Một Cuộc Đời

Lượt đọc: 2043 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
LỜI GIỚI THIỆU (TT)

Mâu thuẫn giữa lời nói và hành động của Julien phơi trần, chẳng còn chiếc lá nhỏ che cái thực chất giả dối thật ghê tởm của cái gọi là đạo đức quý tộc và tư sản, Mâu thuẫn đầy kịch tính này có sức mạnh tố cáo vô cùng chính xác. Thật lý thú! Môpatxăng đã dựng một điển hình để thả sức quất một đòn chính diện không thương xót cái xã hội mà ông cần lên án.

Maupassant lại có biệt tài phát hiện và khai thác cái đẹp trong những con người bị xã hội coi thường. Giá trị tư tưởng của tác phẩm càng đuợc nâng cao trong gần hai chương cuối, khi cuộc đời tuyệt vọng và suy sụp của Jan lại tìm được một cứu cánh trong hai bàn tay rộng mở của chính người đầy tớ của mình: Rosalie (Rozalie). Nếu ở những phần đầu, do hoàn cảnh xã hội khác nhau, số phận Rôzali phụ thuộc vào cô chủ Jan, thì ở đoạn chót, số phận Jeanne lại gắn liền vào cuộc đời Rôzali. Sự so sánh giữa hai nhân vật này và giữa hai đứa con trai cùng bố của họ làm nổi bật bản chất thật tốt đẹp của người lao động và ảnh hưởng có ý nghĩa triết học của môi trường sinh hoạt xã hội. Jan và Rôzali vốn là hai đứa bé được nuôi chung một dòng sữa nhưng ở hai địa vị xã hội khác nhau, hai nếp sinh hoạt khác nhau. Một bên thuộc dòng dõi quý tộc, một bên là nông dân nghèo; Jan nhàn tản, mơ mộng, trái lại Rôzali lao động, thực tiến. Họ đã gặp nhau như những người đàn bà cùng chịu một cảnh ngộ bất hạnh nhưng vẫn khác nhau, Jan là một hiện tượng đặc biệt trong tầng lớp trên mà nàng xuất thân, còn Rôzali thì từ trong bụng mẹ đã là nạn nhân của xã hội đó. Sự hòa hợp và khác biệt giữa hai nhân vật để lạl một ấn tượng sâu sắc trong phần cuối cuốn sách. Lúc này Jan, cô gái phơi phới yêu đời ngày trước, đã già hẳn đi, tóc bạc, thân gầy, tiều tụy nhưng Rôzali thì vẫn khỏe mạnh, hồng hào, cân đối, có đủ sức bế bổng Jan lên tay như một chàng trai tráng; Jan thất vọng, tinh thần sa sút, thì Rôzali lại đầy nghị lực và quyết đoán sáng suốt, trở thành người che chở, cứu vớt và săn sóc Jan như tấm lòng một người mẹ. Rôzali là hình ảnh đặc sắc mà Môpatxăng đã xây dựng như một điển hình cho lớp phụ nữ lao động bình thường đã chịu bao đau khổ, khinh miệt, lăng mạ tàn nhẫn nhưng tầm vóc tâm hồn thì lạl vuợt lên hẳn thực tại xã hội đó, giàu tính nhân đạo, và đầy lòng vô tư cao cả. Rôzali giải đáp những ý nghĩ mơ hồ của Jan bằng những lý lẽ đơn giản của thực tế cuộc sống. Nghe Jan than vãn mãi số phận mình, Rôzali liền bảo: “Bà sẽ nói sao nếu bà phải làm việc để có được miếng ăn, nếu bà bị bắt buộc ngày nào cũng phải dậy từ 6 giờ sáng để làm quần quật suốt ngày! Có nhiều người đã phải làm như vậy và đến khi họ già lão thì họ chết đói“.

Rosalie không theo đuổi một lợi ích riêng nào khác khi chị quyết định rời bỏ cuộc sống của mình để về ở với Jan (Jeanne), chăm sóc, cứu Jan ra khỏi sự sụp đổ hoàn toàn về tinh thần đã hầu như chắc chắn. Rôzali có những đức tính mà Jan không thể có: lòng dũng cảm, trí kiên quyết, không thụ động chấp nhận số phận, dám giáng trả những kẻ xấu. Thật là đẹp, hình ảnh Rôzali trong cuộc gặp tên thầy tu cuồng tín và độc ác Tônbiắc!(Tolbiac) Lúc đó chị đang ngồi với Jan trong chiếc xe ngựa do con trai chị cầm cương thì thấy Tônbiắc (Tolbiac) trên đường, Jan cúi mặt xuống để tránh cặp mắt tên thày tu nhưng Rôzali thì nổi nóng miệng lẩm bẩm: “Thằng đê tiện! Thằng đê tiện!" rồt nắm lấy tay con, chị bảo “quất cho hắn một roi, con"! Chàng thanh niên liền bất ngờ cho xe phóng hết tốc lực vào vũng nước làm bùn bắn tóe lên tên thầy tu suốt từ chân đến đầu. Và, Rôzali mặt mày rạng rỡ, quay người lại, giơ nắm đấm vào tên thầy tu đang lấy chiếc mùi soa to tướng lau mặt mũi.

Đơnìx (Denis), chàng tuổi trẻ, con trai Rôzali ấy và Pôn (Paul), con trai Jeanne, cùng chung bố là Juylỉêng (Julien) mà lại khác hẳn nhau. Sự đối lập về tính cách này phản ánh rất lôgich sự đối lập về hoàn cảnh sinh sống và cách giáo dục có cơ sở giai cấp. Môpatxăng quả là có cách nhìn tinh tế của một nhà tâm lý học. Thành ngữ "cha nào con nấy" ở đây chỉ đúng có một nửa, với trường hợp Pôn (Paul) mà không đúng với trường hợp Đonix (Denis). Pôn (Paul), với cách giáo dục của gia đình quý tộc và xã hội tư sản, là một tên ích kỷ, ăn bám, còn Đơnix thì lại là một thanh niên nông dân thuần phác, nhân hậu, chăm lao động và rất yêu thương, vâng lời mẹ. Môpatxăng không có được cái y thức rõ ràng về giai cấp nhưng bức tranh thực tế mà ông đã dựng lên lại phản ánh sự thật mang đặc tính giai cấp, làm tan biến cả mối quan hệ máu mủ của hai đứa trẻ,.

*

Tiểu thuyết Một cuộc đời được hoan nghênh ở nhiều nước ngay khi nó mới ra đời. Xuất bản ở Pháp năm 1883 thì ngay trong năm đó, nó ra mắt bạn đọc nước Nga. Ở Việt nam ta, hầu hết những người biết tiếng Pháp cũng đều đã đọc từ hồi nhỏ và đến nay nhiều người còn nhớ từng chi tiết.

Tuốcghênhiép, đại văn hào Nga, đồng thời là nhà văn lỗi lạc của thế giới, làm Phó chủ tịch Hội văn học quốc tế ở Paris (do Victor Hugo làm chủ tịch), là một người bạn lớn có ảnh hưởng quan trọng đến tư tưởng sáng tác của Môpatxăng. Người ta thấy ở Môpatxăng những nét nổi bật về tài năng nghệ thuật mà những bậc thầy của văn học đã đánh giá; Tuốcghênhép (Ivan Sergueïevitch Tourgueniev): một là "kỹ sảo lạ thường trong việc miêu tả những bức tranh thiên nhiên Nga" (Biêlinki); hai là xây dựng được "những hình tượng phụ nữ thật đặc sắc" (L, Tônxtôi); ba là đã cùng các nhà văn tiền bối "sáng tạo nên tiếng Nga văn học" (nhận xét của Lê-nin và Goócki). Chúng ta thấy rõ những mặt mạnh này của Tuốcghênhiép trong Môpatxăng, khác chăng ở chỗ một bên là Nga và một bên là Pháp. Tiểu thuyết Một cuộc đời đã thể hiện tập trung uư điểm nghệ thuật đó của Môpatxăng.

Tuốcghênhiép là người nước ngoài đầu tiên phát hiện tài năng văn học của Môpatxăng. Ông cũng là người đưa tác phẩm của Môpatxăng trước tiên vào nước Nga, Một câu chuyện kể lại rằng: Tuốcghênhiép đã chuyển cho L, Tônxtôi đọc một số tác phẩm của Môpatxăng. Lúc đầu, Tônxtói tỏ ý xem thường nhưng khi đọc đến tiểu thuyết Một cuộc đời thì Tônxtôi thốt lên: “Đây là một cuốn sách buộc tôi phải thay đổi ý kiến về Môpatxăng" và từ đó ông đọc tất cả những tác phẩm của nhà văn Pháp trẻ tuổi này. Tônxtôi còn nói: “Một cuộc đời là một cuốn tiểu thuyết rất sâu sắc, đó là một trong những cuốn hay nhất của Pháp sau truyện Những ngườí khốn khổ của V.Hugo".

Nhiều văn hào nổi tiếng của nhiều nước khác nhau cũng đánh giá cao cuốn tiểu thuyết này của Môpatxăng.

Nghệ thuật miêu tả của ông đã đạt đến trình độ điêu luyện. Đó là nghệ thuật đi vào thế giới nội tâm, khám phá tâm hồn con người, miêu tả phân tích tâm lý nhân vật thông qua hàng loạt chi tiết tưởng như bình thuờng. Môpatxăng chú ý những biểu hiện tinh vi, đi sâu vào quá trình diễn biến tâm lý nhân vật, những rối ren, những uẩn khúc, những khát khao, những dằn vặt làm nổi bật tính cách điển hình của đối tượng được miêu tả. Cho nên một đề tài đơn điệu như trong cuốn Một cuộc đời này lại được dựng thành những bức tranh hoàn chỉnh có sức mãnh liệt, lôi cuốn và chinh phục người đọc. Một số nguyên nhân rất cơ bản khiến ông thành công đặc biệt trong tiểu thuyết Một cuộc đời là mối liên hệ chặt chẽ giữa nghệ thuật với đời sống, giữa nhà văn với thực tế. Chính vì lẽ này mà nhà văn Nga vĩ đại L. Tônxtôi khen Một cuộc đời nhưng lại không hoan nghênh nhiều truyện viết vào cuối đời Môpatxăng. Tônxtôi nói: “Một nhà văn không có một thế giới quan sáng suốt, dứt khoát và mới mẻ, và hơn thế nữa là còn cho như thế là vô ích thì không khi nào cho ra đời được một công trình nghệ thuật".

Thành công của Môpatxăng là kết quả một quá trình lao động và rèn luyện. G. Flôbe (Gustave Flaubert), nhà văn hiện thực phê phán ưu tú của thế kỷ XIX, người thầy mà Môpatxăng yêu mến và chịu ơn nhiều nhất, đã phát hiện năng khiếu văn học của người học trò từ khi anh mới 15 tuổi, ông bảo Môpatxăng: "Anh bạn trẻ ơi, chớ bao giờ quên rằng tài năng chỉ là một sự kiên nhẫn kéo dài, hãy làm việc đi!" Flôbe đã hướng dẫn phân tích nhũng phác thảo của Môpatxăng, đặt ra một kỷ luật nghiêm ngặt, ông bảo người học trò, đại ý như sau: "Khi anh đi qua trước mặt người bán hàng thực phẩm đang ngồi ở ngưỡng cửa, qua trước mặt người gác cổng đang ngậm tẩu hút thuốc hay qua một trạm cho thuê xe ngựa, anh hãy tả thế nào cho tôi không nhầm lẫn với bất cứ một người bán thực phẩm hay một người gác cổng nào khác; hãy cho tôi biết chỉ bằng một lời nói thôi con ngựa kéo xe không giống 50 con ngựa đang theo sau hoặc đi trước nó".

Môpatxăng đã làm theo những đòi hỏi đó và đã đạt đến kỹ sảo miêu tả tuyệt vời. Cũng một cuộc đời bất hạnh mà Jan và Rôzali thật chẳng ai giống ai, cũng chung một bố mà Pôn và Đơnix lại có những tính cách đối lập. Chịu ảnh hưởng phương pháp khách quan của Gustave Flaubert, Môpatxăng không lấy ý chủ quan để nói thay sự việc, không cần đến lời bàn để bảy tỏ trực tiếp thái độ. Ông đã đi vào đời sống bí ẩn của tinh thần, khám phá những mâu thuẫn phức tạp trong tâm hồn Jan, nhân vật chính truyện Một cuộc đời và tìm cách thể hiện bằng hành động. Để làm được việc này, ngoài cái cần thiết phải có sự quan sát tinh tế với một vốn sống phong phú và một tay nghề cao, còn phải biết nắm vững và sử dụng phương tiện: các chi tiết, về những mặt này, Môpatxăng đã đạt đến trình độ bậc thầy. Bất cứ một tình huống nào đã xảy ra cho con người hay trong thiên nhiên đều được miêu tả rất chính xác, từ một trận mưa rào, một đêm trăng, một buổi mặt trời mọc...; người đọc cảm thấy như chính mình là người trong cuộc, nghe được hơi thở xúc động của nhân vật, cùng say sưa, bùi ngùi với cái say sưa, bùi ngùi của nhân vật.

Môpatxăng chú ý mối quan hệ hữu cơ giữa cảnh và người. Trong cảnh huyền ảo một đêm trăng, lòng có gái nào chẳng nghĩ đến tình yêu! Trường hợp tất nhiên ấy đã xảy đến với Jan và cũng tất nhiên mối tình trong mơ thật lý tưởng. “Nàng chỉ biết nàng sẽ yêu chàng bằng tất cả tâm hồn mình và chàng sẽ trìu mến nàng bằng tất cả sức lực của chàng. Hai đứa sẽ dạo buớc, trong những buổi tối như thế này, dưới làn tro óng ánh từ những ngôi sao đổ xuống. Hai đứa sẽ tay nắm tay, đi sát bên nhau, cùng nghe tiếng đập của trái tim nhau, cùng cảm thấy hơi ấm của đôi vai nhau, hòa tình yêu vào không khí thanh khiết ngọt ngào của những đêm hè..." Càng làm nổi bật những uớc mơ đẹp của Jan, tác giả càng gây được ấn tượng sâu sắc về cuộc đời vỡ mộng thật đau đớn của nàng sau này. Và, giá trị tố cáo cái xấu xa lừa đảo của thực tại xã hội đã làm tan rã những ý nghĩ tươi mát và niềm tin của nàng càng chinh phục được người đọc.

Ngay trong đêm tân hôn, cái đêm mà Jan lo sợ và sung sướng, coi như thiêng liêng trong đời, nàng lại cảm thấy như mối tình thơ mộng vun đắp bấy lâu nay bị xúc phạm khi ngó thấy chồng ngủ say, mồm há ra, rồi khi anh ta thức dậy, lời đầu tiên anh ta bàn với nàng là "lợi nhuận'" và "lợi nhuận" khiến nàng phải ngạc nhiên.

Môpatxăng có biệt tài lựa chọn và dùng những chi tiết thật đắt. Những chi tiết này - như Biêlinxki nói - đem tổng họp lại thì thành một bức tranh hiện thực cân đối, hoàn chỉnh, sinh động và tiêu biểu khiến cho nghệ thuật tác động đến người đọc mạnh hơn so với thực tế mà nó phản ánh. Ta có thể tìm thấy đúng như vậy ở những đối tượng mà Môpatxăng miêu tả. Juyliêng trong đêm đầu ân ái với vợ không nói đến tình yêu như nàng muốn mà lại nói đến ý đồ kinh doanh và lợi nhuận, Juyliêng gặng hỏi vợ được mẹ cho bao nhiêu tiền trong chuyến đi "trăng mặt", rồi bảo nàng đưa cho mình giữ số tiền hai ngàn frăng (francs) đó với lý do; "tiền để trong hầu bao anh thì chắc chắn hơn là để ở túi em". Đến khi cần tiền mua sắm vài thứ, Jan hỏi hắn thì hắn lại bảo: “Dù số tiền đó nằm trong túi em hay trong túi anh, thì có sao … Chớ có lãng phí... Anh cho em những một trăm frăng cơ mà". Cứ như là tiền riêng của hắn! - Suốt tám ngày du ngoạn đó đây, Juylieng luôn mồm nhắc vợ “Cho thằng hầu hai mươi xu là đủ lắm rồi, phải không em?”

Trong một chuyến sang chơi nhà quý tộc láng giềng, lượt đi Juylieng cho chú bé nông dân nghèo bị bắt đi theo giữ cương ngựa một cái tát trời giáng, lượt về, hắn bắt chú bé chạy hết hơi đuổi theo xe rồi túm lấy chú, đánh đấm một trận nữa nên thân...

Những chi tiết ấy tổng họp lại làm nổi lên tính cách điển hình không quên được: một tên ti tiện sống tất cả vì tiền, lạnh lùng, tàn ác... Tuy nhiên, đó mới là cách miêu tả qua những biểu hiện bên ngoài, trên vẻ mặt, cử chỉ, hành động. Còn cái miêu tả thế giới bên trong phản ảnh tâm trạng nhân vật trước những xung đột mới nảy sinh, những nghịch cảnh đối lập nhân vật với môi trường xung quanh là một điều hết sức khó. Nhưng Môpatxăng cũng đã thành công do tài quan sát, năng lực khám phá và phần quan trọng do kỹ sảo của ông. Tác giả nắm chắc quá trình tâm lý rối ren, thường đưa lên rất cao một trạng thái rồi bất ngờ đột phát bằng những chi tiết đầy kịch tính. Người đọc nhớ mãi hình ảnh Jan ngồi một mình bên xác mẹ. Cảnh vật xung quanh, tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ để quên trong túi áo người chết hãy còn chạy… tất cả các chi tiết tập trung vào làm thật sâu sắc nỗi buồn thương vô hạn của Jan đối với mẹ, người mà, trong tâm trạng thất vọng vì tình yêu bị phản bội, nàng vẫn đinh ninh tìm được nguồn an ủi và niềm tin cuối cùng ở những đức tính trong sáng của bà. Thế rồi, bỗng nhiên, nàng khám phá ra những bức thư ngoại tình của mẹ. Một cảnh ngộ mới đột đến như một hành động kịch tính Cái choáng váng, ngỡ ngàng, tuyệt vọng của Jan, người đọc thấy như chính mình đang thấy nàng quằn quại.

 Phương pháp miêu tả này của tác giả gây ấn tượng thật sâu sắc, vừa có sức truyền cảm trực tiếp, vừa tố cáo mạnh mẽ không còn cách nào chống đỡ cái bản chất dối trá rành rành của "đạo đức” quý tộc. Chẳng phải riêng Juyliêng phản bội và dối trá, bố nàng, ông nam tước đáng kính, cũng đã từng thế này và nay đến cả bà mẹ tưởng như đoan trang nhất mực của nàng cũng phản bội và dối trá. Niềm tin cuối cùng của Jan sụp đổ. Sự dối trá vuợt ra khỏi phạm vi gia đinh mà là hình ảnh sống của một thực tế xã hội.

Khi miêu tả, Môpatxăng (Maupassant) đã sử dụng ngôn ngữ thật chính xác và phong phú. Cũng như người Nga đánh giá Tuốcghênhiép và Sêkhốp, người Pháp coi Môpatxăng là một trong những nhà kiến trúc ngôn ngữ văn học, tiếp tục được văn phong trong sáng của người thầy của mình là Plôbe và những bậc tiền bối Raboie, Môngtenhơ... Nhà văn Émil Zola xếp Môpatxăng vào giống truyền thống vĩ đại mà người ta có thể noi theo kể từ thời vỡ lòng của ngôn ngữ Pháp đến nay. Quả như vậy, không phải ngẫu nhiên mà những nhà ngôn ngữ tiếng tăm lừng lẫy trong văn học như Tuocghenhiep và Sêkhốp lại gọi Môpatxăng là “người nghệ sĩ ngôn từ chân chính". Môpatxăng đã tuân theo một kỷ luật chọn chử rất nghiêm, ông cho rằng: Với một đối tượng miêu tả, khi cần một động từ để chỉ hành động, một hình dung từ để xác định tính chất thì phải cho ra động từ và hình dung từ đó, không được thỏa mãn ở mức tương đối hoặc dùng ảo thuật để lẩn tránh khó khăn. Ngôn ngử Môpatxăng vì vậy rất đa dạng, dùng rất nhiều hình dung từ và động từ thích hợp với từng đối tượng, khi hóm hỉnh, khi triết lý, khi rất bình dân, đôi lúc dùng cả thổ ngữ và cách phát âm địa phương. Đặc biệt là ông đã nâng lên tính trữ tình khi miêu tả thiên nhiên, khi đi sâu vào những bí ẩn tâm hồn. Tác phẩm Một cuộc đời đã tập trung những uu điểm này của Môpatxăng. Có thể tìm ở bất cứ chương nào những nét nổi bật đó. Trang miêu tả Jan một mình mơ mộng giữa đêm trăng là một bức tranh hoàn mỹ mà những nét vẽ và màu sắc hài hóa được tạo nên bằng ngôn ngữ: "Trong khung cảnh êm ả vắng bóng mặt trời đó, tất cả hương nồng của trái đất trải rộng đó đây. Một cây hoa nhài bám quanh cửa sổ duới nhà luôn luôn tỏa ngát, hòa hơi thở sâu của nó vào hương thơm thoang thoảng của những lá non vừa nhú. Từng cơn gió mạnh chậm chạp lướt qua, mang theo vị mặn chát của không khi đượm mùi muối biển và của chất nước nhầy tiết ra từ rong biển".

"Thoạt đầu cô gái thả mình vào niềm vui sướng được hít thở không khí trong lành, rồi như một cuộc tắm mát, cảnh vật yên tĩnh của nông thôn làm người nàng dịu hẳn đi"... Lòng rạo rực, nàng mơ một người trong tưởng tượng. Môpatxăng đi vào những bí mật sâu kín trong tâm hồn nhân vật, trình bày những khám phá của mình bằng những câu ngắn, gọn mà súc tích: "Bằng một cử chỉ tự phát,

nàng siết chặt đôi tay vào ngực mình để giữ chặt lấy ước mơ; và trên cặp môi nàng đưa về phía người yêu chưa quen biết đó, như có một cái gì luớt qua làm nàng ngây ngất, tựa hồ hơi thở của mùa xuân đến đặt lên một chiếc hôn ân ái".

Nghệ thuật dùng chữ của Môpatxăng có thể tổng kết trong lời nhật xét đúng đắn như sau của nhà văn lớn, tiến bộ Anatôl Frăngxơ "Ngôn ngữ Môpatxăng khỏe, giản dị, không cầu kỳ... Ông có đủ ba đức tính của nhà văn Pháp là TRONG SÁNG TRONG SÁNG VÀ TRONG SÁNG". Nhiều văn hào nổi tiếng đương thời và hiện nay, khi đọc Môpatxăng đều có một nhận xét chung như vậy. Có thể nói đó là một trong những yếu tố đặc biệt đă tạo nên giá trị nghệ thuật về những tác phẩm của Môpatxăng.

*

Bên cạnh những ưu điểm lớn nói trên, ngòi bút của Môpatxăng cũng có nhiều hạn chế do những mâu thuẫn trong thế giới quan của ông. 

Giới học giả tư sản đã khai thác những mặt yếu này để làm giảm giá trị hiện thực trong những tác phẩm của Môpatxăng và chống ảnh hưởng của những tác phẩm đó đối với tư tưởng quần chúng. Ngoài luận điệu xằng bậy phản ánh thái độ cay cú của giai cấp thống trị cho rằng “sự nghiệp Môpatxăng chịu hậu quả của quá trình bệnh thần kinh", họ đã lợi dụng những quan điểm mơ hồ của nhà văn để giải thích những hiện tuợng xấu có ý nghĩa bản chất đã bị ông lên án, Môpatxăng đã kết thúc cuốn tiểu thuyết Một cuộc đời bằng câu Rôzali nói với Jan:

"Cuộc đời bà xem đấy, chẳng bao giờ đến nỗi thật tốt hay thật xấu như người ta tưởng", các nhà học giả tư sản túm ngay lấy thời cơ kêu toáng lên; "Các ngài thấy chưa”! Một cuộc đời viết vể cuộc sống nói chung; ở bất cứ chế độ xã hội nào, tồn tại của con người cũng là đau khổ và vô nghĩa cả!"

Nhưng “sự thật - như Môpatxăng đã khẳng định rất đúng - dù cay đắng cũng chỉ có một mà thôi", cho nên họ xuyên tạc bằng cách giải thích nào chăng nữa thì sự thật vẫn mang đầy đủ sức thuyết phục. Một cuộc đời phản ánh một thời kỳ lịch sử cụ thể đang diễn ra trong đời sống xã hội Pháp lúc bấy giờ. Đó là bức tranh hiện thực vượt qua khỏi những quan niệm triết học của tác giả. Ở Môpatxăng có mâu thuẫn giữa ý thức và thực tại xã hội mà ông thể hiện, ông đã khái quát hòa thành một quy luật chung chữ toàn thể loài người, coi sự bất hạnh là một định mệnh khắc nghiệt mà con người phải chấp nhận. Cũng vì vậy mà ông đã từng coi “đấng sáng tạo" như "một tên sát nhân vĩnh cửu", ông nhìn đời - cùng một cách nhìn của người thầy và bạn của ông, nhà văn Guỳxtavơ Plôbe - bi quan, hoài nghi, bế tắc. Ông không thấy được nguyên nhân sâu xa gây nên những cảnh đời bất hạnh đó bắt nguổn từ chủ nghĩa tư bản, ông cũng không nhận ra xu thế tất yếu của lịch sử là, trong cuộc đụng đầu giữa vô sản và tư sản có ý nghĩa quyết định tương lai loài người, giai cấp vô sản cuối cùng sẽ thắng. Ông đã chứng kiến sự kiện lịch sử Công xã Paris và "Tuần lễ máu” nhưng khác hẳn với Êmil Zôla, ông không tham gia phong trào công nhân, không viết về giai cấp thợ thuyền; ông vẫn mang nặng trong tâm hồn những đau thương của xã hội mà ông không nhận ra lối thoát. Có lần, nhà văn công xã Juyl Valex phê bình Môpatxăng tách rời khỏi chính trị, không viết về nhân dân thì Môpatxăng trả lời rằng ông không chia sẻ sự ham mê chiến lũy tột bực của Valex, rằng ông viết cho tất cả ai thích thú đọc ông và lẻ đương nhiên những người thích đó là những người có học thức nhất. Thái độ bàng quan, phi chính trị này bộc lộ mâu thuẫn trong thế giới quan của nhà văn đã chịu ảnh hưởng bởi những khuynh hướng văn học suy đồi, nhưng quan điểm nghệ thuật khách quan chủ nghĩa. L. Tônxtôi nhận xét rất đúng Môpatxăng - khi ông bàn về giá trị những còng trình sáng tác nghệ thuật. Ông đánh giá rất cao cuốn tiểu thuyết Một cuộc đời của Môpatxăng, coi đó là một công trình nghệ thuật thật sự vì nó thể hiện rõ ràng mối quan hệ dứt khoát, mới mẻ của nhà văn với cuộc sống nhưng - vẫn theo Tônxtôi - “từ khi Maupassant đặt mình theo cái tý thuyết hợp thị hiếu đương thời, cho rằng sự liên hệ đó là không cần thiết, viết chỉ nhằm tạo ra cái đẹp hình thức thi những tiểu thuyết của Môpatxăng không còn là những công trình nghệ thuật nữa. Đúng vậy trong nhiều truyện viết vào cuối đời mình, Môpatxăng không giữ được mối liên hệ chặt chẽ giữa nhà văn, nghệ thuật và đời sống thực tế, nên đã mang nhiều màu sắc thần bí.

Tuy nhiên, nhìn lại toàn bộ cuộc đời sáng tác của Maupassant, dù ông muốn hay không muốn, dù ông có cho rằng nhà văn "chỉ có thể là một nhân chứng vô tư chứ không thể là một quan tòa xét xử nhân vật hoặc lời nói của nhân vật", trong thực tế, ông vẫn là tác giả của nhiều tác phẩm hiện thực tràn đầy phẫn nộ trước những xấu xa và bất công xã hội. Thực tiễn mà ông phản ánh, sự thật mà ông quan sát thoát ra khỏi thái độ đứng ngoài cuộc, phi chính trị mà ông vẫn chủ trương; ông đã chống lại mọi thủ đoạn trát phấn - tô son cho cái bản chất xấu của xả hội đương thời và đã lên án nó mãnh liệt. Môpatxăng xứng đáng là người kế tục truyền thống hiện thực phê phán rực rỡ của xtăngđal, Balzắc„. trong nửa cuối thế kỷ XIX.

Tưởng nhớ tới nhà văn hiện thực lớn Maupassant, một bài báo đăng trong tạp chí Châu Âu đă tả nơi an nghỉ cuối cùng của ông trong nghĩa trang Môngpácnáx (Montparnass): Dây hoa tầm xuân che lấp tấm mộ chỉ ghi tên ông và ánh mặt trời lọt qua lá cây tùng trồng gần đó chiếu vào một cuốn sách tượng trưng để ngỏ mang hàng số ghi năm đầu tiên và năm kết thúc một cuộc đời: 1850-1893. Hình ảnh này khiến chúng ta nghĩ đến đức tính khiêm tốn của nhà văn không muốn phô trương tên tuổi mình và sức sống của những công trình văn học ông để lại, trong đó hiển nhiên có Một cuộc đời.

1980

TRẲN VIỆT

« Lùi
Tiến »