống chưa được 43 năm trọn vẹn bắt đầu trong tòa lâu đài Miromexnin (Miromesnil) - nơi ông sinh ra năm 1850 giữa cảnh nuớc trời thơ mộng xứ Noócmăngđi,(Normandie) - đã kết thúc tại một nhà thương điên, trong một căn phòng nhìn ra hàng cây cao xào xạc gió và rền rĩ tiếng côn trùng.

;

Yêu và yêu mãnh liệt cuộc sống là nét đặc biệt trong tính cách Maupassant. Thế giới này, trái đất này, ông yêu nó, yêu đến nỗi trước khi bước xuống nấm mồ đã mở rộng trước mắt ông, ông vẫn dối dăng, trong những giây phút tỉnh táo, rằng xác ông chẳng cần đến áo quan, ông muốn nuôi đất sau khi đã đuợc đất nuôi mình, ông từng nói: "Tôi yêu bầu trời như con chim yêu bầu trời, yêu rừng như con sói lang thang yêu rừng, yêu những hòn núi tảng như con sơn duơng yêu núi, yêu đắm cỏ dày để lăn mình trên cỏ, để thả sức chạy như một con ngựa và yêu dòng nước trong mát để bơi như một con cá... Tôi yêu với tấm lòng sâu sắc, như bản năng một con vật, tội nghiệp và thành kính tất cả những cái gì đang sống, đang mọc lên và tất cả những cái gì ta thấy.

Tấm lòng yêu cuộc sống của Maupassant đã trở thành linh hồn bất tử trong toàn bộ tác phẩm của nhà văn. Khi vĩnh biệt Maupassant, nghiên mình trước di hài ông, Emil Zôla ( Emilie Zola), nhà đại văn hào Pháp đã kết thúc bài điếu văn bằng những lời tiên đoán được chứng minh trong thực tế:

"Thời gian cứ nối tiếp nhau, những người mai sau chỉ được biết ông qua tác phẩm sẽ yêu mến ông vì ông đã cất lên tiếng hát yêu thương vĩnh cửu cho cuộc sống con người.

''Tấm lòng ấy, như hồi ký của François Taxar, người đầy tớ của ông kể lại - ông đem vào thế giới tự nhiên và đời sống xã hội. Ông nói: "Phải quan tâm đến mọi cái xung quanh, miêu tả những bậc của ngai vàng cũng như bậc thang trơn của nhà bếp", ông đã đứng bao nhiêu lâu ngắm mặt trời hửng và những người đánh cá trên quê hương... Ông đã quan sát, không bỏ qua những chi tiết tưởng chừng rất bình thường; chứng kiến những sự kiện lịch sử và những sự thật đen tối được bao phủ sau tấm áo ngoài choáng lộn của giai cấp tư sản; ông đã nhìn thấy những cảnh ngộ đau thương, tiếp xúc với những nông dân lao động mà ông cho là không biết thù hằn dân tộc, một điều chỉ lớp trên mới có, với những người nghèo mà mọi thứ thuế đè nặng lên vai, với những công nhân làm mười giờ một ngày, không có quyền hưởng ngày nghỉ, sau khi tính toán chỉ còn 2,45 xăngtim (centimes) lương mỗi ngày để nuôi vợ, hai con và bản thân mình, với những thợ thủ công, những viên chức nhỏ mà cuộc đời do kinh nghiệm bản thân ông - "hoàn toàn trôi đi trong phòng giấy tối tăm"...Bằng tấm lòng nhân đạo và tất cả những điều quan sát ấy, Maupassant khám phá ra những đau khổ phải lên tiếng, những dối trá phải vạch trần... ông đi đến kết luận về sự đau khổ của con người mà ông coi như một tiêu chuẩn để đánh giá cả Thượng đế. Ông đã thốt lên qua một nhân vật trong cuốn tiểu thuyết cuối cùng còn bỏ dở (L’Angélus) của ông, rằng:" Thượng đế tạo ra thế giới này - cái thế giới mà ông hằng yêu mến - “vĩnh viễn là một tên sát nhân". Và ông chỉ có thể công nhận Jésus-Christ như một “Đấng cứu thế thật sự" chỉ vì ông cảm thấy qua cái đau khổ mà Jésus-Christ đã phải chịu, Christ gần gũi và có tính con người.

Đọc Maupassant, người ta cảm thấy ngay, sau cái vẻ ngoài hấp dần, hóm hỉnh, nhẹ nhàng, đơn giản, lại ẩn giấu tấn thảm kịch sâu xa trong đời sống hàng ngày ở xã hội Pháp thế kỷ thứ XIX. Có nhà phê bình đã mô tả ông như một con người có cái bề ngoài bình thản nhưng nếu như vầng trán ông chỉ thỉnh thoảng mới nhăn lên những đường nhăn đau khổ thì bộ óc trong sọ ông lại luôn luôn run lên vì thương cảm.

Cuộc đời ngắn ngủi của Maupassant rơi vào một thời kỳ tai biến đầy đau thương trong lịch sử chính trị Pháp, Cuộc đời ấy đã chịu ảnh hưởng trực tiếp của những sự kiện và những môi truờng tiếp xúc, những mối quan hệ gia đình và xã hội. Khi ông sinh ra, xã hội Pháp vừa trải qua cuộc đụng độ lớn đầu tiên giữa vô sản và tư sản, hãy còn nhức nhối những vết thương thất bại của cách mạng năm 1848; mới lớn lên giữa tuổi hai mươi, ông lại chứng kiến cuộc chiến tranh Pháp - Phổ, kết thúc bằng tai họa cho Tổ quốc ông: nước Pháp bị chiếm đóng, quê hương Normandie của ông bị dày xéo. Tiếp đến cuộc đàn áp đẫm máu Công xã Paris mở đầu một giai đoạn cực kỳ phản động kéo dài, dẫn tới cao trào cách mạng của công nhân những năm chín mươi của thế kỷ XIX. Đến cao trào này thì Maupassant không còn nữa.

Quãng đời đẹp nhất của Maupassant lại là những ngày thơ ấu sống bên một bà mẹ hiền từ và thông minh. Bố mẹ ông thỏa thuận bỏ nhau khi ông còn nhỏ tuổi. Maupassant và em trai của mình là Hervé ở với mẹ trong trang trại Vécghi vùng Étretat. Cậu bé Maupassant rất khỏe mạnh chạy chơi đùa thỏa chí với trẻ con nông dân và dân chài trên những cánh đồng quê thơm ngát và dọc bải cát dài nồng vị mặn của biển khơi. Phải chăng chính sự hòa mình trong thiên nhiên trong lành này ngay từ tuổi ấu thơ đã khiến Maupassant gần như có một bản năng phân biệt mọi sắc thái và mọi đổi thay đa dạng được thể hiện rõ nét trong các tác phẩm sau này khi ông viết về thiên nhiên. Cái đẹp thiên nhiên mà ông miêu tả bao giờ cũng chứa đụng một tâm hồn lành mạnh và đầy sức sống.  Phải chăng chính những sự tiếp xúc đầu tiên này của Maupassant với những người lao động ít được xã hội chú ý đã ảnh hưởng tới tư tuởng sáng tác của ông sau này, giúp ông vượt qua khoảng ngăn cách về giai cấp xuất thân không tổt đẹp của mình, để gần gủi họ và san sẻ cuộc đời với họ.

Mẹ Maupassant, bà Lôr Lơ Poatơvanh (Laure Le Poittevin,) và người anh cả của bà vốn là bạn hồi nhỏ của đại văn hào Guyxtavơ Flỏbe (Gustave Flaubert,). Bà yêu văn chương và muốn tạo cho con trai mình năng khiếu về mặt đó. Trong ngôi nhà ở Vécghi (Verguies), bà chọn sách và hướng dẫn cho con đọc, đặc biệt là đọc sếchxpia. Bà cho Môpatxăng vào ăn ở ký túc tại trường chủng viện Yvêtô ( Yvetot). Chuyện lý thú; học trường đạo mà chẳng mê đạo, cậu bé cảm thấy không thể nào chịu nổi cái ký túc xá này, bạn bè thì thô lổ và đặc biệt là nội dung cũng như cách giảng dạy giáo viên lại đem đến cho cậu cái cảm giác đến kỉnh tởm về tôn giáo mà cậu giữ mãi suốt đời. Điều an ủi duy nhất lúc này đối với cậu bé là làm thơ nhạo báng những giáo sĩ trong trường, Chẳng may một hôm, viên giám đôc bắt được những bài thơ đó và cậu liền bị đuổi. Bà mẹ lại xin cho Môpatxăng vào học tiếp ở trường trung học Ruăng (Rouen)...

Chiến tranh Pháp - Phổ nổ ra năm 1870, chàng thanh niên Mỏpatxăng tròn tuổi đôi mươi, vừa tốt nghiệp tú tài văn khoa và sắp sửa vào đại học luật thì phải đi lính, làm anh binh nhì, nếm đủ mùi đẳng cay vì thất bại. Anh viết lại rằng anh đã run lên không phải vì rét mà vì một cơn sốt tinh thần làm nghẹn cuống họng anh, anh và các bạn anh đã hểt lời nguyền rủa bọn phản bội đã đặt bọn anh vào một tình thế như vậy. Nhiều truyện ngắn sau này của Maupassant đã phản ánh tâm trạng đó, nhưng lại chứa đụng niềm tự hào về gương chiến đấu kỳ diệu của những anh hùng xuất thân từ những lớp người bình thường nhất. Vì vậy mà, hàng nửa thế kỷ sau ngày Maupassant qua đời, trong đại chiến thứ hai, những truyện đó của Maupassant vẫn được đọc ở các chiến hào chống phắt xít .

Giải ngũ năm 1871, Maupassant phải xin làm viên chức Bộ hải quân rồi Bộ giáo dục ở Paris để kiếm sống. Quãng đời viên chức nhỏ này, ông gọi là một thời kỳ nô lệ thảm hại của những tù khổ sai bị trói vào cái cặp màu xanh.  Maupassant ở trong một căn phòng nhỏ, lờ mờ ánh sáng lọt qua chiếc cửa sổ con duy nhất. Hàng ngày "sớm vác ô đi, tối vác về",  Maupassant cuốc bộ đi làm.

Trong những ngày dài u uất ấy, từ năm 1872 đến năm 1880 ông may mắn gặp Flôbe, nhà văn hiện thực lỗi lạc mà mẹ ông đã gửi gắm con trai. Cuộc đời văn học của  Maupassant chuyển một bước ngoặt quyết định với tác phẩm Viên mỡ bò, kết quả đầu tiên của sức lao động tài năng của ông và sự dìu dắt tỉ mỉ của Plôbe (Flaubert). Tại nhà Flaubert, ông được làm quen với những văn hào ưu tú đương thời: Émile Zola,, Anphôngx Đõđỗ (Pháp), Tuốcghênhíép (Tourguenieff) (Nga)... Ông trở thành một cây bút nổi tiếng, một nhà văn hợp thời được săn đón, mời mọc đến các phòng khách trưởng giả nhưng ông thẳng cánh khước từ những thứ mời mọc đó vì ông cảm thấy ghê tởm cuộc sống phù phiếm kiêu kỳ của họ. Ông từ chối mọi thứ quảng cáo cho ông, không cho người ta chưng ảnh mình. Theo ông, một nghệ sĩ xứng đáng với danh hiệu đó thì chỉ có thể trông vào bản thân tác phẩm của mình để chinh phục mà thôi, ông biết ơn người thày đã dạy mình theo đúng nghĩa thủy chung. Khi Flôbe (Flaubert) mất, lúc ở nghĩa trang ra về, Môpatxãng đi một mình, đau khổ. Ông nói với một ngưòi bạn:

"Tôi rất muốn chết nếu tôi tin chắc có được người nào đó nghĩ đến tôi như tôi nghĩ đến Người."

Môpatxăng viết rất khỏe. Trong vòng mười năm (1880-1890), ông đã cho ra đời sáu truyện dài và trên ba trăm truyện ngắn. Ngoài ra, ông còn viết ba cuốn du ký, một tập thơ và rất nhiều bài phê bình đăng trên các báo.

Một bệnh hiểm nghèo đã giết mất em trai ông lúc mới 35 tuổi nay chuyển sang hủy hoại thể xác ông từ năm 1891. Ông không còn viết được nữa và mất năm 1893 tại môt nhà thương điên.

Đưa ông đến nghĩa trang Môngpácnátx (Montparnass), chỉ có mấy người bạn và vài người họ hàng. Bao nhiêu kẻ cách đây không lâu từng trọng vọng mời mọc ông như một vinh dự trong các phòng khách, bao nhiêu các bà và tiểu thư từng săn đón ông nay đều chả thấy bóng kẻ nào.

Êmil Zôla nhân danh Hội nhà văn Pháp, người đại biểu lỗi lạc cho chủ nghĩa hiện thực phê phán cuối thế kỷ 19, người bạn có ảnh hưởng quan trọng tới Môpatxăng, đọc điếu văn. Đó là điều an ủi duy nhất cho người ra đi và những người đến vĩnh biệt

Anh hãy yên nằm, hưởng giấc ngủ ngon mà anh đã phải trả bằng giá đắt, tin tưởng ở sức mạnh lẫy lừng của công trình anh để lại!'' ( Émile Zola.).

*

Tiểu thuyết Một cuộc đời của Môpatxăng là đỉnh cao, có giá trị nhất trong hàng loạt sáng tác truyện dài của ông. Môpatxăng viết truyện này vào cuối những năm 1870, và xuất bản năm 1883. Đó là tiểu thuyết đầu tiên trong sáu tiểu thuyết mà ông đã hoàn thành liên tiếp trong vòng mười năm. Một cuộc đời viết vào một thời kỳ sung sức nhất đã chín muồi về tư tưởng và đã trưởng thành về nghệ thuật của nhà văn.

Một cuộc đời đưa người đọc trở lại xã hội Pháp ở thời kỳ nền quân chủ tháng Bảy (1830-1848). Maupassant tạm ngừng việc miêu tả toàn cảnh xã hội đương thời, quay về những chủ đề đã được đề cặp đến trong các tác phẩm của những đại văn hào tiền bối: xtângđal (Stendhal), Banzấc (Balzac), Flôbe. Thời kỳ này, giai cấp đại tư sản mà Mác gọi là "quý tộc tài chính" đã nắm quyền thống trị đang xâm nhập nông thôn, lao vào các hành vi tội ác trên bước đường tích lũy tư bản, biến mọi quan hệ xã hội và quan hệ gia đình "thành những quan hệ tiền nong đơn thuần" (Mác và Ăngghen). Thời kỳ này giai cấp quý tộc đang trượt mạnh trên đà thoái hóa. Cơ sở kinh tế và vật chất của chúng đang tan rã mạnh. Mâu thuẫn xã hội nổi bật lên giữa vó sản và tư sản.

Tiểu thuyết Một cuộc đời của Maupassant viết trong phạm vi bối cảnh lịch sử đó. Truyện thu hạp vào một gia đình nhưng vẫn bao hàm khuôn khổ một xã hội với đầy đủ những đặc trưng của nó. Điều đáng chú ý là Maupassant đã kế tục sự nghiệp của các nhà hiện thực lớn đầu thế kỷ XIX trong giai đoạn chủ nghĩa hiện thực phê phán đang nảy sinh những khuynh hướng suy đồi. Bằng sự quan sát những hoàn cảnh điển hình, Maupassant thể hiện chân thực cuộc sống, miêu tả bộ mặt xấu xa thực sự của giai cấp tư sản và bọn quý tộc đã lỗi thời.

Tình yêu, hạnh phúc, mơ ước, luyến tiếc, đau khổ vá thất vọng được khắc họa bằng những bức tranh hiện thực, bức nọ nối tiếp bức kia với mọi sắc thái đa dạng và sức truyền cảm phi thường. Một cuộc đời đi vào thế giới nội tâm ấy phản ánh trung thành những cảm nghĩ, những xúc động, những thói quen của bản thân tác giả. Nó không che đậy sự thật bằng những lời bóng bảy. Maupassant nói “Cho dù là cay đắng, sự thật cũng chỉ có một mà thôi!".

Với cách nhìn thẳng vào sự thật, ông đã dùng ngòi bút phê phán sắc sảo vạch những sự thật tàn bạo của tầng lớp quý tộc đang tàn lụi và bọn tư sản đang tung hoành. Câu chuyện xảy ra ở một gia đình vị nam tước tỉnh nhỏ trên bước đường phá sản, trong ngôi nhà quý tộc mang tên Tòa lâu đài Bạch Dương . Có thể đây chính là một trong những ngôi nhà mà bản thân Maupassant đã từng ở với mẹ trong xứ Noócmăngdi (Normandie). Nhân vật chính Jan (Jeanne) lại có những nét độc đáo rất Maupassant: yêu tha thiết cuộc sống và yêu đắm đuối thiên nhiên; nàng đã ngây ngất giữa cảnh đẹp một đêm trăng, thả mình theo những ước mơ trong lành, nghĩ đến tình yêu lý tưởng đúng với tuổi đời một cô gái dậy thi xinh đẹp, khỏe mạnh vô tư. Trái tim nàng như rộng mở, vang đầy tiếng thủ thỉ với hàng nghìn mơ ước “Nàng cảm thấy, trong ánh trăng đêm hiền dịu, con người nàng cũng rung lên những rung động khác thường, lòng nàng bồi hồi những ước mơ không sao hiểu nổi, một cái gì đó như một thoáng hơi thở của hạnh phúc vậy".

Thiên nhiên và con người được miêu tả ở chương đầu như hai vật thể sống hóa vào làm một. Có thể nói đó là bức tranh tổng quát về cuộc đời của nhân vật chính trong truyện, phản ánh ngay chính tâm trạng bản thân tác giả. Jeanne yêu thiên nhiên và yêu cuộc sống nhưng sẽ chỉ là nước mắt mà thôi. Cái xã hội đương thời ấy chìm trong cuộc chạy đua tư bản ngập "máu và bùn" làm sao lại phù hợp được với những uớc mơ trong sáng có tính người.

Một cuộc đời là một câu chuyện về số phận đen tối mà xã hội đã dành cho người đàn bà. Nó có giá trị tố cáo mãnh liệt. Và, hiển nhiên điều đó đã tạo nên giá trị tư tưởng của toàn bộ tác phẩm. Mỗi người đàn bà trong truyện từ Jan (Jeanne) đến Rôzali (Rosalie)- người đầy tớ Lizông (Lison)- người dì của Jeanne - đều có những cảnh ngộ khác nhau. Lison là hình ảnh về một xã hội quý tộc vô vọng đang lụi tàn, một cuộc đời tẻ nhạt, sám ngắt. Jeanne hơn hẳn Lison về sắc đẹp, về tâm hồn rạng rỡ những ước mơ nhưng cuộc đời của nàng rút cuộc có hơn gì Lison. Rosalie mà số phận toi đòi đã chịu bao nhiêu bất công, khinh rẻ, là nạn nhân - người đày tớ - và  Lizông (Lison) - người dì của Jeanne - đều có nhũng cảnh ngộ khác nhau. Lison là hình ảnh vế một xã hội quý tộc vô vọng đang lụi tàn, một cuộc đời tẻ nhạt, sám ngắt. Jeanne hơn hẳn Lison về sắc đẹp, về tâm hồn rạng rỡ những ước mơ nhưng cuộc đời của nàng rút cuộc có hơn gì Lison. Rozalie mà số phận toi đòi đã chịu bao nhiêu bất công, khinh rẻ, là nạn nhân - mà số phận toi đòi đã chịu bao nhiêu bất công, khinh rẻ, là nạn nhân tất yếu của một xã hội  như vậy.

...Jeanne cảm thấy như phát điên lên vì sung sướng trước cảnh bình minh. Hình ảnh này khiến ta nhớ tại Maupassant đã từng đứng hàng giờ liền ngắm cảnh mặt trời mọc trên quê hương Normandie, ở đảo Coóc (Corse), ở Angềri (Algérie),.. những nơi ông đến thăm. Maupassan thốt lên: " Đây là mặt trời của nàng! Bình minh của nàng! cái bắt đầu của đời nàng! Cái bừng dậy của những niềm hy vọng của nàng! Nàng giữ hai tay về phía không trung rực sáng với niềm khao khát ôm hôn mặt trời. Nàng muốn nói, muốn kêu lên một điều gì cũng thần tiên như cảnh trời rạng lúc ban mai; nhưng nàng vẫn đứng đó, lặng đi trong cái say sưa bất lực. Nàng liền úp mặt vào lòng tay và cảm thấy mặt mình đầy lệ..;"

Thiên nhiên và con người được miêu tả ở chương đầu như hai vật thể sống hóa vào làm một. Có thể nói đó là bức tranh tổng quát về cuộc đời của nhân vật chính trong truyện, phản ánh ngay chính tâm trạng bản thân tác giả. Jeanne yêu thiên nhiên và yêu cuộc sống nhưng sẽ chỉ là nước mắt mà thôi. Cái xã hội đương thời ấy chìm trong cuộc chạy đua tư bản ngập "máu và bùn" làm sao lại phù hợp được với những uớc mơ trong sáng có tính người.

Giở trang đầu cuốn sách, Jeanne xuất hiện như một thiếu nữ phơi phới yêu đời, xinh đẹp và đầy nhựa sống, nhạy cảm với thiên nhiên, ham mê hạnh phúc, khao khát yêu đương nhưng rồi mỗi trang đời của nàng giở theo những trang sách lại nối tiếp nhau tối sầm lại để cuối cùng vẫn người đàn bà ấy thốt lên ở trang chót: "Tôi nào có khác gì con "Thảm sát" trong những ngày tàn của đời nó"(1) Còn gì nữa? Yêu chồng, nàng bị lừa dối trong tình yêu; yêu mẹ, nàng bị xúc phạm trong niềm tin ở mẹ, nàng bị đẩy vào cảnh ngộ phá sản đến nỗi phải bán cả ngôi nhà yêu dấu nhất đời mình cho một tên tư sản.

Với bản chất yêu đời. Jeanne đã cố tìm ra lối thoát sau mỗi lần thất vọng, tạo cho mình một đối tượng mới để mà yêu và hy sinh với hy vọng bù lại được cái gì vừa mất. Nhưng, cả những lối thoát nhỏ nhoi ấy, nàng cũng vấp phải bức tường ngăn kiên cố. Cái vỡ mộng của nàng mang tính xã hội sâu sắc. Xã hội đó không dung nạp tất cả những cái gì trái với bản chất của nó: nó hủy hoại mọi giá trị tinh thần và tình cảm trong sáng, biến cuộc đời thơ mộng hằng ước mơ thành một cuộc đời vô vọng.

Kẻ đầu tiên phá nát giấc mộng đẹp của Jan, mở đầu cho những trang đời đau khổ của nàng là tử tước Lulienđơ Lamar (Le vicomte Julien de Lamare)  chồng nàng, một tên quý tộc kệch cỡm và ti tiện, điển hình cho lớp phong kiến suy tàn đang bám theo chiếc xe tư sản. Môpatxăng làm sống lại qua hình tượng này một hoàn cảnh xã hội Pháp đang diễn ra quá trình đẩy mạnh tích lũy tư bản, thay thế cho lối bóc lột tá điền của địa chủ. Đồng tiền chi phối mọi quan hệ xã hội và gia đình. Julien bỏ thành thị về nông thôn, hy vọng tìm được ở gia đình quý tộc Lơ Pectuyx de Vô (Le Perthuis de Vauds)  một nguồn tích lũy cho mục tiêu kinh doanh của hắn. Hắn trắng trợn moi từng đồng của vợ ngay trong những ngày đang say sưa "trăng mật", hắn tính toán chi li, thâu tóm toàn bộ cơ nghiệp của vợ để làm giầu. Tình yêu của hắn chỉ kéo dài có "một tuần trăng mật". Hắn lạnh lùng và tàn nhẫn, lừa dối và phản bội, ngủ với người đầy tớ gái, có con với cô ta, rồi lại dõng dạc ra lệnh vứt ngay đứa con "không hợp pháp" đó cùng với mẹ nó ra khỏi cửa. Jeanne phản đối thi hắn lại la lên: “Cô điên sao! Cô không nghĩ đến tên tuổi và các quan hệ bè bạn của chúng ta sao! Rồi đâu đâu người ta cũng sẽ nói là chúng ta bao che cho cái xấu, chúng ta nuôi trong nhà toàn những con đàn bà đốn mạt, và những người danh giá sẽ không thèm đặt chân đến nhà ta nữa”...

Chú thích:

(1.) “Thảm sát" ("Massacrey). Tên do Jeanne đặt cho một con chó độc nhất được nàng cứu sống khỏi bàn tay sát hại thê thảm của một tu sĩ cuồng tín.

« Lùi
Tiến »